Trong một nghiên cứu của mình, A.I.Lipkina đã đưa ra quan niệm về tự đánh giá “là thái độ của con người đối với các năng lực của mình, với những khả năng và những phẩm chất nhân cách cũn
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Vũ Thị Hà
TÂM LÝ NGƯỜI CẢNH SÁT NHÂN DÂN
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Vũ Thị Hà
TÂM LÝ NGƯỜI CẢNH SÁT NHÂN DÂN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS TRƯƠNG CÔNG THANH
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn những người
đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận này:
Chân thành cảm ơn quý thầy cô khoa Tâm lý – giáo dục trường Đại
học Sư phạm TP.HCM đã đem lại cho tôi những tri thức khoa học Tâm lý trong suốt khóa học
Cám ơn Phòng Sau đại học đã tổ chức, hướng dẫn và tạo điều kiện giúp tôi hoàn thành chương trình cao học cũng như hoàn thành luận văn này
Cảm ơn các bạn lớp cao học TLH K22 đã chia sẻ động viên tôi những lúc khó khăn khi thực hiện luận văn
Cảm ơn các đồng nghiệp và các em học viên ở trường Cao đẳng CSND II đã nhiệt tình ủng hộ và hợp tác để tôi có kết quả khách quan trung
Xin gửi lời tri ân đến tất cả quý vị!
Người thực hiện luận văn
Vũ Thị Hà
Trang 4Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHẢ NĂNG TỰ ĐÁNH GIÁ
CÁC PHẨM CHẤT TÂM LÝ NGƯỜI CẢNH SÁT NHÂN DÂN3 8
31.1 Lược sử nghiên cứu vấn đề3 8
31.1.1 Nghiên cứu ở nước ngoài3 8 3
1.1.2 Nghiên cứu ở trong nước3 10 3
1.2 Lý luận về khả năng tự đánh giá các PCTL người CSND của
học viên trường Cao đẳng CSND II3 12
31.2.1 Khả năng tự đánh giá3 12 3
1.2.2 Phẩm chất tâm lý của Người Cảnh sát3 31 3
1.2.3 Tự đánh giá các PCTL của học viên trường Cao đẳng
CSND II3 46 3
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tự đánh giá của học viên3 47
31.3.1 Nhóm các yếu tố khách quan3 48 3
1.3.2 Các yếu tố chủ quan3 50 3
TI ỂU KẾT CHƯƠNG 13 52
3
Chương 2 THỰC TRẠNG KHẢ NĂNG TỰ ĐÁNH GIÁ CÁC
PH ẨM CHẤT TÂM LÝ NGƯỜI CẢNH SÁT NHÂN DÂN3 53
32.1.Vài nét về trường Cao đẳng CSND II3 53
32.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển3 53 3
2.1.2 Chức năng nhiệm vụ3 55
Trang 532.2 Thể thức nghiên cứu3 56
32.2.1 Khách thể nghiên cứu3 56 3
2.2.2 Công cụ nghiên cứu3 57 3
2.3 Thực trạng khả năng tự đánh giá PCTL người CSND của học viên trường Cao đẳng CSND II3 63
32.3.1 Thực trạng đánh giá của học viên về mức độ cần thiết
của các PCTL người CSND3 63 3
2.3.2 Thực trạng khả năng tự đánh giá các PCTL người
CSND của học viên3 69 3
2.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc hình thành và rèn luyện
các PCTL người CSND3 113 3
2.3.4 Đề xuất một số biện pháp nâng cao khả năng TĐG
PCTL người CSND cho học viên trường Cao đẳng CSND II3 118 3
TIỂU KẾT CHƯƠNG 23 121 3
K ẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ3 123
3
TÀI LI ỆU THAM KHẢO3 127 PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BH : Biểu hiện CSND II : Cảnh sát Nhân dân II CSND : Cảnh sát nhân dân ĐTB : Điểm trung bình
GV : Giảng viên
HV : Học viên
NXB : Nhà xuất bản PCTL : Phẩm chất tâm lý
TP HCM : Thành phố Hồ Chí Minh TĐG : Tự đánh giá
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
3
Bảng 2.1 Khách thể nghiên cứu3 56 3
Bảng 2.2 Đánh giá của học viên về mức độ cần thiết của các PCTL3 63 3
Bảng 2.3 Đánh giá của học viên về mức độ cần thiết của các PCTL
phân theo nhóm3 66 3
Bảng 2.4 Mức độ TĐG các phẩm chất tâm lý3 69 3
Bảng 2.5 Tự đánh giá về các biểu hiện của động cơ3 71 3
Bảng 2.6 Tự đánh giá động cơ3 73 3
Bảng 2.7 Tự đánh giá về các biểu hiện của niềm tin3 74 3
Bảng 2.8 Tự đánh giá Niềm tin3 76 3
Bảng 2.9 Tự đánh giá về các biểu hiện của tinh thần trách nhiệm3 77 3
Bảng 2.10 Tự đánh giá về tinh thần trách nhiệm3 79 3
Bảng 2.11 Tự đánh giá về các biểu hiện của tính kỉ luật3 80 3
Bảng 2.12 Tự đánh giá tính kỉ luật3 82 3
Bảng 2.13 Tự đánh giá các biểu hiện của năng lực giao tiếp xã hội3 83 3
Bảng 2.14 Tự đánh giá năng lực giao tiếp3 86 3
Bảng 2.15 Tự đánh giá về các biểu hiện của năng lực kiểm tra đánh giá 387 3
Bảng 2.16 Tự đánh giá năng lực kiểm tra đánh giá3 89 3
Bảng 2.17 Tự đánh giá về các biểu hiện của tính bình tĩnh, kiềm chế3 90 3
Bảng 2.18 Tự đánh giá về tính bình tĩnh, kiềm chế3 92 3
Bảng 2.19 Tự đánh giá về các biểu hiện của tính linh hoạt3 93 3
Bảng 2.20 Tự đánh về tính linh hoạt3 95 3
Bảng 2.21 So sánh điểm trung bình TĐG các PCTL của học viên
theo năm học và ngành học3 96 3
Bảng 2.22 Mô tả ĐTB TĐG của học viên và ĐTB đánh giá của cán
bộ, giảng viên3 98
Trang 8Bảng 2.23 So sánh ĐTB TĐG PCTL của học viên với đánh giá của
cán bộ, giảng viên3 99 3
Bảng 2.24 So sánh TĐG các biểu hiện của năng lực giao tiếp xã hội 3102 3
Bảng 2.25 So sánh TĐG các biểu hiện của năng lực kiểm tra đánh giá 3103 3
Bảng 2.26 So sánh TĐG các biểu hiện của tính bình tĩnh, kiềm chế3 105 3
Bảng 2.27 So sánh TĐG các biểu hiện của tính linh hoạt3 106 3
Bảng 2.28 So sánh TĐG các biểu hiện của tính kỉ luật3 107 3
Bảng 2.29 So sánh TĐG các biểu hiện của Tinh thần trách nhiệm3 109 3
Bảng 2.30 So sánh TĐG các biểu hiện của động cơ3 110 3
Bảng 2.31 So sánh TĐG các biểu hiện của Niềm tin3 111 3
Bảng 2.32 Tổng hợp số cặp tương quan của các PCTL3 112 3
Bảng 2.33 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc hình thành và rèn luyện
PCTL người CSND3 113 3
Bảng 2.34 Lí do chọn nghề của học viên trường Cao đẳng CSND II3 114 3
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do ch ọn đề tài
1.1.Tự đánh giá bản thân đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển tâm lý của cá nhân fTự đánh giá là điều kiện bên trong để phát triển nhân cách Khi đánh giá đúng bản thân, cá nhân mới có cơ sở điều chỉnh, điều khiển bản thân cho phù hợp với yêu cầu của xã hội Do đó, nghiên cứu về khả năng tự đánh giá các PCTL cá nhân sẽ góp phần phát huy những mặt tích cực
và hạn chế những mặt tiêu cực của cá nhân, góp phần to lớn trong việc hoàn thiện nhân cách của mỗi người
1.2 Bất kì một xã hội nào muốn phát triển cũng cần có sự ổn định về chính trị, về trật tự pháp luật, an toàn xã hội Nếu trật tự xã hội không được đảm bảo thì bầu không khí tâm lý xã hội căng thẳng, nặng nề, các hoạt động
sản xuất có thể bị đình trệ, kinh tế không phát triển, văn hóa giáo dục theo đó
mà dần suy yếu, các quyền lợi và lợi ích cá nhân chính đáng luôn bị đe dọa,
sự vững mạnh về mặt chính quyền sẽ bị lung lay Lực lượng Công an nhân dân nói chung, lực lượng CSND nói riêng là lực lượng vũ trang thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội Nếu hoạt động của
lực lượng Cảnh sát không có hiệu quả, các tệ nạn phát triển, tội phạm xảy ra nhiều xã hội sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng, hệ thống chuẩn mực xã hội bị vô
hiệu hóa gây tâm trạng hoang mang lo lắng, bất an cho toàn xã hội Chống tội
phạm, kìm hãm sự gia tăng của các tệ nạn tiến đến đẩy lùi và xóa bỏ tội phạm
xã hội ra khỏi đời sống xã hội là mục tiêu chiến lược của mọi chế độ xã hội
Từ đó có thể nói rằng nghề Cảnh sát là một nghề không thể thiếu với bất kì xã
hội nào Trong điều kiện của nước ta hiện nay, nghề Cảnh sát là nghề không
thể thiếu và đòi hỏi chất lượng ngày càng cao
Xuất phát từ đặc thù công tác của lực lượng CSND, đó là một loại hình nghề nghiệp đặc biệt với công việc hướng dẫn mọi người cư xử, hành động
Trang 10theo pháp luật góp phần hoàn thiện nhân cách con người Điều đó đòi hỏi người Cảnh sát phải có những phẩm chất tâm lý phù hợp với yêu cầu công
việc, được xã hội chấp thuận Hồ Chí Minh cũng đã nêu lên một số PCTL cần thiết của người làm trong lĩnh vực lực lượng vũ trang “Công an của ta là
Công an nhân dân, vì dân mà ph ục vụ và dựa vào dân mà làm việc” và “tư cách của người Công an cách mệnh là: Đối với tự mình phải Cần, Kiệm, Liêm, Chính; đối với chính phủ phải tuyệt đối trung thành; đối với nhân dân,
ph ải kính trọng, lễ phép; đối với đồng sự, phải thân ái giúp đỡ; đối với địch
ph ải kiên quyết, khôn khéo; đối với công việc phải tận tụy” [27, tr.30]
Trong hoạt động thực tiễn của ngành, lực lượng Cảnh sát đã có những nỗ
lực đặc biệt, xứng đáng là cánh tay đắc lực của Đảng và Nhà Nước Đảng và Nhà Nước đã ghi nhận thông qua những phần thưởng cao quý: 3 lần lực lượng Công an Nhân dân được tặng thưởng huân chương Sao Vàng, 50 huân chương Hồ Chí Minh và hàng ngàn huân, huy chương khác trong các thời kì Bên cạnh đó, các bộ phận của lực lượng Công an vẫn còn một số chiến sĩ vi
phạm kỷ luật, pháp luật, thậm chí đến mức bị truy tố pháp luật Báo cáo tình hình và kết quả công tác của Bộ Công an năm 2000 đã nhận định: “Một số
cán b ộ Công an trực tiếp đấu tranh chống tội phạm còn tiêu cực, vi phạm,
nh ất là trong các lực lượng cảnh sát điều tra, cảnh sát hình sự, cảnh sát giao thông…” Công tác đấu tranh chống tội phạm, gìn giữ tự trật an toàn xã hội đạt hiệu quả chưa cao, số vụ tội phạm và số lượng người phạm tội vẫn tăng lên hàng năm Một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến hiện trạng trên là do ở một số chiến sĩ chưa hình thành được những phẩm chất, năng lực
cần thiết đáp ứng yêu cầu công việc, ở một số khác, năng lực, sở trường của
họ chưa được phát huy hết Về mặt khách quan, sự vận động của tình hình xã
hội trong những năm gần đây vô cùng mạnh mẽ, làm cho đất nước có những thay đổi cơ bản, hoạt động kinh tế mở rộng và phát triển sôi động, dân trí
Trang 11được nâng cao, đồng thời tình hình tội phạm cũng thêm phức tạp, xuất hiện hàng loạt các tội phạm mới, phương thức và thủ đoạn tinh vi với các phương
tiện hiện đại [27, tr.32] Những vấn đề đó làm cho nhiệm vụ của lực lượng CSND càng thêm nặng nề, hoạt động nghề nghiệp đặt ra những yêu cầu cao
hơn về những phẩm chất cá nhân đối với người chiến sĩ công an
Để đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm đạt hiệu quả cao đòi hỏi lực lượng Cảnh sát nói chung và các bộ phận chuyên trách nói riêng phải không
ngừng hiện đại hóa và chuyên môn hóa Do vậy, quan tâm rèn luyện PCTL người CSND cho học viên Trường Cảnh sát là một việc làm quan trọng góp
phần củng cố và nâng cao chất lượng đội ngũ CSND nhằm đáp ứng ngày càng
tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới
1.3 Trong thực tiễn, Bộ Công an nói chung và trường Cao đẳng CSND
II nói riêng hết sức chú trọng đến việc bồi dưỡng, rèn luyện các PCTL đáp ứng yêu cầu đặc thù của nghề Có một số công trình khoa học đã nghiên cứu
về khả năng tự đánh giá chung và khả năng tự đánh giá các PCTL nói riêng trên nhiều đối tượng khác nhau, tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu nào
thực hiện trên đối tượng là học viên trường Cao đẳng CSND II Do vậy, việc nghiên cứu đề tài Khả năng tự đánh giá phẩm chất tâm lý người CSND của
h ọc viên Trường Cao đẳng CSND II là cần thiết, có ý nghĩa thực tiễn, góp
phần tìm hiểu thực trạng khả năng tự đánh giá các phẩm chất tâm lý người
cảnh sát của học viên Trường Cao đẳng CSND II
Xuất phát từ các lý do, trên người nghiên cứu chọn nghiên cứu đề tài
“Kh ả năng tự đánh giá phẩm chất tâm lý người CSND của học viên Trường Cao đẳng CSND II”
2 M ục đích nghiên cứu
Khảo sát thực trạng khả năng tự đánh giá PCTL người CSND của học viên Trường Cao đẳng CSND II Từ đó đề xuất một số biện pháp giúp học
Trang 12viên tự đánh giá đúng, làm cơ sở cho việc rèn luyện những PCTL của người
CSND
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Khả năng tự đánh giá phẩm chất tâm lý người CSND
3.2 Khách th ể nghiên cứu
Học viên hệ trung cấp Cảnh sát Trường Cao đẳng CSND II
4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
4.1 V ề đối tượng nghiên cứu
Trong đề tài nghiên cứu này, người nghiên cứu tìm hiểu các PCTL của
học viên trường Cao đẳng CSND II theo 4 nhóm: Khí chất, tính cách, năng
lực và xu hướng với 36 biểu hiện được liệt kê Do giới hạn về thời gian nghiên cứu, chúng tôi chỉ nghiên cứu khả năng tự đánh giá của học ở 8 biểu
hiện: (1) tinh thần trách nhiệm, (2) ý thức kỉ luật cao, (3) tính linh hoạt, (4) bình tĩnh trong công việc và cuộc sống, (5) năng lực giao tiếp xã hội, (6) năng
lực kiểm tra đánh giá, (7) động cơ phục vụ xã hội, (8) niềm tin
4.2 Về khách thể nghiên cứu:
Học viên khóa K18 (2011-2013) và khóa K19 (2012-2014) hệ trung cấp
chính quy đang học tập tại Trường Cao đẳng CSND II
người CSND
Trang 136 Nhi ệm vụ nghiên cứu
6.1 Xây dựng cơ sở lý luận về khả năng tự đánh giá, khả năng tự đánh giá phẩm chất tâm lý của người CSND
6.2 Khảo sát thực trạng khả năng tự đánh giá những phẩm chất tâm lý
người CSND của học viên Trường Cao đẳng CSND II
6.3 Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao khả năng tự đánh giá
PCTL người CSND của học viên Trường Cao đẳng CSND II
7 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được những nhiệm vụ nghiên cứu đã đề ra, chúng tôi sử
dụng phối hợp một số phương pháp sau:
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Mục đích: Thu thập các sách, báo, tạp chí, tài liệu…có liên quan đến đề tài nghiên cứu nhằm làm rõ cơ sở lý luận của đề tài
Nội dung: Tự đánh giá, PCTL, khả năng tự đánh giá các PCTL, các yếu
tố ảnh hưởng đến khả năng tự đánh giá PCTL
Cách tiến hành: Đọc, phân loại, phân tích, tổng hợp các tài liệu cần thiết
phục vụ cho việc nghiên cứu, nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho việc triển khai, nghiên cứu thực tiễn
7.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn 7.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Mục đích: Đây là phương pháp chính của đề tài, dựa trên cơ sở lý luận
và các công trình nghiên cứu liên quan, người nghiên cứu tiến hành soạn thang đo để tìm hiểu khả năng tự đánh giá các PCTL của học viên trường Cao
đẳng CSND II
Nội dung: thang đo nhằm khảo sát một số nội dung sau đây:
- Đánh giá của học viên về mức độ cần thiết của các PCTL
- Khả năng tự đánh giá của học viên về các PCTL người CSND
Trang 14- Đánh giá của GV, cán bộ quản lý về các PCTL của học viên trường Cao đẳng CSND II
- Mức độ ảnh hưởng của một số yếu tố chủ quan và khách quan đến
việc hình thành khả năng tự đánh giá các PCTL người CSND
- Các biện pháp nhằm nâng cao khả năng tự đánh giá các PCTL của
học viên Cách tiến hành: Gồm hai giai đoạn
Giai đoạn 1: Thiết kế bảng hỏi mở, thu thập ý kiến của 100 học viên
Cảnh sát về các vấn đề nghiên cứu nhằm xây dựng các tiêu chí cho bảng hỏi
Tiến hành sửa chữa các mệnh đề chưa đạt yêu cầu về nội dung và cách diễn
đạt
Giai đoạn 2: Hoàn thiện thang đo chính thức và phát đến khách thể trong
mẫu nghiên cứu đã chọn Hướng dẫn học viên cách thức trả lời và thu nhận lại phiếu đã hoàn thành
Nhận định về khả năng tự đánh giá phẩm chất tâm lý người CSND của
học viên Trường Cao đẳng CSND II
Nguyên nhân chủ yếu tác động thuận lợi hoặc khó khăn đến khả năng
tự đánh giá phẩm chất tâm lý người CSND của học viên Trường Cao đẳng
CSND II
Góp ý các giải pháp về phương pháp đào tạo, rèn luyện của Nhà trường
và học viên nhằm nâng cao khả năng tự đánh giá phẩm chất tâm lý của người CSND của học viên Trường Cao đẳng CSND II
Trang 15Cách tiến hành: Phỏng vấn trực tiếp các đối tượng gồm: giảng viên bộ môn khối cơ sở và khoa chuyên ngành, cán bộ phòng ban, học viên Nội dung
phỏng vấn được dùng để tổng hợp dữ liệu xây dựng thang đo
7.3 Phương pháp xử lý số liệu
Mục đích: Mã hóa và xử lý các thông số cần dùng trong đề tài nghiên cứu
Cách thức tiến hành: Sử dụng phần mềm SPSS for Window 11.5 để xử lý các thông số cần có trong đề tài
Trang 16Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHẢ NĂNG TỰ ĐÁNH GIÁ
1.1 Lược sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Nghiên c ứu ở nước ngoài
Lĩnh vực tự đánh giá đã được các nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm,
tập trung ở những công trình nghiên cứu của các nhà tâm lý học Phương Tây
và tâm lý học Liên Xô (cũ) Họ đã có những đóng góp quan trọng cho các vấn
đề lý luận cơ bản của TĐG như quan điểm tiếp cận, bản chất, nội dung, con
đường hình thành, vai trò, phương pháp nghiên cứu TĐG
Trước tiên là công trình nghiên cứu của tác giả S.Franz "Khả năng tự đánh giá phù hợp đối với thái độ học tập và thái độ tập thể ở học sinh các lớp 5,7,9” Tác giả đã phân tích sâu khái niệm “TĐG là một dạng đặc biệt của
hoạt động tự nhận thức” và vai trò của nó trong sự hình thành, phát triển nhân
cách Năm 1982, Franz cho xuất bản cuốn sách “Phát triển tự đánh giá của học sinh”, tác giả đã đưa ra ý kiến nghiên cứu và so sánh khả năng tự đánh giá của học sinh về thái độ học tập và thái độ đối với tập thể, đề ra phương án để
phát triển khả năng tự đánh giá của học sinh [12]
Tác giả R.J.Shavelson, J.I.Hubner và G.C.Stanton coi tự đánh giá là quá trình chủ thể nhận thức hình ảnh bản thân mình theo các cấp độ: hình ảnh chung về bản thân; hình ảnh bản thân có tính phân hóa ở nhà trường, xã hội
và thể chất; hình ảnh bản thân có tính tổng quát được xem xét ở bình diện giá
trị của bản thân trong nhóm, trong cộng đồng [16]
Ngoài ra, một số tác giả khác như D.R.Krathwohl, B.B.Maria cho rằng:
tự đánh giá là khả năng tự biết quan sát mình về các mặt thể chất, tâm lý có ở
bản thân [17]
Trang 17Các công trình nghiên cứu ở Liên Xô (cũ) đề cập tới bản chất, con đường hình thành tự đánh giá và vai trò của tự đánh giá trong sự hình thành và phát triển nhân cách Các công trình chủ yếu nghiên cứu trên khách thể là học sinh
Một số công trình nghiên cứu như [17]:
Năm 1986 công trình nghiên cứu “Tính phê phán và tự đánh giá trong hoạt động học tập” của A.I.Rubach cho rằng tự đánh giá là thành phần không thể tách rời của tự ý thức, của sự phản ánh chính bản thân mình cũng như mối quan hệ của mình với người khác, với người xung quanh Tác giả đồng thời khẳng định mối quan hệ giữa tự ý thức và tự đánh giá: tự đánh giá là hình
thức phát triển cao nhất của tự ý thức
Trong một nghiên cứu của mình, A.I.Lipkina đã đưa ra quan niệm về tự đánh giá “là thái độ của con người đối với các năng lực của mình, với những khả năng và những phẩm chất nhân cách cũng như đối với bộ mặt bên ngoài của mình” Tác giả đã nêu ra một số đặc điểm: việc đưa học sinh vào đánh giá hoạt động của chính mình và đánh giá sản phẩm của các bạn khác là tạo cho các em một thái độ đúng đắn trong việc phê bình, đánh giá sản phẩm của mình và của người khác Do đó hình thành cho học sinh quan niệm đúng đắn
về những thành công hay thất bại của mình
E.A.Cebracova nghiên cứu vai trò của tự đánh giá trong việc hình thành niềm tin của học sinh, niềm tin vào chính mình và những điều kiện hình thành
nó Bà đã coi niềm tin vào mình như một trong những thành phần của tự đánh
giá
P.I.Ivasenco cho rằng “những học sinh có thành tích học tập khác nhau
sẽ tự đánh giá khác nhau Sự tự đánh giá của các cá nhân không chỉ khác nhau
về mức độ phù hợp mà còn khác nhau trong việc lựa chọn luận cứ để tự đánh
giá”
Trang 18B.G.Ananhev đã nghiên cứu khả năng tự đánh giá của học sinh và đưa ra kết luận: sự xuất hiện khả năng tự đánh giá những phẩm chất nhân cách của trẻ em gắn liền với trình độ phát triển ngày càng cao hơn, gắn với sự lĩnh hội ngôn ngữ, những quy tắc chuẩn mực và những mối quan hệ xã hội trong trò
chơi, trong tập thể
A.V.Petrovxki cũng đề cập đến vấn đề tự đánh giá Trong đó ông nêu ra hai phương thức tự đánh giá của học sinh: so sánh mức độ kì vọng của mình với kết quả đạt được; so sánh về mặt xã hội - so sánh kết quả đạt được của
mình với ý kiến của những người xung quanh về bản thân mình
Điểm qua một số nghiên cứu của các tác giả nước ngoài ở trên, người nghiên cứu thấy rằng TĐG được quan tâm nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau Các nhà Tâm lý học Phương Tây tập trung vào những vấn đề cơ bản như khái niệm, nguồn gốc của TĐG Các nhà tâm lý học Liên Xô có nhiều phát
hiện quan trọng ở các vấn đề như bản chất, cơ chế, vai trò của TĐG trong sự hình thành và phát triển nhân cách
1.1.2 Nghiên c ứu ở trong nước
Ở Việt Nam, TĐG đã được quan tâm và bắt đầu nghiên cứu trong
những năm 80 của thế kỉ 20 Các công trình tập trung nghiên cứu theo hai hướng chính: nghiên cứu dựa trên quan điểm của các nhà tâm lý học Liên Xô
và nghiên cứu dựa trên quan điểm của các nhà tâm lý học Phương Tây Có thể
kể đến một số công trình như sau:
Trước tiên là luận án phó tiến sỹ của tác giả Lê Ngọc Lan về mối quan
hệ giữa khả năng TĐG phù hợp của học sinh đối với thái độ học tập và động
cơ học tập Tác giả dựa trên cơ sở lý luận của Franz Trong nghiên cứu tác giả cho rằng: sự tự đánh giá có liên quan chặt chẽ với những yếu tố bên trong của nhân cách, sự tự đánh giá về thái độ học tập có liên quan chặt chẽ với động cơ học tập Trong đó, khả năng tự đánh giá với thái độ học tập ở học sinh lớp 6
Trang 19và lớp 8 còn chưa phát triển đầy đủ Sự khác nhau về khả năng đánh giá phù
hợp với các môn học khác nhau không rõ ràng [19]
Cũng theo quan điểm của F.ranz, tác giả Đào Lan Hương nghiên cứu sâu
sự tự đánh giá thái độ học tập môn toán trên đối tượng là sinh viên Cao đẳng
sư phạm Hà Nội [12] Theo tác giả, có nhiều cách tác động để nâng cao khả năng TĐG của sinh viên như: nâng cao khả năng thu thập thông tin, hiểu và
nắm chắc tiêu chuẩn đánh giá… Trong đó, giúp sinh viên nắm vững tiêu chuẩn đánh giá thái độ học toán là cách phù hợp nhất để nâng cao năng lực tự
đánh giá của sinh viên
Tác giả Văn Thị Kim Cúc và Đỗ Ngọc Khanh nghiên cứu theo quan điểm của các nhà tâm lý học Phương Tây và sử dụng thang đo đã được chuẩn hóa để tìm hiểu sâu về TĐG Tác giả Văn Thị Kim Cúc trong công trình nghiên cứu “Những tổn thương tâm lý của thiếu niên do bố mẹ ly hôn” đã so sánh TĐG giữa trẻ trong các gia đình ly hôn và trẻ trong các gia đình bình
thường Kết quả nghiên cứu cho thấy, các em trong gia đình ly hôn và trong gia đình bình thường đều có điểm số trung bình của cái “Tôi” xã hội, cái
“Tôi” trường học khá cao và điểm trung bình của cái “Tôi” cảm xúc tiêu cực đều thấp Các em trong gia đình ly hôn có điểm số cái “Tôi” thể chất thấp hơn các em trong gia đình bình thường [5, tr.135 – 140]
Trong luận án tiến sỹ tâm lý học của Đỗ Ngọc Khanh, tác giả đã tìm
hiểu về thực trạng TĐG của học sinh Trung học cơ sở ở Hà Nội và các yếu
tố ảnh hưởng đến TĐG của các em như cách ứng xử của cha, mẹ và yếu tố môi trường xung quanh Theo kết quả, học sinh ở Hà Nội có TĐG tổng thể ở
Trang 20Thắm Trong đó, các tác giả đề cập đến một số nội dung như khả năng tự
đánh giá, tìm hiểu các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến TĐG của sinh viên và
kỹ năng tự đánh giá của thiếu niên ở các mái ấm
Thông qua việc điểm lại một số công trình nghiên cứu về TĐG trong và ngoài nước, người nghiên cứu nhận thấy chưa có công trình nghiên cứu nào
về khả năng tự đánh giá các PCTL trên đối tượng là học viên ngành CSND
1.2 Lý lu ận về khả năng tự đánh giá các PCTL người CSND của học
viên trường Cao đẳng CSND II
1.2.1 Khả năng tự đánh giá
1.2.1.1 Ý th ức và Tự ý thức
a) Ý th ức
Trong TLH, ý thức được xem xét dưới nhiều góc độ Về khái niệm,
một số tác giả nêu quan điểm như sau:
Tác giả V.N Miaxisev khi nghiên cứu về thái độ đã coi ý thức là sự
thống nhất của phản ánh thực tại và thái độ tích cực, có mục đích của con
người đối với thực tại xung quanh [21, tr.29]
Đồng quan điểm với tác giả V.N Miaxisev có K.K Platonov v à X.L
Rubinstein Tác giả K.K Platonov cho rằng, ý thức là sự thống nhất của
mọi hình thức nhận thức, trải nghiệm của con người và thái độ của nó đối
với cái mà nó phản ánh – là sự thống nhất của tất cả các quá trình, trạng thái,
thuộc tính tâm lí của con người như là một nhân cách [21, tr.29] Còn theo
X.L Rubinstein, ý thức – không chỉ là sự phản ánh, mà còn là thái độ của con
người đối với thế giới xung quanh [21, tr.29] Như vậy, có thể hiểu ý thức là
sự thống nhất giữa tri thức, trải nghiệm và thái độ
Theo tác giả E.V.Sorokhova, ý thức là năng lực (khả năng của con
người) hiểu thế giới xung quanh, các quá trình diễn ra trong đó, các tư
tưởng, hành động và thái độ của mình đối với thế giới cũng như với chính bản
Trang 21thân mình [21, tr.29]
Đồng tình với quan điểm trên, tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng “ý
th ức là biết người, biết mình” Cụ thể, ý thức là năng lực hiểu biết được các
tri thức về thực tại khách quan mà người đó tiếp thu được và năng lực hiểu
được thế giới chủ quan trong chính bản thân người đó [9, tr 63]
Ngoài ra, tác giả Nguyễn Quang Uẩn cũng cho rằng, ý thức là hình
thức phản ánh tâm lý cao nhất chỉ riêng con người mới có, được phản ánh
bằng ngôn ngữ, là khả năng con người hiểu được các tri thức, hiểu biết mà con người đã tiếp thu được (là tri thức của tri thức, phản ánh của phản ánh)
[30, tr 56]
Các tác giả vừa kể trên đề cập ý thức từ góc độ là năng lực đặc trưng
của con người - năng lực hiểu thế giới khách quan, trong đó có bản thân mình
Như vậy, ý thức bao gồm cả tự ý thức
V ề cấu trúc
Vấn đề cấu trúc của ý thức được các nhà Tâm lí học Xô Viết nghiên
cứu nhiều Ý thức được cấu tạo nên theo thứ bậc và có cấu trúc nhiều lớp, các thành tố của nó thể hiện các mức độ phát triển khác nhau V.A Petrovxki đồng nhất cấu trúc của ý thức với các thuộc tính cơ bản của nó A.G.Kovaliov coi cấu trúc của ý thức là sự thống nhất các quá trình, trạng thái, thuộc tính của con người như một nhân cách B Ph Lomov quy cấu trúc
của ý thức theo hệ thống các chức năng của nó: nhận thức, điều chỉnh, thông
tin [21]
Dưới góc độ nghiên cứu đề tài này, tác giả nhìn nhận vấn đề cấu trúc ý
thức theo quan điểm của tác giả Nguyễn Quang Uẩn: Ý thức là một cấu trúc
tâm lí ph ức tạp bao gồm nhiều mặt, là một chỉnh thể mang lại cho thế giới tâm h ồn con người một chất lượng mới Trong ý thức có ba mặt thống nhất
h ữu cơ với nhau [30, tr 58] Cụ thể:
Trang 22Mặt nhận thức: Các quá trình nhận thức cảm tính mang lại những tài
liệu đầu tiên cho ý thức, là tầng bậc thấp của ý thức Nhờ cảm giác và tri giác mà bức tranh cảm tính về thế giới khách quan được nẩy sinh trong ý
thức Các quá trình nhận thức lí tính là bậc tiếp theo trong mặt nhận thức, đem lại cho con người những hiểu biết bản chất, khái quát về thực tại khách quan Đây là nội dung rất cơ bản của ý thức, hạt nhân của ý thức
Mặt thái độ: nói lên thái độ lựa chọn, thái độ cảm xúc, thái độ đánh giá
của chủ thể đối với thế giới
Mặt năng động của ý thức: Ý thức điều khiển, điều chỉnh hoạt động của con người làm cho hoạt động của con người có ý thức
Trong quá trình sống và làm việc, lao động, muốn giáo dục ý thức con
người thì cần chú ý đến sự thống nhất hữu cơ giữa các thành phần trong cấu trúc của ý thức, nghĩa là không xem nhẹ thành phần nào mà cần đồng thời giáo dục tri thức và tình cảm cho con người
Về chức năng
B Ph.Lomov khái quát ba chức năng cơ bản của ý thức như sau: [3, tr.28] (1) Chức năng nhận thức: là sự chiếm lĩnh tri thức có tính tích cực và có tính chủ định, được hiện thực hoá trong các quá trình hoạt động nhận thức; (2)
Chức năng điều chỉnh trên cơ sở cá nhân gia nhập vào các quan hệ xã hội; (3)
Chức năng thông tin – được hiện thực hoá trong quá trình giao tiếp, trao đổi tri thức và điều hoà lẫn nhau bởi hành vi con người
V ề thuộc tính
Ý thức thể hiện năng lực nhận thức cao nhất của con người về thế giới
Đó là năng lực nhận thức được cái bản chất và cái khái quát bằng ngôn ngữ,
dự kiến trước kế hoạch hành vi và kết quả của hành vi có tính chủ định
Ý thức thể hiện thái độ của con người đối với thế giới Mác và Angen
đã viết “ý thức tồn tại đối với tôi là tồn tại một thái độ nào đó đối với sự vật
Trang 23này hay sự vật khác” [30, tr.57]
Ý thức thể hiện năng lực điều khiển điều chỉnh hành vi của con người Trên cơ sở nhận thức bản chất khái quát và tỏ rõ thái độ với thế giới, ý thức
điều khiển, điều chỉnh hành vi của con người đạt tới mục đích đã đề ra
Khả năng tự ý thức Con người không chỉ ý thức về thế giới mà ở mức
độ cao hơn con người có khả năng tự ý thức Điều đó có nghĩa là khả năng tự
nhận thức về mình tự xác định thái độ đối với bản thân, tự điều khiển, điều
chỉnh, tự hoàn thiện mình
Tóm lại có thể hiểu ý thức là:
+ Năng lực hiểu được thế giới khách quan và năng lực hiểu được thế
giới chủ quan trong chính bản thân mình, và sử dụng thông tin về xung quanh
và về chính bản thân mình để giải quyết các vấn đề của cuộc sống
+ Là sự thống nhất của tất cả các hình thức nhận thức và trải nghiệm
của con người cùng thái độ của nó đối với cái mà nó phản ánh
+ Là sự thống nhất của các quá trình, trạng thái và thuộc tính tâm lí
của con người như một nhân cách
b) Tự ý thức Trong Tâm lý học, tự ý thức là một vấn đề cơ bản trong nhiều công trình nghiên cứu lý luận và thực tiễn trên nhiều phương diện khác nhau
V ề khái niệm
Tác giả A.V Petrovxki quan niệm tự ý thức là sự hiểu biết đầy đủ về
bản thân mình, về giá trị và vai trò của bản thân mình trong cuộc sống, trong
xã hội Như vậy, tự ý thức là quá trình con người khám phá “cái tôi” của bản thân [22, tr.8] Đồng quan điểm trên, tác giả Nguyễn Kế Hào cho rằng tự ý
thức được xem như là “ý thức xuất hiện như năng lực hiểu được chính mình”
[10, tr 39]
Theo tác giả Franz thì tự ý thức chính là tự nhận thức về bản thân mình
Trang 24Nó bao gồm việc con người hiểu biết bản thân mình (khả năng, năng lực,
những phẩm chất) và việc xác định thái độ với bản thân Tự ý thức được hình thành trong cuộc sống và hoạt động của con người [16, tr.32]
A.G.Xpirkin cho rằng “Tự ý thức là sự tự giác của con người về hành động cũng như kết quả hành động của bản thân mình, về tư tưởng, tình cảm,
bộ mặt đạo đức, hứng thú, lý tưởng, động cơ và hành vi Đó là sự đánh giá
tổng thể về bản thân và vị trí của mình trong cuộc sống” [16, tr.19]
Theo tác giả Nguyễn Quang Uẩn: Tự ý thức là mức độ phát triển cao
của ý thức Tự ý thức là ý thức về mình, tức là khi bản thân trở thành đối
tượng “mổ xẻ”, phân tích, lý giải… thì lúc đó con người đang tự ý thức Tự
ý thức biểu hiện ở các mặt sau: chủ thể nhận thức về bản thân mình từ bên ngoài đến nội dung tâm hồn, đến vị thế và các quan hệ xã hội, trên cơ sở đó
tự nhận xét, tự đánh giá Có thái độ rõ ràng đối với bản thân, tự điều chỉnh, điều khiển hành vi theo mục đích tự giác Chủ thể có khả năng tự giáo dục,
tự hoàn thiện mình [30, tr 35]
Theo tác giả Phạm Hoàng Gia, những biểu hiện của tự ý thức và chức
năng của nó: “Tự ý thức biểu hiện ra ở dấu hiệu tự nhận thức của mình (về bên ngoài, về nội dung tâm hồn, vị trí các quan hệ xã hội của mình…) có thái
độ đối với mình (tự phê bình, tự đánh giá, tự nhận định, có dự định về đường đời của mình, chọn người mẫu để bắt chước, có lý tưởng chí hướng) và có
khả năng tự kìm chế, tự thúc đẩy, tự kiểm tra… và là kết tinh của hoạt động
tự giáo dục” [29, tr.13]
Nhìn chung về khái niệm, tự ý thức được hiểu là ý thức của cá nhân
hướng vào chính bản thân mình đồng thời với việc phát hiện ra mình như một nhân cách độc đáo, tự ý thức phải đi đến xác định được vị trí, giá trị của bản thân trong m ối quan hệ với những người khác trong xã hội
Trang 25Về nội dung
Trước hết, A.N Leonchev khẳng định: trong sự phát triển của tự nhận
thức, lúc đầu đứa trẻ “xác định đặc điểm của người khác và của bản thân một cách cục bộ theo từng mặt tách biệt nhau, nhưng về sau, cách đánh giá đó
nhường chỗ cho cách đánh giá tổng quan hơn, bao quát hơn, bao quát con
người trong toàn bộ và tách bạch ra những nét bản chất của họ” [13, tr.267]
Các nội dung của tự ý thức tạo thành một cấu trúc theo tầng bậc mà
bậc phát triển cuối cùng là TĐG Tác giả I.S Kôn đã đưa ra định nghĩa “Tự ý
thức là một cấu trúc tâm lý phức tạp bao gồm: thứ nhất, ý thức về tính đồng
nhất của mình, thứ hai, ý thức về cái tôi của bản thân mình như là cơ sở của tính tích cực hoạt động, thứ ba, ý thức về những thuộc tính và PCTL của mình, thứ tư, là hệ thống xác định những ý kiến TĐG về mặt đạo đức xã hội” [14, tr.9] Tác giả cũng cho rằng các nội dung của tự ý thức không xuất
hiện cùng một thời điểm trong đời sống cá nhân Ở mỗi giai đoạn, phù hợp
với sự phát triển nhân cách nói chung mà một số nội dung nào đó được bộc lộ
rõ rệt hơn như là nét cơ bản của sự phát triển nhân cách ở giai đoạn đó Trong
đó, tự ý thức và TĐG những PCTL có ý nghĩa to lớn nhất ở tuổi thiếu niên và
tuổi thanh niên
X.L.Rubinxtein cho rằng: trong sự phát triển của tự ý thức đã hình thành và phát triển hàng loạt các mức độ từ nhận thức đơn giản về bản thân
tới sự nhận thức ngày càng sâu sắc hơn Trong mức độ nhận thức sâu sắc đó
gắn với một sự tự đánh giá [16, tr.34]
Bên cạnh đó, tác giả Lê Văn Hồng cũng đã chỉ ra nội dung của tự ý thức bao gồm: Tự ý thức về những đặc điểm cơ thể; tự ý thức về hành vi (trước hết
là những hành vi riêng lẻ, sau đó mới ý thức được toàn bộ hành vi của mình);
tự ý thức về những phẩm chất đạo đức, tính cách và khả năng của mình [14,
tr.40 – 47]
Trang 26Từ những phân tích ở trên cho thấy, nội dung của tự ý thức là toàn bộ
những đặc điểm, thuộc tính về cơ thể, tâm lý, nhân cách của bản thân chủ thể Tuy nhiên, các nội dung của tự ý thức không xuất hiện cùng một thời điểm trong sự hình thành và phát triển nhân cách
V ề cấu trúc
Xét cấu trúc của tự ý thức, tác giả V.V Xtolin cho rằng “tự ý thức là
thể thống nhất không thể tách rời của ba mặt: tự nhận thức, tự tỏ thái độ và tự
điều chỉnh” [3, tr.245]
Tác giả Nguyễn Quan Uẩn [30, tr 62] cho rằng tự ý thức được thể hiện
ở các mặt: (1) Cá nhân tự nhận thức về bản thân mình từ bên ngoài đến nội dung tâm hồn đến vị thế và các quan hệ xã hội; (2) Có thái độ đối với bản thân, tự nhận xét tự đánh giá; (3) Tự điều chỉnh, điều khiển hành vi theo mục đích tự giác; (4) Có khả năng tự giáo dục, tự hoàn thiện mình Như vậy, cấu trúc của tự ý thức cũng giống như ý thức có ba mặt: mặt nhận thức, mặt thái
vi cũng như sự phát triển nhân cách
Tự ý thức hình thành và phát triển trong mối quan hệ gắn bó với ý
thức, là mức độ phát triển cao của ý thức
TĐG là một mặt biểu hiện, là mức độ phát triển cao của tự ý thức
Là mặt biểu hiện của tự ý thức ở mức độ cao, TĐG là một năng lực
xuất hiện muộn hơn trong sự phát triển tâm lý cá nhân Tự ý thức phát triển
tới một giai đoạn nào đó thì TĐG mới xuất hiện
Qua những phân tích ở trên, người nghiên cứu kết luận như sau:
Trang 27Nội dung của tự ý thức rất rộng, bao hàm tất cả những gì thuộc về con
người (những đặc điểm về hình thức bên ngoài đến đời sống tâm lý, tinh thần
của chủ thể; những quá trình tâm lý đơn giản như cảm giác, tri giác đến
những thuộc tính tâm lý cao cấp, phức tạp như xúc cảm, tình cảm) Tuy nhiên, trong những thời điểm, hoàn cảnh nhất định, có những nội dung trở nên nổi trội, chiếm ưu thế, được cá nhân ý thức nhiều hơn Điều này phụ thuộc vào đặc điểm tâm lý lứa tuổi và hoạt động chủ đạo của mỗi cá nhân
Cơ chế của tự ý thức là đi từ sự nhận thức bên ngoài tới bên trong, từ đơn giản đến phức tạp Ban đầu, cá nhân nhận thức về những đặc điểm bên ngoài sau đó mới tới những PCTL bên trong Đồng thời, nhận thức về bản thân ban đầu chỉ ở mức đơn giản về sau mới tới mức phức tạp hơn
Sự phát triển của tự ý thức phụ thuộc vào sự phát triển tâm lý của cá nhân và phạm vi hoạt động, phạm vi các mối quan hệ xã hội của mỗi người
Tự ý thức được biểu hiện qua việc chủ thể tự nhận thức về mình, tỏ thái độ với bản thân và tự điều chỉnh, điều khiển hành vi của bản thân Đồng
thời với việc tỏ thái độ, cá nhân sẽ điều khiển và điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với những yêu cầu, đòi hỏi của xã hội hay của nhóm
mà cá nhân là thành viên Nhờ có tự ý thức mà con người không ngừng điều
chỉnh bản thân cho ngày càng phù hợp với yêu cầu của xã hội
Từ đó, người nghiên cứu quan niệm về tự ý thức như sau:
T ự ý thức là mức độ phát triển cao của ý thức, là sự ý thức về toàn bộ
nh ững đặc điểm bên ngoài cơ thể và những đặc điểm tâm lý bên trong của cá nhân, đóng vai trò điểu khiển, điều chỉnh hành vi, hành động, hoạt động của con người
1.2.1.2 T ự đánh giá
a) Đánh giá
Để hiểu về tự đánh giá, trước hết cần tìm hiểu về đánh giá Hiện nay có
Trang 28nhiều quan điểm khác nhau về đánh giá tùy theo từng lĩnh vực
Theo nghĩa thông thường, đánh giá được xem là sự nhận xét, bình
phẩm về giá trị của người hoặc vật nào đó [26, tr 142]
Trong Tâm lý học, một số tác giả đã đưa ra quan điểm về đánh giá
Chẳng hạn, tác giả X.L.Rubinstein cho rằng: “Đánh giá là hoạt động để
nhận thông tin mà nó cho ta biết giá trị của đối tượng” [11, tr 34] Yvan
Abernant cho rằng đánh giá là dựa vào sự đo lường, nhận xét về sự đạt được mục tiêu so với chuẩn [11, tr 34] Như vậy, trong tâm lý học đánh giá được hiểu là những kết luận được con người rút ra từ những bằng chứng, phê phán có suy xét về sự kiện
Tác giả Vũ Thị Lụa [11, tr 33] cho rằng “đánh giá là việc ghi nhận
th ực trạng, phán đoán kết quả của một quá trình hoạt động và đưa ra
nh ững quyết định làm thay đổi thực trạng” Trong đề tài này người nghiên
cứu đồng ý với kết luận của tác giả Vũ Thị Lụa về đánh giá
Chức năng của đánh giá Đánh giá có một số chức năng cơ bản sau:
Chức năng định hướng: Đánh giá nhằm phân tích các phương tiện
vật chất và định ra một kế hoạch lý tưởng về tiến trình của hành động Đó chính là đánh giá chuẩn đoán hay đánh giá dự báo
Chức năng điều chỉnh: Đánh giá là khâu quan trọng nhằm tác động
ngược trong thời điểm hiện thực Đây chính là đánh giá uốn nắn
Chức năng xác nhận hay xếp loại: Là chức năng đánh giá tổng hợp Khi
thực hiện chức năng này cần xác định rõ mục tiêu cuối cùng mà ta hướng tới
Mục tiêu này phải có ý nghĩa đối với cá nhân cũng như xã hội Ngoài ra, trình độ mong muốn phải được đánh giá trong những điều kiện xem xét càng gần thực tế càng tốt
Phân lo ại đánh giá
Có các dạng đánh giá khác nhau như: đánh giá sự khác biệt, đánh giá
Trang 29nhân viên, phản hồi, đánh giá công việc, đánh giá hoạt động, đánh giá kết
quả, đánh giá chương trình, tác động của chương trình, tự đánh giá, đánh giá
hệ thống… Chúng ta có thể hiểu tự đánh giá như một dạng của đánh giá
Dựa vào đối tượng đánh giá, có thể chia đánh giá thành hai loại: đánh giá về những đối tượng bên ngoài bản thân như về người khác, về sự vật,
hiện tượng khách quan và đánh giá chính mình Đánh giá về chính bản thân mình còn gọi là TĐG
Tùy những mục đích nghiên cứu khác nhau, các nhà nghiên cứu đã đưa
ra các khái niệm và phân loại khác nhau, phục vụ cho lĩnh vực nghiên cứu
mà họ quan tâm Sau đây chúng ta sẽ tìm hiểu kỹ hơn về khái niệm TĐG
b) Tự đánh giá
Khái ni ệm
TĐG là mức độ cao của tự ý thức Tự ý thức phát triển đến một mức độ
nhất định thì TĐG mới xuất hiện Khi cá nhân có thể nhận thức rõ ràng về các giá trị của bản thân thì cá nhân mới có thể đưa ra những nhận định, những đánh giá về các giá trị đó Có thể nói, tự ý thức chính là nền tảng, là cơ sở dữ
kiện để con người TĐG bản thân
Trong tiếng Anh, thuật ngữ Tự đánh giá là “self – evaluation”: Đánh giá về cái tôi, về bản thân mình
Theo cách hiểu thông thường trong tiếng Việt, tự đánh giá là nhận thức giá trị của bản thân mình [23, tr 30]
Trong Tâm lý học có nhiều tác giả bàn về tự đánh giá từ các tiếp cận khác nhau, có thể kể đến một số quan niệm sau đây:
Theo từ điển Tâm lý học, tự đánh giá là “cá nhân đánh giá chính mình,
đánh giá những năng lực phẩm chất và vị trí của mình so với những người khác Giá tr ị mà cá nhân gắn cho mình hoặc cho những phẩm chất riêng biệt
c ủa mình” [7, tr 964] Đồng thời, định nghĩa trên cũng chỉ ra bản chất tâm lý,
Trang 30các yếu tố ảnh hưởng và xác định vai trò của TĐG trong sự phát triển của cá
nhân
Người đầu tiên đưa ra khái niệm tự đánh giá là W.James theo hướng
tiếp cận giá trị Theo đó, tự đánh giá là “ý thức về giá trị của cái tôi” Tác giả quan niệm cái tôi là một cấu trúc gồm nhiều lĩnh vực, mỗi lĩnh vực có giá trị
nhất định Giá trị này được xác định khi cá nhân có xây dựng kì vọng của mình trong lĩnh vực đó hay không [12, tr 18] Từ đó tác giả xây dựng công
Khi xem xét TĐG như một dạng của thái độ, Rosenberg cho rằng TĐG
là một dạng đặc biệt của thái độ, thái độ này dựa trên cơ sở nhận thức ý kiến
về giá trị của cá nhân như một con người Trong đó, thái độ quan trọng nhất là tôn trọng hoặc không tôn trọng bản thân [31, tr 16]
Đồng quan điểm với Rosenberg, A.I.Lipkina đã đưa ra quan điểm về tự đánh giá như sau “tự đánh giá là thái độ của con người đối với các năng lực của mình, với những khả năng và những phẩm chất nhân cách cũng như đối với bộ mặt bên ngoài của mình” [16, tr.24] Như vậy, TĐG là quá trình con
người hình thành thái độ đối với chính bản thân mình
Khi xem xét TĐG trong mối quan hệ với tự ý thức, một số tác giả cho
rằng tự đánh giá là hình thức phát triển cao nhất của tự ý thức Tiêu biểu có
I.A Paloxova, V.P Lecovic, A.I.Rubach và S Franz
Trước hết, I.A Paloxova cho rằng có thể hiểu TĐG ở hai ý nghĩa “Thứ
Kỳ vọng, mong muốn đạt thành tích ấy (2) Thành tích cá nhân (thành công hoặc thất bại) (1)
Trang 31nhất, đó là biểu tượng của con người về chính mình đã được hình thành một cách bền vững Thứ hai, đó là quá trình cá nhân đánh giá mình trên biểu
tượng nhân cách về mình được nảy sinh, kiểm tra và cải biên” [10, tr.24]
Cụ thể hơn, V.P Lecovic khẳng định, “TĐG là giai đoạn phát triển cao
của tự ý thức, nó bao gồm không chỉ năng lực nhận thức về bản thân mà cả
sự đánh giá đúng sức lực, khả năng và tỏ thái độ phê phán đối với bản thân” [19, tr.26] Trong định nghĩa này, tác giả khẳng định TĐG là mức độ cao của
tự ý thức, và hai yếu tố cơ bản của TĐG là nhận thức và thái độ đối với bản
thân
Tương tự, A.I.Rubach cũng cho rằng “Tự đánh giá là thành phần không thể tách rời của tự ý thức, của sự phản ánh chính bản thân mình cũng như mối quan hệ của mình với người khác, với người xung quanh”
[16, tr.36]
Đồng quan điểm với các tác giả trên, S Franz đã phân tích bản
chất của tự đánh giá một cách sâu sắc và toàn diện xuất phát từ các phạm trù ý thức và tự ý thức Tác giả cho rằng: “sự tự đánh giá là một hình thức đặc
biệt của hoạt động nhận thức của nhân cách” và có thể coi “sự tự đánh giá là
một chỉ số của mức độ tự nhận thức của một nhân cách ” [12, tr.25]
Bên cạnh đó, tác giả Đỗ Ngọc Khanh đưa ra khái niệm “TĐG là một hình thức phát triển cao của sự tự ý thức, là sự đánh giá tổng thể của một cá nhân về các giá trị bản thân với tư cách là một con người trong hoạt động và giao tiếp với những người khác” [16, tr.39]
Từ những phân tích trên, người nghiên cứu rút ra một số kết luận làm cơ sở nghiên cứu:
Tự đánh giá là hình thức phát triển cao nhất của tự ý thức
TĐG là một dạng đặc biệt của thái độ Bản chất của TĐG là thái độ về giá trị của bản thân
Trang 32Như vậy, có nhiều quan niệm của các tác giả khác nhau về TĐG
Để thống nhất cho nghiên cứu này, chúng tôi đồng ý với quan niệm của tác
giả A.I.Lipkia về tự đánh giá: Tự đánh giá là thái độ của con người đối với
nh ững năng lực, khả năng, những phẩm chất nhân cách cũng như bộ mặt bên ngoài c ủa mình
Cơ chế thực hiện TĐG
Xét về cơ chế của TĐG, tác giả S Franz đã phân tích một cách sâu
sắc dưới góc độ tiếp cận “sự TĐG là một hình thức đặc biệt của hoạt động
nhận thức” [12, tr.25] Trước hết, trong tự đánh giá, cá nhân không chỉ nhận
thức được mình một cách chung chung, đại khái, xác định được cái mà bản thân có hoặc không có mà phải chỉ ra được các hiện tượng tâm lý được đánh giá Từ chỗ nhận thức về mức độ tồn tại của đặc điểm tâm lý của mình, cá nhân sẽ có sự liên hệ với hệ thống quan điểm của bản thân về giá trị và tỏ thái
độ đối với bản thân Trên cơ sở ấy, cá nhân có khả năng tự điều chỉnh, điều khiển hành vi, tự hoàn thiện mình S Franz còn phân tích rõ từng bước của quá trình tự đánh giá và các quá trình cấu thành nó Theo Franz, sự tự đánh giá gồm các quá trình sau: thứ nhất, những quá trình ghi nhận thông tin bước đầu; thứ hai, những quá trình dẫn đến sự xác định đơn giản về bản thân; thứ
ba, những quá trình dẫn đến sự TĐG; thứ tư, những quá trình dẫn đến sự tự phê phán Các quá trình này gắn bó chặt chẽ với nhau và chỉ có thể phân tách chúng ra về mặt lý thuyết Từ đó, tác giả xác định cơ chế thực hiệnTĐG diễn
ra theo bốn bước:
Bước 1: Cá nhân tiếp nhận các nguồn thông tin khác nhau về bản thân
Có thể thu nhận thông tin bằng hai con đường: Cá nhân tự quan sát, phân tích
để có những thông tin về bản thân Hoặc cá nhân tiếp nhận sự nhận xét, đánh giá của người khác về bản thân mình trong quá trình tương tác với những
người xung quanh
Trang 33Bước 2: Cá nhân xử lý thông tin và xác định những hiện tượng cơ thể, tâm lý, những thái độ đang tồn tại ở bản thân mình Sau khi đã thu nhận thông tin về mình, cá nhân sẽ so sánh những thông tin đó với tự nhận thức của bản thân để xác định những hiện tượng tâm lý này có hay không tồn tại ở bản
thân
Bước 3: Cá nhân xác định được các hiện tượng tâm lý của mình đang
tồn tại ở mức độ nào (cá nhân xem xét, đối chiếu các hiện tượng đã được xác định với một thang bậc các mức độ đánh giá và chỉ ra mức độ tương ứng của
hiện tượng đó) Kết thúc quá trình này, cá nhân xác định được các hiện tượng tâm lý của mình đang tồn tại ở mức độ nào
Bước 4: Cá nhân đưa ra nhận xét, đánh giá về bản thân Ở đây, cá nhân
có sự liên hệ với hệ thống quan điểm về giá trị và tỏ thái độ với đặc điểm riêng của bản thân
Tóm lại, lý luận về TĐG của S Franz đã làm sáng tỏ bản chất và cơ
chế TĐG Tác giả đã xem TĐG như một quá trình tự nhận thức đặc biệt, trong đó, cá nhân không chỉ xác định được các hiện tượng tâm lý đang có ở
bản thân mà còn phải chỉ ra mức độ của các hiện tượng tâm lý đó
N ội dung TĐG
Như trên đã phân tích, TĐG là mức độ phát triển cao của tự ý thức nên
nội dung của tự ý thức cũng sẽ có ảnh hưởng, quy định nội dung của TĐG Tuy nhiên, TĐG là một hoạt động nhận thức đặc biệt nên TĐG sẽ có những
nội dung riêng Có thể điểm qua một vài quan điểm sau:
Theo A.I.Lipkina, nội dung của TĐG bao gồm tất cả những mặt bên trong cũng như mặt bên ngoài của cá nhân Khi nghiên cứu về TĐG của trẻ
em, tác giả nhận thấy TĐG không chỉ hướng vào những giá trị cá nhân đã có,
mà cả những giá trị mà cá nhân mong đợi “những biểu tượng của đứa trẻ về
những cái đã đạt được cũng như những cái mong muốn đạt được, những dự án
Trang 34về tương lai của nó (có thể chưa hoàn thiện) được phản ánh trong sự TĐG”
[12, tr.30]
Theo S Franz thì tự đánh giá bao gồm: Con người xác định được các
hiện tượng tâm lý đang có ở bản thân mình, chỉ ra được mức độ đang tồn tại
của các hiện tượng tâm lý đó Trên cơ sở đó có liên hệ đến hệ thống giá trị
của bản thân và có thái độ với bản thân mình S Franz cho rằng mức ba và
mức bốn của tự đánh giá là mức độ cao gọi là tự nhận xét, tự phê phán bản
thân
Kết quả nghiên cứu về Tâm lý học lứa tuổi của T.V Dragunova cho
thấy, ở lứa tuổi thiếu niên, khi TĐG bản thân, chúng thường hướng vào
những đặc điểm về hình thức bên ngoài [22, tr.18] Càng trưởng thành, cá nhân càng chú ý tới những phẩm chất nhân cách hơn Từ sự đánh giá hình
thức bên ngoài của mình, cá nhân dẫn đến đi sâu phân tích thế giới nội tâm,
đánh giá những PCTL, những nét nhân cách của bản thân
I.A Paloxova đã chỉ ra con đường phát triển của nội dung TĐG gồm
những bước cụ thể sau: (1) Khả năng dự đoán kết quả của những hành động riêng lẻ; (2) Khả năng đánh giá về những năng lực riêng của mình; (3) Có sự hình dung khái quát về những khả năng của mình, những khát vọng đạt được đích ở những mức độ nhất định trong hoạt động xác định; (4) Sự hình dung của cá nhân về nhân cách bản thân Đây là mức độ cao nhất của
TĐG [12, tr.31]
Như vậy, các tác giả có sự thống nhất khi xem xét nội dung của TĐG:
Tự đánh giá có nội dung phong phú, đa dạng và sinh động, bao gồm cả những đặc điểm bên ngoài cơ thể lẫn những nội dung bên trong, cả những kết quả trong hiện tại lẫn những dự định trong tương lai Tính chất phong phú, đa
dạng và sinh động này có mối quan hệ với tính phức tạp của hoạt động mà cá nhân tham gia vào và đặc điểm tâm lý lứa tuổi Hoạt động càng đa dạng, phức
Trang 35tạp thì nhân cách càng phát triển dẫn đến nội dung của TĐG và khả năng TĐG của cá nhân càng được nâng cao Do đó, khi xem xét TĐG của mỗi
người phải dựa trên cơ sở hoạt động của người đó
Đặc điểm của TĐG
Tự đánh giá có một số đặc điểm cơ bản như: tính ý thức, tính khái quát,
độ cao, tính khách quan, tính không mâu thuẫn, tính thời điểm, tính ổn định… Trong đề tài này, người nghiên cứu tham khảo quan điểm của S Franz với
một số đặc điểm: tính khách quan, tính phân biệt và tính khái quát, tính ổn
định, mức độ của tự đánh giá
1 Tính khách quan
Tính khách quan là đặc điểm cơ bản của TĐG Tức là xét TĐG trong
mối quan hệ với hiện thực khách quan Như vậy, TĐG khách quan là TĐG
đúng những sự vật hiện tượng được đánh giá
Để xác định được mức độ phù hợp của TĐG, người ta dựa trên cơ sở là
những đánh giá bên ngoài Tuy nhiên, không phải mọi đánh giá bên ngoài đều
phản ánh đầy đủ, chính xác hiện thực được đánh giá Đánh giá bên ngoài chỉ được coi là cơ sở để xem xét tính phù hợp của TĐG khi nó đảm bảo hai điều
kiện: (1) Cả TĐG và đánh giá bên ngoài phải cùng dựa vào một hệ thống tiêu chuẩn đánh giá phù hợp với tiêu chuẩn của xã hội; (2) Cả TĐG và đánh giá bên ngoài, về mặt nội dung, phải cùng dựa trên một hoàn cảnh, một hiện
tượng được đánh giá
Đây là một việc làm khó khăn bởi tính phức tạp của TĐG Con người
thường gặp những trở ngại khi TĐG vì nhiều lý do khác nhau Trước hết, TĐG phụ thuộc vào quá trình phát triển nhận thức của mỗi cá nhân Quá trình
nhận thức của cá nhân khác nhau là khác nhau nên mức độ tri giác sự vật,
hiện tượng cũng khác nhau Thứ hai, tiêu chí dùng để đánh giá là vấn đề quan
trọng nhất của TĐG khó xác định một cách thống nhất Các tiêu chí chính của
Trang 36TĐG của cá nhân phụ thuộc vào tiêu chí đánh giá của xã hội thông qua lăng kính chủ quan của cá nhân Trong cùng một nhóm, với vai trò khác nhau của
mỗi cá nhân sẽ có các tiêu chí riêng và tiêu chí của các nhóm khác nhau là
khác nhau
2 Tính phân bi ệt và tính khái quát
Mức độ biểu hiện của các phẩm chất, năng lực… của cá nhân trong các
hoạt động khác nhau là không giống nhau Sự khác nhau đó dẫn đến sự TĐG
về những phẩm chất, năng lực… cũng khác nhau Đó là nguồn gốc của tính phân biệt trong TĐG Đặc điểm này thể hiện ở chỗ: cá nhân biết đánh giá đúng những hiện tượng tâm lý của bản thân và phân biệt được mức độ biểu
hiện tương ứng của các hiện tượng tâm lý ấy trong các hoạt động khác nhau
Bên cạnh tính phân biệt, TĐG của cá nhân còn mang tính khái quát Đó
là khả năng từ những hiểu biết đơn lẻ có sự đánh giá chung về những phẩm
chất, năng lực, những thuộc tính… của nhân cách hoặc nhân cách bản thân
một cách khái quát Thí dụ trên cơ sở đánh giá về kết quả học tập, phẩm chất đạo đức, một cá nhân có thể đưa ra nhận xét mình là người như thế nào ở
hiện tại và tương lai
3 Tính b ền vững của TĐG
Tính bền vững của TĐG thể hiện ở việc xem xét TĐG trong
một khoảng thời gian nhất định
TĐG là kết quả của tự ý thức ở mức độ phát triển cao Khi một người
biết TĐG về mình tức là họ đã ý thức rất rõ về những giá trị bản thân Trong khi đó, giá trị của một con người không tồn tại trong một sớm một chiều mà
nó kéo dài trong một khoảng thời gian nhất định Do vậy, TĐG cũng có tính
bền vững Tính bền vững của TĐG giúp con người duy trì một cuộc sống
ổn định và giữ trạng thái cân bằng, hài hòa trong mối quan hệ với chính mình,
với người khác Tuy nhiên, sự bền vững của TĐG cũng chỉ mang tính tương
Trang 37đối bởi cuộc sống luôn luôn thay đổi cũng khiến con người phải điều chỉnh, thay đổi theo Trong quá trình điều chỉnh bản thân theo yêu cầu của công
việc, của cuộc sống cũng kéo theo sự thay đổi của TĐG Đặc điểm này của
TĐG giúp con người có thể linh hoạt, năng động, sáng tạo không ngừng
4 M ức độ của TĐG
Mức độ của TĐG chính là cá nhân xác định mình đang ở đâu, đang
ở mức độ nào trong thang đánh giá của bản thân Thang đo ấy được xây
dựng trên nền tảng các chuẩn mực của xã hội, của tập thể Nói một cách khác, tiêu chuẩn xã hội được cá nhân thừa nhận thông qua lăng kính chủ quan của mình, cá nhân tiếp nhận nó, đối chiếu mình với nó để nhận biết những biểu
hiện riêng của mình ở vào vị trí nào Thông qua mức độ cá nhân đã chỉ ra, ta
biết được độ cao của sự TĐG TĐG chính xác có vai trò rất quan trọng trong
việc xác định hình ảnh cá nhân, vị thế, năng lực của cá nhân
Khi nghiên cứu về đặc điểm của TĐG, các tác giả đều cho rằng sự phân chia các đặc điểm có tính tương đối bởi vì mỗi đặc điểm chỉ là một biểu
hiện của TĐG, trong thực tế các đặc điểm của nó có quan hệ chặt chẽ với nhau
và tạo thành chỉnh thể thống nhất Do vậy, phải xét các đặc điểm ấy trong mối quan hệ chung với nhau thì mới đưa đến những nhận xét đầy đủ về tính chất,
chất lượng của TĐG
Ch ức năng của tự đánh giá
Tự đánh giá của cá nhân có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển nhân cách của mỗi người I Chexnôcôva đã nhấn mạnh: chức năng cơ bản của tự đánh giá là điều chỉnh hành vi và bảo vệ sự ổn định, độc lập tương đối của nhân cách [29, tr 21] Hai chức năng này đã tạo nên động lực phát triển nhân
cách
Trước hết, tự đánh giá có chức năng điều chỉnh, điều khiển hoạt động hành vi của con người A.V Lip Kina cho rằng tự đánh giá có ý nghĩa quan
Trang 38trọng đối với sự điều khiển các khâu của hoạt động: “Nếu thiếu sự tự đánh giá tức là thiếu sự đánh giá của chính cá nhân đối với những hoạt động của mình và đối với PCTL của cá nhân thể hiện trong hoạt động thì không thể có hành vi tự điều khiển” [8, tr 29] Một là, tự đánh giá của cá nhân có thể chỉ ra
kết quả, mức độ của các hoạt động và có thể tìm, phân tích nguyên nhân của các hiện tượng đó nên nó giúp cá nhân tự điều khiển, điều chỉnh hoạt động Hai là, tự đánh giá có thể trở thành động lực kích thích hoặc ức chế sự phát triển nhân cách của con người Tự đánh giá quá cao hoặc quá thấp đều có ảnh hưởng đến hành vì và hoạt động của cá nhân Vì vậy, tự đánh giá khách quan
là rất quan trọng để có cơ sở điều chỉnh các hoạt động cá nhân
Thứ hai, tự đánh giá bảo vệ sự ổn định, độc lập tương đối của nhân cách Do ảnh hưởng của thái độ và ý kiến đánh giá của những người xung quanh, con người hình thành thái độ riêng đối với bản thân và tự đánh giá
những khả năng của mình trong toàn bộ hoạt động và nhân cách Từ sự tự đánh giá đó con người hình thành mức độ kì vọng Nếu kì vọng quá cao so
với khả năng, cá nhân buộc phải xây dựng lại TĐG và kì vọng để phù hợp với
bản thân Ngược lại, nếu quá thấp, khiến cá nhân rụt rè, không tin vào chính
năng lực của bản thân
Như vậy, TĐG không chỉ điều chỉnh mà còn là động lực kích thích hành động, đó là yếu tố quan trọng của khả năng tự hoàn thiện nhân cách Bên
cạnh đó, TĐG còn có chức năng bảo vệ, giúp cá nhân duy trì TĐG tích cực
Do đó, TĐG có mối quan hệ mật thiết với việc tự giáo dục, hình thành các PCTL của người cảnh sát trong tương lai
Trang 391.2.2 Ph ẩm chất tâm lý của Người Cảnh sát
1.2.2.1 Ph ẩm chất và phẩm chất tâm lý
a) Phẩm chất Trong tiếng Anh, phẩm chất là “Quality”, được hiểu là đặc tính, loại,
hạng
Trong từ điển Tiếng Việt [23, tr 195], tác giả Hoàng Phê đã đưa ra
định nghĩa về phẩm chất như sau “phẩm chất là cái làm nên giá trị của người
hay v ật” Theo định nghĩa này có thể hiểu phẩm chất là toàn bộ những thứ (có
thể bao gồm cả vật chất và tinh thần) mà dựa vào đó người ta có thể xác định
được giá trị của một đối tượng nào đó
Từ điển Tâm lý học [33, tr.796], định nghĩa phẩm chất (quality) là đặc
điểm (đặc tính) của cảm giác (sensation) hoặc thực thể (entity) khác làm cho
nó tr ở thành độc đáo, là sự khác biệt về chất (loại, thứ hạng) chứ không phải
v ề số lượng Theo định nghĩa này có thể lý giải phẩm chất như sau, phẩm chất
là những đặc điểm của người hoặc sự vật hiện tượng; nó bao gồm những đặc điểm về thực thể và tinh thần; những đặc điểm này tạo nên sự khác biệt về tính chất với các đối tượng khác, giúp người ta có thể đánh giá, sắp xếp phân
loại các đối tượng với nhau
Trong Tâm lý học, phẩm chất là một trong hai mặt của nhân cách: năng
lực và phẩm chất Đây là hai mặt cơ bản trong cấu trúc nhân cách của con
người
Tuy các từ điển trên đã định nghĩa về phẩm chất bằng những ngôn từ khác nhau nhưng có thể khái quát nội dung cơ bản của khái niệm phẩm chất
như sau: phẩm chất là những đặc điểm, thuộc tính của sự vật hiện tượng quy
định giá trị của nó; những đặc điểm, thuộc tính này tạo nên sự khác biệt của
v ới sự vật hiện tượng khác
Trang 40b) Phẩm chất tâm lý PCTL được đề cập rộng rãi trong các công trình nghiên cứu (luận văn
thạc sĩ, luận án tiến sĩ) và các tác phẩm do các tác giả trong và ngoài nước
viết Trong các công trình nghiên cứu, tác giả chưa đưa ra định nghĩa thống
nhất về PCTL, hầu hết các tác giả đều mô tả cấu trúc, biểu hiện của các PCTL Một số tác giả sử dụng thuật ngữ đồng nghĩa với PCTL như là phẩm
chất nhân cách, có tác giả coi đây là hai khái niệm tách rời nhau, là hai loại khác nhau Có tác giả lại cho rằng phẩm chất bao gồm: PCTL, phẩm chất
nhân cách, PCTL khác Sau đây là một số minh chứng cho nhận định trên:
Tác giả Ngô Công Hoàn trong [15] không đưa ra định nghĩa về PCTL
mà ông chỉ nêu lên các phẩm chất mà người quản lý cần có là: (1) phẩm chất trí tuệ, (2) phẩm chất đạo đức, (3) những năng lực của nhân cách quản lý
Tác giả Nguyễn Bá Dương [27] cũng không định nghĩa về PCTL, ông
chỉ ra những phẩm chất mà người thầy thuốc cần có là (1) các PCTL: kiến
thức sâu, rộng về chuyên môn y học, về các ngành xã hội và nhân văn; biết nghiên cứu khoa học và tổ chức hoạt động thực tiễn; các phẩm chất về tâm lý
nhận thức cảm tính (độ nhạy cảm cao, óc quan sát); các phẩm chất tư duy lâm sàng (2) các phẩm chất nhân cách: phẩm chất đạo đức, phẩm chất nghề nghiệp (3) một số PCTL cá nhân khác: tinh thần trách nhiệm, tính trung thực,
sự dũng cảm, tính tự chủ, tính khiêm tốn
Tác giả Nguyễn Ngọc Bích [2, tr 130] cho rằng cấu trúc nhân cách bao
gồm 3 nhóm phẩm chất cơ bản: phẩm chất chính trị tư tưởng; phẩm chất đạo
đức tác phong; các năng lực, sở trường và năng khiếu
Tác giả Lê Văn Hồng trong giáo trình Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý
học sư phạm [14] đề cập đến nhân cách của người giáo viên bao gồm các nhóm phẩm chất: thế giới quan khoa học, lý tưởng đào tạo thế hệ trẻ, lòng yêu
trẻ, lòng yêu nghề, một số phẩm chất đạo đức và ý chí của giáo viên