TÓM TẮT Luận văn “Các yếu tố tâm lý tác động đến xu hướng mua cổ phiếu của nhà đầu tư cá nhân tại Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh ” nhằm phân tích các nhân tố tâm lý tác
Trang 1TRƯƠNG NGỌC PHƯỢNG
CÁC YẾU TỐ TÂM LÝ TÁC ĐỘNG ĐẾN XU HƯỚNG MUA CỔ PHIẾU CỦA NHÀ ĐẦU TƯ CÁ NHÂN TẠI SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN TP HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành
Mã số chuyên ngành Quản trị Kinh doanh :
60340102
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thế Khải
TP Hồ Chí Minh, Năm 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan rằng luận văn “Các yếu tố tâm lý tác động đến xu hướng mua
cổ phiếu của nhà đầu tư cá nhân tại Sở giao dịch chứng khoán Thành phố
Hồ Chí Minh” là bài nghiên cứu của chính tôi
Ngoài trừ những tài liệu tham khảo được trích dẫn trong luận văn này, tôi cam đoan rằng toàn phần hay những phần nhỏ của luận văn này chưa từng được công bố hoặc được sử dụng để nhận bằng cấp ở những nơi khác
Không có sản phẩm/nghiên cứu nào của người khác được sử dụng trong luận văn này mà không được trích dẫn theo đúng quy định
Luận văn này chưa bao giờ được nộp để nhận bất kỳ bằng cấp nào tại các trường đại học hoặc cơ sở đào tạo khác
Thành phố Hồ Chí Minh, 2016
TRƯƠNG NGỌC PHƯỢNG
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian học tập và nghiên cứu tôi đã hoàn thành đề tài “Các yếu tố tâm
lý tác động đến xu hướng mua cổ phiếu của nhà đầu tư cá nhân tại Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh” Trong suốt quá trình thực hiện, tôi đã nhận
được sự hướng dẫn và hỗ trợ nhiệt tình từ quý thầy cô, bạn bè, người thân Tôi xin chân thành gửi lời cám ơn sâu sắc đến:
- Quý thầy cô trường Đại học Mở thành phố Hồ Chí Minh đã truyền đạt cho tôi những kiến thức nền tảng cho luận văn này
- Chân thành cám ơn đến người hướng dẫn khoa học của tôi - Tiến sĩ Nguyễn Thế Khải đã tận tình hướng dẫn để tôi có thể hoàn thành luận văn
- Cám ơn những người bạn, đồng nghiệp, nhà đầu tư trong các công ty chứng khoán đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập dữ liệu phục vụ cho luận văn này
- Tôi cảm ơn gia đình, các anh (chị) và bạn bè, những người đã cho tôi những lời khuyên chân thành và hỗ trợ tôi trong quá trình thực hiện đề tài của mình
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2016
TRƯƠNG NGỌC PHƯỢNG
Trang 4TÓM TẮT
Luận văn “Các yếu tố tâm lý tác động đến xu hướng mua cổ phiếu của nhà đầu tư cá nhân tại Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh ” nhằm phân tích các nhân tố tâm lý tác động đến xu hướng mua cổ phiếu của nhà đầu tư cá
nhân tại sở giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh
Nghiên cứu được thực hiện qua hai giai đoạn: nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức Nghiên cứu sơ bộ được thực hiện thông qua phương pháp định tính : kỹ thuật thảo luận nhóm được sử dụng trong nghiên cứu này nhằm giúp phát hiện các vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu, là căn cứ quan trọng để đưa ra mô hình nghiên cứu Nghiên cứu chính thức được thực hiện bằng phương pháp định lượng: phỏng vấn các nhà đầu tư trên địa bàn nghiên cứu bằng phương pháp chọn mẫu thuận tiện với kích thước mẫu hợp lệ là 319, dữ liệu thu thập được tiến hành phân tích thống kê
mô tả và phân tích hồi quy tuyến tính bội
Nghiên cứu đã góp phần giới thiệu, kết hợp đo lường, phân tích và kiểm định các nhân tố tâm lý tác động đến xu hướng mua cổ phiếu của nhà đầu tư cá nhân tại
Sở giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh
Nghiên cứu cũng đã kiểm định và cho thấy những nhân tố có ý nghĩa thống kê và tác động cùng chiều đến xu hướng mua cổ phiếu của nhà đầu tư cá nhân như : (1) tình huống điển hình, (2) sự sẵn có, (3) tự tin quá mức, (4) ảo tưởng con bạc, (5) sự quen thuộc, (6) hành vi theo đám đông Đồng thời, nghiên cứu cũng chỉ ra sự khác biệt trong xu hướng mua giữa các nhóm: thu nhập bình quân, học vấn
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC HÌNH VÀ ĐỒ THỊ vii
DANH MỤC BẢNG viii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ix
Chương 1: TỔNG QUAN 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.5 Phương pháp nghiên cứu 3
1.6 Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu 4
1.7 Kết cấu nghiên cứu 5
Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 7
2.1 Xu hướng mua 7
2.2 Một số lý thuyết nền 8
2.2.1 Thuyết tự nghiệm 8
2.2.2 Thuyết hành vi theo đám đông 9
2.3 Tóm tắt các nghiên cứu trước 11
2.4 Phát triển giả thuyết – Mô hình nghiên cứu đề xuất 13
2.4.1 Tình huống điển hình và xu hướng mua cổ phiếu của nhà đầu tư cá nhân 13
2.4.2 Tự tin quá mức và xu hướng mua cổ phiếu của nhà đầu tư cá nhân 15
2.4.3 Neo, điều chỉnh và xu hướng mua cổ phiếu của nhà đầu tư cá nhân 17
2.4.4 Sự sẵn có và xu hướng mua cổ phiếu của nhà đầu tư cá nhân 18
2.4.5 Ảo tưởng con bạc và xu hướng mua cổ phiếu của nhà đầu tư cá nhân 19 2.4.6 Sự quen thuộc và xu hướng mua cổ phiếu của nhà đầu tư cá nhân 20
Trang 62.4.7 Hành vi theo đám đông và xu hướng mua cổ phiếu của nhà đầu tư cá
nhân 22
Chương 3: THIẾT KẾ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ……… 26
3.1 Quy trình nghiên cứu 26
3.2 Thiết kế nghiên cứu 27
3.2.1 Nghiên cứu sơ bộ 27
3.2.2 Nghiên cứu chính thức 28
3.3 Xây dựng thang đo 31
3.3.1 Thang đo tình huống điển hình (ký hiệu THDH) 31
3.3.2 Thang đo sự quá tự tin (ký hiệu QTT) 32
3.3.3 Thang đo Neo và điều chỉnh (ký hiệu NEO) 32
3.3.4 Thang đo thông tin sẵn có (ký hiệu SSC) 32
3.3.5 Thang đo ảo tưởng con bạc (ký hiệu ATCB) 33
3.3.6 Thang đo sự quen thuộc (ký hiệu SQT) 33
3.3.7 Thang đo hành vi theo đám đông (ký hiệu HVDD) 34
3.3.8 Thang đo xu hướng mua cổ phiếu (ký hiệu XHM) 34
Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 35
4.1 Thống kê mẫu nghiên cứu 35
4.1.1 Làm sạch và mã hóa mẫu 35
4.1.2 Thống kê mô tả thông tin định danh 36
4.1.3 Thống kê mô tả biến quan sát 37
4.2 Kiểm định độ tin cậy và độ phù hợp của thang đo 38
4.2.1 Kiểm định độ tin cậy bằng Cronbach’s Alpha 38
4.2.2 Phân tích nhân tố thang đo tâm lý 39
4.2.3 Kết quả phân tích các nhân tố khám phá (EFA) mô hình lý thuyết 43
4.3 Phân tích hồi qui thang đo tâm lý và xu hướng mua cổ phiếu của nhà đầu tư cá nhân 44
4.3.1 Phân tích tương quan của các thành phần tâm lý 44
4.3.2 Xây dựng phương trình hồi qui thang đo xu hướng mua 45
4.3.3 Kiểm tra các giả định của mô hình hồi qui 47
4.3.4 Kiểm định các giả thuyết của mô hình 50
4.4 Kiểm định sự bằng nhau của giá trị trung bình tổng thể con 51
4.4.1 Kiểm định giả thuyết về trị trung bình của hai tổng thể - trường hợp mẫu độc lập (Independent samples T-Test) 51
Trang 74.4.2 Kiểm định One-way Anova 52
4.5 Thảo luận kết quả 55
Chương 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 59
5.1 Kết luận 59
5.2 Một số kiến nghị 61
5.2.1 Đối với nhà đầu tư cá nhân 61
5.2.2 Đối với công ty chứng khoán 62
5.2.3 Đối với cơ quan quản lý 63
5.3 Đóng góp chính của nghiên cứu 64
5.4 Hạn chế của nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO 66
PHỤ LỤC 2: KẾT QUẢ THẢO LUẬN NHÓM 79
PHỤ LỤC 3: BẢNG CÂU HỎI KHẢO SÁT 81
PHỤ LỤC 4: ĐÔI NÉT VỀ SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN 84
TP HỒ CHÍ MINH 84
PHỤ LỤC 5: KẾT QUẢ PHÂN TÍCH 96
Trang 8DANH MỤC HÌNH VÀ ĐỒ THỊ
Hình 2.1: Mô hình đề xuất 24
Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu 27
Hình 4.1: Biểu đồ mức độ đánh giá các nhân tố 37
Hình 4.2: Biểu đồ độ lệch chuẩn các nhân tố 38
Hình 4.3: Mô hình giả thuyết sau khi phân tích EFA 44
Hình 4.4: Biểu đồ phân tán phần dư và giá trị dự đoán xu hướng mua của nhà đầu tư cá nhân 48
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Tóm tắt các nghiên cứu trước……… 12
Bảng 2.2: Giả thuyết kỳ vọng của các biến độc lập 24
Bảng 4.1: Bảng thống kê mô tả mẫu khảo sát 36
Bảng 4.2: Bảng thống kê mô tả các nhân tố 37
Bảng 4.3: Thống kê kiểm định độ tin cậy Cronbach’s Alpha 39
Bảng 4.4: Kết quả kiểm định KMO & Bartlett’s Test……… 40
Bảng 4.5: Kết quả phân tích nhân tố sau khi xoay 41
Bảng 4.6: Kết quả phân tích nhân tố xu hướng mua sau khi xoay 42
Bảng 4.7: Tóm tắt kiểm định thang đo……… 43
Bảng 4.8: Tương quan Pearson giữa các nhân tố tâm lý 45
Bảng 4.9: Kết quả của mô hình hồi qui……… 46
Bảng 4.10: Tương quan hạng Spearman giữa các biến độc lập với phần dư 48
Bảng 4.11: Kết luận về giả thuyết nghiên cứu 51
Bảng 4.12: Kiểm định sự bằng nhau của tổng thể giới tính 52
Bảng 4.13: Kết quả kiểm định sự khác biệt của tổng thể theo độ tuổi 52
Bảng 4.14: Kết quả kiểm định sự khác biệt của tổng thể theo thu nhập 53
Bảng 4.15: Kết quả kiểm định sự khác biệt của tổng thể theo thời gian tham gia thị trường 54
Bảng 4.16: Kết quả kiểm định sự khác biệt của tổng thể theo trình độ học vấn 55
Trang 10DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
phương sai
HOSE
SGDCK TP.HCM HoChiMinh Stock Exchange
Sở Giao Dịch Chứng Khoán Thành phố Hồ Chí Minh
nhỏ nhất thông thường
VN-Index Vietnam Index of Stock Price Chỉ số giá cổ phiếu thị trường
Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 11Chương 1: TỔNG QUAN
Nội dung chương này sẽ giới thiệu tổng quan về lý do nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu, đồng thời kết cấu luận văn sẽ được trình bày ở phần cuối chương này
1.1 Lý do chọn đề tài
Trong thời gian qua đã có rất nhiều nhà nghiên cứu chứng minh rằng ngoài những yếu tố tài chính cơ bản, tình hình kinh tế vĩ mô, vi mô thì các yếu tố tâm lý cũng tác động đến thị trường chứng khoán và xu hướng của nhà đầu tư Điển hình là nghiên cứu của Chandra (2008), ông cho rằng yếu tố tâm lý tác động đến hành vi của nhà đầu tư cá nhân,và nghiên cứu của Rekik và Boujelbene (2013) cho thấy định kiến tâm lý ảnh hưởng đến quyết định đầu tư
Đồng thời, yếu tố tâm lý cũng góp phần giải thích hiện tượng “bong bóng” trên thị trường tài chính, đặc biệt là tại thị trường mới nổi như thị trường chứng khoán Việt Nam Thị trường chứng khoán Việt Nam chính thức giao dịch vào năm 2000 nhưng chỉ bắt đầu sôi động từ năm 2006, trong một khoảng thời gian ngắn từ 08/2006 đến 03/2007, VN Index đã đạt mốc cao nhất trong lịch sử giao dịch (từ 388 điểm lên đến 1.170 điểm) Tuy nhiên, VN Index đã giảm một mạch xuống 241 điểm vào tháng 03/2009, đây là thời kì kinh hoàng của thị trường chứng khoán Việt Nam Nguyên nhân là do các nhà đầu tư cá nhân rút vốn hàng loạt và đổ xô bán tháo khi thị trường
có dấu hiệu giảm, thị trường xuất hiện hiện tượng hành vi theo đám đông (Lê Minh Uyên và Trương Ngọc Hồng, 2014) Sau đó một thời gian dài, VN Index vẫn chật vật
đi tìm lại thời kỳ hoàng kim của mình nhưng phần đông nhà đầu tư trên thị trường là nhà đầu tư cá nhân, họ bị cảm xúc tác động lên xu hướng đầu tư nên thị trường chứng khoán có những đợt tăng giảm một cách nhanh chóng
Khi yếu tố tâm lý chi phối phần lớn thì thị trường không còn phụ thuộc vào tình hình kinh kinh tế cũng như sức khỏe của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Tiêu biểu như vào tháng 08/2012, sau khi Ông Nguyễn Đức Kiên (Bầu
Trang 12Kiên), thành viên Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu (ACB)
bị bắt, trong 3 ngày (từ 21/08/2012 đến ngày 23/08/2012) chỉ số VN Index đã giảm hơn 10%, tất cả là do những tin đồn trên thị trường cùng với tâm lý hoang mang của nhà đầu tư cá nhân Hay chỉ trong 1 phiên giao dịch ngày 08/05/2014, cùng với tin Trung Quốc đưa giàn khoan HD 981 vào Biển Đông, VN Index đã mất 5,89%, tỷ lệ giảm mạnh nhất kể từ 2001 Bên cạnh đó, các nghiên cứu thực tiễn tại Việt Nam như nghiên cứu tác giả Phan & Zhou (2014) cho thấy yếu tố tâm lý ( quá tự tin, rủi ro tâm
lý, hành vi đám đông ) tác động đến hành vi của nhà đầu tư Nghiên cứu của Lưu Thị Bích Ngọc (2013) cũng cho thấy tầm quan trọng của yếu tố hành vi trên thị trường chứng khoán Các nhà đầu tư tổ chức có quy mô tận dụng lợi thế sẵn có để điều khiển, xem thị trường như công cụ tài chính hái ra tiền và người thiệt thòi hơn hết là các nhà đầu tư cá nhân nhỏ lẻ
Từ đó tác giả thấy rằng thị trường chứng khoán Việt Nam, nơi các nhà đầu tư
cá nhân chiếm đa số ( theo số liệu tháng 02.2016, nhà đầu tư cá nhân chiếm 99.5% trong tổng số 1.6 triệu tài khoản giao dịch ) thì yếu tố tâm lý là một trong những yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến xu hướng đầu tư trên thị trường chứng khoán Và bên cạnh các phương pháp phân tích cơ bản, phân tích kỹ thuật thì việc nghiên cứu, phân tích hành vi và tâm lý của nhà đầu tư là một công việc không thể thiếu trong đầu tư chứng khoán bởi vì nó giải thích những hiện tượng bất tượng mà phân tích cơ bản và phân tích kỹ thuật không thể làm được Hơn hết, nắm bắt tâm lý nhà đầu tư giúp ta nhận định, dự đoán xu hướng thị trường và tránh những sai lầm đáng tiếc, ra quyết định đầu
tư hiệu quả Đồng thời, các cơ quan quản lý thị trường sẽ có các chính sách quản lý hợp lý và thực thi đúng thời điểm để đảm bảo sự phát triển bền vững của thị trường
Chính vì vậy, tác giả đã chọn đề tài “Các yếu tố tâm lý tác động đến xu hướng mua
cổ phiếu của nhà đầu tư cá nhân tại Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh” để nghiên cứu
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu này sẽ hướng đến và tập trung vào các mục tiêu sau đây:
Xác định các yếu tố tâm lý ảnh hưởng đến xu hướng mua cổ phiếu của nhà
Trang 13đầu tư cá nhân tại Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tâm lý đến xu hướng mua cổ phiếu của
nhà đầu tư cá nhân tại Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
Xác định sự khác biệt trong xu hướng mua cổ phiếu của nhà đầu tư cá nhân
theo yếu tố nhân khẩu học
Đưa ra kiến nghị nhằm giúp cho các nhà đầu tư cá nhân/công ty chứng khoán/cơ quan quản lý để điều chỉnh hành vi/nâng cao sản phẩm/quản lý
thị trường hiệu quả
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Đề tài tập trung trả lời 2 câu hỏi nghiên cứu:
Các yếu tố tâm lý ảnh hưởng đến xu hướng mua cổ phiếu của nhà đầu tư
cá nhân tại Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh?
Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tâm lý đến xu hướng mua cổ phiếu của nhà đầu tư cá nhân như thế nào?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là xu hướng hành vi và các yếu tố tác động đến xu hướng mua cổ phiếu của nhà đầu tư cá nhân
Đối tượng khảo sát là nhà đầu tư cá nhân đã, đang và sẽ tiếp mục tham gia đầu tư trên thị trường giao dịch chứng khoán TP HCM, không bao gồm nhà đầu tư tổ chức trong và ngoài lĩnh vực tài chính
Phạm vi nghiên cứu: thị trường giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện thông qua hai bước: nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức Trong giai đoạn thăm dò, phương pháp nghiên cứu sơ bộ dựa trên các nghiên cứu trước và các tài liệu về tâm lý và hành vi của nhà đầu tư cá nhân Đồng thời thông qua kỹ thuật tham vấn ý kiến của các chuyên gia trong lĩnh vực
Trang 14chứng khoán để điều chỉnh thang đo, thiết lập bảng câu hỏi sử dụng cho nghiên cứu chính thức Trong giai đoạn chính thức, nghiên cứu thực hiện thông qua hình thức gửi bảng câu hỏi trực tiếp và phỏng vấn bằng thư điện tử, công cụ khảo sát Google.docs Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng để kiểm tra giả thuyết về
sự tác động của các yếu tố đến xu hướng mua cổ phiếu
Việc định lượng các yếu tố ảnh hưởng đến xu hướng mua cổ phiếu của nhà đầu tư cá nhân được tiến hành qua 4 bước:
Bước 1: Sử dụng hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha để kiểm định mức độ chặt chẽ mà các mục hỏi trong thang đo tương quan với nhau
Bước 2: Sử dụng phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA) để kiểm định các nhân tố ảnh hưởng và nhận diện các yếu tố được cho là phù hợp với xu hướng mua của nhà đầu tư cá nhân
Bước 3: Sử dụng mô hình hồi qui tuyến tính bội nhận diện các nhân tố và ảnh hưởng của từng nhân tố đến xu hướng mua của nhà đầu tư cá nhân
Bước 4: Kiểm tra sự khác biệt về giá trị trung bình của các tổng thể con Xác định xem liệu có khác biệt về xu hướng mua của các nhóm nhà đầu tư chia theo nhóm:
độ tuổi, giới tính, trình độ học vấn, thời gian tham gia thị trường, mức thu nhập hàng tháng
1.6 Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu
Xét về các đối tượng trên thị trường chứng khoán, đề tài hữu ích cho 2 đối tượng chính:
Đối với nhà đầu tư cá nhân: Kết quả nghiên cứu là bằng chứng thực
tế về tầm quan trọng của yếu tố tâm lý trong xu hướng mua cổ phiếu, là hành vi hiện hữu của nhà đầu tư Do đó, nghiên cứu này là căn cứ để nhà đầu tư tham khảo, xem xét và điều chỉnh hành vi để có những quyết định mua thích hợp, đem lại lợi nhuận
Đối với công ty chứng khoán: Nghiên cứu cung cấp cho công ty chứng
khoán và nhà tư vấn gốc nhìn tổng thể về hành vi của nhà đầu tư Là nền tảng để dự đoán xu hướng cổ phiếu trong tương lai, tư vấn khách hàng chính xác hơn
Trang 151.7 Kết cấu nghiên cứu
Luận văn có kết cấu gồm 5 chương:
Chương 1: Giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu
Chương này giới thiệu sơ lược về đề tài nghiên cứu, nêu rõ lý do hình thành nên đề tài, đưa ra mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, phương pháp và đối tượng nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu và giới thiệu sơ lược kết cấu đề tài
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Trình bày các lý thuyết, nghiên cứu trước có liên quan làm cơ sở cho các lập luận trong luận văn này Từ đó xây dựng mô hình nghiên cứu
Chương 3: Thiết kế và phương pháp nghiên cứu
Chương trình trình bày quy trình nghiên cứu từ sơ bộ đến chính thức Xây dựng thang đo các yếu tố tâm lý, thang đo xu hướng mua cổ phiếu, mối quan hệ giữa yếu tố tâm lý và xu hướng mua cổ phiếu của nhà đầu tư cá nhân
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương này sẽ trình bày kết quả phân tích dữ liệu sau khi đã thu thập xong Trình bày thông tin chung về mẫu nghiên cứu, đo lường ảnh hưởng của các yếu tố tâm
lý đến xu hướng mua cổ phiếu của nhà đầu tư cá nhân tại Sở Giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh Các bước kiểm định để đánh giá thang đo, mô hình nghiên cứu cũng được trình bày trong chương này
Chương 5: Kết luận và kiến nghị
Chương này sẽ tóm tắt lại kết quả mới vừa phát hiện được trong quá trình phân tích dữ liệu, từ đó đưa ra những kiến nghị Đồng thời trình bày những đóng góp của nghiên cứu này, cũng như những hạn chế của nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo
Tóm tắt chương 1
Chương 1 đưa ra lý do nghiên cứu và xác định vấn đề nghiên cứu cần được thực
hiện là “Các yếu tố tâm lý tác động đến xu hướng mua cổ phiếu của nhà đầu tư cá nhân tại Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh”
Trang 16Chương 1 cũng trình bày mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu cũng như ý nghĩa và kết cấu luận văn
Trang 17Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Chương này trình bày các lý thuyết, các nghiên trước trước có liên quan, mối quan hệ giữa các yếu tố tâm lý và xu hướng mua của nhà đầu tư cá nhân Từ đó xây dựng giả thuyết và mô hình nghiên cứu Bố cục chương này sẽ được trình bày như sau:
- Lý thuyết tự nghiệm và hành vi đám đông
- Các nghiên cứu trước
- Phát triển giả thuyết và mô hình nghiên cứu đề xuất
Mô hình TRA của Ajzen và Fishbein giải thích những hoạt động trước khi hình thành nên hành vi tiêu dùng, mô hình cho thấy xu hướng tiêu dùng là yếu tố dự đoán tốt nhất về hành vi tiêu dùng, tức là hành vi được hình thành từ xu hướng và quyết định Cũng như Brown và cộng sự (2001), xu hướng mua liên quan đến khuynh hướng đối với hành vi mua, khuynh hướng này có thể được giải thích bằng các hình thức như là việc tìm kiếm thông tin đánh giá thay thế và tìm kiếm sản phẩm
Đầu tiên, xu hướng người tiêu dùng hình thành từ nhu cầu, bị chú ý bởi các thuộc tính có lợi, đo lường niềm tin và đánh giá thông qua nhận thức bản thân Người tiêu dùng sẽ chú ý đến những thuộc tính mang lại các lợi ích cần thiết và có mức độ khác nhau
Đồng thời tham khảo thông tin và ý kiến của người liên quan ( gia đình, bạn, đồng nghiệp,…) Người liên quan có thông tin gì liên quan, đánh giá như thế nào đến
xu hướng mua và họ cảm thấy thế nào
Trong đề tài này, xu hướng tiêu dùng được xem như là xu hướng đầu tư và hành vi đầu tư được đề cập đến như hành vi tiêu dùng Trong lĩnh vực đầu tư chứng khoán thì đầu tư là hành động lựa chọn, mua cổ phiếu của một công ty nào đó với
Trang 18mong muốn cổ phiếu đó sẽ được đánh giá cao và mang lại thu thập trong tương lai thông qua hành động bán cổ phiếu Khi mua cổ phiếu, nhà đầu tư phải xem xét và đối mặt với nhiều lựa chọn, họ cảm thấy khó khăn để tìm ra cổ phiếu tốt trong hàng trăm
cổ phiếu trên hệ thống niêm yết, trong khi nhà đầu tư chỉ được phép bán cổ phiếu có trong danh mục Từ đó dẫn đến hành động mua được chú ý và quan tâm hơn hành động bán, cũng như nghiên cứu của Barber và Odean (2002) đã cho thấy quyết định bán ít bị tác động và ít được chú ý hơn quyết định mua ở nhà đầu tư cá nhân Đó cũng là lý do tác giả chỉ đề cập đến xu hướng mua trong đầu tư thay vì cả xu hướng mua
Trang 19Waweru và cộng sự (2008) liệt kê thêm hai yếu tố (ảo tưởng con bạc, quá tự tin) vào
lý thuyết tự nghiệm, Ackert và Deaves bổ sung yếu tố sự quen thuộc
Lý thuyết tự nghiệm được xem như một chiến lược có thể áp dụng cho nhiều vấn đề, đặc biệt là các vấn đề phức tạp, giúp nhà đầu tư giải quyết vấn đề dễ dàng hơn trong môi trường phức tạp và không chắc chắn (Ritter, 2003) Đồng thời Ackert và Deaves (2010) cho rằng tự nghiệm là giải pháp giải quyết vấn đề mà chỉ cần sử dụng một trong rất nhiều dữ liệu thông tin Gigerenzer và Gaissmaier (2011) cho rằng lý thuyết tự nghiệm là quá trình nhận thức ( cố ý hay vô ý ) bỏ qua một phần thông tin, đơn giản hóa vấn đề trong một số tình huống Lý thuyết tự nghiệm phỏng đoán tình trạng của vấn đề bằng các đặc tính thay thế dễ ghi nhớ của vấn đề khác Thêm nữa, Otuteye và Siddiquee (2013) xem lý thuyết tự nghiệm là công cụ thiết thực và hữu ích
để đơn giản hóa việc ra quyết định trong một môi trường phức tạp do không chắc chắn
có thông tin hạn chế
Bên cạnh đó, Kahneman và Tversky cho rằng lý thuyết tự nghiệm có thể dẫn đến lỗi hệ thống, thành kiến (Ritter, 2003) Đặc biệt khi sử dụng trực giác để đưa ra suy luận sẽ cho kết quả không phù hợp với các nguyên tắc xác suất và thống kê (Tversky và Kahneman, 1974) Như kết luận của Otuteye và Siddiquee (2013) khi tìm hiểu về nguồn gốc của đầu tư giá trị nhận thức khi trong đầu tư, tác giả kết luận rằng chuẩn đoán dễ dẫn đến lệch lạc nhận thức
Lý thuyết tự nghiệm và các lệch lạc đôi khi khiến nhà đầu tư có xu hướng và hành vi không hợp lý, việc này có thể do hiểu biết hạn chế, khó khăn về nhận thức, tính phức tạp của vấn đề Nghiên cứu của Gigerenzer và Gaissmaier (2011) cho thấy không có mối quan hệ giữa tính hợp lý và tự nghiệm khi những suy luận dựa trên kinh
nghiệm
2.2.2 Thuyết hành vi theo đám đông
Bikhchandani và Sharma (2001) cho rằng cá nhân được xem là có hành vi theo đám đông khi cá nhân đó không ra quyết định nếu biết các cá nhân khác không ra
Trang 20quyết định như vậy Hành vi đám đông là một nhóm các nhà đầu tư giao dịch theo hướng như nhau, cùng ra quyết định mua hoặc bán trong cùng thời điểm Hay nói cách khác, hành vi theo đám đông là xu hướng cá nhân bắt chước những hành động của một nhóm lớn, cá nhân không quan trọng quyết định đó có phải xuất phát từ chính bản thân mình Lý giải cho hành động này có 2 lý do: con người thường có xu hướng tìm kiếm sự chấp thuận của nhóm; con người nghĩ rằng quyết định của nhóm có quy mô lớn sẽ có xác suất sai nhỏ
Lý thuyết hành vi theo đám đông được hiểu theo hai quan điểm Theo quan điểm không hợp lý, nhà đầu tư có xu hướng bỏ qua thông tin và phân tích của mình mà đi theo xu hướng của thị trường, ngay cả khi họ không đồng thuận với xu hướng
đó (Christie và Huang, 1995) Họ bỏ qua niềm tin của mình và sao chép một cách mù quáng quyết định của nhà đầu tư khác (Chang và cộng sự, 1999) Trái lại, theo quan điểm hợp lý thì hành vi theo đám đông xuất hiện khi nhà đầu tư, nhà quản lý (cấp thấp), bắt chước hành động của cấp cao hơn, bỏ qua thông tin của bản thân bởi vị họ tin rằng thông tin, quyết định của người khác tốt hơn nhằm bảo vệ danh tiếng (Devenow và Welch, 1996) Chính vì vậy mà nhà đầu tư hành động theo đám đông thường có quyết định lệch lạc và sai lầm
Có một số yếu tố tác động đến hành vi theo đám đông của nhà đầu tư như: quá
tự tin, khối lượng đầu tư Nhà đầu tư tự tin chỉ dựa vào thông tin cá nhân của mình để
ra quyết định đầu tư, họ hiếm khi căn cứ vào quyết định của nhà đầu tư khác Khi nhà đầu tư đặt một lượng vốn lớn vào đầu tư của họ, họ có xu hướng làm theo hành động của những người khác để giảm thiểu rủi ro, ít nhất là trong cách mà họ cảm nhận Bên cạnh đó, hành vi theo đám đông cũng phụ thuộc vào nhà đầu tư, ví dụ, các nhà đầu tư
cá nhân có xu hướng làm theo đám đông trong việc đưa ra quyết định đầu tư nhiều hơn các nhà đầu tư tổ chức (Graham, 1999)
Nội dung được trình bày ở phần trên cho thấy rằng lý thuyết tự nghiệm và các lệch lạc, lý thuyết hành vi theo đám đông có ảnh hưởng đến xu hướng mua cổ phiếu của nhà đầu tư cá nhân Lý thuyết tự nghiệm và các lệch lạc là lựa chọn tối ưu khi ra
xu hướng dưới điều kiện không chắc chắn và phức tạp Sự ra đời của lý thuyết tự
Trang 21nghiệm phần nào giúp nhà đầu tư ra quyết định dễ dàng hơn trong thị trường chứng khoán
Bên cạnh đó thì các lệch lạc và lỗi hệ thống có thể dẫn đến những thành kiến trong nhận thức của nhà đầu tư, làm cho sự việc bị bóp méo và cuối cùng là đưa ra những quyết định sai lầm Lý thuyết thành vi theo đám đông là hành động không hợp
lý, là tình trạng phổ biến xuất hiện ở các nhà đầu tư, việc này tạo thành hiệu ứng “bầy đàn”, gây ra thành kiến cảm xúc, xung đột về nhận thức, cổ phiếu không được phản ứng đúng với giá trị thực tế
Trên nền tảng của 2 lý thuyết này, rất nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã được thực hiện Một số nghiên cứu thực nghiệm tiêu biểu được xây dựng trên nền tảng của
2 lý thuyết trên sẽ được trình bày tóm tắt trong phần tiếp theo
2.3 Tóm tắt các nghiên cứu trước
Nghiên cứu của Chandra (2008), tác giả tìm hiểu tác động của các yếu tố hành
vi và tâm lý của nhà đầu tư khi ra quyết định, kiểm tra mối quan hệ giữa thái độ của nhà đầu tư đối với rủi ro và hành vi ra quyết định Thông qua nghiên cứu này, tác giả thấy rằng không giống như lý thuyết tài chính cổ điển, nhà đầu tư cá nhân không phải luôn luôn đưa ra quyết định đầu tư hợp lý Các quyết định đầu tư bị ảnh hưởng bởi yếu tố hành vi như tự nghiệm và bám vào những giá trị đã được thiết lập Một lần nữa Chandra (2008) nhấn mạnh yếu tố tâm lý ảnh hưởng đến hành vi giao dịch của nhà đầu tư cá nhân thông qua nghiên cứu vào năm 2011
Tiếp theo là cuộc khảo sát nhà đầu tư tại thị trường chứng khoán Nairobi của Waweru và cộng sự (2008) Mục đích của tác giả là điều tra vai trò của tài chính hành
vi và tâm lý nhà đầu tư trong quá trình ra quyết định đầu tư Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố hành vi như: tình huống điển hình, quá tự tin, neo và điều chỉnh, sự sẵn có ảnh hưởng đến quyết định của các nhà đầu tư
Rekik và Boujelbene (2013) thực hiện nghiên cứu hành vi nhà đầu tư cá nhân dựa trên những thành kiến tâm lý, kết quả cho thấy hành vi theo đám đông, phương pháp điển hình, neo và điều chỉnh là các hành vi phổ biến của nhà đầu tư Mặt khác,
Trang 22nghiên cứu cho thấy các nhà đầu tư tại thị trường chứng khoán Tunisia không tự tin, họ do dự và rất nhạy cảm với phản ứng trên thị trường
Jayaraj (2013) thực hiện nghiên cứu để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hành
vi của nhà đầu tư cá nhân, dữ liệu được thu thập thông qua 300 đối tượng là nhà đầu
tư cá nhân Kết quả nghiên cứu cho thấy nhà đầu tư bị ảnh hưởng bởi ảo tưởng con bạc, neo và điều chỉnh
Nghiên cứu của Onsomu (2014) cho rằng nhà đầu tư bị ảnh hưởng bởi các thành kiến: thành kiến sẵn có, thành kiến đại diện, thành kiến khuynh hướng, tuy nhiên chỉ bị ảnh hưởng ở mức vừa phải
Bakar và Yi (2015) tiến hành điều tra tác động của các yếu tố tâm lý đến quyết định của nhà đầu tư tại thị trường chứng khoán Malaysia Tác giả sử dụng bảng câu hỏi phỏng vấn 200 nhà đầu tư trong độ tuổi từ 18 đến 60, có từng tham gia đầu tư chứng khoán Kết quả nghiên cứu cho thấy yếu tố tự tin quá mức, sự bảo thủ, sự sẵn
có tác động đáng kể đến quyết định của nhà đầu tư, trong khi đó hành vi theo đám đông không tác động
Tekçe và cộng sự (2016) sử dụng dữ liệu giao dịch của 244.146 nhà đầu tư chứng khoán cá nhân trong năm 2011 tại Thổ Nhĩ Kỳ để tiến hành phân tích yếu tố lệch lạc vì quá tự tin, lệch lạc do quen thuộc, lệch lạc do tình huống điển hình và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến lệch lạc Kết quả từ nghiên cứu cho thấy lệch lạc vì quá tự tin và lệch lạc do quen thuộc là tình trạng phổ biến nhất ở nhà đầu tư Thổ Nhĩ
Kỳ
Bảng 2.1 Tóm tắt các nghiên cứu trước
Chandra
(2008)
Tìm hiểu tác động của các yếu tố hành vi và tâm lý của nhà đầu tư khi ra quyết định, đồng thời kiểm tra mối quan hệ giữa thái độ của nhà đầu tư đối với rủi ro và hành vi ra quyết định Các quyết định đầu tư bị ảnh hưởng, bởi các yếu tố hành vi như tự nghiệm, neo và điều chỉnh
Trang 23Jayaraj
(2013)
Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi của nhà đầu tư cá nhân mà đặc biệt là các lệch lạc trong tâm lý, dữ liệu được thu thập thông qua 300 đối tượng là nhà đầu tư cá nhân Kết quả nghiên cứu cho thấy nhà đầu tư bị ảnh hưởng bởi ảo tưởng con bạc, neo và điều chỉnh
Điều tra tác động của các yếu tố tâm lý đến quyết định của nhà đầu
tư tại thị trường chứng khoán Malaysia Kết quả nghiên cứu cho thấy yếu tố tự tin quá mức, sự bảo thủ, sự sẵn có tác động đáng kể đến quyết định của nhà đầu tư, trong khi đó hành vi theo đám đông không tác động
2.4 Phát triển giả thuyết – Mô hình nghiên cứu đề xuất
2.4.1 Tình huống điển hình và xu hướng mua cổ phiếu của nhà đầu tư cá nhân
Trang 24Tình huống điển hình đề cập đến cách con người đưa ra những đánh giá xác suất dựa trên sự tương tự của trường hợp mẫu (Taffler), là cách các xác suất được đánh
giá “mức độ A đại diện cho B và mức độ A giống B” (Tversky và Kahneman, 1974),
tình huống điển hình đề cập đến mức độ giống nhau của sự kiện hiện tại với các sự kiện trước đó
Bản chất của phương pháp tình huống điển hình là xu hướng con người xem xét sự tương tự của các kết quả, các phạm trù dựa trên các đặc trưng tương đối nổi bật hoặc thậm chí chỉ là những biểu hiện bề ngoài Taffler cũng cho rằng con người đưa
ra quyết định dựa trên mức độ tương tự giữa các biến cố hoặc các nhóm, được gọi là phương pháp tình huống điển hình
Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu nhận định rằng, phương pháp điển hình có thể khiến con người đi chệch hướng, dẫn đến những lệch lạc khi nó chỉ là phương pháp dựa vào kinh nghiệm (Ritter, 2003) Và cá nhân đặt nặng các sự việc xảy ra gần đây mà bỏ qua thời gian dài phía trước (Ritter, 2003), cụ thể là nhà đầu tư xem xét tốc
độ tăng trưởng gần đây của công ty mà suy ra tốc độ tăng trưởng dài hạn trong tương lai Theo Chen và cộng sự (2007) nhiều nhà đầu tư mua cổ phiếu có giá tăng trong thời gian gần đây, nhà đầu tư thích mua cổ phiếu tăng trong quá khứ vì họ nghĩ giá trong quá khứ là đại diện cho xu hướng giá trong tương lai Kim và Nofsinger (2002) cũng tìm thấy bằng chứng cho thấy nhà đầu tư cá nhân gia tăng sở hữu những cổ phiếu
có lịch sử giá tăng trong quá khứ Ngoài ra, tình huống điển hình đôi khi dẫn đến sai lầm vì không tính đến xác suất cơ sở có liên quan trước khi ra quyết định hoặc chỉ dựa vào những thống kê ít giá trị trên cỡ mẫu nhỏ (Barberis và Thaler, 2003), cụ thể cho tình huống này trên thị trường chứng khoán là nhà đầu tư chọn mua cổ phiếu nóng thay vì lựa chọn công ty bình thường
Nhìn chung, nhà đầu tư bị ảnh hưởng bởi tình huống điển hình sẽ bỏ qua dữ liệu cơ sở mà tập trung vào tình huống, sự kiện tương tự gần đây để định hình xu hướng mua, cũng như họ có xu hướng mua cổ phiếu tăng trưởng mạnh gần đây Phổ biến nhất là phương pháp điển hình được sử dụng trong phân tích kỹ thuật nhằm dự
Trang 25báo diễn biến giá cổ phiếu trong tương lai dựa vào khối lượng và giá giao dịch trong quá khứ Một số nghiên cứu trước đây cho thấy tình huống điển hình có tác động đến quyết định đầu tư Cụ thể nghiên cứu của Farooq và cộng sự (2015) cho thấy tình huống điển hình tác động cùng chiều đến quyết định đầu tư, và đó cũng là kết quả nghiên cứu của Kannadhasan (2010), Waweru và cộng sự (2008) Trong đầu tư chứng khoán, nhà đầu tư ra quyết định dựa vào xu hướng và ý định đầu tư được hình thành từ trước đó, có nghĩa là yếu tố tác động đến quyết định cũng là yếu tố tác động đến xu hướng
Từ cơ sở trên giả thuyết nghiên cứu được đặt ra như sau:
H1: Tình huống điển hình có tác động cùng chiều đến xu hướng mua cổ phiếu của
nhà đầu tư cá nhân
2.4.2 Tự tin quá mức và xu hướng mua cổ phiếu của nhà đầu tư cá nhân
Lý thuyết về sự quá tự tin đề cập đến khuynh hướng con người đề cao kiến thức, khả năng, tính chính xác trong thông tin của mình, lạc quan quá mức về tương lai và khả năng kiểm soát tình thế Tự tin quá mức liên quan đến việc mọi người hiểu như thế nào khả năng và giới hạn trong kiến thức của họ, một cá nhân quá tự tin về khả năng của mình có xu hướng nghĩ rằng mình là tốt hơn so với thực tế (Shefrin, 2002; trích bởi Sewell, 2007) Glaser và cộng sự (2007) định nghĩa tự tin quá mức thường được mô hình hóa như một sự đánh giá quá cao độ chính xác các thông tin riêng
Hai khía cạnh nổi bật của lý thuyết tự tin quá mức là ước lượng sai và hiệu ứng tốt hơn mức trung bình: (1) ước lượng sai là xu hướng cá nhân tin rằng sự hiểu biết của bản thân mình chính xác hơn thực tế vốn có; (2) hiệu ứng tốt hơn mức trung bình là hiện tượng mọi người nghĩ rằng kỹ năng của họ tốt hơn mức trung bình (Taylor
và Brown, 1988) Bên cạnh đó, ảo tưởng kiểm soát và lạc quan quá mức cũng là khía cạnh của lý thuyết tự tin quá mức: (3) ảo tưởng kiểm soát làm cho con người nghĩ họ
có khả năng kiểm soát tình huống tốt hơn thực tế có thể; (4) lạc quan quá mức phản ánh cảm giác tin rằng mọi thứ tốt đẹp hơn so với phân tích khách quan
Trang 26Theo nghiên cứu tâm lý trong thị trường tài chính đã chỉ ra rằng các nhà đầu
tư thường có biểu hiện quá tự tin (Barberis và Thaler, 2003) Đồng thời, Wang (2000) cũng nhận định các nhà đầu tư tự tin quá mức tồn tại trong thị trường chứng khoán Nhà đầu tư có trạng thái tự tin quá mức sẽ luôn đánh giá cao thông tin cũng như kiến thức của mình nên họ phớt lờ thông tin và nhận định của người khác Như nhận xét của Odean (1998), nhà đầu tư có xu hướng quá tự tin cho rằng họ tốt hơn so với những người khác về khả năng lựa chọn cổ phiếu tốt nhất, cũng như thời điểm thích hợp để tham gia hoặc thoát ra khỏi thị trường Và đó cũng là lý do họ phản ứng chậm với nhiều thông tin có liên quan
Các nghiên cứu gần đây cho rằng các nhà đầu tư tự tin có xu hướng giao dịch nhiều hơn trong thị trường tài chính Grinblatt và Keloharju (2006) thấy rằng các nhà đầu tư Phần Lan có xu hướng giao dịch nhiều hơn khi họ cảm thấy phấn khích với khả năng của mình Barber và Odean (2001), Odean (1998) lập luận các nhà đầu tư
cá nhân quá tự tin sẽ giao dịch quá nhiều đồng thời nắm giữ cổ phiếu rủi ro do họ đánh giá thập rủi ro (Kyle và Wang, 1997; Wang, 1998) Nghiên cứu của Wang (2000) cũng kết luận nhà đầu tư quá tự tin sẽ giao dịch thường xuyên Tuy nhiên, giao dịch thường xuyên đồng nghĩa với việc tăng khối lượng giao dịch và biến động của thị trường trong khi lợi nhuận mong muốn có thể giảm
Nhà đầu tư tự tin sẽ có xu hướng mua cao hơn mức bình thường, xu hướng mua cao làm tăng cơ hội thực hiện hành vi bằng việc ra quyết định Bakar và Yi ( 2015 ), Bashir và cộng sự (2013), Lim (2012) kết luận sự tự tin quá mức có tác động cùng chiều đến quyết định của nhà đầu tư Hơn nữa, theo Barber và Odean (2001), Kafayat (2004) tự tin quá mức là nguyên nhân của việc nhà đầu tư ra quyết định không hợp lý, điều này được kiểm chứng qua nghiên cứu của Kafayat (2004), cho thấy sự tự tin quá mức có mối quan hệ trái chiều với quyết định đầu tư hợp lý
Từ những nghiên cứu trên, có thể thấy rằng nhà đầu tư tự tin quá mức có các hành vi cơ bản: (1) lựa chọn cổ phiếu dựa vào kiến thức, kỹ năng, thông tin của mình
bỏ qua nhận định và thông tin của nhà đầu tư khác; (2) giao dịch nhiều hơn; (3) nắm giữ cổ phiếu rủi ro Và giả thuyết được đặt ra là:
Trang 27H2: Sự quá tự tin có tác động cùng chiều đến xu hướng mua cổ phiếu của nhà đầu tư
cá nhân
2.4.3 Neo, điều chỉnh và xu hướng mua cổ phiếu của nhà đầu tư cá nhân
Kahneman và Tversky (1974) lập luận rằng khi ước tính người ta thường bắt đầu với thông tin, giá trị ban đầu và sau đó dữ liệu ban đầu sẽ được thực hiện điều chỉnh Hiện tượng đó được gọi là “neo và điều chỉnh” Tuy nhiên có nhiều bằng chứng cho thấy việc điều chỉnh đó thường là không đủ, người ta dựa quá nhiều vào dữ liệu ban đầu, và kết quả là xuất hiện lệch lạc Chang và cộng sự (1999) thấy rằng không giống như lý thuyết tài chính cổ điển, các nhà đầu tư cá nhân không phải luôn đưa ra quyết định đầu tư hợp lý Hành động không hợp lý dẫn đến lệch lạc và làm tăng rủi ro trong đầu tư
Có hai quan điểm giải thích tại sao những điều chỉnh này thường là không đủ: (1) quan điểm dựa trên sự không chắn chắn về giá trị đúng, chính vì sự không chắc chắn này nên nhà đầu tư điều chỉnh câu trả lời lệch khỏi mốc giá trị bám vào, những giá trị đã được thiết lập Họ càng không chắc chắn về giá trị đúng thì vùng giá trị hợp
lý càng lớn, và do đó sự điều chỉnh càng trở nên thiếu chính xác; (2) thiếu nỗ lực nhận thức, việc di chuyển ra xa mốc neo là cả một nỗ lực nhưng người ra quyết định thường dừng điều chỉnh quá sớm (Ackert và Deaves, 2010)
Neo và điều chỉnh có một số kết nối với tình huống điển hình - tình huống điển hình cho rằng con người có xu hướng bị ảnh hưởng mạnh bởi thông tin mẫu (thông tin gần đây) Neo và điều chỉnh cũng phản ánh rằng người ta thường tập trung vào kinh nghiệm gần đây và có xu hướng lạc quan hơn khi thị trường tăng và bi quan hơn khi thị trường giảm Chính vì thế mà nhà đầu có xu hướng bám theo, họ đuổi mua khi thị trường tăng giá, bán tháo khi thị trường giảm giá
Wamae (2013) kết luận yếu tố neo và điều chỉnh có ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu tư khi tiến hành nghiên cứu các yếu tố hành vi tác động đến quyết định đầu
tư chứng khoán tại Kenya Cụ thể hơn, Farooq và cộng sự (2015) cho thấy các yếu tố
Trang 28hành vi có tác động cùng chiều đến quyết định mua, trong đó neo và điều chỉnh là một biểu hiện của yếu tố hành vi Khi có dữ liệu liên quan - dữ liệu là nguồn tham khảo - phù hợp với khuynh hướng đầu tư, nhà đầu tư sẽ cảm thấy thuận lợi hơn đối với xu hướng của mình, họ có động lực hơn để thực hiện quyết định Mối quan hệ này được trình bày trong giả thuyết:
H3: Neo và điều chỉnh có tác động cùng chiều đến xu hướng mua cổ phiếu của nhà
đầu tư cá nhân
2.4.4 Sự sẵn có và xu hướng mua cổ phiếu của nhà đầu tư cá nhân
Những dữ liệu dễ dàng thu thập được gọi là dữ liệu có sẵn và những thông tin,
sự kiện dễ dàng gợi lại trong tâm trí là thông tin có sẵn Theo Kahneman và Tversky (1982), sự sẵn có khiến con người có xu hướng đánh giá và quyết định dựa trên dữ liệu có sẵn và dễ dàng thu thập Cụ thể, nghiên cứu của Barber và Odean (2001) cho thấy các nhà đầu tư có xu hướng xem xét những cổ phiếu mà gần đây đã gây sự chú ý đến họ trong việc đưa ra quyết định đầu tư Họ có thể bị chú ý bởi: (1) tin tức nóng, (2) cổ phiếu có khối lượng giao dịch bất thường, (3) tỷ suất sinh lợi bất thường (âm lẫn dương) Điều này chứng tỏ nhà đầu tư xem nặng thông tin hiện tại mà bỏ qua các nguyên tắc cơ bản Barber và Odean lý giải cho hành động này là vì sự chú ý của nhà đầu tư có giới hạn, họ chỉ tập trung vào những thông tin có sẵn không tốn phí
Đồng quan điểm với Barder và Odean, các nghiên cứu khác cũng quan sát việc đầu tư cổ phiếu của nhà đầu tư cá nhân bị thu hút bởi các thông tin có sẵn Cụ thể, Lee (1992) tìm thấy bằng chứng là các nhà đầu tư thực hiện giao dịch mua sau khi có thông tin bất ngờ về thu nhập, nhà đầu tư mua ròng sau khi có thông tin về thu thập (rất cao hay rất thấp)
Gần đây nhất là nghiên cứu của Chang và cộng sự (1999) tác giả nghiên cứu hành vi và yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của nhà đầu tư, với 500 nhà đầu tư
cá nhân tại thị trường chứng khoán Ấn Độ Tác giả cho rằng các nhà đầu tư thích sử dụng thông tin có sẵn, họ bị ảnh hưởng bởi các thông tin công bố công khai của bất
Trang 29kỳ cổ phiếu nào và chọn mua cổ phiếu đó, và họ thích đầu tư vào cổ phiếu tăng nóng Tương tự, Seasholes và Wu (2007) cho thấy các nhà đầu tư chứng khoán Thượng Hải là những người mua ròng các cổ phiếu có mức giá đạt đến mức giá trần Tiếp theo đó, Onsomu (2014) kết luận lệch lạc sẵn có tác động đến xu hướng đầu tư khi tác giả tiến hành nghiên cứu xu hướng của nhà đầu tư cá nhân tại sàn chứng khoán Naibori từ tháng 1 đến tháng 4 năm 2014, cụ thể hơn là nhà đầu tư nắm bắt thông tin từ bạn bè hoặc từ phương tiện truyền thông trước khi mua cổ phiếu
Các dẫn chứng trên chứng tỏ nhà đầu tư thích đầu tư những cổ phiếu có thông tin bất thường về thu nhập, động thái mua ròng xuất hiện vào những ngày có khối lượng giao dịch cao Nhà đầu tư thích sử dụng những thông tin có sẵn trên phương tiện công chúng, thông tin sự kiện gần đây để đưa vào dữ kiện cần xem xét khi mua
cổ phiếu Thông tin và dữ liệu sẵn có làm họ cảm thấy thuận tiện hơn để đưa ra xu hướng mua, rất có thể họ sẽ thực hiện quyết định, ngược lại họ có thể sẽ không ra quyết định Nghiên cứu của Bakar và Yi (2015) đã cho thấy “Sự sẵn có” có tác động cùng chiều đáng kể đối với việc ra quyết định Các nhà đầu tư nói chung phụ thuộc rất lớn vào các thông tin có sẵn dễ dàng Đặc biệt, nhà đầu tư có xu hướng dự đoán giá trong tương lai của cổ phiếu dựa trên giá hiện tại Chính vì vậy giả thuyết được đặt ra là:
H4: Sự sẵn có tác động cùng chiều đến xu hướng mua cổ phiếu của nhà đầu tư cá
nhân
2.4.5 Ảo tưởng con bạc và xu hướng mua cổ phiếu của nhà đầu tư cá nhân
Một khía cạnh khác của lý thuyết tự nghiệm là xu hướng ảo tưởng, nhìn thấy
cơ hội như một quá trình tự hiệu chỉnh (Baker và Nofsinger, 2002) và gây ra sự sai lệch theo chiều hướng ngược lại để khôi phục trạng thái cân bằng (Kahneman và Tversky, 1974), nên con người tăng kỳ vọng đối với sự xuất hiện điều ngược lại (Ackert và Deaves, 2010) Vấn đề này được giải thích khá rõ qua trò chơi tung đồng
xu, nếu lần đầu tung đồng xu mặt chữ thì người chơi kỳ vọng mặt số sẽ xuất hiện trong lần tung tiếp theo với xác suất cao hơn mặc dù xác suất của hai khả năng là như nhau
Trang 30Trong thị trường đầu tư chứng khoán, cũng đã có nhiều tác giả khẳng định ảo tưởng con bạc có tác động đến xu hướng đầu tư và quyết định đầu tư của nhà đầu tư Điển hình, Rakesh (2013) thực hiện nghiên cứu để xem xét sự tồn tại “ảo tưởng con bạc” trong quyết định tài chính của nhà đầu tư Ấn Độ tại thị trường chứng khoán Bombay Tác giả khẳng định trong đầu tư chứng khoán tồn tại “ảo tưởng con bạc” và
kỳ vọng của nhà đầu tư bị ảnh hưởng bởi “ảo tưởng con bạc” Odean (1998) cũng đồng thời khẳng định ảo tưởng con bạc và các hành vi khác tồn tại trong thị trường chứng khoán, các hành vi này tác động đến quá trình ra quyết định Một bằng chứng nữa là nghiên cứu của Amin và cộng sự (2009), tác giả cũng khẳng định “ảo tưởng con bạc” có tác động đến xu hướng đầu tư của nhà đầu tư khi khảo sát các nhà đầu tư tại thị trường chứng khoán Lahore Qureshi và cộng sự (2012) tiến hành điều tra các yếu tố hành vi, các yếu tố thuộc lý thuyết tự nghiệm và sự e ngại rủi ro, trong quyết định đầu tư Tác giả đã chứng minh yếu tố hành vi ( trong đó có hành vi ảo tưởng con bạc ) có quan hệ cùng chiều với quyết định đầu tư, yếu tố hành vi tồn tại trong suốt quá trình ra quyết định
Nhà đầu tư bị ảnh hưởng từ ảo hưởng con bạc có thành kiến đối với việc dự đoán đảo chiều giá cổ phiếu Sai lầm phát sinh khi các nhà đầu tư dự đoán xu hướng giá - dựa vào dữ liệu quá khứ - cổ phiếu sẽ đảo ngược sau một thời gian dài tăng hoặc giảm (Kudryavtsev và cộng sự, 2012) Họ bị hút vào suy nghĩ ngược chiều là xu hướng giá sẽ tự điều chỉnh Trong xu hướng đầu tư cổ phiếu, nhà đầu tư thường có suy nghĩ
sẽ mua vào khi thị trường tự điều chỉnh sau đợt tăng vừa qua hoặc sau thời gian dài giảm
Những tiền đề trên đã tạo cơ sở cho việc đặt giả thuyết sau:
H5: Ảo tưởng con bạc có tác động cùng chiều đến xu hướng mua cổ phiếu của nhà
đầu tư cá nhân
2.4.6 Sự quen thuộc và xu hướng mua cổ phiếu của nhà đầu tư cá nhân
Lý thuyết sự sẵn có có mối liên hệ mật thiết với lý thuyết về sự quen thuộc, cả
Trang 31hai lý thuyết này đều đề cập đến việc nhà đầu tư ưa thích sử dụng các thông tin có sẵn Nhà đầu tư dễ dàng chấp nhận tham gia đầu tư nếu họ cảm thấy am hiểu về nó, nghĩa là họ cảm thấy đủ khả năng Các nhà nghiên cứu đã thực hiện nghiên cứu về sự lệch lạc do quen thuộc ở cả bối cảnh trong nước (lệch lạc địa phương) và quốc tế (lệch lạc nội địa) Nghiên cứu này chỉ đề cập đến lệch lạc địa phương mà bỏ qua lệch lạc nội địa vì phần lớn các nhà đầu tư chứng khoán tại Hồ Chí Minh tham gia thị trường chứng khoán trong nước, đồng thời bài nghiên cứu này chỉ giới hạn trong phạm vi thị trường chứng khoán Hồ Chí Minh
Lý giải cho hành vi ưa thích thị trường địa phương của nhà đầu tư là do họ thích
sự quen thuộc, sự quen thuộc làm họ cảm thấy thoải mái hơn Thêm nữa, nhà đầu tư
có lợi thế về thông tin (Ackert và Deaves, 2010), lợi ích từ việc có một vị trí địa lý gần giúp họ cải thiện khả năng quan sát và tiếp cận thông tin riêng (Coval và Moskowitz, 1999) Vì vậy nhà đầu tư có biểu hiện thiên vị và đầu tư vào cổ phiếu của các công ty
có trụ sở gần nơi họ sinh sống (Coval và Moskowitz, 2001) Nhà đầu tư cũng có xu hướng nắm giữ cổ phiếu của công ty mình từng làm việc, chiếm tỷ trọng lớn trong danh mục đầu tư Đầu tư vào cổ phiếu của công ty quen thuộc, công ty mình đang hoặc từng làm việc sẽ giúp nhà đầu tư dễ dàng tiếp cận thông tin và hơn hết họ thấy
an toàn Tuy nhiên, lợi thế thông tin khi đầu tư vào công ty địa phương chỉ là có thể giải thích được phần nào cho sự lệch lạc quen thuộc, một vài nghiên cứu đã chuyển sang lĩnh vực tài chính hành vi để giải thích cho phần còn lại Đó là các lệch lạc về hành vi như đầu tư vào cổ phiếu của công ty mà bản thân có liên quan Bên cạnh đó, Coval và Moskowitz (1999) báo cáo rằng các nhà đầu tư cá nhân có xu hướng nắm giữ một lượng không cân xứng cổ phiếu của những công ty có thương hiệu
Lý thuyết hành vi liên quan đến lệch lạc quen thuộc với những phát hiện về tâm
lý cho thấy rằng con người sử dụng sự đơn giản hóa theo kinh nghiệm trong quá trình
ra quyết định của họ (tập trung chủ yếu vào thông tin nổi bật hay thường được đề cập) Nhà đầu tư mua và nắm giữ cổ phiếu mà họ quen thuộc để dễ dàng có đủ thông tin,
đủ khả năng thu thập, tự tin hơn trong việc dự đoán tỷ suất sinh lợi Sự quen thuộc làm họ cảm thấy thoải mái và an toàn hơn, đó là nhân tố thúc đẩy ý định mua của nhà đầu
Trang 32tư và tác động đến thiên hướng chọn mua cổ phiếu Chính vì lý do này cùng các quan điểm như trên đã tạo nền tảng cho giả thuyết:
H6: Sự quen thuộc có tác động cùng chiều đến xu hướng mua cổ phiếu của nhà đầu
tư cá nhân
2.4.7 Hành vi theo đám đông và xu hướng mua cổ phiếu của nhà đầu tư cá nhân
Trong thị trường chứng khoán, nhà đầu tư có hành vi theo đám đông bởi vì họ quan tâm đến suy nghĩ của những nhà đầu tư khác về xu hướng đầu tư (Scharfstein và Stein, 1990) Họ ra quyết định dựa trên quyết định mua hoặc bán cổ phiếu của nhóm người có chút kiến thức và thông tin trên thị trường (Caparrelli và cộng sự, 2004) Theo Waweru và cộng sự (2008) nhà đầu tư theo đám đông bị ảnh hưởng bởi xu hướng mua và lựa chọn, khối lượng nắm giữ cổ phiếu của những nhà đầu tư khác Điều này gây mất ổn định thị trường chứng khoán qua việc dịch chuyển giá cổ phiếu ra xa giá trị thật, giá cổ phiếu phản ánh quyết định không hợp lý của nhà đầu tư trên thị trường
(Demirer và Kutan, 2005)
Theo một vài nghiên cứu thì hành vi theo đám đông thường xuất hiện ở những nhà đầu tư nhỏ vì đa số những nhà đầu tư này có phần hạn chế trong việc tiếp xúc với thông tin, họ bị cuốn vào dòng xoáy thị trường, những cuộc chơi có chủ đích của những người dẫn dắt thị trường Đồng thời, những nhà đầu tư lớn, nhà đầu tư chuyên nghiệp cũng hình thành hành vi theo đám đông nếu họ thấy nguy cơ thất bại lớn hơn lợi ích có thể đạt được khi quyết định từ cá nhân (Graham, 1999)
Nghiên cứu về hành vi đám đông trên thị trường chứng khoán, Scharfstein và Stein (1990) đã sử dụng bảng câu hỏi để kiểm tra sự tồn tại của hành vi theo đám đông trên thị trường giao dịch chứng khoán Tunisia Kết quả phân tích cho thấy 75% mẫu trong nghiên cứu có xu hướng đi theo hành động của những người khác bất kể lý do
gì Hành vi này được giải thích bởi thực tế là một số nhà đầu tư ít thông tin hơn những nhà đầu tư khác Economou và cộng sự (2010) sử dụng dữ liệu hàng ngày từ năm 1998 – 2008 ở thị trường chứng khoán Hy Lạp, Ý, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha Kết quả
Trang 33nghiên cứu cho thấy có sự tồn tại của hành vi theo đám đông, sự tồn tại của hành vi theo đám đông liên quan với khối lượng giao dịch, biến động của thị trường Hành vi theo đám đông mạnh hơn khi thị trường tăng trong thời kỳ tăng Đồng thời, nghiên cứu của Ghalandari và Ghahremanpour (2013) cũng cho thấy hành vi đám đông có ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu tư khi tìm hiểu cảm xúc và sai sót của nhận thức ảnh hưởng đến nhà đâu tư cá nhân Rõ hơn là nghiên cứu của Wamae (2013), cho thấy hành vi theo đám đông có tác động cùng chiều đến quyết định đầu tư và nghiên cứu của Kengatharan (2014), cho rằng các nhà đầu tư cần phải thành lập tổ hợp nhóm để
hỗ trợ lẫn nhau
Như vậy, hành vi theo đám đông có mối quan hệ với khối lượng giao dịch và biến động của thị trường Hành vi đám đông mạnh khi thị trường tăng và có khối lượng giao dịch cao, trái lại cũng có quan điểm cho rằng hành vi đám đông mạnh khi thị trường đang giảm Nhà đầu tư có hành vi theo đám đông sẽ ra quyết định đầu tư cổ phiếu dựa vào những nhà đầu tư khác, cụ thể là hành vi mua và bán, khối lượng giao dịch trên thị trường của những nhà đầu tư khác Khi thấy có nhiều người cùng đi theo một xu hướng, cùng chung quyết định, nhà đầu tư cảm thấy phấn khích và tự tin với hướng đi hơn Điều này đồng nghĩa với việc nhu cầu gia tăng, xu hướng mua được củng cố
Từ cơ sở trên, nghiên cứu tiến hành xây dựng giả thuyết như sau:
H7: Hành vi theo đám đông có tác động cùng chiều đến xu hướng mua cổ phiếu của nhà đầu tư cá nhân”
Căn cứ vào các nghiên cứu trước cùng với thực tiễn, tác giả đề xuất các giả thuyết và mô hình nghiên cứu như sau:
Trang 34Bảng 2.2: Giả thuyết kỳ vọng của các biến độc lập
Tình huống điển
Tình huống điển hình có tác động cùng chiều đến xu hướng mua cổ phiếu của nhà đầu tư cá nhân (+)
Sự quá tự tin H2 Sự quá tự tin có tác động cùng chiều đến xu hướng mua
Neo và điều
chỉnh H3 Neo và điều chỉnh có tác động cùng chiều đến xu hướng mua cổ phiếu của nhà đầu tư cá nhân (+)
Sự sẵn có H4 Sự sẵn có có tác động cùng chiều đến xu hướng mua cổ
Ảo tưởng con
bạc H5 Ảo tưởng con bạc có tác động cùng chiều đến xu hướng mua cổ phiếu của nhà đầu tư cá nhân (+)
Sự quen thuộc H6 Sự quen thuộc có tác động cùng chiều đến xu hướng mua
Ảo tưởng con bạc (+)
Sự quen thuộc (+)
Tâm lý đám đông (+)
Trang 35Tóm tắt chương 2
Chương 2 đã trình bày các lý thuyết và các nghiên cứu liên quan đến tâm lý và hành vi, định kiến nhà đầu tư Từ đó phát triển giả thuyết và xây dựng mô hình nghiên cứu
Trang 36Chương 3: THIẾT KẾ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương này sẽ trình bày cụ thể về quy trình nghiên cứu, xây dựng thang đo, phương pháp nghiên cứu được sử dụng để đánh giá thang đo và mô hình nghiên cứu
3.1 Quy trình nghiên cứu
Quy trình nghiên cứu đề tài (Hình 3.1) được thực hiện bao gồm các bước sau:
Đặt vấn đề, mục tiêu nghiên cứu: Từ thực trạng tình hình đầu tư chứng khoán
của nhà đầu tư cá nhân đã hình thành vấn đề nghiên cứu, từ đó xác định mục tiêu
Xây dựng mô hình nghiên cứu: Dựa trên cơ sở lý thuyết liên quan và các kết
quả nghiên cứu trước đó về tâm lý, hành vi của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán
Xây dựng thang đo: Từ cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu liên quan, tác giả
đánh giá và điều chỉnh để xây dựng thang đo phù hợp với phạm vi đề tài nghiên cứu
Nghiên cứu sơ bộ: Sau khi xây dựng thang đo, tác giả thực hiện nghiên cứu
định tính bằng phương pháp thảo luận nhóm với thành phần tham dự là các chuyên gia trong lĩnh vực tài chính Mục đích của bước này là để bổ sung, loại bỏ và hiệu chỉnh thang đo phù hợp
Nghiên cứu chính thức: Từ kết quả thảo luận nhóm, tác giả tiến hành xây
dựng bảng câu hỏi khảo sát, thu thập, xử lý và phân tích dữ liệu
Kết luận và kiến nghị: Dữ liệu được phân tích bằng phần mềm SPSS, từ kết
quả đưa ra nhận định và kiến nghị
Trang 37Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu
3.2 Thiết kế nghiên cứu
3.2.1 Nghiên cứu sơ bộ
Nghiên cứu sơ bộ được thực hiện dựa trên cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu về tâm lý, hành vi, đầu tư chứng khoán, đồng thời dùng kỹ thuật tham vấn ý kiến của các chuyên gia trong lĩnh vực chứng khoán để điều chỉnh thang đo, thiết lập bảng câu hỏi
sử dụng cho nghiên cứu chính thức
Thiết kế phiếu khảo sát
Định lượng sơ bộ Hiệu chỉnh thang đo
Xây dựng mô hình &
thang đo nghiên cứu
Loại bỏ phiếu khảo
sát không hợp lệ
Thang đo chính thức Thu thập dữ liệu từ phiếu khảo
sát
Tương quan - Hồi
quy tuyến tính bội Kiểm định mô hình
Phân tích nhân tố Kiểm tra trọng số EFA, nhân tố và phương sai
trích Cronbach’s Alpha Kiểm tra tương quan biến – Tổng, Cronbach Alpha
Trang 38Tác giả thực hiện thảo luận nhóm với 10 người bao gồm chuyên gia và nhà đầu
tư chứng khoán tại Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh Công đoạn này xác định các vấn đề cần thiết đưa vào nghiên cứu, định hình các thành phần và biến
quan sát trong thang đo Dàn bài thảo luận nhóm xem Phụ lục 1
Trên cơ sở thảo luận các ý kiến đóng góp, bảng câu hỏi khảo sát được xây dựng Sau đó tác giả thử nghiệm phỏng vấn 6 nhà đầu tư không làm việc trong ngành chứng khoán để kiểm tra và điều chỉnh ngôn ngữ Và bảng câu hỏi chính thức được sử dụng cho nghiên cứu định lượng tiếp theo
3.2.2 Nghiên cứu chính thức
Phương pháp định lượng được sử dụng trong giai đoạn nghiên cứu chính thức, thu thập thông tin bằng hình thức phỏng vấn trực tiếp, sử dụng công cụ Google.docs và gửi thư điện tử bảng câu hỏi đến các nhà đầu tư cá nhân tại Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh Dữ liệu ở nghiên cứu này được dùng để kiểm định giả thuyết trong mô hình
* Phương pháp chọn mẫu
Mẫu trong nghiên cứu chính thức được chọn theo phương pháp lấy mẫu thuận tiện, bảng câu hỏi được gửi tới các nhà đầu tư cá nhân tại Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
Theo Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008), trong phân tích nhân tố (EFA) cỡ mẫu ít nhất bằng 4 hay 5 lần số biến Đề tài nghiên cứu này có tất cả 29 tham số (biến quan sát) cần tiến hành phân tích nhân tố, vì vậy số mẫu cần tối thiểu là 29*5 = 145
Số mẫu trong nghiên cứu này là 319 lớn hơn 145 nên thoả yêu cầu về kích thước mẫu
* Thu thập thông tin
Bảng câu hỏi được gửi trực tiếp, công cụ Google.docs và qua thư điện tử đến
các nhà đầu tư cá nhân tại Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (Phụ
Trang 39lục 5)
Nhằm đảm bảo đối tượng khảo sát là phù hợp đối với nghiên cứu này, trong thư điện tử gửi đi và trong bảng câu hỏi nghiên cứu có những câu hỏi gạn lọc để loại các đối tượng không phù hợp
Bảng câu hỏi cũng thể hiện cam kết chỉ sử dụng thông tin cho mục đích nghiên cứu cùng với cam kết bảo mật thông tin cho người trả lời
Thông tin thu thập được sẽ được xử lý cho ra kết quả dưới dạng các số liệu thống kê bằng phần mềm SPSS
* Phương pháp xử lý số liệu
Quá trình xử lý dữ liệu được thực hiện trên chương trình xử lý dữ liệu SPSS
18 theo 4 bước sau:
Bước 1: Kiểm định độ tin cậy của thang đo
Các thang đo trong nghiên cứu này được đưa vào kiểm định bằng công cụ Cronbach’s Alpha Phân tích hệ số Cronbach’s Alpha được sử dụng trước để loại các biến không phù hợp Các biến có hệ số tương quan biến tổng (Corrected Item - Total Correlation) nhỏ hơn 0,3 và thành phần thang đo có hệ số Croncbach’s Alpha nhỏ hơn 0,6 được xem xét loại bỏ
Bước 2: Phân tích nhân tố khám phá EFA
Sau khi thực hiện đánh giá sơ bộ thang đo, nghiên cứu tiếp tục thực hiện phân tích nhân tố khám phá EFA nhằm khám phá cấu trúc và khái niệm nghiên cứu, loại bỏ các biến đo lường không đạt yêu cầu Mục đích là để kiểm tra và xác định lại các các nhóm biến trong mô hình nghiên cứu Các biến có hệ số tải nhân tố (factor loading) nhỏ hơn 0,5 đều bị loại Phương pháp trích hệ số sử dụng là phương pháp trích nhân tố Principal Coponent, phép quay Varimax và điểm dừng khi trích các yếu tố có Eigenvalue là 1 Thang đo được chấp nhận khi tổng phương sai trích bằng hoặc lớn hơn 50%
Bước 3: Phân tích hồi qui
Phân tích hồi qui tuyến tính để biết được mức độ tác động của các biến độc lập
Trang 40lên biến phụ thuộc Từ đó, sẽ kiểm tra độ thích hợp của mô hình, xây dựng mô hình hồi qui bội để kiểm tra giả thuyết Trước tiên, phân tích hệ số tương quan giữa các nhân tố tâm lý làm tiền đề cho phân tích hồi qui Mục tiêu của phân tích tương quan là tính toán độ nhạy hay mức độ liên hệ tuyến tính của hai biến số Phân tích tương quan không chú trọng mối liên hệ nhân quả như phân tích hồi qui nhưng hai phương pháp phân tích này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, phân tích tương quan được xem như là công cụ hỗ trợ hữu ích cho phân tích hồi qui (Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008) Nếu hệ số tương quan giữa biến phụ thuộc và biến độc lập lớn chứng tỏ chúng có quan hệ với nhau và phân tích hồi qui tuyến tính có thể phù hợp
Tiếp theo, phân tích hồi qui tuyến tính đa biến bằng phương pháp bình phương nhỏ nhất thông thường (Ordinal Least Squares - OLS), nghiên cứu sẽ thực hiện một lần hồi qui Phân tích hồi qui cho các biến tâm lý với biến phụ thuộc là xu hướng mua
cổ phiếu của nhà đầu tư cá nhân
Phương pháp chọn biến Enter được tiến hành Hệ số xác định R2 hiệu chỉnh được dùng để xác định độ phù hợp của mô hình; kiểm định F dùng để khẳng định khả năng mở rộng mô hình này áp dụng cho tổng thể, kiểm định t để bác bỏ giả thuyết các
hệ số hồi qui của tổng thể bằng 0
Cuối cùng, kiểm tra các giả định trong hồi qui tuyến tính có bị vi phạm hay không Các giả định được kiểm định trong phần này gồm hiện tượng đa cộng tuyến, phương sai của phần dư không đổi, phần dư có phân phối chuẩn, không có sự tương quan của các phần dư
Bước 4: Kiểm định sự khác biệt
Kiểm tra sự khác biệt về giá trị trung bình của các tổng thể con: có hay không
sự khác nhau về xu hướng mua cổ phiếu theo yếu tố nhân khẩu học: độ tuổi, giới tính, trình độ học vấn, thời gian tham gia thị trường, mức thu nhập hàng tháng
Phương pháp kiểm định giả thuyết về trị trung bình của hai tổng thể - trường hợp mẫu độc lập (Independent samples T-Test) được sử dụng để kiểm định sự bằng nhau về xu hướng mua giữa nam và nữ
Tương tự, để kiểm định sự bằng nhau về xu hướng mua giữa các tổng thể con