Số liệu tính toán chỉ tiêu về doanh thu, lao động để tính năng suất lao động của doanh nghiệp và các biến độc lập được tính dựa trên các thông tin về quy mô vốn đầu tư, lao động, thu nhậ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-
LÊ HỮU QUÝ
CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 2010 - 2014
LUÂ ̣N VĂN THẠC SỸ KINH TẾ HỌC
TP Hồ Chi ́ Minh, Năm 2016
Trang 2i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đề tài “Các yếu tố tác động đến năng suất lao động của các doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 2010 - 2014” là bài nghiên cứu của chính tôi
Ngoại trừ những tài liệu tham khảo được trích dẫn trong đề tài này, tôi cam đoan
đề tài này đều là thành quả lao động của chính tôi
Không có sản phẩm/nghiên cứu nào của người khác được sử dụng trong đề tài mà không được trích dẫn theo đúng quy định
Đề tài này chưa bao giờ được nộp để nhận bất kỳ bằng cấp nào tại các trường đại học hoặc cơ sở đào tạo khác
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2016
Lê Hữu Quý
Trang 3ii
LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin cảm ơn Lãnh đạo UBND tỉnh Bình Thuận đã hỗ trợ kinh phí, Lãnh đạo Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bình Thuận đã tạo điều kiện để tôi được tham gia học chương trình Thạc sĩ tại Trường Đại học Mở thành phố Hồ ChíMinh
Tôi xin cảm ơn các quý Thầy Cô đã giúp tôi trang bị tri thức, tạo điều kiện thuận lợi nhất trong suốt thời gian tôi tham gia học tập tạitrường
Luận văn này sẽ khó có thể hoàn thành nếu không có sự giúp đỡ quý báu của các thầy cô, sự hỗ trợ nhiệt tình của giảng viên hướng dẫn và những người bạn thân của tôi Tôi vô cùng biết ơn sự động viên, chia sẽ của mọi người trong suốt quá trình thực hiện luận văn Chính nhờ những giúp đỡ này mà luận văn của tôi được hoàn thiện tốt hơn cũng như qua đó, nâng cao hơn nữa những kỹ năng của bản thân trong công việc và cả trong cuộcsống
Xin chân thành cảm ơn TS Trần Anh Tuấn đã tận tình hướng dẫn, định hướng và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian qua để tôi hoàn thành tốt luận vănnày
Sau cùng, tôi xin kính chúc quý thầy cô, bạn bè và những người thân sức khỏe, hạnh phúc và thànhđạt
Xin trân trọng cảmơn!
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 11 tháng 9 năm 2016
Học viên: LÊ HỮU QUÝ
Trang 42014 của Tổng cục Thống kê
Số liệu tính toán chỉ tiêu về doanh thu, lao động để tính năng suất lao động của doanh nghiệp và các biến độc lập được tính dựa trên các thông tin về quy mô vốn đầu tư, lao động, thu nhập lao động, loại hình kinh tế, đặc điểm ngành nghề, chi phí lao động, giá trị tài sản của doanh nghiệp và đặc điểm vùng kinh tế được lấy từ phiếu thu thập thông tin điều tra doanh nghiệp
Đề tài sử dụng phương pháp thống kê định lượnglà dùng mô hình hồi quy tuyến tính để phân tích dữ liệu, sử dụng phương pháp biến công cụ để xử lý sai phạm trong mô hình Kết quả thực nghiệm trong mô hình tìm được các yếu tố tác động đến năng suất lao động của các doanh nghiệp như: Quy mô vốn đầu tư, quy mô lao động, thu nhập của người lao động, ngành nghề kinh doanh, hình doanh nghiệp, các khoản chi trả cho người lao động, giá trị tài sản của doanh nghiệp và đặc điểm vùng kinh tế Tuy nhiên, biến số quy mô tài sản được dùng làm biến công cụ nên tác động gián tiếp tới năng suất lao động thông qua biến nội sinh LnLabour, biến lao động và chi phí phải trả cho người lao động có kết quả trái ngược với kỳ vọng dấu ban đầu
Đề tài hồi quy theo 8 vùng kinh tế để so sánh được mức độ tác động của các yếu tố đến năng suất lao động theo từng vùng miền,năng suất lao động doanh nghiệp có sự khác biệt giữa các vùng kinh tế, giữa các loại hình kinh tế của doanh nghiệp Đối với doanh nghiệp hoạt động theo từng lĩnh vực ngành nghề kinh doanh cũng có sự cách biệt nhau khá lớn về năng suất lao động
Qua kết quả nghiên cứu, đề tài đã đưa ra một số khuyến nghị đối với khu vực doanh nghiệp, cơ quan quản lý cấp Trung ương và địa phương nhằm có những định hướng nâng cao năng suất lao động của doanh nghiệp
Trang 5v
MỤC LỤC
Trang
Nhận xét của giảng viên hướng dẫn i
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
Tóm tắt iv
Mục lục v
Danh mục bảng vii
Danh mục hình viii
Danh mục từ viết tắt ix
Chương 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 Vấn đề nghiên cứu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 4
1.4 Đối tượng vàphạm vinghiên cứu 4
1.5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 4
1.6 Kết cấu của đề tài 5
Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 6
2.1 Khái niệm năng suất và năng suất lao động 6
2.2 Phương pháp đo lường năng suất lao động 9
2.3 Lý thuyết các yếu tố tác động đến năng suất lao động 10
2.3.1 Lý thuyết về năng suất 10
2.3.2 Lý thuyết các yếu tố tác động đến năng suất lao động 12
2.4 Một số nghiên cứu thực nghiệm có liên quan 19
Tóm tắt chương 2 26
Chương 3: PHƯƠNG PHÁP VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 27
3.1 Phương pháp nghiên cứu 27
Trang 6vi
3.2 Phương pháp hồi quy 28
3.3 Mô hình nghiên cứu đề nghị 30
3.3.1 Các giả thuyết nghiên cứu 31
3.3.2 Xây dựng mô hình hồi quy đề nghị 34
3.4 Giải thích và đo lường các biến số trong mô hình 35
3.4.1 Biến phụ thuộc 35
3.4.2 Các biến độc lập 36
3.5 Dữ liệu nghiên cứu 38
3.6 Quy trình nghiên cứu 38
Tóm tắt chương 3 39
Chương 4: PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 40
4.1 Phân tích thống kê mô tả 40
4.2 Phân tích mối tương quan giữa các biến trong mô hình 48
4.3 Ước lượng và lựa chọn mô hình hồi quy 50
Tóm tắt chương 4 65
Chương 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 66
5.1 Kết luận 66
5.2 Khuyến nghị 68
5.2.1 Đối với doanh nghiệp 68
5.2.2 Đối với cơ quan quản lý cấp Trung ương 69
5.2.3 Đối với cơ quan quản lý cấp địa phương ở từng vùng miền 70
5.3 Hạn chế của đề tài 71
5.4 Hướng nghiên cứu tiếp theo 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
PHỤ LỤC 1: Kết quả phân tích hồi quy 76
PHỤ LỤC 2: Kết quả hồi quy riêng phần giữa tài sản và lao động 85
Trang 7vii
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan 25
Bảng 3.1: Tổng hợp cách tính cho từng biến số 37
Bảng 4.1: Thống kê doanh nghiệp theo năm 40
Bảng 4.2: Thống kê doanh nghiệp theo vùng kinh tế 41
Bảng 4.3: Thống kê doanh nghiệp theo loại hình doanh nghiệp 42
Bảng 4.4: Thống kê doanh nghiệp theo ngành 43
Bảng 4.5: Thống kê năng suất theo năm 44
Bảng 4.6: Thống kê năng suất theo vùng 45
Bảng 4.7: Thống kê năng suất theo loại hình doanh nghiệp 46
Bảng 4.8: Thống kê năng suất theo ngành kinh doanh 47
Bảng 4.9: Thống kê các biến định lượng 48
Bảng 4.10: Ma trận tương quan giữa các biến độc lập trong mô hình 49
Bảng 4.11: Kết quả hồi quy riêng phần giữa tài sản và lao động 50
Bảng 4.12: Kết quả ước lượng của mô hình 51
Bảng 4.13: Kiểm định mức ý nghĩa tổng thể mô hình và kiểm định biến nội sinh 53
Bảng 4.14: Tổng hợp các giải thuyết nghiên cứu 64
Trang 8viii
DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1: Mô hình nghiên cứu 31
Hình 4.1: Hệ số hồi quy của biến số LnLabour của 9 mô hình 53
Hình 4.2: Hệ số hồi quy của biến số LnInvest của 9 mô hình 55
Hình 4.3: Hệ số hồi quy của biến số LnA_Cost của 9 mô hình 57
Hình 4.4: Hệ số hồi quy của biến số LnA_Income của 9 mô hình 59
Hình 4.5: Hệ số hồi quy của biến số Industry của 9 mô hình 60
Hình 4.6: Loại hình kinh tế của doanh nghiệp tại mô hình tổng thể 61
Hình 4.6.1: Khu vực doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài 62
Hình 4.6.2: Khu vực doanh nghiệp liên doanh 62
Hình 4.6.3: Khu vực hợp tác xã 63
Hình 4.6.4: Khu vực doanh nghiệp tư nhân trong nước 63
Trang 9Khu vực thương mại- dịch vụ (gọi tắt là dịch vụ)
FDI: Vốn đầu tư trực tiếp nướcngoài
OECD: Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
NSLĐ: Năng suất lao động
ULC: Chi phí đơn vị lao động
GDP: Tổng giá trị quốcnội
Trang 10Năng suất là mối quan tâm chung của người lao động, doanh nghiệp và toàn xã hội Năng suất lao động đánh giá được khả năng của người lao động, sự phát triển của một doanh nghiệp hay xã hội Doanh nghiệp muốn đạt được lợi nhuận cao rất cần phải nâng cao năng suất lao động Người lao động muốn tăng thu nhập cũng cần phải nâng cao năng suất lao động Đặc biệt với nền kinh tế đang phát triển của nước ta như hiện nay vấn đề nâng cao năng suất lao động càng trở nên quan trọng và cấp thiết Đặc biệt, đối với các nước đang phát triển, năng suất lao động được coi là yếu tố quan trọng nhất (Sauian, 2002)
Năng suất lao động là một trong những chỉ tiêu kinh tế quan trọng phản ánh hiệu quả sử dụng lao động và là yếu tố quyết định tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia, trong các học thuyết kinh tế, từ học thuyết kinh tế của Karl Marx đến các học thuyết kinh tế thị trường hiện nay đều quan tâm tới năng suất lao động Trong thực tiễn, các quốc gia đều hướng tới một nền kinh tế phát triển bền vững trên nền tảng năng suất lao động ngày một nâng cao Tại Việt Nam, vấn đề năng suất lao động và nâng cao năng suất lao động đang ngày càng được quan tâm đúng mức hơn trong nhận thức cũng như hoạch định chính sách, xây dựng các kế hoạch quản lý và điều hành kinh tế Chỉ tiêu năng suất lao động cũng chính thức được đưa vào trong hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia (Chính phủ, 2005)
Theo số liệu thống kê của Bộ Tài chính (2015) về tình hình hoạt động, sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp qua đăng ký thuế, tính đến thời điểm ngày 20/5/2015 số lượng doanh nghiệp đang hoạt động trên toàn quốc hiện có 506.053 doanh nghiệp Năm
2014, cả nước có 67.823 doanh nghiệp gặp khó khăn phải giải thể hoặc đăng ký tạm ngừng hoạt động, tăng 9,6% so với năm 2013 Tỷ trọng vốn đăng ký bình quân trên một doanh nghiệp trong năm 2014 đạt 5,8 tỷ đồng, tăng 11,5% so với năm 2013 Số lao động
Trang 112
dự kiến được tạo việc làm của các doanh nghiệp thành lập mới trong năm 2014 là 1.091 nghìn lao động, tăng 2,8% so với năm 2013 (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2014) Mặc dù, nền kinh tế vẫn chưa thực sự thoát khỏi bối cảnh khó khăn nhưng xét trên khía cạnh quy
mô vốn, doanh nghiệp thành lập mới trong năm 2014 đã tăng hơn so với cùng kỳ năm ngoái Điều đó cho thấy dấu hiệu khởi sắc của nền kinh tế, hoạt động của doanh nghiệp
có xu hướng tích cực, tạo việc làm cho người lao động, cải thiện hiệu quả sản xuất kinh doanh, năng suất lao động được nâng lên (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2015)
Trong giai đoạn 2001 - 2010, năng suất lao động doanh nghiệp Việt Nam liên tục tăng Năm 2010, một lao động trong một doanh nghiệp trung bình đã tạo ra 11,3 triệu đồng giá trị gia tăng, tăng 49% so với 7,6 triệu đồng của năm 2001 (tính theo giá so sánh năm 1994) Mặc dù vậy, nhìn chung tốc độ gia tăng năng suất lao động còn thấp, trước hết là thấp hơn so với tốc độ tăng trưởng GDP của cả nền kinh tế Trong giai đoạn
2001 - 2007, tốc độ tăng năng suất hình thành xu hướng đi lên, năm sau cao hơn năm trước, từ 4,13% - 5,58% Tuy nhiên, do ảnh hưởng của lạm phát và suy giảm kinh tế, tốc độ tăng trưởng năng suất đã sụt giảm đáng kể trong giai đoạn 2008 - 2009, xuống
2,89% - 3,21% (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2013)
Theo Tổng cục Thống kê (2014), năm 2014 năng suất lao động xã hội theo giá hiện hành của toàn nền kinh tế ước đạt 74,3 triệu đồng/lao động (tương đương 3.515 USD) Trong đó, năng suất lao động khu vực nông, lâm và thủy sản đạt 28,9 triệu đồng (bằng 38,9% mức chung), công nghiệp và xây dựng là 133,4 triệu đồng, khu vực thương mại dịch vụ đạt 100,7 triệu đồng Tính theo giá so sánh năm 2010, năng suất lao động toàn nền kinh tế năm 2014 ước tính tăng 4,3% so với năm 2013 Trong đó, năng suất lao động khu vực nông, lâm và thủy sản tăng 2,4%, công nghiệp và xây dựng tăng 4,3%, thương mại dịch vụ tăng 4,4% Năng suất lao động của Việt Nam liên tục tăng trong giai đoạn 2005 - 2014, tốc độ bình quân đạt 3,7% mỗi năm Rõ ràng, các điều kiện vĩ mô có tác động trực tiếp đến năng suất lao động của các doanh nghiệp
Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO, 2013), năng suất lao động của Việt Nam thuộc nhóm thấp nhất khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (năng suất lao động của nước
ta thấp hơn Singapore 15 lần, thấp hơn Nhật Bản 11 lần và thấp hơn Hàn Quốc 10 lần) Hiện có 80% lao động Việt Nam là lao động phổ thông, trình độ thấp, phần lớn người lao động trải qua quá trình đào tạo chưa thực sự phù hợp với những yêu cầu trình độ
Trang 123
chung của khu vực và thế giới; tỷ lệ lao động qua đào tạo ở nước ta đến năm 2014 mới đạt 40%, trong khi Singapore đạt 62%, Hàn Quốc là 62% Như vậy, với chất lượng nguồn nhân lực chưa được cải thiện và nâng cao thì giải pháp tăng năng suất lao động vẫn còn là bài toán khó khăn
Năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế thấp là hai vấn đề lớn mà Việt Nam đang phải đối mặt hiện nay, bởi vì năng suất lao động và việc làm là nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế Vốn đầu tư nước ngoài sẽ rời khỏi Việt Nam nếu như chúng ta không có những biện pháp giúp cải thiện năng suất lao động, phát triển nguồn nhân lực hiện đại, tiên tiến, phù hợp với nhu cầu phát triển của khu vực và thế giới Hệ quả tất yếu của những bất cập trong nguồn lao động nước ta hiện nay là sẽ không tạo công ăn việc làm, người lao động sẽ mất việc, không được hưởng các chế độ đãi ngộ, từ
đó làm cho nền kinh tế giảm sút và ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển của đất nước Đối với các doanh nghiệp, việc tăng năng suất lao động càng có ý nghĩa quan trọng, nó
là một trong những chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và
là một yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
Việc xác định các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất lao động của doanh nghiệp ở Việt Nam là một vấn đề rất quan trọng, giúp các doanh nghiệp và cơ quan chức năng đưa ra các giải pháp cần thiết nhằm nâng cao năng suất lao động để từ đó nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế Thêm vào đó, Việt Nam vốn có đặc điểm vùng miền kinh tế
và được chia thành 8 vùng kinh tế có mối liên hệ khá giống nhau về địa lý ở từng vùng Năng suất lao động ở từng vùng có thể khác nhau và các yếu tố ảnh hưởng tới năng suất lao động ở từng vùng cũng có thể khác nhau Việc tìm hiểu về vấn đề này có thể giúp ích cho các doanh nghiệp và các cơ quan quản lý nhà nước cấp địa phương trong từng vùng có những giải pháp thiết thực hơn và từ đó có thể thúc đẩy các liên kết kinh tế trong vùng mang tính tích cực hơn
Như vậy, để làm rõ vấn đề này, việc lựa chọn và thực hiện đề tài: “Các yếu tố tác động đến năng suất lao động của các doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 2010 - 2014”
là cần thiết
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Với vấn đề nghiên cứu được đặt ra, đề tài này mong muốn đạt các mục tiêu sau: (i) Xác định các yếu tố tác động đến năng suất lao động
Trang 134
(ii) Xác định mức độ tác động của các yếu tố đó đến năng suất lao động của các doanh nghiệp ở Việt Nam nói chung và từng vùng kinh tế khác nhau của cả nước
(iii) Các khuyến nghị nhằm tăng năng suất lao động cho các doanh nghiệp nói
riêng và nền kinh tế nói chung
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu trên, đề tài cần trả lời 03 câu hỏi nghiên cứu sau:
(i) Các yếu tố nào tác động đến năng suất lao động và mức độ tác động của các yếu tố đó đến năng suất lao động của các doanh nghiệp ở Việt Nam?
(ii) Những yếu tố tác động này thay đổi như thế nào đối với những doanh nghiệp trong từng vùng kinh tế khác nhau?
1.4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là năng suất lao động của các doanh nghiệp đang hoạt động ở Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các doanh nghiệp đang hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam từ năm 2010 đến năm 2014
Dữ liệu nghiên cứu: Nguồn dữ liệu thứ cấp thu thập từ kết quả điều tra của 386.082 doanh nghiệp, giai đoạn năm 2010 - 2014 của Tổng Cục Thống kê
1.5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Sau quá trình phân tích tìm hiểu, đề tài tập trung đo lường các yếu tố tác động đến năng suất lao động của các doanh nghiệp, mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố và các yếu tố tác động này thay đổi như thế nào đối với những doanh nghiệp trong từng vùng kinh tế khác nhau Dựa vào kết quả phân tích hồi quy, các khuyến nghị phù hợp được đề nghị nhằm nâng cao năng suất lao động cho các doanh nghiệp Việt Nam
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ tác động tích cực đến quyết định của người quản
lý doanh nghiệp và các cơ quan quản lý nhà nước Trung ương, cấp địa phương trong từng vùng nhằm phát triển tình hình kinh tế - xã hội, thúc đẩy các liên kết kinh tế trong vùng Đối với doanh nghiệp khi biết các yếu tố tác động nên năng suất lao động, mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố sẽ đưa ra các quyết định hợp lý, chính xác nhằm nâng cao năng suất lao động của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp phát triển tốt hơn Đối với cơ quan quản lý nhà nước sẽ có những giải pháp thiết thực hơn giúp cho doanh nghiệp cải
Trang 145
thiện vấn đề năng suất lao động, từ đó tạo nguồn thu ngân sách thông qua chính sách thuế, cải thiện thu nhập cho người lao động, giải quyết được các vấn đề an sinh xã hội,
thúc đẩy các liên kết kinh tế trong vùng mang tính tích cực hơn
1.6 Kết cấu của đề tài
Chương 1: Tổng quan: Chương này giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu: lý
do nghiên cứu; mục tiêu nghiên cứu; câu hỏi nghiên cứu; đối tượng, phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu và kết cấu của đề tài
Chương 2: Cơ sở lý thuyết: Chương này sẽ trình bày những cơ sở lý thuyết liên
quan đến lao động, năng suất lao động, doanh nghiệp, lý thuyết kinh tế về hàm sản xuất, hàm sản suất Cobb - Douglas, các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất lao động Nêu lại tổng quan các nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài Từ đó, xác định các nhân tố tác động đến năng suất lao động trong doanh nghiệp và đưa ra mô hình nghiên cứu đề xuất
Chương 3: Phương pháp và mô hình nghiên cứu: Trên cơ sở lý thuyết, tổng
quan các nghiên cứu trước và những đặc điểm của địa bàn nghiên cứu, chương này sẽ trình bày phương pháp nghiên cứu, mô hình nghiên cứu và nguồn dữ liệu cho mô hình nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu: Trình bày kết quả nghiên cứu, phân tích thống
kê mô tả dữ liệu nghiên cứu, phân tích kết quả của mô hình kinh tế lượng để trả lời các câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu và kiểm định các giải thuyết được đặt ra
Chương 5: Kết luận và đề xuất khuyến nghị: Dựa vào kết quả nghiên cứu, một
số khuyến nghị được đề xuất nhằm nâng cao năng suất lao động Đồng thời chương này cũng nêu ra những hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo
Trang 156
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Trong chương này sẽ trình bày các lý thuyết về năng suất lao động doanh nghiệp, chủ yếu nhấn mạnh cách tính năng suất lao động để thực hiện đưa ra mô hình nghiên cứu cùng các giải thuyết nghiên cứu ở chương sau
2.1 Khái niệm năng suất và năng suất lao động
Theo Baines (1997a), năng suất là việc sử dụng tối đa các nguồn lực của một tổ chức để đạt kết quả đề ra Thực hiện tăng năng suất khi doanh nghiệp tạo ra nhiều đầu ra hơn cùng một lượng đầu vào nhất định hoặc sản xuất cùng một lượng đầu ra với đầu vào
ít hơn
Ross và Khleef (2002) cho rằng, năng suất là việc tạo ra và cung cấp các sản phẩm, dịch vụ mà sử dụng được mọi nguồn lực về vật chất và con người để thỏa mãn nhu cầu của khách hàng, cải thiện chất lượng cuộc sống của con người và bảo vệ môi trường Năng suất được thực hiện thông qua nỗ lực của con người trong sản xuất gắn liền với văn hóa xã hội nhất định
Theo Robbins (2001), năng suất là việc đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách tiến hành biến đổi các đầu vào thành đầu ra ở mức chi phí thấp nhất Khi đó năng suất doanh nghiệp ảnh hưởng bởi hiệu suất và hiệu quả
Tangen (2005) định nghĩa, năng suất là một thuật ngữ có nghĩa rộng, ý nghĩa có thể thay đổi tùy theo mục tiêu sử dụng Nâng cao năng suất doanh nghiệp không phải chỉ tập trung vào cắt giảm chi phí, mà phải kết hợp giữa hiệu quả và hiệu suất trong quá trình chuyển đổi Quá trình này được thực hiện thông qua hệ thống từ đầu quá trình đến cuối Đối với một doanh nghiệp sản xuất, trên góc độ quản lý, năng suất là việc sử dụng tối ưu các nguồn lực để tạo ra sản phẩm đáp ứng tốt nhất những yêu cầu của khách hàng (Bernolak, 1997, trích trong Tangen, 2005) Định nghĩa này nêu ra hai đặc tính quan trọng: thứ nhất, năng suất liên quan mật thiết với việc sử dụng các nguồn lực (hiệu suất); thứ hai, năng suất có mối liên hệ chặt chẽ với việc thỏa mãn khách hàng (hiệu quả) Quan điểm này tương đồng với quan điểm năng suất theo cách tiếp cận mới, tức là năng suất phải bao gồm cả tính hiệu suất và hiệu quả
Trang 16Theo Rolstadas (1998), năng suất là tỷ số giữa đầu ra và đầu vào Nó đo lường hiệu suất sử dụng nguồn lực để sản xuất đầu ra cần thiết và phản ánh sự thay đổi trong năng suất OECD (2002), năng suất lao động là tỷ lệ giữa kết quả đầu ra so với số lượng lao động đầu vào trong một khoảng thời gian cụ thể
Kinh tế học chính trị Mác - Lê Nin (2011), năng suất lao động là hiệu quả, hiệu suất của lao động trong quá trình sản xuất Năng suất lao động được tính bằng số lượng sản phẩm được sản xuất ra trong một đơn vị thời gian lao động, hay lượng thời gian cần thiết để sản xuất ra một sản phẩm
Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh (2012) cho rằng, năng suất lao động là hiệu quả lao động có ích của con người trong một đơn vị thời gian Năng suất lao động được
đo bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hoặc lượng thời gian lao động hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm Nói đến năng suất lao động là nói đến kết quả hoạt động sản xuất của con người trong một đơn vị thời gian nhất định Công thức chung để tính năng suất lao động:
- t: Thời gian để sản xuất ra lượng sản phẩm đó
Trong quá trình sản xuất ra sản phẩm có hai loại lao động hao phí: Lao động sống và lao động vật hóa Chi phí lao động sống là sức lực của con người bỏ ra ngay
Trang 178
trong quá trình sản xuất Chi phí lao động quá khứ là loại chi phí được biểu hiện ở giá trị của máy móc, thiết bị, nguyên nhiên vật liệu, năng lượng,…là loại lao động đã được vật hóa hay được chuyển vào giá trị sản phẩm
Adam Smith (1776), hiệu quả sản xuất phụ thuộc vào số lượng lao động và khả năng sản xuất của lao động Krugman (1994) đã nhận định rằng năng suất tuy không phải là thứ quyết định tất cả nhưng trong dài hạn nó lại là thứ quyết định tất cả và tiêu chuẩn sống của một quốc gia sẽ phụ thuộc vào khả năng tăng năng suất của người lao động trong quốc gia đó
Trong quá trình tìm hiểu về năng suất và năng suất lao động, có rất nhiều khái niệm được đưa ra như trên, vai trò của năng suất được nhìn nhận rất rộng rãi trong các tác phẩm kinh tế học vì tầm quan trọng của nó Tuy nhiên, năng suất theo Rolstadas (1998), Prokopenko (1996), Adam Smith (1776), Krugman (1994) và năng suất lao động theo OECD (2002) được vận dụng vào đề tài nghiên cứu
Theo OECD (2001), Năng suất thường được định nghĩa là một tỷ lệ của một thước đo khối lượng đầu ra cho một biện pháp đầu vào sử dụng và được đặt trong mối liên hệ với các biến số vĩ mô khác (theo góc độ năng suất quốc gia) hoặc với các biến số
vi mô trong doanh nghiệp (theo góc độ năng suất của doanh nghiệp) Năng suất bao gồm nhiều yếu tố trong đó có: Năng suất vốn và năng suất lao động Năng suất lao động
là một chỉ tiêu kinh tế vì nó cung cấp một biện pháp năng động của tăng trưởng kinh tế, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và là thước đo của hiệu quả lao động
Năng suất thường được tiếp cận ở hai góc độ: góc độ quốc gia và góc độ doanh nghiệp Ở cả hai góc độ, năng suất nói chung được hiểu là tỷ lệ giữa kết quả đầu ra so với khối lượng nguồn lực đầu vào (OECD, 2008) Hiểu theo cách đơn giản, năng suất là thước đo mức độ hiệu quả của các hoạt động tạo ra kết quả đầu ra (số lượng, giá trị gia tăng) từ các yếu tố đầu vào (lao động, vốn, nguyên liệu, năng lượng…) Vì lao động là một yếu tố đầu vào quan trọng nên năng suất lao động là một thuật ngữ để hàm ý mức
độ hiệu quả của việc sử dụng lao động, theo đó năng suất lao động là tỷ lệ giữa kết quả đầu ra so với số lượng lao động đầu vào trong một khoảng thời gian cụ thể (OECD, 2002)
Do vậy, cách nhìn nhận theo hướng này khá dễ dàng tiếp cận, tính toán nhanh và đưa ra kết quả đáng tin cậy với các số liệu điều tra từ doanh nghiệp được tổng hợp
Trang 189
2.2 Phương pháp đo lường năng suất lao động
Theo OECD (2001), để tính năng suất lao động một biện pháp hiệu quả có thể được đo bằng nhiều cách khác nhau Năng suất lao động tương đương với tỷ lệ giữa một thước đo khối lượng của đầu ra (tổng sản phẩm trong nước hay tổng giá trị gia tăng) và một biện pháp sử dụng đầu vào (tổng số giờ làm việc hoặc tổng số việc làm) Năng suất lao động = đo khối lượng của đầu ra / biện pháp sử dụng đầu vào
Đo khối lượng của đầu ra: Các biện pháp khối lượng đầu ra phản ánh hàng hóa
và dịch vụ được sản xuất bởi lực lượng lao động Tử số của tỷ lệ năng suất lao động, các biện pháp khối lượng đầu ra được đo bằng cách thu nội địa sản phẩm (GDP) hoặc tổng giá trị gia tăng (GVA)
Biện pháp sử dụng đầu vào: Các biện pháp sử dụng đầu vào phản ánh thời gian, công sức và kỹ năng của lực lượng lao động Mẫu số của tỷ lệ năng suất lao động, các biện pháp đầu vào là yếu tố quan trọng nhất có ảnh hưởng đến các biện pháp của năng suất lao động Đầu vào lao động được đo bằng cách tổng số giờ làm việc của tất cả các người làm việc hoặc tổng số lao động (số đầu)
Theo OECD (2001), chi phí đơn vị lao động (ULC) đo lường chi phí trung bình của lao động trên một đơn vị sản lượng Chúng được tính bằng tỷ lệ tổng chi phí lao động để sản lượng thực tế, hoặc tương đương, như tỷ lệ chi phí lao động trung bình mỗi giờ năng suất lao động (sản lượng mỗi giờ lao động) Năng suất lao động cho mỗi người
sử dụng được định nghĩa là sản lượng thực tế (giá trị gia tăng) chia cho tổng số người có làm việc
Drucker (1974) đã mô tả sự hữu ích và tầm quan trọng của đo lường năng suất trong hoạt động quản trị của doanh nghiệp, trong đó: nếu doanh nghiệp không có mục tiêu năng suất thì doanh nghiệp đó không có định hướng Hơn nữa, nếu doanh nghiệp không đo lường năng suất, doanh nghiệp sẽ không thể kiểm soát được hoạt động của mình
Theo APO (1996), năng suất thường được đo lường bằng tỷ lệ giữa lượng đầu ra trên đầu vào và phù hợp với cách đo lường của OECD (2001, 2002) Do có nhiều loại đầu vào cũng như đầu ra khác nhau nên xuất hiện nhiều chỉ số năng suất khác nhau Lao động là một loại đầu vào, nếu xác định được loại đầu ra của doanh nghiệp thì sẽ có chỉ
số đo lường năng suất của người lao động tùy theo đặc điểm của đầu ra
Trang 19số lao động
- Năng suất lao động tính bằng giá trị: Theo chỉ tiêu này tất cả sản lượng, sản phẩm hàng hóa tạo ra của doanh nghiệp đều quy về tiền Công thức tính:
Trong đó: W là mức năng suất lao động của một công nhân Q thường được đo lường bằng doanh thu, và T là tổng số lao động của doanh nghiệp
- Năng suất lao động tính bằng thời gian lao động: Đó là thời gian hao phí cần thiết để làm ra một đơn vị sản phẩm
Trong đó: L là lượng lao động hao phí cho một đơn vị sản phẩm (tính bằng đơn
vị thời gian); T là thời gian lao động đã hao phí; Q là số lượng sản phẩm (hoặc giá trị)
Công thức đo lường năng suất theo giá trị sẽ được dùng trong đề tài vì có ưu điểm là tính đơn giản, dễ đo lường của chỉ số Chỉ tiêu này có thể dùng tính chung cho các loại sản phẩm khác nhau, nó khắc phục được nhược điểm của chỉ tiêu hiện vật, phạm
vi sử dụng rộng rãi và có thể dùng chỉ tiêu này để so sánh năng suất lao động giữa các ngành khác nhau
2.3 Lý thuyết các yếu tố tác động tới năng suất lao động
2.3.1 Lý thuyết về năng suất
Kinh tế học tân cổ điển là một trường phái kinh tế học có trọng tâm nghiên cứu là
cơ chế quyết định giá cả, sản lượng, phân phối thu nhập thông qua nguyên lý cung - cầu dựa trên các giả định về hành vi tối đa hóa thỏa dụng của người tiêu dùng trong điều
Trang 2011
kiện một ngân sách giới hạn hay tối đa hóa lợi nhuận của nhà sản xuất trong điều kiện chi phí bị giới hạn Kinh tế học tân cổ điển khởi đầu bằng kinh tế học vi mô từ nửa cuối thế kỷ 19; đến nay hầu hết các lý luận kinh tế học vi mô đều là do họ đóng góp Kinh tế học tân cổ điển đóng góp vào kinh tế học vĩ mô chủ yếu từ sau chiến tranh thế giới thứ hai Trong khía cạnh năng suất, hàm năng suất được xác định như sau:
Bắt đầu từ hàm sản xuất: Yt = F (Kt, AtLt)
Trong đó: Yt là sản lượng đầu ra tối đa có thể sản xuất được; Kt là vốn (vốn ở đây được hiểu là vốn hiện vật, tồn tại dưới dạng nhà xưởng, máy móc hay thiết bị tồn kho);
Lt là lao động; At là công nghệ; f là một hàm số của các yếu tố đầu vào K, L, A
Chia cả hai vế cho Lt, khi đó hàm sản xuất trở thành một hàm năng suất theo lao động như sau: Yt
Trang 21Vào năm 2000, Kalemli - Ozcan và ctg (2000) mở rộng mô hình sản xuất của Mankiw và ctg (1990), theo đó vốn con người được đại diện bởi hai yếu tố là sức khỏe (H) và giáo dục (E):
2.3.2 Lý thuyết các yếu tố tác động tới năng suất lao động
Hàm sản xuất dưới góc độ kinh tế học tuy cung cấp một khung lý thuyết để tiếp cận tới việc tìm hiểu những yếu tố cơ bản tác động tới năng suất Tuy nhiên điểm yếu của các mô hình này là bị bó buộc vào các hàm sản xuất Hàm sản xuất phát triển các nhân tố tới đâu thì mô hình năng suất phát triển tới đó vì vậy các nhân tố ảnh hưởngtới năng suất bị giới hạn (Papadogonas và Voulgaris, 2005) Các nghiên cứu khác nhau trong lĩnh vực năng suất có thể vừa áp dụng hàm năng suất và vừa áp dụng góc tiếp cận khác (ví dụ: lĩnh vực quản trị) để tìm ra các yếu tố ảnh hưởng tới năng suất Các yếu tố này có thể là: vốn, năng lực của người lao động, thu nhập của người lao động, loại hình doanh nghiệp, khả năng xuất khẩu, trình độ công nghệ, đặc điểm khu vực địa lý, kinh nghiệm thị trường của doanh nghiệp, đặc điểm ngành, vốn đầu tư (Datta, và ctg, 2005)
Giá trị tài sản của doanh nghiệp
Vốn của doanh nghiệp đã được biến đổi toán học thuần túy trở thành các mô hình năng suất Trong mô hình năng suất, yếu tố này được tính toán là mức vốn trung bình đầu tư cho một người lao động (K/L) (Datta, và ctg, 2005) Ở góc độ tiếp cận theo
Trang 2213
hướng quản trị doanh nghiệp, vốn của doanh nghiệp có thể hiểu là vốn chủ sở hữu hoặc tổng vốn Các nghiên cứu thường sử dụng yếu tố tổng tài sản của doanh nghiệp khi tìm hiểu mối liên hệ của yếu tố này tới năng suất của người lao động Doanh nghiệp có tổng tài sản càng cao thường có xu hướng đầu tư vào trang thiết bị hiện đại và từ đó thúc đẩy năng suất lao động tăng lên Oulton (1998) cũng nhận định tương tự và tìm thấy mối quan hệ cùng chiều giữa quy mô tài sản và năng suất lao động
Vốn đầu tư tăng thêm hàng năm
Doanh nghiệp khi tăng thêm một lượng đầu tư chứng tỏ doanh nghiệp muốn cải thiện hoạt động kinh doanh thông qua việc mở rộng lĩnh vực hiện thời hoặc mở rộng sang lĩnh vực kinh doanh khác Thông thường, việc này là một chỉ báo chứng tỏ doanh nghiệp có cải thiện yếu tố công nghệ (A) nhằm nâng cao năng suất, cải thiện cạnh tranh của doanh nghiệp trong trường hợp doanh nghiệp đầu tư cải thiện lĩnh vực kinh doanh chính (Thomas và ctg, 1990)
Hoạt động đầu tư cho khoa học kỹ thuật, công nghệ sản xuất có vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng suất lao động, đây là yếu tố mạnh mẽ nhất làm tăng năng suất lao động Trình độ kỹ thuật của sản xuất được biểu hiện thông qua tính năng của công cụ sản xuất, trình độ sáng chế và sử dụng các đối tượng lao động, các quá trình công nghệ sản xuất, máy móc hiện đại là yếu tố mạnh mẽ làm tăng năng suất lao động,
sự phát triển của lực lượng sản xuất thường bắt đầu từ sự thay đổi của công cụ sản xuất, lấy máy móc thay thế cho lao động thủ công, lấy máy móc hiện đại thay thế cho máy cũ (Phan Công Nghĩa, 1999)
Ứng dụng rộng rãi các nguyên vật liệu mới, có những tính năng cao hơn, giá rẻ hơn, tiết kiệm nguyên vật liệu, tiết kiệm lao động, trong một đơn vị thời gian sản xuất ra nhiều sản phẩm hơn, nó không chịu tác động các giới hạn sinh lý như con người, cho nên khả năng tăng năng suất lao động lớn Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp đầu tư vào những lĩnh vực mà doanh nghiệp không có chuyên môn hoặc không có kinh nghiệm thì năng suất lao động có thể bị phá hủy (Thomas và ctg, 1990)
Thu nhập của người lao động
Thu nhập của người lao động tuy không được đề cập trực tiếp trong các mô hình năng suất của kinh tế học nhưng thông qua việc có được mức thu nhập cao, người lao
Trang 23lệ người lao động và từ đó họ có động lực nâng cao năng suất của mình
Nghiên cứu trên thực nghiệm của Zwick (2004) và Conti (2005), đã tìm thấy ảnh hưởng tích cực của tiền lương tới năng suất lao động Trong khi đó Crépon và ctg (2002) và Hellerstein và ctg (1999) tìm thấy tác động của tiền lương tới năng suất lao động Các tác giả trên phát hiện sự tồn tại của một khoảng cách giữa năng suất lao động
và tiền lương có xu hướng mở rộng với độ tuổi, tiền lương tiếp tục tăng theo tuổi tác của người lao động trong khi năng suất ngừng tăng tại một thời điểm hoặc thậm chí giảm
Nghiên cứu của Trần Thị Kim Loan và Bùi Nguyên Hùng (2009) về các yếu tố ảnh hưởng đến NSLĐ của các doanh nghiệp trong ngành may ở Việt Nam cho rằng, thu nhập của người lao động có ảnh hưởng nhiều đến năng suất của doanh nghiệp Thu nhập của người lao động phụ thuộc vào đơn giá gia công và NSLĐ
Loại hình kinh tế của doanh nghiệp
Loại hình doanh nghiệp có ảnh hưởng đáng kể tới năng suất lao động vì mỗi loại hình doanh nghiệp có thể đặc trưng cho một đặc điểm quản lý khác nhau (Rice và Patacchini, 2006), ví dụ, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) có trình độ quản
lý tổng thể tốt hơn nên năng suất lao động sẽ cao hơn loại hình doanh nghiệp tư nhân trong nước Hoặc doanh nghiệp nhà nước ở các nước đang phát triển thường hoạt động trì trệ hơn các loại hình doanh nghiệp khác và vì thế năng suất lao động thường thấp hơn
Tại Việt Nam, có nhiều hình thức phân loại khác nhau trong đó hình thức sở hữu
là một căn cứ phân loại chính Theo cách này có thể phân loại doanh nghiệp thành:
Trang 24- Doanh nghiệp tư nhân: Quốc hội (2014), quy định doanh nghiệp tư nhân là do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp
- Công ty hợp danh: Quốc hội (2014), quy định Công ty hợp danh phải có ít nhất hai thành viên hợp danh; ngoài các thành viên hợp danh còn có thành viên góp vốn; Thành viên hợp danh phải là cá nhân có trình độ chuyên môn và uy tín nghề nghiệp và phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty (trách nhiệm vô hạn); Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty
- Công ty TNHH một thành viên: Quốc hội (2014), quy định Công ty TNHH một thành viên chủ sở hữu công ty phải là một tổ chức hoặc cá nhân và có thể là Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang, các pháp nhân của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị –
xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, các loại doanh nghiệp, các tổ chức khác theo quy định của pháp luật
- Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên: Quốc hội (2014), quy định Công ty TNHH hai thành viên trở lên có hình thức sở hữu của công ty là thuộc hình thức sở hữu chung của các thành viên công ty; Thành viên của công ty có thể là tổ chức,
cá nhân; số lượng thành viên mỗi công ty không ít hơn hai và không vượt quá năm mươi; Công ty không được quyền phát hành cổ phần
- Công ty cổ phần: Quốc hội (2014), quy định là Công ty cổ phần là Công ty có vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế tối đa; Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn, theo quy định của pháp luật về chứng khoán
Trang 2516
- Doanh nghiệp có vốn đầu tư của nước ngoài: Quốc hội (2014), quy định doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bao gồm doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam; doanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại Khu vực có vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài gồm các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài, không phân biệt tỷ
lệ vốn của bên nước ngoài góp là bao nhiêu Khu vực này có hai loại hình chủ yếu là doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài và doanh nghiệp liên doanh giữa nước ngoài với các đối tác trong nước
- Doanh nghiệp nhà nước: Quốc hội (2014), là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ
Theo nghiên cứu của Nguyễn Bá Ngọc, Phạm Minh Thu (2015), khu vực có năng suất lao động cao nhất là khu vực đầu tư nước ngoài đạt 392,4 triệu đồng/người, bằng 5,7 lần năng suất lao động chung nhưng lao động khu vực này chỉ bao phủ 3,4% lao động có việc làm cả nước Nhìn chung các thành phần sở hữu đều có tốc độ tăng năng suất lao động ổn định ở mức 3-4%/năm
Khu vực địa lý (đặc điểm vùng miền)
Các khu vực địa lý kinh tế khác nhau thường có những đặc điểm về tự nhiên, kinh tế và xã hội khác nhau và ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp tới doanh nghiệp cũng như ảnh hưởng tới khả năng làm việc của người lao động (Rice và Patacchini, 2006) Những doanh nghiệp đặt ở khu vực kinh tế phát triển sẽ nhận được lực lượng lao động
có trình độ cao và năng suất lao động vì thế sẽ tăng cao hơn Tại Việt Nam, hiện nay có hai cách phân chia khu vực kinh tế: phân chia theo khu vực kinh tế trọng điểm và phân chia theo khu vực địa lý kinh tế, việc phân chia theo khu vực kinh tế trọng điểm phục vụ cho mục đích quản lý chiến lược của Nhà nước để thúc đẩy kinh tế các khu vực trọng điểm và nó sẽ không bao quát hết các tỉnh thành khác, trong khi đó việc phân chia địa lý đảm bảo được sự liên kết vùng theo các yếu tố tự nhiên, văn hóa và xã hội
Theo tài liệu VHLSS (kết quả khảo sát mức sống dân cư năm 2010 - 2014 của Tổng cục Thống kê) có 3 cách phân chia theo vùng địa lý kinh tế: Chia theo thành thị - nông thôn, chia theo 6 vùng địa lý kinh tế và chia theo 8 vùng địa lý kinh tế, đề tài chọn cách chia theo 8 vùng kinh tế để tạo sự tương đồng về mặt địa lý, các yếu tố tự nhiên, văn hóa và xã hội Theo cách phân chia này, Việt Nam được chia thành 8 vùng kinh tế
Trang 2617
để tìm hiểu về các yếu tố tác động tới năng suất lao động của 8 vùng kinh tế: (1) Vùng Đông Bắc; (2) Vùng Tây Bắc; (3) Vùng Đồng bằng Sông Hồng; (4) Vùng Bắc Trung Bộ; (5) Vùng Duyên hải Miền Trung; (6) Vùng Tây Nguyên; (7) Vùng Đông Nam Bộ; (8) Vùng Đồng bằng sông Cửu Long
Lĩnh vực kinh doanh
Các lĩnh vực kinh doanh khác nhau của doanh nghiệp thường đại diện cho đặc điểm doanh nghiệp nên sử dụng nhiều hàm lượng chất xám hay nên sử dụng sức lao động thuần túy Ví dụ, trong các ngành công nghệ cao, năng suất lao động thường rất cao vì hoạt động đầu tư vào công nghệ là mấu chốt thành công của doanh nghiệp Trong khi đó những ngành thâm dụng lao động như da giày, dệt may… thì cần số lượng lao động lớn và sử dụng rất nhiều các thao tác thủ công nên năng suất lao động sẽ không cao bằng(Phan Công Nghĩa, 1999)
Theo Lưu Đức Khải (2014), năng suất lao động trong nông nghiệp của Việt Nam thấp nhất so với năng suất của lao động chung của toàn nền kinh tế và thấp nhất trong số lao động lao động làm việc trong các ngành của nền kinh tế Nguyên nhân dẫn tới năng suất lao động nông nghiêp của Việt Nam thấp hơn so với năng suất lao động trong các ngành kinh tế khác và thấp hơn so với năng suất lao động nông nghiệp của các nước trong khu vực do xuất phát từ đặc điểm của sản xuất nông nghiệp, điều kiện và khai thác
về sử dụng nguồn lực cho phát triển nông nghiệp ở Việt Nam
Theo Phạm Mạnh Thùy (2014), xét cơ cấu lao động theo ngành, lao động làm việc trong khu vực có năng suất lao động thấp và tăng chậm, vẫn còn số lượng lớn và tỷ trọng cao Trong thời gian qua, mặc dù có chuyển dịch lao động từ khu vực nhà nước sang khu vực khác, vẫn còn tới 48% lao động tập trung trong khu vực nông nghiệp (khu vực có năng suất lao động thấp nhất và tăng chậm) Năng suất lao động khu vực nông nghiệp chỉ bằng 37,5% mức năng suất lao động trung bình của nền kinh tế, bằng 27,3% năng suất lao động khu vực dịch vụ và 20,5% năng suất lao động khu vực công nghiệp
và xây dựng
Trình độ quản lý
Theo Vũ Thị Loan (2015), chất lượng lao động bao gồm trình độ văn hóa, chuyên môn, tay nghề, kỹ năng, năng lực, sức khỏe của đội ngũ lao động Trình độ văn hoá là sự hiểu biết cơ bản của người lao động về tự nhiên và xã hội Người có trình độ
Trang 2718
văn hóa sẽ có khả năng tiếp thu và vận dụng một cách nhanh chóng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, đồng thời trong quá trình làm việc họ không những vận dụng tốt mà còn linh hoạt, sáng tạo các công cụ sản xuất để tạo ra hiệu quả làm việc cao nhất Trình độ chuyên môn là sự hiểu biết, khả năng thực hành về chuyên môn nào đó, có khả năng quản lý một công việc thuộc một chuyên môn nhất định Sự hiểu biết về chuyên môn càng sâu, các kỹ năng, kỹ xảo nghề càng thành thạo bao nhiêu thì thời gian hao phí của lao động càng được rút ngắn từ đó góp phần nâng cao năng suất lao động
Trình độ văn hoá và trình độ chuyên môn có ảnh hưởng lớn đến chất lượng lao động Nếu trình độ văn hóa và trình độ chuyên môn kém thì năng suất lao động sẽ kém
và ngược lại Trong thời đại ngày nay, khoa học ngày càng phát triển, các công cụ đưa vào sản xuất ngày càng hiện đại, đòi hỏi người lao động phải có trình độ chuyên môn tương ứng Nếu thiếu trình độ chuyên môn người lao động sẽ không thể điều khiển được máy móc, không thể nắm bắt được các công nghệ hiện đại (Phan Công Nghĩa, 1999)
2.4 Một số nghiên cứu thực nghiệm có liên quan
Trong nhiều năm qua thì năng suất lao động của doanh nghiệp đã được đem ra thảo luận, nghiên cứu, phân tích Có nhiều bài viết về năng suất lao động theo những hướng đi khác nhau, nhưng nghiên cứu thực nghiệm có liên quan dưới đây được tìm thấy với nhiều khía cạnh của năng suất lao động được khám phá cho tác giả học hỏi thêm
(i) Nghiên cứu của Trần Thị Kim Loan (2004)
Cùng với cách tiếp cận năng suất doanh nghiệp theo tổ chức quản lý và chất lượng thì trong nước có nghiên cứu của Trần Thị Kim Loan (2004), nghiên cứu này thực hiện quan sát 52 doanh nghiệp may trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh Nghiên cứu được thực hiện thông qua bản phỏng vấn được gửi đến các nhà quản lý doanh nghiệp, thang đo Likert 5 điểm (ảnh hưởng rất ít đến ảnh hưởng rất nhiều)
Kết qủa nghiên cứu này đã tìm ra 7 yếu tố chính: thu nhập công nhân; trình độ, khả năng chuyên môn của chuyền trưởng; trình độ quản lý của giám đốc; tay nghề và kỹ năng của công nhân; sự quan tâm và hỗ trợ của quản lý cấp cao về năng suất; kế hoạch sản xuất; cải tiến quy trình sản xuất và 5 yếu tố phụ ảnh hưởng đến năng suất của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong ngành may ở thành phố Hồ Chí Minh Tất cả các yếu tố chính
Trang 2819
và phụ đều liên quan đến người quản lý, trong đó có yếu tố chính đó là thu nhập của người lao động có ảnh hưởng nhiều đến năng suất của doanh nghiệp
(ii) Nghiên cứu của Nguyễn Quang Thái (2007)
Tác giả xử lý từ cuốn thực trạng doanh nghiệp và báo cáo nhanh điều tra doanh nghiệp năm 2005, kết quả cho thấy rằng số lao động bình quân của các doanh nghiệp ngày càng giảm dần vì ngày càng có nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia kinh doanh Năm 2005, bình quân 1 doanh nghiệp chỉ có 55 lao động/doanh nghiệp, từ con
số 84 lao động/doanh nghiệp năm 2000 Con số bình quân này khác biệt theo từng loại hình doanh nghiệp: trong khi các doanh nghiệp vừa và nhỏ ngoài nhà nước chủ yếu có quy mô 30 lao động thì doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thường có quy mô lao động lớn hơn 10 lần và không ngừng tăng, phản ánh trình độ tích tụ cao hơn
(iii) Nghiên cứu của Papadogonas và Voulgaris (2005)
Nghiên cứu được thực hiện tại Hy Lạp và tập trung vào các doanh nghiệp sản xuất từ năm 1995 tới năm 1999 với cỡ mẫu là 3.035 doanh nghiệp Mô hình nghiên cứu được hai tác giả đề xuất như sau:
Tăng trưởng năng suất lao động = f (Quy mô tổng tài sản của doanh nghiệp, tăng trưởng lượng tài sản cố định trung bình của một người lao động, xuất khẩu của doanh nghiệp, hoạt động nghiên cứu và phát triển, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, thể hiện mức độ thay đổi về đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp, độ tuổi của các doanh nghiệp, tăng trưởng lao động, doanh nghiệp đặt trụ sở chính tại Athens, doanh nghiệp đặt trụ sở chính tại Salonica, độ tuổi trung bình của các doanh nghiệp trong ngành, mức
độ tập trung vào quảng cáo của doanh nghiệp trong ngành, mức độ tập trung vào nghiên cứu và phát triển của doanh nghiệp trong ngành)
Trong đó:
- Năng suất lao động được đo lường bằng doanh thu chia tổng số lao động
- Xuất khẩu của doanh nghiệp là biến giả nhận giá trị 0 nếu doanh nghiệp không tham gia vào hoạt động xuất khẩu và nhận giá trị 1 nếu ngược lại
- Hoạt động nghiên cứu và phát triển là biến giả, nhận giá trị 0 nếu doanh nghiệp không thực hiện hoạt động nghiên cứu và phát triển, nhận giá trị 1 nếu ngược lại
- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hay là doanh nghiệp tư nhân trong nước (biến giả)
Trang 2920
- Doanh nghiệp đặt trụ sở chính tại Athens hoặc tại khu vực khác (biến giả)
- Doanh nghiệp đặt trụ sở chính tại Salonica hoặc tại khu vực khác (biến giả) Kết quả ước lượng đã cho thấy, tăng trưởng năng suất lao động chịu sự tác động dương của biến số tăng trưởng lượng tài sản cố định trung bình của một người lao động, xuất khẩu, hoạt động nghiên cứu và phát triển Trong khi đó các biến số như: Quy mô tài sản của doanh nghiệp, tăng trưởng lao động và độ tuổi của ngành có tác động âm tới tăng trưởng năng suất lao động của doanh nghiệp Các biến số còn lại không có tác động tới tăng trưởng năng suất của lao động
(iv) Nghiên cứu của Datta và ctg (2005)
Datta và ctg (2005) tìm hiểu tác động của quản trị nguồn lực con người và yếu tố ngành tới năng suất lao động thông qua việc khảo sát dữ liệu sơ cấp của 971 doanh nghiệp tại Mỹ vào năm 2000 Mô hình nghiên cứu của các tác giả như sau:
Năng suất lao động = f (tổng hợp 18 chỉ số thành phần nhằm đo lường hệ thống làm việc hiệu quả của doanh nghiệp, đặc điểm kinh doanh trong từng ngành nghiên cứu, biến kiểm soát)
Trong đó:
- Chỉ số tổng hợp gồm 18 chỉ số thành phần nhằm đo lường hệ thống làm việc hiệu quả của doanh nghiệp Hệ thống này thể hiện yếu tố quản trị nguồn lực con người trong doanh nghiệp
- Đặc điểm kinh doanh trong từng ngành nghiên cứu Biến số này đo lường mức
độ tập trung doanh thu trong từng ngành (Industry capital intensity), mức độ tăng trưởng của ngành (Industry growth) và đặc điểm kinh doanh của ngành
- Biến kiểm soát, bao gồm kích cở doanh nghiệp, tăng trưởng doanh thu của doanh nghiệp, quy mô vốn chủ sở hữu, hoạt động tham gia công đoàn và chiến lược của doanh nghiệp
Kết quả nghiên cứu cho thấy hoạt động quản trị nguồn lực con người có tác động tích cực tới năng suất trong khi đó các doanh nghiệp hoạt động trong ngành có mức độ tập trung doanh thu cao sẽ có năng suất lao động cao do yếu tố cạnh tranh Các biến số kiểm soát khác như tăng trưởng doanh thu hay chiến lược của doanh nghiệp sẽ tác động tích cực tới năng suất lao động trong khi đó hoạt động công đoàn càng mạnh thì năng
Trang 3021
suất lao động sẽ giảm Một số biến số còn lại như quy mô doanh nghiệp hay mức độ tích
tụ vốn không tác động tới năng suất lao động
(v) Nghiên cứu của Rice và Patacchini (2006)
Nghiên cứu của Rice và Patacchini (2006) tìm hiểu về các nhân tố ảnh hưởng tới năng suất lao động trong đó tập trung vào yếu tố vùng miền (Regional) tại các doanh nghiệp ở Vương quốc Anh Nghiên cứu tập trung vào thời kỳ từ 1998 tới 2001 Mô hình nghiên cứu như sau:
Năng suất lao động = f (độ tuổi trung bình của người lao động trong công ty, trình độ chuyên môn trung bình của người lao động, trình độ học vấn trung bình của người lao động, thu nhập của người lao động, đại diện cho các khu vực địa lý kinh tế khác nhau của Anh)
Kết quả ước lượng cho thấy, các yếu tố như: Độ tuổi, giáo dục hay thu nhập của người lao động đều ảnh hưởng tới năng suất lao động Yếu tố vùng miền cũng ảnh hưởng tới năng suất lao động và đặc biệt hơn các biến số độc lập sẽ có mức độ tác động khác nhau ở từng vùng khác nhau khi các tác giả thực hiện ước lượng riêng cho từng vùng
(vi) Nghiên cứu của John và ctg (2008)
Các tác giả thực hiện cuộc điều tra doanh nghiệp nhỏ và vừa lần thứ 5 năm 2007 gồm 2.492 doanh nghiệp sản xuất ngoài quốc doanh tại 3 thành phố (Hà Nội, Hải Phòng
và thành phố Hồ Chí Minh) và 7 tỉnh nông thôn (Hà Tây, Phú Thọ, Nghệ An, Quảng Nam, Khánh Hòa, Lâm Đồng và Long An) Nghiên cứu sử dụng hai công cụ để tính năng suất lao động: (1) doanh thu thực theo lao động toàn thời gian và (2) giá trị gia tăng thực theo lao động toàn thời gian, đồng thời cũng tính theo khu vực sản xuất liên quan đến năng suất của từng khu vực (theo mã số phân ngành ISIC hai chữ số)
Nghiên cứu sử dụng 1.908 quan sát cho phân tích này để tính năng suất lao động theo quy mô doanh nghiệp và địa điểm Kết quả xem xét năng suất lao động theo quy
mô doanh nghiệp, tác giả nhận thấy doanh nghiệp nhỏ (10- 49 lao động) trung bình có năng suất lao động cao nhất trong khi đó doanh nghiệp vừa (50-300 lao động) có năng suất lao động thấp nhất Hơn thế nữa, doanh nghiệp ở thành thị có năng suất lao động cao hơn doanh nghiệp nông thôn
Trang 3122
Nghiên cứu tiếp tục xác định năng suất lao động trong các doanh nghiệp chế biến Việt Nam bằng cách sử dụng các biến giải thích (địa điểm, hình thức sở hữu, khu vực và quy mô doanh nghiệp) Kết quả xác định rằng, doanh nghiệp lớn có năng suất lao động thấp hơn và doanh nghiệp hộ gia đình có năng suất thấp hơn đáng kể so với doanh nghiệp tư nhân Công ty hợp doanh/tập thể/hợp tác có năng suất lao động thấp hơn trong khi công ty TNHH có hiệu quả hoạt động tương đối lớn hơn Do vậy, nâng cao năng suất lao động cùng với sự phát triển của doanh nghiệp dường như là thách thức trong tương lai đối với khu vực kinh tế tư nhân của Việt Nam
(vii) Nghiên cứu của Fallahi và Mehin (2010)
Tác giả nghiên cứu các yếu tố quyết định năng suất lao động ở cấp độ doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất của Iran Việc phân tích dựa trên thống kê mô tả và mô hình hồi quy cắt ngang trên một mẫu của 12.299 doanh nghiệp Mô hình được sử dụng trong nghiên cứu này được thể hiện như sau:
Trong đó:
- LnLP: Là logarit của năng suất lao động Hơn nữa, năng suất lao động là bộ phận của giá trị sản xuất mỗi công ty của toàn bộ nhân viên của mình
- LH: Là tỷ lệ lao động có trình độ đại học hoặc cao hơn trong tổng lực lượng lao động công ty
- TR: Là tỷ lệ chi phí đào tạo nhân viên trong tổng chi sự nghiệp của mình
- LnK: Là cường độ vốn (logarit) Cường độ vốn là độ lệch của vốn vật chất trong nhân viên trong công ty Do thiếu tiếp cận với thông tin thống kê ở mức độ thiết bị công nghệ thông tin của các công ty, trong nghiên cứu này tương tự như Papadogonas
và Voulgaris (2005), tác giả sử dụng cường độ vốn vật chất như một tiêu chí thay thế cho các thiết bị vốn được sử dụng trong lĩnh vực công nghệ thông tin
- R: Là một biến giả để chỉ trạng thái của nghiên cứu và phát triển trong các công
ty Nó sẽ bằng 01 nếu công ty đã nghiên cứu và đơn vị phát triển, nếu không nó sẽ bằng
0
- LnS: Cho biết kích thước của công ty và là bằng logarit của bán hàng công ty
Trang 3223
- X: Là một biến giả để chỉ trạng thái xuất khẩu trong các doanh nghiệp Giá trị của nó sẽ là một nếu công ty xuất khẩu và nếu không nó sẽ bằng không
- O: Là một biến giả để chỉ ra tình trạng sở hữu của công ty Các giá trị số không
có nghĩa là các công ty thuộc sở hữu của khu vực công nếu không nó sẽ bằng một
- LnW: Là logarit thanh toán trung bình mỗi công ty cho lao động như tiền lương của họ
Tác giả sử dụng mô hình hồi quy đa biến, sử dụng phần mềm Eviews5 Các số liệu thống kê được rút ra bởi Trung tâm Thống kê Iran từ kế hoạch điều tra dân số của nhà xưởng công nghiệp có từ 10 lao động trở lên, với 12.299 công ty đã hoạt động Kết quả cho thấy, năng suất lao động là tích cực liên quan đến tiền lương cho mỗi nhân viên, định hướng xuất khẩu, hoạt động nghiên cứu phát triển và giáo dục của lực lượng lao động cố định
Mô hình ước lượng chia mẫu thành hai nhóm doanh nghiệp nhỏ với 10-49 người lao động và các doanh nghiệp lớn với 50 nhân viên và lớn hơn (các công ty lớn) Các kết quả ước lượng ở các doanh nghiệp quy mô nhỏ cho thấy rằng tác động của tỷ lệ lao động có trình độ đại học hoặc cao hơn trong tổng lực lượng lao động công ty, quy mô vốn, doanh thu bán hàng, tiền lương người lao động và xuất khẩu có tác động tích cực
và đáng kể và ảnh hưởng của tỷ lệ chi phí đào tạo nhân viên trong tổng chi sự nghiệp là tiêu cực và có ý nghĩa thống kê nhưng chi phí nghiên cứu phát triển và tình trạng sở hữu không có một tác động đáng kể đến năng suất lao động Tuy nhiên, trong các công ty lớn ảnh hưởng của hai biến này là tích cực và đáng kể
(viii) Nghiên cứu của Nuray (2010)
Tác giả sử dụng dữ liệu Top 500 công ty của Thổ Nhĩ Kỳ được thống kê bởi ICI năm 2007 Tập hợp dữ liệu là bao gồm 500 doanh nghiệp Tuy nhiên, 92 trong số đó được hủy bỏ do dữ liệu không đầy đủ, cuối cùng bộ dữ liệu bao gồm tổng cộng 408 công ty Năng suất lao động được định nghĩa là tỷ lệ giá trị gia tăng trên số lao động được sử dụng như là biến phụ thuộc và các biến độc lập bao gồm: ROS (thu nhập/bán hàng), ROE (thu nhập/vốn chủ sở hữu), ROA (thu nhập/tổng tài sản), đòn bẩy (tổng nợ/vốn chủ sở hữu), tổng doanh thu, tổng tài sản, giá trị xuất khẩu
Phân tích hồi quy OLS được sử dụng để phân tích các mối quan hệ giữa các biến
và năng suất lao động (biến phụ thuộc) Theo phân tích hồi quy OLS cho thấy, ROA và
Trang 3324
bán hàng được tìm thấy là có ý nghĩa thống kê Mức độ giải thích của mô hình là 38% (R Square = 0,38), do thiếu dữ liệu cho một số biến như cơ cấu sở hữu, trình độ quản trị doanh nghiệp, hoạt động đổi mới nên không thể đưa vào trong phân tích Theo kết quả, ROA và bán hàng là những yếu tố hiệu quả về năng suất và kết quả này là phù hợp với
lý thuyết ROA tỷ lệ phần trăm cho thấy lợi nhuận tài sản của một công ty là trong việc tạo ra doanh thu và tỷ lệ này cho một dấu hiệu của cường độ vốn của công ty Doanh số bán hàng được chấp nhận như là chỉ số về quy mô doanh nghiệp, chỉ số này ngày càng tăng là tình hình mong muốn tất cả các doanh nghiệp
(viii) Nghiên cứu của Nagler & Naudé (2014)
Hai tác giả nghiên cứu năng suất lao động trong các doanh nghiệp nông thôn ở Châu Phi, bằng chứng thực nghiệm từ LSMS-ISA Năng suất lao động bằng doanh thu trung bình hằng tháng/số lượng lao động Các cơ sở dữ liệu sẵn có của Ngân hàng thế giới bao gồm các nước trong tiểu vùng Sahara Châu Phi trong giai đoạn 2005 đến 2013, tập trung vào các quốc gia: Ethiopia, Malawi, Nigeria và Uganda
Kết quả xác nhận, các yếu tố giảm hay tăng năng suất lao động là vấn đề địa điểm Các doanh nghiệp nông thôn là kém hiệu quả hơn doanh nghiệp thành thị và các doanh nghiệp được đặt gần khu dân cư có năng suất cao hơn so với các doanh nghiệp nằm xa hơn Bằng cách ước tính Heckman 2 bước để lựa chọn và dữ liệu bảng, kết quả nghiên cứu cho thấy rằng, các doanh nghiệp hoạt động nhiều năm có năng suất lao động cao hơn, Nhóm nghiên cứu kết luận các quyết định giải quyết những thiếu sót về chính sách lao động có thể góp phần đáng kể vào một môi trường kinh doanh tốt hơn và năng suất lao động tăng lên
Bảng 2.1 Tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan
S
TT
Nội dung nghiên cứu Các yếu tố tác động Tác giả
1
Tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng
tới năng suất lao động tại các
doanh nghiệp ở Vương quốc Anh
Yếu tố vùng miền (Regional)
Rice và Patacchini (2006)
Trang 3425
quy mô doanh nghiệp; tăng trưởng lao động và độ tuổi của ngành
3
Tìm hiểu tác động của quản trị
nguồn lực con người và yếu tố
ngành tới năng suất lao động các
doanh nghiệp tại Mỹ
Hoạt động quản trị nguồn lực;
ngành có mức độ tập trung doanh thu cao; tăng trưởng doanh thu; chiến lược của doanh nghiệp; hoạt động công đoàn
Datta và ctg (2005)
4
Nghiên cứu các yếu tố quyết định
năng suất lao động ở cấp độ
doanh nghiệp trong lĩnh vực sản
xuất của Iran
Tiền lương; định hướng xuất khẩu; chi phí đào tạo và giáo dục nhân viên; tỷ lệ lao động có trình độ từ đại học trở lên; quy
mô vốn; doanh thu bán hàng
Fallahi và Mehin (2010)
5
Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng
đến năng suất lao động trong các
doanh nghiệp nông thôn ở Châu
Phi
Địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp (nông thôn, thành thị), thời gian hoạt động của doanh nghiệp, chính sách lao động
Nagler& Naudé (2014)
6
Nghiên cứu các yếu tố tác động
đến năng suất lao động của top
Nghiên cứu các yếu tố tác động
đến năng suất lao động của doanh
nghiệp sản xuất ngoài quốc doanh
tại 3 thành phố (Hà Nội, Hải
Phòng và thành phố Hồ Chí
Minh) và 7 tỉnh nông thôn (Hà
Tây, Phú Thọ, Nghệ An, Quảng
Nam, Khánh Hòa, Lâm Đồng và
Long An)
Quy mô doanh nghiệp (doanh nghiệp lớn)
John và ctg (2008)
Nghiên cứu thực trạng doanh
nghiệp và báo cáo nhanh điều tra
doanh nghiệp năm 2005
Quy mô lao động Nguyễn
Quang Thái (2007
8
Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng
đến năng suất lao động của các
doanh nghiệp vừa và nhỏ trong
Trang 3526
Tóm tắt chương 2
Trong chương 2 tác giả đã trình bày cơ sở lý thuyết thông qua các khái niệm về năng suất, năng suất lao động cùng với các phương pháp đo lường năng suất lao động của doanh nghiệp, đến các yếu tố tác động đến năng suất lao động của doanh nghiệp do các nghiên cứu trong và ngoài nước thực hiện Dựa vào các lý thuyết trên, đề tài nghiên cứu ứng dụng vào chương tiếp theo để xây dựng các giả thuyết nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và mô hình nghiên cứu để đo lường năng suất lao động của doanh nghiệp, đồng thời đưa ra các yếu tố tác động đến năng suất lao động của doanh nghiệp, mức độ tác động và tác động khác nhau như thế nào đối với từng vùng miền nghiên cứu
Trang 3627
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Trên cơ sở vấn đề nghiên cứu và các mục tiêu nghiên cứu đã đặt ra, chương này
sẽ giới thiệu phương pháp nghiên cứu, mô hình nghiên cứu để đánh giá mức độ tác động của vốn đầu tư, đặc điểm loại hình doanh nghiệp, lĩnh vực ngành nghề, thu nhập lao động, giá trị tài sản, đặc điểm vùng và các yếu tố có ảnh hưởng khác đến năng suất lao động của doanh nghiệp Đồng thời, mô tả các biến và cách thức thu thập, mô tả dữ liệu cũng sẽ được trình bày trong chương này
3.1 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các yếu tố tác động đến năng suất lao động của doanh nghiệp Phương pháp định lượng được sử dụng trong nghiên cứu này với mô hình hồi quy tuyến tính, sử dụng dữ liệu chéo nhằm xác định các nhân tố tác động đến năng suất lao động trong các doanh nghiệp Số liệu tính toán chỉ tiêu về doanh thu, lao động để tính năng suất lao động của doanh nghiệp và các biến độc lập được tính dựa trên các thông tin về quy mô vốn đầu tư, lao động, thu nhập lao động, loại hình kinh tế, đặc điểm ngành nghề, chi phí lao động, giá trị tài sản của doanh nghiệp và đặc điểm vùng kinh tế được lấy từ phiếu thu thập thông tin điều tra doanh nghiệp, hợp tác xã từ năm 2010 đến năm 2014 của Tổng cục Thống kê
Phân tích dữ liệu đề tài được thực hiện xử lý tính toán từ nguồn dữ liệu thứ cấp thông qua bảng tính Excel, SPSS, sau đó đưa vào phần mềm Stata 13.1 để phân tích định lượng, tính toán các bài toán về thống kê mô tả và phân tích hồi quy Phân tích thống kê mô tả tiến hành kiểm tra các biến trong mẫu thông qua bảng tính Excel để tổng hợp các giá trị (giá trị nhỏ nhất, giá trị lớn nhất, giá trị trung bình, độ lệch chuẩn của từng biến trong mô hình) Phân tích mối tương quan giữa các biến nhằm đưa ra mối quan hệ giữa các biến Ma trận tương quan giúp chúng ta xem xét tổng quát mối quan hệ của từng biến độc lập với biến phụ thuộc và giữa những biến độc lập với nhau Trong phân tích tương quan cần chú ý đến các liên hệ tương quan chặt chẽ với nhau giữa các biến độc lập vì sẽ có ảnh hưởng lớn đến kết quả phân tích hồi quy bội, chẳng hạn như gây ra hiện tượng đa cộng tuyến
Trang 3728
Tiếp theo thực hiện đưa các biến vào mô hình hồi quy tuyến tính để tìm ra các yếu tố tác động đến năng suất lao động của doanh nghiệp; tiến hành tìm các giả định vi phạm cần thiết, thực hiện dò tìm đa cộng tuyến trong mô hình hồi quy Hệ số phóng đại phương sai (Variancce Inflation Factor - VIF) là một chỉ số quan trọng để nhận biết đa cộng tuyến trong mô hình Nếu chỉ số này lớn hơn 5, đó là dấu hiệu cho biết có hiện tượng đa cộng tuyến Trường hợp chỉ số VIF gần bằng 10 thì đó là dấu hiệu đa cộng tuyến rất cao (Gujarati, 2004) Kiểm định độ phù hợp của mô hình, kiểm định F sử dụng trong bảng phân tích phương sai là phép kiểm định giải thuyết về sự phù hợp của mô hình hồi quy tuyến tính tổng thể, kiểm định này cho biết mối quan hệ tuyến tính giữa biến phụ thuộc Y và biến độc lập X (Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008)
Để kiểm định giải thuyết H0 = β1 = β2 = β3 = = βn = 0, nếu giả thuyết H0 bị bác
bỏ thì kết luận là kết hợp các biến hiện có trong mô hình có thể giải thích được thay đổi của Y, điều này cũng có nghĩa là mô hình chúng ta xây dựng phù hợp với tập dữ liệu Trị thống kê F được tính từ giá trị R square của mô hình đầy đủ, giá trị sig rất nhỏ cho thấy sẽ an toàn khi bác bỏ giải thuyết H0 cho rằng tất cả các hệ số hồi quy bằng 0 (ngoại trừ hằng số), mô hình hồi quy tuyến tính bội phù hợp với dữ liệu và có thể được sử dụng Cuối cùng tiến hành kiểm định các giả thuyết nghiên cứu xem mô hình có phù hợp cũng như có ý nghĩa thông kê hay không, từ đó đưa ra những khuyến nghị phù hợp
3.2 Phương pháp hồi quy
Do dữ liệu của đề tài là dữ liệu cộng dồn nên đầu tiên đề tài sẽ thực hiện hồi quy
đa biến theo phương pháp hồi quy thông thường Pooled OLS (hồi quy tuyến tính) cho
dữ liệu của các doanh nghiệp từ năm 2010 tới 2014 cùng với các kiểm định thông thường như kiểm định phương sai sai số thay đổi, kiểm định tự tương quan của phần dư, kiểm định đa cộng tuyến và kiểm định phân phối chuẩn của phần dư Trong trường hợp
mô hình được phát hiện sớm hiện tượng nội sinh thông qua ma trận tương quan hoặc thông qua hồi quy phụ và thông qua kiểm định Hansen để kiểm định biến nội sinh (Hansen endogeneity test) (1958) trong quá trình hồi quy mô hình biến công cụ
Khi mô hình gặp hiện tượng nội sinh thì nên sử dụng biến công cụ để ước lượng
mô hình hồi quy để mô hình không bị chệnh Về mặt kỹ thuật, có thể sử dụng hồi quy hai bước (two-stage least squares - 2SLS) do Bowden và Turkington (1984) phát triển hoặc ba bước (Three-stage estimation for systems of simultaneous equations) do Zellner
Trang 3829
và Theil (1962) phát triển Về mặt dữ liệu, nếu loại dữ liệu là dữ liệu chéo hoặc dữ liệu chéo cộng dồn (Pooled data) thì hồi quy hai bước OLS là phù hợp (Wooldridge (2002) Trong trường hợp dữ liệu là dữ liệu bảng thì có thể sử dụng hồi quy biến công cụ cho
mô hình các yếu tố cố định FE theo phương pháp hồi quy hai bước OLS hoặc có thể sử dụng mô hình dữ liệu bảng động (Dynamic pane data model DPD) và xử lý theo đề xuất của Arellano và Bond (1991) với các phương pháp ước lượng như DGMM hệ thống (Different GMM system) hoặc PMG (Pooled Mean Group) Tuy nhiên do dữ liệu của đề tài là dữ liệu chéo cộng dồn nên sẽ sử dụng ước lượng hồi quy hai bước (two-stage least squares - 2SLS)
Theo Wooldridge (2002), giả sử một mô hình kinh tế lượng được minh họa như sau:
Y0 = β0 + β1Y1 + β2Z2 + β3Z3 +…+ βnZn + v1 (1) Trong đó: Y0 là biến phụ thuộc, Y1 là biến số độc lập nhưng bị nội sinh, các biến còn lại từ Z2 tới Zn là biến ngoại sinh, v1 là sai số của mô hình
Trong trường hợp Y1 bị nội sinh hay tương quan giữa Y1 và v1 khác không (Cov(Y1,v1) ≠ 0) thì mô hình (1) bị chệch khi ước lượng thông thường Khi đó hệ số hồi quy của mô hình sẽ không chính xác (giá trị bị thay đổi từ âm sang dương hoặc từ nhỏ thành lớn hoặc từ có ý nghĩa thống kê trở thành không có ý nghĩa thống kê)
Giả sử mô hình (1) được đưa thêm biến số Z1 và biến số này tác động tới Y1 Kết quả là mô hình gặp hiện tượng đa cộng tuyến và mô hình bị chệch (biased) Giải pháp thường thấy là bỏ biến số Z1 ra khỏi mô hình Khi đó Z1 sẽ nằm trong v1 Việc làm này
vô hình chung vừa làm cho mô hình gặp hiện tượng thiếu biến (mispecification) và vừa
có thể làm cho Y1 tương quan mạnh với sai số v1 Hay nói cách khác mô hình vẫn bị chệch
Để giải quyết trường hợp biến số bị nội sinh, kỹ thuật hồi quy hai bước sử dụng biến công cụ (two-stepped instrument variable regression) được đề xuất như sau:
Chọn biến công cụ Z1, biến này được giả định là tác động tới Y1 Lúc này mô hình biến công cụ như sau:
Y1 = θ0 + θ 1Z1 + θ 2Z2 + θ 3Z3 +…+ θ nZn + v2 (2)
Trang 39Để thu được kết quả đúng từ mô hình (4) thì điều kiện cần phải thỏa mãn là biến
Z1 thực sự tác động tới biến Y1 hay biến Y1 bị nội sinh Luận văn sử dụng phần mềm SPSS 22.0 để thống kê và phần mềm Stata 13.1 trong phân tích hồi quy
3.3 Mô hình nghiên cứu đề nghị
Trên cơ sở lý thuyết và thực tế cần nghiên cứu cũng như dữ liệu sẳn có, đề tài xây dựng mô hình hồi quy tuyến tính để nghiên cứu các yếu tố tác động đến năng suất lao động của doanh nghiệp, đây cũng chính là biến phụ thuộc của mô hình nghiên cứu Các nhân tố tác động bao gồm: Nguồn vốn đầu tư, số lao động làm việc, thu nhập bình quân lao động, loại hình kinh tế doanh nghiệp, đặc điểm ngành nghề, chi phí phải trả lao động, giá trị tài sản của doanh nghiệp và đặc điểm vùng Để so sánh được mức độ tác động của các yếu tố đến năng suất lao động theo từng vùng miền, đề tài sẽ hồi quy theo
8 vùng kinh tế để tìm hiểu về các yếu tố tác động tới năng suất lao động của doanh nghiệp trong 8 vùng kinh tế Các vùng kinh tế bao gồm: (1) Vùng Đông Bắc; (2) Vùng Tây Bắc; (3) Vùng Đồng bằng Sông Hồng; (4) Vùng Bắc Trung Bộ; (5) Vùng Duyên hải Miền Trung; (6) Vùng Tây Nguyên; (7) Vùng Đông Nam Bộ; (8) Vùng Đồng bằng sông Cửu Long
Trang 4031
Hình 3.1 Mô hình nghiên cứu
3.3.1 Các giả thuyết nghiên cứu
Trong nghiên cứu này, năng suất lao động của doanh nghiệp được đo lường thông qua kết quả hoạt động là doanh thu/lao động Đề tài đặt các giả thuyết nghiên cứu như sau:
- Giả thuyết về tác động của vốn đầu tư (H1):
H1.1: Trong trường hợp các yếu tố khác không đổi, vốn đầu tư sẽ tác động dương đến năng suất lao động doanh nghiệp Cụ thể là đầu tư cho khoa học kỹ thuật, công nghệ sản xuất, máy móc hiện đại thay thế cho máy cũ thì khả năng tăng năng suất lao động lớn, giả thuyết nghiên cứu nêu trên được căn cứ theo các Nghiên cứu của Papadogonas
và Voulgaris (2005)
H1.2: Trong trường hợp các yếu tố khác không đổi, sự tác động của vốn đầu tư đến năng suất lao động có sự thay đổi theo từng vùng miền Trong cùng một lượng vốn đầu tư nhưng hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp tại mỗi vùng miền là khác nhau
DN