1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Các yếu tố tác động đến thời gian tìm được việc làm đúng chuyên ngành của cựu sinh viên trường cao đẳng cộng đồng bình thuận

108 376 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 3,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÓM TẮT Đề tài: “Các yếu tố tác động đến thời gian tìm được việc làm đúng chuyên ngành của cựu sinh viên trường Cao Đẳng Cộng đồng Bình Thuận” nhằm xác định, phân tích và đo lường các y

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

-PHẠM THÚY NHƯỢC LAN

CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN THỜI GIAN

TÌM ĐƯỢC VIỆC LÀM ĐÚNG CHUYÊN NGÀNH CỦA CỰU SINH VIÊN TRƯỜNG CĐCĐ BÌNH THUẬN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ HỌC

TP Hồ Chi ́ Minh, Năm 2016

Trang 2

NHẬN XÉT CỦA NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Bảo Lâm

Học viên: Phạm Thúy Nhược Lan

Tên đề tài: “Các yếu tố tác động đến thời gian tìm được việc làm đúng chuyên

ngành của cựu sinh viên trường Cao Đẳng Cộng đồng Bình Thuận”

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày …… tháng …… năm 2016

Người hướng dẫn khoa học

Ký tên

PGS.TS Lê Bảo Lâm

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đề tài “Các yếu tố tác động đến thời gian tìm được việc làm đúng chuyên ngành của cựu sinh viên trường Cao Đẳng Cộng đồng Bình Thuận” là bài nghiên cứu của chính tôi

Ngoại trừ những tài liệu tham khảo được trích dẫn trong đề tài này, tôi cam đoan đề tài này đều là thành quả lao động của chính tôi

Không có sản phẩm/nghiên cứu nào của người khác được sử dụng trong đề tài mà không được trích dẫn theo đúng quy định

Đề tài này chưa bao giờ được nộp để nhận bất kỳ bằng cấp nào tại các trường đại học hoặc cơ sở đào tạo khác

Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2016

Phạm Thúy Nhược Lan

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Được tham gia khóa học cùng với các thành viên lớp ME06BT tại Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, đối với bản thân tôi - đó thật sự là niềm hạnh phúc!

Kể từ khi tham gia lớp học, tôi đã nhận được sự quan tâm và hỗ trợ của UBND Tỉnh Bình Thuận; sự giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi từ Trường CĐCĐ Bình Thuận; được Quý Thầy, Cô của Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh nhiệt tình, nhiệt tâm giảng dạy và truyền thụ cho tôi nhiều kiến thức hữu ích Và đến nay, sau gần ba năm học, tôi đã hoàn thành luận văn Thạc sĩ với đề tài: “ Các yếu tố tác động đến thời gian tìm được việc làm đúng chuyên ngành của cựu sinh viên trường Cao Đẳng Cộng đồng Bình Thuận”

Tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo UBND Tỉnh Bình Thuận, BGH Trường CĐCĐ Bình Thuận, cảm ơn quý Thầy, Cô đã giảng dạy cho tôi trong thời gian qua Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và kính trọng đến PGS TS

Lê Bảo Lâm đã hết lòng hướng dẫn và chỉ bảo cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn này

Cảm ơn các bạn là Cán bộ Trung tâm Khảo thí & Đảm bảo chất lượng giáo dục Trường Cao Đẳng Cộng Đồng Bình Thuận, Phòng Đào tạo & Phòng Công tác sinh viên Trường CĐCĐ Bình Thuận đã tạo điều kiện, hỗ trợ tôi trong công tác thu thập dữ liệu màđặc biệt là trong quá trình điều tra phỏng vấn thu thập dữ liệu sơ cấp phục vụ cho đề tài này được thuận lợi X in chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô giảng viên Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh đã truyền đạt những thông tin, kiến thức quan trọng về ngành Kinh tế học mà tôi đã theo đuổi Xin cảm ơn Cô giáo Chủ nhiệm lớp, các anh chị học viên cùng lớp đã cùng tôi chia sẽ kinh nghiệm và kiến thức trong quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi cũng xin gửi lời tri ân sâu sắc đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã ủng

hộ tôi trong học tập và thực hiện đề tài./

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày tháng 09 năm 2016

Học viên: PHẠM THÚY NHƯỢC LAN

Trang 5

TÓM TẮT

Đề tài: “Các yếu tố tác động đến thời gian tìm được việc làm đúng

chuyên ngành của cựu sinh viên trường Cao Đẳng Cộng đồng Bình Thuận” nhằm xác định, phân tích và đo lường các yếu tố tác động đến thời

gian sinh viên tốt nghiệp ra trường tìm được việc làm đúng chuyên ngành được đào tạo Từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm định hướng tốt việc đào tạo

về chuyên môn, kỹ năng cũng như thiết kế chương trình đào tạo thật sự phù hợp để sinh viên ra trường sớm tìm được việc làm, ổn định cuộc sống, góp phần giải quyết tốt vấn đề đầu ra cho quá trình đào tạo, xây dựng thương hiệu cho nhà Trường tại địa phương và khu vực

Cùng với phương pháp nghiên cứu định tính, tìm hiểu các khái niệm,

cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước có liên quan, đề tài được thực hiện bằng phương pháp nghiên cứu định lượng

Trong phạm vi nghiên cứu, đề tài đề cập đến các yếu tố tác động đến thời gian sinh viên tốt nghiệp ra trường tìm được việc làm đúng chuyên ngành được đào tạo bao gồm ba nhóm yếu tố chính Đó là nhóm yếu tố liên quan đến đặc tính cá nhân của sinh viên (độ tuổi, dân tộc, giới tính); nhóm yếu tố liên quan đến quá trình đào tạo (trình độ đào tạo, nhóm ngành đào tạo, điểm trung bình tốt nghiệp, chứng chỉ/trình độ ngoại ngữ, chứng chỉ/trình độ tin học, các

kỹ năng mềm) và nhóm yếu tố liên quan đến các mối quan hệ bên ngoài có ảnh hưởng hỗ trợ cho quá trình tìm việc làm của sinh viên (kinh nghiệm làm việc, tham gia phong trào cùng với các tổ chức Đoàn Hội trong trường, tham gia hoạt động Hè tình nguyện, nghề nghiệp và các mối quan hệ thuận lợi từ phía gia đình, cha mẹ)

Nguồn dữ liệu được sử dụng trong nghiên cứu này là dữ liệu sơ cấp thu thập được qua phỏng vấn cựu sinh viên đã tốt nghiệp qua các năm 2012, 2013,

2014 Qua xử lý dữ liệu, có 845/1389 cựu sinh viên hoàn thành phiếu khảo sát

đã tìm được việc làm đúng với chuyên ngành đào tạo, đây là 845 mẫu hợp lệ

có ý nghĩa dùng để phân tích trong mô hình nghiên cứu

Công cụ được sử dụng trong đề tài nghiên cứu chủ yếu gồm: thống kê

mô tả, hệ số tương quan, kiểm định đa cộng tuyến, kiểm định ý nghĩa hệ số hồi quy, kiểm định độ phù hợp của mô hình, kiểm định giả thiết hệ số hồi quy

Trang 6

khác không, kiểm định độ phù hợp tổng quát của mô hình để phân tích, kiểm định các số liệu thu thập được

Các số liệu qua phân tích đã xác định được có 18 biến độc lập tác động đến thời gian sinh viên tốt nghiệp ra trường tìm được việc làm đúng chuyên ngành được đào tạo, trong đó có 7 yếu tố có ý nghĩa thống kê giải thích được 42,8% sự thay đổi của biến phụ thuộc và 11 yếu tố còn lại không có ý nghĩa thống kê….Tất cả các biến có ý nghĩa thồng kê đều thỏa kỳ vọng dấu ban đầu Kết quả này là cơ sở để đề tài có thể đề xuất các nhóm giải pháp nhằm giúp nhà trường định hướng tốt hơn cho công tác đào tạo và sinh viên ra trường sớm tìm được việc làm đúng như mong muốn của bản thân và gia đình khi xác định học tập tại Trường CĐCĐ Bình Thuận

Đây là nghiên cứu đầu tiên nghiên cứu tương đối đầy đủ về các yếu tố ảnh hưởng đến thời gian tìm được việc làm đúng chuyên ngành của sinh viên tại trường CĐCĐ Bình Thuận cho đến thời điểm này Vì vậy, đề tài hy vọng các giải pháp, khuyến nghị được đề xuất từ nghiên cứu sẽ góp phần tích cực vào công tác đào tạo của nhà trường trong thời gian tới, đồng thời là cơ sở cho các nghiên cứu sau này./

Trang 7

MỤC LỤC

Trang

Nhận xét của giảng viên hướng dẫn i

Lời cam đoan ii

Lời cảm ơn iii

Tóm tắt iv

Mục lục vi

Danh mục bảng ix

Danh mục hình và đồ thị x

Danh mục từ viết tắt xi

Chương 1: GIỚI THIỆU 1 1.1 Đặt vấn đề và lý do nghiên cứu 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 4

1.4 Phương pháp nghiên cứu 4

1.5 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4

1.6 Ý nghĩa thực tế của đề tài 5

1.7 Kết cấu của đề tài 5

Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 7

2.1 Các khái niệm có liên quan 7

2.1.1 Việc làm 7

2.1.2 Thị trường lao động 11

2.1.3 Thất nghiệp 13

2.2 Các lý thuyết có liên quan 15

2.2.1 Lý thuyết cung lao động cá nhân 15

2.2.2 Lý thuyết cầu lao động 16

2.2.3 Lý luận chung về việc làm, Keynes (1936) 16

2.2.4.Lý thuyết về tạo việc làm bằng di chuyển lao động, Harris &Todaro (1970) 17

Trang 8

2.2.5 Lý thuyết ra quyết định 17

2.2.6 Lý thuyết phát triển nghề nghiệp 18

2.2.7 Những nguyên nhân quyết định chọn việc 20

2.3 Các nghiên cứu trước có liên quan 23

2.3.1 Các nghiên cứu ngoài nước 23

2.3.2 Các nghiên cứu trong nước 28

Tóm tắt chương 2 30

Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31

3.1 Mô hình nghiên cứu 31

3.2 Dữ liệu nghiên cứu 42

3.2.1 Cách thu thập số liệu nghiên cứu 42

3.2.2 Cách xử lý số liệu 43

3.3 Phương pháp nghiên cứu 44

3.4 Quy trình phân tích dữ liệu 45

Tóm tắt chương 3 48

Chương 4: KẾT QUẢ PHÂN TÍCH DỮ LIỆU 49

4.1 Phân tích thống kê mô tả 49

4.1.1 Các thông tin liên quan đến đối tượng khảo sát 49

4.1.2 Các thông tin liên quan đến hoạt động đào tạo của trường CĐCĐ Bình Thuận 51

4.1.3 Các nhóm kỹ năng và các mối quan hệ xã hội liên quan hỗ trợ quá trình tìm việc của sinh viên 58

4.1.4 Thống kê mô tả tổng hợp các biến trong mô hình 62

4.2 Phân tích tương quan 63

4.3 Phân tích hồi quy 64

4.3.1 Các kiểm định mô hình 64

4.3.2 Kết quả hồi quy 67

4.3.3 Giải thích kết quả phân tích hồi qui 69

Tóm tắt chương 4 73

Trang 9

Chương 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 74

5.1 Kết luận 74

5.2 Các khuyến nghị 74

5.2.1 Đối với sinh viên 74

5.2.2 Đối với trường CĐCĐ Bình Thuận 76

5.3 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo 77

TÀI LIỆU THAM KHẢO 79

PHỤ LỤC 1: Bảng câu hỏi thảo luận 85

PHỤ LỤC 2: Phiếu khảo sát 86

PHỤ LỤC 3: Kết quả phân tích dữ liệu 89

Trang 10

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1: Tóm tắt các biến trong mô hình và kỳ vọng dấu 34

Trang 11

DANH MỤC HÌNH

Hình 4.16: Tham gia chương trình hè tình nguyện 61

Hình 4.18: Biểu đồ P-P Plot 66

Trang 13

CHƯƠNG I

GIỚI THIỆU

Chương này giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu bao gồm lý do nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu ý nghĩa thực tiễn của đề tài

1.1 Đặt vấn đề và lý do nghiên cứu

Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển kinh tế của đất nước, ngành Giáo dục & Đào tạo Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng với những đóng góp đáng kể nhằm cung cấp nguồn nhân lực cần thiết cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ

Tổ quốc, góp phần vào quá trình hình thành và phát triển nền kinh tế tri thức Theo Tổng cục Thống kê (2014), trong giai đoạn từ 2012-2014 số trường Đại học, Cao đẳng và Trung cấp chuyên nghiệp tăng nhanh qua các năm Đến năm 2014, cả nước có tổng số

436 trường Đại học & Cao đẳng - tăng 15 trường) cùng với 2.363.900 sinh viên hiện đang theo học; 312 trường Trung cấp chuyên nghiệp được thành lập ở hầu hết các tỉnh, thành phố trên cả nước (tăng 18 trường) với 349.700 học sinh Số sinh viên tốt nghiệp ra trường những năm gần đây tương đối cao (năm 2012 có 425.200 sinh viên tốt nghiệp; năm 2013 có 406.300 sinh viên tốt nghiệp; năm 2014 có 441.800 sinh viên tốt nghiệp)

Bên cạnh việc gia tăng nhanh số lượng trường học, số lượng sinh viên được đào tạo và tốt nghiệp hàng năm cùng với những kết quả khả quan mà giáo dục mang lại, Trần Hồng Quân (trích bởi Xuân Trung, 2015) cho rằng: Chất lượng giáo dục Việt Nam trong thời gian qua về cơ bản không đáp ứng được hàng loạt các định hướng quan trọng trong nghị quyết trung ương về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục - đào tạo, cơ cấu ngành nghề và trình độ đào tạo chưa phù hợp với quy hoạch phát triển quốc gia Bộ Giáo dục

và đào tạo (2013), trong đánh giá thực trạng giáo dục và đào tạo Việt Nam tại đề án “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” cũng đã đưa ra những hạn chế như: (i) Chất lượng giáo dục còn thấp so với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, nhất là ở giáo du ̣c đại học, giáo dục nghề nghiê ̣p, là mô ̣t trong những nguyên nhân làm ha ̣n chế chất lươ ̣ng nguồn nhân lực của đất nước; (ii) Chương

Trang 14

trình giáo dục còn coi nhe ̣ thực hành, vâ ̣n du ̣ng kiến thức; phương pháp giáo dục, kiểm tra, thi và đánh giá lạc hậu, nhiều bất cập; thiếu gắn kết giữa đào ta ̣o với nghiên cứu khoa học, sản xuất, kinh doanh; (iii) Chưa gắn kết đào tạo với sử dụng và nhu cầu của thị trường lao động; (iv) Chưa coi tro ̣ng đúng mức đánh giá hiê ̣u quả quản lý và hiê ̣u quả đầu tư cho giáo du ̣c; (v) Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục còn nhiều bất cập

về chất lượng, số lượng và cơ cấu; thiếu động lực tự học và đổi mới; chưa bắt kịp yêu cầu của đổi mới giáo dục (vi) Cơ sở vật chất kỹ thuật của nhiều cơ sở giáo dục còn thiếu

và lạc hậu, chưa đạt chuẩn quy định, thiếu quỹ đất dành cho phát triển giáo dục

Tuy hiện nay chưa có một cuộc thống kê nào được thực hiện hoàn thành về vấn đề việc làm của sinh viên sau tốt nghiệp trên phạm vi cả nước nhưng với những hạn chế nêu trên, cùng với tình hình kinh tế trong nước và thế giới thời gian qua thì khả năng ảnh hưởng đến thời gian tìm được việc làm của khoảng hơn 400.000 sinh viên hàng năm tốt nghiệp ra trường là điều khó tránh

Thực tế cho thấy, vấn đề việc làm đang là nhu cầu bức thiết ở Việt Nam cũng như những quốc gia đang phát triển, nơi có nguồn nhân lực dồi dào trong khi nền kinh tế phát triển chưa cao, do đó sẽ không có sự tương xứng về cung - cầu lao động trong phạm vi

cả nước Số lượng ứng viên đăng ký dự tuyển hàng năm để tìm việc làm khá đông, song kết quả số người đáp ứng được yêu cầu của nhà tuyển dụng còn rất hạn chế

Nguyễn Phan (2014) so sánh số lao động thất nghiệp quý I-2014 với quý IV-2012 như sau: nhóm lao động có trình độ cao đẳng nghề có tỷ lệ thất nghiệp tăng 1,3 lần, tương đương 8.300 người; nhóm lao động có trình độ cao đẳng tăng 1,3 lần, khoảng 19.200 người; nhóm lao động có trình độ đại học trở lên tăng 1,7 lần, nghĩa là có thêm 72.000 lao động thuộc nhóm này bị thất nghiệp so với số thất nghiệp ở quý IV-2012 Tỉ

lệ thất nghiệp ở nhóm có trình độ Đại học, Cao đẳng cao gấp 4 lần tỉ lệ đối tượng thất nghiệp khác Đặc biệt, nhóm thanh niên từ 20-24 tuổi tốt nghiệp cao đẳng và đại học trở lên (sinh viên mới ra trường) có tỷ lệ thất nghiệp rất cao, lên tới 20,75%

Theo Phạm Vũ Luận (2015, trích từ Vietnamet, 2015), mặc dù trong giai đoạn 2010-2014 số lao động có trình độ đại học, cao đẳng có việc làm tăng nhưng người thất nghiệp cũng tăng cao hơn so với số tốt nghiệp và số có việc làm Trong khi người có việc làm chỉ tăng 38% thì người thất nghiệp tăng gấp đôi ở nhóm lao động này

Trước những thách thức nêu trên, bên cạnh việc đòi hỏi bản thân mỗi sinh viên phải

có cách nhìn nhận mới về vấn đề việc làm sau khi tốt nghiệp của bản thân, nhiều trường

Trang 15

đại học, cao đẳng trong thời gian gần đây đã tiến hành các khảo sát về vấn đề việc làm của sinh viên, có trường đã đưa vào đề tài nghiên cứu liên quan đến vấn đề việc làm của sinh viên sau khi ra trường nhằm tìm ra phương án giải quyết vấn đề đầu ra cho sinh viên sau tốt nghiệp

Việc thu thập thông tin về tình trạng việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp, nhất

là với những sinh viên trong giai đoạn đầu tìm việc thông qua nguồn tin do các cựu sinh viên cung cấp là cần thiết và đã mang lại những đóng góp tích cực, giúp các trường có thêm những chứng cứ khoa học nhằm định hướng đúng các ngành nghề cần tuyển sinh với chỉ tiêu phù hợp đồng thời thiết kế, điều chỉnh chương trình đào tạo đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sinh viên và thực tiễn hiện nay Đây còn được xem là một tiêu chí quan trọng

để các trường khẳng định uy tín, thương hiệu và vị thế của mình trong khu vực và trên cả nước

Trường Cao đẳng Cộng đồng Bình Thuận kể từ năm 2012 cũng đã tiến hành những đợt khảo sát như thế với định kỳ sáu tháng một lần nhằm tìm hiểu về thực trạng việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp để tìm biện pháp cải tiến và nâng cao chất lượng giảng dạy Đây cũng là ý tưởng khơi nguồn đồng thời cung cấp những số liệu ban đầu cho việc tiến hành nghiên cứu đề tài “ Các yếu tố tác động đến thời gian tìm được việc làm đúng chuyên ngành của cựu sinh viên Trường CĐCĐ Bình Thuận” Đề tài mong muốn qua nghiên cứu này, có thể tìm ra giải pháp giúp nhà trường có định hướng đào tạo tốt hơn, thực chất hơn, sinh viên sau khi tốt nghiệp tại trường CĐCĐ Bình Thuận sớm tìm được việc làm phù hợp với chuyên ngành đào tạo, sớm ổn định cuộc sống và góp sức cho công cuộc xây dựng quê hương Bình Thuận

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Với vấn đề nghiên cứu như trên, đề tài mong muốn đạt được các mục tiêu như sau:

(i) Xác định các yếu tố tác động đến thời gian tìm được việc làm đúng chuyên ngành của cựu sinh viên Trường CĐCĐ Bình Thuận

(ii) Phân tích mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tác động đến thời gian tìm được việc làm đúng chuyên ngành của cựu sinh viên Trường CĐCĐ Bình Thuận

(iii) Đề xuất các giải pháp nhằm rút ngắn thời gian tìm được việc làm đúng chuyên ngành của cựu sinh viênTrường CĐCĐ Bình Thuận trong thời gian tới

Trang 16

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu đã đưa ra, đề tài tập trung làm rõ những câu hỏi nghiên cứu gồm:

(i) Các yếu tố nào tác động đến thời gian tìm được việc làm đúng chuyên ngành của cựu sinh viên Trường CĐCĐ Bình Thuận ?

(ii) Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tác động đến thời gian tìm được việc làm đúng chuyên ngành của cựu sinh viên Trường CĐCĐ Bình Thuận như thế nào ?

(iii) Cần có những giải pháp gì để có thể rút ngắn thời gian tìm được việc làm đúng chuyên ngành của cựu sinh viên Trường CĐCĐ Bình Thuận trong thời gian tới?

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu định lượng được sử dụng để kiểm tra giả thiết nghiên cứu mà đề tài đã đặt ra Sử dụng mô hình hồi quy đa biến với kỹ thuật sử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 18, thực hiện các kiểm định cần thiết gồm: Kiểm định độ phù hợp của

mô hình, kiểm định tương quan, kiểm định hệ số hồi quy, kiểm định phân phối chuẩn và phần dư

Ngoài ra, đề tài còn sử dụng kỹ thuật thống kê mô tả: bảng tần số và tần suất đối với các biến định tính; giá trị trung bình; giá trị lớn nhất và nhỏ nhất đối với các biến định lượng để có những đánh giá ban đầu về các biến trong mô hình

1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.5.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu thời gian tìm được việc làm đúng chuyên ngành của cựu sinh viên hệ chính quy trường CĐCĐ Bình Thuận

Đối tượng được khảo sát là cựu sinh viên hệ chính quy trường CĐCĐ Bình Thuận tốt nghiệp từ năm 2012-2014

1.5.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu các yếu tố tác động đến thời gian tìm được việc làm đúng chuyên ngành của cựu sinh viên hệ chính quy trường CĐCĐ Bình Thuận tốt nghiệp từ năm 2012-2014, không nghiên cứu các yếu tố tác động đến thời gian tìm được việc làm của cựu sinh viên các hệ đào tạo khác của Trường như hệ cao đẳng nghề, các lớp liên thông, hoặc các chương trình liên kết với các trường/cơ sở đào tạo khác

Trang 17

1.6 Ý nghĩa thực tế của đề tài

Kết quả nghiên cứu chỉ ra được các nhân tố tác động đến thời gian tìm được việc làm của cựu sinh viên Trường CĐCĐ Bình Thuận Kết quả này phần nào phản ảnh được kết quả đào tạo của Trường và mối quan hệ giữa nhà trường với các doanh nghiệp tại địa phương Từ đó có cơ sở đề xuất giải pháp và kiến nghị nhằm thực hiện có hiệu quả việc điều chỉnh, nâng cao chất lượng đào tạo đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường lao động trong thời gian tới

Ngoài ra, kết quả nghiên cứu còn có giá trị tham khảo cho sinh viên chuẩn bị ra trường trong những khóa học tiếp theo

1.7 Kết cấu của đề tài

Đề tài nghiên cứu được trình bày theo 05 chương, các chương được bố cục như sau:

Chương 1: Giới thiệu

Giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu bao gồm lý do nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên

cứu và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Chương 2: Cơ sở lý thuyết

Chương này trình bày các khái niệm về việc làm, thị trường lao động, thất nghiệp; giới thiệu lý thuyết cung lao động cá nhân, lý thuyết cầu lao động, lý luận chung về việc làm, Keynes (1936), lý thuyết về tạo việc làm bằng di chuyển lao động của Harris và Todaro, lý thuyết ra quyết định, lý thuyết phát triển nghề nghiệp, nguyên nhân quyết định chọn việc; các mô hình lựa chọn nghề nghiệp như mô hình nghiên cứu của King và ctg (2010); mô hình nghiên cứu của Ali và Fereshteh (2010) Cũng ở chương này, đề tài trình bày tóm tắt về các nghiên cứu trước có liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu của đề tài

để làm cơ sở đề xuất mô hình lý thuyết

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu

Từ cơ sở lý thuyết được trình bày tại chương 2 với các nghiên cứu liên quan, đề tài xây dựng mô hình nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, cách thức đo lường các biến trong mô hình Các kỹ thuật phân tích số liệu cũng sẽ được trình bày trong chương này

Trang 18

Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu

Chương này trình bày thống kê mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu, phân tích các kết quả nghiên cứu đạt được để trả lời các câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu đồng thời tiến hành kiểm định các giả thuyết được đặt ra

Chương 5: Kết luận và khuyến nghị

Nội dung chương này là tóm tắt các kết quả nghiên cứu của đề tài và đưa ra các khuyến nghị liên quan và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo

Trang 19

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Chương này tập trung trình bày các khái niệm (việc làm, thị trường lao động, thất nghiệp); giới thiệu các cơ sở lý thuyết (lý thuyết cung lao động cá nhân, lý thuyết cầu lao động, lý luận chung về việc làm của Keynes (1936), lý thuyết về tạo việc làm bằng di chuyển lao động của Harris và Todaro (1970), lý thuyết ra quyết định, lý thuyết phát triển nghề nghiệp, nguyên nhân quyết định chọn việc); các nghiên cứu trong và ngoài nước, các mô hình có liên quan đến đề tài (mô hình nghiên cứu của King và ctg (2010);

mô hình nghiên cứu của Ali và Fereshteh (2010) và sau cùng là đề xuất mô hình lý thuyết thể hiện các yếu tố tác động đến thời gian tìm được việc làm đúng chuyên ngành của sinh viên trường CĐCĐ Bình Thuận

2.1 Các khái niệm có liên quan

2.1.1.Việc làm

Theo Keynes (1936, trích bởi Phan Huy Đường và Bùi Đức Tùng, 2011), vấn đề quan trọng nhất, nguy hiểm nhất đối với chủ nghĩa tư bản là khối lượng thất nghiệp và việc làm Việc làm không chỉ xác định tình hình thị trường lao động, sự vận động của thất nghiệp mà còn bao gồm cả tình trạng sản xuất, khối lượng sản phẩm, quy mô thu nhập Việc làm cụ thể hóa tình trạng nền kinh tế, cơ sở cho việc điều tiết nền kinh tế

Theo báo cáo phát triển thế giới (2013), việc làm là nền tảng căn bản cho phát triển Tại các nước đang phát triển, việc làm mang lại nhiều lợi ích to lớn hơn nhiều so với thu nhập đơn thuần, có vai trò quan trọng trong quá trình giảm nghèo Báo cáo cho thấy: “ Một công việc tốt có thể làm thay đổi cuộc sống một cá nhân và những công việc phù hợp có thể chuyển đổi xã hội Chính phủ các nước phải đưa việc làm trở thành trọng tâm của việc thúc đẩy sự thịnh vượng và chống đói nghèo”

Kim (2012, trích bởi Đặng Hiếu, 2013) cho rằng: Việc làm là hy vọng, là hòa bình, việc làm có thể làm cho các nước nhỏ dễ bị tổn thương trở nên vững mạnh

Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2012) đã xác định: “ Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm” (điều 9, Bộ luật lao động)

Trang 20

Theo Tổng cục Thống kê (2011) định nghĩa người có việc làm như sau: Dân số có việc làm bao gồm tất cả những người từ 15 tuổi trở lên: (i) Trong tuần nghiên cứu đã làm việc ít nhất 1 giờ như những người làm công ăn lương, hay đang sản xuất/kinh doanh, hoặc lao động trên ruộng vườn/trang trại của chính họ, và (ii) Tuy không làm việc nhưng

đã có một công việc để trở lại mà trong tuần qua họ chỉ tạm thời nghỉ việc do ốm đau, tranh chấp lao động, nghỉ hè/nghỉ lễ/đi du lịch…, do thời tiết xấu, do máy móc/công cụ sản xuất, do tiền công hoặc các khoản thanh toán liên quan khác… và chắc chắn họ sẽ trở lại làm việc sau thời gian tạm nghỉ

Theo Hội nghị Thống kê Lao động Quốc tế (2013), những người có việc làm là những người trên 15 tuổi mà trong một khoảng thời gian ngắn nhất định (thường là 1 tuần hoặc 7 ngày), có tham gia vào một hoạt động sản xuất ra hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ để được trả lương hoặc kiếm lợi nhuận Nói theo cách khác, đó là những người làm việc ở một công việc được trả lương hoặc một việc tự kinh doanh để kiếm lợi nhuận trong khoảng thời gian ít nhất là 1 giờ trong giai đoạn khảo sát

Nguyễn Thúy Hà (2013) cho rằng, việc làm là một phạm trù tồn tại khách quan trong nền sản xuất, phụ thuộc vào các điều kiện hiện có của nền sản xuất Đứng trên các góc độ nghiên cứu khác nhau, người ta đã đưa ra rất nhiều định nghĩa nhằm sáng tỏ khái niệm việc làm Và ở các quốc gia khác nhau, do ảnh hưởng của nhiều yếu tố như điều kiện kinh tế, chính trị, luật pháp… người ta quan niệm về việc làm cũng khác nhau Chính vì thế, không có một định nghĩa chung và khái quát nhất về việc làm Người lao động được coi là có việc làm khi chiếm giữ một vị trí nhất định trong hệ thống sản xuất của xã hội Nhờ có việc làm mà người lao động mới thực hiện được quá trình lao động tạo ra sản phẩm cho xã hội, cho bản thân Một hoạt động được coi là việc làm khi có những đặc điểm sau: đó là những công việc mà người lao động nhận được tiền công, thu lợi nhuận cho bản thân và gia đình, hoạt động đó phải được pháp luật thừa nhận

Ở Việt Nam, có 3 nguồn số liệu chính về việc làm: Trước năm 2007, điều tra mẫu hàng năm về lao động và việc làm do Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội phối hợp với Tổng cục Thống kê thực hiện Từ năm 2007 đến nay, điều tra mẫu hàng năm về lao động

và việc làm do Tổng cục Thống kê tiến hành

Đứng trên những góc độ nghiên cứu khác nhau ở các quốc gia khác nhau, do ảnh hưởng của nhiều yếu tố như điều kiện kinh tế, chính trị, luật pháp,… đã có nhiều định nghĩa được đưa ra nhằm làm sáng tỏ vấn đề về việc làm Tuy nhiên, do đề tài chỉ tập

Trang 21

trung nghiên cứu về các yếu tố tác động đến thời gian tìm việc làm của sinh viên tốt nghiệp tại Trường CĐCĐ Bình Thuận giai đoạn 2012-2014 nên khái niệm việc làm được lựa chọn dựa trên cơ sở pháp luật Việt Nam hiện hành, đó là: “ Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm”

2.1.1.1 Phân loại việc làm

Nguyễn Nhi (2010) phân chia việc làm theo tính chất công việc và thời gian như sau: (i) Theo tính chất của việc làm, công việc được phân thành hai loại: việc làm theo tiền lương hoặc tiền công được hưởng và việc làm tự thân (có thể là cá nhân hoặc gia đình, có thể là chủ doanh nghiệp); (ii) Theo thời gian của việc làm, phân thành các loại: việc làm thời gian đầy đủ hoặc không đầy đủ; việc làm tạm thời và cố định; việc làm thường xuyên và việc làm theo thời vụ

Theo Nguyễn Thúy Hà (2013), tùy theo các mục đích nghiên cứu khác nhau mà người ta phân chia việc làm ra thành nhiều loại Theo mức độ sử dụng thời gian làm việc, có việc làm chính và việc làm phụ Việc làm chính là công việc mà người thực hiện giành nhiều thời gian nhất hoặc có thu nhập cao hơn so với công việc khác Việc làm phụ là công việc mà người thực hiện giành nhiều thời gian nhất sau công việc chính Ngoài ra, người ta còn chia việc làm thành việc làm toàn thời gian, bán thời gian, việc làm thêm Theo đó, việc làm toàn thời gian để chỉ một công việc làm 8 tiếng mỗi ngày, hoặc theo giờ hành chính 8 tiếng mỗi ngày và 5 ngày trong tuần; Việc làm bán thời gian,

mô tả công việc làm không đủ thời gian giờ hành chính quy định của Nhà nước 8 tiếng mỗi ngày và 5 ngày mỗi tuần, thời gian làm việc có thể dao động từ 0.5 đến 5 tiếng mỗi ngày và không liên tục; Việc làm thêm, mô tả một công việc không chính thức, không thường xuyên bên cạnh một công việc chính thức và ổn định

Trong thời kỳ hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay, Tổ chức lao động quốc tế (ILO) (2013), còn khuyến cáo và đề cập tới việc làm nhân văn hay việc làm bền vững

2.1.1.2 Việc làm đúng chuyên ngành

Quế Lâm (2011) cho rằng, Marketing là một lĩnh vực khá tổng quát và hội tụ nhiều yếu tố để làm nên một thương hiệu Chính vì thế nhân viên cho bộ phận Marketing cũng rất đa dạng: có thể kể đến là nhân viên chiến lược marketing, nhân viên sáng tạo, nhân viên PR, nhân viên tổ chức sự kiện, …Vì thế các công việc phù hợp với chuyên ngành Marketing là nhân viên chiến lược marketing, nhân viên sáng tạo, nhân viên PR, nhân viên tổ chức sự kiện, chuyên viên bán hàng

Trang 22

Ngành Quản trị kinh doanh đào tạo những nhà quản lý nắm vững kiến thức cơ bản

về kinh tế - xã hội, các kiến thức kỹ năng, quá trình kinh doanh và quản trị ở các doanh nghiệp; có kỹ năng cơ bản để vận dụng trong kinh doanh nói chung và thực hành tốt trong một số công việc cụ thể thuộc lĩnh vực kinh doanh Theo Bùi Trân Phượng (trích

từ Minh Châu, 2012), sinh viên tốt nghiệp ngành quản trị kinh doanh ra trường có thể làm các nghề như: chuyên viên phụ trách hành chính và nhân sự, chuyên viên bán hàng

và quản lý khách hàng, chuyên viên quản lý sản xuất, chuyên viên quản lý cung ứng, chuyên viên kinh doanh và tiếp thị, nhân viên kế hoạch - đầu tư, nhân viên phát triển hệ thống, nhân viên kinh doanh, nhân viên xuất nhập khẩu, khởi nghiệp doanh nghiệp vừa

và nhỏ…hoặc các vị trí có chức năng quản lý như giám đốc, trưởng phòng, phó phòng,

Ông Phí Anh Tuấn cũng chia sẻ: “Những nghề nghiệp khi học ngành Công nghệ thông tin có thể lựa chọn để đi làm là: lập trình viên phát triển phần mềm, chuyên viên quản trị cơ sở dữ liệu, kiểm lỗi phần mềm, quản trị hệ thống thông tin, quản trị mạng, thiết kế web, mỹ thuật đa phương tiện, giảng dạy công nghệ thông tin, …” ( trích bởi Nhựt Tân, 2010)

Như vậy, việc làm đúng chuyên ngành đối với sinh viên khi tốt nghiệp ra trường tìm được chính là công việc mà thông qua việc thực hiện nhiệm vụ được giao trong quá trình làm việc họ có thể sử dụng và phát huy được những kỹ năng chuyên môn, những mảng năng lực được đào tạo đúng như chuyên ngành họ được học ở nhà trường

Sinh viên tìm được công việc không đúng như đã kể trên tương ứng với các chuyên ngành Maketing, Quản trị kinh doanh, Công nghệ thông tin được xem là tìm được việc nhưng chưa đúng chuyên ngành được đào tạo

Trang 23

Vậy, một việc làm tốt là việc làm phù hợp với năng lực và mục tiêu phát triển cá nhân, có cơ hội thăng tiến, nhận được thù lao nuôi sống bản thân - gia đình và làm việc trong điều kiện an toàn hợp pháp

2.1.2 Thị trường lao động

Hiện nay đang tồn tại nhiều định nghĩa về thị trường lao động từ các nguồn tài liệu khác nhau

Theo Adam Smith (1776, trích bởi Lê Ngọc Hùng, 2015), sự phân công lao động

là kết quả của nhu cầu trao đổi, thị trường chỉ là “ một hậu quả tất yếu của thiên hướng thuộc bản chất con người đó là thiên hướng muốn đổi chác hoặc trao đổi vật này lấy vật khác” Thị trường lao động là không gian trao đổi dịch vụ lao động (hàng hóa sức lao động) giữa một bên là người mua sức lao động (chủ sử dụng lao động) và người bán sức lao động (người lao động) Định nghĩa này nhấn mạnh vào đối tượng trao đổi trên thị trường là dịch vụ lao động, chứ không phải là người lao động

Theo Từ điển Kinh tế học Penguin (1995), thị trường lao động là thị trường trong

đó tiền công, tiền lương và các điều kiện lao động được xác định trong bối cảnh quan hệ của cung lao động và cầu lao động Định nghĩa này nhấn mạnh kết quả của quan hệ tương tác cung - cầu trên thị trường lao động là tiền công, tiền lương và các điều kiện lao động

Từ điển kinh tế MIT (2007), thị trường lao động là nơi cung và cầu lao động tác động qua lại với nhau Định nghĩa này nhấn mạnh vào quan hệ trên thị trường lao động cũng là quan hệ cung - cầu như bất kỳ một thị trường nào khác

Theo Vũ Hữu Ngoạn và Ngô Văn Dụ (2011), thị trường lao động nước ta là thị trường mua bán các dịch vụ của người lao động, về thực chất là mua bán sức lao động, trong một phạm vi nhất định dưới hình thức tiền lương, tiền công

Tuy có nhiều điểm khác biệt, nhưng các định nghĩa hiện có về thị trường lao động đều thống nhất với nhau về các nội dung cơ bản, đó là: Thị trường lao động (hoặc thị trường sức lao động) là nơi thực hiện các quan hệ xã hội giữa người bán sức lao động (người lao động làm thuê) và người mua sức lao động (người sử dụng sức lao động), thông qua các hình thức thỏa thuận về giá cả (tiền công, tiền lương) và các điều kiện làm việc khác, trên cơ sở một hợp đồng lao động bằng văn bản, bằng miệng, hoặc thông qua các dạng hợp đồng hay thỏa thuận khác Thị trường sức lao động được cấu thành bởi ba yếu tố là: cung, cầu và giá cả sức lao động Trạng thái của các yếu tố này quyết định cơ

Trang 24

cấu và đặc điểm của thị trường lao động mà trong đó, bên cung và bên cầu sức lao động

là hai chủ thể của thị trường lao động, có quan hệ ràng buộc với nhau, dựa vào nhau để tồn tại

Theo Vũ Hữu Ngoạn và Ngô Văn Dụ (2001), thị trường lao động trên thực tế có rất nhiều dạng khác nhau và được phân loại tùy thuộc vào các tiêu chí lựa chọn Dưới giác độ pháp lý, có thể có thị trường hợp pháp và thị trường bất hợp pháp; Dưới góc độ quản lý có thể có thị trường tự do và thị trường có tổ chức; Dưới góc độ hình thức tổ chức có thể có thị trường tập trung và thị trường phi tập trung; Xét từ góc độ kỹ năng có thể phân chia thành thị trường lao động giản đơn và thị trường lao động được đào tạo; còn nếu xét từ giác độ địa lý sẽ phân chia thành thị trường lao động địa phương và thị trường lao động quốc gia Tuy nhiên, hai tiêu chí thường hay được sử dụng để phân loại thị trường là trình độ kỹ năng và phạm vi địa lý Mỗi người lao động trên thị trường lao động có những đặc điểm riêng về khả năng, trình độ, tuổi tác, nguồn gốc, giới tính, nhu cầu, thể lực, động lực làm việc khác nhau Chính vì thế, giá trị sức lao động và vị thế của người lao động khi trao đổi, đàm phán trên thị trường lao động cũng sẽ có sự khác biệt Trong các quan hệ giao dịch hay đàm phán trên thị trường lao động, cán cân thông thường nghiêng về phía người có nhu cầu sử dụng sức lao động Xuất phát điểm của thực tiễn này là ở chỗ cho đến nay, số lượng những người tìm việc vẫn nhiều hơn số lượng các cơ hội việc làm sẵn có Hơn nữa, người lao động đi tìm việc bao giờ cũng là người có nguồn lực hạn chế, trong khi đó, người sử dụng lao động có nhiều khả năng chờ đợi và lựa chọn hơn Chính vì thế, trong quá trình đàm phán hoặc giao dịch, khi thỏa thuận các điều khoản hợp đồng, người sử dụng lao động thường có vị trí quyết định

Viện nghiên cứu lập pháp (2011) đã đưa ra một số khái niệm cơ bản về lao động

và thị trường lao động như sau:

Cung lao động, là tổng nguồn sức lao động do người lao động tự nguyện đem ra tham dự vào quá trình tái sản xuất xã hội, tức tổng số nhân khẩu trong độ tuổi lao động,

có năng lực lao động, và cả tổng số nhân khẩu không nằm trong độ tuổi lao động, nhưng trong thực tế chính thức tham gia vào quá trình tái sản xuất xã hội Thông thường, khi nói đến cung trên thị trường lao động, người ta thường phân biệt rõ thành hai phạm trù

đó là cung thực tế và cung tiềm năng Cung thực tế về lao động bao gồm tất cả những người đủ 15 tuổi trở lên đang làm việc và những người thất nghiệp; Cung tiềm năng về lao động bao gồm những người đủ 15 tuổi trở lên đang làm việc, những người thất

Trang 25

nghiệp, những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng đang đi học, đang làm công việc nội trợ, hoặc không có nhu cầu làm việc Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến cung lao động là quy mô và tốc độ tăng dân số, quy định về độ tuổi lao động, tình trạng tự nhiên của người lao động, tỷ lệ tham gia của lực lượng lao động vào thị trường lao động và một số nhân tố khác

Cầu lao động là nhu cầu về sức lao động của một quốc gia, một địa phương, một ngành hay một doanh nghiệp trong một khoảng thời gian nhất định, nhu cầu này thể hiện qua khả năng thuê mướn lao động trên thị trường lao động Về mặt lý thuyết, cầu về lao động cũng được phân chia thành hai loại là cầu thực tế và cầu tiềm năng Cầu thực tế về lao động là nhu cầu thực tế về lao động cần sử dụng tại một thời điểm nhất định, thể hiện qua số lượng những chỗ làm việc trống và chỗ làm việc mới Cầu tiềm năng về lao động

là nhu cầu về lao động cho tổng số chỗ làm việc có thể có được, sau khi đã tính đến các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tạo việc làm trong tương lai như vốn, đất đai, tư liệu sản xuất, công nghệ, và cả những điều kiện khác nữa như chính trị, xã hội, v.v Cầu về lao động bao gồm hai mặt là cầu về chất lượng lao động và cầu về số lượng lao động Trong điều kiện năng suất lao động không biến đổi, cầu về sức lao động xã hội tỷ lệ thuận với quy mô và tốc độ sản xuất Nếu quy mô sản xuất không đổi, cầu về sức lao động tỷ lệ nghịch với năng suất lao động Còn về chất lượng, việc nâng cao năng suất lao động, mở rộng quy mô, tiền vốn, tri thức của doanh nghiệp ngày càng đòi hỏi nâng cao cầu về chất lượng sức lao động

Chính sách thị trường lao động, là các công cụ can thiệp của Nhà nước vào hoạt động của thị trường lao động nhằm mục tiêu cuối cùng là đảm bảo tốt hơn cơ hội việc làm cho người lao động, cung cấp việc làm tương xứng hơn với khả năng và đem lại thu nhập cao hơn cho người lao động Lý thuyết và thực tiễn áp dụng các chính sách thị trường lao động cho thấy có thể chia chúng thành hai nhóm chính sách cơ bản là chính sách thị trường lao động chủ động và chính sách thị trường lao động bị động Đào tạo về thị trường lao động được xem là chính sách thị trường lao động chủ động, đây là biện pháp nhằm đào tạo người lao động để đáp ứng các yêu cầu của thị trường lao động Loại hình đào tạo này chủ yếu áp dụng với các đối tượng lao động thất nghiệp dài hạn (trên

12 tháng), hoặc các công nhân bị mất việc hàng loạt do điều chỉnh cơ cấu, hay với các đối tượng là lao động trẻ, học sinh mới tốt nghiệp ra trường

2.1.3 Thất nghiệp

Trang 26

Theo tổ chức Lao động quốc tế (2013), thất nghiệp là tình trạng tồn tại một số người trong lực lượng lao động muốn làm việc nhưng không thể tìm được việc làm ở mức tiền lương thịnh hành

Hội nghị Thống kê Lao động Quốc tế (1954) định nghĩa, thất nghiệp là người đã qua một độ tuổi xác định mà trong một ngành hoặc một tuần xác định, thuộc những loại sau đây: (i) Người lao động có thể đi làm nhưng hết hạn hợp đồng hoặc bị tạm ngừng hợp đồng, đang không có việc làm và đang tìm việc làm; (ii) Người lao động có thể đi làm trong một thời gian xác định và đang tìm việc làm có lương mà trước đó chưa hề có việc làm, hoặc vị trí hành nghề cuối cùng trước đó không phải là người làm công ăn lương hoặc đã thôi việc; (iii) Người lao động không có việc làm và có thể đi làm ngay và

đã có sự chuẩn bị cuối cùng để làm một công việc mới vào một ngày nhất định sau một thời kỳ đã được xác định; (iv) Người phải nghỉ việc tạm thời hoặc không thời hạn mà không có lương

Tổng cục thống kê (2011), định nghĩa về thất nghiệp căn cứ vào ba tiêu chuẩn sau: (i) hiện không làm việc; (ii) đang tìm kiếm việc làm; và (iii) sẵn sàng làm việc Các yếu tố này phải được thỏa mãn đồng thời Người thất nghiệp bao gồm những người từ 15 tuổi trở lên trong tuần nghiên cứu không làm việc, nhưng đã có những bước đi cụ thể để tìm việc làm và sẵn sàng làm việc Các hoạt động tìm việc bao gồm: đăng ký tìm việc tại văn phòng việc làm của nhà nước hoặc tư nhân; nộp đơn xin việc đến người sử dụng lao động/ông chủ; kiểm tra, đọc và trả lời các mục quảng cáo tìm việc trên báo; tìm sự hỗ trợ

từ những người bạn và người thân Những người không làm việc, sẵn sàng/có nhu cầu làm việc, nhưng hiện không tìm việc do giãn việc, thời tiết xấu, công việc thời vụ, đang chuẩn bị để bắt đầu công việc mới, hoặc các hoạt động kinh doanh sau tuần nghiên cứu, bận việc gia đình, ốm đau tạm thời cũng được phân loại là người thất nghiệp

Trong thực tế, có nhiều dạng thất nghiệp khác nhau David Begg (2011) cho rằng, không phải tất cả mọi người đều cần việc làm; Những người thực sự cần có việc làm được gọi là lực lượng lao động; Lực lượng lao động là những người có việc hoặc có đăng ký tìm việc; Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động là phần trăm dân số trong độ tuổi lao động mà thuộc lực lượng lao động; Tỷ lệ thất nghiệp là tỷ lệ lực lượng lao động không có việc làm mà có đăng ký tìm việc Và cũng theo David Begg (2011), các nhà kinh tế trước đây thường phân loại thất nghiệp theo nguồn gốc, gồm: Thất nghiệp tạm thời là số người thất nghiệp tối thiểu, không thể thấp hơn nữa mà một xã hội luôn vận

Trang 27

động phải có; Thất nghiệp cơ cấu nảy sinh từ việc không tương thích giữa kỹ năng và cơ hội việc làm khi hình mẫu của cung và cầu thay đổi; Thất nghiệp do thiếu cầu xảy ra khi mức sản lượng thực tế thấp hơn mức sản lượng tiềm năng; Thất nghiệp cổ điển phản ánh

số người thất nghiệp do tiền lương bị chủ định giữ cao hơn mức cân bằng giữa cung và cầu lao động Như vậy, đối tượng sinh viên trong đề tài nghiên cứu này được xem là đối tượng thất nghiệp tạm thời

2.2 Các lý thuyết có liên quan

2.2.1 Lý thuyết cung lao động cá nhân

Theo phân tích của McConnell, Brue và Macphreson (2010), đối với một người lao động cụ thể, số giờ làm việc của người đó có thể tăng lên khi mức lương tăng lên Tuy nhiên sau đó việc mức lương tiếp tục tăng lên có thể sẽ làm cho số giờ làm việc giảm xuống Chính sự thay đổi số giờ làm việc của một người lao động khi mức lương lao động trên thị trường lao động thay đổi theo hai xu hướng như vậy sẽ giúp chúng ta tìm được hình dạng của đường cung lao động cá nhân Đó là một đường cung lao động ngược về phía sau Hình dạng của đường cung lao động cá nhân có thể được giải thích bằng hiệu ứng thu nhập và hiệu ứng thay thế Hiệu ứng thu nhập chỉ ra sự thay đổi của

số giờ làm việc mà một người muốn cung ứng trên thị trường lao động do sự thay đổi trong thu nhập của người đó, trong điều kiện mức lương không đổi Hiệu ứng thay thế chỉ ra sự thay đổi của số giờ làm việc mà một người muốn cung ứng trên thị trường lao động do sự thay đổi mức lương, trong điều kiện thu nhập không đổi

Hình 2.1 Cung lao động

Nguồn: McConnell, Brue và Macpherson (2010)

Trang 28

2.2.2 Lý thuyết cầu lao động

McConnell, Brue và Macphreson (2010) cho rằng: Cầu của một loại lao động cụ thể lớn hay nhỏ phụ thuộc vào hai yếu tố là năng suất lao động giúp doanh nghiệp sản xuất như thế nào và giá trị thị trường sản phẩm mà doanh nghiệp sản xuất trên thị trường hàng hóa Cầu thị trường của một loại lao động cụ thể là tổng tất cả đường cầu lao động của các doanh nghiệp theo trục hoành trên đồ thị Theo Đặng Đình Thắng (2015), các yếu tố ảnh hưởng đến cầu lao động gồm: (i) Cầu sản phẩm (trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, cầu lao động - với vai trò là một nhập lượng sẽ thay đổi cùng chiều với

sự thay đổi của cầu sản phẩm trên thị trường); (ii) Năng suất lao động (khi giả định rằng không có sự thay đổi trái chiều của sản phẩm, một sự thay đổi của năng suất biên theo lao động MPL sẽ làm cho đường cầu lao động dịch chuyển cùng hướng); (iii) Số lượng doanh nghiệp trên thị trường (giả định rằng không có sự biến động về công việc ở các doanh nghiệp khác, một sự thay đổi về số lượng doanh nghiệp trên thị trường mà sử dụng một loại lao động nhất định thì sẽ làm thay đổi cầu lao động cùng chiều); (iv) Giá

cả của các nguồn lực đầu vào khác (vốn, đất đai, nguyên liệu) giảm xuống cũng có thể làm dịch chuyển đường cầu lao động

2.2.3 Lý luận chung về việc làm, Keynes (1936)

Keynes (1936) đã xem xét việc làm trong mối quan hệ sản lượng - thu nhập - tiêu dùng - đầu tư - tiết kiệm - việc làm và cho rằng trong một nền kinh tế, khi sản lượng tăng, thu nhập tăng, đầu tư tăng thì việc làm tăng và ngược lại Vị trí trung tâm trong lý thuyết của Keynes là lý thuyết về việc làm vì theo ông vấn đề quan trọng và nguy hiểm nhất đối với chủ nghĩa tư bản là khối lượng thất nghiệp và việc làm Keynes đã đưa ra phương pháp phân tích vĩ mô (tức là phân tích kinh tế xuất phát từ những tổng lượng lớn

để nghiên cứu mối liên hệ và khuynh hướng của chúng nhằm tìm ra công cụ tác động vào khuynh hướng, làm thay đổi tổng lượng) Lý thuyết của Keynes (1936) còn được gọi

là lý thuyết trọng cầu, phương pháp được đưa ra trong lý thuyết này có tính chất siêu hình, tích cực áp dụng toán học (công thức, mô hình, đại lượng, hàm số, đồ thị) Học thuyết kinh tế của Keynes đã có tác dụng tích cực nhất định đối với sự phát triển kinh tế trong các nước tư bản, góp phần thúc đẩy kinh tế của các nước tư bản phát triển với tốc

độ cao (Nhật, Tây Đức, Pháp, Thụy Sĩ, ) đồng thời hạn chế được khủng hoảng và thất nghiệp nhất là trong những năm 50 - 60 của thế kỷ XX Vì vậy học thuyết này giữ vị trí thống trị trong hệ thống tư tưởng kinh tế tư sản trong một thời gian dài Bên cạnh những

Trang 29

yếu tố tích cực nêu trên, học thuyết kinh tế trường phái Keynes cũng đã bộc lộ một số hạn chế nhất định, đó là: Mục đích chống khủng hoảng và thất nghiệp chỉ có tác dụng tạm thời, biểu hiện là thất nghiệp vẫn duy trì ở mức cao; khủng hoảng vẫn xảy ra thường xuyên (tuy không trầm trọng như trước); thời gian giữa các cuộc khủng hoảng kinh tế ngắn hơn; phương pháp luận thiếu khoa học (xuất phát từ tâm lý con người để giải thích nguyên nhân kinh tế) Theo Trần Thị Ái Đức (2014), học thuyết được xem là bài thuốc chữa ngọn, chưa chữa được tận gốc rễ căn bệnh của chủ nghĩa tư bản

2.2.4 Lý thuyết về tạo việc làm bằng di chuyển lao động, Harris và Todaro (1970)

Harris và Todaro (1970) nghiên cứu việc làm bằng sự di chuyển lao động trên cơ

sở thực hiện điều tiết thu nhập, tiền lương giữa các khu vực kinh tế khác nhau Theo lý thuyết này, những người lao động ở khu vực nông thôn có thu nhập trung bình thấp đã lựa chọn quyết định di chuyển sang khu vực thành thị có thu nhập cao hơn Như vậy, quá trình di chuyển lao động mang tính tự phát, phụ thuộc vào sự lựa chọn và quyết định của các cá nhân Điều này làm cho cung cầu về lao động ở từng vùng không ổn định, gây khó khăn cho Chính phủ trong việc quản lý lao động và nhân khẩu

Mô hình Harris và Todaro (1970) cho phép giải thích được lý do tồn tại tình trạng thất nghiệp ở các đô thị tại các nước đang phát triển và tại sao người dân lại chuyển tới các thành phố mặc dù đang tồn tại nan giải vấn đề thất nghiệp Để giải quyết vấn đề này, Harris và Todaro (1970) thừa nhận sự tồn tại của khu vực kinh tế phi chính thức Đó là khu vực kinh tế bao gồm các hoạt động, không hoàn toàn là bất hợp pháp, nhưng thường cũng không được sự thừa nhận chính thức của xã hội và hầu hết các hoạt động này đều không đăng ký với nhà nước chẳng hạn như lao động phục vụ gia đình, hành nghề tự do,

xe ôm, bán hàng rong, mài dao kéo, dịch vụ ăn uống vỉa hè, thu lượm ve chai đồng nát, đánh giày (Trần Thị Ái Đức, 2014)

Nhìn chung các lý thuyết về việc làm này đều tập trung nghiên cứu, xác định mối quan hệ cung cầu lao động tác động đến việc làm Những lý luận đó tuy chưa làm rõ vai trò của Chính phủ thông qua hệ thống các chính sách kinh tế kết hợp với chính sách xã hội để tạo việc làm ổn định cho nền kinh tế, nhưng có tác dụng gợi mở cho chúng ta khi phân tích thực trạng việc làm và đề ra những giải pháp phù hợp tạo việc làm cho người lao động ở Việt Nam

2.2.5 Lý thuyết ra quyết định

Trang 30

Pitz và Harren (1980) chia vấn đề ra quyết định thành bốn yếu tố cơ bản: Yếu tố đầu tiên là tập hợp các lựa chọn; Yếu tố thứ hai là xác định các mục tiêu hoặc mục đích muốn đạt được; Yếu tố thứ ba là tập hợp các kết quả có liên quan với mỗi phương án chọn lựa; cuối cùng là thuộc tính của các kết quả Các tác giả đã cho rằng trước khi quyết định, bất kỳ ai cũng nên nhận biết tất cả các phương án lựa chọn đã có và làm quen với các đặc tính của nó Để có một quyết định đúng, người làm quyết định phải sẵn

có một mục tiêu rõ ràng và phải liên kết được giữa mục tiêu và các phương án lựa chọn trước khi quyết định Từ đặc trưng của các kết quả dự kiến đạt được, có thể dự đoán được phương án lựa chọn sẽ đạt được mục tiêu đặt ra như thế nào

Gati (1986) trong mô hình lợi ích mong đợi, tiến trình ra một quyết định được thực hiện lần lượt ở bảy bước như sau: Đầu tiên là việc xác định rõ mục tiêu mong ước;

kế tiếp phải cân nhắc tầm quan trọng của từng mục tiêu; sau đó phải quyết định giữ lại những mục tiêu nào; bước kế tiếp phải xếp hạng các chọn lựa mang lại cơ hội đạt được giá trị hài lòng cao nhất theo thứ tự Đánh giá xếp hạng sẽ được nhân với trọng số của tầm quan trọng Với mỗi phương án chọn lựa sẽ có một số điểm tương ứng - đó là sự kết hợp giữa tầm quan trọng và cơ hội của những lựa chọn Cuối cùng, tổng số điểm sẽ là căn cứ để ước lượng xác suất thành công của từng lựa chọn Các bước trên đưa ra kết quả lợi ích mong muốn cho từng loại chọn lựa Sự lựa chọn tối ưu sẽ mang lại lợi ích mong ước cao nhất

Như vậy, tiến trình ra quyết định trải qua nhiều bước khác nhau, bắt đầu từ việc xác định mục tiêu, phân tích lợi nhuận đạt được của từng lựa chọn và thực hiện quyết định lựa chọn dựa trên các kết quả đã phân tích Quyết định tối ưu là quyết định làm tối

đa lợi ích mong đợi

Đối với sinh viên khi tìm việc làm thì các quy trình ra quyết định nêu trên thật sự hữu ích, có thể giúp sinh viên có quyết định sáng suốt hơn khi chọn lựa việc làm sao cho vừa phù hợp với sở thích cá nhân vừa mang lại lợi ích nhiều nhất và làm tiền đề cho sự thành công trong tương lai

2.2.6 Lý thuyết phát triển nghề nghiệp

Lý thuyết đặc điểm và yếu tố của Person (1909) cho rằng, việc chọn một nghề dựa vào các yếu tố như sự hiểu biết thấu đáo bản thân mình, sự hiểu biết về kiến thức nghề nghiệp và khả năng tạo ra sự hòa hợp giữa hai yếu tố trên Để có thể chọn lựa một nghề phù hợp nhất, mọi người trong chúng ta trước tiên phải hiểu rõ về sở thích, năng

Trang 31

khiếu, nguồn lực cũng như những khả năng, hạn chế và tham vọng của bản thân Bên cạnh đó cần phải hiểu biết về những yêu cầu, điều kiện để đạt được thành công… Lý thuyết này cũng khẳng định rằng nếu các đặc điểm cá nhân có mối tương quan càng nhiều với đặc điểm nghề nghiệp thì mức độ thành công và hài lòng về công việc càng lớn

Theo Ginzberg và ctg (1951), việc chọn nghề nghiệp là cả một quá trình luôn phát triển bắt đầu từ thời thơ ấu đến lúc trưởng thành, bị ảnh hưởng lớn bởi bốn yếu tố, đó là: yếu tố thực tế, sự ảnh hưởng của quá trình giáo dục, yếu tố tình cảm và giá trị cá nhân Ginzberg và ctg đã phát triển lý thuyết này thành ba giai đoạn là tưởng tượng, dự kiến và hiện thực Giai đoạn “tưởng tượng” được hình thành ở thời thơ ấu, thể hiện qua các hoạt động vui chơi của con trẻ và cung cấp một cái nhìn thoáng qua cho việc lựa chọn nghề nghiệp trong tương lai của đứa trẻ Giai đoạn “dự kiến” bắt đầu từ thời niên thiếu xuyên suốt đến giai đoạn trung học phổ thông và được chia thành bốn giai đoạn: sở thích, năng lực, giá trị và sự chuyển đổi Các cô/cậu bé có sự xác định rõ ràng giữa việc thích và không thích trong giai đoạn “sở thích” khi bắt đầu nhận ra có một sự hấp dẫn hơn trong vài việc thông qua người khác Cùng thời gian này, họ cũng nhận ra “giá trị” lớn hơn của một vài hoạt động Những tác động tích lũy của giai đoạn này sẽ được thể hiện trong giai đoạn “chuyển đổi” khi sinh viên bắt đầu tiến trình chọn nghề nghiệp và nhận ra được hậu quả cũng như trách nhiệm của việc chọn lựa Giai đoạn “thực tế” kéo dài từ giai đoạn giữa của tuổi vị thành niên đến giai đoạn đầu của tuổi trưởng thành và cũng được chia làm ba giai đoạn nhỏ là khám phá, kết tinh và đặc tả Trong giai đoạn “khám phá”, con người bắt đầu giới hạn sự lựa chọn thông qua việc nhận biết những sở thích, kỹ năng và khả năng của bản thân mình Quá trình này dẫn con người đến giai đoạn “ kết tinh”, nơi việc lựa chọn nghề nghiệp sẽ xảy ra Và kết thúc tiến trình ở giai đoạn cuối đặc tả, nơi

mà một con người theo đuổi việc trải nghiệm học tập để đạt được mục tiêu nghề nghiệp

Holland (1959) trong lý thuyết phân loại nghề nghiệp cho rằng: mọi người có thể hoạt động, phát triển tốt nhất và tìm thấy sự hài lòng công việc trong môi trường làm việc tương thích với tính cách của họ Sự phù hợp giữa tính cách con người và công việc càng nhiều thì khả năng hài lòng càng cao Để có thể đưa ra kết luận trên, ông đã tiến hành sắp xếp các dữ liệu về những người làm các công việc khác nhau và các dữ liệu về môi trường làm việc khác nhau, đề nghị mọi người nên lựa chọn nghề nghiệp như thế

Trang 32

nào và giải thích sự hài lòng trong công việc cũng như thành tích nghề nghiệp sẽ diễn ra như thế nào?

Lý thuyết nghề nghiệp nhận thức xã hội cho rằng, sự lựa chọn nghề nghiệp bị ảnh hưởng bởi niềm tin, sự phát triển cá nhân và sự cải tiến thông qua bốn nguồn chính: những thành tích cá nhân, sự gián tiếp học tập, sự thuyết phục xã hội, các trạng thái sinh

lý và phản ứng Những vấn đề trên kết hợp với nhau trong suốt quá trình phát triển nghề nghiệp Các yếu tố hoàn cảnh đóng vai trò ảnh hưởng đến việc nhận thức xác suất thành công của một cá nhân Nếu một người gặp ít rào cản thì khả năng thành công củng cố thêm sự lựa chọn nghề nghiệp, nhưng nếu các rào cản được xem là đáng kể thì con người sẽ có mức độ quan tâm và lựa chọn yếu hơn Ở tuổi vị thành niên, hầu hết mọi người luôn có cảm giác mình có năng lực để thực hiện nhiều công việc khác nhau cùng với niềm tin sẽ đạt được kết quả tốt Thông qua một quá trình trải nghiệm học tập, khả năng con người sẽ gia tăng hơn nữa và tác động đến tính hiệu quả, niềm tin đạt được kết quả, sự hứng thú và sự lựa chọn nghề nghiệp

Các lý thuyết về sự lựa chọn nghề nghiệp cho thấy việc đang làm công việc gì ở hiện tại là kết quả của cả một quá trình lựa chọn, tích lũy, phân tích, tổng hợp và quyết định được hình thành từ thời thơ ấu cho đến hiện tại Quá trình này bị chi phối và tác động từ nhiều yếu tố khách quan và chủ quan Do đó thời gian tìm được việc làm hiện nay của sinh viên sau khi ra trường một phần bị ảnh hưởng tác động của cả một quá trình trước đó chứ không chỉ bị ảnh hưởng tác động từ quá trình giáo dục tại trường cao đẳng hay đại học Nếu sinh viên chưa có được sự lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với sở thích,

cá tính của mình ngay từ đầu thì sinh viên khó có thể hài lòng với công việc hiện tại, gián tiếp làm giảm đi khả năng có việc làm phù hợp của bản thân sinh viên

2.2.7 Những nguyên nhân quyết định chọn việc

2.2.7.1 Chọn việc phù hợp với khả năng học tập, kinh nghiệm thực tế và ngành đào tạo

Manter và Benjamin (1989) tìm ra rằng sinh viên tốt nghiệp tìm kiếm một công việc cho phép họ ứng dụng những kỹ năng đã học; Theo Anderson và ctg (1991), những sinh viên thuộc những nhóm ngành khác nhau (Quản trị nhân sự, Marketing, Kế toán, Tài chính) có sự quan tâm rất khác nhau đối với nghề Marketing Trong khi những sinh viên chuyên ngành Marketing có sự phản hồi rất tích cực với câu hỏi liệu họ có theo đuổi nghề Marketing hay không, những sinh viên không thuộc khối ngành kinh doanh có

Trang 33

sự phản hồi trung lập thì các sinh viên kế toán, tài chính lại gần như không có hứng thú với nghề Marketing Sở dĩ có sự khác nhau như vậy bởi vì họ đã có một định hướng nghề nghiệp rõ ràng và đang theo đuổi sự lựa chọn đó Các sinh viên cũng đã nhận thức được rằng giáo dục là phương tiện duy nhất để đạt được mục tiêu tìm được một việc làm đúng chuyên ngành mà họ đã chọn (Chacko, 1991) Fatt (1993), trong một nghiên cứu được thực hiện với sinh viên năm thứ nhất đại học ngành Kế toán tại Singapore khám phá ra rằng kinh nghiệm và kỹ năng giao tiếp là phẩm chất cá nhân quan trọng nhất để

có thể chọn một công việc làm tốt Tương tự, Kim (2008) cho rằng hầu hết các sinh viên ngành quản lý nhà hàng khách sạn tại trường đại học AUT mong muốn được làm việc trong ngành Công nghiệp nhà hàng khách sạn sau khi tốt nghiệp đồng thời tình nguyện làm việc tại bộ phận thực phẩm và đồ uống trong giai đoạn khởi đầu làm việc

2.2.7.2 Sinh viên sau khi ra trường thường chọn việc phù hợp với năng lực, tính cách, sở thích cá nhân

Theo Holland (1985), con người thường có khuynh hướng chọn nghề nghiệp có đặc điểm phù hợp với năng lực, tính cách và sở thích của mình Các nghiên cứu trước cũng đã chứng minh rằng sinh viên theo học ngành kế toán bởi vì họ nhận ra môi trường làm việc và quan điểm của nghề này phù hợp với khả năng, sở thích và hứng thú của họ (Holland, 1985 và Chacko, 1991) Chọn việc phù hợp với năng lực, tính cách, sở thích cá nhân là một sự lựa chọn khá đúng đắn vì nếu bạn chọn một công việc phù hợp với sở thích cá nhân và đam mê của mình thì chắc hẳn bạn sẽ tìm thấy sự say mê trong công việc và sẽ dễ dàng đạt được hiệu suất lao động cao

2.2.7.3 Chọn nghề theo yêu cầu của cha mẹ, theo chuẩn của nhóm, của bạn

bè hoặc của người yêu

Theo Kotrlik và Harrison (1989) trong nghiên cứu của mình đã chỉ ra rằng cha mẹ

có ảnh hưởng quan trọng trong việc lựa chọn nghề nghiệp của sinh viên hơn là nhân viên

tư vấn, giáo viên, bạn bè và người thân; Creamer và Laughlin (2005) trong một nghiên cứu tương tự cũng đã khẳng định rằng, cha mẹ có ảnh hưởng rất lớn trong việc lựa chọn nghề của các con, thậm chí còn vượt qua cả ranh giới về giới tính và sắc tộc Mặc dù trường học, bạn bè và hội sinh viên đều có ảnh hưởng đáng kể đến bản sắc và nghề nghiệp của thanh thiếu niên, nhưng kỳ vọng và nhận thức của cha mẹ về sự phù hợp nghề nghiệp cho các con đóng vai trò quan trọng khi hình thành sự lựa chọn nghề nghiệp cho con họ; Nghiên cứu của Ferry (2006) cũng cho thấy sự ảnh hưởng này rất mạnh và

Trang 34

áp đảo luôn cả sự ảnh hưởng của giáo viên, khoa và nhân viên tư vấn nghề nghiệp, những người hiểu biết rất rõ các lĩnh vực nghề nghiệp nhưng không được biết đến hoặc không được tin cậy như là các bậc phụ huynh

2.2.7.4 Chọn việc có thu nhập cao

Nghiên cứu của Parmley và ctg (1987) chứng minh rằng sự lựa chọn nơi làm việc của sinh viên chủ yếu dựa vào tiềm năng có được thu nhập cao trong tương lai Điều này cũng trùng hợp với nghiên cứu của Chacko (1991) và Ferry (2006) khi cho rằng tiền là một trong những nguyên nhân thu hút sinh viên theo đuổi nghề Còn trong cuộc khảo sát của Viney và Shami (2000) thì có đến 50% những người tham gia cho rằng lương cao và

sự tưởng thưởng là nguyên nhân chính trong việc chọn một công việc

2.2.7.5 Chọn việc có cơ hội thăng tiến

Có nhiều nghiên cứu đã chứng minh cơ hội thăng tiến là yếu tố quan trọng có ý nghĩa quyết định đến việc chọn việc làm của sinh viên tốt nghiệp (Parmley và ctg (1987); Devlin và Peterson (1994); Assari (1995); Assari và Karia (2002)) Các sinh viên năm cuối ngành kinh doanh tại trường Đại học quản lý Sains, Malaisia trong nghiên cứu của Assari (1995) đều đánh giá cơ hội thăng tiến cao hơn các yếu tố khác như điều kiện làm việc, thử thách, loại công việc, đào tạo,…khi lần đầu tiên tìm việc

2.2.7.6 Chọn việc có cơ hội phát triển nghề nghiệp

Theo Devlin và Peterson (1994); Chow và Ngo, Assari (1995) đã có nhiều nghiên cứu cho thấy đây là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng nhiều đến quyết định chọn lựa nghề nghiệp Chow và Ngo (2011) trong một nghiên cứu với hơn 1200 sinh viên đại học tại Trung Quốc cũng đã tiết lộ có sự khác nhau về sở thích nghề nghiệp và quyết định lựa chọn nghề nghiệp giữa nam và nữ Và dù rằng có nhiều yếu tố tác động đến quyết định chọn việc với họ nhưng cả sinh viên nam và nữ đều có những quan niệm tương đồng là đều đánh giá cao các yếu tố về cơ hội phát triển nghề nghiệp và cơ hội thăng tiến khi quyết định chọn việc làm

Tóm lại, việc quyết định làm việc gì sau khi tốt nghiệp là một quá trình lâu dài và phức tạp được biểu hiện ở các mức độ khác nhau trong suốt quá trình phát triển của một người từ thơ ấu đến trưởng thành Với tư cách là một quá trình hoạt động, việc lựa chọn việc làm của một người bị tác động bởi nhiều yếu tố chủ quan và khách quan khác nhau Những yếu tố bên trong, còn gọi là động cơ thúc đẩy bên trong như một sự hứng thú, nguyện vọng, khả năng học tập, năng khiếu, thiên hướng và quan điểm sống là những

Trang 35

yếu tố chủ quan ảnh hưởng quan trọng đến quyết định lựa chọn việc làm Song song đó, khi quyết định lựa chọn một công việc, mỗi người còn phải xem xét đến các yếu tố ảnh hưởng khác như thu nhập, quyền lực đạt được, môi trường làm việc, sự phát triển nghề nghiệp, cơ hội thăng tiến trong tương lai và uy tín của công việc Các yếu tố bên ngoài còn gọi là động cơ bên ngoài như nhu cầu nhà tuyển dụng, dư luận xã hội, lời khuyên của người thân và điều kiện kinh tế xã hội là những yếu tố tác động gián tiếp đến quyết định chọn việc của sinh viên Ngoài ra, sự lựa chọn ngành học đã hình thành từ trước cũng đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định xin việc gì sau khi tốt nghiệp của sinh viên

2.3 Các nghiên cứu trước có liên quan

2.3.1 Các nghiên cứu ngoài nước

Với nhiều cách tiếp cận khác nhau khi nghiên cứu về vấn đề việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp ra trường, các tác giả đến từ nhiều quốc gia tại các thời điểm nghiên cứu khác nhau đã cho thấy có mối liên hệ giữa trình độ học vấn, thành tích học tập và kỳ vọng của sinh viên với khả năng tìm kiếm được việc làm

Sum, Harrington và Simpson (1983) cho rằng thuộc tính tỷ lệ thất nghiệp cao hơn

là do không đủ trình độ học vấn tại Hoa Kỳ Nghiên cứu của Wolpin (1987) cho thấy một xu hướng ngược lại và lập luận rằng tiền lương đề nghi ̣ cao dẫn đến một thời gian dài thất nghiệp, nghĩa là những sinh viên tốt nghiê ̣p kỳ vo ̣ng mức lương ban đầu cho công việc càng cao càng khó tìm kiếm viê ̣c làm hơn Về ảnh hưởng của thành tích học đại học với sinh viên tốt nghiệp tìm việc làm, Jensenvà Westergard-Nielsen (1987) sử dụng các dữ liệu thu thập được tại Đan Mạch chỉ ra rằng điểm số trung bình có tác dụng tích cực trong việc tìm kiếm việc làm Các sinh viên tốt nghiệp với điểm số cao hơn dễ

tìm viê ̣c hơn và có triển vọng công việc tốt hơn

Zhou (2003) thấy rằng sẽ dễ dàng hơn cho sinh viên tốt nghiệp với bằng thạc sĩ để tìm công việc sovới những người có bằng cử nhân và bằng tiến sĩ tại Trung Quốc; Bjorklund và Eriksson (1996) trong một nghiên cứu khác với các trường hợp của các nước Bắc Âu đã chỉ ra một kết quả khác nhưng cũng đi đến kết luận là tỷ lệ thất nghiệp thấp hơn cho người lao động có học vấn cao hơn Điều này chỉ ra rằng doanh nghiệp ngày càng đòi hỏi trình độ học vấn cao hơn

Giới tính và dân tộc cũng có liên quan đến thời gian thất nghiệp và mức lương được nhận Eyland et al (1989), Lassibille et al (2001), Genda và Kurosawa (2000)

Trang 36

trong một số nghiên cứu chỉ ra rằng phụ nữ mất nhiều thời gian để tìm việc hơn nam giới; trong khi Bratberg và Nilsen (1998) sử dụng dữ liệu của Na Uy thì thấy rằng nữ giới có thời gian tìm việc ngắn hơn và mức lương thấp hơn khi bước vào thị trường lao động; Điều tra của Wolpin (1992, 1995) cũng cho thấy ảnh hưởng của dân tộc đến thời gian tìm việc lần đầu, người da đen có thời gian tìm việc dài hơn và nhận mức lương trung bình thấp hơn so với người da trắng Còn Bowlus et al (2001) thì kết luận rằng thời gian thất nghiệp ở người da đen dài hơn là do họ có ít cơ hội tìm việc hơn Điều này cũng tương tự như Eckstein và Wolpin (1995) khi nhận thấy sự khác biệt trong khoảng thời gian thất nghiệp theo chủng tộc (thành phần dân tô ̣c) Những người da màu khó tìm kiếm viê ̣c làm hơn do yếu tố phân biê ̣t chủng tô ̣c của nhà tuyển du ̣ng Đồng thời cũng kết luận rằng các yếu tố phân biệt thời gian thất nghiệp có liên quan đến sự khác biệt tiền lương

Khả năng tìm được việc làm của nam và nữ sẽ khác nhau tùy vào từng nền văn hóa khác nhau Tại Anh, đại điện cho các nước nơi mà ít có sự phân biệt giữa nam và nữ, nghiên cứu của Bradley và Nguyễn (2004) với các trường chất lượng cao cũng đã chỉ ra, nam giớ i ít có khả năng thâm nhập thị trường lao động và có được công ăn việc làm hơn

so với nữ giới do vậy họ có nhiều khả năng bị thất nghiệp hơn nữ giới Trong khi các nghiên cứu tại Trung Quốc và Hàn Quốc (đại diện Châu Á) đã cho kết quả ngược lại: Nghiên cứu của Zhou (2003) tại Trung Quốc, kết quả là nam sinh viên tốt nghiệp tìm được việc làm dễ dàng hơn nữ sinh viên; Còn ở Hàn Quốc, một tập hợp các dữ liệu từ cuộc điều tra Thống kê năm 2008 cho thấy, với cùng khoảng thời gian tìm việc thì tỷ lệ tìm được việc làm của sinh viên tốt nghiệp là nữ thấp hơn so với nam giới ở Hàn Quốc 2,6%, và với việc làm toàn thời gian, tỷ lệ tìm được việc làm của sinh viên tốt nghiệp là

nữ sẽ thấp hơn so với nam giới ở Hàn Quốc đến 7,7% Việc sinh viên nam dễ tìm thấy việc làm hơn nữ cũng là kết quả trong một nghiên cứu thực nghiệm của Nantz (2005)

Kinh nghiệm sinh viên tích lũy được khi đi làm thêm ngoài giờ học trong quá trình học tập cũng tạo cơ hội cho sinh viên dễ tìm được việc làm hơn sau khi ra trường Điều này đã được các tác giả như Bratberg và Nilsen (1998), Bradley và Nguyễn (2004), Kong Jun and Kong Jun (2011) làm rõ trong các nghiên cứu của mình Bratberg và Nilsen (1998) cũng chứng minh rằng ở Na Uy giáo dục là rất quan trọng để có được một công việc một cách nhanh chóng, lương cao và lâu dài hơn Họ cũng tìm thấy rằng làm

Trang 37

người học việc (thực tập) dường như rút ngắn thời gian tìm kiếm công việc liên quan so với những cá nhân khác cùng cấp độ giáo dục nhưng không qua thời gian thực tập

Bradley và Nguyễn (2004) đã chỉ ra rằng, chỉ số của chất lượng trường học có ảnh hưởng lớn hơn nhiều so với kết quả học tập tại Anh Tuy nhiên, khi Zhou (2003) sử dụng kết quả một cuộc khảo sát có sẵn bao gồm 30 trường đại học thuộc 6 tỉnh tại Trung Quốc với mẫu khảo sát là 18.722 sinh viên tốt nghiệp đại học lại cho thấy uy tín và chất lượng của các trường Cao đẳng chỉ có một tác động nhỏ vào việc các sinh viên tốt nghiệp tìm được việc làm; cũng thấy rằng sẽ dễ dàng hơn cho sinh viên tốt nghiệp với bằng thạc sĩ

để tìm công việc so với những người có bằng cử nhân và bằng tiến sĩ tại Trung Quốc và điều này chỉ ra rằng doanh nghiệp ngày càng đòi hỏi trình độ học vấn cao hơn

Nantz (2005), nghiên cứu thực nghiệm về các yếu tố quan tro ̣ng ảnh hưởng đến

cơ hô ̣i việc làm của sinh viên ngành hệ thống thông tin quản lý (MIS) Nghiên cứu dựa trên thực trạng nền kinh tế bi ̣ suy thoái, tình tra ̣ng thất nghiệp gia tăng, khả năng tìm được việc làm của sinh viên khi tốt nghiê ̣p bi ̣ giảm Nghiên cứu thực hiê ̣n bằng cách khảo sát các sinh viên đang trong giai đoa ̣n thực tâ ̣p tốt nghiê ̣p và sinh viên đã tốt nghiê ̣p trong khoảng thời gian một năm Biến phụ thuộc là biến nhị phân (đã có viê ̣c làm hay chưa có việc làm) Các biến độc lâ ̣p bao gồm nhiều biến như: đă ̣c điểm của sinh viên (đô ̣ tuổi, giớ i tính, kết quả học tâ ̣p, kinh nghiê ̣m làm viê ̣c,…), những biến liên quan đến cơ

sở đào ta ̣o (chuyên ngành học, thời gian thực tâ ̣p, đào ta ̣o kỹ năng mềm, danh tiếng của

cơ sở đào ta ̣o,…) và mô ̣t số yếu tố khác như: cách tiếp câ ̣n viê ̣c làm của sinh viên, loa ̣i việc làm sinh viên muốn tìm (bán thời gian, toàn thời gian,…), kỳ vo ̣ng việc làm của sinh viên,… Kết quả nghiên cứu cho thấy: (i) Sinh viên nam dễ tìm thấy viê ̣c làm hơn

nữ; (ii) Kết quả ho ̣c tập có ảnh hưởng đến khả năng tìm viê ̣c làm của sinh viên; (iii) Sinh viên có kinh nghiê ̣m làm viê ̣c dễ tìm viê ̣c làm toàn thời gian hơn; (iv) Kỹ năng mềm có ảnh hưởng tích cực đến kết quả tìm viê ̣c làm của sinh viên Dựa vào kết quả nghiên cứu,

tác giả cũng đề xuất một số kiến nghị để cơ sở đào ta ̣o hoàn thiê ̣n chương trình đào ta ̣o

và tổ chức các kỹ năng cần thiết cho sinh viên để ho ̣ dễ tìm viê ̣c khi tốt nghiê ̣p

Kong Jun and Kong Jun (2011), các yếu tố ảnh hưởng đến cơ hội việc làm cho sinh viên tốt nghiệp đại học tại Trung Quốc Biến phu ̣ thuô ̣c đươ ̣c đo bằng thời gian thất nghiệp của sinh viên (tính từ lúc tốt nghiê ̣p đến lúc có viê ̣c làm đầu tiên) Bộ dữ liệu này được cung cấp bởi MyCos, một công ty tư nhân duy trì cơ sở dữ liệu giáo dục ở Trung Quốc tại 27 tỉnh và 4 khu vực, đặc biệt là các thành phố trực thuộc thẩm quyền của

Trang 38

Chính quyền Trung ương và các trường đại học vào năm 2007 Các số liệu được sử dụng trong nghiên cứu này là của các trường Đại học và Cao đẳng nghề trong khu vực, đặc biệt của Bắc Kinh và bao gồm tất cả các ngành Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự ảnh hưởng của vị thế trường đại học, ngành nghề được đào tạo của sinh viên đến khả năng tìm được việc làm của sinh viên, cụ thể: (i) Sinh viên tốt nghiệp tìm được việc làm nhanh hơn nếu họ đến từ các trường đại học với danh tiếng cao hơn; (ii) Sinh viên tốt nghiệp khối ngành kỹ thuật và kinh doanh tìm kiếm việc làm dễ dàng hơn, tiếp theo là các ngành nghệ thuật và khoa học xã hội Các sinh viên tốt nghiệp chuyên ngành liên quan pháp luật và khoa học tìm kiếm việc làm khó khăn hơn; (iii) Các yếu tố liên quan khác như thành tích học đại học, thực tập và trình độ giáo dục không đa ̣t mức ý nghĩa thố ng kê theo yêu cầu (10%)

Theo Lundsteen (2015), thờ i gian rất quý báu cho người đang tìm viê ̣c làm Những người đang tìm kiếm việc làm thường không tìm đươ ̣c viê ̣c làm bởi nhiều lý do: trong thời gian đó họ ưu tiên điều gì khác hơn tìm viê ̣c, cảm giác viê ̣c làm nơi khác quan trọng hơn hoặc mình quan tro ̣ng hơn (chỗ làm đó không xứng đáng), thái đô ̣ khi tìm việc, kỳ vo ̣ng về viê ̣c làm,…

King và ctg (2010) đã nghiên cứu các yếu tố tâm lý xã hội ảnh hưởng đến việc làm của sinh viên tốt nghiệp bằng phương pháp thực nghiệm với trên 500 sinh viên năm cuối trường đại học Chung Hua, Hsinchu, Đài Loan Kết quả chỉ ra rằng có năm yếu tố tác động đến việc làm của sinh viên giải thích được 51,21% tổng phương sai của các biến Đó là khả năng học tập, khả năng ngoại ngữ, sự hợp tác, kỹ thuật máy tính và mối quan hệ cá nhân Ngoài ra nghiên cứu cũng chứng minh rằng mức độ tác động của các yếu tố rất khác nhau giữa nam và nữ Và ngoại trừ yếu tố khả năng học tập có sự ảnh hưởng khác nhau giữa bốn nhóm gia đình (nghèo, an toàn tài chính, khá giả và giàu có), đặc biệt là giữa nhóm nghèo và ba nhóm còn lại, thì các yếu tố còn lại không có tác động khác biệt

Các nhân tố của mô hình nghiên cứu này về cơ bản khác với nghiên cứu đề nghị

về số nhân tố tác động và một số yếu tố cấu thành thang đo Các yếu tố tác động đến việc làm trong mô hình này được sử dụng trong mô hình đề nghị như khả năng học tập (điểm TBTN), kỹ năng ngoại ngữ (chứng chỉ ngoại ngữ), kỹ năng tin học (chứng chỉ tin học), mối quan hệ cá nhân (gia đình, thầy cô, bạn bè), giới tính (nam và nữ)

Trang 39

Mô hình nghiên cứu này tương tự mô hình nghiên cứu đề nghị về phương pháp, đối tượng nghiên cứu Tuy nhiên mẫu nghiên cứu của mô hình nhỏ hơn mẫu nghiên cứu

đề nghị

Ali và Fereshteh (2010) nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng việc làm cựu sinh viên nông nghiệp ở Iran theo phương pháp nghiên cứu thực nghiệm, được thực hiện bằng phương pháp thống kê mô tả Bảng câu hỏi được phát cho 530 cựu sinh viên thuộc bảy lĩnh vực trong ngành nông nghiệp từ năm 2006-2008 Kết quả cho thấy tình trạng thiếu việc làm trong lĩnh vực công, các điều kiện không phù hợp về việc làm trong lĩnh vực công và sự không phù hợp giữa giáo dục đại học với chuyên ngành nông nghiệp là ba thành phần quan trọng nhất ảnh hưởng đến tình trạng thất nghiệp của cựu sinh viên ngành nông nghiệp

Ngoài ra nghiên cứu còn chỉ ra được 6 yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng việc làm của sinh viên ngành nông nghiệp tại Trường Razi, Iran là: yếu tố lịch sử giáo dục, kỹ năng chuyên ngành, tinh thần doanh nhân, kinh nghiệm thực tế, kỹ năng giao tiếp và bối cảnh kinh tế - xã hội Các yếu tố vừa nêu xác định 70,03% tổng số phương sai biến tình trạng việc làm của sinh viên tốt nghiệp ngành nông nghiệp

Bên cạnh những kết quả thống kê về đặc điểm cá nhân, tỷ lệ có việc làm, tỷ lệ có việc làm phù hợp, nghiên cứu đã đi sâu phân tích các yêu tố tác động đến tình trạng thất nghiệp và khả năng có việc làm của cựu sinh viên cũng như so sánh quan điểm của hai nhóm có việc làm và chưa có việc làm về các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tìm được việc của họ Nghiên cứu này chỉ dừng lại ở việc tìm ra các yếu tố tác động đến khả năng

có việc làm và mức độ tác động mà chưa có đánh giá về khả năng có một việc làm tốt, phù hợp với chuyên ngành đã được đào tạo của sinh viên

Nghiên cứu của Ali và Fereshteh (2010) có điểm tương đồng với mô hình đề nghị

về các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tìm việc làm là kỹ năng chuyên ngành, kinh nghiệm thực tế và kỹ năng giao tiếp với đối tượng là cựu sinh viên nhưng ở mô hình này nghiên cứu về cựu sinh viên đại học ngành nông nghiệp với nhiều chuyên ngành còn mô hình đề nghị thì nghiên cứu với cựu sinh viên cao đẳng và trung cấp thuộc các chuyên ngành khác nhau Ngoài ra, mục tiêu của nghiên cứu này là đánh giá khả năng có việc làm của cựu sinh viên đại học ngành nông nghiệp, đi sâu phân tích tỷ lệ thất nghiệp và xác định các nhân tố tác động đến tình trạng thất nghiệp trong khi mục tiêu nghiên cứu

Trang 40

của mô hình đề nghị chỉ là tìm hiểu và đánh giá về các yếu tố tác động đến thời gian có việc làm đúng chuyên ngành của sinh viên

Còn theo tổ chức Chronicle of Higher Education (2014), cái mà nhà tuyển dụng cần là kinh nghiệm bên ngoài kiến thức học thuật như thực tập, việc làm, tình nguyện và các hoạt động ngoại khóa khác thông qua bảng xếp hạng những kỹ năng mà các nhà tuyển dụng cần nhất ở một sinh viên mới tốt nghiệp đại học

Yukio Okubo (2015), bằng những trải nghiệm của mình trong lĩnh vực quản trị nhân lực, chính sách lao động và thiết kế công việc đã cho rằng trong công việc độ tuổi

có thể không đóng vai trò quan trọng nhưng có lẽ chế độ thăng tiến sẽ hoàn hảo hơn nếu không bị hạn chế bởi độ tuổi hoặc chế độ lương theo thâm niên Tuy nhiên cũng có rất nhiều công việc cần đến kinh nghiệm và thâm niên trong nghề, do vậy để đập tan “bức tường tuổi tác” những ứng viên lớn tuổi cần phải đáp ứng một số điều kiện nhất định khác như: Cần nắm vững một chuyên môn có thể sử dụng trong cơ cấu công ty và xác định công ty nào sẽ trọng dụng chuyên môn đó, bởi vì năng lực của bạn có thể được công

ty này tin dùng nhưng lại không được đề cao ở một công ty khác; Cần phát triển và rèn luyện khả năng lãnh đạo, vì vị trí tuyển dụng với ứng viên có tuổi thường là quản lý hay giám đốc - những người đã có kinh nghiệm hoặc khả năng làm quản lý

2.3.2 Các nghiên cứu trong nước

Mai Thị Như Quỳnh (2007), khảo sát tình trạng việc làm của cựu sinh viên ngành

Kế toán - Đại học An Giang đã đề cập đến vấn đề nghề nghiệp của sinh viên sau khi tốt nghiệp, cũng xem xét đến sự thích ứng của giáo dục đại học so với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp nhưng không dựa trên cách đánh giá chủ quan của từng doanh nghiệp về trình độ và năng lực của cựu sinh viên mà đi theo chiều hướng ngược lại, tức thông qua tình trạng việc làm hiện nay của chính các cựu sinh viên Bằng phương pháp phỏng vấn chuyên sâu (trao đổi với một số cựu sinh viên, chuyên gia về các vấn đề dự định nghiên cứu, các lĩnh vực cần xoáy sâu, …) và phương pháp phân tích dữ liệu (tổng hợp, sắp xếp các dữ liệu thu thập được theo từng nhóm) đề tài đã tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng việc làm của sinh viên ngành Kế toán - Đại học An Giang gồm: kết quả xếp loại tốt nghiệp, giới tính, việc đi làm thêm trong thời gian đi học và các kỹ năng về ngoại ngữ, tin học Việc đi làm thêm trong thời gian đi học là một trong những yếu tố giúp sinh viên rèn luyện các kỹ năng, có thêm sự tự tin, năng động, sáng tạo để có thể hòa nhập nhanh với công việc và rút ngắn thời gian chờ việc Bên cạnh đó, các kỹ năng về ngoại ngữ, tin

Ngày đăng: 02/07/2017, 11:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w