1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CHÚNG ĐẾN PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÙNG MIỀN NÚI VIỆT NAM DƯỚI GÓC ĐỘ HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH

24 230 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 766,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CHÚNG ĐẾN PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÙNG MIỀN NÚI VIỆT NAM DƯỚI GÓC ĐỘ HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH Võ Thanh Sơn Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường, Đại

Trang 1

BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CHÚNG ĐẾN PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÙNG MIỀN NÚI VIỆT NAM

DƯỚI GÓC ĐỘ HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH

Võ Thanh Sơn

Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường,

Đại học Quốc gia Hà Nội

Abstract

According to different scenarios, Vietnam is considered one of five countries suffering the most from impacts of rising sea-levels and climate change In addition to the coastal zones and the two large deltas – the Red River and the Mekong River – the uplands of Vietnam that make up three quarters of the land territory of the country will also be seriously affected This paper, therefore, gives an overview of the natural and socio-economic characteristics of Vietnam’s uplands, including the main environmental and poverty reduction policies applied

in these areas; the significant impacts of climate change on sectors and regions of Vietnam’s uplands, based on the medium emission scenario (B2) recommended by Ministry of Natural Resource and Environment, especially the impacts of natural disasters related to extreme climatic events and climate change, such as typhoons, floods, flash floods, drought, extreme temperatures and the like; and the difficulties and challenges of sustainable development in the uplands in the context of climate change Information about experiences of integrating climate adaption into the policy making process, drawn from diverse studies in different regions, and initial recommendations for policy making in Vietnam flowing from this, are provided here

1 BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

Biến đổi khí hậu đã trở thành một vấn đề thời sự có tính toàn cầu và mọi người ngày càng nhận thức một cách đầy đủ hơn Biến đổi khí hậu không còn là dự báo nữa mà đã trở thành hiện thực và nếu không hành động khẩn trương và kiên quyết thì sẽ quá muộn Như ông Al Gore – người nhận giải thưởng Nobel Hòa bình năm 2007 – đã tuyên bố: “Cuộc khủng hoảng khí hậu là cuộc khủng hoảng nghiêm trọng nhất mà nền văn minh nhân loại từng đối mặt từ trước đến nay” Chính vì vậy, Báo cáo Phát triển con người năm 2007/2008 của Liên Hợp Quốc có chủ đề “Cuộc chiến chống biến đổi khí hậu: Đoàn kết nhân loại trong một thế giới phân cách” Không lâu nữa, từ ngày 7-19 tháng 12 năm 2009, tất cả các nguyên thủ quốc gia trên toàn thế giới sẽ họp nhau tại Hội nghị thượng đỉnh về Biến đổi khí hậu tại Copenhagen (Đan Mạch) để tìm những giải pháp mang tính toàn cầu, nhằm chống lại khí hậu đang nóng lên nhanh chóng

Việt Nam là một nước đã nhận thức vấn đề môi trường, phát triển bền vững và nay là biến đổi khí hậu từ rất sớm Việt Nam đã tham gia Hội nghị Thượng đỉnh về Phát triển Bền vững từ năm 1992 tại Rio de Janero (Brazil), năm 2002 ở Johannesburg và cam kết thực hiện nhiều công ước quốc tế Năm 2004, Chính phủ đã ban hành Định hướng Chiến lược phát triển bền

Trang 2

vững (Chương trình Nghị sự 21 Quốc gia) và tiếp theo đó đã triển khai xây dựng được các chương trình nghị sự địa phương và ngành

Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm đáp ứng những nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại tới khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam đưa ra 8 nguyên tắc phát triển bền vững, trong đó 3 nguyên tắc đầu tiên nhấn mạnh đến vai trò của con người, coi phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm, nhưng phải hài hòa với phát triển xã hội và sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên thiên nhiên và coi bảo vệ, cải thiện môi trường là yếu tố không thể tách rời của quá trình phát triển Cũng trong Chương trình Nghị sự 21 này, giảm nhẹ biến đổi khí hậu và hạn chế những ảnh hưởng có hại của biến đổi khí hậu góp phần phòng chống thiên tai là một trong 9 lĩnh vực ưu tiên về tài nguyên và môi trường

Với nguy cơ là một trong 5 nước bị ảnh hưởng lớn nhất của biến đổi khí hậu, năm 2008, Chính phủ thông qua Bộ Tài nguyên và Môi trường đã phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu Trong chương trình này, nhiều bộ, ngành, các cơ quan nghiên cứu và phát triển, các trường đại học ở cả trung ương và địa phương đều tham gia vào thực hiện Một trong những nhiệm vụ cấp bách của Chính phủ, với đầu mối liên kết là Bộ Kế hoạch và Đầu tư, là lồng ghép những vấn đề biến đổi khí hậu vào những chính sách phát triển bền vững Đây là một vấn đề mới, nên đòi hỏi nỗ lực và trí tuệ của nhiều các nhà khoa học, quản lý của các bộ, ngành, các trường đại học và viện nghiên cứu tham gia vào xây dựng thì mới có thể giải quyết được vấn đề

Miền núi Việt Nam giữ một vai trò hết sức quan trọng trong phát triển bền vững của đất nước, không những vì chúng chiếm đến ¾ diện tích đất của cả nước, mà vùng miền núi còn quyết định đến sự phát triển ổn định ở vùng đồng bằng Xem xét thực trạng phát triển bền vững vùng miền núi Việt Nam sẽ giúp ta thích ứng tốt hơn với biến đổi khí hậu

2 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ-XÃ HỘI CỦA VÙNG MIỀN NÚI 2.1 Đặc điểm tự nhiên và môi trường

2.1.1 Địa hình và cảnh quan

Miền núi Việt Nam chiếm ¾ diện tích tự nhiên với khoảng hơn 24 triệu người trong cộng đồng 54 dân tộc khác nhau Đây là nơi lưu giữ các thảm rừng, hệ sinh thái động thực vật phong phú, nơi đầu nguồn của các dòng sông, có chức năng duy trì cân bằng sinh thái và miền núi cũng là nơi cung cấp các nguồn tài nguyên thiên nhiên cho sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước

Miền núi Việt Nam phần lớn là địa hình trung du (dưới 500 mét so với mặt biển) và vùng núi thấp (500-1.500 mét) Khoảng 70% diện tích đất nước có độ cao từ 500 mét trở xuống và 85%

là dưới 1.000 mét Phần lớn diện tích là đồi núi dốc, với 29% diện tích dốc dưới 15o, 14% từ 15-20o, trên 57% là độ dốc trên 25o Độ dốc lớn làm khả năng sản xuất nông nghiệp ở miền núi bị hạn chế

Miền núi nước ta có thể chia ra thành 5 vùng lớn, đó là vùng Đông Bắc, Tây Bắc, Trường Sơn Bắc, Tây Nguyên/Trường Sơn Nam và Đông Nam Bộ

Trang 3

Bảng 1 Một số đặc điểm các vùng miền núi Việt Nam

Vùng núi phía Bắc và Đông Bắc thung lũng sông Hồng, là vùng núi thấp hoặc trung bình

2 Vùng Tây Bắc 36.101 km2, chiếm

11% diện tích cả nước

Vùng núi từ hữu ngạn sông Hồng đến thung lũng sông Cả, là vùng núi trung bình và vùng núi cao

3 Vùng Trường

Sơn Bắc

Bao gồm 6 tỉnh, diện tích 40.000

km2, chiếm 12,5%

diện tích cả nước

Vùng núi từ phía Nam sông Cả đến vùng thung lũng sông Bung, là vùng có nhiều dãy núi chạy song song, có độ cao trung bình từ 600-800 mét

Nhìn chung, khí hậu vùng miền núi Việt Nam mang những sắc thái riêng, đa dạng về thời tiết

Có thể chia làm ba kiểu khí hậu phổ biến:

+ Kiểu khí hậu nhiệt đới gió mùa ở Bắc Bộ với mùa hè nóng và mưa nhiều, mùa đông lạnh,

mưa ít, với nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 20oC, chênh lệch nhiệt độ hai mùa từ

10-11oC

+ Kiểu khí hậu nhiệt đới gió mùa, mưa nhiều vào nửa cuối hè và nửa đầu đông ở Trung Bộ,

với nhiệt độ trung bình năm là 25oC (Quảng Nam)

+ Kiểu khí hậu nhiệt đới gió mùa quanh năm nóng ở vùng Tây Nguyên, Ninh Thuận và Nam

Bộ, với nhiệt độ trung bình năm ở miền núi là 21o

C

Nói chung nhiệt độ ở trung du miền núi bao giờ cũng thấp hơn đồng bằng từ 3-5o

C

2.1.3 Sông ngòi, tài nguyên nước và tiềm năng thủy điện

Chế độ khí hậu ẩm, mưa nhiều cùng với địa hình cao, dốc đã tạo ra ở vùng miền núi một hệ thống sông ngòi dày đặc Trừ vùng núi đá vôi, tại các vùng còn lại, mật độ sông suối trung bình là 1-1,5 km/km2 Vì nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nên phần lớn nguồn nước

Trang 4

các sông đều có sự phân hóa theo mùa rõ rệt, với sự chênh lệnh rất lớn giữa lưu lượng cực đại

và cực tiểu, tới hàng chục lần, thậm chí có những nơi lên đến hàng trăm lần

Tài nguyên nước ở Việt Nam rất phong phú với tổng nguồn nước mặt các sông hồ là 880 km3

, trong đó 556 km3

là từ lưu vực bên ngoài lãnh thổ quốc gia Sông ngòi miền núi Việt Nam dự trữ một nguồn thủy năng to lớn cho sản xuất điện Tiềm năng thủy điện của miền núi Việt Nam ước tính đạt 90 tỷ kWh với công suất lắp đặt là 20.000 MW Cả nước có thể xây dựng

571 công trình thủy điện, trong đó 11 công trình công suất trên 300 MW, 200 công trình có công suất từ 5 đến 300 MW Những công trình thủy lớn là Sông Đà (1.920 MW), Yaly (640 MW), Trị An (420 MW), Sơn La (3.600 MW)

2.1.4 Tính đa dạng sinh học

Là nơi tiếp xúc với các luồng thực vật từ Hoa Nam, Ấn Độ – Miến Điện và Malaixia – Inđônêxia, nên thực vật giới của Việt Nam nói chung và của miền núi nói riêng rất đa dạng,

với các kiểu rừng chính sau: (i) Rừng nhiệt đới lá rộng thường xanh, thường phân bố trên các

vùng đồi núi cao dưới 800 m (ở phía Bắc) và dưới 1.000 m (ở phía Nam), với họ đặc trưng

như họ Đậu (Fabaceae); (ii) Rừng nhiệt đới lá rộng rụng lá mùa khô thường hay gặp ở miền

Bắc và ở các vùng có mùa khô rõ rệt tại miền Nam như Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, với các họ phổ biến như họ Dầu (Dipterocarpaceae), họ Tử vi (Lythraceae), họ Sau sau

(Hamamelidaceae), họ Bồ đề (Styracaceae) ; (iii) Rừng nhiệt đới lá rộng trên núi đá vôi, có

thành phần thực vật tương đối phong phú, chủ yếu là rừng thường xanh, với các cây như

Nghiến (Burretiodendron hsienmu), Trai (Garcinia fragraeoides), Hoàng đàn (Cupressus torulosa) ; (iv) Rừng á nhiệt đới lá rộng thường xanh, thường gặp tại các vùng núi cao trên

800 m ở phía Bắc, gồm các loài cây thuộc họ Dẻ (Fagaceae), Long não (Lauraceae), Đỗ

quyên (Ericaceae); (v) Rừng ôn đới lá kim phổ biến tại các vùng núi cao trên 1.000 m ở phía Nam với các loài cây như Tùng, Bách, Thông ; (vi) Rừng tre nứa phân bố rộng khắp từ Bắc

xuống Nam

Vùng trung du miền núi Việt Nam luôn là nơi lưu trữ tính đa dạng sinh học cao của cả nước Mặc dù có những tổn thất quan trọng về diện tích rừng trong một thời gian dài, hệ thực vật rừng Việt Nam, chủ yếu là thuộc các vùng miền núi, vẫn còn phong phú về chủng loại Cho đến nay, đã thống kê được 11.373 loài thực vật bậc cao có mạch và 2.393 loài thực vật bậc thấp, trong đó có gần 2.000 loài cây lấy gỗ, 3.000 cây làm thuốc, hơn 100 loài tre nứa và khoảng 50 loài song mây Theo dự đoán của các nhà thực vật học, số loài thực vật bậc cao có mạch ít nhất sẽ lên đến 20.000 loài, trong đó có nhiều loài đã được nhân dân ta dùng làm nguồn lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thức ăn cho gia súc, lấy gỗ, tinh dầu và cho nhiều mục đích khác

Hệ thực vật Việt Nam có mức độ đặc hữu cao, với số loài đặc hữu chíếm khoảng 33% số loài thực vật ở miền Bắc Việt Nam (Pocs Tamas, 1965) và hơn 40% số loài thực vật toàn quốc (Thái Văn Trừng, 1970) Phần lớn số loài đặc hữu này tập trung ở bốn khu vực chính: khu vực núi cao Hoàng Liên Sơn ở phía Bắc, khu vực núi cao Ngọc Linh ở miền Trung, cao nguyên Lâm Viên ở phía Nam và khu vực rừng mưa nhiệt đới thuộc dãy núi Bắc Trường Sơn

Hệ động vật Việt Nam cũng hết sức phong phú và phần lớn là các loài sinh sống tại miền núi Hiện đã thống kê được 310 loài thú, 840 loài chim, 296 loài bò sát, 162 loài ếch nhái, hơn

Trang 5

1.000 loài cá nước ngọt và thêm vào đó có hàng chục nghìn loài động vật không xương sống

ở cạn và ở nước (Võ Quý, 2008) Hệ động vật Việt Nam không những giàu về thành phần loài

mà còn có nhiều loài đặc hữu

Cũng như thực vật giới, động vật giới Việt Nam có nhiều loài đặc hữu: hơn 100 loài và phân loài chim và 78 loài và phân loài thú là đặc hữu Có rất nhiều loài động vật có giá trị thực tiễn cao và nhiều loài có ý nghĩa lớn về bảo vệ như Voi, Tê giác Java, Bò xám, Bò rừng, Bò tót, Trâu rừng, Nai cà toong, Hổ, Báo, Cu ly, Vượn, Voọc vá, Voọc xám, Voọc mông trắng, Voọc mũi hếch, Voọc đầu trắng, nhiều loài trĩ, cá sấu, trăn, rắn và rùa

2.2 Một số đặc điểm phát triển kinh tế-xã hội ở miền núi

2.2.1 Đặc điểm kinh tế-xã hội ở vùng miền núi

Dân số và phân bố dân cư:

Theo tổng điều tra dân số năm 1999 thì dân số miền núi chiếm khoảng 30% dân cư cả nước với hơn 23,3 triệu người

Mật độ dân số Việt Nam đã tăng từ 195 người/km2

năm 1989 lên 236 người/km2 năm 2000 và

hiện nay, năm 2009 là 260 người/km2

(85.790.000 người vào tháng 4/2009) Tương ứng cho các vùng miền núi trong năm 1989 và 1999, Đông Bắc là 118 và 137 người/km2, Tây Bắc là

52 và 64 người/km2, Tây Nguyên là 49 và 78 người/km2 So sánh tỷ trọng dân số của các vùng trong tổng số dân của cả nước qua hai lần tổng điều tra dân số đã có sự thay đổi: tăng lên ở 3 vùng Đông Nam Bộ, Tây Nguyên và Tây Bắc, phần lớn thuộc vùng núi và giảm đi ở các vùng còn lại Hai vùng Tây Nguyên và Đông Nam Bộ là địa điểm chủ yếu thu hút các luồng dân di cư kinh tế mới cũng như di cư tự do

Gia tăng dân số:

Sau ngày miền Nam giải phóng (1975), dân số ở miền núi cũng như ở các dân tộc thiểu số tăng lên khá nhanh Thời kỳ 1976-1989, trong khi bình quân dân số hàng năm của cả nước chỉ tăng 2,07%, thì ở miền núi phía Bắc là 2,46%, Tây Nguyên là 5,33% Thời kỳ 1989-1999, mức tăng này ở cả nước là 1,7%, Đông Bắc là 1,53%, Tây Bắc là 2,15%, Tây Nguyên là 4,91

% Theo dân tộc thì dân số người Kinh tăng 1,77%, Tày 2,41%, Mông 4,11%, Cơ Ho 3,96%, Khơ Mú 3,19%

Sự gia tăng nhanh dân số ở miền núi và dân tộc thiểu số trước hết liên quan đến sức sinh đẻ cao và tương đối ổn định của cư dân các tộc người Trong những năm gần đây, công tác dân

số – kế hoạch hóa gia đình được đẩy mạnh cho cả vùng miền núi và các dân tộc thiểu số, nên

tỷ lệ sinh thô đã giảm đi Tuy nhiên, nhờ công tác y tế đã được cải thiện, nên tỷ lệ chết của trẻ

sơ sinh giảm đi cũng góp phần cho tỷ lệ tăng dân số cao ở vùng miền núi và dân tộc ít người Đóng góp một phần quan trọng làm tăng dân số, nhất là dân số người Kinh trong những năm qua ở miền núi nước ta là quá trình biến động cơ học mà thực chất là sự di cư ồ ạt cư dân từ nơi khác tới, thực hiện chủ trương phân bố lại dân cư và phát triển kinh tế-văn hóa-xã hội ở miền núi của Đảng và Nhà nước

Ở miền núi phía Bắc, từ năm 1960 đến năm 1974, đã có trên 38 vạn người và từ năm 1975 đến cuối năm 1979 đã có gần 28 vạn người từ các tỉnh đồng bằng, trung du di chuyển đến,

Trang 6

làm cho tốc độ tăng trưởng cơ học dân cư hàng năm của vùng lên với 3,4%, trong khi tốc độ tăng dân số tự nhiên chỉ là 2,8% Ở Tây Nguyên, tính ra trong số 80,7 vạn người tăng lên trong 10 năm (1976-1986), có tới 46,5 vạn người, chiếm tới 60% số người tăng lên do di dân, trung bình hàng năm, dân số cơ học tăng lên là 3,31% Tính chung cả nước, trong hơn 30 năm (1960-1992) đã chuyển được 5,3 triệu người lên vùng núi và cao nguyên để phát triển kinh tế-

xã hội và xây dựng các vùng kinh tế mới

Đối với dân tộc thiểu số, mức độ di chuyển của họ rất lớn, nhưng đáng chú ý là trong những năm gầm đây, xuất hiện nhiều luồng di cư tự do (di dân tự phát) của các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc vào Tây Nguyên và Đông Nam Bộ Tính chung trong cả thời kỳ 1976-1990, số dân cư tự do thuộc các dân tộc Tày, Nùng, Dao, H’mông , lên trên 21 vạn người

Thành phần dân tộc và phân bố:

Trong số 54 dân tộc của nước ta hiện nay, chủ yếu có 4 dân tộc Kinh, Hoa, Khơ Me và Chăm chủ yếu cư trú ở vùng đồng bằng, ven biển, còn 50 dân tộc thiểu số khác sinh sống hầu hết ở vùng miền núi Vì vậy, nói đến miền núi, cũng là nói đến vùng cư trú của các dân tộc thiểu số

ở nước ta

Đặc trưng cư trú của các nhóm dân tộc là phân tán và xen kẽ biểu hiện ở tất cả các cấp độ từ toàn quốc, tỉnh, huyện đến xã Các dân tộc như Tày, Thái, Mường, H’mông, Dao cư trú không phải trên một tỉnh mà nhiều tỉnh

Các dân tộc thiểu số không đồng đều về mặt số dân của từng dân tộc Tính đến nay, có 5 dân tộc có dân số khá đông, mỗi dân tộc trên một triệu người (Tày, Thái, Khơ Me, Mường, Hoa)

Có 3 dân tộc, mỗi dân tộc có số dân từ 60 vạn đến dưới 1 triệu người (Nùng, H’mông, Dao)

Có 9 dân tộc, mỗi dân tộc có số dân từ 10 vạn đến 60 vạn người (Gia Rai, Ê Đê, Ba Na, Sán Chay, Chăm, Xơ Đăng, Sán Dìu, Cơ Ho), còn lại là các dân tộc có số dân ít hơn 10 vạn người Trong thời gian 40-50 trở lại đây, do nhiều nguyên nhân, đặc biệt là do sự chuyển cư hàng loạt, bao gồm cả di dân có tổ chức, di dân dự phát của người Kinh và các dân tộc khác, làm cho mức độ cư trú xen kẽ của các dân tộc có chiều hướng ngày càng tăng

2.2.2 Một số chính sách kinh tế, xã hội và môi trường quan trọng được thực hiện ở miền núi

Vùng miền núi được Đảng và Chính phủ đặc biệt quan tâm hỗ trợ phát triển từ hơn 50 năm qua với rất nhiều các chương trình lớn về phát triển kinh tế-xã hội và môi trường

Chính sách môi trường:

Những chính sách môi trường được triển khai ở miền núi bao gồm các chương trình trồng rừng; chương trình giao đất giao rừng để bảo vệ rừng và phát triển rừng; chính sách xây dựng

và phát triển hệ thống các khu bảo tồn

+ Chương trình 327 (1993-1997) với mục đích phủ xanh đất trống đồi núi trọc, khai thác bãi

bồi ven biển, nuôi trồng thủy sản bằng biện pháp trồng, bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh rừng Quyết định 556 (1995) bổ sung 327 về tạo mới về rừng phòng hộ và đặc dụng (từ năm 1995) Chương trình đã đầu tư khoảng 2.300 tỷ đồng cho phát triển và bảo vệ rừng để bảo vệ 6,79 triệu ha rừng, khoanh nuôi tái sinh gần 1 triệu ha, trồng 560.000 ha

Trang 7

+ Chương trình 661/5 triệu ha rừng (1998-2010): Mục tiêu là đẩy mạnh tốc độ trồng rừng,

phủ xanh đất trống đồi núi trọc, bảo vệ rừng hiện có và trồng mới, đưa tỷ lệ che phủ của rừng lên 43% (cụ thể trồng 2 triệu ha rừng phòng hộ, rừng đặc dụng (1 triệu trồng mới), khoanh nuôi tái sinh 1 triệu ha, trồng 3 triệu ha rừng sản xuất) 5.900 tỷ đồng (1998-2005)

đã chi để trồng mới 1,55 triệu ha rừng (63% kế hoạch), có 0,77 triệu ha rừng sản xuất (26% kế hoạch) (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2006)

+ Nghị định 02 (1994), Nghị định 196 (1999) về giao đất và cho thuê đất lâm nghiệp nhằm

mục đích sử dụng hiệu quả đất rừng cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng, đảm bảo mỗi mảnh đất, khoảng rừng có chủ quản lý cụ thể Năm 2002, 12,8 triệu ha đã giao (70,4% diện tích lâm nghiệp), trong đó doanh nghiệp Nhà nước là 4,5 triệu ha, hộ gia đình, tập thể: 4,8 triệu, còn lại là các ban quản lý rừng phòng hộ và rừng đặc dụng

+ Chính sách xây dựng hệ thống các khu bảo tồn: Nước ta đã xây dựng được một hệ thống

khu bảo tồn thiên nhiên được gọi chung làảừng đặc dụng và chia ra làm ba hạng chính: vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên và khu bảo vệ cảnh quan Tính đến năm 2005, đã

có 128 khu rừng đặc dụng được thành lập với diện tích trên 2,5 triệu hecta, chiếm khoảng 7,6% diện tích tự nhiên cả nước, bao gồm 30 vườn quốc gia, 59 khu bảo tồn thiên nhiên và

39 khu bảo vệ cảnh quan

Bảng 2 Hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam

TT Hạng khu bảo tồn Số lượng Diện tích (ha)

2 Khu bảo tồn thiên nhiên:

- Khu dự trữ thiên nhiên

- Khu bảo tồn loài/sinh cảnh

59

48

11

1.369.058 1.283 209 85.849

+ Nghị quyết 38/CP (1968) về Cuộc vận động định canh định cư cho đồng bào dân tộc, với

mục đích chuyển đồng bào dân tộc còn du canh du cư chuyển qua định canh định cư Cuộc vận động này thực hiện trong 40 năm ở miền Bắc và hơn 30 năm ở miền Nam Nghị quyết 22/TW (1989) tiếp tục công tác định canh định cư gắn với việc phát triển kinh tế-xã hội địa phương

Trang 8

+ Trong khoảng 10 năm gần đây, công tác định canh định cư thường gắn với các chương trình phát triển kinh tế cho các xã khó khăn (135), xóa đói giảm nghèo, hỗ trợ miền núi (134), Chương trình trồng rừng (327/661) và các chương trình kinh tế-xã hội khác

Chính sách kinh tế-xã hội nhằm mục đích xóa đói giảm nghèo:

Các chính sách phát triển kinh tế-xã hội này bao gồm các chương trình xóa đói giảm nghèo

135, 134 và Chương trình giảm nghèo bền vững cho 62 huyện trong toàn quốc

+ Chương trình 135, hay còn gọi là Chương trình phát triển kinh tế-xã hội các xã đặc biệt khó

khăn vùng dân tộc thiểu số và miền núi, thực hiện theo Quyết định số 135/1998/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ theo 2 giai đoạn

Chương trình 135 giai đoạn 1 (1997-2006) có mục tiêu là: (i) Phát triển sản xuất, nâng cao

mức sống cho các hộ dân tộc thiểu số; (ii) Phát triển cơ sở hạ tầng; (iii) Phát triển các dịch vụ công cộng địa phương thiết yếu như điện, trường học, trạm y tế, nước sạch; và (iv) Nâng cao đời sống văn hóa cho 1.870 xã đặc biệt khó khăn với nguồn kinh phí khoảng 10 nghìn tỷ đồng; đã xây dựng và đưa vào sử dụng hơn 25 nghìn công trình thiết yếu các loại, góp phần thay đổi đáng kể bộ mặt nông thôn miền núi, cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân địa phương

Chương trình 135 giai đoạn 2 (2006-2010) với mục đích: (i) Tạo chuyển biến nhanh về sản

xuất; (ii) Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất gắn với thị trường; (iii) Cải thiện nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân; (iv) Giảm khoảng cách phát triển giữa các dân tộc và giữa các vùng trong nước; và (v) Đến năm 2010, trên địa bàn không có hộ đói, giảm hộ nghèo xuống còn dưới 30% cho 1.946 xã đặc biệt khó khăn, với nguồn kinh phí khoảng 12 nghìn tỷ đồng Qua 3 năm thực hiện, Chương trình đã được triển khai trên địa bàn 1.779 xã đặc biệt khó khăn thuộc 47 tỉnh với tổng số vốn trên 7 nghìn tỷ đồng, với 4 hợp phần chính: (i) xây dựng cơ sở hạ tầng; (ii) hỗ trợ phát triển sản xuất; (iii) đào tạo và nâng cao năng lực; và (iv) hỗ trợ nâng cao đời sống người dân Chương trình 135 đã xây dựng được 11.765 công trình, dự án, mở hàng nghìn lớp đào tạo, tập huấn, thu hút hàng vạn hộ dân tham gia

+ Chương trình 134, hay còn gọi là Chương trình hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước

sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn, thực hiện theo Quyết định 134/2004/QĐ-TTg, nhằm mục đích đẩy nhanh tiến độ xóa nghèo cho các hộ dân tộc thiểu số ở Việt Nam, được thực hiện từ năm 2004 Sau 4 năm triển khai thực hiện Quyết định

134, các địa phương đã hoàn thành việc hỗ trợ gần 380.000 nhà ở, đạt 111% so với mục tiêu chương trình với nguồn vốn thực hiện trên 1.900 tỷ đồng Về đất ở, đến năm 2008, đã hỗ trợ được hơn 1.500 ha cho gần 72.000 hộ Về đất sản xuất, đã có 40 tỉnh triển khai thực hiện mục tiêu hỗ trợ đất sản xuất cho hơn 83.500 hộ với gần 30.000 ha Để tháo gỡ khó khăn về quỹ đất sản xuất, nhiều địa phương đã tiến hành các giải pháp như: giao khoán bảo vệ rừng, khuyến khích chuyển đổi ngành nghề Hết năm 2008, các địa phương đã xây dựng được hơn 4.600 công trình nước tập trung và đã có gần 200.000 hộ nghèo được hỗ trợ nước sinh hoạt phân tán

(Nguồn: Ủy ban Dân tộc, http://www.ubnd.gov.vn)

Trang 9

+ Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối

với 62 huyện nghèo, là một chương trình phát triển kinh tế-xã hội của Chính phủ Việt Nam nhằm tạo ra sự chuyển biến nhanh về đời sống vật chất và tinh thần cho các hộ nghèo, người các dân tộc thiểu số ở 62 huyện nghèo trong cả nước (những huyện có tỷ lệ hộ nghèo trong tổng số hộ của huyện lớn hơn 50%), sao cho đến năm 2020 có thể ngang bằng với các huyện khác trong khu vực, với 4 nhóm biện pháp chính: (i) Hỗ trợ sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập (bao gồm cả đưa người lao động ở huyện nghèo đi lao động ở nước ngoài); (ii) Đào tạo, dạy nghề, nâng cao dân trí; (iii) Bổ sung nguồn lực con người ở các cấp quản lý và các tổ công tác; và (iv) Đầu tư cơ sở hạ tầng ở cả cấp thôn/bản, xã, huyện

2.3 Những thách thức về phát triển bền vững ở miền núi

2.3.1 Phát triển bền vững ở miền núi

Nhiều chủ trương chính sách lớn về phát triển miền núi đã được Đảng và Nhà nước đưa ra Đặc biệt, Nghị quyết số 22/NQ/TƯ (ngày 27/11/1989) của Bộ Chính trị về “Những chủ trương chính sách lớn phát triển kinh tế-xã hội miền núi” đã chỉ rõ: (i) Phải coi phát triển kinh tế-xã hội miền núi là một bộ phận hữu cơ của phát triển nền kinh tế quốc dân; (ii) Phải coi sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, phát triển kinh tế, văn hóa miền núi là sự nghiệp chung của nhân dân cả nước, trước hết là sự nghiệp của nhân dân các dân tộc miền núi và đồng bào miền xuôi lên định cư ở miền núi; (iii) Phải nắm vững quan điểm phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần đi lên chủ nghĩa xã hội, điều chỉnh lại quan hệ sản xuất ở miền núi cho phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất; và (iv) Phát triển miền núi toàn diện cả

Hộp 1 Tình hình nghèo đói ở nông thôn miền núi (Võ Thanh Sơn, 2004)

Theo Ủy ban Dân tộc Miền núi (2002), những đặc điểm nghèo đói của Việt Nam là: (i) tập trung ở vùng nông thôn và miền núi, nơi thu nhập của hộ gia đình thấp, không ổn định, với mức độ phát triển kinh tế thấp và nơi tài nguyên thiên nhiên hạn chế; và (ii) các nhóm dân tộc ít người thường là nạn nhân của sự nghèo đói Vùng trung du và miền núi phía Bắc và vùng Tây Nguyên vẫn là những vùng có tỷ lệ nghèo đói cao nhất vì ở vùng miền núi, người dân lại phải đối mặt với những hạn chế của cơ sở hạ tầng và dịch vụ như điện, đường sá, trường học và trạm xá

Hiện nay, dù một số lớn người Kinh đã di cư lên vùng miền núi, nhưng đại bộ phận dân cư ở đó là người dân tộc, mà số đông vẫn còn có phương thức canh tác nương rẫy Không giống như người Kinh, các dân tộc thiểu số thường sống khá phân tán và cách xa đường quốc lộ cũng như các khu dân cư đông đúc, nên họ có ít cơ hội tiếp cận với điều kiện phát triển kinh tế và luôn phải đối mặt với điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt để có thể tồn tại Theo Điều tra nghèo đói quy mô lớn (PMS – Large-scale Poverty Monitoring Survey), tỷ lệ đói nghèo của người Kinh là 39%, người Tày là 59%, người Dao là 89% và người H’mông là 100% (Lê Duy Phong và Hoàng Văn Hòa, 1999: 66) Theo những nghiên cứu của Liên Hợp Quốc, Tổng cục Thống kê và Ngân hàng Thế giới, (Anonym, 1999), nguyên nhân đói nghèo ở Việt Nam là: (i) tách biệt (về địa lý, ngôn ngữ, xã hội, trí tuệ và kinh tế); (ii) không có khả năng thích ứng với những nguy cơ lớn (thảm họa thiên nhiên, chết, bệnh tật, mất mùa, có thai ngoài dự kiến); (iii) thiếu sự tiếp cận tới nguồn tài nguyên (đặc biệt

là đất đai, vốn, công nghệ và thông tin); (iv) thiếu sự tham gia trong các chương trình quốc gia; và (v) thiếu tính bền vững (về tài chính và môi trường)

Trang 10

về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, trong đó trọng tâm là phát triển kinh tế-xã hội gắn với thực hiện chính sách dân tộc của Đảng

Như vậy, ngoài tính đặc thù của của miền núi, Nghị quyết đã nhấn mạnh đến yếu tố dân tộc

và văn hóa của phát triển kinh tế-xã hội ở vùng miền núi

Trong thực tiễn của Việt Nam, phát triển bền vững là sự phát triển hài hòa cả về 3 mặt: kinh tế – xã hội – môi trường, để đáp ứng những nhu cầu về đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của thế hệ hiện tại nhưng không làm tổn hại, gây trở ngại đến khả năng cung cấp tài nguyên để phát triển kinh tế-xã hội mai sau, không làm giảm chất lượng cuộc sống của các thế hệ trong tương lai Hay nói một cách khác: muốn phát triển bền vững thì phải cùng đồng thời thực hiện

3 mục tiêu: (1) phát triển có hiệu quả về kinh tế; (2) phát triển hài hòa các mặt xã hội, nâng cao mức sống, trình độ sống của các tầng lớp dân cư; và (iii) cải thiện môi trường, bảo đảm phát triển lâu dài vững chắc cho thế hệ hôm nay và mai sau

Trong điều kiện cụ thể của Việt Nam, phát triển bền vững miền núi được thực hiện bằng cách tổng hòa những mục tiêu về kinh tế – xã hội – môi trường trong bối cảnh văn hóa rất đa dạng của nhiều dân tộc thiểu số của Việt Nam (Hình 1)

Hình 1 Phát triển bền vững trong sự đa dạng về văn hóa

2.3.2 Một số thách thức cho sự phát triển bền vững ở miền núi

Những thách thức liên quan đến kinh tế và xã hội:

Khi nghiên cứu về những khó khăn trong công cuộc phát triển bền vững miền núi Việt Nam, Jamison, Lê Trọng Cúc và Rambo (1999) cho rằng vùng miền núi Việt Nam vẫn đối mặt với

tình trạng phát triển chậm chạp và khó khăn, phần lớn là bị tác động của vòng xoáy sự gia

tăng dân số, suy thoái môi trường, nghèo đói, sự phụ thuộc vào nguồn lực hỗ trợ bên ngoài và

sự phân hóa về kinh tế, văn hóa, xã hội: (i) Gia tăng dân số nhanh, tạo ra sự khan hiếm đất

canh tác ở miền núi; mật độ dân số tăng đã tiến nhanh hoặc đã vượt quá sức tải của đất canh

tác ở miền núi; (ii) Suy thoái môi trường, đặc biệt là diện tích rừng giảm sút, đa dạng sinh học

bị thất thoát, đất đai bị suy thoái, năng suất cây trồng thấp, hạn hán và lũ lụt ngày càng

nghiêm trọng; (iii) Đói nghèo, đặc biệt ở các vùng dân tộc ít người vùng sâu vùng xa ở miền

Trang 11

núi, vẫn còn cao so với các vùng khác, mặc dù đã được cải thiệt rất nhiều so với trước kia;

(iv) Sự phụ thuộc vào nguồn lực bên ngoài, khi mà nhiều tỉnh miền núi vẫn phải nhận sự trợ

cấp của trung ương để duy trì hệ thống hành chính của mình, khi mà kiến thức bản địa của người dân tộc ít người chưa được thể hiện nhiều trong các chính sách phát triển kinh tế-xã hội

của địa phương; và (v) Sự phân hóa về kinh tế, văn hóa, xã hội, mặc dù chưa có nhiều nghiên

cứu, nhưng tình trạng khoảng cách giàu nghèo gia tăng, hạn chế tiếp cận tới giáo dục, y tế cũng như nguồn lực tài chính trong đời sống xã hội ở miền núi

Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2006), những thách thức đối với sản xuất nông nghiệp và nông thôn Việt Nam, đặc biệt ở miền núi là: (i) tài nguyên phục vụ cho sản xuất đang tiếp tục suy giảm nhanh, tình trạng ô nhiễm môi trường có xu hướng diễn ra trên diện rộng; (ii) phân hóa giàu nghèo và sự chênh lệch về cơ hội giữa các tầng lớp dân cư trong tiếp cận các nguồn lực phát triển ngày càng gia tăng; (iii) nông nghiệp tăng trưởng thiếu bền vững và khả năng rủi ro cao; (iv) một số vấn đề xã hội bức xúc và gay gắt ở nông thôn chậm được giải quyết; (v) sự thiếu sót về mặt chính sách và bất cập trong một số hoạt động chỉ đạo của Nhà nước các cấp; (vi) chậm thực hiện các chính sách an sinh xã hội phù hợp ở nông thôn; (vii) bình quân đất nông nghiệp theo đầu người ngày càng thấp; (viii) năng lực kinh tế của nông dân và các doanh nghiệp kinh doanh nông nghiệp còn thấp; (ix) năng lực, hiệu quả của hệ thống công nghiệp, dịch vụ liên quan đến nông nghiệp còn yếu; (x) những điều kiện cơ bản để nền nông nghiệp tăng trưởng bền vững tuy đã được cải thiện nhưng vẫn còn ở mức thấp; (xi) cam kết thương mại quốc tế và áp lực hội nhập kinh tế thế giới; (xii) đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn không tương xứng; (xiii) trong nông thôn đang nảy sinh những vấn đề kinh tế-xã hội bức xúc như tệ nạn xã hội, thiếu việc làm, khiếu kiện nhiều, kéo dài

Những thách thức về môi trường, đặc biệt là thiên tai liên quan đến khí hậu:

Việt Nam phải đối mặt với rất nhiều thách thức, đặc biệt là các vấn đề môi trường và thiên tai liên quan đến biến đổi khí hậu như lũ lụt, lũ quét, trượt lở đất và hạn hán Theo đánh giá sơ

bộ, những thiệt hại do thiên tai ở Việt Nam ước tính từ 1-1,5% GDP của cả nước (Hoàng Trung Hải, 2009) Điều này cũng được thể hiện rõ trên quy mô toàn cầu, khi mà những thiệt hại do thiên tai ngày càng tăng về số lượng và cường độ trong một vài thập kỷ gần đây ở trên thế giới, đặc biệt trong 50 năm qua, những thảm họa thiên nhiên này đã làm hơn 800.000 người chết và làm thiệt hại kinh tế hơn 1.000 tỷ đô la Mỹ (ECA, 2009)

Ở quy mô quốc gia, thiên tai, phần nhiều liên quan đến khí hậu và biến đổi khí hậu, đã gây ra thiệt hại lớn, đặc biệt trong khoảng 15 năm lại đây, với những mất mát tính đến hàng ngàn tỷ đồng (Hình 2) Những năm có thiệt hại lớn nhất là năm 1996: 8.000 tỷ đồng (số làm tròn); năm 1997: 7.700 tỷ đồng; năm 2000: 5.200 tỷ đồng; năm 2008: 3.500 tỷ đồng (Trung tâm Khí tượng Thủy văn Quốc gia, 2009) Riêng 9 tháng đầu năm 2009, thiên tai đã làm 292 người chết và mất tích, thiệt hại kinh tế ước tính khoảng 24.000 tỷ đồng (Hoàng Trung Hải, 2009) Theo đánh giá của Ban Chỉ đạo Phòng chống Lụt bão Trung ương, kể từ năm 1969, bão số 9

là một trong những cơn bão mạnh nhất tại Việt Nam (cường độ gió cấp 12, giật cấp 14-15), đổ

bộ vào miền Trung cuối tháng 9/2009, đã gây thiệt hại lớn cho các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Kon Tum Bão số 9 đã làm 163 người chết, 11 người mất tích và 629 người bị thương; 21.610 nhà bị sập, trôi; 258.260 nhà hư hại

Trang 12

và 294.710 nhà bị ngập, với tổng thiệt hại ước tính 14.014 tỷ đồng Với số dân 5 tỉnh và TP

Đà Nẵng là 6 triệu người, thì một cơn bão này đã gây thiệt hại cho trung bình là 2,3 triệu đồng/người cho 6 triệu người dân của vùng, tương đương với 20% GDP trung bình/người của Việt Nam Nói một cách khác, thiệt hại của một cơn bão đã lớn hơn 2 lần mức đầu tư cho Chương trình 5 triệu ha rừng trong giai đoạn 1998-2005 (5.900 tỷ đồng), bằng 140% hỗ trợ cho Chương trình 135 giai đoạn 1 năm 1997-2006 (10.000 tỷ đồng)

Hình 2 Tổng thiệt hại do thiên tai ở Việt Nam theo các năm và theo một số tỉnh miền núi (Nguồn: Trung tâm Khí tượng Thủy văn Quốc gia, 2009)

3 TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU LÊN VÙNG TRUNG DU MIỀN NÚI

3.1 Kịch bản biến đổi khí hậu ở Việt Nam

Trong 4 kịch bản biến đổi khí hậu do tổ chức SRES, IPCC (Cơ quan Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu)thực hiện, thì kịch bản B2, kịch bản phát thải khí nhà kính trung bình (mà chủ yếu là chất CO2) sẽ là kịch bản có khả năng xảy ra nhất và đây cũng là kịch bản được Bộ Tài nguyên và Môi trường khuyến cáo sử dụng (Trần Thục, 2009) Theo kịch bản này, nhiệt độ của nước ta sẽ tăng lên 0,7oC và mực nước biển sẽ tăng thêm 0,5 mét vào năm 2020 (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2009) Hơn nữa, mốc năm 2020 cũng là mốc các kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội đang triển khai xây dựng

Hiện nay, đã có một số kịch bản tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng đã được nghiên cứu cho vùng ven biển, đồng bằng Bắc Bộ và Nam Bộ Trong 50 năm qua (1958-2007), nhiệt độ trung bình năm ở Việt Nam tăng lên khoảng từ 0,5oC đến 0,7oC, còn lượng mưa năm thì giảm khoảng 2% (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2009) Theo kịch bản trung bình B2, thì nước biển dâng lên 12 cm vào năm 2020, 30 cm – năm 2050 và 75 cm – năm

2100 Nếu nước dâng lên 65 cm, đồng bằng sông Cửu Long sẽ ngập 12,8% diện tích Nếu nước dâng lên 75 cm – nước sẽ ngập 19% diện tích Tuy nhiên, chưa có nhiều các nghiên cứu

về tác động của biến đổi khí hậu lên vùng trung du miền núi, chiếm tới ¾ diện tích tự nhiên của cả nước Vì vậy, báo cáo này tập trung nghiên cứu khả năng ảnh hưởng của biến đổi khí hậu lên sự phát triển của vùng trung du miền núi Việt Nam

Mức tăng nhiệt độ trung bình năm (oC) so với thời kỳ 1980-1999 theo kịch bản phát thải trung bình (B2) trong các vùng của Việt Nam được thể hiện trong Bảng 2 Theo như kịch bản này, nhiệt độ ở vùng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, bao gồm cả vùng đồng bằng và miền núi, nhiệt độ

Ngày đăng: 01/07/2017, 16:59

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Một số đặc điểm các vùng miền núi Việt Nam - BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CHÚNG ĐẾN PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÙNG MIỀN NÚI VIỆT NAM DƯỚI GÓC ĐỘ HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH
Bảng 1. Một số đặc điểm các vùng miền núi Việt Nam (Trang 3)
Bảng 2. Hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam - BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CHÚNG ĐẾN PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÙNG MIỀN NÚI VIỆT NAM DƯỚI GÓC ĐỘ HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH
Bảng 2. Hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam (Trang 7)
Hình 1. Phát triển bền vững trong sự đa dạng về văn hóa  2.3.2. Một số thách thức cho sự phát triển bền vững ở miền núi - BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CHÚNG ĐẾN PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÙNG MIỀN NÚI VIỆT NAM DƯỚI GÓC ĐỘ HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH
Hình 1. Phát triển bền vững trong sự đa dạng về văn hóa 2.3.2. Một số thách thức cho sự phát triển bền vững ở miền núi (Trang 10)
Hình 2. Tổng thiệt hại do thiên tai ở Việt Nam theo các năm và theo một số tỉnh miền núi - BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CHÚNG ĐẾN PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÙNG MIỀN NÚI VIỆT NAM DƯỚI GÓC ĐỘ HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH
Hình 2. Tổng thiệt hại do thiên tai ở Việt Nam theo các năm và theo một số tỉnh miền núi (Trang 12)
Bảng 3. Mức tăng nhiệt độ trung bình năm ( o C) so với thời kỳ 1980-1999 - BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CHÚNG ĐẾN PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÙNG MIỀN NÚI VIỆT NAM DƯỚI GÓC ĐỘ HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH
Bảng 3. Mức tăng nhiệt độ trung bình năm ( o C) so với thời kỳ 1980-1999 (Trang 13)
Hình 3. Cơ chế tác động của biến đổi khí hậu lên vùng miền núi - BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CHÚNG ĐẾN PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÙNG MIỀN NÚI VIỆT NAM DƯỚI GÓC ĐỘ HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH
Hình 3. Cơ chế tác động của biến đổi khí hậu lên vùng miền núi (Trang 14)
Bảng 4. Mức thay đổi lượng mưa (%) so với thời kỳ 1980-1999 - BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CHÚNG ĐẾN PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÙNG MIỀN NÚI VIỆT NAM DƯỚI GÓC ĐỘ HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH
Bảng 4. Mức thay đổi lượng mưa (%) so với thời kỳ 1980-1999 (Trang 14)
Bảng 4. Tác động của biến đổi khí hậu đến một số ngành và cộng đồng dễ bị tổn thương - BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CHÚNG ĐẾN PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÙNG MIỀN NÚI VIỆT NAM DƯỚI GÓC ĐỘ HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH
Bảng 4. Tác động của biến đổi khí hậu đến một số ngành và cộng đồng dễ bị tổn thương (Trang 15)
Bảng 5. Tác động tiềm tàng của biến đổi khí hậu và mực nước biển dân tới một số mục tiêu - BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CHÚNG ĐẾN PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÙNG MIỀN NÚI VIỆT NAM DƯỚI GÓC ĐỘ HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH
Bảng 5. Tác động tiềm tàng của biến đổi khí hậu và mực nước biển dân tới một số mục tiêu (Trang 16)
Bảng 6. Tổng hợp một số tác động của biến đổi khí hậu đến một số - BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CHÚNG ĐẾN PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÙNG MIỀN NÚI VIỆT NAM DƯỚI GÓC ĐỘ HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH
Bảng 6. Tổng hợp một số tác động của biến đổi khí hậu đến một số (Trang 17)
Bảng 7. Thay đổi sản lượng lúa ở Việt Nam (so với các năm 1980-1990), % - BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CHÚNG ĐẾN PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÙNG MIỀN NÚI VIỆT NAM DƯỚI GÓC ĐỘ HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH
Bảng 7. Thay đổi sản lượng lúa ở Việt Nam (so với các năm 1980-1990), % (Trang 19)
Hình 4. Khuôn khổ đánh giá hiểm họa khí hậu tổng thể (ECA, 2009) - BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CHÚNG ĐẾN PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÙNG MIỀN NÚI VIỆT NAM DƯỚI GÓC ĐỘ HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH
Hình 4. Khuôn khổ đánh giá hiểm họa khí hậu tổng thể (ECA, 2009) (Trang 22)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm