1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Public fiances and long term growth in europe

34 278 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 1,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài ra, chúng tôi còn ước lượng mô hình phân phối trễ, mà nó 1 Chỉ ra rằng kích thước chính phủ được đo lường với tổng chi tiêu hay là thu nhập cổ phần, chi tiêu chính phủ và thuế trực

Trang 1

CAO HỌC KHÓA 22 – LỚP NGÀY 4

- -

MÔN HỌC: TÀI CHÍNH CÔNG

Public fiances and long-term growth in Europe Tài chính công và tăng trưởng dài hạn ở Châu Âu

Nhóm thực hiện – Nhóm 2 Giảng viên hướng dẫn:

2 Trần Văn Bình

3 Nguyễn Hữu Tướng

4 Ngô Văn Long

Trang 2

Tóm tắt 1

1 Giới thiệu 1

2 Lý thuyết và Chứng cứ thực nghiệm hiện hữu 3

3 Dữ liệu 6

4 Các thuộc tính chuỗi thời gian tăng trưởng và tài chính công 7

4.1 Xu hướng xác định 7

4.2 Xu hướng ngẫu nhiên 9

4.3 Cùng hội nhập của chi tiêu và doanh thu 11

5 Ảnh hưởng của tài chính công đến sự phát triển dài hạn – Một thử nghiệm độ trễ phân phối 14

5.1 Quy trình ước lượng 15

5.2 Kết quả ước lượng 17

6 Kết luận 21

Trang 3

TÀI CHÍNH CÔNG VÀ TĂNG TRƯỞNG DÀI HẠN Ở CHÂU ÂU:

40 năm qua Ngoài ra, chúng tôi còn ước lượng mô hình phân phối trễ, mà nó (1) Chỉ ra rằng kích thước chính phủ được đo lường với tổng chi tiêu hay là thu nhập cổ phần, chi tiêu chính phủ

và thuế trực tiếp tác động một cách tiêu cực đến tỷ lệ tăng trưởng GDP trên đầu người, trong khi

đó đầu tư công có tác động tích cực và (2) Cung cấp bằng chứng mạnh mẽ rằng thuế bóp méo tác động đến sự tăng trưởng trong trung hạn thông qua tác động của nó lên sự tích lũy của vốn tư bản

1 Giới thiệu

Hội đồng Châu Âu đã đặt ra tiến trình Lisbon Process nhằm nâng tỷ lệ tăng trưởng sản lượng ở các nước Châu Âu Hội đồng cân nhắc ―một tỷ lệ tăng trưởng kinh tế trung bình khoảng 3% như là một triển vọng thực tế cho những năm tới‖

Đối với chính sách kinh tế cho mục tiêu này cần hướng đến thúc đẩy phát triển kinh tế tri thức thông qua sự mở rộng các công nghệ mới và vốn con người cao hơn, thị trường hàng hóa

và tài chính hoàn hảo hơn ở châu Âu, một chính sách thị trường lao động tích cực hơn và hiện đại hóa phúc lợi xã hội cũng như môi trường đầu tư thân thiện mang lại những thay đổi pháp lý

Nhiều biện pháp được vạch ra bởi người đứng đầu bang có ảnh hưởng không chỉ đến các thiết lập luật pháp mà đến cả tài chính công Trong bước tiếp theo tiến trình bắt đầu ở Lisbon, Ủy ban và Hội đồng ECOFIN đã nhấn mạnh rằng "chất lượng" tài chính công đóng một vai trò quan trọng cho sự tăng trưởng và việc làm

Cụ thể hơn, họ vạch ra sự cần thiết của việc giảm gánh nặng thuế và đặc biệt là đối với những người lao động có tay nghề thấp, cải cách hệ thống phúc lợi hỗ trợ nhiều hơn cho việc làm, chuyển dịch nguồn lực theo hướng chi tiêu hiệu quả trong y tế, giáo dục và cơ sở hạ tầng, và đảm bảo tính bền vững của tài chính công

Các kết luận của Hội đồng châu Âu về hiệu suất sản lượng châu Âu trong tương lai mở ra

mô hình tăng trưởng thực sự phản ánh tốt nhất những ý định của người đứng đầu bang Các mô hình tăng trưởng ngoại sinh và nội sinh có những ảnh hưởng khác nhau cơ bản về tác động của một biến chính sách lên tăng trưởng kinh tế Các mô hình tăng trưởng ngoại sinh tân cổ điển giới

Trang 4

xuyên mức bình quân đầu ra, tức là thay đổi tốc độ tăng trưởng chỉ là tạm thời trong suốt chặng đường chuyển đổi sang một trạng thái ổn định mới

Ngược lại, các mô hình tăng trưởng nội sinh dự đoán rằng những thay đổi trong chính sách có thể làm thay đổi thường xuyên không chỉ mức sản lượng mà còn thay đổi tốc độ tăng trưởng Nếu thông báo của người đứng đầu của bang ngầm giả định một khuôn khổ tăng trưởng ngoại sinh, khi đó chúng ta có thể mong đợi sản lượng tăng nhanh trong ngắn và trung hạn nhưng sau đó sẽ chững lại Ngược lại, những thay đổi về cấu trúc mà họ xem xét để làm cho châu Âu một nền kinh tế hội nhập, cạnh tranh và hiệu quả cũng có thể đưa đến việc hướng tăng trưởng nâng lên lâu dài từ 2 – 2.5% ở hiện tại đến 3% mỗi năm

Trong bài paper này, chúng tôi sẽ nghiên cứu mô hình tăng trưởng sẽ là kết quả của cải cách chính sách trong diễn biến tương lai của quá trình Lisbon Phân tích những kinh nghiệm từ quá khứ ở các nước châu Âu chỉ ra liệu tài chính công có thể nâng cao tốc độ tăng trưởng lâu dài hơn, tức là ảnh hưởng đến xu hướng tăng trưởng, hoặc liệu nó tốt nhất mong đợi một cải thiện chuyển tiếp

Nhiều nghiên cứu hồi quy dạng 'Barro' đã cố gắng thử dự đoán các lý thuyết phát triển bởi tập hợp các biến họ kết hợp Họ yêu cầu tìm thấy bằng chứng cho sự tăng trưởng nội sinh liệu rằng chính sách đa dạng và những thay đổi trong thể chế được chữa đựng trong hồi quy ảnh hưởng đến hiệu suất dài hạn Tuy nhiên, những nghiên cứu này chủ yếu tìm hiểu các biến pha tạp của mẫu rất lớn và không có nhiều thông tin nếu chúng tôi muốn tập trung vào bối cảnh châu Âu

Sử dụng tiêu chuẩn thiết lập của các nghiên cứu, dựa trên mức trung bình dài hạn của tăng trưởng sản lượng, chúng tôi sẽ nhanh chóng tận dụng mọi khả năng của các bậc tự do cho các nước châu Âu Hơn nữa, phương pháp này sẽ không phù hợp bởi vì mẫu ở châu Âu là khá đồng nhất ở một số các đặc điểm giải thích

Như một sự thay thế, một tài liệu nhỏ đã nổi lên xung quanh vấn đề này tập trung chủ yếu vào các tác động chuỗi thời gian của hai bộ phận của lý thuyết Nếu biến chính sách theo mô hình chuỗi thời gian cụ thể, tăng trưởng kinh tế sẽ biểu hiện hành vi tương tự theo lý thuyết tăng trưởng nội sinh Ngược lại, các thuộc tính chuỗi thời gian của biến chính sách không nhất thiết phải trùng với tăng trưởng sản lượng theo mô hình tăng trưởng ngoại sinh

Biến tài chính có môi trường thử nghiệm tốt cho những giả thuyết này, do thuế khấu trừ

và chi phí sản xuất được cho là có ảnh hưởng lâu dài trên tốc độ tăng trưởng theo lý thuyết tăng trưởng nội sinh, trong khi chúng chỉ nên có những tác động cân bằng từ quan điểm tân cổ điển Kết quả là, lý thuyết tăng trưởng nội sinh sẽ nêu rõ một tập hợp khác 0 của các hệ số khi một ước tính tác động của cải cách chính sách lên tăng trưởng sản lượng trong những năm qua, trong khi

lý thuyết tăng trưởng ngoại sinh sẽ dự đoán một tập hợp các hệ số hội tụ về không Chúng tôi sẽ

sử dụng những dự đoán như một cơ sở để giải thích các mô hình quan sát được của tốc độ tăng trưởng kinh tế và phát triển tài chính công, những dự đoán không được thực hiện một cách có hệ

Trang 5

thống đối với châu Âu Đây là kẽ hở trong các nghiên cứu thực nghiệm, những kẽ hở mà nghiên cứu của chúng tôi muốn đạt đến

Bài paper này được sắp xếp như sau Phần sau đây mô tả ngắn gọn các nền tảng lý thuyết

và những thiếu sót của các bằng chứng thực nghiệm hiện có trong lĩnh vực này Phần 3 mô tả các

dữ liệu được sử dụng trong việc thực hiện thực nghiệm Sau đó chúng tôi phân tích các tính chất chuỗi thời gian của tốc độ tăng trưởng sản lượng bình quân đầu người thực tế và các biến tài chính công trong phần Phân tích này cho thấy có sự phát triển liên tục trong các biến tốc độ tăng trưởng GDP trên đầu người thực và biến tài chính, cái mà về tổng thể phù hợp với một số dự đoán lý thuyết về tăng trưởng dài hạn Trong phần 5 chúng tôi tiến hành những ước lượng độ trễ của phân phối như một kiểm tra hệ thống tác động dài hạn của tài chính công Phần 6 là kết luận

2 Lý thuyết và Chứng cứ thực nghiệm hiện hữu

Kể từ giữa những năm 1980, nghiên cứu về lý thuyết tăng trưởng đã vượt lên trên tất cả các cố gắng tốc độ tăng trưởng sản lượng trong dài hạn Các mô hình tăng trưởng trước đó, được xây dựng bởi Solow (1956) và Cass (1965), hình thành xu hướng tăng trưởng như là một chức năng của các yếu tố ngoại sinh đến chính sách công - chẳng hạn như tiến bộ công nghệ và tăng trưởng dân số Theo quan điểm của họ, chính sách công có thể chỉ có ảnh hưởng đến mức sản lượng bình quân đầu người nhưng không có tác động lâu dài trên tốc độ tăng trưởng Lý thuyết tăng trưởng nội sinh được khám phá đầu tiên bởi Romer (1986, 1990), Lucas (1988), Barro (1990) và Rebelo (1991) , chỉ ra cơ chế mà các biến chính sách không chỉ ảnh hưởng đến mức sản lượng, mà còn ảnh hưởng đến trạng thái ổn định của tốc độ tăng trưởng

Barro (1990) là một trong những nỗ lực đầu tiên tại mối quan hệ giữa tăng trưởng và các chính sách tài khóa Ông phân biệt bốn nhóm tài chính công: chi phí thuộc về sản xuất và chi phí không thuộc về sản xuất, thuế khấu trừ và không khấu trừ Chi tiêu chính phủ được coi là hiệu quả nếu nó đi vào chức năng của sản xuất tư theo cách đóng góp trực tiếp cho đầu ra Nếu không, nó được coi là không hiệu quả và không gây bất kỳ ảnh hưởng lâu dài lên tốc độ tăng trưởng Thuế là khấu trừ nếu nó ảnh hưởng đến quyết định đầu tư, và dẫn đến tăng trưởng sản lượng Đây là, trên tất cả, trường hợp đối với thuế thu nhập và lợi nhuận Nếu không có các loại thuế khác như thuế tiêu thụ, được coi là không khấu trừ, trừ trường hợp khi các hộ gia đình đối mặt với sự lựa chọn nội sinh của lao động hoặc giải trí

Chúng tôi trình bày một phác thảo đơn giản của mô hình Barro để thấy rằng cả chi tiêu công cho sản xuất và thuế khấu trừ có thể ảnh hưởng dài hạn đến tăng trưởng sản lượng Chúng tôi giả định rằng số người tiêu dùng được chuẩn hóa là một Người tiêu dùng vừa tiêu thụ vừa sản xuất sản phẩm cuối cùng theo hàm sản xuất sau đây:

(1)

Trang 6

k là viết tắt của vốn vật chất tư nhân tích lũy và g là chi đầu tư của chính phủ trực tiếp vào quá trình sản xuất Được giả định là sự hạn chế ngân sách chính phủ được cân đối trong từng thời kỳ

và được cho bởi:

trong đó G đại diện cho chi khác của chính phủ mà không trực tiếp đưa vào chức năng sản xuất như đầu vào, T đại diện cho một lần thuế và τ là thuế theo tỷ lệ trên đầu ra mà khấu trừ quyết

định đầu tư Người tiêu dùng tối đa hàm thỏa dụng của họ bằng phụ thuộc vào giới hạn ngân sách tiêu chuẩn ρ đại diện cho tỷ lệ ưu tiên thời gian mà tiêu thụ trong tương lai được chiết khấu và σ là độ co giãn của sự thay thế giữa các vùng Tốc độ tăng trưởng tiêu thụ và sản lượng trong trạng thái cân bằng có dạng:

(2) Phương trình (3) cho thấy chi tiêu chính phủ như một phần của đầu ra ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng dài hạn trong khi lạm dụng chinh sách thuế thái quá có tác động tiêu cực đến tăng trưởng Cả chi tiêu không hiệu quả hoặc áp thuế một lần ảnh hưởng đến tăng trưởng sản lượng trong trạng thái ổn định Từ mô hình này, chúng ta thấy rằng các biến tài chính từ cả hai mặt của vấn đề ràng buộc ngân sách cho sự phát triển, và sự kiềm hãm phát triển bao gồm cả chi tiêu chính phủ và lạm dụng chính sách thuế trong hồi quy tăng trưởng sẽ dẫn đến mô hình sai quy định

Jones (1995) là người đưa ra nỗ lực đầu tiên trong khai thác các thuộc tính chuỗi thời gian để kiểm tra lý thuyết tăng trưởng ngoại sinh so với nội sinh Ông bắt đầu với lập luận đơn giản mà theo lý thuyết tăng trưởng nội sinh, sự thay đổi thường xuyên trong biến số chính sách

có tác dụng lâu dài trên tốc độ tăng trưởng của sản lượng Do đó, nếu tốc độ tăng trưởng tại Mỹ

và các nước OECD khác hiện không có thay đổi lớn kéo dài, các biến chính sách cơ bản không nên hiện thị sự thay đổi lớn liên tục hoặc sự dịch chuyển liên tục trong các biến phải được dừng lại Bằng cách sử dụng thông quy ước Dickey và Fuller (1979, ADF) kiểm tra, ông tìm thấy bằng chứng đáng kể cho một xu hướng ngẫu nhiên trong quá trình dữ liệu tạo ra cho tổng mức đầu tư, sản xuất đồ dùng lâu bền đầu tư và chi tiêu R & D trong phần lớn thu nhập của quốc gia Việc ước lượng của các mô hình phân phối trễ cho thấy sự thay đổi trong đầu tư và chi tiêu cho

R & D đã không gây bất kỳ ảnh hưởng lâu dài đến sự phát triển, do đó bác bỏ những dự đoán của

lý thuyết tăng trưởng nội sinh

Trang 7

Karras (1999) chủ yếu theo phương pháp tiếp cận của Jones (1995), tập trung vào tác động của thuế đối với tăng trưởng GDP bình quân đầu người Ông phân tích một bảng tổng hợp của 11 quốc gia OECD, thấy rằng tốc độ tăng trưởng GDP thực tế nhìn chung là cố định, trong khi một đơn vị không thể bị lờ đi các mức thuế suất trên tổng thu nhập đơn vị và thuế suất trực tiếp trên chủ đơn vị ở hầu hết các quốc gia Ông kết luận rằng việc điều chỉnh mức thuế suất không thể được kết hợp với những thay đổi thường xuyên của tăng trưởng GDP thực tế, trừ khi những thay đổi lâu dài trong các loại thuế được hủy bỏ do những thay đổi thường xuyên trong chính sách đột biến khác Nhưng anh ta không tìm ra khả năng thực hiện bằng cách đưa vấn đề chi tiêu ngân sách trong phân tích của mình Evans (1997) đạt được kết quả tương tự bằng cách phân tích tác động của tiêu dùng của chính phủ về phát triển cho một mẫu của 92 quốc gia

Kocherlakota và Yi (1997) kiểm tra xem loại thuế, đầu tư công có hiệu lực vĩnh viễn trên tăng trưởng sản lượng, dựa trên chuỗi thời gian lên đến 100 năm đối với Mỹ và 160 năm cho Vương quốc Anh Do đó, họ kết hợp cả hai mặt của ngân sách vào phân tích của họ và thấy rằng tiên đoán của lý thuyết tăng trưởng ngoại sinh thường không đúng khi các loại thuế và đầu tư công được bao gồm trong các mô hình kinh tế Tuy nhiên, họ không chính thức kiểm tra sự hợp tác chuyển động của biến chính sách Điều này cũng đúng cho Kneller et al (1999) và Bleaney et

al (2001), người đã đánh giá tác dụng dài hạn của tài chính công về tăng trưởng của các nước OECD, việc tìm kiếm một tác động tăng trưởng đáng kể chi phí sản xuất và lạm dụng thuế

Những đóng góp chính của những bài nghiên cứu hiện nay như sau Phân tích của chúng tôi tạo nên nỗ lực đầu tiên điều tra khả năng hai lực lượng đối kháng có thể truyền đạt một tác dụng ngược lại (và có thể bù đắp) đối với tăng trưởng theo cách lập luận của phân tích Jones Nghiên cứu này được thực hiện bằng cách ghép hai giả thuyết chính Một mặt, chúng tôi đi theo

mô hình tăng trưởng nội sinh của Barro (1990) trong đó dự đoán rằng chi tiêu chính phủ và việc lạm dụng thuế sản xuất gây ảnh hưởng đên tăng trưởng của các hướng đối lập Mặt khác, chúng

ta xem xét các lý thuyết về phát triển bền vững liên thời gian của chính sách tài khóa, trong đó

dự đoán rằng chi tiêu chính phủ và các khoản thu được cùng hội nhập để đảm bảo rằng các giới hạn ngân sách của chính phủ liên thời gian được đưa về giá trị hiện tại nắm giữ Vì vậy, ngay cả khi chúng ta thấy rằng các biến tài chính cá nhân thể hiện sự không cố định trong khi tăng trưởng sản lượng xuất hiện trung bình-cố định, mô hình này có thể đi hơi triều tượng nhưng vẫn có được

sự phù hợp với dự đoán tăng trưởng nội sinh nếu một biến số chính sách có ảnh hưởng dai dẳng

bù đắp vào sự phát triển Do đó, không giống như các nghiên cứu của Evans (1997) và Karras (1999) và dựa trên lý thuyết về ổn định tài chính, chúng ta nhìn vào mặt trong của giới hạn ngân sách của chính phủ kể từ khi bất kỳ sự chi bổ sung nào cũng cần phải được tài trợ, dẫn đến gánh nặng thuế cao hơn

Trang 8

3 Dữ liệu

Khixem xét các tài liệutrước đây đã cho thấy,các bằng chứnghiện cóđóng góp một cáchrõ ràngnhững dự đoántăng trưởng nội sinhcủa một tác độngtăng trưởng dài hạnkhi cả hai mặtcủa ngân sáchđược tính đến, nhưngbằng chứnglàvẫn chưa đầy đủ Ngoại trừcho nghiên cứu củaBleaneyet al.(2001)mẫucủa các quốc giavà các loạingân sách sử dụng đã được chọn lọc kỹ.Bleaneyet al.(2001)kết hợphầu hết những nền kinh tếchâu Âutrongmẫucủa họvàbao gồmtất cả cáchạng mục ngân sách, nhưnghọ chỉ tập trung vàodữ liệucủa chính phủtrung ương Những hạn chế củaphương pháp này là, tất nhiên, làmột lựa chọn một cách hợp lýngười ta sẽnhìn vàocon sốchung của Chính phủ.Thứ nhất,tổng thể các hoạt của chính phủ không chỉ là hoạt động chính phủ trung ương mà nên tính trên quan điểm từ nền kinh tế Thứ hai, chính phủnói chungcung cấp mộtdữ liệuđồng nhất hơnso với thiết lập chính quyền trung ương , màcó thể thay đổimạnh mẽtheocáctổ chứccủa chính quyềnquốc giavàđịa phương

Do đó , chúng ta sử sụng dữ liệu cho kinh phí và doanh thu chung của chính phủ ở tất cả thành viên EU từ năm 1960-2001 ( dữ liệu của Ủy ban AMECO, mùa thu 2002) Tất cả chuỗi thời gian được tính toán dưới dạng hàm log và các biến tài khóa được đo lường so với GDP

Trang 9

Tổng ngân sách được phân loại dựa vào các thành phần của nền kinh tế chứ không phải là chức năng Điều này gần như không phải là khó khăn với việc liên quan đến thuế bởi vì việc phân loạithuếtrực thutrêntài sản vàthu nhập, mặt khác, vàthuếgián thu đối vớinhập khẩuvàsản xuất khác, chủ yếu là phản ánh phân loạitính khấu trừ/không khấu trừ Với chi tiêu công , liên kết là ít hơn tức thì Hiển nhiên, thông tin nguồn vốn công có thể được tính như chi phí sản xuất Tiêu dùng của chính phú là các khoản lương cho các giáo viên và giáo sư đó là sự đầu tư vốn con người , cũng như các khoản lương và chi cho hệ thông phúc lợi xã hội , mà Bleaney et al (2001) giả định là không sinh lời Bên cạnh đó , còn bao gồm những khoản chi cho y tế và giáo dục mà

rõ rang đem lại hiệu quả sử dụng Nói cách khác, bằng chứng thực nghiệm về tác động của các loại chi tiêu cùng nhau đánh giá tính hợp lệ của các dự đoán lý thuyết và đánh giá nội dung sản xuất, so với phi sản xuất của các dòng chi tiêu được xem xét Dữ liệu để tính toán mức độ và tốc

độ tăng trưởng GDP thực tế bình quân đầu người cũng như đầu tư tư nhân so với GDP được lấy

từ OECD Economic Outlook

4 Các thuộc tính chuỗi thời gian tăng trưởng và tài chính công

Đánh giá tác động tiềm năng của các chính sách tài chính đối với tăng trưởng chúng ta hãy nhìn vào các thuộc tính chuỗi thời gian của dữ liệu Các phỏng đoán rằng sự thay đổi lâu dài trong các biến chính sách cần được kết hợp với một sự thay đổi lâu dài trong mô hình tăng trưởng, nếu lý thuyết tăng trưởng nội sinh nắm giữ, tương thích với thời gian chuỗi mẫu khác nhau Vì vậy, trước tiên chúng ta tìm kiếm chuyển động dài hạn xác định và sau đó cho các quá trình ngẫu nhiên liên tục có thể

4.1 Xu hướng xác định

Hình 1 trình bày tốc độ tăng trưởng của GDP thực bình quân đầu người ở các nước thành viên Liên minh châu Âu 1961-2001 Từ bảng xếp hạng nó không phải là một mô hình chuỗi thời gian rõ ràng nắm giữ tất cả các nước Tốc độ tăng trưởng ở một số nước, chẳng hạn như Pháp, Tây Ban Nha, Đức, Hy Lạp, Ý và Thụy Điển, đã bị chậm lại trong vài thập kỷ qua Ở Ireland và Luxembourg tuy nhiên tốc độ tăng trưởng trung hạn đã chọn khoảng thời gian này, trong khi nó vẫn tương đối ổn định trong Áo và Bỉ Thêm bằng chứng chính thức cho các mô hình được trình bày trong bảng 1 mà chúng tôi cho thấy ước tính khác nhau để xác định xu hướng hiện có ở các nước EU Hàng đầu tiên cho thấy một xu hướng áp đặt ước tính trung bình chung và hệ số xu hướng cho tất cả các nước Hàng thứ hai cho thấy trong ước tính hệ số xu hướng (tức là cho phép

Trang 10

đánh chặn để thay đổi) và hàng thứ ba là một ước tính trung bình-nhóm các hệ số xu hướng mà được tính bằng trung bình của ước lượng cá nhân Các hệ số ước tính cho một xu hướng xác định trong tăng trưởng GDP bình quân đầu người mang một dấu hiệu tiêu cực và là đánh giá cao ý nghĩa thống kê Chuyển sang tài chính công, hình 2 cho thấy rằng đã có một sự gia tăng rõ ràng trong chi tiêu công lên đến đầu những năm 1980 ở tất cả các nước Xu hướng này san phẳng sau

đó hoặc thậm chí đảo ngược Tại Bỉ, Ai-len, Luxembourg và Hà Lan, đảo ngược thiết lập trong những năm 1980, trong khi nó có tính chất gần đây ở hầu hết các nước khác Tổng doanh thu nào cho thấy một sự gia tăng tương tự nhưng thường ít rõ ràng hơn trong các năm 1960 và 1970 Xu hướng này sau đó cũng san phẳng trong hầu hết trường hợp, nhưng không được đảo ngược

Từ chi tiêu tổng hợp và doanh thu là biện pháp không chính xác của sản xuất và chi phí thuế bóp méo, Bảng 1 trình bày ước tính xu hướng chi tiêu khác nhau và các khoản thu loại mà

có thể có một tác động tăng trưởng theo mô hình của Barro Cột thứ hai khẳng định xu hướng lâu dài lên trong chi tiêu chính phủ, xuất hiện chủ yếu là do chuyển nhượng và đến một mức độ nào nhỏ hơn do tiêu thụ của chính phủ Điều thú vị là, đầu tư công cho thấy sự phát triển ngược lại, như được chỉ ra bởi hệ số tiêu cực và có ý nghĩa thống kê cho toàn bộ bảng điều khiển Song song, bóp méo thuế - được tính là tổng của tổng số thuế trực tiếp và đóng góp an sinh xã hội - tăng đều trong thập kỷ qua Sự suy giảm dài hạn của đầu tư công và tăng thuế bóp mép đều tương thích với sự phát triển xu hướng thấp hơn rõ ràng trong ước tính của chúng tôi

Trang 11

4.2 Xu hướng ngẫu nhiên

Đưa ra những mô hình có thể quan sát được trong hình 2 và 3, các biến chính sách của chúng ta có thể không chỉ thể hiện xu hướng xác định mà còn có tính ngẫu nhiên liên tục Để kiểm định giả thuyết này, chúng ta tiến hành những kiểm định nghiệm đơn vị dạng mảng mà vượt qua lực kiểm định thấp liên quan với những kiểm định nghiệm đơn vị đơn lẻ Chúng ta sử dụng kiểm định Lm et al (2003) ( từ đây về sau gọi là IPS) và kiểm định Breitung (2000) Mô hình cụ thể được xác định theo dạng sau:

(4) Vớipilà mức độ trễmà quốc gia cụ thểcầntăng thêmđể làm chophần dưthành nhiễu trắng, (độtăng thêm củatrị thống kê t ADFriêng lẻđã được tính toántheo phương pháp từ chung tới riêng

Trang 12

đểloại bỏđáng kểđộ trễ-sai phân cho đếnhạncuối cùng làcó ý nghĩaở mức ý nghĩathông thường.Một cách tổng quát,chúng tôi sử dụngmột mức độtrễ của phương trình2 và 4, vì phương trình4làmức độ tăng lên gốc dài nhất được đòi hỏi để làm sạch phần ADF) ,và Nvà Tlà số lượngnghiệm chéovàquan sátthời giantương ứng αivàδitđại diện chohiệu ứng cố địnhquốc gia cụ thểvà xu hướngxác địnhtương ứng, vàθtlà viết tắt củabiến giả thời gian sử dụngvào tài khoảncho

hệ số tương quan chéocó thểlà kết quả củanhững cú sốcthông thường ảnh hưởng đếntất cả cácđơn vị của mảngtrongmộtthời gian nhất định

Giả thuyết rỗng H0 của kiểm định IPS ngầm định rằng yi=0 với mọi i,ví dụ mọi chuỗi thời gian có 1 nghiệm đơn vị, trong khi đó ngược lại giả thuyết H1 là yi<0 với i=1,2…,N1 và γi =

0, với i= N1+1, N1+2,…, N Giả định rằng nghiệm nhân tố chéo N là phân phối độc lập, thống kê

t có thể được tính toán bằng trung bình của các trị thống kê t của kiểm định ADF riêng lẻ, công thức như sau:

(5) Trong đó là thống kê t cho kiểm đinh trong mỗi kiểm định chi tiết ADF riêng lẻ Giả định rằng tồn tại mô-men bậc 2 của , khi đó thống kê

được hiệu chỉnh cho cỡ mẫu nhỏ như sau:

(6)

Trong đó E[tiT(pi,0) /γi= 0] and Var[tiT(pi,0) /γi= 0] ]là những yếu tốđiều chỉnhthu được thông quamô phỏngngẫu nhiên.Chuẩn hóa thống kêhội tụdạng yếuđến phân phối chuẩn một phía dưới trị rỗng vàphân kỳtheo phương án thay thế Vì vậy, chúng ta cần phảiso sánh giá trịcủavới các giá trịquan trọng từ mộtphân phối chuẩn phía thấp hơn

Điểm mạnh chính của kiểm định IPS so với kiểm định Levin và lin(1992) làhệ sốtự hồiquy được phépkhác nhau giữa cácquốc gia vàchỉ một phần nhỏcủa các nghiệmđược yêu cầu phải có tính dừngdướisự thay đổi Tuy nhiên kiểm định IPS chịu ảnh hưởng từ sự giảm đáng kể

về tính vững khi xu hướng không đồng nhất có trong đặc điểm của chi tiết kỹ thuật như là một kết quả ứng dụng thống kê t với cỡ mẫu nhỏ, chệch hiệu chỉnh (Baltagi and Kao, 2000a,b; Breitung, 2000) Để giải quyết vấn đề này , Breitung (2000) đề xuất kiểm định nghiệm đơn vị

Trang 13

dạng bảng trong đó sử dụng thống kê t không chệch Bằng cách cho phép xu hướng xác định không đồng nhất và động lực ngắn hạn giữa các quốc gia mà không cần điều chỉnh độ chệch, kiểm định Breitung có nhiều sức mạnh hơn để bác bỏ một sai lầm rỗng và không nhạy với mức

độ gia tăng của tiêu chuẩn kỹ thuật ADF Bảng 2 trình bàycác kết quả chotăng trưởngbình quân đầu ngườithực tế, doanh thu hiện tại vàtổng chi tiêucùng vớicác thành phần nhỏ khác của nền kinh tế(tức làthuê trực thu, các khoản đóng gópan sinh xã hội, thuế gián thu, tiêu dùng của chính phủ,chuyển giaovà đầu tư công)

Kết quả kiểm đinh cho thấy GDP trên đầu người là một chuỗi dừng với sai phân bậc I(1), trong khi tốc độ tăng trường GDP thực trên đầu người là có tính dừng cho các mẫu của EU-15 Kết quả cho các biến tài khóa cũng rõ ràng như vậy.Vềmặt doanh thucủa ngân sách, kiểm định IPS và Breitung đều chỉ ra được một nghiệm đơn vị của tất cả đặc trưng của tổng doanh thu và thuế bóp méo (LTDIST) Kết quả có vẻ như chủ yếu là do các thành phần thuế trực thu mà rõ ràng có chứa nghiệm đơn vị, vì kết quả những khoản đóng góp an sinh xã hội gần như không trộn lẫn Trong khi kiểm định IPS bác bỏ trị rỗng của nghiệm đơn vị trong những khoản đóng góp an sinh xã hội với mức độ 1% khi xu hướng đã chỉ ra diều này và tại mức 10% đặc biệt không có tính xu hướng, kiểm định Breitung thì không bác bỏ điều này Về mặt chi tiêu của ngân sách, tổng chi tiêu và các thành phần hỗ trợ khác được dẫn dắt theo xu hướng ngẫu nhiên Thống

kê nghiệm đơn vị cho các biến ở sai phân bậc một chỉ ra rằng không có biến tài khóa được kết hợp ở bậc 2

Một cách tổng quát, tốc độ tăng trưởng sản lượng được tìm thấy có tính dừng trong khi các biến chính sách tài khóa nhìn chung là không dừng Cho rằng đầu tư công được xét một cách tổng quát như là chi phí sản xuất và thuế trực thu cũng giống thuế bóp méo, kết quả này có thể được coi như một thách thức đối với lý thuyết tăng trưởng nội sinh Vì những thay đổi liên tục trong các thành phần tài khóa không xuất hiện kèm với những thay đổi liên tục trong tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người, không có hỗ trợ cho các dự đoán tăng trưởng nội sinh theo trình bày logic của Jones (1995) và Karras (1999)

4.3 Cùng hội nhập của chi tiêu và doanh thu

Mô hình chuỗi thời gian phân tán của tăng trưởng GDP đầu người và các biến chính sách tài khóa có thễ vẫn hòa hợp nếu có một biến chính sách khác với một hiệu ứng dai dẳng lên tăng trưởng tồn tại Hay nói cách khác, phải thõa 2 điều kiện: thứ nhất, biến phải cùng di chuyển với công cụ chính sách được lưu ý và thứ hai, nó phải là một hiệu ứng tăng trưởng dai dẵng theo lý thuyết tăng trưởng nội sinh Điều dĩ nhiên ở đây là phải nhìn vào phần ngược lại của ngân sách,

mà mỗi khoảng tăng chi tiêu cần phải được cung cấp tài chính, và điều này có thể dẫn đến một gánh nặng thuế cao hơn

Nó có thể được chỉ ra rằng, sự ép buộc ngân sách liên thời gian dẫn đến một mối quan hệ cùng hòa nhập giữa doanh thu và chi tiêu Tuy nhiên, liệu mối quan hệ này có tồn tại trong ví dụ của chúng ta hay không và liệu nó có thể lý giải mô hình quan sát của tăng trưởng kinh tế vẫn là

Trang 14

một câu hỏi thực nghiệm Đầu tiên, lý thuyết tăng trưởng tập trung vào các chi tiêu sản xuất và

hệ thống thuế bóp méo Do vậy, nó không rõ ràng một cách thực nghiệm liệu có mối quan hệ cùng hòa nhập giữa chi tiêu và doanh thu Ví dụ, đầu tư công cao hơn có thể được tài chính bởi thuế tiêu dùng Thứ hai, sự ép buộc ngân sách liên thời gian phải tồn tại trên một trục hoành vĩnh viễn và dưới một giả định rằng nền kinh tế hoạt động một cách hiệu quả Dưới các trường hợp này, các quốc gia có thể đối mặt với ―rủi ro thâm hụt‖ thậm chí trong một thời gian kéo dài

Do vậy, chúng tôi thực hiện các kiểm tra cùng hòa nhập bảng cho các kết hợp khác nhau của chi tiêu và tổng doanh thu Các kiểm tra cùng hòa nhập bảng của Pedroni (1999) tận dụng được các thừa số ước lượng từ hồi quy mẫu dài hạn giả thuyết:

Yit = αi + δit + γt + β1ix1it + β2ix2it + … + βmixmit + eit (7)

M là số lượng biến hồi quy Điều này có thể được xem là mô hình hiệu ứng cố định, với

αi và δit lần lượt là country-specific intercepts và deterministic trends, và γt là biến giả một chuỗi thời gian chung cho tất cả các thành viên của bảng Các hệ số, βmi (m=1,2,…M), được cho phép khác nhau từng cá thể Chứng cứ của sự cùng hội nhập được cung cấp khi eit trong Phương trình (7) bất biến Điều này được thực hiện khi bỏ giải thuyết ρi = 1 trong êit = ρi êi,t-1 + uit

Để xác định mối quan hệ lâu dài, chúng tôi trình bày các kết quả của ADF t-statistics gọp chung và trung bình nhóm được phát triển bởi Pedroni (1999) cho các đặc tính có và không có các xu hướng xác định hỗn tạp Pedroni đã đo lường lại trung bình nhóm ADF t-statistic với N-1/2

để cho nó giống phân phối chuẩn Việc chuẩn hóa của thống kê cùng hội nhập có thể được diễn đạt như sau:

√ (8) Với ΚNT là dạng chuẩn hóa của kiểm định thống kê với liên hệ tới N và T Các giá trị trung bình (μ) và phương sai (v) được lập bảng bởi Pedroni (1999) Các giá trị của thống kê chuẩn hóa được

so sánh với các giá trị quan trọng biểu thị bởi một phân phối chuẩn đuôi thấp Chúng tôi chọn việc chuẩn hóa các biến đại diện cho phần doanh thu của sức ép ngân sách chính phủ, mà không

có biểu thị rằng hướng của quan hệ nhân quả đang chạy từ chi tiêu đến phần doanh thu

Các kết quả trong bảng 3 hỗ trợ cho sự tồn tại của mối quan hệ lâu dài giữa doanh thu và chi tiêu Đầu tiên, tổng chi tiêu theo một phần của GDP cùng hội nhập một cách rõ ràng với tổng doanh thu hiện tại khi các xu hướng xác định được bao gồm trong vectơ cùng hội nhập Tương tự như các mô hình cointegrating được xem cho mối quan hệ lâu dài giữa tổng chi tiêu và doanh thu trong các đặc tính với các xu hướng xác định Với kết quả đã cho chúng tôi sẽ dự đoán ―các mục

vé lớn‖ đồng di chuyển với phần khác của ngân sách Thật vậy, chúng tôi thấy các dự báo rõ rằng tổng chuyển dịch cùng hội nhập với tất cả doanh thu, đặc biệt với hệ thống thuế bóp méo Tiêu thụ chính phủ cùng hội nhập với hệ thống thuế trực tiếp và bóp méo Cuối cùng, có một

Trang 15

chứng cứ vững chắc rằng đầu tư công cùng hội nhập với tổng doanh thu cũng như với hệ thống thuế bóp méo và các thành phần của nó, đặc biệt trong đặc tính mà không có các xu hướng

Bảng 4 trình bày các ước lượng hệ số dài hạn cho các biến đi vào vectơ cùng hội nhập Các ước lượng dài hạn nên cung cấp chứng cứ cho sự di chuyển đồng thời giữa các mục tài khóa

từ cả 2 phần của ngân sách Chúng tôi dựa trên tham vấn của mình về trung bình nhóm FMOLS

đề xuất bởi Pedroni (2000), cái mà sửa OLS chuẩn cho sai lệch gây ra bởi yếu tố nội sinh và tương quan chuỗi của biến hồi quy Nó cũng cho phép cho độ co giãn cùng hội nhập hỗn tạp và các kiểm định giả thuyết linh hoạt hơn so với ước lượng FMOLS gộp chung Vectơ cùng hội nhập được chuẩn hóa lần nữa vào danh mục doanh thu

Nhìn lại các mối quan hệ này từ phần chi tiêu, chúng tôi thấy rằng hệ số dài hạn của mối quan hệ của tổng doanh thu với tổng chi tiêu ở khoảng 0.7 và chắc chắn để bao gồm hiệu ứng thời gian Điều này ngụ ý rằng một sự gia tăng trong tổng chi tieu của chính phủ được bù đắp bởi một gia tăng trong tổng doanh thu Chúng tôi kiểm tra 1 đối 1 mối quan hệ giữa tổng doanh thu

và tổng chi tiêu, loại bỏ sự tồn tại của một quan hệ cân xứng tại 1% mức ý nghĩa Kết quả này có thể được giải thích một phần bởi sự sai lệch thâm hụt dẫn đến một sự hình thành nợ tiếp diễn trong suốt từ thập niên 1970 đến thập niên 1980 ở nhiều quốc gia Châu Âu Thêm nữa, hệ số mối quan hệ của chuyển dịch chính phủ và tiêu dùng với tổng doanh thu thấp xuống một cách đáng

kể khi các biến giả thời gian được bao gồm, dù vẫn thực tiễn và có ý nghĩa Điều này chỉ rằng phần của sự dịch chuyển đồng thời giữa các mục ngân sách này được giải thích bởi các nhân tố

mà không khác nhau giữa các quốc gia Châu Âu, như cú sốc cung hoặc cầu chung Độ lệch chuẩn dài hạn của đầu tư công đối với tổng doanh thu và hệ thống thuế bóp méo bằng 0.15, và 0.32 đối với hệ thống thuế trực tiếp trong đặc tính với biến giả thời gian

Tóm lại, thực hành này đã chỉ ra một mối quan hệ cùng hội nhập mạnh giữa doanh thu và chi tiêu công Điều này đặc biệt đúng đối với tổng ngân sách, nhưng cũng áp dụng các mục dưới Thêm vào đó, các vectơ cùng hội nhập nhìn chung có dấu hiệu được mong đợi, chỉ ra rằng chi tiêu và doanh thu di chuyển đồng thời theo cùng một hướng Để mở rộng rằng thành phần dai dẳng của chúng có thể có hiệu ứng ngược lại với tăng trưởng, chúng do vậy sẽ hủy lẫn nhau Điều đó đặc biệt đúng cho mối quan hệ cùng hội nhập giữa hệ thống thuế trực tiếp và đầu tư công Một trường hợp thú vị là mối quan hệ cùng hội nhập được tìm thấy giữa tiêu thụ chính phủ

và hệ thống thuế gián tiếp Do vậy, nếu tiêu thụ chính phủ tác động một hiệu ứng tăng trưởng tăng cường dai dẳng, điểu này sẽ không được bù đắp đầy đủ bởi sự phát triển thuế bóp méo

Trang 16

5 Ảnh hưởng của tài chính công đến sự phát triển dài hạn – Kiểm định mô hình phân

phối trễ

Nghiên cứu thực tiễn trước đó cho quá trình xác định đã chỉ ra rằng tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người và các biến của chính sách tài khóa được đánh dầu bằng sự phát triển liên tục, lâu dài GDP bình quân đầu người thực tế cho thấy một xu hướng giảm trong tốc độ tăng trưởng

và các biến tài chính công theo một xu hướng lên hoặc xuống liên tục mà có thể tương thích với

mô hình tăng trưởng này Khi chúng ta nhìn vào quy trình ngẫu nhiên, biến tài chính là một thành phần liên tục, trong khi tăng trưởng GDP lại bị ngắt quãng Mô hình này vẫn còn tương thích với giả định các tác động liên tục của chi phí sản xuất và thuế bóp méo triệt tiêu lẫn nhau Nhưng ngay cả trong điều kiện cả hai tác dụng bù trừ cho nhau, chính sách tài khóa có thể tác

Trang 17

động ngắn hạn hoặc trung hạn trên tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế Trong phần này, do đó chúng tôi sẽ phân tích một cách hệ thống hơn cho dù biến tài chính ảnh hưởng đến hoạt động

kinh tế trong một chu kỳ kinh doanh

5.1 Quy trình ước lượng

Ảnh hưởng lâu dài của tài chính công đối với tăng trưởng có thể được ước lượng bằng cách sử dụng một mô hình phần phối trễ, kiểm soát cho cả hai bên của ngân sách nhà nước Vì

vậy, một mô hình đơn giản của hình thức sau đây sẽ được ước tính:

(9) trong đó y là lôgarit của sản lượng trên đầu người, g và τ là lôgarit của chi tiêu chính phủ và các khoản thu chiếm trong GDP, αi là một tập hợp các biến giả quốc gia và nó đại diện cho một số lượng hữu hạn của độ trễ Phương trình này về mặt lý thuyết có thể được sử dụng để kiểm tra lý thuyết tăng trưởng ngoại sinh so với nội sinh Như Evans (1997) và Kocherlakota và Yi (1997) cho thấy, lý thuyết tăng trưởng ngoại sinh nghĩa

là thứ tự độ trễ đi đến vô cùng Ngược lại, lý thuyết tăng trưởng nội sinh có nghĩa là chi phí sản xuất

và thuế bóp méo

Nói cách khác, tổng các hệ số có thể khác nhau từ số không cho một trật tự trễ đủ lớn nếu

dự đoán tăng trưởng nội sinh là có giá trị Nó rõ ràng không phải là những gì tạo nên thứ tự chậm trễ ngay trong bối cảnh này Thậm chí thay đổi nhất thời về trạng thái cân bằng mới sau khi một cuộc cải cách tài chính có thể mở rộng trong nhiều năm Vì vậy, chúng tôi có thể không có khả năng phân biệt một cách hợp lý giữa hai lý thuyết tăng trưởng, nhưng xác nhận tài chính công có tác động phù hợp với tăng trưởng theo chu kỳ và có thể ảnh hưởng đến xu hướng tăng trưởng Vì vậy, chúng tôi sử dụng một khoảng dài bằng tám kể từ khi phân tích quang phổ có xu hướng để

Ngày đăng: 30/06/2017, 17:32

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1 trình bày tốc độ tăng trưởng của GDP thực bình quân đầu người ở các nước thành  viên Liên minh châu Âu 1961-2001 - Public fiances and long term growth in europe
Hình 1 trình bày tốc độ tăng trưởng của GDP thực bình quân đầu người ở các nước thành viên Liên minh châu Âu 1961-2001 (Trang 9)
Bảng 5 báo cáo các giả định của hiệu ứng tăng trưởng từ doanh thu, chi phí cũng như các  tiểu khoản khác nhau - Public fiances and long term growth in europe
Bảng 5 báo cáo các giả định của hiệu ứng tăng trưởng từ doanh thu, chi phí cũng như các tiểu khoản khác nhau (Trang 19)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w