Lấy Mỹ là một ví dụ điển hình về sự mâu thuẫn trong các quan điểm điều hành chính sách, dựa trên quan điểm giảm thuế và cải cách thuế của David M.. Những thay đổi về mức độ và thành phần
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
MÔN LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU v
1 CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA 1
1.1 Sơ lược về chính sách tài khoá 1
1.1.1 Khái niệm 1
1.1.2 Các loại chính sách tài khóa 1
1.1.3 Mục tiêu của chính sách tài khóa 2
1.2 Vai trò và tác động của chính sách thuế đến nền kinh tế 2
1.2.1 Khái niệm 2
1.2.2 Mục tiêu 2
1.2.3 Vai trò 2
2 NGHIÊN CỨU CỦA DAVID M SCHIZER VỀ CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA 3
2.1.Vấn đề cắt giảm và cải cách thuế TNDN 4
2.2 Biện pháp khuyến khích chính trị và đề xuất quyết định tài chính có hiệu quả 7
2.2.1 Những vấn đề thông tin và động lực chính trị: 7
2.2.2 Chiến lược có tổ chức để đề xuất những quyết định tài chính hiệu quả 8
2.2.3.1 Việc công khai và giám sát tài chính độc lập 9
2.2.3.2 Cải cách một cách có tổ chức 9
2.2.3.3 Thắt chặt ngân sách 10
3 CÁC NGHIÊN CỨU ỦNG HỘ VÀ KHÔNG ỦNG HỘ QUAN ĐIỂM CỦA DAVID M SCHIZER 13
3.1 Các nghiên cứu ủng hộ quan điểm của David M Schizer 13
3.1.1 Nghiên cứu của R Alison Felix: 13
3.1.2 Nghiên cứu của Christina D Romer và David H Romer (2007): 14
3.1.2.1 Nguồn dữ liệu: 15
3.1.2.2 Phân loại động lực 15
3.1.2.3 Thay đổi thuế sau chiến tranh 17
3.1.2.3 Sự phản ứng của sản lượng với sự thay đổi các loại thuế khác nhau 19
3.1.2.4 Mở rộng 21
3.2 Các nghiên cứu không ủng hộ quan điểm của M Schizer 24
4 TÌNH HÌNH THỰC TẾ CHÍNH SÁCH THUẾ TẠI MỘT SỐ QUỐC GIA ĐIỂN HÌNH 28
Trang 34.1.1 Mỹ 28
4.1.2 Thụy Điển 29
4.2 Các “thiên đường thuế” 30
5 THỰC TIỄN CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA Ở VIỆT NAM 31
5.1 Phân cấp, phân quyền trong thu chi ngân sách Nhà nước 31
5.1.1 Phân cấp: 31
5.1.2 Phân quyền 33
5.1.3 Đánh giá: 34
5.2 Điều hành nền kinh tế vĩ mô thông qua Chính sách tài khóa năm 2012: 38
5.2.1 Nghị quyết 01/NQ – CP: 39
5.2.2 Nghị quyết 13: 39
5.2.3 Nghị quyết số 29/2012/QH13 về ban hành một số chính sách thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho tổ chức và cá nhân 40
5.3 Đánh giá việc điều hành thông qua CSTK: 40
5.3.1 Thu ngân sách: 40
5.3.2 Chi ngân sách: 41
5.4 Đề xuất giải pháp: 42
5.4.1 Quản lý thu chi ngân sách: 42
5.4.2 Miễn, giảm, giãn Thuế phù hợp: 43
5.4.3 Quản lý Thuế hợp lý hơn: 44
5.4.4 Chấp hành nghiêm những chính sách đã đề ra: 44
TỔNG KẾT 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO 46
Trang 4MỞ ĐẦU
Chính sách tài khóa cùng với chính sách tiền tệ là hai chính sách điều hành kinh tế vĩ
mô quan trọng bậc nhất nhằm hướng đến mục đích ổn định và phát triển kinh tế Thường thì các nhà kinh tế tập trung nghiên cứu chính sách tiền tệ hơn là chính sách tài khóa Gần đây, đã có nhiều nghiên cứu nhấn mạnh đến mối liên hệ giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ Đây đều là những chính sách kinh tế mang đặc tính phản chu kỳ và vẫn còn nhiều tranh luận giữa các nhà kinh tế cũng như các nhà làm chính sách liên quan đến tính hiệu quả của các chính sách này
Bài nghiên cứu này tập trung vào phân tích chính sách tài khóa trong bối cảnh khó khăn và đầy thách thức của khủng hoảng tài chính hiện nay Lấy Mỹ là một ví dụ điển hình về sự mâu thuẫn trong các quan điểm điều hành chính sách, dựa trên quan điểm giảm thuế và cải cách thuế của David M Schizer, chúng tôi đồng thời đi sâu xem xét vai trò và tác động của hệ thống thuế thu nhập doanh nghiệp trong việc cải thiện tình hình ngặt nghèo hiện nay của nền kinh tế Mỹ: tăng trưởng chậm lại, thất nghiệp gia tăng, thâm hụt ngân sách đặt trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu gay gắt Tăng hay giảm thuế vẫn đang là tranh luận không có hồi kết giữa các trường phái kinh tế chính sách của Mỹ Với điều kiện kinh tế toàn cầu khó khăn hiện nay, trong phần lớn của bài này, chúng tôi trình bày quan điểm “giảm thuế” của Schizer như là một thiên hướng ủng hộ của chúng tôi về quan điểm này Tuy nhiên, vấn đề tăng hay giảm thuế không phải là kết luận cuối cùng của chúng tôi Chúng tôi cũng trình bày những quan điểm đối lập (tức là ủng hộ “tăng thuế) nhằm chứng minh rằng không phải bất kỳ quan điểm nào cũng đúng một cách tuyệt đối Sự kết hợp và điều chỉnh trong những điều kiện khác nhau là rất cần thiết
Nhóm cũng dành một phần để liên hệ đến thực tiễn chính sách tài khóa ở Việt Nam
Từ những phân tích và nghiên cứu ở nhiều nước khác, nhóm trình bày quan điểm của mình liên quan đến việc sử dụng công cụ điều hành kinh tế này ở Việt Nam trong điều
kiện hiện nay
Trang 5Hai công cụ chính của chính sách tài khóa là chi tiêu của chính phủ và hệ thống thuế Những thay đổi về mức độ và thành phần của thuế và chi tiêu của chính phủ có thể ảnh hưởng đến các biến số sau trong nền kinh tế:
- Tổng cầu và mức độ hoạt động kinh tế
- Kiểu phân bổ nguồn lực
- Phân phối thu nhập
1.1.2 Các loại chính sách tài khóa
Chính sách tài khóa liên quan đến tác động tổng thể của ngân sách đối với hoạt động kinh tế Có các loại chính sách tài khóa điển hình là trung lập, mở rộng, và thu gọn
i Chính sách trung lập là chính sách cân bằng ngân sách khi đó G = T (G: chi
tiêu chính phủ, T: thu nhập từ thuế) Chi tiêu của chính phủ hoàn toàn được cung cấp do nguồn thu từ thuế và nhìn chung kết quả có ảnh hưởng trung tính lên mức độ của các hoạt động kinh tế
ii Chính sách mở rộng là chính sách tăng cường chi tiêu của chính phủ (G > T)
thông qua chi tiêu chính phủ tăng cường hoặc giảm bớt nguồn thu từ thuế hoặc kết hợp cả hai Việc này sẽ dẫn đến thâm hụt ngân sách nặng nề hơn hoặc thặng
dư ngân sách ít hơn nếu trước đó có ngân sách cân bằng Chính sách tài khóa
mở rộng áp dụng khi nền kinh tế đang ở trạng thái suy thoái, sản lượng thực tế thấp hơn sản lượng tiềm năng
iii Chính sách thu hẹp là chính sách trong đó chi tiêu của chính phủ ít đi thông
qua việc tăng thu từ thuế hoặc giảm chi tiêu hoặc kết hợp cả hai Việc này sẽ
Trang 6dẫn đến thâm hụt ngân sách ít đi hoặc thặng dư ngân sách lớn lên so với trước
đó, hoặc thặng dư nếu trước đó có ngân sách cân bằng Chính sách tài khóa thu hẹp áp dụng khi nền kinh tế đang có lạm phát cao, sản lượng thực tế lớn hơn sản lượng tiềm năng
1.1.3 Mục tiêu của chính sách tài khóa
Các mục tiêu của chính sách tài khóa là:
- Ổn định nền kinh tế ở mức sản lượng tiềm năng Y = Yp
- Duy trì nền kinh tế ở tỉ lệ thất nghiệp tự nhiên
- Tỉ lệ lạm phát nền kinh tế là vừa phải
1.2 Vai trò và tác động của chính sách thuế đến nền kinh tế
1.2.1 Khái niệm
Thuế là mộ trong hai công cụ của chính sách tài khóa Thuế thể hiện quan hệ giữa nhà nước và các tổ chức và các nhân trong xã hội, phát sinh trong quá trình nhà nước tham gia phân phối tổng sản phẩm quốc nội nhằm tạo lập quỹ ngân sách nhà nước, đáp ứng các nhu cầu chi tiêu của nhà nước
Chính sách thuế là một phần của chính sách tài chính, là tổng thể những quan điểm, tư tưởng, giải pháp và công cụ mà nhà nước sử dụng để ra quyết định về thu nhập và huy động nguồn thu để đảm bảo cho nhu cầu chi tiêu của mình
1.2.2 Mục tiêu
Mục tiêu của chính sách thuế là xác định mức độ điều tiết qua thuế, những tác động kinh tế xã hội của chính sách như thế nào và tại sao lại điều tiết mức độ đó, chính sách thuế sẽ tác động đến những các nhân, tổ chức nào trong xã hội…
1.2.3 Vai trò
Thuế có hai vai trò chính đối với nền kinh tế như sau:
- Huy động nguồn tài chính, đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước
Đây là vai trò mang tính lịch sử, gắn liền với sự ra đời của thuế
- Góp phần điều tiết vĩ mô nền kinh tế xã hội
Trang 7Cơ chế tác động của thuế khi thực hiện vai trò này chủ yếu thông qua giá cả và thu nhập của cơ sở kinh doanh, các tầng lớp dân cư Biểu hiện của vai trò này như sau:
Chính sách thuế góp phần định hướng cho đầu tư trong nước, thực hiện chính sách thu hút đầu tư từ nước ngoài, phù hợp với các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của nhà nước Từ đó góp phần tái cấu trúc nền kinh tế theo ngành và vùng lãnh thổ giúp phân bổ hợp lý các nguồn lực
Thông qua thuế suất, miễn giảm hay quy định về các trường hợp chịu thuế, không chịu thuế chính sách thuế có thể khuyến khích hoặc hạn chế hoạt động kinh doanh, góp phần vào việc xác lập quan hệ cân đối giữa cung – cầu hàng hóa dịch vụ
Góp phần thực hiện chinh sách kinh tế đối ngoại của nhà nước trong từng thời kỳ, nhằm mục tiêu phát triển nền kinh tế khi gia nhập nền kinh
tế khu vực và toàn cẩu
Giữ vai trò quan trọng trong việc điều tiết công bằng thu nhập giữa các tầng lớp dân cư
- Tác động đến cân bằng thị trường
Chinh sách thuế tác động đến giá cả thị trường, tỉ giá hối đoái, lãi suất tín dụng, cung cầu, thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản Chính sách thuế hợp lý tác động rất lớn đến tăng trưởng kinh tế và tạo công ăn việc làm Mục đích của quá trình điều tiết đối với nền kinh tế là tạo ra sự công bằng và kích thích tốc độ tăng trưởng
- Tác động đến tốc độ tăng trưởng và đầu tư
Thuế là khoản thu của nhà nước, giúp nhà nước có tích lũy, tăng cường đầu tư và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Thuế còn tác động đến tốc độ tăng trưởng GPD và các nhân
tố sản xuất, điều chỉnh cơ cấu GDP, điều tiết xuất nhập khẩu và chính sách kinh tế đối ngoại, thu hút đầu tư trong và ngoài nước
2 NGHIÊN CỨU CỦA DAVID M SCHIZER VỀ CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA
Vào thời điểm khó khăn này, chúng ta có một loạt các vấn đề cần phải được giải quyết Sức mua sẽ giảm khi tài sản cầm cố nhỏ hơn giá trị khoản vay, vì thế chúng ta cần tìm cách để giúp người tiêu dùng tái huy động vốn (tái tài trợ) Tuy nhiên, việc
Trang 8cho vay không thận trọng lại thúc đẩy cuộc khủng hoảng, và chúng ta cần có quy chế tài chính tốt hơn
Bảo hiểm xã hội và y tế có mức thâm hụt dự kiến khá lớn, vì vậy chúng ta cần phải cải cách các hệ thống để đảm bảo khả năng thanh toán Chúng ta cũng nên loại bỏ những gánh nặng chi tiêu điều tiết không cần thiết để giúp cho nền kinh tế phát triển Đó là một vài ví dụ về những cải cách có khả năng thực hiện
Khi xem xét những chế độ quy phạm pháp luật cần phải được sửa đổi nhằm kích thích tăng trưởng kinh tế, chúng ta có nhiều lý do để tập trung vào luật thuế Nếu luật thuế quá phức tạp thì việc tuân thủ, thực thi sẽ rất tốn kém; hơn nữa, chúng ta cũng sẽ khó phát hiện ra những giao dịch phục vụ cho một múc đích đặc biệt nào đó Nhưng ngược lại, những quy định về thuế được soạn một cách kém cỏi có thể sẽ làm suy yếu động lực làm việc và đầu tư Số nghiên cứu thực nghiệm đang tăng lên gần đây cho thấy việc cắt giảm thuế ở một mức nào đó có thể tạo ra một sự kích thích tài khoá có hiệu quả
2.1.Vấn đề cắt giảm và cải cách thuế TNDN
Có nhiều phương pháp cải cách hệ thống thuế nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, trong đó việc giảm thuế suất TNDN nên được ưu tiên thực hiện Có ít nhất ba lý do cho điều này:
+ Trước tiên, bằng cách giảm thuế TNDN, lợi nhuận sau thuế sẽ tăng nếu doanh nghiệp mở rộng đầu tư và thuê nhiều nhân công hơn Nhưng hiệu quả từ tác động khuyến khích này khó dẫn chứng bằng tài liệu trong những nghiên cứu trước đây (những nghiên cứu này đo lường mức thuế suất qua thời gian) bởi vì việc tách bạch kết quả có được giữa sự thay đổi trong thuế suất và sự thay đổi của các yếu tố khác trong nền kinh tế là điều rất khó Tuy nhiên, những nghiên cứu thực nghiệm gần đây tập trung vào các dữ liệu kinh tế vi mô và dữ liệu chéo đã cung cấp bằng chứng mạnh
mẽ rằng thuế thấp hơn dẫn đến đầu tư nhiều và chất lượng hơn Tương tự như vậy, cắt giảm gánh nặng thuế làm tăng dòng tiền cho các doanh nghiệp, giúp họ mở rộng quy
mô hoạt động và tăng thêm công nhân "Một sự nhất trí rõ ràng rằng nhu cầu đầu tư rất nhạy cảm với thuế và mô hình đầu tư tân cổ điển là hữu ích cho việc phân tích chính sách." (theo Hassett and Glenn Hubbard) Chuyên gia từ cả hai đảng phái chính
Trang 9trị đã đóng góp cho vấn đề này, bao gồm cả Austan Goolsbee Christina Romer - chuyên gia tư vấn kinh tế cao cấp cho Tổng thống Obama
+ Thứ hai, mức thuế suất thấp hơn cũng làm giảm động cơ bóp méo thuế Doanh nghiệp sẽ có ít lý do để làm cho nợ vượt quá vốn chủ sở hữu (bị thua lỗ), hay muốn tái
cơ cấu miễn thuế, hay cố gắng duy trì một công ty tư nhân (để đủ điều kiện được đãi ngộ thuế), hay ưu tiên trong một số loại hình đầu tư, lĩnh vực nào đó hơn những lĩnh vực khác Thuế thu nhập doanh nghiệp nói riêng dẫn đến rất nhiều sự biến dạng và những kế hoạch đầu tư lãng phí Michael Graetz đã nhận xét "hầu như quan điểm nhất trí giữa các nhà kinh tế và các nhà phân tích chính sách thuế khác là thuế thu nhập doanh nghiệp là một loại thuế xấu, nếu mục tiêu là nâng cao phúc lợi kinh tế quốc gia."
+ Thứ ba, cắt giảm thuế thu nhập doanh nghiệp là quan trọng hơn trong nền kinh tế cạnh tranh toàn cầu Năm nay, mức thuế suất thuế TNDN của Mỹ đã trở nên cao nhất trong OECD Tỷ lệ 35% của Mỹ là cao hơn đáng kể mức trung bình của OECD 24% (Israel) và 25% (Áo) Tỷ lệ của Trung Quốc là 25% (với tỷ lệ giảm 15% cho doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghệ cao),của Anh tỷ lệ là 26%, của Italy là 27,5%, Hàn Quốc là 22%, Thổ Nhĩ Kỳ là 20%, và của Ireland là 12,5%
Căn cứ vào dòng chuyển động của vốn và lao động như hiện nay, việc Mỹ bỏ qua mức thuế suất của đối thủ cạnh tranh đã đẩy Mỹ vào tình thế nguy hiểm Có bằng chứng thực nghiệm chắc chắn đã chứng minh rằng các mức thuế suất cao không khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài Tỷ lệ thuế biên tế cao ở Hoa Kỳ còn tạo ra một động cơ cho các doanh nghiệp chuyển giao thu nhập chịu thuế ra nước ngoài cùng với
cơ sở tính thuế, hoạt động kinh tế thực và cả việc làm Phúc lợi quốc gia của Mỹ có khả năng bị tổn thất khi các công ty bắt đầu liên kết với nước ngoài để tránh thuế thu nhập ở Mỹ cho phần tiền chuyển ra nước ngoài Cụ thể là, khi một công ty công nghệ cao cho các chi nhánh nằm ngoài nước Mỹ nắm giữ quyền sở hữu trí tuệ thì việc trả phí bản quyền cho các chi nhánh nước ngoài đó sẽ giúp làm giảm thu nhập chịu thuế của công ty này tại Mỹ, và hơn nữa các công ty sản xuất và các công ty tài chính có thể di chuyển cơ sở vật chất và việc làm tới phạm vi có mức thuế thấp hơn Tất cả các
Trang 10điều nói trên sẽ không còn là cám dỗ đối với các doanh nghiệp Mỹ nếu thuế suất thuế TNDN tại Mỹ thấp hơn các nước cạnh tranh
Vấn đề chính của việc cắt giảm mức thuế suất thuế TNDN là chính trị Cử tri thuần tuý có thể coi việc giảm thuế như là một sự không công bằng vì đó giống như sự ưu đãi dành cho những người giàu Nhưng thực tế là thuế TNDN không chỉ chịu bởi những nhà đầu tư giàu có, mà cũng còn bởi những người ít tài sản hơn (ví dụ, đối tượng thụ hưởng từ quỹ hưu trí), hay bởi người tiêu dùng (thông qua giá cao hơn cho các sản phẩm của công ty chịu thuế cao) và cả bởi người lao động (thông qua việc bị giảm tiền lương)
Không có sự đồng thuận nào về việc gánh nặng thuế TNDN được thực sự phân bổ như thế nào, cũng như về phạm vi ảnh hưởng kinh tế của thuế thực sự là ở đâu Nghiên cứu gần đây cho thấy, phần mà người lao động phải chịu từ gánh nặng thuế TNDN đã tăng dần theo thị trường cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt Nếu cắt giảm thuế suất có thể tạo ra nhiều công việc hơn tại Mỹ, lợi ích của việc cắt giảm thuế sẽ phân
bổ khá rộng Trong bất kỳ trường hợp nào, chúng ta có thể ghép cắt giảm thuế thu nhập doanh nghiệp với các biện pháp khác, như là mở rộng bảo hiểm thất nghiệp, để đạt được phân phối thu nhập tổng thể mà chúng ta đang tìm kiếm cho toàn bộ hệ thống thuế
Một thách thức nữa trong việc cắt giảm thuế suất thuế TNDN là làm thế nào để bổ sung ngân khố quốc gia bị mất do giảm thuế Tiền thu được từ thuế TNDN là gần 278
tỷ USD trong năm 2010, chiếm 12% của IRS (Internal Revenue Serv collections) Một số nguồn thu từ thuế sẽ được phục hồi tự động khi cắt giảm thuế suất sẽ làm giảm động cơ người nộp thuế tham gia dàn xếp vào các kế hoạch thuế Tại biên, một số doanh nghiệp sẽ thay thế nợ bằng vốn chủ sở hữu (vì phần lỗ được khấu trừ sẽ ít đi khi thuế suất giảm) Và một số doanh nghiệp sẽ không còn tích cực trong việc chuyển dịch thu nhập ra nước khác (vì sự chênh lệch giữa các mức thuế suất ở Mỹ và các quốc gia khác đã thu hẹp)
Để bù lại nguồn thu từ thuế, chúng ta có thể mở rộng cơ sở tính thuế thu nhập doanh nghiệp theo những cách khác Ví dụ, pháp luật hiện hành có dành một số ưu đãi cho vài lĩnh vực cá biệt, chẳng hạn như các khoản khấu trừ đặc biệt cho ngành sản xuất
Trang 11trong nước Cho đến khi những đãi ngộ này lại sinh ra sự không hiệu quả khi có sự đối
xử khác biệt giữa các ngành công nghiệp khác nhau, việc hủy bỏ chúng có thể sẽ là chính sách tốt Tổng quát hơn, trong việc quyết định những sự đãi ngộ nào cần loại bỏ, chúng ta nên ưu tiên những cái được giải thích thỏa đáng bởi những yếu tố chính trị hơn là những yếu tố kinh tế, trong khi đó vẫn giữ những quy định đang phát huy hiệu quả trong việc thúc đẩy đầu tư và tăng trưởng kinh tế Chúng ta có thể lựa chọn để giới hạn tỉ lệ cắt giảm đến một mức độ có thể được tài trợ thông qua bãi bỏ các đãi ngộ không kinh tế (không sinh lãi), hoặc chúng ta có thể quyết định giảm tỷ lệ nhiều hơn và tạo nên nguồn thu theo những cách khác Rõ ràng, chi tiết quan trọng cần được làm rõ: mục tiêu của tôi không phải là giải quyết tất cả ở đây, nhưng để cung cấp một
ví dụ về các loại cải cách thuế nâng cao tốc độ tăng trưởng trong chương trình nghị sự của chúng ta
2.2 Biện pháp khuyến khích chính trị và đề xuất quyết định tài chính có hiệu quả
Ngoài việc cần phải cải cách hệ thống thuế, chúng ta cũng nên cải thiện cách thức sử dụng ngân sách Trong thời kỳ khó khăn, chúng ta phải nghiêm khắc hơn cho những quyền ưu tiên và hiệu quả hơn trong việc theo đuổi chúng Cho dù chúng ta đang thực hiện một gói kích thích mới hoặc tìm cách giảm thâm hụt ngân sách thì cũng nên sử dụng chi tiêu công vào các dự án có giá trị cao Hệ thống thuế cần thúc đẩy tăng trưởng với mức lãi suất thấp và một cơ sở rõ ràng Ngân sách cần cân đối giữa giá trị hàng hoá và dịch vụ cần mua so với chi phí thuế và khoản vay để tài trợ cho việc mua chúng
2.2.1 Những vấn đề thông tin và động lực chính trị:
Trong việc quyết định những dự án để theo đuổi và làm thế nào để theo đuổi chúng, chính phủ thường bị hạn chế về thông tin và phải đối mặt với sự không chắc chắn Như sự khó khăn trong việc dự đoán xem người nộp thuế sẽ phản ứng như thế nào với
sự thay đổi trong pháp luật về thuế, hay việc đầu tư cơ sở hạ tầng nào đó có nằm trong ngân sách hay không, hoặc vấn đề là làm thế nào để giành chiến thắng trong một cuộc chiến
Trang 12Theo quan điểm của tôi, vấn đề về động cơ chính trị thậm chí còn quan trọng hơn vì hai thất bại quen thuộc trong nền chính trị của chúng ta:
Đầu tiên, các nhà lãnh đạo chính trị đều biết rằng nếu làm hài lòng những tập thể cùng chung một quyền lợi nào đó sẽ giúp thu hút sự đóng góp và bỏ phiếu cho các chiến dịch tranh cử, đặc biệt là nếu chi phí của việc ban hành pháp luật nhằm phục cho lợi ích đặc biệt có thể được chuyển giao cho người khác bằng một cách nào đó mà không gây sự chú ý Ví dụ, người dân Mỹ sẽ không nhận thấy rằng bạn đã lấy một đồng xu
từ mỗi người mỗi ngày để làm lợi cho một số tổ chức; trong một quốc gia có 300 triệu người, đó là hơn 1 tỷ USD mỗi năm Thay vì chiến đấu với việc làm lợi cho các nhóm thì việc này dễ dàng hơn đối với các lãnh đạo Quốc hội khi để các nhà lập pháp cung cấp các dự án quan trọng đến bạn bè của họ
Thứ hai, các chính trị gia có động cơ để tập trung vào ngắn hạn hơn là sự lâu dài của quốc gia Kết quả là, chống lại việc thông đồng giữa những nhóm có cùng lợi ích còn khó khăn hơn là việc tài trợ thâm hụt chi tiêu Bằng cách này, chi phí có thể được trả bởi thế hệ tương lai (thế hệ này chưa được sinh ra) – vào lúc này thì các thế hệ hiện tại
đã nghỉ hưu
2.2.2 Chiến lược có tổ chức để đề xuất những quyết định tài chính hiệu quả
Chúng ta không chỉ cân nhắc đến những khó khăn trên khi quyết định chính sách mà còn khi chúng ta chọn phương thức đưa ra những quyết định trên Liệu chúng ta có thể thay đổi quy trình theo một cách nào đó giúp tạo ra một động cơ chính trị tốt hơn? Rõ ràng là, điều này là rất khó khăn bởi những chính trị gia có lý do để thích mọi việc không thay đổi Họ thường sẵn lòng ủng hộ những thay đổi có vẻ cải thiện quy trình
để họ tạo uy tín, nhưng họ thường bị cám dỗ để tạo ra những lỗ hỏng cho phép họ vận hành mọi thứ như cũ Tuy vậy, chúng ta nên biết rằng có những điều có thể được thực hiện để tạo ra một quyết định tài chính tốt hơn Trong những phút hiếm hoi, khi cộng đồng quan tâm đến những vấn đề này – với tần số ngày càng tăng như hiện này – một điều gì đó mang tính xây dựng có thể được thực hiện Bằng cách nào chúng ta có thể gắn kết động cơ của những người ra quyết định và lợi ích của cả cộng đồng? Sẽ chẳng
có điều kỳ diệu nào – và thực ra, quá nhiều để được truyền tải trong phạm vi một bài báo nhưng chúng ta có thể nêu ra ba chiến lược: can thiệp vào quá trình công bố thông
Trang 13tin, cơ cấu một cách có tổ chức đặt trọng tâm vào lãng phí, lạm quyền và tuân theo quy luật khan hiếm
2.2.3.1 Việc công khai và giám sát tài chính độc lập
Đầu tiên, có thể dễ dàng khiến những chính trị gia chịu trách nhiệm – và họ sẽ cảm thấy mình chịu nhiều trách nhiệm hơn - nếu cử tri biết chi tiết những lựa chọn của họ Chúng ta thường thấy những nhà lập pháp thường hạ thấp chi phí bằng cách thao túng những quy định về kế toán ngân sách Chúng ta nên thắt chặt những quy định đó để tăng cường kiểm soát các thủ pháp tâm lý Hơn nữa, chúng ta nên yêu cầu tiến hành thêm các nghiên cứu về tương quan lợi ích và chi phí của sự phân bổ và thay đổi trong luật thuế, cũng như ước tính phương thức phân chia và lợi ích liên quan Liệu rằng lợi ích từ một hành động cá biệt nào đó tập trung hạn hẹp vào một nhóm nhỏ con người? Hoặc một vùng lãnh thổ cá biệt? Hoặc liệu rằng thế hệ tương lai có phải gánh chịu chi phí bất tương xứng với lợi ích?
Từng thành viên của quốc hội, truyền thông, giới học thuật, các nhà vận động hành lang và các nhóm tuyên truyền có thể (và sẽ) giúp làm trong sạch ngân sách của chúng
ta bằng cách tập trung sự chú ý vào những vấn đề mà chính quyền đã công khai và bằng cách tạo ra những thông tin mới Những trang tra cứu cá nhân và những website khác được tài trợ bởi các khoản đóng góp được khấu trừ thuế cũng có thể được xem như một công cụ giám sát tài chính Rủi ro của lợi ích đặc biệt sẽ bị lộ rõ và tranh luận trong mạng lưới sẽ đặt ra một số sự tuân thủ trong quốc hội
2.2.3.2 Cải cách một cách có tổ chức
Thứ hai, ngoài việc dựa vào sự ghi nhận và công khai tốt hơn, chúng ta nên tạo ra những rào cản nội bộ đối với những sự chiếm dụng vô ích, lỗ hỏng thuế và những thứ tương tự Ví dụ, cấm những quyền ưu tiên là một bước đi hiệu quả
Thêm vào đó, chúng ta nên giao nhiệm vụ cho những tổ chức riêng biệt trong chính phủ để triệt tận gốc lãng phí và lạm quyền, để họ tìm kiếm sự công nhận trên việc chống lại động cơ tạo lợi ích đặc biệt như đã mô tả ở trên Rõ ràng là, những tổ chức này nên sẵn sàng làm trái ý một số nhóm lợi ích đặc biệt Động cơ chính trị của họ có thể là đáp ứng sự phản đối ngày càng gay gắt của cộng đồng về sự thâm hụt ngân sách
Trang 14hoặc tạo dựng sự tín nhiệm do tìm được những cách tiết kiệm giúp chúng ta không phải tăng thuế hoặc cắt giảm những chương trình quan trọng hơn Chúng ta có thể giao cho những tổ chức “chống lạm quyền” này hàng loạt những sứ mệnh khác nhau, tùy vào việc chúng ta muốn họ có uy quyền đến mức nào Nhưng ít nhất, những khám phá của họ nên được công khai rộng rãi, cùng với danh tín của những người tài trợ hay ủng hộ cho những hành động đáng ngờ Thậm chí tốt hơn hết là, ủy ban thường trực thuộc Hạ viện và Nghị viện sẽ được trao quyền để tách rời các hạng mục từ ngân sách thông qua việc bầu cử độc lập Xa hơn nữa, chúng ta có thể giao cho ủy ban thuộc quốc hội những công cụ có chức năng tương đương với quyền phủ quyết “line-item” (hạng mục) để nó có thể loại trừ những hạng mục mà có chi phí không hợp lệ Theo cách này sự lạm quyền sẽ được giảm bớt và chính nó sẽ ngăn chặn việc thông đồng giữa các đảng
Thậm chí nhiệm vụ rộng hơn cho ủy ban mới này là nhận dạng ra tỷ lệ phần trăm ngân sách mỗi năm được đánh giá là ít có giá trị nhất, giống như một số công ty có quá trình đánh giá hàng năm để nhận dạng và thay thế những nhân viên làm việc kém hiệu quả nhất Chi nhánh điều hành của Office of Management and Budget có thể thực hiện một hành động song song (hoặc cắt giảm chi tiêu hoặc sử dụng vào mục đích có lợi hơn) Nếu được thực thi hiệu quả, điều này sẽ là một thành tựu quan trọng Ví dụ, nếu chúng ta thực hiện cắt giảm chi tiêu một lần bằng một nửa chi tiêu năm 2008, Edward Lazear quan sát, mỗi một phần trăm giảm xuống trong sự chi tiêu của chính phủ mỗi năm sau đó, trong thực tế, sẽ giúp cân bằng ngân sách trong 8 năm (mà không cần phải tăng thuế) Chúng ta sẽ thực sự tránh được bao nhiêu cái “một phần trăm không hữu ích” từ ngân sách nếu chúng ta có thể nhận dạng và loại trừ được nó vào mỗi năm?
2.2.3.3 Thắt chặt ngân sách
Thứ ba, sự khan hiếm cũng là một điều khiến chúng ta suy nghĩ Các nhà chính trị ít
có xu hướng dung dưỡng lợi nhuận của một nhóm nếu điều này ảnh hưởng đến nhóm khác Theo nghiên cứu của Michael Graetz, các nhà lập pháp có cách hành xử khác nhau khi công khai về việc lấy lợi ích của nhóm này chuyển sang nhóm khác Hậu quả
Trang 15là sự tăng cường thắt chặt ngân sách khuyến khích các nhà lãnh đạo càng chặt chẽ trong việc quy định quyền ưu tiên và theo đuổi chúng một cách hữu hiệu hơn
Nhiều năm trước, chính phủ liên bang đã theo đuổi mục tiêu này bằng nhiều cách khác nhau Từ năm 1985 cho đến 1990, họ đặt ra các mục tiêu về thâm hụt và bắt buộc thi hành với hình thức cắt giảm tự động dưới đạo luật Gramm Rudman Hollings Năm
1990, Tổng thống Goerge H.W Bush và Quốc hội thông qua chế độ mới hạn chế các chương trình hiện tại có mức chi tiêu cao và ban hành thêm một luật mới gọi là
“PAYGO” Luật này đòi hỏi Quốc Hội thành lập quỹ cho việc cắt giảm thuế hoặc các
kế hoạch chi tiêu Thực tế, Quốc hội không làm điều gì mới mẻ ngoài việc cắt giảm những cái cũ hoặc là tăng thuế Bằng cách bắt buộc Quốc hội có sự lựa chọn khó khăn hơn, PAYGO đã giảm được thâm hụt về căn bản.Đây là một thành công lớn thúc đẩy Quốc hội cho kết thúc các nhân tố chính của PAYGO năm 2002 Không lâu sau đó, thâm hụt lại tăng lên như có thể tiên đoán trước
Nhà nước cũng đã thử nhiều cách để kiềm chế thâm hụt Quả thực, các bang ngoại trừ Vermont đều có một yêu cầu về cân bằng ngân sách theo các kiểu khác nhau Như Richard Briffault đã nhấn mạnh, bài học thiết yếu đó là những chi tiết có ý nghĩa to lớn Một vài hạn chế là rất dễ xử lý và hầu như là vô nghĩa, cho phép các bang sử dụng vào các mánh lới kế toán làm sai lệch các quy tắc tài chính để chuyển các thâm hụt của họ vào các tài khoản riêng biệt khác nhau (ví dụ: trợ cấp hay vốn…) mà không
bị hạn chế hay phân chia nhiệm vụ xuống các địa phương để chuyển chi phí khỏi ngân sách của bang Tương tự như vậy, một hạn chế chi tiêu sẽ không hiệu quả nếu cơ quan lập pháp có thể tránh nó bằng cách thực hiện các chương trình có mục đích giảm thuế Tuy nhiên, theo một số nghiên cứu thực nghiệm đã cho thấy, sự hạn chế ở các bang có
tổ chức tốt thì có sự khác biệt Các tiểu bang đòi hỏi đa số phiếu để tăng thuế ít có xu hướng như vậy và có xu hướng thu thuế trên diện rộng Thay vào đó, một vài tiểu bang đã hạn chế thuế và chi phí (TELs) Hạn chế thuế và chi phí sẽ hiệu quả hơn nếu
họ làm tốt hơn việc tăng chi tiêu dựa trên tăng trưởng kinh tế và lạm phát (trái ngược với tăng thu nhập cá nhân), nếu họ đòi hỏi hoàn tiền thặng dư ngay lập tức, nếu họ điều chỉnh giới hạn chi tiêu nếu các cơ quan nhà nước đưa ra ngân sách, và nếu họ đo lường được liệu ngân sách có thật sự cân bằng vào cuối năm không ( thay vì đơn
Trang 16thuần là lên kế hoạch ngân sách cân bằng vào đầu năm) Giới hạn thuế và chi phí kiểu này nhìn chung làm giảm một số lớn sự tăng chi phí của nhà nước hằng năm Chúng ta nên rút ra bài học kinh nghiệm để phát triển một cải cách ngân sách có hiệu quả cho Quốc Hội, ví dụ như một phiên bản mới và tiên tiến hơn của PAYGO, tuy nhiên cần nhớ là kinh nghiệm ở các quốc gia và chính phủ liên bang là không hoàn toàn tương
tự Ví dụ, chính phủ liên bang có thể in tiển, trong khi các tiểu bang thì không thể Đồng thời, tiểu bang không có trách nhiệm như chính phủ liên bang (ví dụ về vấn đề
an ninh quốc phòng), và các bang thường có thể dựa vào sự trợ giúp của chính quyền liên bang trong trường hợp khẩn cấp Trong một ý nghĩa nào đó, các quốc gia vốn có nhiều hạn chế hơn so với chính phủ liên bang và ít cần sự linh hoạt hơn
Do đó, trong bất kỳ chế độ liên bang loại này, chúng ta cần sự linh hoạt cho các trường hợp khẩn cấp mà không cần phải dùng đến biện pháp không an toàn Rõ ràng
là việc duy trì sự linh hoạt để hành động kịp thời bằng các quy định luật pháp dễ dàng hơn là bằng hiến pháp Ta có thể gia tăng thâm hụt trong nếu giả sử như đa số các nhà lập pháp tin tưởng rằng việc này cần thiết để xử lý một cuộc khủng hoảng đặc biệt nào
đó Tương tự như vậy, chúng ta nên miễn ngân sách quốc phòng trong trường hợp xung đột quân sự lớn, trong khi thực hiện ngoại lệ này bằng những luật lệ quy định cái được coi là chi phí an ninh quốc phòng (ví dụ: chúng ta loại trừ đường sắt cao tốc tình cờ mang lại lợi ích cho ngành công nghiệp quốc phòng)
Tương tự như vậy, chúng ta cần một cơ chế để xác định ngân sách nếu quá trình bế tắc Như một mặc định, ta có thể dựa vào đề nghị của ủy ban thường trực rằng mục tiêu bị lãng phí, cùng với một hệ thống cắt giảm chi tiêu, tiền lương chính phủ, và ngưng tuyển dụng, tăng thuế tự động, và tương tự Sự đe dọa của những cắt giảm tự động sẽ đóng vai trò như một “cái búa” thúc đẩy Quốc hội thương lượng một gói khôn ngoan hơn
Cuối cùng , điều đáng để nhấn mạnh là những kế sách đa dạng trên bổ sung cho nhau
Ví dụ, sự kìm hãm thiếu hụt ngân sách như PAYGO đòi hỏi những điều luật kế toán khắt khe để Quốc hội đối mặt với nó Nếu thành công, luật PAYGO sẽ thúc đẩy Ủy ban chống lại phân bổ ngân sách nhằm cắt giảm chi tiêu và lãng phí.Và điều luật này
Trang 17cũng có tính thuyết phục được những đại biểu còn lại trong Quốc hội chấp nhận nó như là một cách để bảo tồn tài nguyên quốc gia cho những ưu tiên cao hơn
3 CÁC NGHIÊN CỨU ỦNG HỘ VÀ KHÔNG ỦNG HỘ QUAN ĐIỂM CỦA DAVID M SCHIZER
3.1 Các nghiên cứu ủng hộ quan điểm của David M Schizer
3.1.1 Nghiên cứu của R Alison Felix:
Theo tài liệu: “Do State Corporation Income Taxes Reduce Wages?” (Allyson Felix is
assistant vice president and Denver Branch executive at the Federal Reserve Bank of Kansas City)
Để chống thâm hụt ngân sách, các nhà hoạch định chính sách phải tìm cách để tăng nguồn thu, cắt giảm chi tiêu hoặc cả hai Một số nhà hoạch định chính sách có thể cân nhắc tới chuyện gia tăng thuế thu nhập doanh nghiệp vì nó tránh việc đánh thuế trực tiếp lên người lao động- những người vốn đã chịu nhiều ảnh hưởng nặng nề từ suy thoái kinh tế Nhưng khi các nhà chính sách đánh giá lại chính sách thuế hiện thời thì việc xem xét lại tác động của thuế lên các mặt của nền kinh tế là rất quan trọng Một câu hỏi lớn được đặt ra là: Ai sẽ chịu gánh nặng thuế TNDN?
Doanh nghiệp có trách nhiệm phải nộp thuế nhưng thực tế thì gánh nặng từ thuế TNDN không chỉ được gánh chịu bởi cổ đông mà còn bởi người tiêu dùng và người lao động
Việc tăng thuế sẽ tác động như thế nào đến những tối tượng này?
+ Đối với người tiêu dùng:
Người tiêu dùng sẽ chịu gánh nặng về thuế thông qua việc giá cả dịch vụ và hàng hóa tăng cao Người ta cho rằng việc tăng thuế TNDN sẽ làm tăng chi phí của doanh nghiệp, do đó doanh nghiệp có xu hướng tăng giá để bù đắp phần chi phí đó
+ Đối với người lao động:
Những nghiên cứu kinh tế gần đây đã cho thấy người lao động phải gánh chịu phần lớn gánh nặng thuế TNDN Dù gánh nặng này có biến động như thế nào thì mối quan
hệ giữa TNDN và tiền lương luôn là quan hệ nghịch biến Hay nói cách khác, một
Trang 18thuế suất thuế TNDN cao tiêu biểu cho một mức lương thấp Khi phải đối mặt với mức thuế cao, doanh nghiệp có xu hướng tăng lợi nhuận bằng cách giảm chi phí, do
đó có thể họ sẽ giảm lương của nhân công Như vậy, họ đã chuyển giao gánh nặng từ thuế TNDN cho những người lao động của mình Bằng nghiên cứu thực nghiệm của mình, tác giả đã tính được rằng “khi thuế suất thuế TNDN tăng 1% thì tiền lương người lao động sẽ giảm từ 0.14% đến 0.36%”
Thuế TNDN có những tác động khác nhau đến những người lao động có trình độ và
kỹ năng khác nhau Khi thuế tăng, doanh nghiệp sẽ tập trung giảm lương của những người có trình độ và kỹ năng cao (lao động trí óc) hơn những người lao động khác (vì thu nhập của tầng lớp lao động này chỉ đáp ứng được nhu cầu sống tối thiểu, nếu cắt giảm lương của họ thì doanh nghiệp phải đối mặt với sự phản đối từ nhiều phía) Hơn nữa, doanh nghiệp sẽ có xu hướng thuê những người lao động có trình độ và kỹ năng thấp để có thể thỏa thuận mức lương có lợi cho doanh nghiệp Như vậy, ta có thể thấy khi thuế tăng thì người lao động có trình độ và lành nghề sẽ chịu gánh nặng thuế nhiều nhất
Nếu gánh nặng thuế được chuyển giao cho người lao động, đặc biệt là thành phần lao động trí óc, họ sẽ tích cực tìm kiếm những thị trường lao động hấp dẫn hơn (ở những thành phần kinh tế ưu đãi về thuế suất hay những nước có nền kinh tế phát triển) Điều này tất yếu sẽ gây ra những khó khăn cho nền kinh tế của đất nước như sự mất cân đối trong thành phần lao động giữa các ngành nghề, hiện tượng “chảy máu chất xám” diễn
ra khi người lao động luôn tìm kiếm cơ hội việc làm ở nước ngoài Hơn nữa, thậm chí
là, khi tình trạng thất nghiệp của những người lao động trình độ cao diễn ra càng nhiều, nó sẽ làm giảm động lực học tập và kiếm việc của những thế hệ sau
Do đó, để cải thiện tình trạng lao động trong đất nước, việc cắt giảm thuế ở mức hợp
lý là điều cần thiết
3.1.2 Nghiên cứu của Christina D Romer và David H Romer (2007):
Theo tài liệu “The Macroeconomic Effects of Tax Changes: Estimates Based on A
New Measure of Fiscal Shocks”
Trang 193.1.2.1 Nguồn dữ liệu:
Đối với ngành chấp pháp, một trong những nguồn quan trọng là báo cáo kinh tế của Tổng thống Tài liệu này được phát hành vào mỗi tháng Một hàng năm và thường cung cấp sự thảo luận chi tiết về động cơ, hiệu quả, và bản chất của thay đổi thuế trong năm trước Một nguồn tin quan trọng thứ hai là bài phát biểu của tổng thống Đối với các ngành lập pháp, nguồn chính của tác giả là các báo cáo của Ủy ban Tài chính Thượng viện Khi dự luật thay đổi đáng kể sau các báo cáo, tác giả tìm kiếm dữ liệu từ các cuộc tranh luận trong Quốc hội
Đối với các thay đổi về thuế An Sinh Xã Hội, chúng tôi tham khảo ý kiến trên Bản tin
an sinh xã hội, nó thường chứa một hoặc hai bài viết về các hiệu ứng của các hành động thuế An Sinh Xã Hội
3.1.2.2 Phân loại động lực
Thành phần thứ hai của việc phân tích là việc xác định các động lực chính của mỗi thay đổi thuế Việc phân loại phản ánh những tác động mà các tác giả đang cố gắng đo lường
Chúng ta đang quan tâm đến những ảnh hưởng của thay đổi thuế đến hoạt động kinh
tế thực Vì vậy, tác giả tách riêng các thay đổi thuế tác động vào nền kinh tế Cụ thể hơn, họ muốn kiểm tra xem các thay đổi thuế gây ra sự tăng sản lượng khác nhau như thế nào Vì vậy, họ tách riêng những thay đổi nhằm giữ tốc độ tăng trưởng bình thường và những thay đổi nhằm mục đích tăng tốc độ tăng trưởng hay những thay đổi không nhằm ảnh hưởng tăng trưởng Chúng ta sẽ đề cập đến thay đổi về thuế nhằm giữ mức tăng trưởng bình thường
Thay đổi thuế nội sinh: Loại rõ ràng nhất của thay đổi thuế nội sinh là những hành
động phản chu kì Nếu nền kinh tế được dự báo đi xuống, Quốc hội cắt giảm thuế để khắc phục suy thoái, điều này rõ ràng là một hành động mong muốn quay trở lại tốc
độ tăng trưởng bình thường Tương tự như vậy, nếu nền kinh tế được dự đoán sẽ tăng trưởng nhanh hơn so với bình thường thì các loại thuế được nâng lên để nền kinh tế tăng trưởng chậm lại, đây là một hành động nội sinh, hành động phản chu kỳ
Trang 20Xác định một động lực có phải là phản chu kỳ không, chúng ta lấy báo cáo chính sách tiền tệ
Các nhà hoạch định chính sách sử dụng phản chu kì khi các động cơ là nhân tố quan trọng hoặc là nhận thức của họ về sự phát triển là quá lạc quan Cả hai có khả năng gây ra hành động phản chu kỳ, và do đó nó là nội sinh Chiến lược này sẽ làm cho ước tính của chúng ta về những tác động của thay đổi thuế ít chính xác hơn
Có ít nhất hai cách để loại bỏ điều này Thông thường, nó chỉ đơn giản là thảo luận trực tiếp Ngoài ra, nếu sản lượng tăng trưởng bình thường, tỷ lệ thất nghiệp thường sẽ không tăng hay giảm Vì vậy, dự báo tình trạng thất nghiệp cung cấp một cách để điều chỉnh nếu một sự thay đổi thuế nhằm làm cho tăng trưởng trở lại bình thường hoặc để tạo ra sự tăng trưởng bất thường
Một thể loại thậm chí còn quan trọng hơn là những thay đổi về thuế thúc đẩy bởi việc thay đổi chi tiêu Giả sử rằng nhà hoạch định chính sách tăng chi tiêu, có lẽ vì đất nước có liên quan đến một cuộc chiến tranh hay vì một chương trình bảo hiểm xã hội mới được thêm vào, và họ quyết định tăng thuế để trả tiền cho nó Các nhà hoạch định chính sách hiểu rằng sự thay đổi chi tiêu sẽ có xu hướng thúc đẩy tăng trưởng cao hơn bình thường nếu họ không thay đổi thuế chống lại điều đó Vì vậy, đây là một sự thay đổi thuế nhằm giữ tăng trưởng bình thường
Thay đổi thuế ngoại sinh Sự thay đổi ngoại sinh thuế là thay đổi không bị thúc đẩy
bởi mong muốn đạt trở lại tăng trưởng sản lượng bình thường Về bản chất, chúng là những thay đổi về thuế không nhằm đáp ứng thông tin về phát triển kinh tế trong tương lai Do đó, thể loại này bao gồm một loạt các động cơ
Một trong những loại hành động trong thể loại này là tăng thuế để đối phó với một ngân sách thâm hụt Thâm hụt phản ánh điều kiện kinh tế và quyết định ngân sách trong quá khứ, không phải là điều kiện kinh tế hoặc thay đổi chi tiêu cùng thời Nếu các nhà hoạch định chính sách quyết định tăng thuế để giảm thâm hụt như vậy, điều này không phải là một sự thay đổi thúc đẩy bởi mong muốn quay trở lại tốc độ tăng trưởng bình thường hoặc để ngăn chặn tăng trưởng bất thường Vì vậy, nó sẽ là ngoại sinh
Trang 213.1.2.3 Thay đổi thuế sau chiến tranh
Nguồn của tác giả xác định 49 luật thuế giữa năm 1947 và 2006, những thay đổi đáng
kể nghĩa vụ thuế Các luật này đã thay đổi thuế trong 82 quý Một số các quý có thay đổi về thuế của nhiều loại Trong số đó có 104 thay đổi thuế riêng biệt gồm 65 là ngoại sinh và 39 là nội sinh
Như đã mô tả ở trên, những thay đổi thuế ngoại sinh là những quan sát có giá trị cho điều tra nền kinh tế vĩ mô bị tác động bởi những thay đổi của thuế
Thay đổi thuế ngoại sinh
Bảng (a) hình 1 cho thấy loạt những thay đổi về thuế ngoại sinh kể từ năm 1947 Đồ thị biểu thị những thay đổi thuế ngoại sinh tăng và giảm sau chiến tranh
Bảng (b) cho thấy hai loại thay đổi về thuế ngoại sinh, một loại nhằm giảm thâm hụt
và một loại nhằm mục tiêu tăng trưởng dài hạn Không có gì đáng ngạc nhiên, phần lớn các hành động nhằm mục tiêu tăng trưởng dài hạn là cắt giảm thuế Tuy nhiên, do nhóm này bao gồm cả những cải cách thuế nhằm đạt được sự hiệu quả và công bằng nên có một số sự tăng thuế nhưng vẫn cho tăng trưởng dài hạn Ví dụ, Đạo luật cải cách thuế năm 1976, đã đóng lỗ hổng mà trước đó nó khích lệ trốn thuế Tất cả những
Trang 22thay đổi thuế theo định hướng giảm thâm hụt là tăng thuế Nó phổ biến nhất trong đầu
và giữa thập niên 1980
Thay đổi thuế nội sinh
Bảng (a) của hình 2 cho thấy hàng loạt thay đổi về thuế nội sinh Đồ thị cho thấy thay đổi nội sinh không đồng đều trong thời kỳ hậu chiến Có rất nhiều hành động nội sinh trước năm 1980 và không có gần như kể từ đó
Trang 23Thời kỳ hoàng kim cho các thay đổi về thuế phản chu kỳ là 10 năm từ 1965 đến 1975 Hai thay đổi về thuế phản chu kỳ lớn nhất là thuế phụ thu năm 1968 và cắt giảm thuế
1975 Động cơ phản chu kỳ đã xuất hiện một phần trong việc cắt giảm thuế của Bush năm 2001 và toàn bộ trong việc cắt giảm trong Đạo luật Hỗ trợ tạo việc làm và người lao động năm 2002
Hành động theo định hướng chi tiêu thuế là hầu như luôn luôn tăng thuế Hai trường hợp ngoại lệ xảy ra trong năm 1954 và 1998: Eisenhower và Clinton nhấn mạnh rằng các loại thuế được giảm bởi vì chi tiêu bị cắt giảm Một phần lớn nguyên nhân là do theo định hướng liên quan đến An sinh Xã hội: 12 trong số 22 thay đổi trong thể loại này là thuế tăng gắn liền với gia tăng trong chi tiêu an sinh xã hội
3.1.2.3 Sự phản ứng của sản lượng với sự thay đổi các loại thuế khác nhau
Trong phần này, chúng ta so sánh hành vi của sản lượng đầu ra sau thay đổi về thuế ngoại sinh và thay đổi về các loại thuế khác Kiểm tra sản lượng phản ứng như thế nào sau sự thay đổi thuế ngoại sinh cung cấp các ước tính đáng tin cậy nhất của các tác động kinh tế vĩ mô khi thuế thay đổi
Kết quả
Hình 4 tóm tắt các ước tính cho thấy tác động của việc tăng thuế lên 1% GDP Tác động giảm đầu tiên từ từ và sau đó nhanh hơn, cuối cùng chững lại sau 10 quý Ước tính tối đa tác động là làm giảm sản lượng 3%
Trang 24Trong ngắn hạn, tăng thuế có một tác động tiêu cực rất lớn, bền vững, và rất quan trọng lên sản lượng Vì hầu hết thuế ngoại sinh thay đổi giảm, việc cắt giảm thuế có tác động tích cực rất lớn và kéo dài lên sản lượng
Tiếp theo, hãy xem xét hành vi của sản lượng đầu ra sau một sự thay đổi thuế nội sinh Phù hợp với các kết quả trước đó, tác động ước tính là nhỏ và chậm Sản lượng ban đầu tăng nhẹ, đạt tối đa ở mức 0,4% sau 2 quý, và sau đó giảm dần xuống -0.7% sau 12 quý
Bảng (a) hình 6 hiển thị các kết quả cho hai loại thay đổi nội sinh Sau khi tăng thuế theo định hướng chi tiêu, GDP thực tế bình quân tăng lên vừa phải, đạt tối đa là 0,7% sau 2 quý Sau đó tác động dao động bất thường xung quanh 0 và không có ý nghĩa
Nó khác hẳn với thay đổi thuế ngoại sinh Ngược lại, hành vi của GDP sau sự thay đổi thuế phản chu kì là tương tự như hành vi thay đổi ngoại sinh Sau khi trên mức 0 một vài quý, GDP giảm đều đặn, đạt mức thấp -2.1% sau 9 quý Bởi vì các thay đổi về thuế phản chu kì là không phổ biến, hành vi của GDP không phải là ước tính chính xác
Trang 25Bảng (b) hình 6 cho thấy các kết quả cho hai loại thay đổi ngoại sinh Đối với thay đổi dài hạn, kết quả là khá tương tự như đối với tất cả các thay đổi ngoại sinh Đối với tăng thuế để đối phó với thâm hụt ngân sách, kết quả là thú vị hơn Sản lượng không giảm ở tất cả các điều chỉnh tăng thuế nhằm giảm thâm hụt ngân sách Ước tính đỉnh tác dụng ở mức 1,4% sau khi 2 quý, và sau đó dao động xung quanh 1%
3.1.2.4 Mở rộng
Kết quả thể hiện các tác động ước tính của việc thay đổi thuế lên sản lượng đầu ra suy yếu theo thời gian Tác động không đạt tối đa cho đến hai năm sau sự thay đổi thuế, và
nó suy yếu chỉ sau 1 vài quý kế tiếp
Bảng (a) cho thấy lạm phát giảm đáng kể Tác động tích lũy ước tính được hiển thị trong hình 4 cho thấy rằng để đáp ứng với việc tăng thuế 1% GDP, sản lượng 3 năm tới thấp hơn trung bình 1,8 % Ước tính tiêu chuẩn của đường cong Phillips cho rằng nếu sản lượng là 1% dưới mức bình thường trong một năm, lạm phát giảm 0,25 đến 0,50 điểm phần trăm (Fuhrer, Năm 1997; Gordon, 1997) Vì vậy, nếu những tác động của thay đổi thuế lên sản lượng bình thường, người ta sẽ mong đợi lạm phát giảm 1,35 đến 2,7 điểm phần trăm
Bảng (b) cho thấy một sự gia tăng thuế được theo sau bởi một sự gia tăng lớn và rất có
ý nghĩa trong tỷ lệ thất nghiệp Hiệu quả đỉnh điểm là tăng 1,1 điểm phần trăm sau 12 quý Mức độ của phản ứng lại rất phù hợp với những gì người ta mong chờ nếu sản lượng đầu ra giảm 2,9% sau 12 quý, hệ số luật Okun là 2,6 Điều này phù hợp với các ước tính thông thường (ví dụ, Attfield và Silverstone, 1996)
Như vậy, hành vi của lạm phát và thất nghiệp là chính xác những gì người ta mong chờ nếu ước tính tác động lâu dài lên sản lượng của những thay đổi thuế
Kết quả cho thấy rằng tăng thuế ngoại sinh có ảnh hưởng tiêu cực mạnh mẽ lên sản lượng
Phản ứng với thay đổi thuế ngoại sinh:
Bảng (a) hình 14 cho thấy các phản ứng dự kiến của tiêu dùng và đầu tư do tăng thuế ngoại sinh Các kết quả quan trọng là cả hai thành phần giảm, và sự sụt giảm trong đầu tư là lớn hơn nhiều hơn trong tiêu thụ Để phản ứng với việc tăng thuế 1% GDP,