- Xác định được tính đa dạng của hệ thực vật ở khu vực nghiên cứu: đa dạng về thành phần loài, dạng sống, cấu trúc hình thái, đa dạng các giá trị sử dụng, đa dạng các yếu tố địa lý cấu t
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
BÙI THỊ THU TRANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Thái Nguyên, năm 2017
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
BÙI THỊ THU TRANG
NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA DẠNG THỰC VẬT TRONG MỘT SỐ TRẠNG THÁI THẢM THỰC VẬT
Ở XÃ PHAN THANH, HUYỆN NGUYÊN BÌNH,
TỈNH CAO BẰNG
Chuyên ngành: SINH THÁI HỌC
Mã số: 60 42 01 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS LÊ NGỌC CÔNG
Thái Nguyên, năm 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác Nếu sai tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm
Tác giả
Bùi Thị Thu Trang
Trang 4Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn UBND xã Phan Thanh, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Cao bằng, Công ty Lâm nghiệp Cao Bằng, Trung tâm khí tượng thủy văn tỉnh Cao Bằng, Trường Cao đẳng Sư phạm Cao Bằng đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới toàn thể gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã luôn cổ vũ, động viên tôi trong suốt thời gian qua
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 04 năm 2017
Tác giả
Bùi Thị Thu Trang
Trang 5MỤC LỤC
TRANG BÌA PHỤ
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC HÌNH vi
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Phạm vi nghiên cứu 2
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Nghiên cứu về thảm thực vật và hệ thực vật trên thế giới và Việt Nam 3
1.1.1 Nghiên cứu về thảm thực vật 3
1.1.2 Nghiên cứu về hệ thực vật 6
1.2 Nghiên cứu về thành phần loài, thành phần dạng sống và cấu trúc TTV 8
1.2.1 Nghiên cứu về thành phần loài thực vật 8
1.2.2 Nghiên cứu về thành phần dạng sống thực vật 12
1.2.3 Nghiên cứu về cấu trúc rừng 16
1.3 Nghiên cứu về các loài thực vật quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng 17
1.4 Nghiên cứu các yếu tố địa lý cấu thành hệ thực vật 20
1.5 Nghiên cứu về thảm thực vật, đa dạng thực vật ở Cao Bằng và khu vực nghiên cứu 21
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1 Đối tượng nghiên cứu 23
2.2 Nội dung nghiên cứu 23
2.2.1 Đa dạng các trạng thái thảm thực vật trong khu vực nghiên cứu 23
2.2.2 Đa dạng thực vật trong các trạng thái thảm thực vật chọn nghiên cứu 23
2.2.3 Đề xuất các giải pháp bảo tồn đa dạng thực vật 23
Trang 62.3 Phương pháp nghiên cứu 23
2.3.1 Phương pháp tuyến điều tra (TĐT) 23
2.3.2 Phương pháp ô tiêu chuẩn (OTC) 24
2.3.3 Phương pháp phân tích mẫu thực vật 25
2.3.4 Phương pháp xác định các yếu tố địa lý cấu thành hệ thực vật 26
2.3.5 Phương pháp xử lý số liệu 28
2.3.6 Phương pháp kế thừa 28
Chương 3: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - XÃ HỘI VÙNG NGHIÊN CỨU 29
3.1 Điều kiện tự nhiên 29
3.1.1 Vị trí địa lý, ranh giới 29
3.1.2 Địa hình 29
3.1.3 Thổ nhưỡng 29
3.1.4 Khí hậu, thủy văn 30
3.1.5 Tài nguyên 31
3.1.6 Đặc điểm cảnh quan 31
3.2 Điều kiện kinh tế, xã hội vùng nghiên cứu 32
3.2.1 Dân tộc, dân số 32
3.2.2 Hoạt động nông, lâm nghiệp 32
3.2.3 Ngành công nghiệp 33
3.2.4 Giao thông 34
3.2.5 Văn hóa, giáo dục, y tế 34
Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 37
4.1 Đa dạng các trạng thái thảm thực vật ở KVNC 37
4.2 Đa dạng hệ thực vật trong các trạng thái TTV chọn nghiên cứu 40
4.2.1 Đa dạng ở mức độ ngành 41
4.2.2 Đa dạng về số họ, số chi và loài trong từng trạng thái TTV 42
4.3 Đa dạng thành phần dạng sống trong các trạng thái TTV 50
4.4 Đa dạng về cấu trúc hình thái 58
4.5 Đa dạng về giá trị sử dụng 65
4.6 Đa dạng về các loài cây quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng 66
Trang 74.7 Đa dạng các yếu tố địa lý cấu thành hệ thực vật 68
4.8 Đề xuất các giải pháp bảo tồn đa dạng thực vật 69
4.8.1 Các biện pháp về chính sách 69
4.8.2 Các biện pháp quản lý bảo vệ, phục hồi thảm thực vật 70
4.8.3 Các biện pháp về kỹ thuật 70
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 72
Kết luận 72
Đề nghị 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 74 PHỤ LỤC 1
PHỤ LỤC 2
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TCB Thảm cây bụi (hình thành sau khai thác)
UNESCO Tổ chức Văn hóa, Khoa học, Giáo dục của
Liên hợp Quốc
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Kí hiệu độ nhiều (độ dày rậm) thảm tươi theo Drude 25
Bảng 4.1 Sự phân bố của các bậc taxon ở KVNC 41
Bảng 4.2 Số lượng và tỷ lệ (%) các họ, chi, loài trong các trạng thái TTV 43
Bảng 4.3 Các họ có từ 3 loài trở lên trong các trạng thái TTV ở KVNC 45
Bảng 4.4 Các chi có từ 3 loài trở lên trong các trạng thái TTV ở KVNC 48
Bảng 4.5 Thành phần dạng sống thực vật trong các trạng thái nghiên cứu 50
Bảng 4.6 Thành phần dạng sống trong từng trạng thái TTV 51
Bảng 4.7 Cấu trúc thẳng đứng của các quần xã trong khu vực nghiên cứu 59
Bảng 4.8 Giá trị sử dụng các loài thực vật tại KVNC 66
Bảng 4.9 Các loài thực vật có nguy cơ bị tuyệt chủng ở KVNC 66
Bảng 4.10 Đa dạng các yếu tố địa lý cấu thành hệ thực vật 68
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Sơ đồ bố trí ODB trong OTC 100m2 ở các trạng thái rừng nguyên
sinh bị tác động, rừng thứ sinh và rừng trồng Thông tại KVNC 24
Hình 4.1 Phân bố của các bậc taxon ở KVNC… 42
Hình 4.2 Tỷ lệ (%) các họ, chi, loài trong các trạng thái TTV 43
Hình 4.3 Tỷ lệ (%) thành phần dạng sống trong các trạng thái nghiên cứu 50
Hình 4.4 Tỷ lệ (%) thành phần dạng sống trong các trạng thái TTV 52
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Rừng đóng vai trò hết sức quan trọng đối với con người Nếu không có rừng thì xã hội loài người sẽ không thể tồn tại được Trong vài thập kỷ gần đây do sự tàn phá của chiến tranh, do những sai lầm trong công cuộc “phát triển nhanh” của các Quốc gia đã làm cho rừng bị suy thoái nặng nề, độ che phủ giảm sút đến mức báo động, chất lượng của rừng cũng bị giảm sút quá mức Những sự mất mát về rừng là khó có thể bù đắp được và đã gây nhiều tổn thất lớn về kinh tế, về công ăn việc làm
và cả về phát triển kinh tế xã hội một cách lâu dài Loài người đã và đang phải hứng chịu những hậu quả nặng nề do việc mất rừng gây ra như lũ lụt, hạn hán, mưa bão
Ở Việt Nam, theo Maurand thì năm 1943 có 14,352 triệu ha rừng, chiếm 43% diện tích đất nước [52] Từ năm 1945 – 1975 nước ta mất 3 triệu ha, tỉ lệ che phủ của rừng giảm xuống 38% (1975) Từ năm 1975 – 1995 tỉ lệ che phủ của rừng tiếp tục giảm xuống còn 28%, cả nước chỉ còn khoảng 9,3 triệu ha rừng (trong đó có 1 triệu
ha rừng trồng) Hiện nay diện tích rừng bị giảm ước tính vào khoảng 200.000 ha/năm trong đó 60.000 ha bị chặt để chuyển thành đất nông nghiệp ngoài kế hoạch, 50.000
ha bị cháy và 90.000 ha bị khai thác lấy gỗ, củi Trong khi đó tốc độ trồng rừng khoảng 50.000 – 100.000 ha/ năm không thể bù lại tốc độ mất rừng [1]
Cao Bằng là một tỉnh miền núi nằm ở phía Đông Bắc Việt Nam Khí hậu Cao Bằng mang tính chất đặc thù của dạng khí hậu miền núi cao và có đặc trưng khí hậu á nhiệt đới thể hiện 4 mùa trong năm Tính đến 31 tháng 12 năm 2013, diện tích đất có rừng toàn tỉnh Cao Bằng đạt 339.484,70 ha (rừng tự nhiên 318.706,77 ha, rừng trồng 22.777,93 ha) độ che phủ đạt trên 50,5% với nhiều loài động thực vật quý hiếm [20] Tuy nhiên, hiện nay hầu như rừng đang bị suy giảm do bị khai thác quá mức, một số loài đang có nguy cơ tuyệt chủng như Hoàng Đàn, Du Sam…
Khu vực nghiên cứu là xã Phan Thanh, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng
Xã có diện tích đất tự nhiên là 8397,29 ha, trong đó diện tích đất lâm nghiệp là 7452,17 ha (chiếm 88% diện tích đất tự nhiên) Đây là xã có nhiều rừng của huyện
Trang 12Nguyên Bình, tuy nhiên trong những năm gần đây, do nhu cầu cuộc sống, nguồn tài nguyên rừng (gỗ, hoa, quả, rau rừng, cây thuốc) đang ngày càng bị cạn kiệt dần do khai thác quá mức Vì vậy, để có cơ sở khoa học cho công tác bảo tồn đa dạng thực
vật ở đây, chúng tôi chọn đề tài “ Nghiên cứu tính đa dạng thực vật trong một số trạng thái thảm thực vật ở xã Phan Thanh, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng”
2 Mục đích nghiên cứu
- Xác định được tính đa dạng các trạng thái thảm thực vật đặc trưng tại khu
vực nghiên cứu
- Xác định được tính đa dạng của hệ thực vật ở khu vực nghiên cứu: đa dạng
về thành phần loài, dạng sống, cấu trúc hình thái, đa dạng các giá trị sử dụng, đa dạng các yếu tố địa lý cấu thành thảm thực vật, đa dạng các loài cây quý hiếm cần được bảo vệ
- Đề xuất được các biện pháp cụ thể để bảo tồn đa dạng thực vật ở khu vực nghiên cứu
3 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trong thời gian từ tháng 07 năm 2016 đến tháng 12 năm
2016 tại xã Phan Thanh, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng
Do điều kiện hạn chế về thời gian và kinh phí, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu tính đa dạng thực vật trong một số trạng thái thảm thực vật chọn nghiên cứu: rừng nguyên sinh bị tác động, rừng thứ sinh (hình thành sau khai thác), thảm cây bụi (hình thành sau khai thác), rừng trồng Thông (20 năm)
Trang 13Thảm thực vật (vegetation) là khái niệm phổ biến, có nhiều nhà khoa học trong
và ngoài nước đưa ra các định nghĩa khác nhau Theo Schmithusen (1959) thì thảm thực vật là lớp thực bì của trái đất và các bộ phận cấu thành khác nhau của nó Thái Văn Trừng (1970) [43] cho rằng thảm thực vật là các quần hệ thực vật phủ trên mặt đất như một tấm thảm xanh Trần Đình Lý (1995) [28] cho rằng thảm thực vật là toàn
bộ lớp phủ thực vật ở một vùng cụ thể hay toàn bộ lớp phủ thảm thực vật trên toàn bộ
bề mặt Trái đất Thảm thực vật là một khái niệm chung chưa chỉ rõ đối tượng cụ thể nào Nó chỉ có ý nghĩa và giá trị cụ thể khi có định ngữ kèm theo như: thảm thực vật cây bụi, thảm thực vật rừng ngập mặn, thảm thực vật tỉnh Cao Bằng
1.1.1.2 Nghiên cứu về thảm thực vật trên Thế giới
Champion (1936) khi nghiên cứu các kiểu rừng Ấn Độ - Miến Điện đã phân chia 4 kiểu thảm thực vật lớn theo nhiệt độ đó là: nhiệt đới, á nhiệt đới, ôn đới và núi cao [48]
Beard (1938) đưa ra hệ thống phân loại gồm 3 cấp (quần hợp, quần hệ và loạt quần hệ) Ông cho rằng rừng nhiệt đới có 5 loạt quần hệ: loạt quần hệ rừng xanh từng mùa; loạt quần hệ khô thường xanh; loạt quần hệ miền núi; loạt quần hệ ngập từng mùa và loạt quần hệ ngập quanh năm (dẫn theo Thái Văn Trừng, 1998) [44]
Maurand (1943) nghiên cứu về thảm thực vật Đông Dương đã chia thảm thực vật Đông Dương thành 3 vùng: Bắc Đông Dương, Nam Đông Dương và vùng trung gian Đồng thời ông đã liệt kê 8 kiểu quần lạc trong các vùng đó [52]
Trang 14UNESCO (1973) đã công bố một khung phân loại thảm thực vật thế giới dựa trên nguyên tắc ngoại mạo cấu trúc và được thể hiện trên bản đồ 1: 2.000.000 [53] Ngoài yếu tố ngoại mạo, hệ thống này còn dựa vào các yếu tố sinh thái, được coi như
là các yếu tố phát sinh thảm thực vật như: độ cao, độ vĩ, nhiệt độ, thành phần thực vật
mà Thái Văn Trừng đã sử dụng trong bảng phân loại rừng Việt Nam Đây là hệ thống quốc tế được nhiều nhà nghiên cứu về sinh thái học, thực vật học ở Việt Nam sử dụng trong các nghiên cứu của mình Qua tìm hiểu chúng tôi thấy hệ thống này dễ áp dụng, đáp ứng được mục đích là đánh giá hiện trạng thảm thảm thực vật thứ sinh hình thành sau khai thác và hệ thống này có thể tiếp cận với các nghiên cứu trên thế giới
Nhìn chung, những nghiên cứu về thảm thực vật của các tác giả hầu hết chỉ tập trung nghiên cứu ở một vùng cụ thể và phần lớn các tác giả đều dựa vào khung phân loại của UNESCO (1973) trong nghiên cứu của mình
1.1.1.3 Nghiên cứu về thảm thực vật ở Việt Nam
Những công trình nghiên cứu về thảm thực vật ở Việt Nam đến nay còn ít Chevalier (1918) là người đầu tiên đã đưa ra một bảng phân loại thảm thực vật rừng Bắc bộ Việt Nam (đây được xem là bảng phân loại thảm thực vật rừng nhiệt đới Châu
Á đầu tiên trên thế giới) Theo bảng phân loại này rừng ở Miền bắc Việt Nam được chia thành 10 kiểu [49]
Năm 1953 ở Miền Nam Việt Nam xuất hiện bảng phân loại thảm thực vật rừng Miền Nam của Maurand khi ông tổng kết về các công trình nghiên cứu các quần thể rừng thưa của Rollet, Lý Văn Hội, Neang Sam Oil (dẫn theo Thái Văn Trừng, 1970) [43]
Loschau (1960) đã đưa ra một hệ thống phân loại rừng theo trạng thái ở Quảng Ninh Cục điều tra và Qui hoạch rừng đã áp dụng cách phân loại này để đề xuất các biện pháp lâm sinh phù hợp Theo bảng phân loại này, rừng trên toàn lãnh thổ Việt Nam được chia làm 4 loại hình lớn:
Loại I: đất đai hoang trọc, những trảng cỏ và cây bụi, trên loại này cần phải
Trang 15Loại II: gồm những rừng non mới mọc, cần phải tra dặm thêm cây hoặc tỉa thưa
Loại III: gồm tất cả các loại hình rừng bị khai thác mạnh trở nên nghèo kiệt tuy còn có thể khai thác lấy gỗ trụ mỏ, củi, nhưng cần phải xúc tiến tái sinh, tu bổ, cải tạo
Loại IV: gồm những rừng già nguyên sinh còn nhiều nguyên liệu, chưa bị phá hoại, cần khai thác hợp lý
Thomasius (1965) đưa ra bảng phân loại các kiểu lập quần vùng Quảng Ninh dựa trên các điều kiện địa hình, đất đai, đá mẹ, khí hậu và các loài cây ưu thế
Phan Nguyên Hồng (1991) [19], phân chia kiểu thảm thực vật ven bờ biển Miền bắc Việt Nam thành rừng ngập mặn, rừng gỗ ven biển và thực vật bãi cát trống
Trần Ngũ Phương (1970) [31] đưa ra bảng phân loại rừng ở Miền bắc Việt Nam, chia thành 3 đai lớn theo độ cao: đai rừng nhiệt đới mưa mùa; đai rừng á nhiệt đới mưa mùa; đai rừng á nhiệt đới mưa mùa núi cao
Thái Văn Trừng (1970) [43] đã đưa ra 5 kiểu quần lạc lớn (quần lạc thân gỗ kín tán; quần lạc thân gỗ thưa; quần lạc thân cỏ kín rậm; quần lạc thân cỏ thưa và những kiểu hoang mạc) và nguyên tắc đặt tên cho các thảm thực vật Năm 1975, trên cơ sở các điều kiện lập địa trên toàn lãnh thổ Việt Nam, tại hội nghị thực vật học quốc tế lần thứ XII (Leningrat), ông đưa ra bảng phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam theo quan điểm sinh thái, đây được xem là bảng phân loại thảm thực vật rừng ở Việt Nam phù hợp nhất theo quan điểm sinh thái cho đến nay [53]
Phan Kế Lộc (1985) [26]dựa trên bảng phân loại của UNESCO (1973), cũng đã xây dựng khung phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam thành 5 lớp quần hệ, 15 dưới lớp, 32 nhóm quần hệ và 77 quần hệ khác nhau Nguyễn Nghĩa Thìn (1994-1996) cũng đã áp dụng cách phân loại này trong những nghiên cứu của ông
Nguyễn Hải Tuất (1991) [42] nghiên cứu một số đặc trưng chủ yếu về sinh thái của các quần thể thực vật tại vùng núi cao Ba Vì đã chia ra 3 kiểu rừng cơ bản: kiểu
Trang 16rừng hỗn giao ẩm á nhiệt đới; kiểu rừng kín hỗn giao ẩm á nhiệt đới núi cao; kiểu rừng kín hỗn giao cây hạt kín và hạt trần
Vũ Tự Lập và cộng sự (1995) [23] cho rằng khí hậu ảnh hưởng đến sự hình thành và phân bố các kiểu thực bì thông qua nhiệt độ và độ ẩm Dựa vào mối quan hệ giữa hình thái thực bì và khí hậu chia ra 15 kiểu thực bì khác nhau: kiểu rừng rậm nhiệt đới gió mùa rụng lá; kiểu rừng rậm nhiệt đới ẩm thường xanh; kiểu rừng rậm nhiệt đới gió mùa nửa rụng lá; kiểu rừng khô nhiệt đới gió mùa rụng lá; kiểu rừng thưa nhiệt đới khô lá kim; kiểu sa van nhiệt đới khô; kiểu truông nhiệt đới khô; kiểu rừng nhiệt đới trên đất đá vôi; kiểu rừng nhiệt đới trên đất mặn; kiểu rừng nhiệt đới trên đất phèn; kiểu rừng rậm á nhiệt đới ẩm lá rộng thường xanh; kiểu rừng rậm á nhiệt đới ẩm hỗn giao; kiểu rừng thưa á nhiệt đới hơi ẩm lá kín; kiểu rừng rêu á nhiệt đới mưa mùa; kiểu rừng lùn đỉnh cao
Thái Văn Trừng (1998) [44] khi nghiên cứu hệ sinh thái rừng nhiệt đới Việt Nam đã kết hợp 2 hệ thống phân loại (hệ thống phân loại lấy đặc điểm cấu trúc ngoại mạo làm tiêu chuẩn và hệ thống phân loại thực vật dựa trên yếu tố hệ thực vật làm tiêu chuẩn) để phân chia thảm thực vật Việt Nam thành 5 kiểu thảm (5 nhóm quần hệ) với 14 kiểu quần hệ (14 quần hệ) Bảng phân loại này của ông từ bậc quần hệ trở lên gần phù hợp với hệ thống phân loại của UNESCO (1973)
Nguyễn Thế Hưng (2003) [22] cũng dựa trên nguyên tắc phân loại của UNESCO (1973) đã xây dựng được 8 trạng thái thảm thực vật khác nhau đặc trưng cho loại hình thảm cây bụi ở huyện Hoành Bồ, thị xã Cẩm Phả (Quảng Ninh)
Lê Ngọc Công (2004) [12] cũng dựa theo khung phân loại của UNESCO (1973)
đã phân chia thảm thực vật của tỉnh Thái Nguyên thành 4 lớp quần hệ: rừng rậm; rừng thưa; trảng cây bụi và trảng cỏ Ở đây, những trạng thái thứ sinh (được hình thành do tác động của con người như: khai thác gỗ, củi, chặt đốt rừng làm nương rẫy…) bao gồm: trảng cỏ; trảng cây bụi và rừng thưa
Ngô Tiến Dũng (2004) [15] dựa theo phương pháp phân loại thảm thực vật của UNESCO (1973) đã phân chia thảm thực vật Vườn Quốc gia Yok Don thành: kiểu
Trang 17rừng kín thường xanh; kiểu rừng thưa nửa rụng lá và kiểu rừng thưa cây lá rộng rụng
Năm 1965, Phêđôrốp đã dự đoán trên thế giới có khoảng: 300.000 loài thực vật hạt kín; 5.000 – 7.000 loài thực vật hạt trần; 6.000 – 10.000 loài quyết thực vật; 14.000 – 18.000 loài rêu; 19.000 – 40.000 loài tảo; 15.000 – 20.000 loài địa y; 85.000 – 100.000 loài nấm và các loài thực vật bậc thấp khác (dẫn theo Thái Văn Trừng, 1970) [43]
Năm 1962, Slucop đã đưa ra số lượng các loài thực vật hạt kín phân bố ở các châu lục như sau:
Châu Mỹ có khoảng 97.000 loài trong đó: Hoa Kỳ + Canada: 25.000 loài; Mehico + Trung Mỹ: 17.000 loài; Nam Mỹ: 56.000 loài; Đất lửa + Nam cực: 1.000 loài
Châu Âu có khoảng 15.000 loài trong đó: Trung và Bắc Âu: 5.000 loài; Nam
Âu, vùng Ban căng và Capcasơ: 10.000 loài
Châu Phi có khoảng 40.500 loài trong đó: các vùng nhiệt đới ẩm: 15.500 loài; Madagasca: 7.000 loài; Nam Phi: 6.500 loài; Bắc Phi, Angieri, Ma Rốc và các vùng
Trang 18phụ cận khác: 4.500 loài; Abitxini: 4.000 loài; Tuynidi và Ai cập: 2.000 loài; Xomali
và Eritrea: 1.000 loài
Châu Á có khoảng 125.000 loài trong đó: Đông Nam Á: 80.000 loài; các khu vực nhiệt đới Ấn Độ: 26.000 loài; Tiểu Á: 8.000 loài; Viễn đông thuộc Liên bang Nga, Triều Tiên, Đông bắc Trung Quốc: 6.000 loài; Xibêria thuộc Liên bang Nga, Mông Cổ và Trung Á: 5.000 loài
Châu Úc có khoảng 21.000 loài trong đó: Đông Bắc Úc: 6.000 loài; Tây Nam Úc: 5.500 loài; Lục địa Úc: 5.000 loài; Taxman và Tây tây lan: 4.500 loài (dẫn theo Nguyễn Nghĩa Thìn, 2008 [36])
Kế Lộc (1998) đã kiểm kê và ghi nhận đến nay trong hệ thực vật Việt Nam đã biết được 9.653 loài thực vật bậc cao có mạch mọc tự nhiên, thuộc 2.011 chi và 291 họ Nếu kể cả khoảng 733 loài cây trồng đã được nhập nội thì tổng số loài thực vật bậc cao có mạch biết được ở Việt Nam đã lên tới 10.386 loài, thuộc 2.257 chi và 305 họ, chiếm khoảng 4% tổng số loài, 15% tổng số chi và 57% tổng số họ của toàn thế giới Cũng do điều kiện khí hậu và địa hình đa dạng, đặc thù nên hệ thực vật nước ta có thành phần loài khá phong phú mang cả yếu tố của thực vật nhiệt đới ẩm Indonesia – Malaysia, yếu tố của thực vật nhiệt đới gió mùa, thực vật ôn đới nam Trung Hoa và các yếu tố của thực vật Ấn Độ - Trung và Nam Tiểu Á [25]
Những nghiên cứu về hệ thực vật trên thế giới và ở Việt Nam: hầu hết các tác giả đều mới chỉ đưa ra con số dự đoán về hệ thực vật ở một châu lục, một quốc gia,
Trang 19hoặc một khu vực cụ thể Những số liệu này chưa được nghiên cứu và điều tra đầy
đủ Vì vậy, số loài thực vật hiện có chắc chắn còn dao động và cao hơn nhiều
1.2 Nghiên cứu về thành phần loài, thành phần dạng sống và cấu trúc TTV
1.2.1 Nghiên cứu về thành phần loài thực vật
1.2.1.1 Trên thế giới
Nghiên cứu về thành phần loài thực vật là một trong những nghiên cứu được tiến hành từ lâu trên thế giới Ở Liên Xô (cũ) có nhiều công trình nghiên cứu của Vưsotxki (1915), Alokhin (1904), Craxit (1927), Sennhicốp (1933), Creepva (1978)…Nói chung theo các tác giả thì mỗi vùng sinh thái sẽ hình thành thảm thực vật đặc trưng, sự khác biệt của thảm này so với thảm khác biểu thị bởi thành phần loài, thành phần dạng sống, cấu trúc và động thái của nó Vì vậy, việc nghiên cứu thành phần loài, thành phần dạng sống là chỉ tiêu quan trọng trong phân loại loại hình thảm thực vật (dẫn theo Hoàng Chung, 1980 [6])
Ramakrisman (1981-1992) nghiên cứu thảm thực vật sau nương rẫy tại vùng Tây Bắc Ấn Độ đã khẳng định: chỉ số đa dạng loài rất thấp, chỉ số loài ưu thế đạt cao nhất ở pha đầu của quá trình diễn thế và giảm dần theo thời gian bỏ hóa (dẫn theo Phạm Hồng Ban, 2000 [1])
Long Chun và cộng sự (1993), nghiên cứu về đa dạng thực vật ở hệ sinh thái nương rẫy tại Xishuang Bana tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) đã nhận xét: khi nương rẫy
bỏ hóa 13 năm thì có 17 họ, 21 chi, 21 loài; bỏ hóa 16 năm thì có 60 họ,134 chi và
167 loài (dẫn theo Đặng Kim Vui, 2002 [46])
Trong những năm gần đây, một số nước được sự hỗ trợ của các nước phương Tây nên đã xuất bản được các bộ Thực vật chí của nước mình khá hoàn chỉnh như Malaysia, Thái Lan, Indonesia
Từ những dẫn liệu trên ta thấy những nghiên cứu về thành phần loài thực vật của các tác giả trên thế giới đều tập trung nghiên cứu và đánh giá thành phần loài ở một vùng, một khu vực cụ thể, phản ánh hệ thực vật đặc trưng trong mối tương quan
Trang 20với điều kiện khí hậu và địa hình Tuy vậy, các công trình nghiên cứu còn chưa nhiều, cần có những nghiên cứu cụ thể hơn, rộng hơn nhằm mục đích đánh giá chính xác hệ thực vật đặc trưng của một khu vực hoặc một quốc gia
Hoàng Chung (1980) [6] khi nghiên cứu đồng cỏ vùng núi Bắc Việt Nam đã công bố thành phần loài thu được gồm 233 loài thuộc 54 họ và 44 bộ
Trong công trình tổng kết các kết quả nghiên cứu đồng cỏ Bắc Việt Nam, Dương Hữu Thời (1981) đã công bố thành phần loài thuộc 5 vùng Bắc Việt Nam gồm
213 loài [37]
Nguyễn Tiến Bân và cộng sự (1983) khi nghiên cứu hệ thực vật Tây Nguyên đã thống kê được 3210 loài, chiếm gần 1/2 số loài đã biết của toàn Đông Dương (dẫn theo Hoàng Thị Thanh Thủy, 2009 [39])
Phạm Hoàng Hộ (2003) trong “Cây cỏ Việt Nam” đã thống kê số loài hiện có của hệ thực vật là 10.500 loài [18]
Phan Nguyên Hồng (1991) lập danh lục cùng với một số chỉ tiêu khác (dạng sống, môi trường, khu phân bố) của 75 loài thuộc 2 nhóm loài cây ngập mặn điển hình và cây gia nhập vào rừng ngập mặn [19]
Trang 21Lê Mộng Chân (1994) điều tra tổ thành vùng núi cao Vườn quốc gia Ba Vì đã phát hiện được 483 loài thuộc 323 chi, 136 họ thực vật bậc cao có mạch trong đó gặp
7 loài được mô tả lần đầu tiên [4]
Đỗ Tất Lợi (1995) khi nghiên cứu các loài cây thuốc đã công bố 798 loài thuộc
164 họ có ở hầu hết các tỉnh nước ta [27]
Trần Đình Đại (2001) căn cứ vào kết quả điều tra thực địa, mẫu vật lưu giữ tại các phòng tiêu bản đã thống kê danh lục các loài thực vật tại vùng Tây Bắc Bộ (Lai Châu, Lào Cai, Sơn La) gồm 226 họ, 1050 chi và 3074 loài thuộc 6 ngành thực vật bậc cao có mạch [16]
Lê Ngọc Công, Hoàng Chung (1994) nghiên cứu thành phần loài, dạng sống của
sa van bụi và đồi trung du Bắc Thái (cũ) đã phát hiện được 123 loài thuộc 47 họ khác nhau [10]
Nguyễn Thế Hưng, Hoàng Chung (1995) khi nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái, sinh vật học của sa van Quảng Ninh và các mô hình sử dụng đã phát hiện được
60 họ thực vật khác nhau với 131 loài [21]
Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) đã thống kê thành phần loài của Vườn Quốc gia Tam Đảo có khoảng 2.000 loài thực vật, trong đó có 904 cây có ích thuộc 478 chi,
213 họ của 3 ngành: Dương xỉ, Hạt trần và Hạt kín Các loài này được xếp thành 8 nhóm có giá trị khác nhau Năm 1998, khi nghiên cứu về họ Thầu Dầu (Euphorbiaceae) ở Việt Nam, ông thu được 156 loài trong tổng số 425 loài của họ Thầu dầu ở Việt Nam chia làm 7 nhóm theo cách sử dụng (dẫn theo Trương Thị Tố Uyên, 2010 [45])
Lê Ngọc Công (1998) khi nghiên cứu tác dụng cải tạo môi trường của một số
mô hình rừng trồng ở một số tỉnh miền núi đã công bố thành phần loài gồm 211 loài thuộc 64 họ [11]
Thái Văn Trừng (1998) khi nghiên cứu về hệ thực vật Việt Nam đã có nhận xét
về tổ thành loài thực vật của tầng cây bụi như sau: trong các trạng thái thảm khác
Trang 22nhau của rừng nhiệt đới Việt Nam, tổ thành loài của tầng cây bụi chủ yếu có sự đóng
góp của các chi Psychotria, Prismatomeris, Pavetta (họ Cà phê – Rubiaceae); chi
Tabermontana (họ Trúc đào – Apocynaceae); chi Ardisia, Maesa (họ Đơn nem –
Myrsinaceae) [44]
Nguyễn Nghĩa Thìn (1998) khi tổng kết các công trình nghiên cứu về khu hệ thực vật ở Việt Nam đã ghi nhận có 2393 loài thực vật bậc thấp và 1373 loài thực vật bậc cao thuộc 2524 chi, 378 họ [35]
Lê Trọng Cúc, Phạm Hồng Ban (1996) nghiên cứu sự biến động thành phần loài thực vật sau nương rẫy ở huyện Con Cuông, Nghệ An nhận xét rằng: do ảnh hưởng của canh tác nương rẫy nên thành phần loài và số lượng cây gỗ trên một đơn vị diện tích có xu hướng giảm dần, đơn giản hoá để tái ổn định [14]
Lê Đồng Tấn (2000) khi nghiên cứu quá trình phục hồi rừng tự nhiên sau nương rẫy ở Sơn La đã kết luận: mật độ cây giảm khi độ dốc tăng, mật độ cây giảm từ chân lên đỉnh đồi, mức độ thoái hoá đất ảnh hưởng đến mật độ, số lượng loài cây và tổ thành loài cây Kết quả cho thấy ở tuổi 4 có 41 loài; tuổi 10 có 56 loài; tuổi 14 có 53 loài [33]
Đặng Kim Vui (2002) [46] nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng phục hồi sau nương rẫy để làm cơ sở đề xuất giải pháp khoanh nuôi, làm giàu rừng ở huyện Đồng
Hỷ, tỉnh Thái Nguyên đã kết luận: giai đoạn phục hồi 1 – 2 tuổi, thành phần loài thực vật là 72 loài thuộc 36 họ, trong đó họ Hoà thảo có số lượng lớn nhất là 10 loài, tiếp đến là họ Thầu dầu (6 loài)…; giai đoạn 3 – 5 tuổi có 65 loài thuộc 34 họ; giai đoạn 5 – 10 tuổi có 56 loài thuộc 36 họ; giai đoạn 11 – 15 tuổi có 57 loài thuộc 31 họ
Nguyễn Thế Hưng (2003) đã thống kê trong các trạng thái thảm thực vật nghiên cứu ở Huyện Hoành Bồ, Thị xã Cẩm Phả (Quảng Ninh) có 324 loài thuộc 251 chi và
93 họ của 3 ngành thực vật bậc cao có mạch [22]
Phạm Ngọc Thường (2003) khi nghiên cứu đặc điểm quá trình tái sinh tự nhiên sau nương rẫy ở Bắc Kạn kết luận: quá trình phục hồi sau nương rẫy chịu tác động
Trang 23con người Mật độ cây giảm dần theo thời gian phục hồi của thảm thực vật cây gỗ, trên đất tốt nhiều nhất 11 – 25 loài, trên đất xấu 8 – 12 loài [41]
Lê Ngọc Công (2004) nghiên cứu hệ thực vật tỉnh Thái Nguyên đã thống kê các loài thực vật bậc cao có mạch của tỉnh Thái Nguyên là 160 họ, 468 chi, 654 loài chủ yếu là cây lá rộng thường xanh, trong đó có nhiều cây gỗ quý như: Lim, Dẻ, Trai, Nghiến…[12]
Vũ Thị Liên (2005) khi nghiên cứu một số kiểu thảm thực vật ở Sơn La đã thu được 452 loài thuộc 326 chi, 153 họ [24]
Thái Văn Thụy, Nguyễn Phúc Nguyên (2005) nghiên cứu về thảm thực vật Vườn quốc gia Ba Vì đã xác định ở đây có 11 kiểu quần xã thực vật khác nhau Trong quần xã cây bụi thứ sinh thường xanh, lá rộng thành phần chủ yếu là cây gỗ dạng bụi cao từ 2 – 5m [38]
Những nghiên cứu về thành phần loài của các tác giả trên thế giới và ở Việt Nam đều tập trung nghiên cứu và đánh giá thành phần loài ở một vùng và khu vực cụ thể, phản ánh hệ thực vật đặc trưng trong mối tương quan với điều kiện địa hình và khí hậu Tuy vậy, số lượng các công trình nghiên cứu còn chưa nhiều, cần có những nghiên cứu cụ thể hơn rộng rãi hơn nhằm mục đích có thể đánh giá chính xác thành phần loài thực vật đặc trưng của một khu vực hoặc một quốc gia
1.2.2 Nghiên cứu về thành phần dạng sống thực vật
Dạng sống của thực vật là sự biểu hiện về hình thái cấu trúc cơ thể thực vật thích nghi với điều kiện môi trường của nó, nên đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu từ rất sớm
Trang 24chia thực vật thảo nguyên làm 2 lớp: lớp cây nhiều năm và lớp cây hàng năm (dẫn theo Hoàng Chung, 1980 [6])
Braun – Blanquet (1951) đánh giá cách mọc của thực vật dựa vào tính liên tục hay đơn độc của loài đã chia thành 5 thang: mọc lẻ; mọc thành vạt; mọc thành dải nhỏ; mọc thành vạt lớn và mọc thành khóm lớn (dẫn theo Phạm Hồng Ban, 2000 [1])
Cho đến nay, khi phân tích bản chất sinh thái của mỗi hệ thực vật, nhất là hệ thực vật của các vùng ôn đới, người ta vẫn dùng hệ thống của Raunkiaer (1934) (dẫn theo Nguyễn Nghĩa Thìn, 2008 [36]) để sắp xếp các loài của hệ thực vật nghiên cứu vào một trong các dạng sống đó Cơ sở phân chia dạng sống của ông là sự khác nhau
về khả năng thích nghi của thực vật qua thời gian bất lợi trong năm Từ tổ hợp các dấu hiệu thích nghi, Raunkiaer chỉ chọn một dấu hiệu là vị trí của chồi nằm ở đâu trên mặt đất trong suốt thời gian bất lợi trong năm
Raunkiaer đã chia 5 nhóm dạng sống cơ bản:
1 Phanerophytes (Ph): nhóm cây có chồi trên mặt đất
2 Chamaetophytes (Ch): nhóm cây có chồi sát mặt đất
3 Hemicryptophytes (He): nhóm cây có chồi nửa ẩn
4 Cryptophytes (Cr): nhóm cây có chồi ẩn
5 Therophytes (Th): nhóm cây sống 1 năm
Ông đã xây dựng phổ chuẩn của các dạng sống ở các vùng khác nhau trên trái đất (SB): SB = 46Ph + 9Ch + 26He + 6Cr + 13Th
Hệ thống phân chia dạng sống của Raunkiaer có ý nghĩa quan trọng, đảm bảo tính khoa học, dễ áp dụng Phân chia dạng sống của Raunkiaer dựa trên những đặc điểm cơ bản của thực vật, nghĩa là dựa trên đặc điểm cấu tạo, phương thức sống của thực vật, đó là kết quả tác động tổng hợp của các yếu tố môi trường tạo nên Thuộc về những đặc điểm này có hình dạng ngoài của thực vật, đặc điểm qua đông, sinh sản…
Xêrêbriacốp (1964) đưa ra bảng phân loại dạng sống mang tính chất sinh thái học hơn của Raunkiaer Trong bảng phân loại này, ngoài những dấu hiệu hình thái
Trang 25trong cả đời của cá thể bao gồm: ngành, kiểu, lớp và lớp phụ Trong bảng phân loại này không bao gồm những cây thuỷ sinh, ông còn chia ra các đơn vị nhỏ hơn là nhóm, nhóm phụ, tổ và các dạng đặc thù (dẫn theo Hoàng Chung, 1980 [6])
Bảng phân loại dạng sống cây thuộc thảo đã được lập ra lần đầu tiên bởi Canon (1911), sau đó hàng loạt bảng đã được đưa ra Với cây thảo, đặc điểm phần dưới đất đóng vai trò rất quan trọng trong phân chia dạng sống, nó biểu thị mức độ khắc nghiệt khác nhau của môi trường sống, là phần sống lâu năm của cây Vì thế việc sử dụng phần dưới đất để làm tiêu chuẩn phân chia dạng sống sẽ giúp cho ta đánh giá đúng hơn kiểu thảm, những đặc điểm đặc trưng của môi trường (dẫn theo Thái Văn Trừng,
1970 [43])
1.2.2.2 Ở Việt Nam
Một số công trình nghiên cứu về dạng sống ở Việt Nam như: Doãn Ngọc Chất (1969) nghiên cứu dạng sống của một số loài thực vật thuộc họ Hoà thảo Hoàng Chung (1980) thống kê thành phần dạng sống cho loại hình đồng cỏ Bắc Việt Nam,
đã đưa ra 18 kiểu dạng sống cơ bản và bảng phân loại kiểu đồng cỏ sa van, thảo nguyên [6]
Thái Văn Trừng (1970) cũng áp dụng nguyên tắc của Raunkiaer khi phân chia dạng sống của hệ thực vật ở Việt Nam [43]
Lê Trần Chấn (1990) khi nghiên cứu hệ thực vật Lâm Sơn tỉnh Hoà Bình cũng phân chia hệ thực vật thành 5 nhóm dạng sống chính theo phương pháp của Raunkiaer Tuy nhiên tác giả đã dùng thêm ký hiệu để chi tiết hoá một số dạng sống (a: ký sinh; b bì sinh; c dây leo; d cây chồi trên thân thảo) Tác giả không xếp phương thức sống ký sinh, bì sinh vào dạng sống cơ bản mà chỉ coi đây là những dạng phụ [5]
Hoàng Chung (2008) khi nghiên cứu thực vật trong đồng cỏ vùng núi Bắc Việt Nam, đã phân chia 8 kiểu dạng sống chính là: kiểu cây gỗ, kiểu cây bụi, kiểu cây bụi thân bò, kiểu cây bụi nhỏ, kiểu cây bụi nhỏ bò, kiểu nửa bụi, kiểu thực vật có khả năng tạo chồi mới từ rễ, kiểu cây thảo có hệ rễ cái sống lâu năm [7]
Trang 26Phan Nguyên Hồng (1991) [19] khi nghiên cứu hình thái thảm thực vật rừng ngập mặn Việt Nam đã chia thành 7 dạng sống cơ bản: cây gỗ (G), cây bụi (B), cây thân thảo (T), dây leo (L), cây gỗ thấp hoặc dạng cây bụi (G/B), ký sinh (K), bì sinh (B)
Áp dụng theo nguyên tắc của Raunkiaer, Nguyễn Bá Thụ, Phùng Ngọc Lan, Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) đã xây dựng phổ dạng sống của hệ thực vật Vườn Quốc gia Cúc Phương [34] là:
có 17 kiểu dạng sống, trong đó có 5 kiểu dạng cây bụi (cây bụi; cây bụi thân bò; cây bụi nhỏ; cây bụi nhỏ thân bò; cây nửa bụi)
Nguyễn Thế Hưng (2003) khi nghiên cứu dạng sống thực vật trong các trạng thái thảm thực vật tại Hoành Bồ (Quảng Ninh) đã kết luận: nhóm cây chồi trên đất có
196 loài chiếm 60,49% tổng số loài của toàn hệ thực vật; nhóm cây chồi sát đất có 26 loài chiếm 8,02%; nhóm cây chồi nửa ẩn có 43 loài chiếm 13,27%; nhóm cây chồi ẩn
có 24 loài chiếm 7,47%; nhóm cây 1 nãm có 35 loài chiếm 10,80% [22]
Phạm Ngọc Thường (2003) [41] khi nghiên cứu thảm thực vật sau nương rẫy ở Thái Nguyên và Bắc Kạn đã cho kết quả phổ dạng sống của hệ thực vật là:
SB = 56,37Ph + 12,73Ch + 14,23He +8,80Cr + 7,87Th
Trang 27Lê Ngọc Công (2004) [12] khi nghiên cứu quá trình phục hồi rừng bằng khoanh nuôi trên một số thảm thực vật ở Thái Nguyên đã phân chia thực vật thành các nhóm dạng sống sau: cây gỗ; cây bụi; cây cỏ và dây leo
Ngô Tiến Dũng (2004) [15] nghiên cứu tính đa dạng thực vật ở Vườn quốc gia Yok Don đã lập được phổ dạng sống của thực vật Yok Don là:
SB = 71,73Ph + 1,41Ch + 7,77He + 4,59Cr + 6Th
Vũ Thị Liên (2005) [24] phân chia dạng sống thực vật trong thảm thực vật sau nương rẫy ở Sơn La theo thang phân loại của Raunkiaer Kết quả phổ dạng sống như sau: SB = 69,69Ph + 3,76Ch + 9,29He + 10,84Cr + 6,42Th
Dương Hữu Thời (1981) đã lập phổ dạng sống của các quần xã cỏ trên bãi cát sông Hồng [37]
Về thành phần dạng sống: khi nghiên cứu hệ thực vật ở một khu vực cụ thể, các tác giả đều phân chia và sắp xếp các loài thực vật thành các nhóm dựa vào các tiêu chuẩn cụ thể tuỳ từng tác giả Tuy nhiên có thể nhận thấy rằng, hầu hết các tác giả đều sử dụng cách phân chia dạng sống của Raunkiaer trong những nghiên cứu của mình Hệ thống phân chia của Raunkiaer có ý nghĩa quan trọng, đảm bảo tính khoa học và dễ áp dụng Ông chỉ chọn một dấu hiệu là vị trí của chồi nằm ở đâu trên mặt đất trong suốt thời gian bất lợi trong năm làm tiêu chuẩn để phân chia các kiểu dạng sống Vì lẽ đó, trong nghiên cứu của mình, tôi áp dụng cách phân chia dạng sống này của Raunkiaer
1.2.3 Nghiên cứu về cấu trúc rừng
Cấu trúc rừng là sự sắp xếp tổ chức nội bộ của các thành phần sinh vật trọng hệ sinh thái rừng mà qua đó các loài có đặc điểm sinh thái khác nhau có thể chung sống hài hoà và đạt tới sự ổn định tương đối trong một giai đoạn phát triển nhất định của tự nhiên Cấu trúc của rừng vừa là kết quả, vừa là sự thể hiện quan hệ đấu tranh và thích ứng lẫn nhau giữa các sinh vật rừng với môi trường sinh thái và giữa các sinh vật với
Trang 28nhau Các nhân tố trong cấu trúc rừng là: cấu trúc tổ thành, cấu trúc tầng (trên mặt đất
và dưới mặt đất), cấu trúc tuổi…
1.2.3.1 Trên thế giới
Richards (1952) đã nghiên cứu cấu trúc rừng mưa nhiệt đới về mặt hình thái Theo tác giả, đặc điểm nổi bật của rừng mưa nhiệt đới là tuyệt đại bộ phận đều là thân gỗ Ông chia rừng mưa nhiệt đới ở Nigeria thành 6 tầng dựa trên các dạng sống, tầng phiến, tầng thứ…, tuy nhiên đây thực chất chỉ là các lớp chiều cao (dẫn theo Lê Ngọc Công, 2010 [13])
Smith (1963) cũng chia rừng ở Kinshara – Conggo, ở Malaysia thành 3-5 tầng với chiều cao chưa rõ ràng (dẫn theo Thái Văn Trừng, 1970) [43]
Oltaman (1972) chia rừng thành 3 tầng: tầng cây bụi, tầng cây gỗ và tầng cây gỗ lớn (dẫn theo Thái Văn Trừng, 1998) [44]
1.2.3.2 Ở Việt Nam
Những nghiên cứu về cấu trúc rừng của nước ta có một số tác giả như: Phạm Minh Nguyệt (1994) [30] đưa ra những tiêu chuẩn về một cấu trúc rừng cần được quan tâm khi tiến hành chặt tu bổ Cấu trúc thích hợp tức là mọi tầng cây đều phát triển tốt Tầng cây trên cung cấp nguyên vật liệu cho kinh doanh nhưng cũng tạo ra các điều kiện khác cho cây rừng phát triển cân đối nhịp nhàng Tầng trung bình bổ sung độ tàn che tạo điều kiện sinh thái thuận lợi cho cây rừng và cung cấp một số nguyên liệu Tầng cây tái sinh mọc xen giữa thảm tươi cây bụi, dây leo là tiềm lực của rừng tạo điều kiện tái sinh lâu dài
Nguyễn Hải Tuất (1991), nghiên cứu quy luật cấu trúc quần thể cây rừng (Ba Vì) cho rằng, điều kiện sinh thái ở đây đảm bảo tính ổn định của một hệ sinh thái núi cao thể hiện qua các quy luật cấu trúc rừng [42]
Trần Văn Con (1992) ứng dụng mô phỏng toán học trong nghiên cứu động thái rừng tự nhiên tại lâm trường Nam Phú Nhơn (Gia Lai Kon Tum) đã cho rằng, sự biến đổi cấu trúc lâm phần (động thái) là kết quả tổng hợp của ba quá trình: tái sinh, sinh
Trang 29trưởng và đào thải (chết tự nhiên và tỉa thưa) Mô phỏng toán học có thể rút ngắn thời gian nghiên cứu để dự báo sự thay đổi cấu trúc khi biết hiện trạng rừng và các tương quan nhất định [9]
Võ Đại Hải (1996), đưa ra khái niệm chức năng phòng hộ nguồn nước của thảm thực vật Theo tác giả mô hình cấu trúc hợp lý của rừng phòng hộ đầu nguồn là mô hình cấu trúc rừng đáp ứng được yêu cầu phòng hộ về điều tiết nước và xói mòn Trong mô hình cấu trúc, ông đề cập tổ thành loài cây và điều kiện sinh trưởng phát triển của chúng [17]
Những nghiên cứu về cấu trúc rừng còn tương đối ít, mỗi tác giả đều đưa ra những tiêu chuẩn riêng để xây dựng một cấu trúc rừng thích hợp Cấu trúc thích hợp tức là mọi tầng cây đều phát triển tốt Tuỳ từng giai đoạn mà cấu trúc rừng có thể thay đổi, phụ thuộc vào nhiều yếu tố
1.3 Nghiên cứu về các loài thực vật quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng
1.3.1 Trên thế giới
Năm 1964, hiệp hội bảo tồn thiên nhiên thế giới (IUCN) đã cho xuất bản các
Bộ sách đỏ nhằm cung cấp một cách khoa học và có hệ thống danh sách về tình trạng bảo tồn và đa dạng của các loài động vật và thực vật đang có nguy cơ tuyệt chủng trên thế giới Năm 1994, IUCN đã đề xuất những thứ hạng và tiêu chuẩn mới cho việc phân hạng tình trạng các loài động vật, thực vật bị đe doạ trên thế giới [50] Các thứ hạng và tiêu chuẩn của IUCN được cụ thể hoá như sau: loài tuyệt chủng (EX), loài rất nguy cấp (CR), loài nguy cấp (EN), loài sẽ nguy cấp (VU)…
1.3.2 Ở Việt Nam
Ở Việt Nam, cuốn “Sách đỏ Việt Nam (phần thực vật)” của tập thể tác giả
thuộc Trung tâm Khoa học tự nhiên và Công nghệ quốc gia, nay là Viện Hàn lâm Khoa học và công nghệ Việt Nam là tài liệu duy nhất công bố một cách đầy đủ các loài thực vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng ở Việt Nam Cuốn sách được xuất bản
vào các năm 1992, 1996 và mới nhất là năm 2007 Trong cuốn “Sách đỏ Việt Nam
Trang 30(phần thực vật)” năm 2007 đã công bố 847 loài (thuộc 201 họ) quý hiếm có nguy cơ
tuyệt chủng cần được bảo vệ [32]
Theo nghị định 32/2006/NĐ-CP về quản lý thực vật, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm đã chia thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm thành 2 nhóm:
- Nhóm I: nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại, gồm những loài thực vật rừng, động vật rừng có giá trị đặc biệt về khoa học, môi trường hoặc có giá trị cao về kinh tế, số lượng quần thể còn rất ít trong tự nhiên hoặc có nguy cơ tuyệt chủng cao Nhóm I được phân thành: nhóm IA gồm các loài thực vật rừng thuộc
2 ngành là: ngành Thông với 7 loài và ngành Mộc lan với 8 loài, nhóm IB gồm các loài động vật rừng
- Nhóm II: hạn chế khai thác sử dụng vì mục đích thương mại, gồm những loài thực vật rừng, động vật rừng có giá trị khoa học, môi trường hoặc có giá trị cao về kinh tế, số lượng quần thể còn ít trong tự nhiên hoặc có nguy cơ tuyệt chủng Nhóm
II cũng được chia thành: nhóm IIA gồm các loài thực vật rừng thuộc 2 ngành: ngành Thông với 10 loài và ngành Mộc lan với 27 loài, nhóm IIB gồm các loài động vật rừng [8]
Ngoài tập “Sách đỏ Việt Nam (phần thực vật)” thống kê số loài thực vật có
nguy cơ tuyệt chủng của cả nước, thì các công trình nghiên cứu về các loài có nguy cơ tuyệt chủng ở từng vùng và khu vực cụ thể còn rất ít Một số công trình đáng chú ý là:
Nguyễn Thị Yến (2003) [47] khi nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và tính đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc ở một số kiểu thảm thực vật tại xã Xuân Sơn, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ, đã thống kê được 20 loài thực vật quý hiếm, trong đó có 15 loài ở mức sẽ nguy cấp (VU) và 5 loài ở mức nguy cấp dựa theo những thứ hạng và tiêu chuẩn của Sách đỏ Việt Nam (2007) và IUCN
Hoàng Thị Thanh Thủy (2009), Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và tính đa dạng thực vật trong một số trạng thái thảm thực vật ở xã Thần Sa, huyện Võ Nhai, tỉnh
Trang 318 loài ở mức sẽ nguy cấp (VU); 6 loài ở mức nguy cấp (EN), 2 loài nghiêm cấm khai thác, sử dụng và 4 loài hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại Nếu không có các biện pháp bảo vệ thì sẽ có nguy cơ tuyệt chủng trong thời gian không xa [39]
Lê Ngọc Công (2010) khi điều tra các loài thực vật có nguy cơ tuyệt chủng ở Thái Nguyên đã ghi nhận được 71 loài Trong đó có một loài bị tuyệt chủng ngoài thiên nhiên (EW), 2 loài trong tình trạng rất nguy cấp (CR) loài nguy cấp (EN) và 37 loài sẽ nguy cấp (VU) Tác giả xác định được 7 loài thuộc nhóm IIA ( theo nghị định 32/2006-NĐ-CP của Chính phủ [13]
Trương Thị Tố Uyên (2010), Nghiên cứu tính đa dạng thực vật và tài nguyên cây thuốc trong một số trạng thái thảm thực vật ở xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên cho thấy, số loài thực vật quý ghi nhận được là 18 loài, trong đó có 10 loài ở mức sẽ nguy cấp (VU); 5 loài ở mức nguy cấp (EN), 2 loài nghiêm cấm khai thác, sử dụng và 5 loài hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại Số loài thực vật quý là cây thuốc điều tra được là 11 loài, trong đó có 6 loài ở mức sẽ nguy cấp (VU); 4 loài ở mức nguy cấp (EN), 2 loài nghiêm cấm khai thác, sử dụng và 3 loài hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại [45]
Tóm lại, những nghiên cứu về các loài thực vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng ở nước ta còn rất ít Hiện nay, do nhiều nguyên nhân khác nhau mà số lượng loài thực vật có giá trị đang bị giảm sút, bị đe doạ và có nguy cơ tuyệt chủng Tuỳ từng thời điểm, một loài có thể đang ở cấp này có thể chuyển sang cấp khác (do nhiều nguyên nhân) Vì vậy, cần có nhiều nghiên cứu đầy đủ hơn để đánh giá số loài thực vật có nguy cơ tuyệt chủng ở từng vùng cụ thể và phải đánh giá thường xuyên nhằm
có thể bảo tồn các loài thực vật quý hiếm có giá trị ở nước ta
1.4 Nghiên cứu các yếu tố địa lý cấu thành hệ thực vật
1.4.1 Trên Thế giới
Mặc dù nghiên cứu về các yếu tố địa lý cấu thành hệ thực vật trên thế giới đã có
từ đầu thế kỷ XX, nhưng các công trình công bố còn khá ít
Trang 32Khi đề cập đặc trưng phân bố địa lý của hệ thực vật, các tác giả Pócs T , Tonmachov, Schmithusen cho rằng việc xác định các loài đặc hữu là rất quan trọng Gagnepain (1944) khi phân tích và đánh giá hệ thực vật Đông Dương, đã khẳng định thực vật Đông Dương nghèo đặc hữu, khoảng 12%, mà chủ yếu là các yếu tố di cư (dẫn theo Nguyễn Nghĩa Thìn, 2008 [36])
1.4.2 Ở Việt Nam
Ở Việt Nam, người được đánh giá là đặt nền móng cho hướng nghiên cứu địa lý thực vật là Gagnepain với hai công trình: “Góp phần nghiên cứu địa thực vật ở Đông Dương” (1926) và “Giới thiệu hệ thực vật Đông Dương” (1944), đã chia hệ thực vật Đông Dương thành 5 yếu tố địa lý: (1) Yếu tố đặc hữu chiếm 11,9% tổng số loài của
hệ thực vật (2) Yếu tố Trung Quốc chiếm 33,8% (3) Yếu tố Xích kim – Hymalaya chiếm 18,5% (4) Yếu tố Malaysia và nhiệt đới khác chiếm 15% (5) Yếu tố phân bố rộng và nhập nội chiếm 20,8%
Năm 1965, trên cơ sở các loài thực vật được ghi trong bộ Thực vật chí đại cương Đông Dương, Pócs T đã phân tích và sắp xếp các loài của hệ thực vật miền Bắc nước ta thành 22 yếu tố địa lý Phổ các yếu tố địa lý do Pócs T nêu ra cho thấy
hệ thực vật miền Bắc Việt Nam có yếu tố đặc hữu đến 23,6%, yếu tố Đông Dương 16,4%, sau đó là nhóm các yếu tố Indo – Malaysia 25,7%, nhóm các yếu tố Ấn Độ 9,3% và yếu tố Nam Trung Quốc 5,1% Lê Trần Chấn và cs (1999) đã khái quát vùng phân bố cho các yếu tố địa lý của hệ thực vật Việt Nam vào 20 yếu tố, trong đó yếu tố đặc hữu được phân thành 4 khu phân bố: đặc hữu Bắc Bộ, đặc hữu Trung Bộ, đặc hữu Nam Bộ và đặc hữu Việt Nam
Trên cơ sở nghiên cứu và phân tích các sơ đồ phân loại các yếu tố địa lý cấu thành hệ thực vật Việt Nam của Gagnepain (1926), Pócs T (1965); Nguyễn Nghĩa Thìn (2008) [36], đã đưa ra sơ đồ phân loại các yếu tố địa lý như sau:1 Yếu tố thế
giới; 2 Liên nhiệt đới; 3 Cổ nhiệt đới; 4 Nhiệt đới châu Á (Inđô - Malêzia); 5 Ôn
đới Bắc; 6 Đặc hữu Việt Nam
Trang 331.5 Nghiên cứu về thảm thực vật, đa dạng thực vật ở Cao Bằng và khu vực nghiên cứu
Những công trình nghiên cứu về thảm thực vật và đa dạng thực vật ở Cao Bằng nói chung còn rất ít và tản mạn
Đặng Huy Huỳnh (2013) [20] khi nghiên cứu vùng Phia Oắc, Phia Đén đã kết luận ở đây có hệ sinh thái rừng nguyên sinh trên núi cao (rừng rêu, rừng lùn) là đại diện cho một vùng sinh thái tự nhiên Đông Bắc của Việt Nam, nơi chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của hoàn lưu gió mùa Đông Bắc và hầu như chưa bị tác động Rừng rêu, rừng lùn có diện tích 467,6 ha, phân bố ở độ cao từ 1.600 - 1.931 m, có cấu trúc hai tầng gồm: tầng cây gỗ chủ yếu là các loài lá rộng, thường xanh thuộc các loại thực vật á nhiệt đới như: dẻ, long não, chè, mộc lan; Tầng cây thảo ngoài dương xỉ còn có các loài như: rêu, địa y, quyển bá, mộc tặc và nhiều loài thuộc họ Hoa hồng, Ráy, Cói,… Phia Oắc, Phia Đén có các khu vực núi đá vôi rất đặc trưng với các dòng sông ngầm, các kiểu địa hình karst rửa lũa, rất có ý nghĩa trong nghiên cứu khoa học về địa chất Bên cạnh đó, đây là vùng có các kiểu, dạng địa hình rất đặc trưng, là vùng núi
có hướng phân bố gần như vuông góc với hướng gió mùa đông bắc nên ở sườn Đông bắc có thể xuất hiện mưa vào nửa đầu mùa đông do tác động tương tác của địa hình
và hoàn lưu gió mùa đông bắc, còn vào nửa cuối mùa đông xuất hiện mưa phùn, từ độ cao 1.600m trở lên có nhiệt độ trung bình dưới 150C, kết hợp với mưa, sương mù, độ
ẩm cao nên đã hình thành đai khí hậu lạnh và ẩm ướt quanh năm, tạo điều kiện hình thành nên rừng rêu rừng lùn ngay từ độ cao 1.600m Vì vậy, giữ gìn và bảo tồn vùng núi này sẽ có ý nghĩa rất lớn trong nghiên cứu khoa học địa lý, sinh học và phục vụ mục đích giáo dục làm minh chứng thực tế cho công tác giảng dạy cho sinh viên đối
với các bộ môn sinh học, địa lý và môi trường
Trần Thị Thu Thủy, La Quang Độ, Hoàng Văn Hùng (2014) [40] nghiên cứu khu hệ thực vật thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Phia Oắc - Phia Đén, kết quả bước đầu
đã xác định được thành phần thực vật quý hiếm và nguy cấp tại khu vực nghiên cứu
là rất đa dạng, có tới 33 loài, 27 chi và 20 họ thuộc 3 ngành thực vật bậc cao có mạch khác nhau có tên trong Sách Đỏ Việt Nam (2007), danh lục đỏ IUCN
Trang 34Chu Thị Bích Ngọc (2016) [29] nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và tái sinh tự nhiên của một số thảm thực vật tại xã Thành Công, thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Phia Oắc - Phia Đén, kết quả bước đầu đã xác định được 339 loài, 241 chi và 92 họ thuộc 06 ngành thực vật bậc cao có mạch khác nhau
Xã Phan Thanh, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu về hệ thực vật và thảm thực vật ở đây Vì vậy, đây là địa điểm
và là đối tượng nghiên cứu của đề tài luận văn thạc sĩ của tác giả
Trang 35Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các trạng thái thảm thực vật phổ biến tại xã Phan Thanh, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng, gồm:
- Rừng nguyên sinh bị tác động (RNS)
- Rừng thứ sinh hình thành sau khai thác (RTS)
- Thảm cây bụi hình thành sau khai thác (TCB)
- Rừng trồng Thông 20 năm (RTH)
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Đa dạng các trạng thái thảm thực vật trong khu vực nghiên cứu
2.2.2 Đa dạng thực vật trong các trạng thái thảm thực vật chọn nghiên cứu
2.2.2.6 Đa dạng về các loài cây quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng
2.2.2.7 Đa dạng các yếu tố địa lý cấu thành hệ thực vật
2.2.3 Đề xuất các giải pháp bảo tồn đa dạng thực vật
- Bảo tồn tại chỗ: Sử dụng biện pháp khoanh nuôi, bảo vệ tại chỗ, không đốt rừng, không khai thác quá mức
Trang 36- Bảo tồn chuyển chỗ: Xác định các loài cây có giá trị kinh tế tại khu vực nghiên cứu Tiến hành các biện pháp sinh sản hữu tính, vô tính một số loài thực vật có nguy cơ giảm sút về số lượng cá thể
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp tuyến điều tra (TĐT)
Sử dụng phương pháp của Hoàng Chung (2008) [7], Nguyễn Nghĩa Thìn (2008) [36] như sau:
Tuyến điều tra: trước hết là xác định địa điểm nghiên cứu, căn cứ vào bản đồ của khu vực lập các tuyến điều tra (TĐT) TĐT đầu tiên có hướng vuông góc với đường đồng mức, các tuyến sau song song với tuyến đầu Cự ly giữa các tuyến phụ thuộc vào điều kiện địa hình cho phép, khoảng cách thường là 50m-100m, chiều rộng của TĐT là 4m Trên TĐT bố trí ô tiêu chuẩn và ô dạng bản để xác định thành phần loài, dạng sống thực vật, xác định tên các loài cây
- Trên TĐT, đo chiều cao vút ngọn Hvn (m) của các loài cây gỗ Đối với cây có chiều cao từ 4m trở xuống đo trực tiếp bằng thước sào, có vạch đến 0,01m Đối với những cây có chiều cao từ 4m trở lên đo bằng thước Blumeleis, đo theo nguyên tắc lượng giác
2.3.2 Phương pháp ô tiêu chuẩn (OTC)
- Lập ô tiêu chuẩn (OTC): Trên tuyến điều tra lập các OTC tạm thời có kích thước 10m x 10m (đối với các trạng thái rừng, rừng trồng Thông), 4m x 4m (đối với thảm cây bụi) Số OTC trong mỗi trạng thái là 6 Đối với các trạng thái thảm thực vật rừng, trong mỗi OTC lập 9 ô nhỏ (ô dạng bản- ODB), mỗi ô có diện tích 2m x 2m = 4m2 Diện tích ODB ít nhất phải đạt 1/3 diện tích OTC
Hình 2.1 Sơ đồ bố trí ODB trong OTC 100 m 2 ở các trạng thái rừng nguyên sinh
bị tác động, rừng thứ sinh và rừng trồng Thông tại KVNC
10 m
10 m
Trang 37Cách thu thập mẫu trong các OTC và ô dạng bản cũng tương tự như ở TĐT (theo phương pháp của Hoàng Chung 2008 [7], Nguyễn Nghĩa Thìn (2008) [36]) Ngoài ra dọc hai bên tuyến điều tra cũng đặt thêm các OTC phụ để thu thập số liệu bổ sung Trong các OTC, chúng tôi tiến hành xác định tên Việt Nam và tên khoa học các loài (các loài chưa biết tên thì thu thập mẫu về định loại), dạng sống và đo chiều cao của cây để xác định cấu trúc phân tầng của các trạng thái thảm thực vật
Độ che phủ là phần trăm (%) diện tích đất bị thảm thực vật che phủ
Đánh giá độ nhiều của cây thân thảo: Độ nhiều (độ dày rậm) là mức độ tham gia của 1 loài thực vật nào đó trong quần xã về số lượng các thể Người ta đã đưa ra nhiều loại thang thống kê độ nhiều khác nhau; trong luận văn này, chúng tôi sử dụng thang của Drude (theo Nguyễn Nghĩa Thìn, 2008 [36]) được trình bày ở bảng 2.1
Bảng 2.1 Kí hiệu độ nhiều (độ dày rậm) thảm tươi theo Drude
Soc Thực vật gần như khép tán có độ phủ trên 90% diện tích
Cop 3 Thực vật gặp rất nhiều có độ phủ là 90 - 70 % diện tích
Cop 2 Thực vật gặp nhiều có độ phủ là 70 - 50 % diện tích
Cop 1 Thực vật có khá nhiều có độ phủ 50 - 30 % diện tích
Sp Thực vật mọc rải rác phân tán có độ phủ 30 - 10 % diện tích
Sol Thực vật gặp rất ít có độ phủ < 10%
Gr Thực vật phân bố không đều, mọc từng nhóm
2.3.3 Phương pháp phân tích mẫu thực vật
- Xác định tên khoa học, tên Việt Nam của các loài cây theo các tài liệu của Bộ Nông nghiệp và PTNN (2000) [3], Phạm Hoàng Hộ (2003) [18], Danh lục các loài thực vật Việt Nam (2003, 2005) [2]
Trang 38- Xác định dạng sống theo Raunkiaer (1934) (dẫn theo Hoàng Chung, 2008 [7]) Theo cách phân loại này, dạng sống gồm các kiểu chính sau:
1 Chồi trên mặt đất (Phanerophytes), chồi tạo thành ở những cây này phải nằm trên độ cao nào đó (từ 25cm trở lên), thuộc vào nhóm này gồm các cây gỗ, cây bụi
2 Chồi mặt đất (Chamaetophytes), chồi hình thành ở độ cao không lớn so với mặt đất (dưới 25cm) Thuộc nhóm này có cây bụi nhỏ, cây nửa bụi,những cây dạng gối, rêu sống trên mặt đất
3 Cây chồi nửa ẩn (Hemicryptophytes), chồi được tạo thành nằm sát mặt đất, thuộc nhóm này gồm nhiều cây thảo sống lâu năm
4 Cây chồi ẩn (Crytophytes), chồi được hình thành nằm dưới đất, thuộc nhóm thực vật địa sinh (cây thân hành, thân củ, thân rễ) hoặc cây mọc từ đáy ao hồ
5 Cây một năm (Therophytes), trong mùa bất lợi nó tồn tại ở dạng hạt, thuộc nhóm cây một năm
- Xác định các loài cây quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng ở KVNC theo Sách Đỏ Việt Nam của Bộ Khoa học và Công nghệ, 2007 (phần thực vật) [32], Danh lục đỏ IUCN (2012) [50] và Nghị định 32/2006/NĐ-CP của Chính Phủ ban hành ngày 30 tháng 03 năm 2006 [8]
- Xác định các loài cây có giá trị sử dụng theo các tài liệu của Nguyễn Tiến Bân
và CS (2003, 2005) [2], Đỗ Tất Lợi (1995) [27], Trần Đình Lý (1995) [28] Giá trị sử dụng gồm các nhóm sau:
Trang 396 Cây dùng cho chăn nuôi: Tgs
7 Cây cho nhựa: Nh
8 Cây cho dầu béo: D
9 Cây có công dụng khác (có chất độc, nhuộm, sợi…): Kh
2.3.4 Phương pháp xác định các yếu tố địa lý cấu thành hệ thực vật
Đề tài đã xác định các yếu tố địa lý cấu thành hệ thực vật khu vực nghiên cứu theo Nguyễn Nghĩa Thìn (2008) [36], căn cứ vào tài liệu Danh lục các loài thực vật Việt Nam [2] Sau đó xây dựng phổ các yếu tố địa lý thực vật Các yếu tố địa lý gồm:
1 Yếu tố thế giới: gồm những taxon phân bố khắp nơi trên thế giới
2 Yếu tố liên nhiệt đới: gồm những taxon phân bố ở vùng nhiệt đới châu Á, châu
Úc, châu Phi và châu Mỹ
2.1 Nhiệt đới châu Á, châu Úc và châu Mỹ
2.2 Nhiệt đới châu Á, châu Phi và châu Mỹ
2.3 Nhiệt đới châu Á, châu Úc, châu Mỹ và các đảo Thái Bình Dương
3 Yếu tố cổ nhiệt đới: gồm những taxon phân bố ở vùng nhiệt đới châu Á, châu Úc,
châu Phi và các đảo lân cận
3.1 Nhiệt đới châu Á và châu Úc: gồm những taxon phân bố ở vùng nhiệt đới châu Á
tới châu Úc và các đảo lân cận Nó nằm cánh đông của Cổ nhiệt đới và mở rộng đến các đảo lân cận Ấn Độ nhưng không bao giờ tới lục địa châu Phi
3.2 Nhiệt đới châu Á và châu Phi: gồm những taxon phân bố ở vùng nhiệt đới
châu Á tới châu Úc và các đảo lân cận Đây là cánh Tây của vùng cổ nhiệt đới và
có thể mở rộng đến Phi-gi và các đảo nam Thái Bình Dương không bao giờ tới lục địa châu Úc
4 Nhiệt đới châu Á: gồm những taxon phân bố ở vùng nhiệt đới châu Á Kiểu này
được tách thành các kiểu phụ sau:
Trang 404.1 Đông Dương - Malêzi: gồm những taxon phân bố ở vùng nhiệt đới châu Á từ lục
địa Đông Nam Á đến Malaixia, Inđônễia, Philippin, Niu Ghinê và mở rộng tới Phi-gi
và các đảo Nam Thái Bình Dương nhưng không bao giờ tới châu Úc ở phía Nam (giống yếu tố 4, trừ Ấn Độ)
4.2 Đông Dương - Ấn Độ: gồm những taxon phân bố ở vùng nhiệt đới châu Á từ Ấn
Độ, Srilanca, Mianma, Thái Lan, Đông Dương và Tây Nam-Nam Trung Quốc không tới vùng Malêzi (giống yếu tố 4, trừ Malêzi)
4.3 Đông Dương - Hymalaya: (Lục địa Đông Nam Á))gồm những taxon phân bố ở
vùng nhiệt đới châu Á từ chân Hymalaya, Mianma, Thái Lan, Đông Dương và Tây Nam Trung Quốc, một số chúng có thể mở rộng đến bán đảo Malaixia ở phía Nam Đây là nhóm thực vật phân bố chủ yếu trên núi cao (giống yếu tố 4, trừ Malêzi và Ấn
Độ )
4.4 Đông Dương – Nam Trung Quốc: gồm những taxon phân bố ở Đông Dương và
Nam Trung Quốc, đặc biệt xung quanh biên giới Trung Quốc (chỉ có ở Nam Vân Nam, Quảng Tây, Quảng Đông, Đài Loan, Hải Nam)
4.5 Đông Dương: gồm những taxon phân bố ở trong phạm vi 3 nước Đông Dương và
đôi khi có thể gặp ở Thái Lan
5 Ôn đới Bắc: gồm những taxon phân bố ở phạm vi ôn đới châu Á, châu Âu, châu
Mỹ và có thể mở rộng tới vùng núi nhiệt đới; thậm chí là tới vùng ôn đới Nam bán cầu
5.1 Đông Á – Bắc Mỹ: gồm những taxon phân bố ở ôn đới châu Á và Bắc Mỹ, có thể
mở rộng tới vùng núi nhiệt đới
5.2 Ôn đới cổ thế giới: gồm những taxon phân bố ở vùng ôn châu Á, châu Âu và có
thể mở rộng tới vùng núi nhiệt đới châu Phi và châu Úc
5.3 Vùng ôn đới Địa Trung Hải-châu Âu-châu Á: gồm những taxon phân bố ở trong
vùng ôn đới quanh Địa Trung Hải, châu Âu, châu Á