1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trường trung học phổ thông trần can huyện điện biên đông, tỉnh điện biên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục

140 307 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 140
Dung lượng 1,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để đáp ứng yêu cầu của ngành nghề phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế đòi hỏi người lao động cần có trình độ cao, có chuyên môn vững vàng và tay

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các số liệu phân tích trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, trình bày theo đúng quy định Các kết quả nghiên cứu trong luận văn do tôi tự tìm hiểu, phân tích một cách trung thực, khách quan và phù hợp với tình hình thực tế nơi nghiên cứu Các kết quả nghiên cứu chưa được công bố trên bất kỳ nghiên cứu nào khác

Hà Nội, tháng 6 năm 2017

Tác giả

Trần Thị Hoa

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Sau thời gian học tập và nghiên cứu tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, được sự giúp đỡ và chỉ bảo tận tình của các thầy, cô giáo và sự nỗ lực của bản thân, tôi đã hoàn thành luận văn khoa học này

Tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc tới các thầy giáo, cô giáo, cán bộ Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tận tình giảng dạy, truyền đạt những kiến thức tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình học tập và nghiên cứu của mình

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc nhất tới

PGS TS Phạm Văn Sơn, người hướng dẫn khoa học, người thầy uyên bác,

đầy trách nhiệm, tận tâm đã giúp đỡ tôi trong việc định hướng nghiên cứu cũng như trong suốt quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu của mình

Tôi xin chân thành cảm ơn các cán bộ quản lý, các đồng chí giáo viên, các em học sinh và cha mẹ học sinh của Trường Trung học Phổ thông Trần Can đã ủng hộ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu của mình

Mặc dù đã nỗ lực hết mình trong học tập, nghiên cứu lý luận, khảo sát thực tiễn, nhưng chắc chắn tôi không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của các thầy giáo, cô giáo, các bạn đồng nghiệp

và tất cả những ai quan tâm đến đề tài này

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, tháng 6 năm 2017

Tác giả

Trần Thị Hoa

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN - I LỜI CẢM ƠN - II MỤC LỤC - A

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT - 1

Danh mục các bảng biểu - 2

Danh mục các bảng biểu - 3

Danh mục các sơ đồ - 3

PHẦN MỞ ĐẦU - 1

1 Lý do chọn đề tài - 1

2 Mục đích nghiên cứu - 4

3 Nhiệm vụ nghiên cứu - 4

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu - 4

5 Phạm vi nghiên cứu - 4

6 Phương pháp nghiên cứu - 5

6.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết - 5

6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn - 5

6.3 Phương pháp thống kê toán học - 5

7 Cấu trúc của luận văn - 5

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG - 6

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề - 6

1.1.1 Ở nước ngoài - 6

1.1.2 Ở Việt Nam - 9

1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài -13

Trang 4

1.2.1 Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường -13

1.2.2 Hướng nghiệp, giáo dục hướng nghiệp -15

1.2.2.1 Hướng nghiệp -15

1.2.2.2.Giáo dục hướng nghiệp -16

1.2.3 Quản lý giáo dục hướng nghiệp -17

1.3 Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT -19

1.3.1 Đặc điểm của học sinh THPT và học sinh THPT dân tộc ít người khu vực mền núi Tây Bắc -19

1.3.2 Sự cần thiết và ý nghĩa của GDHN cho học sinh THPT -21

1.3.2.1 Sự cần thiết của GDHN cho học sinh THPT -21

1.3.2.2 Ý nghĩa của GDHN -22

1.3.3 Nhiệm vụ của GDHN trong trường THPT -22

1.3.3.1 Định hướng nghề nghiệp -22

1.3.3.2 Tư vấn nghề nghiệp -23

1.3.3.3 Cung cấp thông tin về xu hướng nghề nghiệp và các các cơ sở đào tạo để học sinh lựa chọn ngành nghề -23

1.3.4 Các hình thức (con đường) GDHN cho học sinh THPT -23

1.4 Nội dung quản lý hoạt động GDHN cho học sinh THPT -25

1.4.1 Tổ chức tuyên truyền nâng cao nhận thức về GDHN -25

1.4.2 Xây dựng kế hoạch, đổi mới chương trình GDHN -25

1.4.2.1 Căn cứ để xây dựng kế hoạch -25

1.4.2.2 Nội dung kế hoạch -25

1.4.3 Tổ chức bồi dưỡng CBQL, GV, cán bộ tư vấn hướng nghiệp -27

1.4.3.1.Đội ngũ CBQL, GV, cán bộ tư vấn HN -27

1.4.3.2 Các điều kiện khác -27

1.4.4 Chỉ đạo tổ chức thực hiện hoạt động GDHN -28

1.4.5 Đầu tư, khai thác các nguồn lực phục vụ hoạt động GDHN -28

Trang 5

1.4.6 Phối hợp các lực lượng trong GDHN cho học sinh -29

1.4.7 Tăng cường kiểm tra đánh giá hoạt động GDHN -30

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động GDHN cho học sinh THPT -30

1.5.1 Các yếu tố khách quan -30

1.5.1.1 Đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước về GDHN -30

1.5.1.2 Yêu cầu của đổi mới GDHN cho học sinh THPT -31

1.5.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội -31

1.5.2 Các yếu tố chủ quan -31

1.5.2.1 Ý thức của cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh và cha mẹ học sinh -31

1.5.2.2 Sự phối hợp của các lực lượng tham gia hoạt động giáo dục hướng nghiệp -32

Kết luận chương 1 -32

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRẦN CAN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG -34

2.1 Khái quát về tình hình kinh tế - xã hội, tình hình giáo dục phổ thông của huyện Điện Biên Đông và của Trường THPT Trần Can -34

2.1.1 Khái quát về tình hình kinh tế - xã hội, giáo dục phổ thông huyện Điện Biên Đông -34

2.1.1.1 Vị trí địa lý, dân số huyện Điện Biên Đông -34

2.1.1.2 Tình hình kinh tế, chính trị -35

2.1.1.3 Tình hình văn hoá-xã hội -35

2.1.2 Sơ lược về trường THPT Trần Can huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên -36

2.1.2.1 Về quy mô trường, lớp -36

2.1.2.2 Chất lượng giáo dục -36

Trang 6

2.1.2.3 Cơ sở vật chất -38

2.1.2.4 Đội ngũ giáo viên -38

2.1.2.5 Đánh giá chung -39

2.2 Tổ chức khảo sát thực trạng hoạt động GDHN cho học sinh trường THPT Trần Can huyện Điện Biên Đông -40

2.2.1 Nhận thức của học sinh, GV,CBQL, PHHS trong nhà trường về GDHN -41

2.2.1.1 Nhận thức của học sinh về GDHN -41

2.2.1.2 Nhận thức của giáo viên và cán bộ quản lý về GDHN -44

2.2.1.3 Nhận thức của phụ huynh học sinh về GDHN -45

2.2.2 Nhu cầu GDHN - học nghề của học sinh -45

2.2.3 Trình độ, năng lực của đội ngũ CBQL,GV và cán bộ tư vấn về tổ chức hoạt động GDHN -46

2.2.4 Nội dung chương trình, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động GDHN -46

2.2.4.1 Phương pháp giáo dục hướng nghiệp -48

2.2.4.2 Các hình thức giáo dục hướng nghiệp -50

2.2.5 Cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ cho hoạt động GDHN -52

2.2.6 Kết quả hoạt động GDHN cho học sinh trong các năm học -52

2.2.7 Đánh giá chung về thuận lợi, khó khăn trong tổ chức hoạt động GDHN cho HS -53

2.3 Thực trạng quản lý hoạt động GDHN cho học sinh Trường trung học phổ thông Trần Can -53

2.3.1 Quản lý công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức về GDHN -53

2.3.2 Xây dựng kế hoạch hoạt động GDHN cho học sinh -54

2.3.2.1 Quản lý việc thực hiện mục tiêu HĐ GDHN -54

2.3.2.2 Quản lý việc thực hiện chương trình, kế hoạch HĐGDHN -54

2.3.2.3 Quản lý việc thực hiện nội dung HĐ GDHN -55

Trang 7

2.3.3 Chỉ đạo tổ chức thực hiện hoạt động GDHN cho học sinh -57

2.3.4 Quản lý đầu tư và khai thác các nguồn lực phục vụ GDHN -58

2.3.5 Bồi dưỡng GV, cán bộ tư vấn về tổ chức hoạt động GDHN -60

2.3.6 Quản lý phối hợp các lực lượng tham gia hoạt động GDHN cho học sinh -61

2.3.7 Kiểm tra, đánh giá hoạt động GDHN cho học sinh -62

2.4 Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động GDHN cho học sinh Trường THPT Trần Can huyện Điện Biên Đông -63

2.4.1 Ưu điểm -63

2.4.2 Hạn chế -64

2.4.3 Nguyên nhân của hạn chế -65

2.4.3.1 Nguyên nhân khách quan -65

2.4.3.2 Nguyên nhân chủ quan -65

Kết luận chương 2 -66

CHƯƠNG 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRẦN CAN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG -67

3.1 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp -67

3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu -67

3.1.2 Nguyên tắc phải đảm bảo tính pháp lý -67

3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa và toàn diện -68

3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi và hiệu quả -68

3.2 Các biện pháp quản lý hoạt động GDHN cho học sinh Trường THPT Trần Can huyện Điện Biên Đông -69

3.2.1 Chỉ đạo việc tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức về GDHN cho các lực lượng và cho học sinh -69

3.2.1.1 Mục đích biện pháp -69

3.2.1.2 Nội dung của biện pháp -69

Trang 8

2.3.1.3 Tổ chức thực hiện -71

3.2.1.4 Điều kiện thực hiện biện pháp -72

3.2.2 Chỉ đạo việc xây dựng kế hoạch hoạt động và đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động GDHN -73

3.2.2.1 Mục đích biện pháp -73

3.2.2.2 Nội dung biện pháp -73

3.2.2.3 Tổ chức thực hiện biện pháp -80

3.2.2.4 Điều kiện thực hiện biện pháp -81

3.2.3 Tổ chức bồi dưỡng năng lực chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm về GDHN cho CBQL, GV, cán bộ tư vấn -82

3.2.3.1 Mục đích biện pháp -82

3.2.3.2 Nội dung biện pháp -82

3.2.3.3 Tổ chức thực hiện biện pháp -84

3.2.3.4 Điều kiện thực hiện biện pháp -85

3.2.4 Quản lý đầu tư, khai thác hiệu quả cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ GDHN -85

3.2.4.1 Mục đích biện pháp -85

3.2.4.2 Nội dung biện pháp -86

3.2.4.3 Tổ chức thực hiện biện pháp -87

3.2.4.4 Điều kiện thực hiện biện pháp -88

3.2.5 Tăng cường sự phối hợp các lực lượng tham gia hoạt động GDHN cho học sinh -88

3.2.5.1 Mục đích biện pháp -88

3.2.5.2 Nội dung biện pháp -89

3.2.5.3 Tổ chức thực hiện biện pháp -90

3.2.5.4 Điều kiện thực hiện biện pháp -91

3.2.6 Thường xuyên kiểm tra đánh giá kết quả hoạt động GDHN cho học sinh -91

Trang 9

3.2.6.1 Mục đích biện pháp -91

3.2.6.2 Nội dung biện pháp -92

3.2.6.3 Cách thực hiện biện pháp -92

3.2.6.4 Điều kiện thực hiện biện pháp -93

3.2.7 Tăng cường trách nhiệm quản lý của Hiệu trưởng về hoạt động GDHN -93

3.2.7.1 Mục đích biện pháp -93

3.2.7.2 Nội dung biện pháp -94

3.2.7.3 Cách thức thực hiện biện pháp -94

3.2.7.4 Điều kiện thực hiện biện pháp -96

3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp -96

3.4 Khảo nghiệm sự cần thiết và tính khả thi của biện pháp đề xuất 97

3.4.1 Mục đích khảo sát -97

3.4.2.Đối tượng khảo sá: 40 người, trong đó: -97

3.4.3 Nội dung khảo sát -97

3.4.4 Phương pháp khảo sát -97

3.4.5 Khảo sát -98

Kết luận chương 3 - 104

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ - 105

1 Kết luận - 105

2 Khuyến nghị - 106

2.1 Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo - 106

2.2 Đối với Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Điện Biên - 107

2.3 Đối với Trường THPT Trần Can, huyện Điện Biên Đông - 107

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO - 109

Trang 10

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 11

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ

Danh mục các bảng biểu

Bảng 2.1 Quy mô giáo dục giai đoạn 2011-2016 của nhà trường 36

Bảng 2.2 Thống kê xếp loại hạnh kiểm học sinh nhà trường giai đoạn 2011-2016 36

Bảng 2.3 Thống kê xếp loại học lực học sinh nhà trường giai đoạn 2011-2016 37

Bảng 2.4 Kết quả học sinh đi học Đại học, Cao đẳng, TCCN HS lớp 12 38

Bảng 2.5 Sự phát triển số lượng giáo viên của nhà trường giai đoạn 2011-2016 39

Bảng 2.6 Nhận thức của học sinh về tầm quan trọng của GDHN 42

Bảng 2.7 Sự đánh giá của GV, HS về hiểu biết về nghề học sinh định lựa chọn 43

Bảng 2.8 Nhận thức của CBQL, GV về vai trò và tầm quan trọng cảu GDHN trong trường THPT 44

Bảng 2.9 Tầm quan trọng của gia định và nhà trường trong GDHN cho học sinh 45

Bảng 2.10 Mức độ ảnh hưởng của chương trình GDHN thông qua các môn học và các chủ đề GDHN đến việc chọn nghề của HS 47

Bảng 2.11 Mức độ sử dụng các phương pháp GDHN 49

Bảng 2.12 Mức độ sử dụng các hình thức GDHN 51

Bảng 2.13 Các điều kiện phục vụ cho công tác GDHN 59

Bảng 2.14 Đánh giá sự phối hợp các lực lượng tham gia HĐGDHN 61

Bảng 3.1 Kết quả khảo sát về mức độ cần thiết của các biện pháp quản lý HDGDHN 98

Trang 12

Bảng 3.2 Kết quả khảo sát tính khả thi của các biện pháp quản lý HĐGDHN 99 Bảng 3.3 Sự tương quan giữa mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý HĐGDHN 101

Danh mục các bảng biểu

Biểu đồ 3.1 Biểu đồ đánh giá mức độ rất cần thiết và rất khả thi của các biện pháp 102

Danh mục các sơ đồ

Sơ đồ 1.1 Chức năng cơ bản của quản lý 14

Sơ đồ 1.2 Các thành tố của quản lý giáo dục hướng nghiệp 18

Sơ đồ 1.3 Hệ thống các lực lượng phối hợp trong công tác GDHN 29

Trang 13

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Chọn nghề là chọn cuộc đời, chọn tương lai Cuộc đời con người có ý nghĩa chính là bằng lao động của mình đem lại lợi ích cho bản thân và cho xã hội Vì vậy, việc chọn nghề của mỗi người là rất quan trọng, nếu lựa chọn nghề phù hợp thì công việc tương lai sẽ là niềm vui, hạnh phúc, sự thỏa mãn, nguồn cảm hứng và sáng tạo, ngược lại nếu chọn nghề sai sẽ làm cho con người chán nản, buồn phiền, không yên tâm công tác, muốn đổi nghề thậm chí bỏ nghề, không muốn học hỏi thêm để nâng cao trình độ chuyên môn và phát triển kỹ năng thì năng xuất lao động sẽ thấp, gây thiệt hại lớn cho bản thân, gia đình và xã hội

Câu hỏi đặt ra là làm thế nào để chọn nghề đúng, nhất là trong bối cảnh hiện nay khi mà thế giới nghề nghiệp vô cùng đa dạng, khó dự đoán, phức tạp gây khó khăn cho bản thân học sinh khi lựa chọn nghề nghiệp Để đáp ứng yêu cầu của ngành nghề phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế đòi hỏi người lao động cần có trình độ cao, có chuyên môn vững vàng và tay nghề cao, vì vậy GDHN cho học sinh trong nhà trường là vô cùng quan trọng nhằm giúp học sinh biết lựa chọn nghề phù hợp với hứng thú, năng lực sở trường của bản thân, phù hợp với thị trường lao động và nhu cầu nhân lực theo yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội của địa phương, đất nước Hoạt động GDHN trong nhà trường phổ thông giúp học sinh hiểu được những kỹ năng tối thiểu và có những kiến thức nhất định về nghề để sau khi ra trường các em có đủ tâm thế sẵn sàng tham gia vào mọi

hoạt động lao động xã hội trong nước, thị trường lao động khu vực và quốc tế

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng chỉ rõ: “…Coi trọng công tác hướng nghiệp và phân luồng học sinh trung học, chuẩn bị cho

Trang 14

thanh thiếu niên đi vào lao động nghề nghiệp phù hợp với chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong cả nước và từng địa phương…” [35] Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh cũng được khẳng định trong nhiều văn bản và nghị quyết của Đảng, Nhà nước về giáo dục và đào tạo như Luật Giáo dục năm 2005, Quyết định 126/CP ngày 19/3/1981 của Chính phủ, Nghị quyết 40/2000/QH 10 của Quốc hội khóa X, Chiến lược Phát triển giáo dục giai đoạn 2011-2020, Chỉ thị

số 33/CT-BGD&ĐT ngày 23/7/2003 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Nghị định số 75/2006/NĐ-CP ngày 02/8/2006 của Chính phủ

Từ năm học 2006-2007 hoạt động GDHN được chính thức đưa vào chương trình và kế hoạch giáo dục phổ thông với thời lượng ngắn nhưng cũng giúp học sinh bước đầu nắm được những kỹ năng tối thiểu về nghề, biết cách chọn nghề nghiệp phù hợp với hứng thú, năng lực của bản thân, đồng thời phù hợp với nhu cầu nhân lực và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, đất nước Tuy nhiên, chất lượng và hiệu quả hoạt động GDHN của các nhà trường trong thời gian qua còn thấp, chưa đáp ứng yêu cầu của xã hội hiện nay thể hiện ở một số nguyên nhân sau:

- CBQL, GV, NV và HS chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của GDHN; Do nhận thức chưa đầy đủ vai trò, vị trí của GDHN cho học sinh trong quá trình dạy học nên quản lý hoạt động GDHN còn chưa chặt chẽ, các cấp quản lý chưa có sự quan tâm và đầu tư đúng mức cho hoạt động GDHN cho học sinh Tổ chức kiểm tra đánh giá GDHN còn mang tính hình thức Giáo viên giảng dạy hoạt động GDHN chủ yếu là kiêm nhiệm, giáo viên ít được được tập huấn, bồi dưỡng về kiến thức và kỹ năng GDHN, phần lớn GV

tự nghiên cứu tài liệu nên dẫn đến tình trạng nhiều giáo viên thiếu hiểu biết sâu về kiến thức và kỹ năng GDHN; CSVC không đáp ứng được yêu cầu môn học, không có phòng hướng nghiệp tư vấn học đường, trang thiết bị phục vụ hoạt động GDHN còn thiếu, nghèo nàn, lạc hậu, thiếu sách, tư liệu, tài liệu ít

Trang 15

được cập nhật và không phù hợp với điều kiện thực tế Công tác dạy NPT chưa bám sát nhu cầu và xu hướng phát triển các ngành nghề các địa phương đang cần để chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; các trường THPT chưa xây dựng được mối liên kết với các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, trường dạy nghề và các doanh nghiệp để hướng nghiệp cho học sinh

- Trường THPT Trần Can nằm trên địa bàn huyện miền núi tỉnh Điện Biên, vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, là một trong 62 huyện nghèo nhất cả nước, mặt bằng dân trí thấp, thiếu sách báo, truyền hình, internet nên dân cư rất khó khăn trong việc cập nhật thông tin, trau dồi học vấn Hầu hết học sinh trung học không quan tâm đến việc chọn nghề nghiệp cho tương lai Học sinh thường chọn nghề một cách ngẫu nhiên, theo cảm tính, theo phong trào hoặc dựa dẫm vào ý kiến của người khác, không có hiểu biết cần thiết về nghề mà mình định lựa chọn, do đó gặp nhiều khó khăn trong việc học nghề, ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo Hậu quả là sau khi vào các trường đào tạo nhiều học sinh, sinh viên cảm thấy chán nghề, đổi nghề trong quá trình đào tạo, thậm chí có một số học sinh, sinh viên bỏ nghề do không đủ khả năng khả năng, khó khăn về kinh tế, làm ảnh hưởng tới kế hoạch phát triển nguồn nhân lực của địa phương, đất nước Tình hình này đã gây lãng phí tiền, vật chất, thời gian không chỉ của cá nhân, gia đình mà còn của nhà nước Số học sinh tốt nghiệp THPT không tiếp tục thi vào học các trường đại học, cao đẳng ở lại địa phương tham gia sản xuất, kinh doanh vì thiếu kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp nên không có tay nghề khó tìm được việc, khó vươn lên tự lập và tạo việc làm cho bản thân, cho quê hương đất nước

Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài “Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh Trường Trung học phổ thông Trần Can

Trang 16

huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục ”

làm đề tài nghiên cứu

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng quản lý hoạt động GDHN cho học sinh THPT, tác giả đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động GDHN

cho học sinh Trường THPT Trần Can huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên

đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Xác định cơ sở lý luận về quản lý hoạt động GDHN cho học sinh trung học phổ thông

- Điều tra, khảo sát làm rõ thực trạng quản lý hoạt động GDHN cho học sinh Trường THPT Trần Can huyện Điện Biên Đông

- Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động GDHN cho học sinh Trường THPT Trần Can huyện Điện Biên Đông

4 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu

4.1 Khách thể nghiên cứu: Hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT

4.2 Đối tượng nghiên cứu: Quản lý hoạt động GDHN cho học sinh trường THPT Trần Can huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên

Trang 17

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

- Hệ thống hóa chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về công tác GDHN và dạy nghề

- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về quản lý GDHN ở trường THPT

6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Khảo sát, điều tra (thông qua bảng hỏi, qua các số liệu thống kê); phương pháp tổng kết kinh nghiệm, phương pháp kiến chuyên gia, phỏng vấn sâu, phương pháp khảo nghiệm

6.3 Phương pháp thống kê toán học

Sử dụng phương pháp thống kế toán và một số phần mềm để sử lý các số liệu bảng thu thập trong quá trình khảo sát

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ

lục, nội dung của luận văn được cấu trúc làm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp

cho học sinh trung học phổ thông

Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho

học sinh Trường trung học phổ thông Trần Can huyện Điện Biên Đông

Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho

học sinh Trường trung học phổ thông Trần Can huyện Điện Biên Đông

Trang 18

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Ở nước ngoài

Vào những năm cuối của thế kỷ XX, các nước châu Âu (Pháp, Đức, Ba lan), châu Á (Nhật Bản, Australia) và Liên bang Nga đã đặc biệt quan tâm đến việc dạy môn Kỹ thuật, Công nghệ, Giáo dục Hướng nghiệp cho học sinh, nhằm giúp cho HS, SV có sự chọn lựa NN phù hợp với năng lực, thể lực, trí tuệ, hứng thú cá nhân và yêu cầu kinh tế của đất nước

Trên thế giới đã có nhiều tác giả với nhiều công trình nghiên cứu về hướng nghiệp, thế kỷ XIX (năm 1848), những người làm công tác HN ở Pháp

đã xuất bản cuốn sách: “Hướng nghiệp chọn nghề” với nội dung cuốn sách đề

cập tới vấn đề phát triển đa dạng của nghề nghiệp do sự phát triển của nền công nghiệp Cuốn sách nhằm giúp đỡ thanh thiếu niên, học sinh trong việc lựa chọn NN để sử dụng có hiệu quả lực lượng lao động trẻ

- Ở Liên bang Nga (Liên Xô cũ), nghiên cứu HN còn gắn với tên tuổi của nhiều tác giả như: V.P Gribanov, V.A Kruchetxki, V.N Supkin, .Các nghiên cứu tập trung vào hứng thú sáng tạo NN, động cơ chọn nghề và các giá trị về nghề nghiệp mà HS quan tâm Đảm bảo quyền lựa chọn nghề theo đúng năng lực, sở trường của HS

- Ở Nhật Bản, trong những năm qua, nhiều cuộc cải cách GD đã được tiến hành với mục đích đảm bảo cho GDPT đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế của đất nước Hệ thống giáo dục kĩ thuật nghề nghiệp phục vụ trực tiếp cho yêu cầu phát triển nguồn nhân lực kĩ thuật nghề nghiệp Nhật Bản đã thành công trong việc đào tạo được một đội ngũ công nhân có trình độ cao, năng lực

Trang 19

lao động đồng đều phù hợp với cơ cấu tổ chức sản xuất quy mô lớn được phân công hóa, chuyên môn hóa, tiêu chuẩn hóa cao của hệ thống sản xuất xã hội công nghiệp Các loại hình nhà trường và hình thức đào tạo nghề đa dạng Trong đó có nhiều biện pháp đã được áp dụng để nâng cao trình độ đào tạo về

HN và khoa học tự nhiên trong các trường phổ thông

- Ở Trung Quốc: Chính phủ tiến hành cải cách cơ cấu giáo dục vào cuối những năm 1980: Hội nghị quốc gia về giáo dục năm 1985 đã tạo tiền đề cho những cải cách mạnh mẽ của giáo dục trung học diễn ra sau đó Cuộc cải cách kêu gọi hướng nghiệp hóa giáo dục THPT, với mục tiêu là dần dần giáo dục trung học sẽ thay đổi từ việc chủ đạo về giáo dục phổ thông chuyển sang kết hợp cân bằng giữa giáo dục phổ thông và giáo dục kĩ thuật, hướng nghiệp Cải cách kinh tế Trung Quốc nhấn mạnh tính hiệu quả trong sản xuất, trong khi đó học sinh tốt nghiệp phổ thông cho thấy không được chuẩn bị đầy đủ về kĩ năng nghề cho môi trường làm việc Các nhà hoạch định chính sách giáo dục Trung Quốc tin rằng giáo dục kĩ thuật HN sẽ tốt hơn GDPT trong việc đào tạo

kĩ thuật cho giới trẻ để làm việc trong các ngành công nghiệp sau khi ra trường Việc hướng nghiệp hóa giáo dục trung học sẽ đem lại kết quả trong việc tăng sức sản xuất đối với những người tốt nghiệp trung học và vì thế tăng hiệu quả đối với các đầu tư cho giáo dục Như vậy trong GD&ĐT Trung Quốc đã và đang thực hiện việc phân luồng HS sau THCS

Tại nước Mỹ: Chính phủ lấy trường trung học tổng hợp (comprahensive high school) làm chủ thể giáo dục trung học Trường trung học phổ thông tổng hợp có chức năng cung cấp cả kiến thức văn hóa THPT và cả kiến thức,

kỹ năng nghề nghiệp, thể hiện ở cấu trúc chương trình đào tạo theo các môn học bắt buộc và tự chọn Giáo dục nghề nghiệp được đưa vào chương trình đào tạo ngay từ năm lớp 5, lớp 6, và được tiến hành cho tới lớp 12

Trang 20

- Ở các nước Châu Âu xu thế cải cách các trường học cuối thế kỷ XX gắn với hướng nghiệp và đào tạo nghề Các nước châu Âu lần lượt tiến hành cải cách giáo dục từ cấu trúc chương trình đến tổ chức nội dung, phương pháp giáo dục và giảng dạy nhằm đáp ứng các yêu cầu phát triển nghề nghiệp của

xã hội công nghiệp, công nghệ thông tin, kinh tế Một số cải cải của nhà trường gắn với vấn đề giáo dục nghề và hướng nghiệp tại trường phổ thông Ở Đức, định hướng cải cách của nhà trường Đức đã đặt ra nhiệm vụ GDPT trong các nhà trường phải giữ được những truyền thống tốt đẹp đồng thời phải xem xét lại mục tiêu và nhiệm vụ để hiện đại hóa nền GD Đức theo hướng: chuyển từ nhà trường truyền thống với 3 loại hình sang 2 loại hình; giảm thời lượng học tập của trường Ghim-na-zi (THCS) nhưng vẫn đảm bảo trình độ cao về GDPT; xác lập mối quan hệ chặt chẽ giữa giáo dục phổ thông và giáo dục nghề nghiệp; tạo điều kiện cho học sinh có thể học nghề ngay khi đang học phổ thông, cung cấp hệ thống kiến thức khoa học gắn với đào tạo nghề một cách linh hoạt Sử dụng nguồn lực chính của nhà trường, sự sáng tạo của

GV và sự đổi mới nhằm làm cho nhà trường được tự chủ nhiều hơn trong QL

- Theo UNESCO, HN là một quá trình cung cấp cho người học những thông tin để nhận biết về năng lực và sở thích của bản thân, về thị trường lao động nhằm mục đích định hướng cho người học có quyết định đúng trong việc lựa chọn nghề Trong khuyến cáo về GD thế kỷ XXI, UNESCO xác định

“học để làm việc” là một trong 4 trụ cột mà các nền GD phải hướng tới Về

GDHN, quan điểm của UNESCO cũng cho rằng GDPT là giai đoạn mà thế hệ trẻ lựa chọn cho mình con đường bước vào cuộc sống lao động thực sự HN giúp cho HS lựa chọn cho mình một trong nhiều con đường khác nhau, giúp thế hệ trẻ có cơ hội học tập, tiếp cận đúng NN phù hợp năng lực, sở trường của

cá nhân, tránh lãng phí cho bản thân, gia đình, xã hội

Tóm lại: Ở các nước trên thế giới đã chú trọng những nghiên cứu cả về

Trang 21

lý luận và thực tiễn về GDHN, giúp cho thế hệ trẻ hướng nghiệp theo đúng xu thế phát triển nghề nghiệp trong thời kỳ hội nhập khu vực và quốc tế, thúc đẩy

sự phát triển kinh tế của đất nước

1.1.2 Ở Việt Nam

HN cũng mang ý nghĩa lịch sử sâu sắc, phù hợp với từng thời kỳ phát triển kinh tế- xã hội của đất nước Ngày 19/3/1981, Hội đồng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 126/CP về công tác HN trong trường phổ thông và việc sử dụng học sinh các cấp THCS và THPT tốt nghiệp ra trường Quyết định đã chỉ ra công tác HN trong trường phổ thông được tiến hành thông qua bốn hình thức: qua dạy học các môn văn hóa, qua dạy học môn Kỹ thuật, nghề phổ thông và hoạt động lao động sản xuất, qua các buổi sinh hoạt hướng nghiệp, qua các hoạt động ngoại khóa trong và ngoài nhà trường Mục tiêu chung là giúp học sinh định hướng chọn nghề phù hợp với hứng thú, năng lực bản thân hoàn cảnh gia đình và đồng thời đáp ứng được nhu cầu nhân lực của đất nước Tuy nhiên đến cuối thập kỷ 80 do khủng hoảng kinh tế, lạm phát tiền bạc, đời sống người lao động bấp bênh, một số nghề thu nhập quá thấp người dân không muốn con em mình theo học nghề mà chạy đua vào các trường Đại học, Cao đẳng dẫn đến tình trạng “ thừa thầy, thiếu thợ” Xu thế tách rời học với hành, giáo dục với lao động sản xuất tăng lên Công tác HN trong các nhà trường dần dần bị coi nhẹ, việc học NPT ít được quan tâm

Từ Đại hội lần thứ VIII (1996) đến Đại hội lần thứ IX (2001) Đảng và Chính phủ luôn nhấn mạnh đến tăng cường công tác HN, đẩy mạnh dạy nghề, song tình hình HN, dạy NPT ở các trường không tiến triển là bao Để chuẩn bị nguồn nhân lực cho sự nghiệp CNH- HĐH đất nước và hội nhập quốc tế Đảng ta thấy rằng công tác HN đặt ra trong Quyết định 126/CP chỉ đáp ứng cho sự phát triển hệ thống nghề trong nền kinh tế tập trung theo cơ chế bao

Trang 22

cấp đã trở nên xa lạ với kinh tế hàng hóa theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Vì vậy, cần đặt lại công tác HN, dạy NPT sao cho phù hợp với nền kinh tế thị trường Việt Nam, gắn việc chọn nghề của thanh niên với việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động của từng địa phương và cả nước Thực hiện nghị quyết lần thứ IX của Đảng, Nghị quyết 40/2000/QH10, ngày 9/12/2000 của Quốc hội khóa 10 và chỉ thi 14/ 2001/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về đổi mới giáo dục phổ thông, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Chỉ thị số 33/2003 về việc tăng cường GDHN cho học sinh phổ thông Để khuyến khích học sinh học nghề, hướng nghiệp, ngoài việc tuyên truyền, nâng cao nhận thức bằng nhiều hình thức khác nhau, Bộ GD& ĐT đã thực hiện chính sách ưu tiên khi xét tốt nghiệp THPT (từ 1-2đ; Loại giỏi: 2đ, loại khá: 1,5 đ; loại TB: 1 đ) Tuy nhiên, hoạt động dạy NPT ở các trường THCS, THPT gặp nhiều khó khăn do thiếu giáo viên đúng chuyên ngành, GV ít được tham gia tập huấn về lĩnh vực GDHN, CSVC chưa đầy đủ, tài liệu, tư liệu ít Phần lớn các cấp Ủy Đảng chính quyền địa phương chưa làm tốt công tác xã hội hóa hoạt động giáo dục hướng nghiệp, một số người chưa hiểu rõ về công tác HN, dạy NPT trong các nhà trường phổ thông

HĐGDHN đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa vào chương trình giáo dục phổ thông theo Quyết định số 16/2006/QĐ-BGD ngày 5/6/2006 được triển khai đại trà từ năm học 2006-2007 Với mục đích giúp học sinh tìm hiểu thế giới nghề nghiệp, biết cách tìm kiếm thông tin nghề và cơ sở đào tạo cần thiết cho bản thân; biết cách tự đánh giá năng lực bản thân, điều kiện gia đình

và nhu cầu nhân lực của xã hội để định hướng học tập và chọn nghề tương lai cho phù hợp

- Các tác giả Nguyễn Văn Hộ, Phạm Tất Dong, Đặng Danh Ánh, Nguyễn Văn Lê, Hà Thế Truyền, Phạm Văn Sơn trong các công trình nghiên cứu về công tác HN đã tập trung vào những vấn đề như:

Trang 23

+ Vấn đề lịch sử phát triển công tác GDHN ở các nước trên thế giới và

ở Việt Nam

+ Bản chất khoa học của công tác HN

+ Mục đích, nhiệm vụ, vai trò của công tác HN

+ Nội dung cơ bản và các hình thức HN

+ Vấn đề tổ chức và quản lý công tác HN

- Tác giả Phạm Minh Hạc đã chỉ ra rằng muốn có được nguồn nhân lực phù hợp với cơ cấu đào tạo thì phải: "Chú trọng GDHN thiết thực cho HSPT, giúp các em chọn nghề phù hợp với sở trường, trình độ, nhu cầu phát triển của bản thân và yêu cầu phát triển đất nước", [18]

- Tác giả Đặng Danh Ánh đã đề cập đến quan điểm mới về GDHN, coi

HN là loại hoạt động của nhiều cơ quan khác nhau nhằm giúp cho con người chọn nghề phù hợp với nhu cầu của xã hội và nguyện vọng, sở trường của cá nhân, [1]

- Tác giả Nguyễn Toàn đã nêu mục tiêu của công tác HN là: "HS phải

được trang bị một cách hệ thống những hiểu biết và kỹ năng lao động cần thiết để lựa chọn NN, để làm được những NPT, những nghề phổ biến ở địa phương hoặc tiếp tục học nghề một cách thuận lợi, thích nghi nhanh chóng với những thay đổi về việc làm", [30]

- Tác giả Nguyễn Văn Hộ đã đề cập vấn đề: “Thiết lập và phát triển hệ

thống HN cho HS Việt Nam”, nhằm thúc đẩy công tác chỉ đạo, QL GDHN

trong trường phổ thông, [19]

Các tác giả Nguyễn Văn Lê, Hà Thế Truyền trong các công trình nghiên cứu của mình đề cập đến thực trạng và giải pháp đẩy mạnh hoạt động hướng nghiệp và dạy nghề phổ thông cho học sinh ở các trường THCS, THPT và

Trang 24

kinh nghiệm tổ chức giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT của một số nước trên thế giới

Tác giả Phạm Văn Sơn với nhiều công trình nghiên cứu về GDHN như như bài: Hướng nghiệp, phân luồng cho học sinh sau trung học trong thời kỳ đổi mới và hội nhập đăng trên Kỷ yếu hội thảo khoa học: Hướng nghiệp và phân luồng vào học nghề do Viện KHDN Bộ Lao động TB- XH phối hợp với

Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức tháng 11/2013; về đội ngũ giáo viên hướng nghiệp hiện nay tác giả có bài: Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên hướng nghiệp đăng trên Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia của Trường Đại học sư phạm Hà Nội năm 2011, tác giả chỉ rõ tình trạng GV hướng nghiệp hiện nay vừa thiếu, vừa yếu và đề xuất biện pháp khắc phục Trong bối cảnh hiện nay cần phải có cách nhìn mới về GDHN tác giả đã có bài đăng trên Tạp chí Quản

lý giáo dục với tiêu đề: Tiếp cận quan điểm mới trong giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông trung học đăng trên Tạp chí Thiết bị giáo dục số 81 năm 2012

Hầu hết các công trình nghiên cứu của các tác giả đều tập trung vào nghiên cứu cơ sở lý luận về GDHN, kinh nghiệm quốc tế về GDHN, những

cơ sở khoa học về việc lựa chọn nghề phù hợp cũng như phương pháp tổ chức GDHN ở các trường phổ thông, về GDHN gắn với phát triển nguồn nhân lực Bên cạnh đó cũng có rất nhiều luận án tiến sỹ, luận văn thạc sỹ nghiên cứu về nhiều vấn đề khác nhau của GDHN và quản lý GDHN ở các trường phổ thông tại nhiều vùng miền Tuy nhiên, các công trình đề cập sâu đến các hoạt động quản lý của các nhà trường về công tác hướng nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả trong việc hướng nghiệp cho HS vùng cao có nhiều học sinh dân tộc thiểu số, vùng đặc biệt khó khăn thì còn ít Hơn nữa, chưa có tài liệu nào đề cập cụ thể đến hoạt động GDHN tại trường THPT Trần Can huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên Đề tài này tiếp thu những dữ liệu nghiên cứu đã có và đồng thời

Trang 25

xác lập cho mình hướng nghiên cứu mới mang tính hệ thống dựa trên cơ sở khoa học

1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài

1.2.1 Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường

Quản lý, thuật ngữ “Quản lý” (tiếng Việt gốc Hán) gồm hai quá trình

tích hợp vào nhau: Quá trình “quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái “ổn định”; quá trình “lý” gồm sửa sang, sắp xếp, đổi mới hệ, đưa hệ vào thế “phát triển” Nếu chỉ “quản” thì tổ chức dễ trì trệ, nếu chỉ “lý” thì phát triển không bền vững Do đó trong “quản” phải có “lý” và ngược lại, nhằm duy trì cho hệ ở thế cân bằng động, vận động phù hợp, thích ứng và có hiệu quả trong môi trường tương tác giữa các nhân tố bên trong và các nhân tố bên ngoài

Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý là những tác động của chủ thể quản

lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất”

[21]

Từ những định nghĩa trên ta có những nhận xét sau:

- Quản lý chỉ nảy sinh khi có tổ chức: Tổ chức là nền của quản lý

- Cốt lõi của quản lý là những tác động có ý thức (có mục đích, có định hướng, có nguyên tắc) của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý Điều đó chính xác là được xem người quản lý phải làm gì? Về cơ bản quản lý có bốn chức năng: Kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra

- Thông tin là nội dung rất cần cho quản lý Không có thông tin không thể tiến hành quản lý

Trang 26

Sơ đồ 1.1 Chức năng cơ bản của quản lý

Quản lý giáo dục, là quá trình tác động có kế hoạch, có tổ chức của các

cơ quan QLGD các cấp tới các thành tố của quá trình dạy học- giáo dục nhằm làm cho hệ giáo dục vận hành có hiệu quả và đạt tới mục tiêu giáo dục nhà nước đề ra

Các nhà quản lý giáo dục thực tiễn còn quan niệm: Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội Ngày nay, với sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà còn rộng ra cho mọi người; tuy nhiên trọng tâm vẫn là giáo dục thế hệ trẻ cho nên quản lý giáo dục được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân, các trường trong hệ thống giáo dục quốc dân

Quản lý nhà trường, Nhà trường là một dạng thiết chế tổ chức chuyên

biệt và đặc thù của xã hội, được hình thành do nhu cầu tất yếu khách quan của

xã hội nhằm thực hiện chức năng truyền thụ các kinh nghiệm xã hội cần thiết cho từng nhóm dân cư nhất định trong cộng đồng và xã hội

Trang 27

Trong quản lý nhà trường Hiệu trưởng phải là người có tầm nhìn dự báo, quy hoạch, kế hoạch hóa sự phát triển của nhà trường, biết cụ thể hóa những chiến lược chính sách vào tình hình thực tế, đề ra được quyết sách hợp lý cho

sự phát triển của nhà trường

1.2.2 Hướng nghiệp, giáo dục hướng nghiệp

1.2.2.1 Hướng nghiệp

HN là một khái niệm được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, mỗi người nghiên cứu dưới một góc độ riêng nhằm đạt được những mục đích khác nhau

Do vậy, có rất nhiều cách hiểu khác nhau về "Hướng nghiệp" cụ thể:

Theo từ điển Tiếng Việt: “HN là thi hành những biện pháp nhằm đảm

bảo sự phân bố tối ưu (có chú ý tới năng khiếu, năng lực, thể lực) nội dung theo ngành và loại lao động giúp đỡ hợp lý lựa chọn ngành nghề", [31,458]

Công tác HN có ý nghĩa vô cùng quan trọng giúp học sinh định hướng được nghề nghiệp, chuẩn bị cho các em vốn kiến thức để sẵn sàng đi vào lao động ở các nơi xã hội đang cần đồng thời phù hợp khả năng, sở trường của bản thân, giúp HS ngày càng yêu công việc và sáng tạo trong công việc hạn chế tối đa việc chọn nghề không phù hợp, chọn sai nghề

Trong nhà trường phổ thông HN là hình thức hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò, HĐGDHN được coi như là công việc của giáo viên, của tập thể sư phạm với mục tiêu giúp cho các em học sinh chọn được nghề phù hợp, có sự tiến bộ và thành đạt trong nghề, có thể dịch chuyển nghề một cách dễ dàng từ đó có thể lập thân, lập nghiệp

Tóm lại: HN là tổng thể những tác động giúp cho con người có thể định

hướng đến một nghề hay một số nghề nhất định, đảm bảo được sự phù hợp giữa khả năng, yêu cầu của cá nhân, yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội của đất

Trang 28

nước, nhu cầu nhân lực HS cần được HN thường xuyên, liên tục bằng nhiều hình thức Xã hội phát triển, HS ngày càng nhận thức sâu sắc nghĩa vụ lao động, nhu cầu nhân lực mà xã hội đặt ra Do đó, HN phải được cả xã hội quan tâm tránh để cho HS chọn nghề một cách tự phát, ngẫu hứng mà HN phải dẫn thế hệ trẻ đi vào thế giới NN, giúp họ phát huy được hết năng lực trong thế giới đó và có được cuộc sống thỏa mãn với NN sau này

1.2.2.2.Giáo dục hướng nghiệp

GDHN được xem như một nhiệm vụ giáo dục trong nhà trường nhằm giúp học sinh phát triển một cách toàn diện Có nhiều quan điểm khác nhau về GDHN theo lĩnh vực nghiên cứu, mục tiêu, chuyên môn và quan niệm khác nhau, cụ thể:

Hoyt (1987) cho rằng: "GDHN là một quá trình giúp HS đạt được các

kiến thức về nghề, biết sử dụng kiến thức, kĩ năng, và thái độ cần thiết trong quá trình làm việc, trong quá trình sản xuất và hài lòng với các hoạt động khác trong cuộc sống"

Theo tác giả Đặng Danh Ánh: "GDHN là hoạt động của tập thể sư

phạm, của cán bộ các cơ quan nhà máy khác nhau, được tiến hành với mục đích gúp HS chọn nghề đúng đắn với năng lực, thể lực và tâm lý của cá nhân với nhu cầu KT-XH GDHN là một bộ phận cấu thành quá trình GD - học tập trong nhà trường", [1,27];

Tác giả Nguyễn Minh Đường (2008) đã định nghĩa: “GDHN là hệ thống

những biện pháp dựa trên cơ sở tâm lý học, sinh lý học, giáo dục học, xã hội học và nhiều khoa học khác nhằm giúp HS, SV định hướng NN một cách đúng đắn để có thể lựa chọn nghề cho phù hợp với nhu cầu xã hội, đồng thời thoả mãn tối đa nguyện vọng, thích hợp năng lực, sở trường và điều kiện tâm sinh

lý cá nhân cũng như hoàn cảnh sống của mỗi người để có thể phát triển đến

Trang 29

đỉnh cao trong NN, cống hiến được nhiều cho xã hội cũng như tạo lập được cuộc sống tốt đẹp hơn cho bản thân”, [17,51]

Các nhà Tâm lý học Việt Nam cho rằng: “GDHN là hệ thống các biện

pháp tâm lý - sư phạm và y học giúp cho thế hệ trẻ chọn nghề có tính đến nhu cầu của xã hội và năng lực của bản thân”

Tóm lại: GDHN là một hệ thống các tác động của nhà trường, gia đình

và xã hội trong đó nhà trường đóng vai trò chủ yếu trong việc chuẩn bị cho thế hệ trẻ tư tưởng, tâm lý, tri thức, kỹ năng lựa chọn NN, để họ có thể sẵn sàng tham gia vào lao động sản xuất, vào cuộc sống sau khi tốt nghiệp THPT GDHN giúp HS lựa chọn nghề phù hợp với năng lực, tính cách sở trường của từng người phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của gia đình và phù hợp với nhu cầu của xã hội hiện nay Hoạt động GDHN bao gồm: Tư vấn nghề, định hướng nghề, và tuyển chọn nghề Ba mặt này có mối quan hệ mật thiết với nhau nhằm giúp HS lựa chọn được ngành nghề phù hợp

1.2.3 Quản lý giáo dục hướng nghiệp

QL hoạt động GDHN là một nhiệm vụ quan trọng trong quá trình GD của mỗi nhà trường, do vậy có thể hiểu là: Quản lý GDHN là một bộ phận của quản lý giáo dục, là hệ thống những tác động có định hướng, có chủ đích, có

kế hoạch và hợp quy luật của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý của công tác hướng nghiệp nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu hướng nghiệp cho học sinh phổ thông

Quản lý GDHN là các tác động QL của cá thể QL trong nhà trường nhằm hướng theo một chiều hướng đúng, có lợi

Các thành tố cơ bản của QL GDHN như sau:

Trang 30

Sơ đồ 1.2 Các thành tố của quản lý giáo dục hướng nghiệp

- Trong QL GDHN, chủ thể QL là lãnh đạo các nhà trường hoặc chuyên viên phụ trách HN của Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT, Phòng GD&ĐT Trên cơ sở quyền hạn, trách nhiệm và năng lực của mình, chủ thể QL tác động lên đối tượng QL bằng các phương pháp và công cụ nhất định thông qua việc thực hiện các chức năng QL để đạt được mục tiêu GDHN

- Đối tượng QL là tất cả những người thực hiện nhiệm vụ HN, bao gồm:

GV, tập thể sư phạm, cán bộ phụ trách công tác GDHN và HS, cùng các tổ chức, đoàn thể xã hội Đối tượng QL còn bao gồm nội dung, phương pháp, hình thức GDHN, tài chính, CSVC, thiết bị dạy học và hệ thống thông tin cho GDHN

- Công cụ QL là những phương tiện mà cán bộ QL GDHN sử dụng trong quá trình QL nhằm định hướng, dẫn dắt, khích lệ và phối hợp hoạt động của các tác nhân HN và HSPT trong việc thực hiện mục tiêu GDHN Công cụ chủ yếu để QL GDHN là các quy định của Nhà nước và Bộ GD&ĐT về GDHN,

là các cơ chế và chính sách cho GDHN

- Phương pháp QL là cách thức tác động bằng những phương tiện khác nhau (như quyền lực, quyết định, cơ chế chính sách, tài chính, kỹ thuật - công nghệ…) của cán bộ QL HN tới đối tượng QL

Trang 31

Chức năng QL GDHN căn bản tuân thủ theo 4 chức năng cơ bản của

QL là: kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra và đánh giá

1.3 Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT

1.3.1 Đặc điểm của học sinh THPT và học sinh THPT dân tộc ít người khu vực mền núi Tây Bắc

- Lứa tuổi HS THPT là thời kì quan trọng của sự phát triển thể chất và nhân cách Những kết quả nghiên cứu sự phát triển tâm sinh lý của học sinh cho thấy đó là sự thay đổi có gia tốc Cụ thể: sự phát triển thể chất đang đi vào giai đoạn hoàn chỉnh Các tố chất thể lực như sức mạnh, sức bền, sự dẻo dai được tăng cường; là thời kì trưởng thành về giới tính Có sự ổn định, cân bằng hơn so với lứa tuổi trước đó trong các hoạt động của hệ thần kinh (hưng phấn, ức chế) cũng như các mặt phát triển khác của thể chất

Về nhân cách, sự phát triển tự ý thức là một đặc điểm nổi bật trong sự phát triển nhân cách của HS lứa tuối thanh niên mới lớn, nó có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển tâm lý của lứa tuổi thanh niên HS Trên cơ sở tự ý thức phát triển mạnh mẽ, nhu cầu tự GD của HS cũng được phát triển Vấn đề tự

GD của HS thật sự cần thiết cho sự phát triển của chính bản thân; nó khiến cho vị trí của các em thay đổi: HS từ chỗ là đối tượng của GD thì dần dần đến giai đoạn này các em đã trở thành vừa là đối tượng, vừa là chủ thể của GD

Do vậy cần phải khuyến khích và hướng dẫn việc tự GD của các em

Về giao tiếp và đời sống tình cảm của HS THPT, ở tuổi này, quan hệ với bạn cùng tuổi chiếm vị trí lớn hơn hẳn so với quan hệ với người lớn tuổi hoặc

ít tuổi hơn Đó là do lòng khao khát muốn có vị trí bình đẳng trong cuộc sống chi phối Trong hoàn cảnh giao tiếp tự do, rỗi rãi, trong tiêu khiển, trong việc phát triển nhu cầu, sở thích HS hướng vào bạn bè nhiều hơn hướng vào cha

Trang 32

mẹ Nhưng khi bàn đến những giá trị sâu sắc hơn như chọn nghề, thế giới quan, những giá trị đạo đức thì ảnh hưởng của cha mẹ mạnh hơn rõ rệt

Tuy nhiên, các em học sinh ở lứa tuổi này các em lại thiếu tính tự lập Đứng trước một sự việc nào đó còn quyết định vội vàng theo cảm tính, hoặc theo trào lưu tư tưởng của người khác, cách luận chứng của người khác Vì vậy, nhà trường cần thiết phải có biện pháp tích cực tác động vào gia đình HS

để góp phần giúp các em có thêm sự trợ giúp cần thiết trong nhận thức và định hướng nghề

- Đặc điểm của học sinh THPT dân tộc ít người khu vực miền núi Tây Bắc: Học sinh dân tộc miền núi luôn có tính thẳng thắn, thật thà và tự trọng Các em không thích điều gì là tỏ thái độ ngay, nếu giáo viên không hiểu được tâm lý học sinh sẽ gây hiểu lầm và cho là các em thiếu tôn trọng giáo viên nhưng thực chất không phải Các em học sinh miền núi thường có lòng tự trọng cao, nếu gặp phải những lời phê bình nặng nề hoặc chê bai của thầy cô, bạn bè vì kết quả học tập sẽ dẫn đến các em xa lánh thầy cô và kết quả là bỏ học nếu sự việc nghiêm trọng hơn các em sẵn sàng ăn lá ngón, lấy cái chết để chứng minh cho tấm lòng của các em Học sinh luôn có niềm tin sâu sắc vào giáo viên và thực tiễn, nếu GV làm đúng thì học sinh rất dễ nghe theo và làm theo

Đối với học sinh dân tộc là nữ các em thường hay e dè, ít nói, dễ xấu hổ

và đặc biệt các em thường thiếu những ước mơ hoài bão cần thiết Chính vì vậy GV nên gặp gỡ, tâm sự với các em về các vấn đề như vai trò của phụ nữ trong xã hội hiện nay, những công việc mà phụ nữ miền núi phải gánh vác, sự cần thiết phải có trình độ văn hóa trong thời đại hiện nay Vì vậy, nếu nắm được đặc điểm tâm lý của học sinh dân tộc miền núi thì công tác hướng nghiệp trong nhà trường sẽ đạt kết quả cao hơn rất nhiều

Trang 33

1.3.2 Sự cần thiết và ý nghĩa của GDHN cho học sinh THPT

1.3.2.1 Sự cần thiết của GDHN cho học sinh THPT

Hoạt động GDHN là nhằm phát hiện và bỗi dưỡng phẩm chất nhân cách nghề nghiệp cho học sinh, giúp các em hiểu mình, hiểu yêu cầu của nghề, hiểu được xu thế phát triển hệ thống nghề trong xã hội Thông qua hoạt động GDHN giáo viên giúp học sinh điều chỉnh động cơ học nghề, trên cơ sở đó các em định hướng đi vào việc sản xuất mà xã hội đang có nhu cầu nhân lực GDHN giúp học sinh có sự hiểu biết khái quát về sự phân công lao động

xã hội, cơ cấu nền kinh tế quốc dân, sự phát triển của đất nước và địa phương, làm quen với những ngành nghề chủ yếu, nghề cơ bản, đặc biệt là nghề truyền thống của địa phương

- Hơn nữa, trường THPT Trần Can huyện Điện Biên Đông nằm trên địa bàn huyện miền núi tỉnh Điện Biên, vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, là một trong 62 huyện nghèo nhất cả nước, mặt bằng dân trí thấp, thiếu sách báo, truyền hình, internet nên dân cư rất khó khăn trong việc cập nhật thông tin, trau dồi học vấn Hầu hết học sinh trung học không quan tâm đến việc chọn nghề nghiệp cho tương lai Các em thường chọn nghề một cách ngẫu nhiên, theo cảm tính, theo phong trào hoặc dựa dẫm vào ý kiến của người khác, không có hiểu biết cần thiết về nghề mà mình định lựa chọn, do đó gặp nhiều khó khăn trong việc học nghề, ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo Vì thế GDHN giúp học sinh tìm hiểu năng khiếu, khuynh hướng nghề nghiệp của từng học sinh để khuyến khích, hướng dẫn và bồi dưỡng khả năng nghề nghiệp thích hợp nhất cho các em

Trang 34

1.3.2.2 Ý nghĩa của GDHN

GDHN là một bộ phận của GD Về phương diện này, HN là công việc điều chỉnh động cơ chọn nghề của HS, điều chỉnh hứng thú NN của các em theo xu thế phân công lao động xã hội Như vậy HN là một hoạt động góp phần cụ thể hóa mục tiêu đào tạo của trường phổ thông, đồng thời GDHN góp phần thực hiện mục đích GD của nhà trường là góp phần đào tạo HS trở thành những người lao động có năng lực thích ứng với một lĩnh vực nghề cụ thể Hoạt động GDHN luôn hướng vào việc sử dụng hợp lý tiềm năng lao động tuổi trẻ của đất nước, từ đó nâng cao năng suất lao động của xã hội GDHN là một trong những yếu tố làm đồng bộ hóa đội ngũ lao động NN, phân bố lại lực lượng lao động xã hội, chuyên môn hóa tiềm năng lao động trẻ tuổi HN phải được coi là điều kiện đảm bảo chất lượng và hiệu quả GD HN

sẽ tạo nên những yếu tố mới trong con người lao động, yếu tố cơ bản của việc tăng năng suất lao động xã hội

Xét về mặt xã hội, HN có tác dụng điều chỉnh sự phân công lao động xã hội, tạo ra sự cân bằng trong phân bố nguồn nhân lực HN kết hợp chặt chẽ với lao động sản xuất và dạy nghề có tác dụng làm ổn định đời sống xã hội, góp phần tạo điều kiện để xã hội sử dụng hết lực lượng HSPT ra trường trong lĩnh các vực kinh tế

1.3.3 Nhiệm vụ của GDHN trong trường THPT

Trang 35

- Động viên, hướng dẫn HS đi vào những nghề, những nơi đang cần lao động trẻ tuổi có văn hóa;

- Đổi mới hình thức GDHN theo chương trình khung của Bộ GD&ĐT, phù hợp với thực tiễn địa phương GDHN cần gắn với phát triển kinh tế, phát triển nguồn nhân lực và gắn với cơ cấu hệ thống GD quốc dân, trong vai trò điều chỉnh cơ cấu phân luồng HS, thay đổi nhận thức, động cơ chọn nghề của

HS sau cấp trung học

1.3.3.2 Tư vấn nghề nghiệp

- Phải tìm hiểu sâu sắc về nghề, đặc biệt chú ý đến đặc điểm hoạt động của nghề và những yêu cầu của nghề đối với người lao động Tìm hiểu và đánh giá đúng bản thân giữ vai trò hết sức quan trọng trong việc lựa chọn nghề phù hợp Tìm hiểu mục tiêu chung của đất nước về phát triển kinh tế xã hội ở hiện tại và tương lai Cần xác định sự phù hợp nghề theo thứ tự ưu tiên:

Ví dụ: Nếu điều kiện phát triển kinh tế- xã hội thuận lợi với bản thân và cá nhân khẳng định được mình, sau khi đối chiếu với yêu cầu của nghề thì có thể

ưu tiên cho yếu tố bản thân

1.3.3.3 Cung cấp thông tin về xu hướng nghề nghiệp và các các cơ sở đào tạo để học sinh lựa chọn ngành nghề

Giới thiệu một số ngành nghề cơ bản trong chương trình SGK giáo dục hướng nghiệp lớp 10,11,12

1.3.4 Các hình thức (con đường) GDHN cho học sinh THPT

Theo quan điểm truyền thống có 4 hình thức GDHN chính là:

- Hướng nghiệp qua hoạt động dạy học các bộ môn văn hoá

- Hướng nghiệp qua dạy học môn Công nghệ, dạy học nghề phổ thông

và giáo dục lao động

Trang 36

- Hướng nghiệp cho học sinh qua hoạt động giáo dục hướng nghiệp

- Hướng nghiệp qua hoạt động ngoại khoá và tìm hiểu thông tin từ sách, báo, internet

Trong thời đại ngày nay, tùy theo đặc điểm, điều kiện và mức độ của học sinh THPT dân tộc ít người khu vực miền núi Tây Bắc có thể cụ thể hóa các hình thức GDHN linh hoạt như:

- Hướng nghiệp thông qua các buổi đi thực tế tại cơ sở sản xuất

- Hướng nghiệp thông qua các buổi giao lưu với người thành đạt

- Hướng nghiệp thông qua các cuộc thi tìm hiểu NN

- Hướng nghiệp thông qua hoạt động của tổ chức Đoàn thanh niên

- Hướng nghiệp thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, các buổi tuyên truyền của nhà trường

- Thông qua chương trình giáo dục NGLL, các hoạt động ngoại khóa Như vậy trong trường phổ thông hiện nay đang tồn tại các hình thức GDHN cần được nghiên cứu phát triển

Thực tế, từ năm học 2008-2009 thời gian dành cho hoạt động GDHN ở mỗi lớp học THPT là 9 tiết/năm Lượng kiến thức của từng chủ đề rất lớn, vì vậy GDHN đã được tích hợp với một số môn học như: môn công nghệ, dạy NPT, hoạt động ngoài giờ lên lớp Việc tích hợp GDHN vào các môn khác được thực hiện như thế nào? tích hợp ở đâu? Hiệu quả như thế nào? Hiện đang là vấn đề khó khăn cho GV và các nhà QL, đang cần phải được nghiên cứu giải quyết

Trang 37

1.4 Nội dung quản lý hoạt động GDHN cho học sinh THPT

1.4.1 Tổ chức tuyên truyền nâng cao nhận thức về GDHN

Nhận thức là quá trình chủ thể phản ánh thế giới khách quan vào ý thức của mình, nắm được bản chất và các quy luật của nó, vận dụng các quy luật này để làm biến đổi nó, cải tạo nó Vì vậy, để thực hiện tốt nhiệm vụ và đạt tới mục tiêu của hoạt động GDHN, cần thiết phải làm cho các lực lượng tham gia GDHN và cả HS có ý thức đầy đủ về vị trí, tầm quan trọng cũng như mục đích, nhiệm vụ của GDHN, từ đó có ý thức tự giác, tích cực thực hiện nhiệm

vụ của cá nhân và tập thể trong hoạt động GDHN, để hoạt động GDHN mang lại hiệu quả cao đối với việc phát triển nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH của địa phương, đất nước

1.4.2 Xây dựng kế hoạch, đổi mới chương trình GDHN

1.4.2.1 Căn cứ để xây dựng kế hoạch

- Xác định mục tiêu chung của GDHN ở trường THPT về kiến thức, kỹ năng và thái độ;

- Tình hình giảng dạy, nội dung chương trình các môn học trong nhà trường, về đặc điểm tâm sinh lý, lứa tuổi các em học sinh dân tộc vùng cao trong trường và các lực lượng ngoài nhà trường hỗ trợ cho công tác GDHN;

- Điều kiện CSVC, KT- XH của địa phương ;

- Hệ thống văn bản chỉ đạo, hướng dẫn về GDHN cấp THPT

1.4.2.2 Nội dung kế hoạch

- Xây dựng kế hoạch: Kế hoạch phải phân tích rõ được thực trạng GDHN của những năm học trước qua đó xác định rõ: mục tiêu, thời gian thực hiện, địa điểm, hình thức tổ chức, lực lượng tham gia, điều kiện thực hiện; Kế

Trang 38

hoạch phải cân đối, hợp lý với kế hoạch chung của cả nhà trường Việc xây dựng kế hoạch gúp CBQL nhà trường tập trung vào mục tiêu hoạt động GDHN, dự kiến trước khả năng ứng phó với những thay đổi có thể xẩy ra trong quá trình triển khai thực hiện, lựa chọn phương án tối ưu, tiết kiệm nguồn nhân lực, tạo hiệu quả hoạt động GDHN trong nhà trường, đồng thời tạo điều kiện cho nhà QL dễ dàng kiển tra thực hiện kế hoạch, chương trình của các lực lượng tham gia hoạt động GDHN trong nhà trường

- Tổ chức thực hiện: là tổ chức thực hiện các nội dung trong kế hoạch GDHN đã đề ra: giải thích mục tiêu, yêu cầu của kế hoạch, thảo luận biện pháp thực hiện, sắp xếp bố trí nhân lực, phân công trách nhiệm QL, huy động CSVC, xác định tiến độ và thời gian thực hiện (bắt đầu, kết thúc)

- Chỉ đạo thực hiện kế hoạch: là giao việc, hướng dẫn, gám sát, thúc đẩy, thực hiện các hoạt động cụ thể trong kế hoạch (theo tuần, tháng, học kỳ, năm)

để đảm bảo việc GDHN được thực hiện đúng hướng và đạt hiệu quả Chú trọng đôn đốc việc thực hiện kế hoạch của nhà trường trên một số mặt quan trọng như nội dung, thời gian, phương tiện, nhân lực và hiệu quả kinh tế, GD của GDHN

- Kiểm tra, đánh giá: là thực hiện kiểm tra định kỳ, thường xuyên, đột xuất, trực tiếp hay gián tiếp để lực lượng tham gia hoạt động GDHN tự điều chỉnh hoạt động của mình Để kiểm tra, đánh giá phát huy hiệu quả thì phải xây dựng các tiêu chí để việc kiểm tra, đánh giá thực hiện được các yêu cầu: + Đánh giá được toàn diện: kiến thức, kỹ năng, thái độ;

+ Đảm bảo độ tin cậy: tính chính xác, tính trung thực, khách quan, công bằng; + Đảm bảo tính khả thi: nội dung, hình thức, phương tiện tổ chức kiểm tra, đánh giá phải phù hợp với mục tiêu GDHN và điều kiện thực hiện;

Trang 39

+ Đảm bảo yêu cầu phân hóa: phân loại trình độ, năng lực, hiệu quả của người thực hiện

1.4.3 Tổ chức bồi dưỡng CBQL, GV, cán bộ tư vấn hướng nghiệp

1.4.3.1.Đội ngũ CBQL, GV, cán bộ tư vấn HN

Đội ngũ hỗ trợ công tác HN nhà trường: Ban giám hiệu, GV bộ môn, Đoàn Thanh niên, trong đó GV bộ môn là người tham mưu trực tiếp cho GV chủ nhiệm về học lực và khí chất của HS, GV chủ nhiệm là cầu nối giữa nhà trường với gia đình HS trong quá trình GDHN, GV chủ nhiệm và Ban HN đóng vai trò chủ đạo trong quá trình GDHN

Đội ngũ trực tiếp thực hiện GDHN kết hợp với GV chủ nhiệm, Ban HN thực hiện nội dung, chương trình HN theo kế hoạch

Hiệu trưởng cần bồi dưỡng các thành viên trong Ban HN về năng lực tổ chức QL hoạt động GDHN có nề nếp, chất lượng, thường xuyên, liên tục Thực hiện bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng, phương pháp HN cho đội ngũ GV các môn học để lồng ghép trong quá trình dạy học

Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng đội ngũ về nhận thức về vai trò, nhiệm vụ của nhà trường trong đó có GDHN theo yêu cầu GD toàn diện HS Cử CBQL,

GV tham gia các lớp tập huấn về công tác GDHN do Bộ và Sở GD&ĐT tổ chức; tham quan, học hỏi các cơ sở GD thực hiện tốt hoạt động GDHN

Trang 40

Tăng cường sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong công tác GDHN

Chấn chỉnh và xử lý nghiêm khắc các lỗi vi phạm của các cá nhân, tập thể Khen thưởng, động viên kịp thời để khích lệ tính chủ động, tích cực hoạt

động của từng cá nhân và tập thể trong hoạt động GDHN của nhà trường

1.4.4 Chỉ đạo tổ chức thực hiện hoạt động GDHN

Chỉ đạo thực hiện GDHN qua các hình thức (con đường) GDHN đã lập trong kế hoạch Thực hiện đồng bộ và linh hoạt qua các hình thức HN để đạt được mục tiêu GDHN

Chỉ đạo đổi mới phương pháp, phương tiện, vận dụng linh hoạt hình thức

tổ chức các hoạt động GDHN cho phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của HS Phương pháp tổ chức các hoạt động GDHN phải chú trọng vào các hoạt động tìm hiểu, nhận thức về NN Chương trình GDHN theo chương trình của nhà trường (dựa trên chương trình của Bộ GD&ĐT và tài liệu hoạt động GDHN chỉ có tài liệu tham khảo cho GV)

Chỉ đạo sự phối hợp giữa các lực lượng GD: nhà trường, gia đình, xã hội trong GDHN

1.4.5 Đầu tư, khai thác các nguồn lực phục vụ hoạt động GDHN

Đầu tư CSVC, thiết bị dạy học đáp ứng yêu cầu hoạt động HN trong nhà trường

Tăng cường nguồn kinh phí (từ ngân sách và từ xã hội hóa) phục vụ các hoạt động GDHN

Khai thác hiệu quả các điều kiện và phương tiện phục vụ cho hoạt động GDHN

Ngày đăng: 30/06/2017, 12:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Danh Ánh (2011), Giáo dục hướng nghiệp ở Việt Nam. NXB Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục hướng nghiệp ở Việt Nam
Tác giả: Đặng Danh Ánh
Nhà XB: NXB Thông tin
Năm: 2011
2. Đặng Danh Ánh (2002) - Hướng nghiệp trong trường phổ thông - Tạp chí Giáo dục số 42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng nghiệp trong trường phổ thông
3. Đặng Quốc Bảo (1998), Một số khái niệm về quản lý giáo dục - Trường Cán bộ quản lý GD&ĐT Trung ương I - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số khái niệm về quản lý giáo dục
Tác giả: Đặng Quốc Bảo
Năm: 1998
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo (1984): Hoạt động hướng nghiệp trong trường phổ thông- Lưu hành nội bộ - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động hướng nghiệp trong trường phổ thông
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 1984
6. Bộ Giáo dục và Đào tạo (1998), Những vấn đề về chiến lược phát triển giáo dục trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề về chiến lược phát triển giáo dục trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
7. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2004), Tình hình triển khai thực hiện Chỉ thị của Bộ trưởng về tăng cường GDHN cho học sinh phổ thông năm học 2003 - 2004 - Lưu hành nội bộ - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình triển khai thực hiện Chỉ thị của Bộ trưởng về tăng cường GDHN cho học sinh phổ thông năm học 2003 - 2004
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2004
8. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2004), Tình hình triển khai thực hiện Chỉ thị của Bộ trưởng về tăng cường GDHN cho học sinh phổ thông năm học 2003 - 2004 - Lưu hành nội bộ - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình triển khai thực hiện Chỉ thị của Bộ trưởng về tăng cường GDHN cho học sinh phổ thông năm học 2003 - 2004
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2004
9. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Triển khai nhiệm vụ giáo dục lao động -hướng nghiệp năm học 2006-2007 và phương hướng nhiệm vụ năm học 2007-2008. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), "Triển khai nhiệm vụ giáo dục lao động -hướng nghiệp năm học 2006-2007 và phương hướng nhiệm vụ năm học 2007-2008
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2007
10. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2011), Đổi mới hoạt động GDHN, tư vấn hướng nghiệp cho học sinh trung học cơ sở. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới hoạt động GDHN, tư vấn hướng nghiệp cho học sinh trung học cơ sở
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2011
12. Trần Văn Cường (2013), Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trong dạy học môn công nghệ ở trường trung học phổ thông. Luận án tiến sĩ quản lý giáo dục Trường ĐHSP- Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trong dạy học môn công nghệ ở trường trung học phổ thông
Tác giả: Trần Văn Cường
Năm: 2013
13. Phạm Tất Dong (1982), Hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông - Tạp chí Đại học và trung học chuyên nghiệp - số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông
Tác giả: Phạm Tất Dong
Năm: 1982
15. Phạm Tất Dong, Nguyễn Như Ất (2000), Tư vấn hướng nghiệp - NXB Thanh Niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư vấn hướng nghiệp
Tác giả: Phạm Tất Dong, Nguyễn Như Ất
Nhà XB: NXB Thanh Niên
Năm: 2000
16. Phạm Tất Dong, Đặng Danh Ánh, Nguyễn Dục Quang, Trần Mai Thu, Nguyễn Thế Trường (2007), Hoạt động Giáo dục Hướng nghiệp, SGV 10,11,12, NXB Giáo dục. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động Giáo dục Hướng nghiệp, SGV 10,11,12
Tác giả: Phạm Tất Dong, Đặng Danh Ánh, Nguyễn Dục Quang, Trần Mai Thu, Nguyễn Thế Trường
Nhà XB: NXB Giáo dục. Hà Nội
Năm: 2007
17. Nguyễn Minh Đường (2008), Giáo dục nghề nghiệp Việt Nam trên con đường phát triển và hội nhập, Hội thảo quốc tế Việt Nam học lần thứ 3 (VNS 2008), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục nghề nghiệp Việt Nam trên con đường phát triển và hội nhập
Tác giả: Nguyễn Minh Đường
Năm: 2008
18. Phạm Minh Hạc (2000), Kinh tế tri thức và Giáo dục - Đào tạo phát triển người - tài liệu tập huấn công tác hướng nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế tri thức và Giáo dục - Đào tạo phát triển người
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Năm: 2000
19. Nguyễn Văn Hộ (1988), Thiết lập và phát triển hệ thống HN, Luận án Tiến sĩ Khoa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết lập và phát triển hệ thống HN
Tác giả: Nguyễn Văn Hộ
Năm: 1988
20. Phạm Đăng Khoa (2016), Quản lý giáo dục hướng nghiệp ở trường trung học phổ thông theo định hướng phát triển nhân lực thành phố Hồ Chí Minh. Luận án tiến sĩ quản lý giáo dục, Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý giáo dục hướng nghiệp ở trường trung học phổ thông theo định hướng phát triển nhân lực thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Phạm Đăng Khoa
Năm: 2016
21. Trần Kiểm (1997), Quản lý giáo dục và quản lý trường học, Viện khoa học giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý giáo dục và quản lý trường học
Tác giả: Trần Kiểm
Năm: 1997
22. Từ Lê, Làm gì để có việc làm và giữ được việc làm, NXB Lao động- Xã hội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làm gì để có việc làm và giữ được việc làm
Nhà XB: NXB Lao động- Xã hội
23. Nguyễn Văn Lê, Hà Thế Truyền (2004), Báo cáo tổng hợp Đề tài cấp nhà nước mã số KX-05-09 "Giáo dục phổ thông và hướng nghiệp- nền tảng để phát triển nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước", Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục phổ thông và hướng nghiệp- nền tảng để phát triển nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Tác giả: Nguyễn Văn Lê, Hà Thế Truyền
Năm: 2004

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w