DANH MỤC BẢNG SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN Bảng số Tên bảng sử dụng trong luận văn Trang Bảng 1.1 Dự báo nhu cầu nhân lực của khối ngành Nông nghiệp và Lâm nghiệp đến năm 2020 chia theo trình
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
TRẦN HUY HOÀNG
QUẢN LÝ GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ VÀ TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TẢ SÌN THÀNG HUYỆN TỦA CHÙA, TỈNH ĐIỆN BIÊN ĐÁP ỨNG YÊU CẦU XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI – Năm 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
TRẦN HUY HOÀNG
QUẢN LÝ GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ VÀ TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
TẢ SÌN THÀNG HUYỆN TỦA CHÙA, TỈNH ĐIỆN BIÊN ĐÁP ỨNG
YÊU CẦU XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục (Chương trình đào tạo theo định hướng ứng dụng)
Mã số: 60.14.01.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Cán bộ hướng dẫn: PGS TS Đỗ Thị Bích Loan
Hà Nội – Năm 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về kết quả nghiên cứu luận văn của tôi
Tác giả luận văn
Trần Huy Hoàng
Trang 4- Cảm ơn Văn phòng UBND huyện Tủa Chùa, Phòng Kinh tế - Hạ tầng, Phòng Kế hoạch tài chính và Phòng Lao động thương binh và xã hội, Phòng thống kê huyện Tủa Chùa, Phòng nội vụ huyện Tủa Chùa đã cung cấp tài liệu và giúp đỡ tôi trong nghiên cứu hoàn thành luận văn
- Ban Giám hiệu và các đồng nghiệp ở Trường THPT Tủa Chùa, trường PTDTNT THPT Tủa Chùa, Trường THCS và THPT Tả Sìn Thàng và gia đình, bạn bè đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình chuẩn bị tư liệu, nghiên cứu hoàn thành bản luận văn này
- Đặc biệt xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Phó giáo sư, Tiến sỹ Đỗ Thị Bích Loan Viện nghiên cứu Giáo dục quốc gia đã hết lòng giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong quá trình nghiên cứu và thực hiện bản luận văn này
Tuy nhiên, do trình độ, sự hiểu biết và thời gian nghiên cứu có hạn, bản luận văn khó tránh khỏi những thiếu sót và khiếm khuyết, tôi mong nhận được những ý kiến đóng góp chân thành của các thầy cô và đồng nghiệp
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 06 năm 2017
Tác giả
Trần Huy Hoàng
Trang 5MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU ……… 1
1 Lí do chọn đề tài ……… ………… 1
2 Mục đích nghiên cứu ……… 3
3 Nhiệm vụ nghiên cứu ……… 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ……… 3
4.1 Đối tượng nghiên cứu ……… 3
4.2 Phạm vi nghiên cứu ……… 4
5 Phương pháp nghiên cứu ……… 4
5.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận ……… 4
5.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn ……… 5
5.3 Các phương pháp khác ……… 5
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG ĐÁP ỨNG YÊU CẦU XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI ……… 6
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề ……… 6
1.1.1 Ở nước ngoài ……… 6
1.1.2 Ở Việt Nam ……… 7
1.2 Một số khái niệm cơ bản ……… 9
1.2.1 Quản lý ……… 9
1.2.2 Quản lý giáo dục và quản lý nhà trường ……… 14
1.2.3 Quản lý giáo dục hướng nghiệp ……… 16
1.2.4 Nông thôn mới ……… 21
1.3 Lí luận về giáo dục hướng nghiệp ……… 23
1.3.1 Các lý thuyết nền tảng của giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ……… 23
1.3.2 Ý nghĩa của giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT ………… 29
1.3.3 Chức năng, nhiệm vụ, tính chất và nội dung của giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT ……… 30
1.4 Xây dựng nông thôn mới, những yêu cầu đặt ra đối với giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT ……… 41
1.4.1Định hướng phát triển nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình xây dựng nông thôn mới 41
Trang 61.4.2 Những yêu cầu về xây dựng nông thôn mới ……… 46
1.4.3 Giáo dục hướng nghiệp đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới 48 1.5 Quản lý giáo dục hướng nghiệp của Hiệu trưởng trường THPT …… 49
1.5.1 Vị trí, chức năng, nhiệm vụ của người Hiệu trưởng trường phổ thông ……… 49
1.5.2 Yêu cầu đổi mới giáo dục hướng nghiệp đặt ra cho công tác quản lý của Hiệu trưởng trường THPT ……… 50
1.6 Nội dung quản lý giáo dục hướng nghiệp đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới của hiệu trưởng trường THPT ……… 51
1.6.1 Quản lý việc thực hiện mục tiêu giáo dục hướng nghiệp ………… 51
1.6.2 Quản lý việc thực hiện nội dung giáo dục hướng nghiệp ………… 51
1.6.3 Quản lý hình thức giáo dục hướng nghiệp 54
1.6.4 Quản lý các điều kiện thực hiện giáo dục hướng nghiệp ………… 58
1.7 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc quản lý giáo dục hướng nghiệp của hiệu trưởng trường THPT ……… 60
1.7.1 Yếu tố chủ quan ……… 60
1.7.2 Yếu tố khách quan ……… 61
Kết luận chương 1 ……… 62
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CỦA TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ VÀ TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TẢ SÌN THÀNG, HUYỆN TỦA CHÙA, TỈNH ĐIỆN BIÊN ĐÁP ỨNG YÊU CẦU XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 63
2.1 Sơ lược về tình hình kinh tế - xã hội huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên 63 2.1.1 Điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế - xã hội của Huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên ……… 63
2.1.2 Thực trạng giáo dục THPT Huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên …… 65
2.1.3 Một vài nét về trường THCS và THPT Tả Sìn Thàng, huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên ……… 69
2.2 Giới thiệu về khảo sát 70
2.2.1 Mục tiêu khảo sát 70
2.2.2 Nội dung khảo sát 70
2.2.3 Quy mô mẫu khảo sát 71
Trang 72.2.4 Phương pháp khảo sát 71
2.2.5 Xử lý kết quả khảo sát 71
2.3 Thực trạng giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT của trường THCS và THPT Tả Sìn Thàng, huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên ……… 72
2.4 Thực trạng quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT của trường THCS và THPT Tả Sìn Thàng, huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới 77
2.4.1 Nhận thức của cán bộ, giáo viên, công nhân viên chức, cha mẹ học sinh và cộng đồng đối với việc giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới ……… 77
2.4.2 Thực trạng quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới ……… 83
2.4.3 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới ……… 97
Kết luận chương 2 100
Chương 3 MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH THPT CỦA TRƯỜNG THCS VÀ THPT TẢ SÌN THÀNG, HUYỆN TỦA CHÙA, TỈNH ĐIỆN BIÊN ĐÁP ỨNG YÊU CẦU XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 102
3.1 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp ……… 102
3.1.1 Đảm bảo tính thực tiễn của các biện pháp đề xuất ……… 102
3.1.2 Đảm bảo tính đồng bộ ……… 102
3.1.3 Đảm bảo tính khả thi của các biện pháp đề xuất ……… 103
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học ……… 103
3.1.5 Phù hợp với yêu cầu đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay …… 103
3.2 Các Biện pháp ……… 103
3.2.1 Biện pháp 1: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán bộ, giáo viên, phụ huynh và học sinh về vai trò, vị trí của giáo dục hướng nghiệp hiện nay để đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới 103 3.2.2 Biện pháp 2: Xây dựng đội ngũ và tổ chức tập huấn nâng cao năng lực cho cán bộ, giáo viên làm công tác giáo dục hướng nghiệp ………… 106
3.2.3 Biện pháp 3: Đổi mới quản lý về nội dung, chương trình và hình thức tổ chức giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới ……… 109
Trang 83.2.4 Biện pháp 4: Tăng cường công tác chỉ đạo, quản lý giáo dục hướng
nghiệp đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới 112
3.2.5 Biện pháp 5: Tăng cường quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện phục vụ cho giáo dục hướng nghiệp đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới ……… 114
3.2.6 Biện pháp 6: Tăng cường công tác tư vấn hướng nghiệp cho học sinh THPT đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới ……… 117
3.2.7 Biện pháp 7: Đẩy mạnh công tác xã hội hóa trong giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT để đáp ứng yêu cầu nông thôn mới 118
3.2.8 Biện pháp 8: Tăng cường sự phối hợp giữa nhà trường với các cơ sở đào tạo, doanh nghiệp, cha mẹ học sinh và cộng đồng tổ chức các hoạt động hướng nghiệp cho học sinh THPT đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới ……… 120
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp ……… 121
3.4 hảo nghiệm tính cấp thiết và khả thi của các biện pháp ……… 124
Kết luận chương 3 130
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 131
1 Kết luận 131
2 Khuyến nghị 132
Trang 9DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Bộ GD&ĐT Bộ Giáo dục và Đào tạo
BC-UBND Báo cáo - Ủy Ban nhân dân
CB,GV,NV Cán bộ, giáo viên, nhân viên
CNH - HĐH Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
HĐGDHN Hoạt động giáo dục hướng nghiệp
KH-SGDĐT Kế hoạch – Sở Giáo dục Đào tạo
KTTH-HN Kỹ thuật tổng hợp – hướng nghiệp
Trang 10QĐ-TTg Quyết định – Thủ tướng
TT-BNNPTNT Thông tư – Bộ Nông nghiệp phát triển nông thôn
Trang 11DANH MỤC BẢNG SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN
Bảng số Tên bảng sử dụng trong luận văn Trang
Bảng 1.1 Dự báo nhu cầu nhân lực của khối ngành Nông
nghiệp và Lâm nghiệp đến năm 2020 chia theo trình
độ đào tạo
43
Bảng 2.1 Quy mô số lớp, số học sinh của các trường THPT
trên địa bàn huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên 66 Bảng 2.2 Bảng đánh giá, xếp loại hạnh kiểm học sinh của các
trường THPT trên địa bàn huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên
66
Bảng 2.3 Bảng đánh giá, xếp loại học lực sinh của các trường
THPT trên địa bàn huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên 68 Bảng 2.4 Mức độ thực hiện công tác giáo dục hướng nghiệp
của trường THCS và THPT Tả Sìn Thàng 72 Bảng 2.5 Các căn cứ để học sinh chọn nghề của học sinh
Bảng 2.6 Nhận thức của giáo viên về mức độ cần thiết của
Bảng 2.7 Ý kiến của cán bộ, giáo viên về tầm quan trọng của
Bảng 2.8 Mức độ quan tâm của cán bộ, giáo viên với hoạt
Bảng 2.9 Nhận thức về trách nhiệm giáo dục hướng nghiệp
của cán bộ, giáo viên trong nhà trường 80 Bảng 2.10 Khảo nghiệm sự quan tâm của phụ huynh là công
chức, viên chức đối với công tác giáo dục hướng nghiệp của nhà trường đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới
81
Bảng 2.11 Khảo nghiệm sự quan tâm của phụ huynh dân tộc
thiểu số không có việc làm đối với công tác giáo dục hướng nghiệp của nhà trường đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới
81
Trang 12Bảng 2.12 Xu hướng lựa chọn nghề nghiệp của học sinh trường
Trang 13DANH MỤC HÌNH SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN
Hình số Tên hình sử dụng trong luận văn Trang Hình 1.1 Tam giác hướng nghiệp của K.K Platonov 24 Hình 1.2 Mô hình tính cách RIASEC của John Holand 26
Trang 14DANH MỤC SƠ ĐỒ SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN
Sơ đồ số Tên sơ đồ sử dụng trong luận văn Trang
Trang 15PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Lựa chọn nghề nghiệp, định hướng tương lai luôn là chủ đề nóng thu hút sự quan tâm của xã hội Việc định hướng nghề nghiệp cho học sinh phổ thông được xem
là bước khởi đầu quan trọng trong quá trình đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
Trong văn kiện Đại hội lần thứ IX của Đảng có ghi “Coi trọng công tác hướng nghiệp
và phân luồng học sinh trung học, chuẩn bị cho thanh niên đi vào lao động nghề nghiệp phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong cả nước và từng địa phương”
Đối với cuộc sống hiện đại, nghề nghiệp sẽ quyết định tương lai của mọi cá nhân, nó là công cụ và phương tiện để đảm bảo đời sống vật chất và tinh thần của con người Để thành công trong cuộc đời, con người cần lựa chọn cho mình một nghề phù hợp Đối với thế hệ trẻ ngày nay việc lựa chọn nghề nghiệp càng trở nên quan trọng, bởi họ là thế hệ tương lai của một đất nước Xã hội cần những con người có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ ổn định
Ngày 04/6/2010 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt "Chương trình mục tiêu
Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020" Trong đó, "Chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập" là một trong những mục tiêu
quan trọng nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng phát triển sản xuất hàng hóa, có hiệu quả kinh tế cao và bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống theo phương châm “mỗi làng một sản phẩm”, phát triển ngành nghề theo thế mạnh của địa phương
Học sinh phổ thông là nguồn cung cấp lực lượng lao động để phát triển kinh
tế cộng đồng tại địa phương một cách bền vững, góp phần xây dựng nông thôn mới
ổn định, văn minh và phát triển Làm thế nào để giúp học sinh lựa chọn được ngành nghề phù hợp với năng lực, sở trường của bản thân và nhu cầu của xã hội là nhiệm
vụ của giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT có vai trò quan trọng, tạo điều kiện cho những học sinh không có đủ khả
Trang 16năng tiếp tục học lên đại học có thể tiếp tục theo học nghề nghiệp và phát triển nghề nghiệp theo sở thích và nguyện vọng Mặt khác, giáo dục hướng nghiệp còn góp phần hạn chế tệ nạn xã hội ở lứa tuổi vị thành niên, giúp các em có lý tưởng và khát vọng sống, biết nuôi dưỡng đam mê khi nhận thức đầy đủ những giá trị nghề nghiệp và giá trị bản thân, từ đó phát huy tiềm năng, có kế hoạch phát triển nghề nghiệp để đi đến thành công trong sự nghiệp
Trên thực tế có nhiều người thất nghiệp hoặc phải làm những công việc không phù hợp với năng lực, sở trường của mình và kết quả là họ gặp khó khăn với những yêu cầu đặt ra của nghề nghiệp, không tạo ra hiệu quả lao động và sự tâm huyết với nghề Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do công tác giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông chưa hiệu quả, chưa đáp ứng mục tiêu đề ra
Tủa Chùa là một huyện miền núi nghèo của tỉnh Điện Biên, đã có lịch sử hơn 60 năm hình thành và phát triển Tả Sìn Thàng là một xã đặc biệt khó khăn, thuộc khu vực phía Bắc của huyện Tủa Chùa, các dân tộc nơi đây chủ yếu là Thái, Mông, Dao, Hoa, Hà Nhì
Trường THCS và THPT Tả Sìn Thàng được thành lập năm 2008, trường đặt tại trung tâm cụm 6 xã phía Bắc của huyện Tủa Chùa Mặc dù công tác giáo dục hướng nghiệp đã được quan tâm và đạt đã được những kết quả nhất định, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu của địa phương, đặc biệt trong bối cảnh xây dựng nông thôn mới hiện nay
Các hoạt động triển khai giáo dục hướng nghiệp còn nghèo nàn, ít thông tin
về nghề, giáo viên hướng nghiệp còn có hiểu biết chưa đúng đắn về một số ngành nghề, việc định hướng nghề chưa đi sâu vào tìm hiểu tình hình thực tế nhu cầu của
xã hội, chưa có các giải pháp cụ thể trong việc hướng nghiệp cho học sinh đảm bảo phù hợp với năng lực của học sinh và nhu cầu xã hội Chính vì vậy việc tiếp cận các thông tin về nghề nghiệp, cũng như tư vấn nghề nghiệp cho các em học sinh là rất khó khăn Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, nhưng có lẽ một trong
Trang 17những nguyên nhân chủ yếu là do công tác quản lý giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường còn nhiều hạn chế
Vì vậy, nghiên cứu quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh đáp ứng yêu
cầu xây dựng nông thôn mới là một yêu cầu cần thiết Điều đó có ý nghĩa lý luận và
thực tiễn, nhằm giúp các em tự xác định con đường học vấn của mình Để từ đó học sinh có động lực, mục tiêu để học tập và đi tới quyết định một cách có ý thức trong việc lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với năng lực, sở trường của bản thân, đồng thời
phù hợp với nhu cầu của xã hội và của địa phương Qua đó giúp giảm thiểu tình trạng học sinh phổ thông bỏ học giữa chừng vì không có động cơ, mục đích học tập
Xuất phát từ những lí do trên, tôi chọn đề tài “Quản lý giáo dục hướng
nghiệp cho học sinh trường Trung học cơ sở và Trung học phổ thông Tả Sìn Thàng, huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới ” làm đề tài nghiên cứu luận văn
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất các biện pháp quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh Trường THCS và THPT Tả Sìn Thàng, huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên đáp ứng yêu xây dựng nông thôn mới
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THCS và THPT đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới
Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh Trường THCS và THPT Tả Sìn Thàng, huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới
Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trường THCS và THPT Tả Sìn Thàng, huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trang 184.1 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh Trường THCS và THPT Tả Sìn Thàng, huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Do thời gian có hạn, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu các biện pháp quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh cấp THPT của Trường THCS và THPT Tả Sìn
Thàng, huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên
- Địa bàn nghiên cứu: Trường THCS và THPT Tả Sìn Thàng, huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên để thăm dò sự cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất
- Số lượng mẫu khảo sát: Khảo sát thông qua trả lời phiếu hỏi và phỏng vấn trực tiếp Ban giám hiệu nhà trường, giáo viên, học sinh với quy mô mẫu khảo sát 398 người gồm: 03 cán bộ quản lý, 33 giáo viên, 06 nhân viên, 256 học sinh (trong đó: 56 học sinh lớp 12; 90 học sinh lớp 11; 110 học sinh lớp 10) và 100 phụ huynh học sinh
- Chủ thể quản lý: Hiệu trưởng Trường THCS và THPT
5 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu và làm rõ nội dung nghiên cứu, đề tài sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu sau:
5.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
- Phương pháp phân tích lịch sử - logic để hình thành khung lý luận và định hướng lí luận, định hướng điều tra
- Phương pháp phân tích so sánh để tổng kết kinh nghiệm
- Phương pháp khái quát hóa lí luận để xác định rõ những khái niệm và quan điểm khoa học
- Phương pháp suy luận logic để đánh giá các tác động của bối cảnh kinh tế
- xã hội
- Phương pháp phân tích – tổng hợp hồ sơ và tư liệu để vận dụng đúng các văn kiện chính trị và văn bản pháp luật của Đảng và Nhà nước
Trang 19- Phương pháp mô hình hóa để xây dựng quan niệm và trình bày kết quả nghiên cứu
5.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Khảo sát thực trạng quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT Cụ thể đề tài sử dụng các phương pháp:
+ Phương pháp nghiên cứu định tính: Phương pháp này được sử dụng
nhằm bổ trợ cho phương pháp nghiên cứu định lượng để lý giải thực trạng, tìm hiểu sâu về nguyên nhân, bối cảnh, các yếu tố khó lượng hóa bằng các phiếu điều tra định lượng, thường được dùng để trả lời các câu hỏi “tại sao”, “như thế nào” Phương pháp này sử dụng các kỹ thuật phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm với các đối tượng có liên quan đến chủ đề nghiên cứu như: các nhà quản lý giáo dục, giáo viên, học sinh … để thu thập, làm rõ những vấn đề còn thiếu trong các phiếu hỏi định lượng về giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT
+ Phương pháp nghiên cứu định lượng: Phương pháp này nhằm mô tả thực
trạng, đánh giá mức độ, phạm vi thông qua sử dụng bảng hỏi được soạn sẵn trên cơ sở các tiêu chí được xác định rõ dành cho các đối tượng được lựa chọn Phương pháp định lượng sử dụng các phần mềm thống kê hỗ trợ để phân tích các nhân tố ảnh hưởng
- Phương pháp điều tra xã hội học để đánh giá thực trạng quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm qua hồ sơ, hội thảo, phân tích kết quả các nghiên cứu liên quan đến quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh
- Phương pháp phân tích trường hợp để nghiên cứu sâu và đánh giá cụ thể những đối tượng được lựa chọn
- Phương pháp quan sát tại hiện trường để bổ sung dữ liệu khoa học
5.3 Các phương pháp khác
Trang 20- Phương pháp chuyên gia: để tham vấn phương pháp luận và đánh giá kết
quả nghiên cứu về thực trạng công tác quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT, cũng như về những giải pháp đề xuất
- Phương pháp xử lí số liệu bằng toán thống kê
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG ĐÁP ỨNG YÊU CẦU XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Ở nước ngoài
Lịch sử giáo dục thế giới cho thấy, hoạt động GDHN và quản lý hoạt động GDHN được rất nhiều các chuyên gia nghiên cứu, nhằm giúp cho người học lựa chọn được nghề nghiệp phù hợp khả năng, hứng thú bản thân và đáp ứng tốt yêu cầu thị trường lao động
Năm 1848, ở Pháp đã xuất bản cuốn sách “ Hướng dẫn chọn nghề” nhằm giúp đỡ thanh niên trong việc lựa chọn nghề nghiệp để sử dụng có hiệu quả năng lực lao động của thế hệ trẻ
Ở Liên Xô cũ, công tác hướng nghiệp được nhiều tác giả quan tâm như: E.A Klimov, V.N Supkin, V.P Gribanov, V.A Kruchetxki…Nghiên cứu của các tác giả tập trung vào hứng thú nghề nghiệp, động cơ chọn nghề, các giá trị về nghề mà học sinh quan tâm, đồng thời đưa ra những chỉ dẫn để giúp học sinh chọn nghề tốt hơn
Ở Đức có các công trình nghiên cứu của Wolfgang Schulz, Ulrich Johannes Kledzik đã làm sáng tỏ về nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức lao động nghề nghiệp Nổi bật là công trình nghiên cứu về phương thức tổ chức cho học sinh phổ thông thực tập ở các nhà máy, xí nghiệp, ở các cơ sở kinh doanh - dịch vụ của tác
Trang 21giả Rolf Oberliesen, Helmut Keim, Michaell Schumann, Gehart Duismann, H.Sellin, H.Dedering, Wolfgang Schulz đã khẳng định: “Hoạt động dạy học lao động, kỹ thuật, kinh tế không chỉ mang tính quan trọng đối với các môn học khác,
mà còn là bộ phận cấu thành cơ bản của giáo dục THPT”
Allan Walker trong công trình nghiên cứu “Một số vấn đề về quản lý giáo dục ở Australia” đã phân tích phương thức đào tạo học sinh phổ thông: “ Nhà trường hiện nay không chỉ là nơi dạy lý thuyết, mà phải cung cấp cho học sinh một khả năng chuyển đổi thật nhanh và có sự bình đẳng trong tất cả học sinh, làm cho học sinh vừa có kỹ năng lao động, vừa có tri thức” [6]
1.1.2 Ở Việt Nam
Ở nước ta, trước hết phải kể đến Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta rất coi trọng vận dụng sáng tạo các quan điểm giáo dục của chủ nghĩa Mác - Lênin nhằm đào tạo lớp người lao động mới Từ năm 1960, Bác Hồ đã dạy: “Trong việc giáo dục và học tập phải chú trọng đủ các mặt: đạo đức cách mạng, giác ngộ xã hội chủ nghĩa, văn hóa, kĩ thuật, lao động và sản xuất”
Hồ Chủ tịch cũng đã sớm chỉ ra rằng : “Nhà trường xã hội chủ nghĩa là nhà trường: Học đi với lao động, lý luận đi với thực hành, cần cù đi với tiết kiệm”
Trong bài báo “Học hay, cày giỏi”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề cập đến một yếu tố mới của giáo dục Đó là, “Việc cung cấp cho học sinh những tri thức cơ bản về kĩ thuật sản xuất công nghiệp và nông nghiệp” và “Những ngành sản xuất chủ yếu” trong xã hội Đó cũng chính là những nội dung giáo dục kĩ thuật nghề nghiệp của giáo dục nước ta lúc bấy giờ
Ngày 19/3/1981, Hội đồng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 126/CP về "
Công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông và việc sử dụng học sinh các cấp phổ thông cơ sở và phổ thông trung học tốt nghiệp ra trường" Có thể coi quyết định này là
một cột mốc quan trọng đối với sự phát triển giáo dục trong hệ thống nhà trường phổ
Trang 22thông, bởi từ thời điểm ấy, hướng nghiệp được chính thức coi như là một môn học và đồng thời được coi như một hoạt động có trong các tiết dạy của các môn học
Tuy nhiên, vào cuối thập kỷ 80 của thế kỉ XX, do nhiều yếu tố khác nhau, xu thế tách học với hành, giáo dục với lao động sản xuất ngày càng tăng lên Vai trò của công tác hướng nghiệp dần dần bị coi nhẹ, việc học nghề của học sinh phổ thông ít được quan tâm, nhiều trường học đã tự ý bỏ sinh hoạt hướng nghiệp Nhiều Nghị quyết của Đảng đã nói đến thực trạng này Từ Đại hội Đảng lần thứ VIII (1996) đến Đại hội Đảng lần thứ IX (2001), Trung ương Đảng luôn nhấn mạnh đến tăng cường công tác hướng nghiệp, đẩy mạnh công tác dạy nghề
Ngày 23/7/2003, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo có Chỉ thị số
33/2003/CT-BGDĐT "Về việc tăng cường giáo dục hướng nghiệp cho học sinh
phổ thông" và tiếp theo đó trong phương hướng nhiệm vụ từng năm học, giáo dục
hướng nghiệp được quan tâm chỉ đạo Trong đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, mục tiêu của cấp học trung học phổ thông là học sinh học xong cấp trung học phổ thông phải đạt được ở các mặt giáo dục: tư tưởng, đạo đức, lối sống; học vấn kiến thức phổ thông, hiểu biết kĩ thuật và hướng nghiệp; kĩ năng học tập và vận dụng kiến thức; thể chất và xúc cảm thẩm mĩ Hoạt động giáo dục hướng nghiệp lại được chính thức có trong kế hoạch giáo dục ở bậc trung học cơ sở và bậc trung học phổ thông
Trong những năm gần đây, các nhà tâm lý học, giáo dục học, xã hội học, kinh tế học, chính trị học trong nước đã tiếp cận nhiều vấn đề giáo dục phổ thông và hướng nghiệp cho học sinh phổ thông ở các khía cạnh khác nhau
- Các tác giả Nguyễn Văn Hộ, Phạm Tất Dong, Đặng Danh Ánh trong các công trình nghiên cứu về công tác hướng nghiệp đã tập trung vào những vấn đề như:
+ Vấn đề lịch sử phát triển hệ thống công tác hướng nghiệp ở các nước trên thế giới và ở Việt Nam
+ Bản chất khoa học của công tác hướng nghiệp
Trang 23+ Mục đích, nhiệm vụ, vai trò của công tác hướng nghiệp
+ Nội dung cơ bản và các hình thức hướng nghiệp
+ Vấn đề tổ chức và điều khiển công tác hướng nghiệp
Tác giả Phạm Minh Hạc đã chỉ ra rằng muốn có được nguồn nhân lực phù hợp với cơ cấu đào tạo thì phải : “Chú trọng giáo dục hướng nghiệp thiết thực cho học sinh phổ thông, giúp các em chọn nghề phù hợp với sở trường, trình độ, nhu cầu phát triển của bản thân và yêu cầu phát triển đất nước” [25]
Tác giả Đặng Danh Ánh đã đề cập đến quan điểm mới về giáo dục hướng nghiệp, coi hướng nghiệp là loại hoạt động của nhiều cơ quan khác nhau nhằm giúp cho con người chọn nghề phù hợp với nhu cầu của xã hội và nguyện vọng, sở trường của cá nhân.[3]
Tác giả Nguyễn Toàn đã nêu lên mục tiêu của công tác hướng nghiệp là: Học sinh phải được trang bị một cách hệ thống những hiểu biết và kỹ năng lao động cần thiết để lựa chọn nghề nghiệp, để làm được những nghề phổ thông, những nghề phổ biến ở địa phương hoặc tiếp tục học nghề một cách thuận lợi, thích nghi nhanh chóng với những thay đổi về việc làm
Tác giả Nguyễn Văn Hộ đã đề cập vấn đề : “ Thiết lập và phát triển hệ thống hướng nghiệp cho học sinh Việt Nam” [27]
Tác giả Phạm Huy Thụ nghiên cứu đến vấn đề : “ Tổ chức thực hiện họat động giáo dục hướng nghiệp và dạy nghề cho học sinh phổ thông phục vụ mục tiêu đào tạo, gắn liền với mục tiêu phát triển kinh tế xã hội” [54]
Tác giả Phạm Tất Dong có bài viết : “ Công tác hướng nghiệp trong giai đọan hiện nay” [22] đã đề cập đến vấn đề : Đổi mới nội dung hướng nghiệp trong nhà trường hiện nay đang là một yêu cầu ngày càng cấp thiết và xác định trong những năm tới, công tác hướng nghiệp phải đóng góp hơn nữa vào việc giải quyết việc làm cho thanh thiếu niên, định hướng thế hệ trẻ vào những lĩnh vực sản xuất cần phát triển, tạo ra cho mỗi thanh, thiếu niên nhiều khả năng để tự tạo ra việc làm
Trang 24Nhìn chung các công trình của các tác giả đều tập trung vào nghiên cứu cơ
sở lý thuyết và thực tiễn của hoạt động hướng nghiệp với mục đích, ý nghĩa, nội dung, hình thức tổ chức hướng nghiệp cho học sinh phổ thông
1.2 Một số khái niệm cơ bản
lẻ tự điều khiển mình còn dàn nhạc thì cần người chỉ huy”
Như vậy, trong xã hội đã xuất hiện một dạng lao động mang tính đặc thù là
tổ chức, điều khiển các hoạt động của con người theo những yêu cầu nhất định - được gọi là hoạt động quản lý Từ đó có thể nhận thấy rằng lao động xã hội và quản
lý không tách rời nhau, quản lý là hoạt động điều khiển lao động chung Xã hội phát triển qua các phương thức sản xuất, thì trình độ tổ chức, điều hành tất yếu cũng được nâng lên, phát triển theo với những đòi hỏi ngày càng cao Khi lao động xã hội đạt tới một trình độ và quy mô phát triển nhất định thì sự phân công lao động tất yếu sẽ dẫn đến việc tách quản lý thành một dạng hoạt động đặc biệt, sẽ hình thành một bộ phận lao động trực tiếp và một bộ phận chuyên hoạt động quản lý, tạo thành một mối quan hệ trong quản lý Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, quản
lý đã trở thành một khoa học và ngày càng phát triển toàn diện
Theo Harld Koontz (Mỹ): “Quản lý là một hoạt động thiết yếu nhằm đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực của cá nhân để đạt được mục đích của nhóm (tổ
Trang 25chức) Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường trong đó con người có thể đạt được mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất Với tư cách thực hành thì quản lý là một nghệ thuật, còn kiến thức có
tổ chức về quản lý là một khoa học”
Quản lý là cách thức tốt nhất để đạt được mục tiêu chung Vì vậy, nhiệm vụ của quản lý là biến các mối quan hệ trên thành những yếu tố tích cực, hạn chế xung đột và tạo nên môi trường thuận lợi để hướng tới mục tiêu, ở khía cạnh này, quản lý
là một nghệ thuật Đó là “bí quyết” làm việc với con người, bí quyết sắp xếp các nguồn lực của tổ chức, là sự sáng tạo khi đối phó với những tình huống khác nhau trong hoạt động của tổ chức
Tuy nhiên, các bí quyết đó chỉ có thể được khám phá trên sự đúc kết kinh nghiệm thực tế Các nhà quản lý chỉ có thể thực hiện sứ mệnh của mình tốt hơn khi vận dụng những kinh nghiệm đã được đúc kết, khái quát hóa thành những nguyên tắc, phương pháp và kỹ năng quản lý cần thiết Đó chính là khoa học, khoa học quản lý Vì thế, quản lý vừa là khoa học, nhưng lại vừa là nghệ thuật
Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo: “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức,
có định hướng của chủ thể quản lý (người quản lý hay tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng) quản lý về các mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng”
Theo Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định”
Theo Nguyễn Bá Sơn (2000): “Quản lý là sự tác động có hướng đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý bằng một hệ thống các giải pháp nhằm thay đổi trạng thái của đối tượng quản lý, đưa hệ thống tiếp cận mục tiêu cuối cùng, phục
vụ lợi ích của con người”
Trang 26Theo Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nói chung là khách thể quản
lý nhằm thực hiện những mục tiêu, dự kiến”
Theo Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Hoạt động quản lý là hoạt động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) lên khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”.[30]
Một cách tiếp cận khác của nhà lý luận quản lý nước ngoài O Donnel đã cho rằng: “Quản lý là sự thiết lập và giữ gìn môi trường nội bộ của một tổ chức mà ở
đó, mọi người cùng nhau làm việc thoải mái, cộng tác để đạt được những hiệu quả
và hiệu suất trong công việc vì mục đích chung của tập thể, của tổ chức đó”
Như vậy, quản lý được hiểu là sự trông coi, giữ gìn theo những yêu cầu nhất định của tổ chức và điều khiển các hoạt động của mọi tổ chức, cá nhân theo những yêu cầu nhất định Có người cho rằng quản lý là quá trình hoàn thành công việc thông qua con người và làm việc với con người
Về thực chất quản lý là hoạch định, tổ chức, bố trí nhân sự, lãnh đạo, kiểm soát công việc và những nỗ lực của con người nhằm đạt mục tiêu đề ra Yêu cầu của quản
lý là biết cách vận dụng, khai thác được các nguồn lực hiện hữu cũng như tiềm năng kể
cả nguồn nhân lực, để đạt đến những kết quả kỳ vọng Quản lý là sự tác động của con người cùng các cơ quan quản lý đến con người và tập thể người nhằm làm cho hệ thống quản lý được hoạt động bình thường, có hiệu lực, giải quyết tốt các nhiệm vụ đề
ra để tiến hành sự trông coi, giữ gìn chúng theo những yêu cầu nhất định cũng như tổ chức và điều hành các hoạt động theo những yêu cầu của nhiệm vụ nhất định
Nghiên cứu nội hàm các định nghĩa về quản lý mà các tác giả đã nêu ra tùy theo cách tiếp cận của mình tuy có khác nhau song bản chất của hoạt động quản lý cũng là cách thức thực hiện tác động tổ chức, điều khiển, chỉ huy cho hợp quy luật
Trang 27của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm làm cho tổ chức được vận hành đạt hiệu quả mong muốn và đạt được mục tiêu đề ra
- Chức năng kế hoạch hoá: Kế hoạch hoá là chức năng cơ bản nhất trong số các chức năng quản lý, nhằm xây dựng quyết định về mục tiêu, chương trình hành động và bước đi cụ thể trong một thời gian nhất định của nhà quản lý
- Chức năng tổ chức: Tổ chức là xác định một cơ cấu chủ định về vai trò nhiệm vụ hay chức vụ được hợp thức hoá Tổ chức chính là sự kết hợp, liên kết những bộ phận riêng rẽ thành một hệ thống, hoạt động nhịp nhàng như một cơ thể thống nhất Sự phát triển của xã hội đã chứng minh rằng tổ chức là một nhu cầu không thể thiếu được trong mọi hoạt động kinh tế xã hội Một cơ cấu tổ chức được coi là hợp lý khi nó tuân thủ nguyên tắc thống nhất trong mục tiêu, mỗi cá nhân đều góp phần công sức vào các mục tiêu chung của hệ thống Một tổ chức được coi là hiệu quả khi nó áp dụng các biện pháp để thực hiện các mục tiêu đặt ra với mức tối thiểu về chi phí cho bộ máy
- Chức năng động viên: Động viên nhằm phát huy khả năng vô tận của con người vào quá trình thực hiện mục tiêu của hệ thống Khi con người tham gia vào một tổ chức để đạt một mục đích mà họ không thể đạt được khi họ hoạt động riêng
lẻ Nhưng điều đó không nhất thiết là mọi người phải đóng góp và làm tất cả những
gì tốt nhất đảm bảo cho mục đích và hiệu quả chung cao nhất Vì vậy, một trong những chức năng quản lý cần phải xác định những yếu tố tạo thành động cơ thúc
Trang 28đẩy mọi người đóng góp có kết quả và hiệu quả tới mức có thể được cho hệ thống Động cơ thúc đẩy nói lên các xu hướng, ước mơ, nhu cầu, nguyện vọng và những thôi thúc đối với con người
- Chức năng điều chỉnh: Điều chỉnh nhằm sửa chữa các sai lệch nảy sinh trong quá trình hoạt động để duy trì các mối quan hệ bình thường giữa bộ phận điều khiển và bộ phận chấp hành; giữa bộ máy quản lý với hoạt động của hàng trăm, hàng nghìn người sao cho nhịp nhàng, ăn khớp với nhau Sự điều chỉnh cũng rất phức tạp, bởi vì bất cứ một sự rối loạn nào trong một bộ phận, một khâu nào đó đều ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến những bộ phận khác của hệ thống
- Chức năng kiểm tra: Kiểm tra là để đánh giá đúng kết quả hoạt động, bao gồm cả việc đo lường các sai lệch nảy sinh trong quá trình hoạt động, là chức năng
có liên quan đến mọi cấp quản lý căn cứ vào mục tiêu và kế hoạch đã triển khai Kế hoạch là để định hướng, hướng dẫn việc sử dụng các nguồn lực để hoàn thành các mục tiêu, còn kiểm tra xác định xem chúng hoạt động có phù hợp với mục tiêu và
kế hoạch hay không
- Chức năng đánh giá và hạch toán: Nhằm cung cấp cho người quản lý các thông tin cần thiết để đánh giá đúng tình hình của đối tượng quản lý và dự kiến quyết định bước phát triển mới
Đây là chức năng cuối cùng và rất quan trọng của quá trình quản lý, yêu cầu phải chính xác đối với các yếu tố định lượng và định tính Cách đánh giá này có tầm quan trọng nhất định, nhưng tuyệt đối hoá phương pháp này và bỏ qua các định tính hoặc các yếu tố tiềm ẩn là các yếu tố khó đo lường được bằng con số thì thông tin chưa thật chính xác Do đó đánh giá hiệu quả phải có thước đo phù hợp với mục tiêu theo quan hệ chính xác cao dựa vào các tiêu chuẩn của các yếu tố cả định tính và định lượng
Các chức năng quản lý tạo thành một hệ thống thống nhất với một trình tự chặt chẽ, trong quản lý không được coi nhẹ một chức năng nào
1.2.2 Quản lý giáo dục và quản lý nhà trường
Trang 291.2.2.1 Quản lý giáo dục
Giáo dục là một chức năng của xã hội loài người và quản lý giáo dục là một loại hình của quản lý xã hội Có nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý giáo dục: Theo Trần Kiểm, đối với cấp vĩ mô “QLGD là sự tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên hệ thống giáo dục nhằm tạo ra tính trồi của hệ thống, sử dụng một cách tối ưu các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống nhằm đưa hệ thống đến mục tiêu một cách tốt nhất trong điều kiện bảo đảm sự cân bằng với môi trường bên ngoài luôn biến động’’ [30]
Trong quan điểm giáo dục hiện đại của các tác giả Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc, chỉ rõ: “QLGD là những tác động có hệ thống, có kế hoạch,
có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở mọi cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của toàn bộ hệ thống nhằm mục đích đảm bảo sự hình thành nhân cách cho thế
hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật của xã hội cũng như các quy luật của quá trình giáo dục về sự phát triển thể lực, trí lực và tâm lý của con người Chất lượng của giáo dục chủ yếu do nhà trường tạo nên, bởi vậy khi nói đến quản lý giáo dục phải nói đến quản lý nhà trường cùng với hệ thống quản lý giáo dục” [34]
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành trung ương Đảng khoá VIII cũng đã viết: “quản lý giáo dục là sự tác động của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất” [39]
Từ những định nghĩa trên cho thấy QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý mà chủ yếu nhất là quá trình dạy học và giáo dục ở các cơ sở giáo dục
1.2.2.2 Quản lý nhà trường
Trường học là hình thức thể hiện của hệ thống giáo dục trên qui mô toàn xã hội, là nơi diễn ra hầu hết các hoạt động giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân
Trang 30Theo tác giả Phạm Viết Vượng: “Quản lý trường học là hoạt động của các cơ quan quản lý, về bản chất là huy động các nguồn lực để tổ chức các hoạt động giáo dục trong nhà trường theo mục tiêu giáo dục.”
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý nhà trường là tập hợp những tác động tối ưu của chủ thể quản lý đến tập thể GV, HS và cán bộ khác, nhằm tận dụng các nguồn dự trữ do nhà nước đầu tư, lực lượng xã hội đóng góp và do lao động xây dựng vốn tự có Hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường
mà điểm hội tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ Thực hiện có chất lượng mục tiêu và
kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến lên trạng thái mới" [39]
Vậy bản chất của hoạt động quản lý nhà trường là quản lý hoạt động dạy học
để đưa hoạt động này phát triển đi lên theo xu thế tất yếu của thời đại và đạt tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo Có thể hiểu: Quản lý trường học là hoạt động có ý thức, có kế hoạch, có định hướng của chủ thể quản lý tác động tới các hoạt động của nhà trường nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ mà trung tâm là hoạt động dạy và học trong nhà trường
Ở góc độ cụ thể thì quản lý trường học là việc người CBQL tổ chức, chỉ đạo, điều hành mọi hoạt động của nhà trường, trong đó mọi hoạt động đều hướng tới hiệu quả của việc dạy và học đáp ứng mục tiêu giáo dục Quản lý nhà trường khác với việc quản lý các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và các tổ chức xã hội khác, bởi nhà trường là một tổ chức đặc biệt, là nơi tạo ra những “sản phẩm” cũng hết sức đặc biệt, đó là nhân cách của con người
1.2.3 Quản lý giáo dục hướng nghiệp
1.2.3.1 Hướng nghiệp
Khái niệm hướng nghiệp đã được truyền bá rộng rãi sau Hội nghị Quốc tế ở Bácxơlon năm 1921 Từ năm 1925 trở đi, những cơ quan chuyên môn về hướng nghiệp đã được thành lập ở nhiều nước Đức, Anh, Pháp, Ý, Nga Theo Đại Từ điển Tiếng Việt thông dụng, hướng nghiệp được hiểu theo hai khía cạnh: Một là tạo điều
Trang 31kiện xác định nghề nghiệp cho người khác: Công tác hướng nghiệp cho thanh niên học sinh; Hai là Giáo dục có định hướng: Trường hướng nghiệp
Hướng nghiệp thường được hiểu trên hai bình diện: bình diện xã hội và bình diện trường phổ thông
Trên bình diện xã hội, hướng nghiệp có thể hiểu là một hệ thống tác động của
xã hội về giáo dục học, y học, xã hội học, kinh tế học… nhằm giúp cho thế hệ trẻ chọn được nghề vừa phù hợp với hứng thú, năng lực, nguyện vọng, sở trường của
cá nhân, vừa đáp ứng được nhu cầu nhân lực của các lĩnh vực sản xuất trong nền kinh tế quốc dân Hướng nghiệp là công việc mà toàn xã hội có trách nhiệm tham gia Trong những điều kiện lý tưởng, thanh thiếu niên cần được hướng nghiệp thường xuyên bằng nhiều hình thức Nếu xã hội biết tận dụng câu lạc bộ, nhà văn hóa, truyền hình, đài phát thanh, thư viện…vào công tác hướng nghiệp thì tác dụng hướng dẫn chọn nghề đối với các em sẽ rất to lớn
Trên bình diện trường phổ thông, hướng nghiệp là một hình thức hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò
+ Với tư cách là hoạt động dạy của thầy, hướng nghiệp được coi như là công việc của tập thể giáo viên, tập thể sư phạm, có mục đích giáo dục học sinh trong việc chọn nghề, giúp các em tự quyết định nghề nghiệp tương lai trên cơ sở phân tích khoa học về năng lực, hứng thú của bản thân và nhu cầu nhân lực của các ngành sản xuất trong xã hội Tóm lại, hướng nghiệp trong trường phổ thông được thể hiện như một hệ thống tác động sư phạm nhằm làm cho học sinh chọn được nghề một cách hợp lý
+ Hướng nghiệp là một trong những hình thức hoạt động học tập của học sinh Qua đó, mỗi học sinh phải lĩnh hội được những thông tin về nghề nghiệp trong xã hội, đặc biệt là nghề nghiệp ở địa phương, phải nắm được hệ thống yêu cầu của từng nghề cụ thể mà mình muốn chọn, phải có kỹ năng tự đối chiếu những phẩm chất, những đặc điểm tâm – sinh lý của mình với hệ thống yêu cầu của nghề đang
Trang 32đặt ra cho người lao động…
Với ý nghĩa là định hướng nghề nghiệp, có nhiều cách hiểu khác nhau với tiêu chí, mục tiêu quan sát và góc độ chuyên môn khác nhau về khái niệm hướng nghiệp:
Theo từ điển Tiếng Việt, Hướng nghiệp được hiểu là “thi hành những biện pháp nhằm đảm bảo sự phân bố tối ưu (có chú ý tới năng khiếu, năng lực, thể lực) nhân dân theo ngành và loại lao động” hoặc được hiểu với nghĩa “giúp đỡ lựa chọn hợp lý ngành nghề”
Theo từ điển Giáo dục học: Hướng nghiệp là hệ thống các biện pháp giúp đỡ học sinh làm quen tìm hiểu nghề, lựa chọn, cân nhắc nghề nghiệp với nguyện vọng năng lực sở trường của mỗi người với nhu cầu và điều kiện thực tế khách quan của
xã hội Công tác hướng nghiệp có ý nghĩa kinh tế xã hội rất lớn giúp cho thanh niên
có cơ hội phát huy được năng lực nâng cao được hiệu quả lao động say mê sáng tạo trong nghề nghiệp, mặt khác giúp tránh thay đổi nghề nghiệp nhiều lần hạn chế các hậu quả do nghề nghiệp không phù hợp mang lại Công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông cần tiến hành qua các môn học, các giờ lao động, các sinh hoạt ngoại khóa, các buổi tham gia sản xuất, các cuộc gặp gỡ trao đổi với những người tiêu biểu của các ngành nghề thông qua phim ảnh, sách báo… để phát hiện nắm bắt được đặc điểm tâm lý xu hướng nghề nghiệp của từng học sinh rồi từ đó có những gợi ý, hướng dẫn, động viên, khuyến khích giúp các em xác định được nghề nghiệp trong tương lai của mình Công tác hướng nghiệp không chỉ được tiến hành trong trường phổ thông mà còn được thực hiện ở các Trung tâm hướng nghiệp dạy nghề, tại nhà máy, làng nghề, trang trại để thanh niên chưa có nghề hoặc muốn chuyển nghề làm quen, thử sức và lựa chọn
Theo tác giả Phạm Tất Dong: “Hướng nghiệp như là một hệ thống tác động của xã hội về giáo dục, về y học, kinh tế học nhằm giúp cho thế hệ trẻ chọn được nghề vừa phù hợp hứng thú, năng lực, nguyện vọng, sở trường của cá nhân, vừa đáp ứng nhu cầu nhân lực của các lĩnh vực sản xuất trong nền kinh tế quốc dân”
Trang 33Về phương diện kinh tế học, hướng nghiệp được hiểu là hệ thống những biện pháp dẫn dắt, tổ chức thanh, thiếu niên đi vào lao động nghề nghiệp nhằm sử dụng hợp lý tiềm năng lao động tuổi trẻ của đất nước Hướng nghiệp góp phần tích cực vào quá trình phấn đấu nâng cao năng suất lao động xã hội
Theo các nhà Giáo dục học: “Hướng nghiệp vừa là hoạt động dạy học của giáo viên, vừa là hoạt động của học sinh và kết quả cuối cùng của quá trình hướng nghiệp là sự tự quyết định của học sinh trong việc lựa chọn nghề nghiệp tương lai”
Xét về mặt xã hội, hướng nghiệp được hiểu trong phạm vi rộng hơn, không phải là công việc chỉ làm một lần trong cuộc đời mỗi con người, đó là hoạt động có tính lặp lại: xuất phát từ việc định hướng để lựa chọn một nghề, thích ứng với nghề
đó và kết quả là sự phù hợp trong quá trình hành nghề Tuy nhiên, do tác động của
xã hội cũng như nhu cầu, hoàn cảnh của mỗi cá nhân, mỗi con người đều có thể và cần phải thực hiện lại việc hướng nghiệp cho bản thân trước mỗi bước ngoặt trong cuộc đời nghề nghiệp của mình
Các nhà Luật gia thì hiểu hướng nghiệp là: “Các phương tiện y học, giáo dục
và tổ chức pháp quyền nhằm xác định cho mỗi công dân có nghề và nơi làm việc Nội dung vạch rõ các yếu tố ảnh hưởng tới việc chọn nghề, hình thành tổ chức và hình thành công tác giáo dục hướng nghiệp, thể chế hóa quá trình hướng nghiệp”
Qua các định nghĩa được tham khảo chúng tôi quan niệm: Hướng nghiệp là toàn bộ những tác động để giúp con người định hướng đến một nghề hay một số nghề nhất định nhằm đảm bảo được sự phù hợp giữa khả năng, yêu cầu của cá nhân với yêu cầu của xã hội
Hướng nghiệp cho học sinh phổ thông là dẫn dắt thế hệ trẻ đi vào thế giới nghề nghiệp, giúp họ phát huy được hết năng lực trong thế giới đó và có được cuộc sống thoải mái với lao động nghề nghiệp Từ đó chúng ta có thể hiểu nghề nghiệp như một dạng lao động vừa mang tính xã hội (sự phân công xã hội) vừa mang tính
Trang 34cá nhân (nhu cầu cá nhân), trong đó con người với tư cách là chủ thể hoạt động đòi hỏi để thỏa mãn những nhu cầu nhất định của xã hội và cá nhân
Đây là công việc mà toàn xã hội phải có trách nhiệm tham gia Trẻ em cần được hướng nghiệp liên tục, thường xuyên, bằng nhiều hình thức, nhiều con đường (như đài báo, câu lạc bộ…) để hướng dẫn nghề cho các em, phải coi công tác giáo dục hướng nghiệp là quyền trẻ em Chúng ta cần phấn đấu để thế hệ trẻ chọn nghề theo hứng thú, sở thích và cũng mong muốn học sinh càng ngày càng nhận thức sâu sắc nghĩa vụ lao động, nhu cầu về nhân lực mà xã hội đặt ra Do đó hướng nghiệp phải được cả xã hội quan tâm đặc biệt không nên để trẻ em chọn nghề tự phát và cũng không nên để số phận nghề của học sinh phụ thuộc vào những gì hết sức ngẫu nhiên
Hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông là công việc của tất cả tập thể sư phạm (của Hiệu trưởng, Hiệu phó, Đoàn thanh niên, cán bộ giáo viên trong nhà trường…) Là hoạt động dạy của thầy, học của trò, nhằm giúp các em lĩnh hội được những thông tin về nghề nghiệp trong xã hội, ở từng địa phương, từ đó giúp các em
có kỹ năng tự đối chiếu những năng lực phẩm chất, những đặc điểm tâm sinh lý của mình với hệ thống yêu cầu của nghề nghiệp đang đặt ra cho người lao động Công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông cần được thống nhất chặt chẽ với công tác hướng nghiệp trong xã hội, hai bộ phận này quan hệ mật thiết bổ sung hỗ trợ cho nhau mới đem lại hiệu quả cao cho công tác hướng nghiệp
1.2.3.2 Giáo dục hướng nghiệp
Lý luận về GDHN trong nhà trường phổ thông đã được nghiên cứu tương đối cơ bản và hệ thống
Tài liệu GDHN trong trường học của Australia quan niệm như sau: “Trong nhà trường phổ thông, hướng nghiệp là công việc của tập thể sư phạm nhằm giáo dục HS lựa chọn nghề một cách tốt nhất” Nghĩa là trong sự lựa chọn đó có sự phù hợp giữa nguyện vọng, năng lực nghề nghiệp của cá nhân với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội và đòi hỏi của nghề nghiệp
Trang 35Các nhà Giáo dục học Việt Nam quan niệm: GDHN là một hoạt động của các tập thể sư phạm, của các cán bộ thuộc các cơ quan nhà máy khác nhau, được tiến hành với mục đích giúp HS chọn nghề đúng đắn phù hợp với năng lực, thể lực
và tâm lí của cá nhân với nhu cầu nhân lực xã hội Hướng nghiệp là một bộ phận cấu thành của quá trình giáo dục, học tập trong nhà trường
Theo các nhà chuyên môn: “Giáo dục hướng nghiệp là một hệ thống các biện pháp giáo dục nhằm chuẩn bị cho học sinh sớm có ý thức chọn ngành nghề vừa phù hợp với nguyện vọng của cá nhân vừa phù hợp với sự phân công lao động
xã hội ngay từ khi còn học ở trường phổ thông”
Các tác giả như Phạm Tất Dong (1984); Nguyễn Trọng Bảo (1985); Nguyễn Ngọc Quang (1989); Đặng Danh Ánh; Nguyễn Minh Đường; Hà Thế Truyền; Phùng Đình Mẫn (2005) đã đưa ra rất nhiều quan niệm khác nhau về GDHN Tuy nhiên các tác giả đều thống nhất GDHN là một hệ thống các biện pháp tác động nhằm giúp HS chọn nghề phù hợp Cụ thể như:
Tác giả Nguyễn Minh Đường (2005) đã định nghĩa:“GDHN là hệ thống
những biện pháp dựa trên cơ sở tâm lí học, sinh lí học, giáo dục học, xã hội học và nhiều khoa học khác nhằm giúp HS, sinh viên định hướng nghề nghiệp một cách đúng đắn để có thể lựa chọn nghề cho phù hợp với nhu cầu xã hội, đồng thời thoả mãn tối đa nguyện vọng, thích hợp năng lực, sở trường và điều kiện tâm sinh lí cá nhân cũng như hoàn cảnh sống của mỗi người để có thể phát triển đến đỉnh cao trong nghề nghiệp, cống hiến được nhiều cho xã hội cũng như tạo lập được cuộc
sống tốt đẹp hơn cho bản thân”
Tác giả Đặng Danh Ánh (2010): “GDHN là hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình, trong đó tập thể sư phạm nhà trường giữ vai trò quyết định nhằm giúp HS chọn nghề trên cơ sở khoa học” [4]
Trang 361.2.3.3 Quản lý giáo dục hướng nghiệp
Quản lý giáo dục hướng nghiệp là một bộ phận của quản lý giáo dục, là hệ thống những tác động có chủ đích, có định hướng, có kế hoạch và hợp với quy luật của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả các mục tiêu hướng nghiệp cho học sinh
Quản lý giáo dục hướng nghiệp là nhiệm vụ của nhà quản lý giáo dục trong các trường phổ thông Người quản lý phải xác định chính xác mục tiêu, nhiệm vụ, hình thức tổ chức của hoạt động giáo dục hướng nghiệp
Để quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp, người quản lý phải xây dựng
kế hoạch, tổ chức bộ máy, điều hành các hoạt động giáo dục hướng nghiệp và cuối cùng là kiểm tra đánh giá việc thực hiện kế hoạch và kết quả của hoạt động giáo dục hướng nghiệp Sau một chu kỳ quản lý, người quản lý phải tổng kết rút kinh nghiệm
để tổ chức hoạt động này ngày càng tốt hơn
Ngoài ra, người cán bộ làm công tác quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp phải nắm vững chiến lược phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, phương hướng phát triển kinh tế của địa phương mình, nắm được yêu cầu nghề nghiệp của
xã hội, phải biết được thị trường lao động cần gì để từ đó thiết kế các hoạt động cụ thể, có chương trình hành động thích hợp cho học sinh của mình
1.2.4 Nông thôn mới
1CIEM – Trung tâm Thông tin – Tư liệu Những chủ trương và biện pháp mới trong giai đoạn
2006-2010 về công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Trang 37- Nông thôn là nơi sinh sống, hoạt động của những người chủ yếu làm nghề nông, tức là nông dân
- Nông thôn luôn có sự phân tán và không đồng đều giữa các vùng
- Kết cấu hạ tầng vùng nông thôn thường kém hơn so với đô thị Hoạt động sản xuất đặc trưng và tiêu biểu ở vùng nông thôn là sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, tiểu, thủ công nghiệp và công nghiệp nông thôn
- Nông thôn có bản sắc văn hoá, có truyền thống, có quan hệ xã hội mang tính đặc thù của cộng đồng theo phong tục của từng dân tộc, theo thiết chế của các dòng họ, luôn được xác định và lưu giữ lâu dài
- Về kinh tế nông thôn, bên cạnh nông nghiệp, đã xuất hiện ngày càng nhiều các ngành, nghề phi nông nghiệp như tiểu, thủ công nghiệp, công nghiệp và dịch
vụ Đáng chú ý là ở nhiều vùng nông thôn, nông nghiệp chỉ còn chiếm bộ phận nhỏ trong nền kinh tế và cảnh quan các nơi đó không khác nhiều so với cảnh quan đô thị Do vậy, phương thức sản xuất và phương thức sinh hoạt xã hội, văn hoá ở các vùng nông thôn ngày nay đã thay đổi căn bản so với nông thôn truyền thống Sự đa dạng hoá ngành, nghề của kinh tế nông thôn đã dẫn tới sự đa dạng hoá nghề nghiệp của những người dân nông thôn Số người dân nông thôn không làm nông nghiệp ngày càng tăng cả về số lượng tuyệt đối và về tỷ trọng trong dân số nông thôn
Theo Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21/8/2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, khái niệm nông thôn được thống nhất như sau:
"Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hàn1h chính cơ sở là ủy ban nhân dân xã"
Trang 381.2.4.2 Nông thôn mới
Theo Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ
phê duyệt "Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn
2010 – 2020"2, nông thôn mới có:
- Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại;
- Cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ;
- Gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch;
- Xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc;
- Môi trường sinh thái được bảo vệ;
- An ninh trật tự được giữ vững;
- Đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao;
- Theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Như vậy, nông thôn mới là nông thôn mà trong đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của người dân không ngừng được nâng cao, giảm dần sự cách biệt giữa nông thôn
và thành thị Nông dân được đào tạo, tiếp thu các tiến bộ kỹ thuật tiên tiến, có bản lĩnh chính trị vững vàng, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới Nông thôn mới có kinh tế phát triển toàn diện, bền vững, cơ sở hạ tầng được xây dựng đồng bộ, hiện đại, phát triển theo quy hoạch, gắn kết hợp lý giữa nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ và đô thị Nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc, môi trường sinh thái được bảo vệ Sức mạnh của hệ thống chính trị được nâng cao, đảm bảo giữ vững an ninh chính trị và trật tự xã hội
1.3 Lý luận về giáo dục hướng nghiệp
2 Thủ tướng chính phủ (2010) Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04 tháng 6 năm 2010 phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020
Trang 391.3.1 Các lý thuyết nền tảng của giáo dục hướng nghiệp cho học sinh
Có hai quan điểm, lý thuyết được hầu hết các quốc gia coi như là nền tảng cho kế hoạch giáo dục hướng nghiệp của mình, đó là “Tam giác hướng nghiệp” của K.K Platonov và “Lựa chọn nghề” của John Holland
1.3.1.1 Thuyết “Tam giác hướng nghiệp” của K.K Platonov
Theo K.K Platonov (1976), nhà Tâm lý học Xô viết, có ba hoạt động trọng tâm của công tác giáo dục hướng nghiệp là hướng nghiệp, tư vấn nghề và tuyển chọn
nghề Ba nhiệm vụ này tạo nên cái gọi là “Tam giác hướng nghiệp” (xem hình 1.1)
Hình 1.1 Tam giác hướng nghiệp của K.K Platonov
(i) Định hướng nghề nghiệp/ hướng nghiệp là việc thông tin cho học sinh về
đặc điểm phát triển của các nghề trong xã hội, yêu cầu tâm sinh lý của mỗi nghề, tình hình phân công và yêu cầu điều chỉnh lao động ở cộng đồng dân cư, hệ thống trường lớp đào tạo nghề, đặc biệt là những nghề và những nơi đang cần nhiều lao động Định hướng nghề nghiệp đi từ thông tin nghề nghiệp đến nhu cầu của thị trường lao động
Trang 40Thực chất của thông tin nghề nghiệp là giáo dục nghề nghiệp Nhà trường
và xã hội giúp học sinh làm quen với một số nghề cơ bản, phổ biến của địa phương
và xã hội, đồng thời tìm hiểu xu thế phát triển chúng cùng những yêu cầu về tâm sinh lý, kỹ năng, năng lực mà ngành, nghề đó đặt ra cho người lao động Đồng thời, tạo điều kiện để học sinh hình thành và phát triển hứng thú, năng lực tương ứng với nghề nghiệp Một điều quan trọng trong giáo dục nghề nghiệp là giáo dục học sinh
có thái độ lao động đúng đắn trong dự định chọn nghề của học sinh
(ii) Tư vấn nghề nghiệp là đưa ra lời khuyên để giúp học sinhcó được định
hướng nghề nghiệp đúng đắn hơn hoặc sẽ chuẩn bị tốt hơn cho việc xin tuyển vào làm việc trong một nghề nào đó
Tư vấn nghề đi từ con người (hứng thú, năng lực, sở trường cá nhân) đến nghề (với các đặc điểm và yêu cầu cụ thể) Trước hết, nhà trường và xã hội cần chẩn đoán các đặc điểm thể chất, trí tuệ, hứng thú, hoàn cảnh… của học sinh, sau đó đối chiếu với đặc điểm, yêu cầu của ngành nghề, trên cơ sở đó đưa ra lời khuyên về chọn nghề
(iii) Tuyển chọn nghề là xác định xem các đối tượng dự tuyển có sự phù hợp
với một nghề cụ thể hay không để ra quyết định tuyển vào học hay làm việc
Tuyển chọn nghề lại đi từ yêu cầu của nghề hoặc nhóm nghề đến lựa chọn người phù hợp Tuyển chọn nghề là khâu cuối cùng và có vai trò quyết định hiệu quả của công tác hướng nghiệp với ý nghĩa giúp con người đến được với nghề mà
họ phù hợp, từ đó họ có thể thành công trong nghề, yên tâm và gắn bó với nghề, ngăn ngừa hay giảm bớt tai nạn lao động trong nghề
1.3.1.2 Thuyết “Lựa chọn nghề” của John Holland
Lý thuyết lựa chọn nghề của John L Holland, nhà tâm lý học Mỹ, là một trong những lý thuyết được áp dụng rộng rãi nhất trong phát triển nghề nghiệp Dựa trên tiền đề rằng “yếu tố tính cách là cơ sở lựa chọn nghề nghiệp”, Holland kết nối một số cấu trúc tâm lý học nhân cách, hành vi nghề, tâm lý xã hội với thế giới nghề