BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI PHẠM THỊ THÚY HẢI HUY ĐỘNG CÁC NGUỒN LỰC CỘNG ĐỒNG TRONG PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC TIỂU HỌC Ở QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Chuyên n
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
PHẠM THỊ THÚY HẢI
HUY ĐỘNG CÁC NGUỒN LỰC CỘNG ĐỒNG TRONG PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC TIỂU HỌC Ở QUẬN HẢI AN,
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Chuyên ngành: Giáo dục và Phát triển cộng đồng
Mã ngành: Thí điểm
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS Vũ Xuân Hùng
HÀ NỘI - 2017
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành tác giả xin bảy tỏ lòng biết ơn và sự kính trọng tới Lãnh đạo Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Khoa Tâm lí - Giáo dục học, các Thầy Cô giáo đã tham gia giảng dạy và cung cấp những kiến thức cơ bản, sâu sắc, tạo điều kiện giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập nghiên cứu rèn luyện tại nhà trường
Đặc biệt với tấm lòng thành kính tác giả xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc
nhất tới TS Vũ Xuân Hùng, người đã trực tiếp hướng dẫn khoa học và tận
tình giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Lãnh đạo Quận ủy, UBND quận Hải An, Phòng GD&ĐT, các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể, Ban Giám hiệu, giáo viên, phụ huynh học sinh các trường Tiểu học của quận Hải An, thành phố Hải Phòng đã tạo điều kiện về thời gian, vật chất, tinh thần cho tác giả trong suốt quá trình học tập và hoàn thành khoá học Cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp, gia đình đã tận tình giúp đỡ động viên tác giả hoàn thành khoá học và luận văn này
Do điều kiện về thời gian và năng lực bản thân còn nhiều hạn chế nên luận văn này còn có những khiếm khuyết, tác giả mong nhận được sự góp ý chân thành của Thầy Cô và đồng nghiệp
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 15 tháng 06 năm 2017
Tác giả luận văn
Phạm Thị Thúy Hải
Trang 3DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
GDTH : Giáo dục tiểu học
GD&ĐT : Giáo dục và Đào tạo
CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
NLCĐ : Nguồn lực cộng đồng
XHHGD : Xã hội hóa giáo dục
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 4
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 4
4 Giả thuyết khoa học 4
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 5
7 Phương pháp nghiên cứu 5
8 Cấu trúc của luận văn 6
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ HUY ĐỘNG CÁC NGUỒN LỰC CỘNG ĐỒNG TRONG PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC TIỂU HỌC Ở QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 7
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 7
1.1.1 Trên thế giới 7
1.1.2 Ở Việt Nam 10
1.2 Giáo dục, Giáo dục tiểu học 14
1.2.1 Giáo dục 14
1.2.2 Giáo dục tiểu học 15
1.3 Nguồn lực, cộng đồng, nguồn lực cộng đồng 19
1.3.1 Nguồn lực 19
1.3.2 Cộng đồng 19
1.2.3.3 Nguồn lực cộng đồng 23
1.4 Huy động nguồn lực cộng đồng, huy động nguồn lực cộng đồng trong phát triển Giáo dục tiểu học 23
1.4.1 Huy động cộng đồng 23
1.4.2 Phát triển 24
1.4.3 Huy động nguồn lực cộng đồng trong phát triển Giáo dục tiểu học 24
Trang 51.5 Công tác tác huy động các nguồn lực cộng đồng trong phát triển
Giáo dục tiểu học 25
1.5.1.Mục đích huy động các nguồn lực cộng đồng trong phát triển Giáo dục tiểu học 25
1.5.2.Nội dung huy động các nguồn lực cộng đồng trong phát triển Giáo dục tiểu học 26
1.5.3 Nguyên tắc huy động các nguồn lực cộng đồng trong phát triển Giáo dục tiểu học 27
1.5.4.Biện pháp huy động các nguồn lực cộng đồng trong phát triển Giáo dục tiểu học 28
1.5.5.Hình thức huy động các nguồn lực cộng đồng trong phát triển Giáo dục tiểu học 29
1.5.7 Kiểm tra, đánh giá kết quả huy động các nguồn lực cộng đồng trong phát triển Giáo dục tiểu học 31
1.6 Các yêu tố ảnh hưởng đến công tác huy động các nguồn lực cộng đồng trong phát triển Giáo dục tiểu học 31
Kết luận chương 1 32
Chương 2: THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG CÁC NGUỒN LỰC CỘNG ĐỒNG TRONG PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC TIỂU HỌC Ở QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 33
2.1 Tổ chức và phương pháp nghiên cứu thực trạng 33
2.2 Khái quátvềquận Hải An, thành phố Hải Phòng 34
2.2.1 Sơ lược lịch sử hình thành, vị trí địa lý, tình hình kinh tế - xã hội của quận Hải An 34
2.2.2 Giáo dục tiểu học quận Hải An, thành phố Hải Phòng 36
2.3 Thực trạng giáo dục tiểu học quận Hải An, thành phố Hải Phòng 38
2.3.1 Mạng lưới các trường tiểu học 38
2.3.2 Quy mô học sinh 39
Trang 62.3.3 Giáo viên 39
2.3.4 Cơ sở vật chất 41
2.3.5 Chất lượng giáo dục 42
2.4 Thực trạng huy động các nguồn lực cộng đồng trong phát triển giáo dục Tiểu học ở quận Hải An, thành phố Hải Phòng 42
2.4.1 Nhận thức về công tác huy động các nguồn lực cộng đồng trong phát triển giáo dục Tiểu học ở quận Hải An, thành phố Hải Phòng 42
2.4.2 Đánh giá về thực trạng thực hiện nội dunghuy động các nguồn lực cộng đồng trong phát triển giáo dục Tiểu học quận Hải An, thành phố Hải Phòng 45
2.4.3 Thực trạng các lực lượng cộng đồng tham gia phát triển giáo dục Tiểu học quận Hải An, thành phố Hải Phòng 47
2.5 Đánh giá chung về thực trạng 63
2.5.1 Kết quả đạt được 63
2.5.2 Hạn chế 63
2.5.3 Nguyên nhân 64
Kết luận chương 2 65
Chương 3: BIỆN PHÁP HUY ĐỘNG CÁC NGUỒN LỰC CỘNG ĐỒNG TRONG PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC TIỂU HỌC Ở QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 66
3.1 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp 66
3.2.1 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 66
3.2.2 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 66
3.2.3 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 66
3.2.4 Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học 67
3.2.5 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa và phát triển 67
3.2.6 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ 67
Trang 73.2 Biện pháp huy động các nguồn lực cộng đồng trong phát triển Giáo
dục tiểu họcở quận Hải An, thành phố Hải Phòng 68
3.2.1 Đẩy mạnh tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của công táchuy động các nguồn lực cộng đồng trong phát triển giáo dục tiểu học 68
3.2.3 Xây dựng cơ chế, kế hoạch huy động các nguồn lực cộng đồng trong phát triển giáo dục tiểu học 71
3.2.4 Huy động các nguồn lực cộng đồng cho công tác phát triển giáo dục Tiểu học 72
3.2.5 Nâng cao hiệu quả sử dụng và quản lí sử dụng các nguồn lực cộng đồng được huy động trong công tác phát triển giáo dục Tiểu học 73
3.2.6 Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá kết quả huy động các nguồn lực cộng đồng trong phát triển giáo dục tiểu học 74
3.2.7 Nâng cao hiệu quả công tác thi đua, khen thưởng, xây dựng và học tập các gương điển hình về huy động các nguồn lực cộng đồng trong phát triển giáo dục Tiểu học 76
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp và khảo nghiệm biện pháp 77
3.3.1 Mối quan hệ giữa các biện pháp 77
3.3.2 Khảo nghiệm về tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp huy động các nguồn lực cộng đồng trong phát triển giáo dục tiểu học ở quận Hải An, thành phố Hải Phòng 77
Kết luận chương 3 86
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 87
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
PHỤ LỤC 92
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Các trường Tiểu học ở quận Hải An, thành phố Hải Phòng 38
Bảng 2.2 Số học sinh qua các năm học từ năm học 2012-2013 đến 2016-2017 của các trường Tiểu học trên địa bàn quận Hải An, tỉnh Hải Phòng 39
Bảng 2.3 Số lượng và chất lượng giáo viên của các trường Tiểu học trên địa bàn Quận Hải An, tỉnh Hải Phòng 39
Bảng 2.4 Đánh giá theo chuẩn quốc gia 40
Bảng 2.5 Nhu cầu về đội ngũ để đạt chuẩn quốc gia 40
Bảng 2.6 Cơ sở vật chất hiện có của các trường Tiểu học quận Hải An 41
Bảng 2.7 Nhu cầu về cơ sở vật chất để đạt chuẩn quốc gia của các trường Tiểu học quận Hải An 41
Bảng 2.8 Kết quả đánh giá xếp loại học sinh các trường Tiểu học trên địa bàn quận Hải An 42
Bảng 2.9 Nhận thức của cán bộ quản lí, giáo viên, phụ huynh trường Tiểu học và cácn bộ các cơ quan, ban, ngành về tầm quan trọng của công tác huy động các nguồn lực cộng đồng trong phát triển giáo dục Tiểu học 42
Bảng 2.10 Thực trạng nhận thức về mục tiêu của công tác huy động các nguồn lực cộng đồng trong phát triển giáo dục Tiểu học 43
Bảng 2.11 Đánh giá về thực trạng thực hiện nội dung huy động các nguồn lực cộng đồng trong phát triển GDTH quận Hải An, thành phố Hải Phòng 45
Bảng 2.12 Đánh giá về thực trạng các lực lượng cộng đồng tham gia phát triển giáo dục Tiểu học quận Hải An, thành phố Hải Phòng 47
Bảng 2.13 Đánh giá về mức độ thực hiện của các lực lượng cộng đồng tham gia phát triển GDTH quận Hải An, thành phố Hải Phòng 48
Bảng 2.14 Đánh giá về kết quả thực hiện của các lực lượng cộng đồng tham gia phát triển GDTHquận Hải An, thành phố Hải Phòng 49
Bảng 2.15 Mức độphối hợp giữa trường Tiểu học với các lực lượng kháctrong công tác phát triển GDTH quận Hải An, thành phố Hải Phòng 50
Trang 9Bảng 2.16 Thực trạng biện pháp huy động các nguồn lực cộng đồng trong
phát triển Giáo dục tiểu học quận Hải An, thành phố Hải Phòng 51
Bảng 2.17 Thực trạng hình thức huy động các nguồn lực cộng đồng trong
phát triển Giáo dục tiểu học quận Hải An, thành phố Hải Phòng 53
Bảng 2.18 Đánh giá về hiệu quả huy động các nguồn lực cộng đồng trong
phát triển Giáo dục tiểu học quận Hải An, thành phố Hải Phòng 54
Bảng 2.19 Đánh giá về các yếu tố ảnh hưởng đến công tác huy động các nguồn
lực cộng đồng trong phát triển Giáo dục tiểu học quận Hải An, thành phố Hải Phòng 61
Bảng 3.1 Mẫu khách thể khảo nghiệm 78 Bảng 3.2.Đánh giá về tính cần thiết của cácbiện pháp huy động các NLCĐ
trong phát triển GDTH ở quận Hải An, thành phố Hải Phòng 79
Bảng 3.3 Đánh giá về tính khả thi của các biện pháp huy động các NLCĐ
trong phát triển GDTH ở quận Hải An, thành phố Hải Phòng 83
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 3.1 Biện pháp huy động các NLCĐ trong phát triển GDTH ở quận
Hải An, thành phố Hải Phòng 81
Biểu đồ 3.2 Đánh giá về tính khả thi của các biện pháp huy động các NLCĐ
trong phát triển GDTH ở quận Hải An, thành phố Hải Phòng 85
Trang 111
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay các quốc gia trên thế giới đều nhận thức rằng: giáo dục (GD)
là chìa khóa mở đường đi vào tương lai, đầu tư cho GD là đầu tư cho phát triển bền vững của mọi nền kinh tế, văn hóa, xã hội
Từ những ngày đầu thành lập đất nước, với nhận thức “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”, Đảng ta đã chủ trương “diệt giặc dốt” cùng với “diệt giặc đói”
và “diệt giặc ngoại xâm” Sắc lệnh số 146/SL ngày 10 tháng 6 năm 1946 của chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định ba nguyên tắc căn bản của nền GD nước ta là:
“Đại chúng hóa, dân tộc hóa và khoa học hóa” Người đã dạy: “GD là sự nghiệp
của quần chúng Phải phát huy thật đầy đủ dân chủ Xã hội chủ nghĩa, xây dựng quan hệ thật tốt, đoàn kết thật chặt chẽ giữa thầy và thầy, giữa trò và trò, giữa trò với nhau, giữa các cán bộ các cấp, giữa nhà trường và nhân dân để hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ đó”
Đứng trước vai trò và tầm quan trọng của GD, Nghị quyết Trung ương 2
khóa VIII tháng 12 năm 1996 đã xác định: “Giáo dục và đào tạo (GD&ĐT)là
sự nghiệp của toàn Đảng, của Nhà nước và của toàn dân Mọi người chăm
lo cho GD Các cấp ủy và tổ chức Đảng, các cấp chính quyền, các đoàn thể nhân dân, các tổ chức kinh tế, xã hội, các gia đình và cá nhân đều có trách nhiệm tích cực góp phần phát triển GD&ĐT, đóng góp trí lực, vật lực, tài lực cho GD&ĐT Kết hợp GD nhà trường, GD gia đình và GD xã hội, tạo nên môi trường GD lành mạnh ở mọi nơi, trong từng cộng đồng, từng tập thể” [5]
Nghị quyết Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IX đã chỉ rõ:“Phát triển
GD&ĐT là một trong những động lực quan trọng để thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa, là điều kiện tiên quyết để phát triển nguồn lực con người, yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững Thực hiện chủ trương xã hội hóa giáo dục (XHHGD), phát triển đa
Trang 12phương hướng và chủ trương XHHGD [2], Nghị định số 59/2014/NĐ – CP sửa
đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 69/2008/NĐ-CP ngày 30 tháng 5 năm 2008 của Chính phủ về chính sách khuyến khích xã hội hoá đối với các hoạt động trong lĩnh vực GD, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường [3], Quyết
định số 20/2005/QĐ-BGD&ĐT phê duyệt đề án: “Quy hoạch phát triển XHHGD
trong giai đoạn 2005-2010” [1] Công tác quản lí, chỉ đạo, phát triển GD các cấp bậc học nói chung và Giáo dục tiểu học (GDTH) nói riêng cũng phải đi cùng với công tác vận động mọi lực lượng, nguồn lực trong xã hội, cần có sự phối hợp giữa các Bộ, Ban, Ngành và các đoàn thể xã hội mới có thể mang lại chất lượng và hiệu quả Như vậy, để nâng cao chất lượng và phát triển GDTH cần phải có sự phối hợp của mọi lực lượng, các tổ chức đoàn thể trong xã hội
Trong Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành TƯ Đảng khóa X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã khẳng định để phát triển GD&ĐT, đổi mới căn bản và toàn diện GD thì cần đề cao trách nhiệm của gia đình và xã hội phối hợp chặt chẽ với nhà trường trong GD thế hệ trẻ Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI
về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã khẳng định: “Khuyến
khích xã hội hóa để đầu tư xây dựng và phát triển các trường chất lượng cao ở tất cả các cấp học và trình độ đào tạo”[ 11]
Trang 133
Tại khoản 2, Điều 27 Luật Giáo dục có ghi “GDTH nhằm giúp học sinh (HS)
hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản để HS tiếp tục học Trung học
cơ sở XHHGD bậc học này là cần thiết và tất yếu”[ 25]
XHHGD được hiểu là vận động mọi lực lượng, nguồn lực trong xã hội, huy động toàn xã hội, tập thể và cá nhân tham gia vào sự nghiệp GD&ĐT bằng nhiều hình thức khác nhau với mục tiêu là hình thành và phát triển nhân cách thế hệ trẻ XHHGD nhằm tăng cường cơ hội GD cho mọi người, giảm gánh nặng ngân sách nhà nước đầu tư cho GD và tiến tới một xã hội học tập.XHHGD là xu hướng phát triển ở tất cả các nước trên thế giới và đây cũng
là một quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong phát triển sự nghiệp GD, đặc biệt là trong xu thế hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa Trong quá trình phát triển, đặc biệt là trong hơn 70 năm dưới chính quyền Cách mạng, nền GD Việt Nam luôn chứng tỏ là sự nghiệp của toàn dân, toàn dân tham gia vào GD, toàn xã hội quan tâm đến GD
Trong những năm qua, tại quận Hải An, thành phố Hải Phòng, công tác
xã hội hóa GD nói chung và xã hội hóa GDTH nói riêng ngày càng phát triển
và đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ, nhận thức của toàn xã hội về trách nhiệm và nghĩa vụ tham gia phát triển giáo dục được nâng cao; các trường Tiểu học đã huy động được nhiều hơn sự đóng góp từ các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp và cha mẹ học sinh đầu tư xây dựng trường, lớp, trang thiết bị phục vụ cho giảng dạy và học tập, đồng thời phối hợp với các lực lượng xã hội liên quan, tham gia GD cho HS Tuy nhiên, công tác này vẫn còn gặp
nhiều khó khăn và hạn chế trong việc phối hợp giữa “nhà trường – gia đình –
xã hội” để huy động toàn xã hội tham gia vào quá trình GD, đóng góp các
nguồn lực phát triển nhà trường , do đó, kết quả phát triển giáo dục tiểu học tại địa bàn vẫn chưa đạt được kết quả cao Chính vì vậy, nghiên cứu bổ sung
lí luận, đánh giá thực trạng và đề xuất các biện pháp huy động các NLCĐ
Trang 142 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực trạng huy động các NLCĐ trong phát triển GDTH ở quận Hải An, thành phố Hải Phòng trên cơ sở đó đề xuất một
số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động này
3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Công tác XHHGD Tiểu học ở quận Hải An, thành phố Hải Phòng
3.2 Đối tƣợng nghiên cứu
Biện pháp huy động các NLCĐ trong phát triển GDTH ở quận Hải An,
thành phố Hải Phòng
4 Giả thuyết khoa học
Việc huy động các NLCĐ trong huy động các NLCĐ trong phát triển GDTH quận Hải An, thành phố Hải Phòng chưa thực sự đạt được kết quả như mong muốn Nếu đánh giá một cách toàn diện về thực trạng của hoạt động này, trên cơ sở đó đề ra những biện pháp mang tính khoa học và hợp lý thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của công tác này tại địa bàn nghiên cứu
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận về huy động các NLCĐ trong phát triển GDTH 5.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng huy động các NLCĐ trong phát triển GDTH ở quận Hải An, thành phố Hải Phòng
5.3 Đề xuất biện pháp huy động các NLCĐ trong phát triển GDTH ở quận Hải An, thành phố Hải Phòng
Trang 155
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
6.1 Giới hạn về đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu về huy động các NLCĐ trong phát triển GDTH ở quận Hải An, thành phố Hải Phòng
6.2 Khách thể khảo sát
Chúng tôi tiến hành khảo sát trên các 45 cán bộ quản lí, giáo viên trường Tiểu học, cán bộ Phòng Giáo dục và Đào tạo; 55 cán bộ các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể, và 130 phụ huynh học sinh các trường Tiểu học trên địa bàn qunạ Hải An, thành phố Hải Phòng
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Các phương pháp nghiên cứu lí luận
Nhóm phương pháp này dùng để thu thập, xử lí các tài liệu có liên quan, trên cơ sở đó xây dựng cơ sở lí luận của đề tài nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu lí luận được sử dụng bao gồm: phương pháp
phân tích, tổng hợp lí luận; phương pháp giả thuyết, phương pháp chứng minh
7.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Nhóm phương pháp này dùng để nghiên cứu về thực trạng huy động các NLCĐ trong phát triển GDTH ở quận Hải An, thành phố Hải Phòng
Các phương pháp được sử dụng bao gồm:
7.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Xây dựng và sử dụng phiếu trưng cầu ý kiến để thu thập ý kiến của các chuyên gia, cán bộ quản lí, giáo viên (GV), phụ huynh, HS về thực trạng huy động các NLCĐ trong phát triển GDTH ở quận Hải An, thành phố Hải Phòng
7.2.2 Phương pháp phỏng vấn
Trò chuyện, phỏng vấn sâu để thu thập những ý kiến đánh giá của các chuyên gia, cán bộ quản lí, GV, phụ huynh, HS về vấn đề huy động các NLCĐ trong phát triển GDTH ở quận Hải An, thành phố Hải Phòng
Trang 166
7.2.3 Phương pháp chuyên gia
Trực tiếp (với một số chuyên gia) hoặc gián tiếp (bằng phiếu hỏi) trao đổi những vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu với các chuyên gia trong các lĩnh vực: Tâm lí học và Giáo dục học.Đặc biệt xin ý kiến về các biện pháp huy động các NLCĐ trong phát triển GDTH ở quận Hải An, thành phố Hải Phòng
7.3 Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng các phương pháp nghiên cứu hỗ trợ nhằm xử lí những số liệu thu được từ thực trạnghuy động các NLCĐ trong phát triển GDTH ở quận Hải An, thành phố Hải Phòng, trên cơ sở đó, đưa ra những nhận xét, đánh giá, lí giải nguyên nhân, đồng thời đề xuất các biện pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác này
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng bao gồm: Phương pháp sử dụng toán thống kê, phương pháp sử dụng phần mềm xử lí số liệu
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được thể hiện ở 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lí luận vềhuy động các NLCĐ trong phát triển GDTH
Chương 2 Thực trạng huy động các NLCĐ trong phát triển GDTH ở
quận Hải An, thành phố Hải Phòng
Chương 3 Biện pháp huy động các NLCĐ trong phát triển GDTH ở quận
Hải An, thành phố Hải Phòng
Trang 17Bắt đầu khoảng 30 năm cuối của thế kỷ XX, đặc biệt những năm đầu thế
kỷ XXI, đa số các nước phát triển như Anh, Đức, Mỹ, Pháp, Nhật Bản, Ôxtrâylia, Malaysia, Singapore, Hàn Quốc đều tiến hành nhận thức lại vai trò, sứ mệnh của GD, coi GD là nền tảng của mọi sự phát triển xã hội Tại các nước này rất nhiều chương trình cải cách GD được thực hiện, nhằm đổi mới toàn diện nền GD đất nước, tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng với yêu cầu phát triển và sự thay đổi nhanh chóng trong xu hướng toàn cầu hóa tri thức Khuynh hướng cải cách GD là tập trung thu hút và tăng cường sự tham gia của các lực lượng xã hội, gia đình, các tổ chức trong và ngoài nước cùng với nhà nước tham gia phát triển GD
Việc huy động các lực lượng xã hội, các tổ chức cùng với nhà nước tham gia vào GD và XHHGD đã đem lại nhiều thành công cho quá trình đẩy mạnh cải cách GD Có thể khái quát như sau: Phát huy vai trò của các đoàn thể cộng đồng địa phương chịu trách nhiệm trực tiếp về GD ở các khu vực Mở rộng mối quan hệ giữa gia đình, nhà trường và cộng đồng, cụ thể: tăng cường vai trò của gia đình trong GD và tăng cường sự nghiệp GD cộng đồng
Một số tài liệu, công trình tiêu biểu đã đề cập đến vai trò quan trọng của các lực lượng xã hội trong việc tham gia vào sự nghiệp phát triển nhà trường nhằm nâng cao chất lượng GD&ĐT của nhà trường và kết quả học tập của HS
Tài liệu hướng dẫn sự tham gia hiệu quả của các NLCĐ ở các trường Bắc Carolina đã khẳng ñịnh tầm quan trọng của gia đình và cộng đồng trong
Trang 188
việc tham gia, giúp nhà trường nâng cao thành tích học tập của HS Bên cạnh
đó tài liệu còn đưa ra tám yếu tố cần thiết để tăng cường sự tham gia của gia
đình và cộng đồng [38]
Tác giả Tangri, S và Moles trong cuốn sách “Cha mẹ và cộng đồng” đã
nghiên cứu và chỉ ra những ảnh hưởng khi cha mẹ HS có những hình thức tham gia vào quá trình học tập của HS Các thành tích, kết quả đạt được và hành vi, thái độ của HS có liên quan đến việc như: cha mẹ tham gia với tư cách là trợ lí lớp học, cha mẹ HS làm tình nguyện viên, hỗ trợ làm bài tập ở
nhà và tạo môi trường giáo dục ở nhà [36]
Tác giả Walberg, H J và cộng sự trong cuốn “Nhà trường dựa vào gia
đình và cho kết quả” đã điều tra các hiệu ứng thành tích của HS khi có sự hỗ
trợ của cha mẹ HS vào hoạt động học tập của HS Cha mẹ HS từ lớp 1 đến lớp 6 trong 41 lớp học ở Chicago đồng ý hợp tác với các GV trong việc hỗ trợ hoạt động học tập của con em họ Kết quả cho thấy HS nào cha mẹ tham gia nhiều vào hoạt động học tập của con thì thành tích học tập của con họ sẽ tăng
hơn so với các bậc cha mẹ không tham gia [37]
Tác giả Comer, J, trong nghiên cứu "Sự tham gia của phụ huynh trong các
trường học” đã mô tả các mối quan hệ đang thay đổi giữa các trường học và cộng
đồng, đồng thời thảo luận về vai trò quan trọng của phụ huynh khi tham gia vào
GD nhà trường Tác giả đã trình bày chi tiết về các chương trình phụ huynh tham gia ở các trường học tại Connecticut, kết quả học tập của HS trong các trường học
đã có sự thay ñổi rất tích cực đó là trước kia kết quả rất thấp nay thì hầu như hết
HS các trường đã đạt được kết quả cao khi có sự tham gia của cha mẹ HS [30]
Tác giả Laura Brannelly và Joan Sullivan-Owomoyela trong cuốn sách
“Thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng đóng góp cho GD trong các điều
kiện xung đột” đề cập đến sự tham gia của cộng đồng và phát triển mô hình
cộng đồng tham gia vào GD ở các nước Jordan, Afghanistan, Iraq,Liberia, Uganda và vùng lãnh thổ Palestine Các tác giả đã nghiên cứu sự tham gia
Trang 19sau xung đột và xây dựng lại GD [34]
Epstein và đồng nghiệp đã đưa ra khái niệm về mối quan hệ giữa Gia đình - Nhà trường - Xã hội như là những chiến lược hành động của cha mẹ
HS - Nhà trường- Xã hội, giúp HS có được kết quả cao trong học tập, đồng thời sự tham gia của cộng đồng vào GD nhà trường là rất quan trọng bởi
“các vấn đề về thành tích GD và kết quả học tập của HS đều phụ thuộc vào
các yếu tố trong nhà trường và của cha mẹ HS”[32]
Tác giả Anne Henderson và Karen Mapp đã nghiên cứu hơn 50 công
trình được công bố từ năm 1995 để biên dịch cuốn sách: “Minh chứng mới
về những tác động của nhà trường, gia đình và cộng đồng đến kết quả học tập của HS” Kết quả cho thấy, để có được sự tham gia tích cực của cha mẹ
HS thì nhà trường phải liên kết các hoạt động của cha mẹ HS với mục tiêu học tập của HS và phải quan tâm đến hoàn cảnh khác nhau của mỗi gia
đình HS [33]
Tác giả Berger trong nghiên cứu “Cha mẹ là các đối tác trong GD:
Gia đình và nhà trường cùng nhau tham gia” cho rằng có rất nhiều bằng
chứng cho thấy sự quan tâm và hỗ trợ của cha mẹ HS là yếu tố chính trong việc thành công hay thất bại của HS Kết quả học tập cũng như thành tích học tập của HS sẽ tăng cao khi có sự tham gia của cha mẹ HS cùng với nhà
trường [29]
Tác giả Cotton Kathleen trong cuốn sách “Mối quan hệ trong nhà
trường là những mối quan tâm lớn nhất” đã viết về sự tham gia của cha mẹ
Trang 2010
HS vào GD của nhà trường, bao gồm các hình thức khác nhau như: Cha mẹ
có thể hỗ trợ việc học của con em mình bằng cách tham gia các môn học và đáp ứng các nghĩa vụ học tập Họ có thể tham gia nhiều hơn trong việc giúp
đỡ con cái của họ, theo dõi bài tập về nhà, tích cực dạy kèm con ở nhà để cải thiện việc học, khuyến khích, tạo điều kiện về thời gian, không gian học thích hợp cũng như đáp ứng các mong muốn của con em mình Họ có thể
có một vai trò tích cực trong công tác quản trị và ra quyết định cần thiết cho việc lập kế hoạch, phát triển và cung cấp một nền GD cho trẻ em Tác giả cũng đã đưa ra những minh chứng rằng sự tham gia của cha mẹ HS vào các hoạt động học tập của con em họ đã giúp các em đạt được thành tích cao hơn trong học tập Hơn nữa, các nghiên cứu cho thấy khi con em họ có kết quả học tập tốt hơn thì cha mẹ HS cũng tham gia mạnh mẽ hơn trong việc
giúp đỡ con mình học tập [31]
Luận án của Marie DeLuci, với đề tài“Nghiên cứu điển hình về sự
tham gia của xã hội vào các trường tiểu học ở ba trường của Ethiopia” đã
nêu tầm quan trọng của cộng đồng tham gia phát triển nhà trường Đồng thời tác giả đã chứng minh rằng để huy động được sự tham gia của cha mẹ
HS và cộng đồng cần có một tổ chức hay một uỷ ban nào đó đại diện cho cộng đồng hay cha mẹ HS để cải tiến nhà trường, đặc biệt rất cần sự nỗ lực phối hợp giữa Nhà nước – cha mẹ HS và các tổ chức phi chính phủ trong
việc cùng quan tâm đến nhà trường cũng như con em họ [35]
1.1.2 Ở Việt Nam
Tại Việt Nam, huy động sự tham gia của các lực lượng cộng đồng trong phát triển giáo dục nói chung và phát triển GDTH nói riêng đã được Đảng và Nhà nước quy định
Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban
hành sắc lệnh 146/SL ngày 10/8/1946, trong đó chỉ rõ: “Một dân tộc dốt là
một dân tộc yếu” và xác định các nguyên tắc cơ bản của nền giáo dục nước ta
Trang 2111
là “Đại chúng hóa, dân tộc hóa, khoa học hóa và tôn chỉ phụng sự lý tưởng
quốc gia và dân chủ”[26] Vì vậy, ngay từ khi mới giành độc lập, Đảng và
Nhà nước ta đã bắt tay ngay vào cải tạo và xây dựng nền giáo dục quốc dân Tháng 9 năm 1946, Ban Bí thư Trung Ương Đảng ra Chỉ thị về nhiệm vụ
công tác giáo dục ở miền núi đã chỉ rõ: “Thầy tìm trò, trường gần dân, quy
mô nhỏ, nhà nước và nhân dân cùng phối hợp quyết tâm mở rộng cánh cửa của nhà trường XHCN cho các dân tộc”[Phạm Minh Hạc (1997), Xã hội hóa công tác GD, NXB Giáo dục, Hà Nội]
Tháng 7 năm 1950, Hội đồng Chính phủ thông qua đề án cải cách giáo
dục lần thứ nhất, trong đó nêu rõ “Tính chất của nền giáo dục mới của ta là
một nền giáo dục của dân, do dân và vì dân, được xây dựng trên nguyên tắc khoa học và đại chúng”[13]
Tháng 1 năm 1979, Bộ Chính trị Ban hành Nghị quyết số 14-NQ/TW về
cải cách giáo dục và xác định phương châm: “Phối hợp những cố gắng đầu tư
của nhà nước với sự đóng góp của nhân dân, của các ngành, các cơ sở sản xuất và sức lao động của thầy trò trong việc xây dựng trường sở, phòng thí nghiệm, xưởng trường, vườn trường”[13]
Nghị quyết Hội nghị lần 2 Ban chấp hành TW khoá VIII đã khẳng định:
“Giáo dục là sự nghiệp của toàn Đảng, của Nhà nước và của toàn dân Mọi
người đi học, học thường xuyên, học suốt đời Phê phán thói lười học Mọi người chăm lo giáo dục”[7]
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã chỉ rõ: “Tiếp tục nâng cao chất
lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục; thực hiện chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa”[8]
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã khẳng định: “GD&ĐT cùng với
khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” đồng thời chỉ rõ: “Nâng cao chất
Trang 2212
lượng giáo dục toàn diện; đổi mới cơ cấu tổ chức, cơ chế quản lý, nội dung, phương pháp dạy và học; thực hiện chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa”[15]
Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI cũng đã xác định
phương hướng phát triển GD&ĐT trong giai đoạn 2011 - 2015 là: “Đổi mới
căn bản, toàn diện nền giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa; đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học; đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục, đào tạo” đồng thời chỉ rõ: “Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường với gia đình và xã hội; xây dựng xã hội học tập, tạo
cơ hội và điều kiện cho mọi công dân được học tập suốt đời”[28]
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 coi việc phát triển GD
là quốc sách hàng đầu để đạt được mục tiêu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Nhà nước tăng đầu tư, đồng thời đẩy mạnh XHHGD, huy động toàn xã
hội chăm lo phát triển GD [10]
Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020 đưa ra quan điểm chỉ đạo phát triển GD là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân đồng thời cũng quy định trách nhiệm tham gia, đóng góp nguồn lực của các ngành, các tổ chức chính trị - xã hội, cộng đồng và gia đình tạo cơ hội học
tập suốt đời cho mọi người, góp phần từng bước xây dựng xã học tập [26] Luật GD sửa đổi năm 2009 tại điều 13 quy định “Đầu tư cho GD là đầu
tư phát triển” và “Nhà nước ưu tiên đầu tư cho GD; khuyến khích và bảo hộ các quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư cho GD” [25]
Nhiều hội thảo tập trung bàn về các vấn đề lí luận và các quan điểm mới
và sự phối hợp của các tổ chức xã hội trong XHHGD Một số hội thảo đi sâu vào phân tích các yếu tố quan trọng để thực hiện thành công việc phối hợp các lực lượng trong công tác XHHGD
Trang 2313
Bên cạnh đó là các công trình nghiên cứu về sự tham gia của cộng đồng của các tác giả khác đã tổng hợp những quan điểm lí luận và thực tiễn về vai trò và nhiệm vụ phối hợp của Nhà trường - Gia đình - Xã hội trong sự nghiệp GD:
- Trong cuốn “GD Việt Nam trước ngưỡng cửa của thế kỉ XXI” tác giả
Phạm Minh Hạc khẳng định sự nghiệp GD của Việt Nam không phải chỉ do Nhà nước gánh vác, mà phải có sự chung sức của các lực lượng xã hội cùng
tham gia vào sự nghiệp GD nước nhà, tạo nên một xã hội học tập [14]
- Võ Tấn Quang, trong cuốn sách “Những nhân tố mới về GD trong công
cuộc đổi mới” đã nhấn mạnh tầm quan trọng của quần chúng trong công tác
GD, theo tác giả, XXH trong công tác GD là phải phát động phong trào quần chúng làm GD, huy động toàn xã hội tham gia sự nghiệp GD&ĐT, hình thành
và phát triển nhân cách thế hệ trẻ [24]
- Nguyễn Minh Phương “Đẩy mạnh XHHGD, y tế ở Việt Nam” đưa ra
một số vấn đề lí luận về XHHGD, cùng kinh nghiệm của một số nước trong việc huy động các nguồn lực xã hội, đồng thời cũng đưa ra các quy định hiện hành về XHHGD ở nước ta; thực trạng XHHGD và những vấn đề đặt ra cùng
các quan điểm, giải pháp đẩy mạnh XHHGD [23]
- Tác giả Phạm Tất Dong“Phát triển GD hướng tới một xã hội học tập”
đã đề cập đến các vấn đề xã hội học tập và những vấn đề cơ bản trong cấu trúc của nó; cấu trúc của xã hội học tập; tình hình phát triển GD giai đoạn
2000 - 2010 theo chủ trương xây dựng xã hội học tập; đổi mới căn bản và
toàn diện nền GD theo hướng xây dựng xã hội học tập [4]
- Luận án tiến sĩ Quản lí giáo dục “Kết nối nhà trường với gia đình và xã
hội nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông tại Hà Nội” của Hoàng Hồng Trang đã nghiên cứu cơ sở lí luận và thực
tiễn về mối liên kết giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong công tác GD đạo đức HS Theo tác giả, để nâng cao hiệu quả GD đạo đức cho HS thì phải tăng
cường mối liên kết giữa nhà trường với gia đình và xã hội [27]
Trang 2414
Quan tổng quan nghên cứu đề tài có thể rút ra một số nhận xét như sau:
- Phát triển giáo dục nói chung và phát triển GDTH nói riênglà vấn đề nhận được nhiều sự quan tâm của các Nhà nước, đồng thời cũng là vấn đề được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu
- Các công trình nghiên cứu về phát triển phát triển GDTH đã có chủ yếu tập trung vào hướng nghiên cứu lí luận, thực tiễn và biện pháp tổng thể phát triển GDTH, tuy nhiên, còn ít công trình đi sâu nghiên cứu về huy động các NLCĐ phát triển GDTH
- Cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu về “Huy động các
NLCĐ trong phát triển GDTH quận Hải An, thành phố Hải Phòng”
1.2 Giáo dục, Giáo dục tiểu học
1.2.1 Giáo dục
Giáo dục theo từ tiếng Hán thì giáo nghĩa là dạy, là rèn luyện về đường tinh thần nhằm phát triển tri thức và huấn luyện tình cảm đạo đức, dục là nuôi, là săn sóc về mặt thể chất Vậy giáo dục là một sự rèn luyện con người
về cả ba phương diện trị tuệ, tình cảm và thể chất Theo phương Tây thì education vốn xuất phát từ chữ educare của tiếng La tinh Động từ educare là dắt dẫn, hướng dẫn để làm phát khởi ra những khả năng tiền tàng Sự dắt dẫn này nhằm đưa con người từ không biết đến biết, từ xấu đến tốt, từ thấp kém đến cao thượng, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện
Theo tác giả Trần Thị Tuyết Oanh “Giáo dục là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch, có nội dung và bằng phương pháp khoa học của nhà giáo dục tới người được giáo dục trong các cơ quan giáo dục nhằm hình thành nhân cách cho họ” [21]
Theo tác giả Nguyễn Lân “Giáo dục là một quá trình có ý thức có mục đích, có kế hoạch nhằm truyền cho lớp mới những kinh nghiệm đấu tranh và sản xuất, những tri thức về tự nhiên, về xã hội, về tư duy, để họ có thể có đầy
đủ khả năng tham gia vào đời sống và đời sống xã hội” [18]
Trang 2515
Theo tác giả Nguyễn Sinh Huy “Giáo dục là sự hình thành có mục đích
và có tổ chức những sức mạnh thể chất và tinh thần của con người, hình thành thế giới quan, bộ mặt đạo đức và thị hiếu thẩm mĩ cho con người; với nghĩa rộng nhất, khái niệm này bao hàm cả giáo dưỡng, dạy học và tất cả những yếu
tố khác tạo nên những nét tính cách và phẩm hạnh của con người, đáp ứng yêu cầu của kinh tế xã hội” [16]
Dù xét trên các góc độ, phạm vi khác nhau, chúng ta có thể nhận thấy: Giáo dục là một quá trình toàn vẹn hình thành nhân cách, được tổ chức một cách có mục đích và kế hoạch, thông qua các hoạt động và quan hệ giữa người giáo dục và người được giáo dục, nhằm truyền đạt và chiếm lĩnh những kinh nghiệm xã hội loài người
Như vậy: Giáo dục luôn là một quá trình có mục đích, có kế hoạch, là quá trình tác động qua lại giữa nhà giáo dục và người được giáo dục
Thông qua quá trình tương tác giữa người giáo dục và người được giáo dục để hình thành nhân cách toàn vẹn (hình thành và phát triển các mặt đạo đức, trí tuệ, thẩm mĩ, thể chất, lao động) cho người được giáo dục
Giáo dục không bó hẹp ở phạm vi là người được giáo dục đang trong tuổi học (dưới 25 tuổi) và giáo dục không chỉ diễn ra trong nhà trường Ngày nay, chúng ta hiểu giáo dục là cho tất cả mọi người, được thực hiện ở bất cứ không gian và thời gian nào thích hợp với từng loại đối tượng bằng các phương tiện khác nhau, kể cả các phương tiện truyền thông đại chúng (truyền hình, truyền thanh, video, trực tuyến qua inernet,…) với các hình thức đa dạng, phong phú Ngoài ra quá trình giáo dục không ràng buộc về độ tuổi giữa người giáo dục với người được giáo dục
1.2.2 Giáo dục tiểu học
1.2.2.1 Vị trí của Giáo dục tiểu học trong hệ thống giáo dục quốc dân
Giáo dục tiểu học là bậc giáo dục nối tiếp Giáo dục mầm non và mở đầu cho Giáo dục phổ thông
Trang 2616
Tại khoản 1, mục 1, Điều 26 Luật Giáo dục đã nêu rõ: “Giáo dục tiểu học được thực hiện trong năm năm học, từ lớp một đến lớp năm Tuổi của học sinh vào học lớp một là sáu tuổi”[25]
Khung cơ cầu hệ thống giáo dục quốc dân
(Kèm theo Quyết định số 1981/QĐ-TTg ngày 18 tháng 10 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ
Chú thích
Chuyển đổi cùng cấp:
Chuyển tiếp giữa các cấp:
Căn cứ và sơ đồ trên, chúng ta có thể rút ra những điều sau đây về giáo dục tiểu học:
Tiến sĩ (3-4 năm)
Thạc sĩ định hướng nghiên cứu (1-2 năm)
Thạc sĩ định hướng ứng dụng (1-2 năm)
Đại học định hướng nghiên cứu (3-5 năm)
Đại học định hướng ứng dụng (3-5 năm)
Cao đẳng (2-3 năm)
Trung cấp (3 năm)
Trung học phổ thông (3 năm)
Trung học cơ sở (4 năm)
Tiểu học (5 năm)
Mẫu giáo (3 năm) Nhà trẻ
Trang 27Vì vậy, giáo dục tiểu học sẽ nhận trẻ từ 6 tuổi, nghĩa là hết tuổi mẫu giáo, vào học
- Hai là, giáo dục tiểu học nằm trong hệ thống giáo dục phổ thông cùng với giáo dục trung học cơ sở và trung học phổ thông
Như vậy là, trẻ 6 tuổi bắt đầu trở thành học sinh lớp 1 – lớp học đầu tiên của hệ thống giáo dục phổ thông
Trong hệ thống giáo dục phổ thông, giáo dục tiểu học kéo dài trong 5 năm Sau khi học xong tiểu học, một phần hoặc toàn bộ học sinh sẽ được học tiếp lên trung học cơ sở
Giáo dục trung học cơ sở nhận học sinh đã tốt nghiệp tiểu học, được thực hiện trong 4 năm, với mục tiêu là: Củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục tiểu học; hình thành cho học sinh những cơ sở của nhân cách con người Việt Nam – người công dân và người lao động tương lai; có những giáo trị cơ bản về nhân văn và xã hội, có học vấn phổ thông cơ bản nghề đơn giản
để có thể tiếp tục học tập lên trung học phổ thông, rồi học tiếp ở trình độ cao (cao đẳng hoặc đại học…) hay bước vào cuộc sống lao động
Giáo dục trung học phổ thông dành cho những học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở Giáo dục trung học phổ thông phát huy những kết quả của giáo dục
cơ sở mà kết quả này phụ thộc vào việc củng cố và phát triển của giáo dục tiểu học Trên cơ sở đó, giáo dục trung học phổ thông hoàn thành cấp học cuối cùng theo phương thức phân hóa; bước đầu hình thành cho học sinh tư cách và trách nhiệm công dân, hoàn thành những hiểu biết phổ thông cần thiết
Trang 2818
về khoa học xã hội và tự nhiên, về kĩ thuật về nghề nghiệp phù hợp với năng lực và nguyện vọng của học sinh để có thể tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động
- Ba là, từ những điều đã trình bày, chúng ta nhận thấy giáo dục tiểu học tạo thành một cấp học nền tảng, không những cho hệ thống giáo dục phổ thông mà còn cho toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân
Thật vậy, khi đứa trẻ bước vào lớp 1 thì mới thực sự trở thành học sinh lấy học tập làm hoạt động chủ đạo thay vì hoạt động vui chơi khi các em còn
ở lứa tuổi mẫu giáo
Học sinh sau khi đã tốt nghiệp tiểu học, nghĩa là sau khi đạt được những yêu cầu của giáo dục tiểu học, thì mới có thể học lên phổ thông trung học cơ sở Học sinh sau khi tốt nghiệp trung học cơ sở sở, nghĩa là đạt được những yêu cầu giáo dục trung học cơ sở, thì mới có thể có khả năng học tiếp lên trung học phổ thông
Học sinh sau khi đã tốt nghiệp trung học phổ thông, nghĩa là đã đạt được nhiệm vụ yêu cầu của giáo dục trung học phổ thông thì mới có khả năng học tiếp lên cao đẳng, đại học và sau đại học
Chính vì vậy, giáo dục tiểu học được coi là một cấp học cơ sở ban đầu trong hệ thống giáo dục Cấp học này làm nền tảng không những cho hệ thống giáo dục phổ thông mà còn cho hệ thống giáo dục quốc dân nữa
Với cách nhìn mới ấy, chúng ta đã và đang coi trọng giáo dục tiểu học
Và trên thực tế, chúng ta đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học từ năm
2000, làm cơ sở cho việc phổ cập trung học cơ sở và trung học phổ thông…
1.2.2.2 Mục tiêu của giáo dục Giáo dục tiểu học
Mục tiêu của Giáo dục tiểu học là nhằm “giúp học sinh hình thành
những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở” [25]
Trang 2919
1.2.2.3 Nhiệm vụ của Giáo dục tiểu học
Giáo dục tiểu học có các nhiệm vụ cơ bản sau:
Nguồn lực được hiểu là tất cả những yếu tố và phương tiện mà hệ thống
có quyền chi phối, điều khiển, sử dụng để thực hiện mục tiêu của mình Đối với Giáo dục, nguồn lực được hiểu là: đội ngũ giáo viên, cán bộ, nhân viên trong nhà trường, học sinh, phụ huynh hoc sinh, thông tin, các đoàn thể chính trị xã hội, các cơ sở đào tạo giáo viên, chính quyền các cấp, các cá nhân, tổ chức đầu
tư cho giáo dục
1.3.2 Cộng đồng
1.3.2.1 Khái niệm
Cộng đồng (community) được hiểu theo nghĩa chung nhất là: “một cơ thể sống/ cơ quan/ tổ chức nơi sinh sống và tương tác giữa cái này với các khác” Trong khái niệm này, điều đáng chú ý, được nhấn mạnh: cộng đồng là
“cơ thể sống”, có sự “tương tác” của các thành viên Dấu hiệu/ đặc điểm để phân biệt cộng đồng này với cộng đồng khác có thể là bất cứ cái gì thuộc về con người và xã hội loài người, màu da, đức tin, tôn giáo, lứa tuổi, ngôn ngữ, nhu cầu, sở thích nghề nghiệp… nhưng cũng có thể là vị trí địa lý của khu vực (địa vực), nơi sinh sống của nhóm người đó như làng xã, quận huyện, quốc gia, châu lục… Những dấu hiệu này chính là những ranh giới để phân chia cộng đồng Tuy nhiên, các nhà khoa học, trong khái niệm này không chỉ cụ thể “cái này” với “cái khác” là cái gì, con gì Đó có thể là các loại thực vật,
Trang 3020
cũng có thể là các loại động vật, cũng có thể là con người – cộng đồng người Cộng đồng là hình thức chung sống trên cơ sở sự gần gũi của các thành viên về mặt cảm xúc, hướng tới sự gắn bó đặc biệt mật thiết (gia đình, tình bạn cộng đồng yêu thương) được chính họ tìm kiếm và vì thế được con người cảm thấy có tính cội nguồn Và cộng đồng được xem là một trong những khái niệm nền tảng nhất của xã hội học, bởi vì nó mô tả những hình thức quan hệ
và quan niệm về trật tự, không xuất phát từ các tính toán lợi ích có tính riêng
lẻ và được thỏa thuận theo kiểu hợp đồng mà hướng tới một sự thống nhất về tinh thần - tâm linh bao quát hơn và vì thế thường cũng có ưu thế về giá trị Cộng đồng người có tính đa dạng, tính phức tạp hơn nhiều so với các cộng đồng sinh vật khác Trong đời sống xã hội, khái niệm cộng đồng có nhiều tuyến nghĩa khác nhau đồng thời cộng đồng cũng là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau: xã hội học, dân tộc học, y học… Khi nói tới cộng đồng người, người ta thường quy vào những “nhóm xã hội” có cùng một hay nhiều đặc điểm chung nào đó, nhấn mạnh đến đặc điểm chung của những thành viên trong cộng đồng
Nhà xã hội học người Mỹ J Fichter trong tác phẩm “Những khái niệm cơ bản của Tâm lí học xã hội” [12] cho rằng cộng đồng bao gồm
bốn yếu tố sau đây:
- Sự tương quan mật thiết giữa các cá nhân (mặt đối mặt)
- Sự liên hệ về mặt xúc cảm, tình cảm giữa các cá nhân trong quá trình thực hiện vai trò xã hội và các nhiệm vụ được giao
- Sự dâng hiến về mặt tinh thần đối với những giá trị mà tập thể cho là cao cả
- Sự đoàn kết, hợp tác giữa cá nhân với người khác và với tập thể
Theo quan điểm Mác – Xít, cộng đồng là mối quan hệ qua lại giữa các
cá nhân, được quyết định bởi sự cộng đồng hóa lợi ích giống nhau của các thành viên về các điều kiện tồn tại và hoạt động của những người hợp
Trang 3121
thành cộng đồng đó, bao gồm các hoạt động sản xuất vật chất và các hoạt động khác của họ, sự gần gũi các cá nhân về tư tưởng, tín ngưỡng, hệ giá trị chuẩn mực cũng như các quan niệm chủ quan của họ về các mục tiêu và phương tiện hoạt động
Quan niệm về cộng đồng theo quan điểm Mác – Xít là quan niệm rất rộng, có tính khái quát cao, mang đặc thù của kinh tế - chính trị Dấu hiệu đặc trưng chung của nhóm người trong cộng đồng này chính là “điều kiện tồn tại
và hoạt động”, là “lợi ích chung”, là “tư tưởng”, “tín ngưỡng” “giá trị”chung…Thực chất đó là cộng đồng mang tính giai cấp, ý thức hệ
Theo từ điển xã hội học của Harper Collins, cộng đồng được hiểu là mọi phức hợp các quan hệ xã hội được tiến hành trong lĩnh vực kinh cụ thể, được xác định về mặt địa lý, hàng xóm hay những mối quan hệ mà không hoàn toàn về mặt cư trú, mà tồn tại ở một cấp độ trừu tượng hơn
Theo UNESCO: Cộng đồng là một tập hợp người có cùng chung một lợi ích, cùng làm việc vì một mục đích chung nào đó và cùng sinh sống trong một khu vực xác định Những người chỉ sống gần nhau, không có sự tổ chức lại thì đơn thuần chỉ là sự tập trung của một nhóm các cá nhân và không thực hiện các chức năng như một thể thống nhất
Tóm lại, trong đời sống xã hội, cộng đồng là một danh từ chung chỉ tập hợp người nhất định nào đó với hai dấu hiệu quan trọng: 1/ họ cùng tương tác với nhau; 2/ họ cùng chia sẻ với nhau (có chung với nhau) một hoặc một vài đặc điểm vật chất hay tinh thần nào đó
1.3.2.2 Phân loại cộng đồng
Tùy theo mục đích nghiên cứu mà người ta phân loại cộng đồng theo những dấu hiệu khác nhau Trong một số tài liệu, người ta lại chia cộng đồng theo 2 nhóm như sau [19]:
- Nhóm cộng đồng theo địa vực: thôn xóm, làng bản, khu dân cư, phường xã, quận huyện, thị xã, thành phố, khu vực, châu thổ cho đến cả quả
Trang 3222
địa cầu của chúng ta Ở nước ta, ở quy mô tỉnh, thành phố thì chúng ta có 63 tỉnh, thành phố, theo quy mô xã phường thì chúng ta có trên chục ngàn xã, phường, ở quy mô thôn xóm, khu dân cư (nhỏ hơn xã phường) thì chúng ta có hàng trăm ngàn cộng đồng
- Nhóm cộng đồng theo nền văn hóa: nhóm này bao gồm: cộng đồng theo hệ tư tưởng, văn hóa, tiểu văn hóa, đa sắc tộc, dân tộc thiểu số… Nhóm này cũng có thể bao gồm cả cộng đồng theo nhu cầu và bản sắc như cộng đồng người khuyết tật, cộng đồng người cao tuổi
- Nhóm cộng đồng theo tổ chức: được phân loại từ các tổ chức không chính thức như tổ chức gia đình, dòng tộc, hội hè cho đến những tổ chức chính thức chặt chẽ hơn như các tổ chức đoàn thể, các tổ chức chính trị, tổ chức hành chính nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức hiệp hội nghề nghiệp, xã hội… từ phạm vi nhỏ ở một đơn vị hoặc trong phạm vi quốc gia cho đến phạm vi quốc tế
Cũng có thể phân loại cộng đồng theo đặc điểm khác biệt về kinh tế -
Như vậy, cộng đồng là một đơn vị hành chính, kinh tế - xã hội có tính độc lập tương đối so với các cộng đồng khác trong một quốc gia Trong mỗi
Trang 33Ở Việt Nam ngày nay, các tổ chức chính trị - xã hội đó có thể là các tổ chức trong khối Mặt trận tổ quốc xã phường: Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh phường/ xã; Hội/ Chi hội Phụ nữ; Hội/ chi hội người cao tuổi; Hội/ chi hội Cựu chiến binh; Hội nông dân (đối với địa bàn nông thôn); tổ chức tôn giáo (nếu có)… Tổ chức chính quyền: Ủy ban nhân dân; Hội đồng nhân dân; một số tổ chức kinh tế địa phương: Hợp tác xã nông nghiệp; Hợp tác xã thủ công, Doanh nghiệp… Các đơn vị sự nghiệp trên địa bàn có Trạm Y tế xã/ phường; bệnh viện, trường học; tổ chức Đảng, chi bộ Đảng
1.2.3.3 Nguồn lực cộng đồng
Nguồn là nguồn gốc; lực là sức mạnh; cộng đồng là nhiều người họp lại, vậy nguồn lực cộng đồng là tập thể nhiều người là nguồn gốc và sức mạnh để thực hiện công việc nào đó việc nào đó
1.4 Huy động nguồn lực cộng đồng, huy động nguồn lực cộng đồng trong phát triển Giáo dục tiểu học
1.4.1 Huy động cộng đồng
Huy động các nguồn lực cộng đồng được hiểu là quá trình tổ chức huy động tổng lực sức mạnh của toàn xã hội cả về vật chất và tinh thần, làm cho tất cả các ngành, các giới, cũng như mỗi người dân đều nhận thấy đó là nhiệm
vụ của chính mình, nên đều tự nguyện và tích cực phối hợp hành động thực hiện Đồng thời chính họ là người hưởng thụ mọi thành quả do hoạt động đó đem lại Có 4 tiêu chí sau trong huy động
+ Phát huy được sự tham gia tích cực và tự nguyện (về nhân lực, trí lực, vật lực, tài lực của tất cả các tổ chức, cá nhân vào cùng thực hiện một hoạt động,
Trang 3424
nhằm góp phần không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của chính họ
+ Có sự phối hợp liên ngành để đạt mục đích chung và mục đích riêng của mỗi ngành với hiệu quả cao Sự phối hợp này không có tính chất nhất thời
mà mang tính chiến lược lâu dài
+ Nguồn lực vật chất huy động phục vụ cho hoạt động đó được đa dạng hoá: Từ ngân sách nhà nước và các nguồn ngoài ngân sách
+ Có sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng, quản lý của các cấp chính quyền một cách thường xuyên và chặt chẽ, đảm bảo cho hoạt động này phát triển
1.4.2 Phát triển
Theo từ điển tiếng Việt "Phát triển" là "biến đổi hoặc làm cho biến đổi từ
ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp"[22]
Theo David C Kortan: "Phát triển là một tiến trình, qua đó các thành viên của xã hội tăng được những khả năng của cá nhân và định chế của mình
để huy động và quản lý các nguồn lực, tạo ra những thành quả bền vững nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống phù hợp với nguyện vọng của họ"
Nét đặc trưng của phát triển là hình thức xoáy trôn ốc và theo các chu
kỳ, việc hoàn thành một chu kỳ lại là cố hữu, là nền tảng cho một chu kỳ mới trong đó có sự lặp lại một số đặc điểm của chu kỳ trước đó
Tóm lại, mọi sự vật hiện tượng, con người, xã hội có sự biến đổi tăng tiến về mặt số lượng, chất lượng dưới tác động của bên ngoài đều được coi
1.4.3.2 Tầm quan trọng của công tác huy động các nguồn lực cộng đồng trong phát triển Giáo dục tiểu học
Trang 3525
GDTHcó vai trò cực kì quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân GDTH giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở
Huy động các NLCĐ phát triển GDTH có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh tiểu học, phục vụ mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và ở địa phương, tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ em được học ở môi trường tốt, có điều kiện phát triển góp phần trong công cuộc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước Huy động các NLCĐ phát triển GDTH là nhiệm vụ quan trọng không thể thiếu được, là trách nhiệm của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, ngành giáo dục, các trường Tiểu học và của toàn xã hội, nhằm tạo điều kiện cho sự nghiệp giáo dục phát triển mạnh mẽ hơn nữa đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân và phục vụ có hiệu quả công cuộc đổi mới KT - XH của đất nước, góp phần quan trọng vào việc đào tạo nguồn nhân lực, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng Không chỉ các cấp quản lí giáo dục quan tâm đến chất lượng giáo dục học sinh, mà bất kỳ ai quan tâm đến giáo dục thì đều quan tâm đến chất lượng gáo dục Các bậc cha mẹ thường mong muốn con mình được học ở trường có điều kiện vật chất thuận lợi, có một đội ngũ giáo viên có kinh nghiệm, có môi trường giáo dục lành mạnh và tất cả những yêu cầu đó sẽ được đáp ứng ở trường Tiểu học chất lượng cao
1.5 Công tác tác huy động các nguồn lực cộng đồng trong phát triển Giáo dục tiểu học
1.5.1.Mục đích huy động các nguồn lực cộng đồng trong phát triển Giáo dục tiểu học
Mục đích huy động các nguồn lực cộng đồng trong phát triển GDTH nhằm thu hút tổng lực những điều kiện thuận lợi từ cộng đồng phục vụ cho quá trình phát triển GDTH
Trang 36- Xây dựng và phát triển mối quan hệ bền vững, tốt đẹp giữa gia đình, nhà trường và xã hội, hình thành, củng cố và phát triển môi trường giáo dục tích cực
- Phát triển đội ngũ giáo viên các trường Tiểu học theo những yêu cầu của Chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học nói riêng và yêu cầu của xã hội nói chung
- Nâng cao chất lượng dạy học và giáo dục trong các trường Tiểu học mang lại quyền lợi về giáo dục cho tất cả mọi tầng lớp nhân dân
- Đảm bảo các điều kiện cần thiết nhất là về CSVC, nguồn kinh để thực hiện quá trình chuẩn hóa các trường Tiểu học,,giảm bớt ngân sách Nhà nước đầu tư cho giáo dục
- Triển khai thực hiện đầy đủ và hiệu quả các chủ trương, chính sách của Đảng, các quy định của Bộ GD&ĐT về phát triển GDTH và huy động các NLCĐ trong phát triển GDTH
1.5.2.Nội dung huy động các nguồn lực cộng đồng trong phát triển Giáo dục tiểu học
Công táchuy động các NLCĐ trong phát triển GDTH được tiến hành với nhiều nội dung, trong đó chúng ta có thể kể đến một số nội dung cơ bản sau:
- Huy động các nguồn lực cộng đồng trong công tác giáo dục, tuyên truyền nâng cao nhận thức cho các thành phần xã hội về tầm quan trọng của việc phát triển GDTH và huy động các NLCĐ phát triển GDTH
- Huy động các NLCĐ trong xây dựng và phát triển mối quan hệ bền vững, tốt đẹp giữa gia đình, nhà trường và xã hội, hình thành, củng cố và phát triển môi trường giáo dục tích cực
Trang 3727
- Huy động các nguồn lực phát triển đội ngũ giáo viên các trường Tiểu học theo những yêu cầu của Chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học nói riêng và yêu cầu của xã hội nói chung
- Huy động các nguồn lực cộng đồng trong việc nâng cao chất lượng dạy học và giáo dục trong các trường Tiểu học mang lại quyền lợi về giáo dục cho tất cả mọi tầng lớp nhân dân
- Huy động các nguồn lực cộng đồng đảm bảo các điều kiện cần thiết nhất là về CSVC, nguồn kinh để thực hiện quá trình chuẩn hóa các trường Tiểu học,,giảm bớt ngân sách Nhà nước đầu tư cho giáo dục
- Huy động các nguồn lực cộng đồng triển khai thực hiện đầy đủ và hiệu quả các chủ trương, chính sách của Đảng, các quy định của Bộ GD&ĐT về phát triển GDTH và huy động các NLCĐ trong phát triển GDTH
1.5.3 Nguyên tắc huy động các nguồn lực cộng đồng trong phát triển Giáo dục tiểu học
Huy động các NLCĐ trong phát triển Giáo dục tiểu học
Nguyên tắc về lợi ích hai chiều
Mỗi hoạt động hợp tác, phối hợp đều phải xuất phát từ nhu cầu và lợi ích của hai phía: Nhà trường và cộng đồng Cần quán triệt nguyên tắc lợi ích 2 chiều trong việc triển khai các biện pháp cụ thể phải đảm bảo rằng kết quả của việc xã hội hóa giáo dục không chỉ mang lại lợi ích cho giáo dục, cho nhà trường mà còn mang lại lợi ích thiết thực cho những người tham gia, cho cộng đồng, cho địa phương thì biện pháp đó mới khả thi và có sức sống
Nguyên tắc tình cảm, tự nguyện hay nguyên tắc “đồng thuận”
Nguyên tắc này coi trọng việc làm sao để người được huy động chia sẻ đồng tâm, nhất trí, tự nguyện và đồng thuận với chủ trương huy động cộng đồng của nhà trường, không được áp đặt hoặc ép buộc
Nguyên tắc về chức năng nhiệm vụ: Để khai thác, phát huy khuyến
khích các lực lượng xã hội, các tổ chức tham gia vào một hoạt động nào đó phải phát hiện và nhằm đúng chức năng, trách nhiệm của đối tác để thực hiện một cách hợp lý, hiệu quả kế hoạch của nhà trường
Trang 3828
Nguyên tắc dân chủ: Tạo môi trường công khai, dân chủ cho mọi tầng
lớp của cộng đồng hiểu giáo dục hơn, hiểu nhà trường hơn, có điều kiện để
“Biết, bàn, làm, kiểm tra” các hoạt động, tạo điều kiện cho mối quan hệ nhà trường – gia đình – xã hội phát triển toàn diện và mang lại hiệu quả thiết thực
Nguyên tắc phù hợp, thích ứng hay nguyên tắc “mềm dẻo”
Phải biết chọn lựa thời gian thích hợp nhất để đưa ra chủ trương xã hội hóa giáo dục, cần cân nhắc huy động thế nào cho hợp lý
Công tác huy động các NLCĐ trong phát triển GDTH được thực hiện thông qua các biện pháp khác nhau, trong đó, chúng ta có thể kể đến một số biện pháp sau đây:
- Thực hiện công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho các
lực lượng cộng đồng về tầm quan trọng của việc phát triển GDTHvà huy động các NLCĐ trong phát triển GDTH
- Xây dựng và hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách có liên quan đến vấn đề phát triển GDTH và huy động các NLCĐ trong phát triển GDTH
- Xây dựng, củng cố và phát triển mối quan hệ tốt đẹp giữa các lực lượng cộng đồng, xây dựng cộng đồng trách nhiệm trong phát triển GDTH
- Tăng cường vai trò chủ đạo của trường Tiểu họctrong công tác huy động các NLCĐ phát triển GDTH
- Tăng cường tính tích cực, chủ động, sáng tạo của các lực lượng cộng đồng trong phát triển GDTH
Trang 39- Tham gia đóng góp ý kiến cho công tác phát triển GDTH và huy động các NLCĐ phát triển GDTH
- Ủng hộ về cơ sở vật chất và nguồn kinh phí cho công tác phát triển GDTH và huy động các NLCĐ trong phát triển GDTH
- Đóng góp sức lao động trực tiếp cho các hoạt động phát triển GDTH
- Tham gia trực tiếp vào việc xây dựng kế hoạch, nội dung chương trình, phương pháp giáo dục, quản lí, đánh giá kết quả giáo dục của trường Tiểu học
- Tham gia tổ chức các hoạt động giáo dục học sinh tiểu học ở trong và ngoài nhà trường
- Tham gia xây dựng môi trường giáo dục tích cực cho học sinh Tiểu học
1.5.6 Các lực lượng cộng đồng tham gia phát triển Giáo dục tiểu học
Huy động các NLCĐ trong phát triển GDTH là một công tác mang tính lâu dài có nhiều khó khăn, phức tạp Do đó, để thực hiện công tác này đạt được chất lượng và hiệu quả cao cần có sự tham gia của đông đảo các LLCĐ, trong đó, có thể kể đến những lực lượng sau:
* Cán bộ quản lí, giáo viên trường Tiểu học
Mọi hoạt động huy động các NLCĐ trong phát triển GDTH đều liên quan đến các cán bộ quản lí, giáo viên Khi mỗi cán bộ quản lí, giáo viên làm tốt chức trách của mình sẽ là nguồn lực cơ bản khích lệ sự nhiệt tình của các LLCĐ tham gia phát triển GDTH
Các cán bộ quản lí trường Tiểu học cùng đội ngũ giáo viên của nhà trường giữ vai trò chủ đạo trong công tác huy động các NLCĐ trong phát triển GDTH
Trang 4030
* Các cấp ủy Đảng và chính quyền địa phương:
- Các cấp ủy Đảng và chính quyền địa phương mà cụ thể là lãnh đạo các cấp ủy Đảng, Chính quyền từ quận đến xã, phường, tổ dân phố luôn có vai trò quan trọng trong công tác chỉ đạo, đầu tư cho công tác huy động các NLCĐ trong phát triển GDTH thông qua việc xây dựng, ban hành các văn bản có liên quan đến công tác này tại địa phương
- Việc tạo dựng mối quan hệ tốt với chính quyền địa phương để tranh thủ
sự chỉ đạo, giúp đỡ là một việc làm rất quan trọng, vì vậy nhà trường đã tích cực tham gia các công việc với UBND phường; Hàng năm khi tổ chức những
kì cuộc lớn nhà trường thường mời lãnh đạo phường, đại diện các ban ngành đoàn thể, đại diện PHHS tới dự để họ tận mắt chứng kiến các hoạt động của trường, thấy được cách tổ chức của trường, nề nếp, khả năng của học sinh…
- Phòng Văn hóa, Thông tin
- Phòng Văn hóa - Thông tin quận, phường cũng có vai trò quan trọng trong việc thông tin, tuyên truyền các vấn đề có liên quan đến công tác huy động các NLCĐ trong phát triển GDTH, huy động các NLCĐtrong phát triển GDTH
Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; tính tích cực, chủ động, sáng tạo, cùng với tinh thần trách nhiệm, sự phối hợp giữa các lực lượng ảnh hưởng hết sức quan trọng đến hiệu quả huy động các NLCĐ trong phát triển GDTH