1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giáo dục phòng chống nạn tảo hôn vùng đồng bào dân tộc ít người huyện đồng xuân tỉnh phú yên

136 1K 9

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 136
Dung lượng 1,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nếu phân tích rõ cơ sở lý luận và thực trạng tảo hôn ở huyện Đồng Xuân thì có thể đề xuất được một số biện pháp giáo dục hữu hiệu để phòng tránh nạn tảo hôn, tiến tới bài trừ nạn tảo hôn

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI



NGÔ THỊ QUỲNH HOA

GIÁO DỤC PHÒNG CHỐNG NẠN TẢO HÔN VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC ÍT NGƯỜI HUYỆN ĐỒNG XUÂN - TỈNH PHÚ YÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI



NGÔ THỊ QUỲNH HOA

GIÁO DỤC PHÒNG CHỐNG NẠN TẢO HÔN VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC ÍT NGƯỜI HUYỆN ĐỒNG XUÂN - TỈNH PHÚ YÊN

Chuyên ngành: Giáo dục và phát triển cộng đồng

Mã số: Thí điểm

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Văn Tuân

HÀ NỘI - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi với sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Văn Tuân Những vấn đề được trình bày trong luận văn, các số liệu, kết quả, dẫn chứng là do tôi tự tìm hiểu, có sự tham khảo, sưu tầm và kế thừa những nghiên cứu của tác giả đi trước

Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về những nghiên cứu, những số liệu

và về những nội dung đã được trình bày trong bản luận văn của mình

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

TÁC GIẢ

NGÔ THỊ QUỲNH HOA

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Hoàn thành được luận văn này, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo hướng dẫn khoa học TS Nguyễn Văn Tuân đã luôn tận tình chỉ bảo, hướng dẫn em

Em xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trường Đại học Sư phạm Hà Nội, khoa tâm lý- giáo dục đã tạo mọi điều kiện thuận lợi trong quá trình học tập và đóng góp những ý kiến quý báu để em hoàn thành luận văn

Trong thời gian nghiên cứu tình trạng tảo hôn của người dân tộc thiểu

số của xã Phú Mỡ, huyện Đồng Xuân Được sự quan tâm của Đảng ủy, UBND và các hội, đoàn thể Trong đó Ban tư pháp xã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất trong công tác hồi cứu số liệu qua các năm từ 2013-2016, những cặp

vợ chồng đã đăng ký kết hôn Cán bộ chuyên trách và cộng tác viên Dân

số-Kế hoạch hóa gia đình, cán bộ Trung tâm Dân số-số-Kế hoạch hóa gia đình huyện đã hợp tác tích cực, để điều tra, khảo sát và phỏng vấn trường hợp tảo hôn Khoa chăm sóc sức khỏe sinh sản - Dinh dưỡng, Trung tâm y tế huyện Đồng Xuân cung cấp số liệu trẻ suy dinh dưỡng qua các năm của những cặp

vợ chồng tảo hôn

Do hạn chế về mặt thời gian và năng lực của bản thân, luận văn chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót nhất định, em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô để luận văn được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

TÁC GIẢ

NGÔ THỊ QUỲNH HOA

Trang 5

DANH MỤC VIẾT TẮT

CHXHCNVN Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

DS – KHHGĐ Dân số - Kế hoạch hóa gia đình

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1:Tổng số tảo hôn của người đồng bào dân tộc ít người trên địa bàn xã

Phú Mỡ từ năm 2013-2016 43

Bảng 2: Độ tuổi tảo hôn trung bình của Nam từ 15-17tuổi 44

Bảng 3: Độ tuổi tảo hôn trung bình của Nữ từ 15-17 tuổi 44

Bảng 4: Trình độ văn hóa của thanh niên tảo hôn: 46

Bảng 5: Hoàn cảnh gia đình thanh niên tảo hôn 47

Bảng 6: Quan niệm về giới tính của con 48

Bảng 7: Thái độ của thanh niên đối với hiện tượng tảo hôn 49

Bảng 8: Nhận thức của CBQL về Tảo hôn: 50

Bảng 9: Nhận thức của CBQL về những tác hại của tảo hôn: 51

Bảng 10: Các hình thức tảo hôn 52

Bảng 11: Nhận thức của quần chúng về tác hại của tảo hôn 53

Bảng 12: Những nguyên nhân của thực trạng tảo hôn 54

Bảng 13: Các biện pháp tăng cường nhận thức cho người dân về tảo hôn 62

Bảng 14: Thực trạng các biện pháp xử lý của chính quyền đối với 64

các trường hợp tảo hôn 64

Bảng 15: Những nguyên nhân ảnh hưởng đến việc thực hiện các biện pháp giáo dục phòng chống tảo hôn 65

Bảng 16: Kết quả khảo sát tính cần thiết và khả thi của các biện pháp 101

qua ý kiến của cán bộ quản lý 101

Bảng 17: Kết quả khảo sát tính cần thiết và khả thi của các biện pháp 102

qua ý kiến của các chuyên gia 102

Trang 7

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 2

4 Giả thuyết khoa học 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

6 Giới hạn nghiên cứu 3

7 Phương pháp nghiên cứu 3

8 Đóng góp mới của luận văn 5

9 Bố cục của luận văn 5

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU NẠN TẢO HÔN VÀ GIÁO DỤC PHÒNG CHỐNG NẠN TẢO HÔN 6

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề 6

1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài 15

1.2.1 Dân tộc ít người 15

1.2.2 Giáo dục 15

1.2.3 Phòng chống tảo hôn 18

1.2.4 Giáo dục phòng chống nạn tảo hôn 19

1.3 Một số quan điểm cần thiết để xem xét về hiện tượng tảo hôn 20

1.4 Lý luận về giáo dục phòng chống nạn tảo hôn vùng đồng bào dân tộc ít người 24

1.4.1 Ý nghĩa của giáo dục phòng chống nạn tảo hôn vùng đồng bào dân tộc ít người 24

1.4.2 Mục tiêu, nội dung của giáo dục phòng chống nạn tảo hôn vùng đồng bào dân tộc ít người 26

Trang 8

1.4.3 Phương pháp giáo dục phòng chống nạn tảo hôn vùng đồng bào dân

tộc ít người 29

1.4.4 Những căn cứ giáo dục phòng chống nạn tảo hôn vùng đồng bào dân tộc ít người 30

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục phòng chống nạn tảo hôn vùng đồng bào dân tộc ít người 31

1.5.1 Những quan niệm, thành kiến, phong tục tập quán lạc hậu của người dân 31

1.5.2 Những bất cập, hạn chế trong các quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và các quy định pháp luật liên quan 31

1.5.3 Tác động, ảnh hưởng của những mặt trái của cơ chế thị trường 32

1.5.4 Trình độ dân trí và ý thức pháp luật của người dân còn hạn chế 33

1.5.5 Công tác tuyên truyền còn bất cập, hạn chế và hiệu quả chưa cao 33

1.5.6 Sự can thiệp từ phía chính quyền địa phương đối với các trường hợp tảo hôn còn chưa mạnh mẽ, thiếu kiên quyết 34

Tiểu kết chương 1 35

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TẢO HÔN VÀ GIÁO DỤC PHÒNG CHỐNG NẠN TẢO HÔN VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC ÍT NGƯỜI HUYỆN ĐỒNG XUÂN TỈNH PHÚ YÊN 36

2.1 Khái quát chung về khảo sát thực trạng 36

2.1.1 Mục đích khảo sát 36

2.1.2 Nội dung khảo sát 36

2.1.3 Đối tượng khảo sát 36

2.1.4 Phương pháp khảo sát 37

2.1.5 Công cụ khảo sát 38

2.1.6 Địa bàn và thời gian khảo sát 38

2.2 Thực trạng tảo hôn xã Phú Mỡ huyện Đồng Xuân tỉnh Phú Yên 41

Trang 9

2.2.1 Tình hình tảo hôn 43

2.2.2 Những nguyên nhân dẫn đến nạn tảo hôn tại xã Phú Mỡ huyện Đồng Xuân tỉnh Phú Yên 54

2.2.3 Hậu quả của tảo hôn 61

2.3 Thực trạng các biện pháp giáo dục phòng chống nạn tảo hôn vùng đồng bào dân tộc ít người huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên 62

2.3.1 Các biện pháp giáo dục phòng chống nạn tảo hôn vùng đồng bào dân tộc ít người huyện Đồng Xuân 62

2.3.2 Một số nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả giáo dục phòng chống nạn tảo hôn vùng đồng bào dân tộc ít người huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên 64

2.3.3 Đánh giá thực trạng 65

2.3.4 Nguyên nhân của những hạn chế 67

2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục phòng chống nạn tảo hôn vùng đồng bào dân tộc ít người huyện Đồng Xuân 69

2.4.1 Yếu tố chính sách, chính quyền địa phương 69

2.4.2 Yếu tố phong tục 71

2.4.3 Yếu tố kinh tế 73

2.4.4.Yếu tố tâm lý 75

2.4.5 Yếu tố nhận thức 77

Tiểu kết chương 2 80

CHƯƠNG 3: CÁC BIỆN PHÁP GIÁO DỤC PHÒNG CHỐNG NẠN TẢO HÔN CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC ÍT NGƯỜI HUYỆN ĐỒNG XUÂN, TỈNH PHÚ YÊN 82

3.1 Các nguyên tắc xây dựng biện pháp 82

3.1.1 Đảm bảo tính cần thiết 82

3.1.2 Đảm bảo tính pháp lý 82

3.1.3 Đảm bảo tính đồng bộ 83

Trang 10

3.1.4 Đảm bảo tính thực tiễn 83

3.2 Các biện pháp giáo dục phòng chống nạn tảo hôn cho đồng bào dân tộc ít người huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên 83

3.2.1 Biện pháp 1: Điều tra để hiểu rõ về các đối tượng cần giáo dục và xác định các nội dung giáo dục phù hợp 83

3.2.2 Biện pháp 2: Xác định rõ các phong tục tập quán lạc hậu liên quan đến hôn nhân cần thay đổi 85

3.2.3 Biện pháp 3: Đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền, vận động phòng chống tảo hôn 87

3.2.4 Biện pháp 4: Xây dựng mô hình hoạt động tư vấn và triển khai nhân rộng các mô hình tư vấn hôn nhân tại cộng đồng 90

3.2.5 Biện pháp 5: Huy động các nguồn lực từ cộng đồng để phục vụ cho các hoạt động giáo dục phòng chống tảo hôn 93

3.2.6 Biện pháp 6: Phát huy vai trò của già làng, trưởng bản, người có uy tín trong cộng đồng tham gia tuyên truyền, vận động phòng, chống tảo hôn 95

3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp đề xuất 99

3.4 Khảo sát mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 100

Tiểu kết chương 3 105

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 106

1 Kết luận chung 106

2 Kiến nghị 108

TÀI LIỆU THAM KHẢO 110

PHỤ LỤC 112

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tảo hôn đang là vấn đề nóng và được cả xã hội quan tâm Hằng năm, trên thế giới có 700 triệu người kết hôn ở độ tuổi trẻ em Theo kết quả điều tra của Ủy ban dân tộc, tỉ lệ tảo hôn ở Việt Nam vẫn đang diễn ra ở một số vùng nông thôn, miền núi, đặc biệt là vùng đồng bào dân tộc ít người, có tới 1/3 số người dân tộc ít người tảo hôn và tảo hôn Theo kết quả điều tra năm 2015, tỉ

lệ tảo hôn của người dân tộc ít người là 26,6%, trong đó cao nhất là các dân tộc ít người sinh sống ở những vùng khó khăn

Theo thông tin của Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình, tỉ lệ tảo hôn ở trẻ em nữ nhiều hơn trẻ em nam Hậu quả của tảo hôn dẫn đến mang thai sớm, khi cơ thể chưa hoàn thiện về mặt giải phẫu, sinh lý và tâm lý để mang thai Không chỉ đe dọa trực tiếp đến sức khỏe bà mẹ, trẻ em khi mang thai ở lứa tuổi chưa trưởng thành, tình trạng tảo hôn còn tác động đến các vấn

đề kinh tế xã hội, tạo một vòng luẩn quẩn khó giải quyết: nghèo đói - tảo hôn

- bỏ học - không có cơ hội tìm kiếm việc làm - sinh con ra sức khỏe kém, dễ

ốm đau bệnh tật - nghèo đói

Trong những năm qua, trên địa bàn các huyện miền núi Phú Yên, tình trạng tảo hôn còn khá phổ biến và ngày càng có chiều hướng gia tăng, chủ yếu rơi vào nhóm đồng bào dân tộc ít người Ở huyện Đồng Xuân, năm 2013

có 347 cặp đồng bào dân tộc ít người kết hôn thì có 115 cặp tảo hôn; năm

2014 có 335 cặp đồng bào dân tộc ít người kết hôn thì 190 cặp tảo hôn; năm

2015 có 126 cặp kết hôn thì 80 cặp tảo hôn

Theo báo cáo của Trung tâm Dân số - Kế hoạch hóa gia đình, trong những năm gần đây, tình trạng tảo hôn ở các dân tộc ít người trên địa bàn huyện Đồng Xuân có chiều hướng gia tăng từ 54,8% lên 70% (từ năm 2013 đến tháng 2016)

Trang 12

Vấn nạn này là rào cản đối với việc hoàn thành các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ Việt Nam đã cam kết như: giảm nghèo đói, phổ cập giáo dục, tăng cường bình đẳng giới, cải thiện sức khỏe bà mẹ và trẻ em

Tảo hôn sẽ làm tăng sự phát triển dân số tự nhiên, làm tăng độ dày giữa các thế hệ, có ảnh hưởng đến chất lượng và nòi giống của thế hệ trẻ mai sau

và ảnh hưởng trược tiếp đến bản thân người tảo hôn Không những thế, tảo hôn còn ảnh hưởng đến sự phát triển của đất nước về kinh tế cũng như chất lượng cuộc sống của con người Đó là những tác hại khó lường trước được, vì thế tảo hôn là một thực tế khách quan, một hiện tượng xã hội cần được nghiên cứu một cách nghiêm túc để tìm ra đúng nghiên nhân dẫn đến tảo hôn và đề ra những biện pháp ngăn ngừa có tính hiệu quả tiến tới ngăn chặn hiện tượng tảo hôn, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho mọi người

Từ kết quả trên cho thấy, tảo hôn là một tệ nạn xã hội, ảnh hưởng rất lớn đến việc chăm sóc sức khỏe nói chung và sức khỏe sinh sản nói riêng, đồng thời làm suy giảm chất lượng dân số Xuất phát từ những lý do trên, đề

tài: “Giáo dục phòng chống nạn tảo hôn vùng đồng bào dân tộc ít người huyện Đồng Xuân - tỉnh Phú Yên” được lựa chọn nghiên cứu

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, luận văn đề xuất một số biện pháp giáo dục phòng chống nạn tảo hôn ở vùng đồng bào dân tộc ít người trên địa bàn huyện Đồng Xuân tỉnh Phú Yên, nhằm nâng cao chất lượng dân số

3 Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp giáo dục phòng chống nạn tảo hôn vùng đồng bào dân tộc ít người trên địa bàn huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên

3.2 Khách thể nghiên cứu

Quá trình giáo dục cộng đồng về phòng chống nạn tảo hôn vùng đồng

bào dân tộc ít người

Trang 13

4 Giả thuyết khoa học

Tảo hôn là một hiện tượng xã hội phức tạp có liên quan đến nhiều yếu

tố (gia đình, xã hội, văn hóa, phong tục tập quán ) đang diễn ra ở nước ta nói chung và xã Phú Mỡ nói riêng Nếu phân tích rõ cơ sở lý luận và thực trạng tảo hôn ở huyện Đồng Xuân thì có thể đề xuất được một số biện pháp giáo dục hữu hiệu để phòng tránh nạn tảo hôn, tiến tới bài trừ nạn tảo hôn bằng việc nâng cao nhận thức của người dân về tác hại của tảo hôn, từ đó tạo ra những tiền đề thuận lợi để phát triển đất nước nói chung và xây dựng đời sống văn hóa mới, xây dựng gia đình mới hiện đại

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Phân tích, khái quát hóa cơ sở lý luận về vấn đề tảo hôn và giáo dục cộng đồng về phòng, chống nạn tảo hôn

5.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng tảo hôn của người dân vùng đồng bào dân tộc ít người huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên và các hoạt động tuyên truyền, giáo dục mà địa phương đã thực hiện

5.3 Đề xuất các biện pháp giáo dục để phòng chống nạn tảo hôn nhằm

nâng cao chất lượng dân số của các cộng đồng dân tộc ít người huyện Đồng Xuân

6 Giới hạn nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu tình trạng tảo hôn ở các cộng đồng người dân tộc ít người và các biện pháp giáo dục của địa phương từ năm 2013 đến 2016

Đề tài nghiên cứu các biện pháp phòng chống nạn tảo hôn vùng đồng bào dân tộc ít người trên 02 địa điểm: Thôn Phú Giang, xã Phú Mỡ; Trường Dân tộc Nội trú huyện Đồng Xuân

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu, phân tích, tổng hợp, khái quát hoá giúp hệ thống hóa các vấn đề lý luận liên quan đến vấn đề nghiên cứu

Trang 14

- Phương pháp lịch sử

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Điều tra bằng bảng hỏi và thu thập thông tin thực tiễn

Sử dụng bộ câu hỏi để thu thập các thông tin thực tiễn về tình trạng tảo hôn và thực trạng công tác giáo dục phòng chống tảo hôn

Thu thập thông tin bằng phương pháp nghiên cứu số liệu và các báo cáo chuyên đề hàng năm của các cơ quan chức năng cấp tỉnh, huyện

Thu thập, theo dõi thông tin cần quan tâm qua các phương tiện truyền thông về tình hình văn hóa, xã hội của địa phương và cả nước

- Phương pháp phỏng vấn (học sinh, sinh viên, người dân, cán bộ): Trò chuyện với một số cán bộ quản lý như cán bộ dân số, cán bộ hội phụ

nữ, cán bộ y tế, các già làng trưởng bản để hiểu thêm thực tiễn của cộng đồng về công tác giáo dục phòng chống tảo hôn để hỗ trợ cho phương pháp điều tra phiếu hỏi

- Phương pháp chuyên gia: Lấy ý kiến các chuyên gia về thực trạng cũng như góp ý, tư vấn về xây dựng đề cương, xây dựng bộ công cụ nghiên cứu, biện pháp giáo dục phòng chống tảo hôn…

- Phương pháp quan sát: Xem xét thực tế công tác quản lý của các cán

bộ về công tác phòng chống tảo hôn, trực tiếp quan sát tình hình tại cộng đồng dân cư nơi đang nghiên cứu

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Tổng kết kinh nghiệm qua thực tiễn giáo dục phòng chống tảo hôn, rút ra bài học bổ ích về công tác quản lý giáo dục phòng chống tảo hôn

7.3 Phương pháp xử lý dữ liệu bằng thống kê toán học

Sử dụng toán thống kê để xử lý và phân tích số liệu, thông tin thu được qua các phiếu điều tra và các mẫu biểu thống kê

Trang 15

8 Đóng góp mới của luận văn

- Thứ nhất, đề tài nhận diện về thực trạng tảo hôn của Đồng bào dân tộc

ít người ở xã Phú Mỡ, huyện Đồng Xuân

- Thứ hai, Luận văn phân tích nguyên nhân, tác động của tảo hôn tại xã Phú Mỡ, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên

- Thứ 3, đề tài đưa ra những giải pháp nhằm giáo dục phòng chống nạn tảo hôn của người đồng bào dân tộc ít người ở xã Phú Mỡ, huyện Đồng Xuân, Phú Yên

9 Bố cục của luận văn

Gồm phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục và ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận nghiên cứu nạn tảo hôn và giáo dục phòng

chống nạn tảo hôn

Chương 2: Thực trạng tảo hôn và giáo dục phòng chống nạn tảo hôn

vùng đồng bào dân tộc ít người huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên

Chương 3: Các biện pháp giáo dục phòng chống nạn tảo hôn vùng

đồng bào dân tộc ít người huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên

Trang 16

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU NẠN TẢO HÔN

VÀ GIÁO DỤC PHÒNG CHỐNG NẠN TẢO HÔN

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề

Tuổi vị thành niên cả nam và nữ trong quãng đời từ 10-19 tuổi; Tuổi vị thành niên là giai đoạn đẹp nhất của một cuộc đời Biết bao điều kỳ diệu, hồn nhiên, tươi sáng và cũng băn khoăn trước sự biến đổi về thể chất, trí tuệ và tâm sinh lý Theo Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 nam, nữ muốn được kết hôn với nhau phải tuân thủ các điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn Đó là điều kiện quy định tại điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; trong đó quy định nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 trở lên mới được kết hôn Quy định này dựa trên cơ sở nghiên cứu các điều kiện kinh tế - xã hội ở nước ta, nhằm đảm bảo sự phát triển bình thường về thể chất, tâm sinh lý của nam, nữ thanh niên Tảo hôn là việc lấy vợ, lấy chồng khi một bên hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi kết hôn Tập tục tảo hôn trước đây đã tồn tại nhiều nơi trên thế giới: Châu Âu, Châu Phi, Châu Á, Châu Đại Dương và Châu Mỹ Nó thường

đi kèm với mọi hủ tục hứa hôn, ép hôn, …

Đề tài về hôn nhân và gia đình đã và đang được nhiều người quan tâm, khai thác và nghiên cứu Trong số rất nhiều công trình nghiên cứu về hôn nhân và gia đình có một số công trình tiêu biểu như:

Hai tác giả Đạo Liên và Hà Sơn đã giới thiệu một cách sơ lược quá trình phát triển của lịch sử hôn nhân loài người, phân loại hôn nhân “chia hôn nhân thành 3 loại chủ yếu: Hôn nhân tòng thê (hai vợ chồng theo nhà ngoại); Hôn nhân tòng phu (hai vợ chồng theo nhà nội); Hôn nhân cư trú biệt lập (hai

vợ chồng ở riêng, sống tách biệt với cả hai bên nội ngoại)” [12; 42], rồi đưa ra những mặt hạn chế trong hôn nhân cùng với các nghi lễ hôn nhân

Trang 17

Tác giả Phan Đăng Thanh và Trương Thị Hòa đã giới thiệu khái quát

về pháp luật hôn nhân và lịch sử trong lịch sử Việt Nam, trong đó có đề cập đến quan điểm về hôn nhân, điều kiện được kết hôn, quy định việc kết hôn không được vi phạm những trường hợp pháp luật cấm [22]

Cuốn “Luật hôn nhân và Gia đình” của NXB Tư pháp đưa ra những điều luật quy định chế độ hôn nhân và gia đình, chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử giữa các thành viên trong một gia đình Cuốn sách có đề cập đến các điều luật về việc kết hôn, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, cũng như vấn đề

ly hôn [13]

Cuốn “Hôn nhân gia đình các đồng bào dân tộc ít người ở hai tỉnh Lai Châu và Cao Bằng” của nhóm tác giả Nguyễn Ngọc Tấn, Đặng Thị Hoa, Nguyễn Thị Thanh đã đi sâu phân tích, phản ánh rõ nét những đặc điểm cũng như thực trạng hôn nhân và gia đình của hai dân tộc Hmông và Dao Đồng thời đã đưa ra những khuyến nghị cụ thể giúp cho việc hoạch định chính sách

về dân số và gia đình Trong nghiên cứu này, thông qua việc tập trung đánh giá những vấn đề hôn nhân và gia đình như người quyết định hôn nhân, tuổi kết hôn lần đầu… nhóm tác giả cũng đã đề cập đến hiện tượng tảo hôn, việc đăng kí kết hôn, các nghi lễ trong hôn nhân và một số đặc điểm về gia đình của hai dân tộc ít ngườivà Dao ở Lai Châu và Cao Bằng

Tác giả Đỗ Thúy Bình với cuốn “Hôn nhân và gia đình các dân tộc Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam” đã phân tích sự ảnh hưởng của các yếu tố kinh

tế, văn hóa, xã hội, đặc biệt là phong tục tập quán đối với vấn đề hôn nhân và gia đình trong cộng đồng các dân tộc Ngoài ra, nghiên cứu cũng đề cập ít nhiều đến hiện tượng tảo hôn

Vấn đề tảo hôn đã được đăng tải trên nhiều báo, tạp chí, các trang mạng điện tử… “nạn tảo hôn (kết hôn sớm) đang cướp đi hàng triệu cô gái trên toàn thế giới, buộc họ sống trong nghèo đói, thiếu hiểu biết, sức khỏe kém Đây là

Trang 18

một trong những trở ngại lớn nhất đối với sự phát triển”[7] Tình trạng tảo hôn ngày càng gia tăng và diễn biến phức tạp “trong cộng đồng dân tộc ít người, hiện tượng tảo hôn đã trở nên đặc biệt nghiêm trọng và không thể kiểm soát được Theo báo Quân đội nhân dân ngày 6/8/1994, qua 18 dân tộc lớn ở nước ta như Tày, Hoa, Khơme, Mường… dân tộc nào cũng có tỷ

lệ tảo hôn rất cao Trong đó cao nhất là người Hrê: 76,3% đối với nam, 84,6% đối với nữ…” [24]

Trên chuyên trang Văn hóa dân tộc http://dantocviet.vn có đăng tải bài viết “Tảo hôn trong đồng bào dân tộc ít người và những hệ lụy khó lường” phản ánh rằng “việc kết hôn sớm ảnh hưởng đến thể chất của các em, nhất là các em gái Khi chưa đủ tuổi trưởng thành, cơ thể chưa phát triển hết, việc quan hệ tình dục sớm, mang bầu, rồi nuôi con khiến sự phát triển đầy đủ của người phụ nữ bị chậm lại, thoái hóa, nhiều trường hợp để lại di chứng nặng

nề, thậm chí có nhiều trường hợp tử vong”

Cho đến nay, mặc dù Đảng và Nhà nước ta đề ra về Luật hôn nhân, những chính sách về dân số và kế hoạch hóa gia đình bằng nhiều kênh truyền thông khác nhau đã tác động đến nhận thức của mọi người dân, song hiện tượng tảo hôn vẫn còn tồn tại và có chiều hướng gia tăng ở nhiều tỉnh, thành phố Tình trạng tảo hôn xảy ra ở tất cả các khu vực trên lãnh thổ nước ta, từ nông thôn, thành thị, miền núi, với các đối tượng khác nhau, song nhiều hơn

cả vẫn là khu vực nông thôn, miền núi, nơi sinh sống của đồng bào dân tộc ít người, nơi có trình độ dân trí thấp, còn tồn tại phong tục tập quán lạc hậu, cuộc sống gặp nhiều khó khăn Hiện nay, tình trạng này có nhiều diễn biến phức tạp ở một số nơi, vì thế việc phòng chống và tiến tới xóa bỏ tảo hôn được Nhà nước và xã hội quan tâm

Theo kết quả điều tra của Ủy ban dân tộc, các tỉnh có tỷ lệ tảo hôn cao nhất trong cả nước là: Lai Châu, Hà Giang, Điện Biên, Phú Yên, Lào Cai,

Trang 19

Yên Bái, Cao Bằng, Bắc Cạn, Kon Tum, Gia Lai, trong đó tỉnh Lai Châu có

tỷ lệ tảo hôn cao nhất có tới 18,65% số nam giới 15 - 19 tuổi, 33,8% số nữ

15 - 19 tuổi và 21,2% số nữ 15 - 17 tuổi đang hoặc đã từng có vợ/ chồng, tức có khoảng gần 1/5 dân số nam và 1/3 dân số nữ 15 - 19 tuổi trong tỉnh

đã từng kết hôn [35]

Tại Tây Bắc, trong độ tuổi 10 - 19, cứ 10 em trai thì có 1 em có vợ, 5

em gái có 1 em có chồng Ở Phú Yên, nhiều xã tỷ lệ tảo hôn lên tới trên 50% như tại xã Vân Hồ là 68%, xã Phú Mỡ có 52% cặp vợ chồng kết hôn ở lứa tuổi 12 - 17, xã có tỉ lệ tảo hôn thấp nhất là Muổi Nọi ở mức 27% Dân tộc Dân tộc ít ngườicó tỷ lệ tảo hôn cao nhất với 33%, dân tộc Thái 23,1%, dân tộc Mường 15,8% [35]

Còn ở Yên Bái, mặc dù đã triển khai mô hình can thiệp làm giảm tình trạng tảo hôn tại 15 xã vùng cao khó khăn của 4 huyện: Văn Chấn, Văn Yên, Trạm Tấu, Mù Căng Chải, kết hợp với việc vận động tuyên truyền tới các đối tượng trong độ tuổi vị thành niên song theo báo cáo của Chi cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình tỉnh Yên Bái thì trong số 337 cặp kết hôn vẫn có 19,5% số cặp vợ chồng tảo hôn, tảo hôn tăng 5% so với cùng kỳ năm 2014 [36]

Tại khu vực Tây Nguyên, tảo hôn cũng là một hiện tượng phổ biến Theo số liệu thống kê của Sở Tư pháp Gia Lai, trong vòng 10 năm trở lại đây, riêng trên địa bàn tỉnh xảy ra 1.118 vụ tảo hôn Tình trạng bỏ học lấy chồng lấy vợ sớm ở các tỉnh Tây Nguyên đang rất báo động Thống kê của Ủy ban Dân số - Gia đình và Trẻ em tỉnh Kon Tum, tại xã Rờ Kơi, trong tổng số 333 trường hợp được khảo sát, có tới 269 trường hợp tảo hôn, chiếm 80,78%, trường hợp tảo hôn nữ chiếm 76,95%, nam chiếm 23,05%, có đến 93,39% lấy nhau do tự nguyện, 193 người chưa đăng ký kết hôn [34]

Làng Đăkna và Đăkri, xã Đăkrồ, huyện Krôngnô có 600 nhân khẩu, nhưng chỉ có 8 người đang học lớp 4 Trong số đó, có 5 em cưới vợ khi mới

Trang 20

13, 14 tuổi Anh Đặng Phú B năm nay 33 tuổi nhưng đã có con dâu Giải thích lý do cưới vợ cho cậu con trai Đặng Chòi T 13 tuổi, anh nói: “Nhà ít người lắm, lấy người về làm việc cho con trai còn đi học” T mới là học sinh lớp 4, vẫn còn ham các trò chơi đá cầu, thổi dây chun Để có người làm, nhiều gia đình ở xã Đăkrồ cưới vợ cho con từ rất sớm

Anh Lò Văn Pầng, Chủ tịch xã Tân Pheo, Đà Bắc, Hòa Bình "Cái ăn, cái mặc không còn phải lo lắng nhiều, nhưng xã Tân Pheo đang phải đối mặt với 2 điều nhức nhối này Tưởng chuyện tảo hôn thuộc về 10-15 năm trước, vậy mà mới đây đã xảy ra 2 trường hợp Xã xử phạt rồi, nhưng không biết đã

ổn chưa", anh Lò Văn Pầng, Chủ tịch UBND xã Tân Pheo, Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình, lo lắng nói Anh Pầng thừa nhận: "Điều kiện vui chơi giải trí hạn chế, tổ chức Đoàn yếu kém, không thu hút được thanh niên vào các sinh hoạt bổ ích, thiết thực Vì thế, thú vui của lớp trẻ là tụ tập, yêu đương từ rất sớm" Hiện tượng tảo hôn ở huyện Đà Bắc đã xảy ra ở 15 trong 21 xã Năm ngoái, toàn huyện có 16 cặp, trong đó có cả con cán bộ, Đảng viên Hiện tại, chính quyền địa phương vẫn chưa hiểu được những bức xúc này xuất phát từ đâu, công tác hòa giải chưa hiệu quả, tuyên truyền pháp luật còn nhiều sơ suất hay vì lý do nào khác Họ cũng không biết phải làm thế nào để chấm dứt hiện trạng này

Tình trạng tảo hôn diễn ra ngày càng phức tạp, không chỉ riêng gì ở khu vực miền núi mà ngay cả ở những khu vực đồng bằng và thành thị, nơi có trình độ dân trí cao cũng xảy ra hiện tượng kết hôn sớm Đối tượng có thể

kể đến đó là các em học sinh ăn chơi đua đòi, không chú ý đến chuyện học hành, rồi nghỉ học giữa chừng Cùng với ảnh hưởng của lối sống đô thị mà nhiều gia đình mải mê công việc làm ăn không dành thời gian quan tâm giáo dục con cái của mình dẫn đến việc con cái không đến trường học nữa

mà ở nhà lấy vợ lấy chồng

Trang 21

Dù đã lấy nhau được 3 năm nhưng đôi vợ chồng Cường - Thi vẫn chưa đăng ký kết hôn vì cô dâu chưa đủ tuổi Lúc cưới nhau, Thi mới 14 tuổi, không nghề nghiệp gì, mới học hết lớp 5 Những trường hợp như vậy không hiếm ở ngoại thành TP HCM Cường và Thi sống trong ngôi nhà lá xiêu vẹo trống trước, trống sau ở ấp Bến Đò 2, xã Tân Phú Trung, huyện Củ Chi Họ cưới nhau khi Thi 14, Cường 17 tuổi Chú rể là người ở xã Tân Thông Hội, cũng không có nghề nghiệp lận lưng Gia đình cô dâu có cho đôi trẻ miếng đất nhưng họ đã cắt bán dần, giờ chỉ còn trơ lại cái chòi lá cho hai vợ chồng trú thân Hằng ngày, Cường đi làm thuê mướn, ai kêu gì làm đó, nếu không thì chỉ biết ăn nhậu, đánh bài suốt ngày Thi thì đang bụng mang dạ chửa, lòng lo ngay ngáy không biết sau khi sinh rồi lấy gì nuôi Còn Hằng (huyện Cần Giờ) lấy chồng khi vừa học xong lớp 9 do lỡ có thai với một bạn học chung trường, hơn cô 2 tuổi Khi hai người lên xã làm đăng ký kết hôn thì không được chấp nhận Không đăng ký, không cưới xin nhưng họ vẫn về sống với nhau trên danh nghĩa vợ chồng Hoàn cảnh kinh tế gia đình hai bên khó khăn, trong thời gian mang thai, Hằng không được ăn uống đủ chất, lại làm việc vất vả nên đứa con sinh ra chỉ nặng hơn 2 kg Chẳng mấy chốc, giữa đôi vợ chồng nảy sinh những mâu thuẫn Con khóc, bố mẹ cũng gây lộn với nhau, không có tiền mua sữa cho con cũng cãi nhau Chán vợ, buồn con, chồng Hằng sinh tật nhậu nhẹt Hôm nào cô “ngứa miệng” cằn nhằn vài câu là

bị ăn đòn Tất cả họ đều rơi vào tình cảnh túng quẫn và nằm “thường trực” trong danh sách xóa đói giảm nghèo vì thuộc diện “3 không”: không nghề nghiệp, không đất đai, không vốn liếng Một cán bộ xã Hiệp Phước, huyện Nhà Bè nói: “Có những đứa trẻ 3-4 tuổi rồi vẫn không có giấy khai sinh Không biết đến tuổi vào lớp 1 thì cha mẹ chúng có còn sống chung với nhau nữa hay không” Chính quyền địa phương có thể ngăn họ đăng ký kết hôn và làm đám cưới nhưng không thể can thiệp quá sâu vào cuộc sống

Trang 22

riêng tư của hai đứa trẻ, nhất là khi bé gái đã bụng mang dạ chửa Những gia đình kết hôn sớm này đều rơi vào túng quẫn, thiếu thốn và trở thành một gánh nặng cho xã hội

Nguyên nhân dẫn đến tình trạng tảo hôn ở mỗi vùng, mỗi địa phương

có sự khác nhau Song có thể kể đến một vài nguyên nhân cơ bản như: thứ nhất, do phong tục tập quán Tảo hôn là một tập tục lạc hậu đã phát triển từ thời phong kiến ở nước ta, nó tồn tại quá lâu và đi sâu vào tiềm thức của nhiều thế hệ người Việt Nam Cho đến nay vẫn chưa xóa bỏ được triệt để tập tục lâu đời đó Thứ hai, tảo hôn còn xuất phát từ chính cuộc sống khó khăn của người dân, đặc biệt là ở vùng núi, nhiều người có tâm lý muốn sớm có con để thêm lao động trong gia đình, phát triển kinh tế, nhà nào mà đông con thì muốn gả sớm đi để bớt một miệng ăn, nhà có con trai thì muốn cưới sớm

để có người về lo toan gánh vác gia đình Thứ ba, trình độ dân trí còn yếu kém, hiểu biết về pháp luật của người dân còn nhiều hạn chế Việc nhận thức kém, bỏ học giữa chừng cũng là một nguyên nhân khiến cho các bạn trẻ tuổi muốn lập gia đình sớm Thứ tư, công tác tuyên truyền Luật Hôn nhân và Gia đình còn nhiều bất cập, chưa đi được sâu vào đến đời sống người dân Ở một số địa phương, đội ngũ tuyên truyền viên chưa thật sự tâm huyết và nhiệt tình Thứ năm, Chính quyền và các cấp ban ngành chưa có sự phối hợp chặt chẽ với nhau, Chính quyền địa phương còn thiếu kiên quyết trong việc lãnh đạo, chỉ đạo Giải quyết các trường hợp tảo hôn còn thiên nặng về tình cảm, chưa rõ ràng dứt khoát

Tảo hôn không chỉ là vi phạm Luật Hôn nhân và Gia đình mà còn tác động tiêu cực đến đến tương lai sau này của các em Hiện nay tảo hôn tập trung phần lớn vào độ tuổi 17 - 19 đối với nam, 16 - 17 tuổi đối với nữ Ở độ tuổi này, hầu như các em chưa có khả năng tự lập, không có việc làm mà vẫn phải trông cậy vào cha mẹ, chưa chủ động được về kinh tế Việc lập gia đình

Trang 23

sớm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe khi phải làm chồng, làm vợ trong lúc cơ thể còn non nớt, chưa phát triển toàn diện Nhất là đối với em

nữ, thiếu hiểu biết về sức khỏe sinh sản như: quan hệ tình dục an toàn, sinh

nở, chăm sóc con cái sau sinh… nên người mẹ sẽ gặp nhiều rủi ro, nhiễm khuẩn, băng huyết, nguy cơ tai biến và tử vong cao Con sinh ra thường không đạt tiêu chuẩn về cân nặng, số đo cơ thể, về não bộ… dễ bị mắc các bệnh như viêm phổi phế quản, suy dinh dưỡng, uốn ván sơ sinh, thiếu máu, còi xương…Thậm chí có nhiều trường hợp trẻ sơ sinh bị dị tật, dị dạng bẩm sinh…Điều đó không chỉ làm suy giảm chất lượng giống nòi mà còn

để lại gánh nặng cho gia đình trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng con cái khôn lớn thành người

Thêm vào đó, việc kết hôn sớm còn ảnh hưởng đến sự nghiệp học hành của các cặp đôi vợ chồng “trẻ con” Các em không thể dành toàn tâm toàn sức cho việc học vì vướng bận chuyện gia đình Nhiều em sau khi lấy

vợ lấy chồng thường bỏ học, không còn trở lại trường học nữa Có lẽ các

em gái là người chịu thiệt thòi hơn cả, bởi lấy chồng sớm vừa phải gánh vác việc gia đình, vừa áp lực chuyện sinh con nên chuyện dành thời gian cho học tập là điều không tưởng Chính vì vậy, cuộc sống gặp nhiều khó khăn, rơi vào vòng luẩn quẩn lạc hậu - thất học - đông con - ốm đau - không có việc làm - đói nghèo

Tục ngữ ca dao Việt Nam có câu:

“ Lấy nhau từ thuở mười ba Đến năm mười tám em đã năm con”

Đây là vấn đề thực tế ở xã Phú Mỡ hiện nay Vấn đề này xuất phát từ quan điểm “Trời sinh voi, Trời sinh cỏ” Cho nên cứ hằng năm cứ đến ngày tết cổ truyền dân tộc, người ta đến thăm hỏi và chúc nhau “con đàn cháu đống” và họ quan niệm “đông con là nhà có phúc” Tư tưởng lạc hậu và ấu trĩ

Trang 24

đó đã ăn sâu vào trong đời sống sinh hoạt hằng ngày của mỗi người dân Việt Nam trong xã hội phong kiến

Việc nghiên cứu hiện tượng tảo hôn là vấn đề không mới, từ trước đến nay, ngoài các công trình nghiên cứu của các tác giả còn có sự góp mặt của các trang báo cũng đã đề cập và quan tâm đến vấn đề này Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu chưa đi sâu vào việc giáo dục để thay đổi nhận thức của cộng đồng và hướng cho cộng đồng đó thấy được hậu quả nghiêm trọng của nạn tảo hôn có ảnh hưởng như thế nào đến chiến lược phát triển kinh tế, văn hóa xã hội , chiến lược Dân số - KHHGĐ

Theo khảo sát của Chi cục Dân số - KHHGĐ tỉnh Phú Yên thì tỷ lệ tảo hôn trên địa bàn Tỉnh vẫn có chiều hướng gia tăng trên hai huyện miền núi, cụ thể: Huyện Sông Hinh tỉnh Phú Yên trong 4 năm (2013 - 2016) tỷ lệ tảo hôn của người dân tộc Ê đê chiếm tỷ lệ 82,86 %, tuổi tảo hôn của nam 18 tuổi chiếm tỷ lệ 46,15%, tuổi tảo hôn của nữ 16 tuổi chiếm tỷ lệ 42,42% Năm

2013 - 2016, Trung tâm Dân số - KHHGĐ huyện Đồng Xuân tỉnh Phú Yên đã khảo sát tình trạng tảo hôn của các đồng bào dân tộc ít người chiếm tỷ lệ 84,84% trên toàn huyện Trong đó hai dân tộc Chăm Hroi và Ba Na có tỷ lệ tảo hôn chiếm 70% Riêng xã Phú Mỡ của huyện Đồng Xuân, số cặp tảo hôn của người dân tộc Chăm Hroi và Ba Na qua 4 năm (2013-2016) kết hôn là:

293 cặp vợ chồng; Tảo hôn là: 135 cặp vợ chồng chiếm 46,07% Tuổi đời kết hôn nam và nữ trung bình từ 20-22 tuổi Tuổi đời tảo hôn nam trung bình từ 15-18 tuổi chiếm 20,07%; tỷ lệ tảo hôn của nữ là 26%; Số con sinh được: 154 cháu, có 23 cháu bị suy dinh dưỡng thuộc hai dân tộc Chăm Hroi và Ba Na chiếm 14,93% và không có trường hợp bệnh tật bẩm sinh

Tảo hôn ở xã Phú Mỡ hiện nay đang gây ra nhiều hệ lụy đối với bản thân, gia đình, gánh nặng cho xã hội; là nguyên nhân cơ bản làm suy giảm số lượng và chất lượng dân số Tầm vóc và tuổi thọ trung bình của các dân tộc ít

Trang 25

người cũng đang thấp dần, tuổi thọ trung bình chỉ xấp xỉ 45 tuổi Có thể thấy vấn đề tảo hôn ở xã Phú Mỡ mới chỉ được nhìn nhận ở bước đầu, chưa có đề tài nào nghiên cứu cụ thể về nạn tảo hôn của người dân tộc ít người ở xã Phú

Mỡ huyện Đồng Xuân Với các công trình nghiên cứu nêu trên mới chỉ đề cập những vấn đề chung của hôn nhân và gia đình, chưa tập trung đánh giá một cách toàn diện thực trạng và các nguyên nhân chủ yếu của tảo hôn Để từ đó đưa ra những biện pháp thiết thực nhất phù hợp với tình trạng tảo hôn trên địa bàn xã Phú Mỡ Nghiên cứu về: “Giáo dục phòng chống nạn tảo hôn vùng đồng bào dân tộc ít người huyện Đồng Xuân - tỉnh Phú Yên” là việc làm cần thiết, xem xét trường hợp một cách cụ thể, từ đó đưa ra những giải pháp giáo dục để ngăn chặn kịp thời, nâng cao nhận thức và phát triển kinh tế xã hội cho người đồng bào dân tộc ít người

1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài

1.2.1 Dân tộc ít người

Dân tộc ít người là dân tộc có số dân ít (có thể từ hàng trăm, hàng nghìn cho đến hàng triệu) cư trú trong một quốc gia thống nhất có nhiều dân tộc, trong đó có một dân tộc có số dân đông nhất

Trang 26

Như vậy, có thể kết luận rằng, “giáo dục” là sự hoàn thiện của mỗi cá nhân, đây cũng là mục tiêu sâu xa của giáo dục; người giáo dục, hay có thể gọi là thế hệ trước, có nghĩa vụ phải dẫn dắt, chỉ hướng, phải truyền tải lại cho thế hệ sau tất cả những gì có thể để làm cho thế hệ sau trở nên phát triển hơn, hoàn thiện hơn.Với ý nghĩa đó, giáo dục đã ra đời từ khi xã hội loài người mới hình thành do nhu cầu của xã hội và trở thành một yếu tố cơ bản để làm phát triển loài người, phát triển xã hội Giáo dục là một hoạt động có ý thức của con người nhằm vào mục đích phát triển con người và phát triển xã hội

Giáo dục ban đầu được thực hiện một cách đơn giản, trực tiếp ngay trong lao động và trong cuộc sống, ở mọi lúc, mọi nơi Khi xã hội ngày càng phát triển lên, kinh nghiệm xã hội được đúc kết nhiều hơn, yêu cầu của xã hội đối với con người ngày càng cao hơn, các loại hình hoạt động xã hội ngày càng mở rộng hơn thì giáo dục theo phương hướng trực tiếp không còn phù hợp mà đòi hỏi phải có một phương thức giáo dục khác có hiệu quả hơn Giáo dục gián tiếp theo phương thức nhà trường, được thực hiện một cách chuyên biệt ra đời và ngày càng phát triển đáp ứng ngày càng tốt nhu cầu của xã hội

Do đó, xã hội ngày càng phát triển, giáo dục ngày càng trở nên phức tạp hơn

và mang tính chuyên biệt hơn Sự phát triển đó là do yêu cầu tất yếu của xã hội và do những sức mạnh to lớn của giáo dục tạo ra sự phát triển của xã hội Vai trò của giáo dục đối với sự phát triển về mọi mặt của xã hội thì không ai

có thể phủ nhận về nó

Từ khi ra đời, giáo dục đã trở thành một yếu tố cơ bản thúc đẩy sự phát triển thông qua việc thực hiện các chức năng xã hội của nó Đó chính là những tác động tích cực của giáo dục đến các mặt hay các quá trình xã hội và tạo ra sự phát triển cho xã hội Có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm

“giáo dục”:

Trang 27

Giáo dục được hiểu là quá trình hình thành và phát triển nhân cách dưới ảnh hưởng của tất cả các hoạt động từ bên ngoài, được thực hiện một cách có

ý thức của con người trong nhà trường, gia đình và ngoài xã hội Ví dụ: Ảnh hưởng của các hoạt động đa dạng nội khóa, ngoại khóa của nhà trường; ảnh hưởng của lối dạy bảo, nếp sống trong gia đình; ảnh hưởng của sách vở, tạp chí; ảnh hưởng của những tấm lòng nhân từ của người khác;…

Giáo dục còn được hiểu là hệ thống những tác động có mục đích xác định được tổ chức một cách khoa học (có kế hoạch, có phương pháp, có hệ thống) của các cơ quan giáo dục chuyên biệt (nhà trường) nhằm phát triển toàn diện nhân cách Qua những môn học trên trường, lớp cũng như qua những hoạt động như báo cáo thời sự, biểu diễn văn nghệ, cắm trại, thăm quan,… được tổ chức ngoài giờ lên lớp, sẽ tạo ra những ảnh hưởng tích cực đến sự hình thành và phát triển nhân cách của người được giáo dục, dưới tác động của giáo viên, của nhà giáo dục

Giáo dục được hiểu là quá trình hình thành và phát triển nhân cách người giáo dục dưới quan hệ của những tác động sư phạm của nhà trường, chỉ liên quan đến các mặt giáo dục như: trí học, đức học, mĩ dục, thể dục, giáo dục lao động

Ngoài ra, giáo dục còn được hiểu là quá trình hình thành và phát triển nhân cách người được giáo dục chỉ liên quan đến giáo dục đạo đức Sự ra đời

và phát triển của giáo dục gắn liền với cự ra đời và phát triển của xã hội Một mặt, giáo dục phục vụ cho sự phát triển xã hội, bởi lẽ, xã hội sẽ không phát triển thêm một bước nào nếu như không có những điều kiện cần thiết cho giáo dục tạo ra Mặt khác, sự phát triển của giáo dục luôn chịu sự quy định của xã hội thông qua những yêu cầu ngày càng cao và những điều kiện ngày càng thuận lợi do sự phát triển xã hội mang lại Chính vì vậy, trình độ phát triển của giáo dục phản ánh những đặc điểm phát triển của xã hội

Trang 28

1.2.3 Phòng chống tảo hôn

Tảo hôn là tập tục đã tồn tại lâu đời ở nhiều nhóm cộng đồng và các dân tộc trên lãnh thổ nước ta Trong xã hội phong kiến trước đây, luật pháp không quy định độ tuổi, chuẩn mực để đánh giá tảo hôn là dư luận của xã hội Tảo hôn trở thành hiện tượng hôn nhân Hiện nay, hiện tượng tảo hôn ở nước

ta đang có diễn biến phức tạp ở một số nơi, đa phần diễn ra ở nông thôn và khu vực miền núi, nơi sinh sống của các dân tộc ít người, thậm chí ở ngay cả thành thị, nơi có trình độ nhận thức cao vẫn còn tồn tại tình trạng này Để hiểu cặn kẽ hơn về vấn đề đang được đề cập, chúng ta đi vào tìm hiểu khái niệm tảo hôn là gì?

Theo nghĩa Hán - Việt thì “tảo” có nghĩa là sớm, “hôn” có nghĩa là nam

nữ lấy nhau để thành vợ chồng của nhau (kết hôn với nhau) và được xã hội, cộng đồng công nhận Như vậy, tảo hôn là nam nữ lấy nhau sớm, trước khi đến độ tuổi đủ trưởng thành, cả về thể chất lẫn tinh thần, theo tập quán của cộng đồng xưa kia hoặc theo luật pháp của Nhà nước về hôn nhân và gia đình ngày nay

Trong Luật hôn nhân và Gia đình Việt Nam xuất bản năm 2015 của NXB Tư pháp đã đưa ra định nghĩa ngắn gọn đó là “tảo hôn là việc lấy vợ, lấy chồng khi một bên hoặc cả hai bên chưa đủ độ tuổi kết hôn theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 8 của Luật này” [13; 8] Định nghĩa này có thể được hiểu theo các nghĩa: thứ nhất, tảo hôn là việc nam nữ lấy vợ lấy chồng có đăng kí kết hôn nhưng một hoặc cả hai bên chưa đủ độ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật Quan điểm này cho thấy, tảo hôn là một trường hợp của kết hôn trái pháp luật Thứ hai, tảo hôn là việc nam nữ lấy vợ lấy chồng không đăng kí kết hôn và một hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật Thứ ba, tảo hôn là việc nam nữ lấy vợ, lấy chồng có đăng

kí kết hôn hoặc không đăng kí kết hôn nhưng một bên hoặc cả hai bên chưa

đủ tuổi kết hôn theo pháp luật

Trang 29

Căn cứ vào điều kiện tự nhiên xã hội nước ta và sự phát triển của tâm sinh lý của con người mà luật pháp Việt Nam (Điều 8, Chương II của Luật Hôn nhân và Gia đình) quy định độ tuổi kết hôn: “Nam từ đủ 20 tuổi trở lên,

nữ từ đủ 18 tuổi trở lên” mới được kết hôn Kết hôn khi chưa đủ tuổi theo quy định trên là tảo hôn và là vi phạm Luật Hôn nhân và Gia đình

Tóm lại, nhìn nhận ở góc độ xã hội, tảo hôn là việc hai bên nam nữ chưa đủ tuổi kết hôn theo luật định nhưng đã chung sống với nhau như vợ chồng và không đăng kí kết hôn Nhìn ở góc độ pháp lý, tảo hôn là việc lấy vợ lấy chồng khi một bên hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật Tảo hôn là một trường hợp của kết hôn trái pháp luật

Tảo hôn được coi là tệ nạn xã hội, gây ra nhiều hệ lụy xấu, không chỉ gây hại cho sức khỏe của trẻ em ở hiện tại mà còn có nguy cơ ảnh hưởng đến nòi giống cũng như chất lượng cuộc sống, tương lai sau này của con em Đấu tranh xóa bỏ là một việc làm cần thiết nhằm ngăn chặn kịp thời những hệ quả đáng tiếc xảy ra đối với thế hệ “mầm non” tương lai của đất nước

Theo Bộ luật hình sự Việt Nam, người nào có hành vi tảo hôn (hành vi

cố ý duy trì quan hệ vợ chồng trái pháp luật với người chưa đủ tuổi kết hôn mặc dù đã có quyết định của Tòa án nhân dân buộc chấm dứt quan hệ đó) hoặc tổ chức tảo hôn (tổ chức lấy vợ, lấy chồng cho người chưa đủ tuổi kết hôn) đều bị xử phạt nghiêm trọng

Như vậy, đến đây ta có thể hiểu phòng chống tảo hôn là phòng ngừa,

ngăn chặn, đấu tranh chống tảo hôn và kiểm soát các hoạt động hợp pháp liên quan đến tảo hôn

1.2.4 Giáo dục phòng chống nạn tảo hôn

Giáo dục phòng chống tảo hôn được coi là một nội dung của giáo dục pháp luật Giáo dục cho mọi đối tượng để mọi người tự giác chấp hành pháp luật về hôn nhân là biện pháp hàng đầu trong các giải pháp cấp bách nhằm

Trang 30

giảm thiểu tảo hôn Giáo dục phòng chống tảo hôn là nhiệm vụ hàng đầu, quan trọng, lâu dài và thường xuyên của cấp các ngành liên quan như: Cục dân số và kế hoạch hóa gia đình, ban dân tộc, ủy ban mặt trận tổ quốc, Hội phụ nữ, Các trạm y tế thôn bản, đặc biệt là ở các trường học nơi có những đối tượng tiền hôn nhân - nhóm dân số chuẩn bị bước vào ngưỡng cửa của hôn nhân, gia đình, vấn đề đặt ra là giáo dục SKSS cho các em như thế nào về mặt nội dung, phương pháp và hình thức cho phù hợp và có hiệu quả?

Thông qua việc phân tích khái niệm tảo hôn cùng với định nghĩa giáo

dục thì: “Giáo dục phòng chống tảo hôn là hình thức truyền dạt những kiến

thức pháp luật về hôn nhân và gia đình để mọi người hiểu, tuân thủ và có ý thức chấp hành tốt luật tránh những tác hại và hậu quả do tảo hôn gây ra”

Giáo dục phòng chống tảo hôn cho cộng đồng người dân tộc ít người đóng một vai trò quan trọng và cần phải được tổ chức thực hiện thường xuyên, liên tục, tích cực ở tất cả mọi nơi nhằm giúp nâng cao nhận thức và ý thức pháp luật, chuyển đổi hành vi trong hôn nhân của đồng bào dân tộc ít người góp phần giảm thiểu tình trạng tảo hôn, nâng cao chất lượng dân số và nguồn nhân lực vùng dân tộc ít người Tuy nhiên để giáo dục được hiệu quả cũng cần nắm rõ các đặc điểm về tâm sinh lý cả người dân tộc ít người, đây là một trong những yếu tố ảnh hưởng quan trọng dẫn đến tình trạng tảo hôn

1.3 Một số quan điểm cần thiết để xem xét về hiện tƣợng tảo hôn

Bảo tồn và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trên cơ sở kế thừa và phát huy những giá trị văn hoá lâu đời cũng như tiếp thu những thành tựu văn hoá nhân loại là một trong những mục tiêu quan trọng mà Đảng và Nhà nước ta đã đề ra trong suốt tiến trình đi lên CNXH Việt Nam, một đất nước với hàng nghìn năm lịch sử, là một trong những cái nôi của nền văn minh nhân loại, nơi hội tụ của những tinh hoa văn hoá trên thế giới, những giá trị văn hoá đã tạo nên một nền văn hoá đậm đà bản sắc

Trang 31

dân tộc mà tiêu biểu là: văn hoá làng xã, văn hoá ẩm thực, văn hoá lễ nghi tôn giáo, văn hoá ăn mặc, văn hoá gia đình Tuy nhiên cũng phải nhìn nhận một cách khách quan rằng với sự trôi đi của thời gian, sự thay đổi đi của điều kiện kinh tế - xã hội cũng như những thay đổi trong tư duy nhận thức của con người và trong bối cảnh của nền văn minh hiện đại thì nhiều yếu tố trong đó

đã lỗi thời lạc hậu nên sự tồn tại của nó vô hình chung đã kìm hãm sự phát triển của văn hoá nói riêng và cả một quốc gia nói chung

Xét ở góc độ này thì văn hoá gia đình, ma chay, cưới hỏi mà đặc biệt là vấn đề tảo hôn là những minh chứng rõ nét nhất Tục tảo hôn vừa thể hiện sự

cổ hủ, sự lỗi thời của màu sắc phong kiến lạc hậu và vừa mang sức nặng kìm hãm văn hoá phát triển Đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay thì vấn đề tảo hôn còn cản trở sự phát triển lành mạnh của con người, của giống nòi, tâm sinh lý, nhận thức, học vấn, nghèo nàn lạc hậu, phúc lợi xã hội Xét ở một khía cạnh khác thì vấn nạn tảo hôn còn ảnh hưởng lớn tới mục tiêu xây dựng gia đình mới: bình đẳng, tiến bộ, ấm no, hạnh phúc Bởi vậy luật hôn nhân và gia đình

2000 đã quy định tại điều 8 rằng " " Bên cạnh đó pháp luật hình sự còn có những quy định và chế tài rất nghiêm khắc về tội tảo hôn

Thực tế diễn ra vẫn cho thấy rằng tảo hôn vẫn là vấn đề nhức nhối, nan giải và khó giải quyết trong bối cảnh hiện nay mà những thông số dưới đây sẽ phần nào làm sáng tỏ vấn đề này Bổ sung điều kiện kết hôn và định nghĩa tảo hôn "Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn" Theo luật Hôn nhân

& Gia đình năm 2000, nam nữ muốn được kết hôn với nhau, phải tuân thủ các điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn Đó là điều kiện quy định tại Điều 9 luật Hôn nhân & Gia đình Việt Nam 2000, trong đó quy định nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên mới được phép kết hôn Sở dĩ Luật Hôn nhân và Gia đình quy định tuổi kết hôn là căn cứ vào sự phát triển tâm sinh lý của con người, vào điều kiện kinh tế xã hội ở nước ta

Trang 32

Xét ở góc độ xã hội, tảo hôn là việc hai bên nam nữ chưa đủ tuổi kết hôn theo luật định, nhưng đã chung sống với nhau như vợ chồng và không đăng ký kết hôn Xét ở góc độ pháp lý, tảo hôn là việc lấy vợ, lấy chồng khi một bên hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật (Khoản 4, Điều 8, Luật Hôn nhân & Gia đình) Tảo hôn là 1 trường hợp của kết hôn trái pháp luật mà theo khoản 3 Điều 8 luật hôn nhân và gia đình:

"Kết hôn trái pháp luật là việc xác lập quan hệ vợ chồng có đăng ký kết hôn nhưng vi phạm điều kiện kết hôn do pháp luật quy định" Như vậy, về mặt pháp lý tảo hôn phải thoả mãn 2 điều kiện: đó là 2 bên nam nữ có đăng ký kết hôn nhưng vi phạm điều kiện độ tuổi quy định tại khoản 1, điều 9 luật hôn nhân và gia đình

Trên thực tế nạn tảo hôn vẫn xảy ra ở tất cả các tỉnh thành trong cả nước Theo số liệu điều tra của Vụ gia đình (UBDS - GĐ và TE) cho thấy 15 tỉnh, thành phố cả nước có trên 1% trẻ em ở độ tuổi 14 - 16 đã có vợ chồng Các tỉnh có tỷ lệ trẻ em tảo hôn cao như Hà Giang: 5,72%, Cao Bằng: 5,1%, Lào Cai 2,7%, Sơn La 2,6%, Quảng Trị 2,4% và Bạc Liêu 2,1% Những địa phương trên có đến 22% tỷ lệ kết hôn không đăng ký vi phạm Luật Hôn nhân và Gia đình, phần lớn các cặp vợ chồng kết hôn trước tuổi luật định Theo kết quả điều tra có 30,7% đối tượng kết hôn ở độ tuổi dưới 19, có 0,2% đối tượng kết hôn khi mới 9 tuổi, 0,3% đối tượng kết hôn k hi 14 tuổi, 1,0% kết hôn khi 15 tuổi, 3,3% kết hôn khi 16 tuổi, 5,8% kết hôn khi 17 tuổi và 15,6% kết hôn khi 18 tuổi

Có vẻ như nhiều người trong xã hội hiện nay chưa nhận thức đúng hậu quả nặng nề của tệ nạn tảo hôn Phải thấy rằng, trước hết, tảo hôn ảnh hưởng nghiêm trọng tới cuộc sống và sức khỏe không chỉ của các bé gái, mà cả của các bé trai; các bà mẹ trẻ có nguy cơ tử vong cao, con cái thường bị chết lưu hoặc chết trong những tháng đầu đời, nếu may mắn sống sót thì cũng èo uột

Trang 33

Tiếp theo, tảo hôn làm mất cơ hội học hành, tạo dựng nghề nghiệp và cản trở tương lai của thanh thiếu niên Thứ ba, tảo hôn ảnh hưởng xấu tới gia đình về kinh tế, văn hóa; những gia đình tảo hôn thường có nhiều nguy cơ bị bạo lực gia đình Thứ tư, tảo hôn dẫn tới việc làm giảm chất lượng dân số ở quy mô quốc gia, dẫn tới tình trạng đói nghèo Ngoài ra, tảo hôn còn là nguyên nhân gián tiếp làm trầm trọng thêm nạn cưỡng hiếp trẻ em

Trên thực tế, tảo hôn gây hậu quả rất nghiêm trọng, ảnh hưởng rất xấu tới đời sống kinh tế - xã hội Giải quyết tình trạng tảo hôn chính là một giải pháp quan trọng góp phần xóa đói, giảm nghèo, thúc đẩy bình đẳng giới và quyền con người, góp phần duy trì sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững, đưa đất nước tới thịnh vượng, phồn vinh

Muốn ngăn chặn nạn tảo hôn, cần “bắt bệnh” cho đúng Ở một số cuộc hội thảo, các học giả thường cho rằng, nguyên nhân chính của nạn tảo hôn là

do nghèo đói và bất bình đẳng giới Tôi cho rằng, đây chỉ là một trong những nguyên nhân và chưa hẳn là nguyên nhân chính Như đã nói ở trên, ngày trước, mức sống của chúng ta thấp hơn bây giờ nhiều, nghĩa là nghèo đói hơn nhưng ngày ấy rất ít tảo hôn Vì sao ư? Vì ngày ấy thanh thiếu niên sống có lý tưởng, có niềm tin Hoạt động Đội, Đoàn rất sôi nổi, mang đến cho tuổi trẻ nhiều niềm vui, cuốn hút họ vào sinh hoạt tập thể, tạo cho họ những ước mơ học hành, đi xa, lập nghiệp Có những thứ đó, họ chưa vội nghĩ tới tình cảm nam nữ, kết hôn, xây dựng gia đình…

Trong xã hội hiện đại, tính lệ thuộc và chi phối lẫn nhau giữa con người với con người, giữa cá nhân với xã hội ngày càng trở nên sâu sắc Kết quả nghiên cứu của các chuyên ngành Tâm lý học nhân cách, tâm lý học hoạt động, tâm lý học giao lưu (giao tiếp) và của các nhà khoa học khác đã khẳng định hiện tượng liên nhân cách trong quá trình hình thành, phát triển nhân cách của con người ngày nay Bản chất của con người là

Trang 34

tổng hòa các mối quan hệ xã hội Nhân cách của mỗi cá nhân là nhân cách của cộng đồng, xã hội đã được cá thể hóa một cách chọn lọc, cùng với tiềm năng vật chất sinh lý, tâm lý vốn có của cá thể nhằm đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của mỗi người

Trong quá trình hình thành nhân cách, hoạt động vừa là điều kiện, vừa

là phương tiện để cá thể hóa cái xã hội và xã hội hóa cái cá thể

Hành vi và hoạt động của cộng đồng có ảnh hưởng chi phối và lệ thuộc lẫn nhau hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp Vì vậy, hiện tượng hôn nhân nói chung và tảo hôn nói riêng không thể coi là việc riêng của mỗi cá nhân và gia đình, không phải việc riêng của hai con người khác giới

Phải thấy rằng, trong thời gian qua, chúng ta xem nhẹ công tác tuyên truyền, vận động để các gia đình và trẻ vị thành niên tránh tảo hôn Luật pháp cũng chưa được tôn trọng ở nhiều nơi, cán bộ cơ sở chưa làm gương cho nhân dân Do trào lưu khôi phục lại một số lễ hội cổ xưa, dựa theo đó, những hủ tục cũng trở lại mà không ai ngăn chặn

Tóm lại, nguyên nhân dẫn tới tệ nạn tảo hôn đang lây lan rộng rãi hiện nay có nhiều Trước hết là do nhận thức và sự buông lỏng quản lý ở tất cả các cấp Tiếp theo là cách tổ chức đời sống, nhất là đời sống tinh thần còn nhiều bất cập Nguyên nhân thứ ba là chúng ta “bắt bệnh” chưa đúng, chưa đánh giá hết hậu quả nặng nề của nạn tảo hôn nên lơ là trong việc ngăn chặn

1.4 Lý luận về giáo dục phòng chống nạn tảo hôn vùng đồng bào dân tộc ít người

1.4.1 Ý nghĩa của giáo dục phòng chống nạn tảo hôn vùng đồng bào dân tộc ít người

Đất tự nhiên không sinh được; con người thì mỗi năm tăng thêm vài phần trăm Đánh giá ở tầm vi mô cũng như vĩ mô, nếu chúng ta không ý thức được hậu quả của vấn đề tăng dân số thì sẽ kéo theo hàng loạt vấn đề như nền

Trang 35

kinh tế kém phát triển, nguời dân phải chịu nạn nghèo đói, thất học, bệnh dịch, lạc hậu Từ chỗ cuộc sống thiếu thốn, vất vả, cực khổ thì dễ sinh ra các

tệ nạn tiêu cực trong xã hội như trộm cắp, nghiện hút, cờ bạc, thậm chí giết người, cướp của, gây mất trật tự an ninh trên dịa bàn và toàn xã hội

Khi các tầng lớp nhân dân đã nhận thức thấp kém thì không đủ trình độ nhận thức được hậu quả của nạn tảo hôn Tảo hôn là tuổi chưa đủ điều kiện để làm cha, làm mẹ, chưa đủ độ chín chắn để chăm sóc cho đứa trẻ Đứa trẻ sinh

ra cần được sự chăm sóc chu đáo về dinh dưỡng, về tinh thần và thể chất, đảm bảo cho đứa trẻ phát triển toàn diện Những người làm cha, làm mẹ chưa ý thức được điều đó, cũng chỉ ý thức rằng: “Trời sinh voi, trời sinh cỏ” Như vậy, rõ ràng nạn tảo hôn đã ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe, đến chất lượng dân số, nòi giống trong tương lai, đó là những điều thực tế chứng minh cho sự tai hại của nạn tảo hôn đối với vấn đề chất lượng dân số, chất lượng cuộc sống của mỗi gia đình, dòng họ

Kết hôn quá sớm, sinh quá nhiều con cùng với nền kinh tế kém phát triển, đói ăn, không được chăm sóc sức khỏe, thể chất của trẻ em suy giảm Không được cha mẹ quan tâm tới việc học hành, nhất là các bé gái, nên trình độ dân trí, văn hóa còn rất thấp Như vậy, nạn tảo hôn đã làm cho chất lượng dân số ngày càng thấp dần

Như đã phân tích ở trên, nòi giống đối với chất lượng của một đất nước, mỗi dân tộc là yếu tố quyết định sự phát triển hay không phát triển của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc Trong quá trình xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, Đảng ta luôn khẳng định các nguồn lực để phát triển nền kinh tế Việt Nam thì yếu tố con người là một trong yếu tố có tầm quan trọng hàng đầu, nó có tính chất quyết định sự thành, bại trong quá trình phát triển đất nước Tảo hôn là nguyên nhân trực tiếp làm suy giảm sức khỏe, trí tuệ, tuổi thọ của con người

Trang 36

Ngăn chặn tệ nạn tảo hôn, đòi hỏi người dân cần có những hiểu biết nhất định, tự ý thức được tác hại của việc tảo hôn để từ đó mỗi người dân, mỗi gia đình, mỗi địa bàn tự giác thực hiện vấn đề này mới có thể thành công Tuy nhiên để cho người dân nhận thức được vấn đề; không có con đường nào khác là sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, chính quyền, đoàn thể; các cơ quan, ban ngành chức năng từ huyện đến cơ sở; tăng cường công tác tuyên truyền, vận động đến từng hộ gia đình, từng thành viên trong cộng đồng dân tộc ít người

1.4.2 Mục tiêu, nội dung của giáo dục phòng chống nạn tảo hôn vùng đồng bào dân tộc ít người

1.4.2.1 Mục tiêu của giáo dục phòng chống nạn tảo hôn vùng đồng bào dân tộc ít người

Hôn nhân là một vấn đề xã hội bị chi phối bởi nhiều yếu tố như truyền thống, tâm lý dân tộc, giới tính, đặc biệt phụ thuộc vào quá trình nhận thức chân lý, phân biệt đầy đủ lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể, gia đình và cộng đồng Làm chuyển biến nhận thức là một quá trình tự nhận thức sai lầm đến nhận thức đúng, từ chỗ chưa biết đến hiểu biết, vì vậy đòi hỏi phải tiến hành bằng nhiều hình thức, biện pháp thích hợp Nhận thức đúng thì hành động đúng, cũng có khi nhận thức đúng mà hành động lại sai, đó là trường hợp hi hữu, nhưng suy cho cùng vẫn là nhận thức chưa đầy đủ Thực hiện tốt Quyết định số: 498/QĐ-TTg ngày 14/4/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Giảm thiểu tình trạng tảo hôn trong vùng dân tộc ít người giai đoạn 2015 - 2025”; Phối hợp với các cấp, các ngành từ huyện đến cơ

sở triển khai tổ chức thực hiện Kế hoạch số 128/KH-UBND ngày 05/10/2015 của UBND tỉnh; và Kế hoạch số 775/KH-UBND ngày 16/8/2016 của UBND huyện Đồng Xuân

Trang 37

Vì vậy, giáo dục phòng chống tảo hôn nhân cho đồng bào dân tộc ít người nhằm mục tiêu chính là để tuyên truyền giáo dục về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc tuân thủ quy định của pháp luật về kết hôn giúp nâng cao nhận thức cho đồng bào dân tộc để họ có hành động đúng đắn cho nên nội dung giáo dục chủ yếu phổ biến các quy định của pháp luật có liên quan đến hôn nhân gia đình, tảo hôn và hôn nhân cận huyết cũng như hậu quả, tác hại và những hệ lụy của vấn nạn này gây ra, nhằm nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi, từng bước hạn chế, tiến tới chấm dứt tình trạng tảo hôn

1.4.2.2 Nội dung của giáo dục phòng chống nạn tảo hôn vùng đồng bào dân tộc ít người

Giáo dục phòng chống tảo hôn nhân cho đồng bào dân tộc ít người nhằm mục đích chính là để tuyên truyền giáo dục về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc tuân thủ quy định của pháp luật về kết hôn giúp nâng cao nhận thức cho đồng bào dân tộc để họ có hành động đúng đắn cho nên nội dung giáo dục chủ yếu phổ biến các quy định của pháp luật có liên quan đến hôn nhân gia đình, tảo hôn và hôn nhân cận huyết cũng như hậu quả, tác hại và những

hệ lụy của vấn nạn này gây ra, nhằm nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi, từng bước hạn chế, tiến tới chấm dứt tình trạng tảo hôn

* Giáo dục một số quy định về hôn nhân và gia đình như:

- “Hôn nhân: Là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn” [10; tr 7];

- “Chế độ hôn nhân và gia đình là toàn bộ những quy định của pháp luật về kết hôn, ly hôn; quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con, giữa các thành viên khác trong gia đình; cấp dưỡng; xác định cha, mẹ, con; quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài và những vấn đề khác liên quan đến hôn nhân và gia đình” [10 tr 7];

- “Tập quán về hôn nhân và gia đình là quy tắc xử sự có nội dung rõ ràng về quyền, nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hôn nhân và gia đình,

Trang 38

được lặp đi, lặp lại trong một thời gian dài và được thừa nhận rộng rãi trong một vùng, miền hoặc cộng đồng” [10; tr 7];

- “Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng kí kết hôn” [10; tr 7]

- “Kết hôn trái pháp luật: Là việc nam, nữ đã đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng một bên hoặc cả hai bên vi phạm điều kiện kết hôn do pháp luật quy định” ) [10; tr 8];

- “Tảo hôn là việc lấy vợ, lấy chồng khi một bên hoặc cả hai bên chưa

đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật (Khoản 8, Điều 3 Luật Hôn nhân

và gia đình)’’ [10; tr25];

- “Cấm các hành vi sau đây:

+) Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo;

+) Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn;

+) Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;

- “Mọi hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình phải được xử

lý nghiêm minh, đúng pháp luật

Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu tòa án, cơ quan khác có thẩm quyền áp dụng biện pháp kịp thời nhăn chặn và xử lý người có hành vi

vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình” [10; tr12];

- “Điều kiện kết hôn:

+) Nam từ đủ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ đủ mười tám tuổi trở lên; +) Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;

+) Không bị mất năng lực, hành vi dân sự;

+) Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn quy định tại khoản 2 Điều 5 của Luật này” [10; tr 13];

Trang 39

1.4.3 Phương pháp giáo dục phòng chống nạn tảo hôn vùng đồng bào dân tộc ít người

Giáo dục phòng chống tảo hôn cho đồng bào dân tộc ít người cần có những hình thức và phương pháp phù hợp với đặc thù của mỗi dân tộc do họ không đồng nhất về tiếng nói, phong tục tập quán, nếp sống và sinh hoạt vv Các đơn vị cần dựa vào tình hình thực tế để lựa chọn những hình thức tuyên truyền, phù hợp Do tập quán của người dân tộc ít người thường xuyên sống ở nương rẫy, nên các cấp chính quyền cần lồng ghép tuyên truyền trong các cuộc giao lưu, sinh hoạt văn hóa, lễ hội; tổ chức các buổi tập huấn nâng cao kiến thức về hôn nhân cận huyết, tảo hôn cho các già làng, trưởng bản, người có uy tín trong vùng dân tộc thiếu số để những đối tượng này trở thành đầu mối thông tin, tuyên truyền cho bà con; kết hợp tuyên truyền với phổ biến các biện pháp phòng ngừa tình trạng tảo hôn; chú ý nêu gương người tốt việc tốt trong tuân thủ và chấp hành pháp luật về Luật Hôn nhân gia đình Cụ thế như sau:

- Tuyên truyền, giáo dục người dân tộc ít người chấp hành các quy định

về hôn nhân và gia đình

+) Thường xuyên nhắc nhở, đưa thông tin liên quan đến tảo hôn vào nội dung sinh hoạt cộng đồng thôn bản

+) Mỗi người dân cam kết gương mẫu thực hiện và vận động gia đình, người thân chấp hành các quy định về hôn nhân của luật hôn nhân

và gia đình ;

+) Tích cực tổ chức có hiệu quả “Cuộc vận động phòng chống tảo hôn

và hôn nhân cận huyết thống”;

+) Biểu dương, khen thưởng kịp thời các tập thể, cá nhân có thành tích trong công tác tuyên truyền giáo dục phòng chống tảo hôn; xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm;

Trang 40

- Nghe nói chuyện chuyên đề về tình hình tảo hôn không chỉ tại địa phương mà trên cả nước để nắm bắt rõ thực trạng, hậu quả nghiêm trọng mà tảo hôn gây ra và các điều luật chủ yếu về hôn nhân

- Thảo luận theo các chuyên đề khác nhau về giáo dục phòng chống tảo hôn:

+) Thi tìm hiểu về luật hôn nhân và gia đình ;

+) Thi xử lí tình huống;

+) Thi tiểu phẩm, thi hùng biện;

+) Hoạt động câu lạc bộ hôn nhân và gia đình

- Tổ chức cho người dân tham gia công tác phòng chống tảo hôn ở địa phương, giúp họ hình thành những kiến thức tối thiểu về hôn nhân nhằm giáo dục con em mình ở mọi lúc mọi nơi ngăn chặn và đẩy lùi tảo hôn

1.4.4 Những căn cứ giáo dục phòng chống nạn tảo hôn vùng đồng bào dân tộc ít người

Căn cứ vào điều kiện tự nhiên xã hội nước ta và sự phát triển của tâm sinh lý của con người mà luật pháp Việt Nam (Điều 8, chương II của Luật hôn nhân và Gia đình) quy định độ tuổi kết hôn: “Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ

đủ 18 tuổi trở lên” mới được kết hôn Kết hôn khi chưa đủ tuổi theo quy định trên là tảo hôn và là vi phạm Luật Hôn nhân và Gia đình

Tảo hôn được coi là tệ nạn xã hội, gây ra nhiều hệ lụy xấu, không chỉ gây hại cho sức khỏe của trẻ em ở hiện tại mà còn có nguy cơ ảnh hưởng đến nòi giống cũng như chất lượng cuộc sống, tương lai sau này của con em Đấu tranh xóa bỏ là một việc làm cần thiết nhằm ngăn chặn kịp thời những hệ quả đáng tiếc xảy ra đối với thế hệ “mầm non” tương lai của đất nước

Theo Bộ luật hình sự Việt Nam, người nào có hành vi tảo hôn (hành vi

cố ý duy trì quan hệ vợ chồng trái pháp luật với người chưa đủ tuổi kết hôn mặc dù đã có quyết định của Tòa án nhân dân buộc chấm dứt quan hệ đó) hoặc tổ chức tảo hôn (tổ chức lấy vợ, lấy chồng cho người chưa đủ tuổi kết hôn) đều bị xử phạt nghiêm trọng

Ngày đăng: 30/06/2017, 12:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đỗ Thúy Bình (1991), Thực trạng hôn nhân ở các dân tộc miền núi, tạp chí dân tộc học, số 02/1991, tr. 19 - 27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng hôn nhân ở các dân tộc miền núi
Tác giả: Đỗ Thúy Bình
Năm: 1991
2. Trần Ngọc Bình (2008), Văn hóa các dân tộc Việt Nam, NXB Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa các dân tộc Việt Nam
Tác giả: Trần Ngọc Bình
Nhà XB: NXB Thanh niên
Năm: 2008
3. Trần Ngọc Bình (2009), Tìm hiểu một số nét văn hóa pháp lý các dân tộc Việt Nam, NXB Tư Pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Tìm hiểu một số nét văn hóa pháp lý các dân tộc Việt Nam
Tác giả: Trần Ngọc Bình
Nhà XB: NXB Tư Pháp
Năm: 2009
4. Bế Văn Đẳng (1996), Các dân tộc thiểu số trong sự phát triển kinh tế - xã hội của miền núi, NXB VHDT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các dân tộc thiểu số trong sự phát triển kinh tế - xã hội của miền núi
Tác giả: Bế Văn Đẳng
Nhà XB: NXB VHDT
Năm: 1996
5. Phạm Hồ Đấu, Trần Thị Liên (2011), Đời sống văn hóa dân tộc Mông, NXB Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đời sống văn hóa dân tộc Mông
Tác giả: Phạm Hồ Đấu, Trần Thị Liên
Nhà XB: NXB Thanh Hóa
Năm: 2011
6. Lê Sĩ Giáo (2012), Dân tộc học đại cương, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân tộc học đại cương
Tác giả: Lê Sĩ Giáo
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2012
7. Nguyễn Thái Hà (2012), “Tảo hôn hiểm họa đối với hàng triệu em gái”, Dân số và phát triển số 6, tr. 31-33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tảo hôn hiểm họa đối với hàng triệu em gái
Tác giả: Nguyễn Thái Hà
Năm: 2012
8. Đặng Thị Hoa (2005), Ảnh hưởng của phong tục tập quán tới chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em người Hmông, Tạp chí Lịch sử Đảng số 7, tr. 61 - 64 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của phong tục tập quán tới chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em người Hmông
Tác giả: Đặng Thị Hoa
Năm: 2005
9. Nguyễn Thế Huệ (1998), Tình trạng tảo hôn của một số dân tộc thiểu số Việt Nam, Viện dân tộc học, Tạp chí dân tộc học số 3, tr. 52 - 56 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Tình trạng tảo hôn của một số dân tộc thiểu số Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thế Huệ
Năm: 1998
10. Nguyễn Văn Huy (1997), Kể chuyện phong tục các dân tộc Việt Nam, NXB Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kể chuyện phong tục các dân tộc Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Huy
Nhà XB: NXB Văn hóa
Năm: 1997
11. Đạo Liên, Hà Sơn (2008), Tìm hiểu về hôn nhân loài người, NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu về hôn nhân loài người
Tác giả: Đạo Liên, Hà Sơn
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 2008
13. Đặng Văn Lung (1997), Phong tục tập quán các dân tộc Việt Nam, NXB VHDT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong tục tập quán các dân tộc Việt Nam
Tác giả: Đặng Văn Lung
Nhà XB: NXB VHDT
Năm: 1997
14. Lò Giàng Páo (1997), Tìm hiểu văn hóa vùng dân tộc thiểu số, NXB VHDT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Tìm hiểu văn hóa vùng dân tộc thiểu số
Tác giả: Lò Giàng Páo
Nhà XB: NXB VHDT
Năm: 1997
15. Anh Phương (1991), Nạn tảo hôn đang phát triển, Trung tâm nghiên cứu khoa học về gia đình và phụ nữ, (Trung tâm khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia) khoa học về Phụ nữ, số 4, tr.51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nạn tảo hôn đang phát triển
Tác giả: Anh Phương
Năm: 1991
16. Nguyễn Ngọc Tấn, Đặng Thị Hoa, Nguyễn Thị Thanh (2004), Hôn nhân gia đình các dân tộc Hmông, Dao ở hai tỉnh Lai Châu và Cao Bằng, NXB VHDT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hôn nhân gia đình các dân tộc Hmông, Dao ở hai tỉnh Lai Châu và Cao Bằng
Tác giả: Nguyễn Ngọc Tấn, Đặng Thị Hoa, Nguyễn Thị Thanh
Nhà XB: NXB VHDT
Năm: 2004
17. Phan Đăng Thanh, Trương Thị Hòa (2012), Các chế độ hôn nhân và gia đình Việt Nam xưa và nay, NXB TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Các chế độ hôn nhân và gia đình Việt Nam xưa và nay
Tác giả: Phan Đăng Thanh, Trương Thị Hòa
Nhà XB: NXB TP Hồ Chí Minh
Năm: 2012
18. Trần Ngọc Thêm (1999), Cơ sở văn hóa Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở văn hóa Việt Nam
Tác giả: Trần Ngọc Thêm
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
19. Lê Quang Thưởng (1997), Vấn đề tảo hôn và pháp luật hôn nhân gia đình Việt Nam, Viện Nghiên cứu Nhà nước và pháp luật Nhà nước, số 01, tr. 25 - 29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề tảo hôn và pháp luật hôn nhân gia đình Việt Nam
Tác giả: Lê Quang Thưởng
Năm: 1997
20. Nguyễn Thanh Trà (1929), Tảo hôn di hại, Bến Tre Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tảo hôn di hại
Tác giả: Nguyễn Thanh Trà
Năm: 1929
22. Viện dân tộc học (1978), Các dân tộc ít người ở Việt Nam (Các tỉnh phía Bắc), NXB KHXH, Hà Nội.II. Một số bài báo viết, báo điện tử Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các dân tộc ít người ở Việt Nam (Các tỉnh phía Bắc)
Tác giả: Viện dân tộc học
Nhà XB: NXB KHXH
Năm: 1978

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w