Nhiệm vụ 1: Đánh giá thực trạng công tác huấn luyện thể lực chuyên môn cho nam VĐV nhảy xa lứa tuổi 13 – 15 Trung tâm đào tạo VĐV Hải Phòng. Nhiệm vụ 2: Xây dựng và đánh giá hiệu quả nội dung huấn luyện thể lực chuyên môn cho nam VĐV nhảy xa lứa tuổi 13 – 15 Trung tâm đào tạo VĐV Hải Phòng.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỂ DỤC THỂ THAO BẮC NINH
NGUYỄN NGỌC QUÂN
XÂY DỰNG NỘI DUNG HUẤN LUYỆN THỂ LỰC
CHUYÊN MÔN CHO NAM VĐV NHẢY XA LỨA TUỔI 13 – 15
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO VĐV HẢI PHÒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI – 2016
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỂ DỤC THỂ THAO BẮC NINH
NGUYỄN NGỌC QUÂN
XÂY DỰNG NỘI DUNG HUẤN LUYỆN THỂ LỰC
CHUYÊN MÔN CHO NAM VĐV NHẢY XA LỨA TUỔI 13 – 15
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO VĐV HẢI PHÒNG
Chuyên ngành: Huấn luyện thể thao
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào.
Tác giả luận văn
Nguyễn Ngọc Quân
Trang 4HLTT - Huấn luyện thể thao
Trang 5TT Nội dung Trang
Bảng 3.1 Thực trạng cơ sở vật chất phục vụ cho công tác huấn
luyện Nhảy xa của Trung tâm đào tạo VĐV Hải Phòng 39Bảng 3.2 Đội ngũ HLV Điền kinh của Trung tâm đào tạo VĐV Hải
Bảng 3.3 Nội dung huấn luyện thể lực cho nam VĐV nhảy xa lứa
tuổi 13 – 15 Trung tâm đào tạo VĐV Hải Phòng 42Bảng 3.4
So sánh khối lượng huấn luyện VĐV Nhảy xa của Trungtâm đào tạo VĐV Hải Phòng với tài liệu tham khảo (Điềnkinh 2000)
43
Bảng 3.5 Kết quả phỏng vấn lựa chọn test đánh giá thể lực chuyên
môn cho nam VĐV nhảy xa lứa tuổi 13 – 15 46Bảng 3.6
Mối tương quan giữa các test đánh giá trình độ thể lựcchuyên môn với thành tích thi đấu của nam VĐV nhảy xalứa tuổi 13 – 15
47
Bảng 3.7
Mối tương quan giữa hai lần kiểm tra các test đánh giátrình độ thể lực chuyên môn cho nam VĐV nhảy xa lứatuổi 13 – 15 Trung tâm đào tạo VĐV Hải Phòng
48
Bảng 3.8 Đánh giá thực trạng thể lực chuyên môn của nam VĐV nhảy
xa lứa tuổi 13 – 15 Trung tâm đào tạo VĐV Hải Phòng 49Bảng 3.9 Phân phối thời gian huấn luyện từ 1/8/2014 - 2/8/2015 53Bảng 3.10 Định hướng, phương tiện và lượng vận động thời kỳ
Bảng 3.11 Giáo án huấn luyện đặc trưng thời kỳ chuẩn bị chung 56Bảng 3.12 Định hướng, phương tiện và lượng vận động thời kỳ
Bảng 3.13 Giáo án đặc trưng thời kỳ chuẩn bị chuyên môn 59Bảng 3.14 Định hướng, phương tiện và lượng vận động trong thời kỳ
Trang 6Bảng 3.20 Kết quả kiểm tra ở thời kỳ thi đấu của Nhóm đối chứng và
Bảng 3.21 Nhịp độ tăng trưởng các test của 2 nhóm trong quá trình
Bảng 3.22 So sánh kết quả thi đấu giải Vô địch ĐK các lứa tuổi trẻ
Quốc gia của Nhóm đối chứng và Nhóm thực nghiệm 70Biểu đồ
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 4
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA QUÁ TRÌNH HUẤN LUYỆN NHẢY XA .4 1.2 CÁC QUAN ĐIỂM VỀ HUẤN LUYỆN TỐ CHẤT THỂ LỰC CHUYÊN MÔN TRONG HUẤN LUYỆN THỂ THAO 7
1.3.1 Cơ sở phương pháp giáo dục sức mạnh 15
1.3.2 Cơ sở của phương pháp giáo dục sức nhanh 17
1.3.3 Cơ sở của phương pháp giáo dục sức bền 17
1.4 CÁC NGUYÊN TẮC HUẤN LUYỆN TỐ CHẤT THỂ LỰC CHUYÊN MÔN CHO VĐV NHẢY XA 19
1.5 BÀI TẬP THỂ CHẤT TRONG HUẤN LUYỆN THỂ THAO 22
1.5.1 Bài tập thi đấu 22
1.5.2 Bài tập huấn luyện chuyên môn 22
1.5.3 Bài tập huấn luyện chung 24
1.6 ĐẶC ĐIỂM TÂM - SINH LÝ LỨA TUỔI 13 – 15 25
1.6.1 Đặc điểm sinh lý lứa tuổi 13 – 15 25
1.6.2 Đặc điểm tâm lý lứa tuổi 13 - 15 27
CHƯƠNG 2 32
PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 32
2.1 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
2.2.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu 32
2.2.2 Phương pháp phỏng vấn tọa đàm 32
2.2.3 Phương pháp quan sát sư phạm 32
2.2.4 Phương pháp kiểm tra sư phạm 33
2.2.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 35
2.2.6 Phương pháp toán học thống kê 35
2.2 TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 37
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 37
2.2.2 Phạm vi nghiên cứu 37
Trang 8KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 38 3.1 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC HUẤN LUYỆN THỂ LỰC CHUYÊN MÔN CHO NAM VĐV NHẢY XA LỨA TUỔI 13 – 15 TRUNG TÂM ĐÀO TẠO VĐV HẢI PHÒNG 38
3.1.1 Thực trạng điều kiện cơ sở vật chất phục vụ cho công tác huấnluyện nhảy xa Trung tâm đào tạo VĐV Hải Phòng 38
3.1.2 Thực trạng về đội ngũ huấn luyện viên Điền kinh của Trung tâmđào tạo VĐV Hải Phòng 39
3.1.3 Thực trạng nội dung huấn luyện thể lực chuyên môn cho nam VĐVnhảy xa lứa tuổi 13 – 15 Trung tâm đào tạo VĐV Hải Phòng 40
3.1.4 Thực trạng thể lực chuyên môn của nam VĐV nhảy xa lứa tuổi 13 –
15 Trung tâm đào tạo VĐV Hải Phòng 42
3.2 XÂY DỰNG VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ NỘI DUNG HUẤN LUYỆN THỂ LỰC CHUYÊN MÔN CHO NAM VĐV NHẢY XA LỨA TUỔI 13 –
15 TRUNG TÂM ĐÀO TẠO VĐV HẢI PHÒNG 51
3.2.1 Những căn cứ để xây dựng nội dung huấn luyện thể lực chuyên môn cho nam VĐV nhảy xa lứa tuổi 13 – 15 Trung tâm đào tạo VĐV Hải Phòng 51
3.2.2 Xây dựng nội dung huấn luyện thể lực chuyên môn cho nam VĐVnhảy xa lứa tuổi 13 – 15 Trung tâm đào tạo VĐV Hải Phòng 52
3.2.3 Đánh giá hiệu quả ứng dụng nội dung đã xây dựng trong huấnluyện thể lực chuyên môn cho nam VĐV nhảy xa lứa tuổi 13 – 15 Trung tâmđào tạo VĐV Hải Phòng 64
KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ 70 TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU Tính cấp thiết: Sau hơn 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới cùng với
những thành tựu về chính trị - kinh tế - văn hoá xã hội, sự nghiệp Thể dục Thểthao (TDTT) nước ta đã có bước phát triển mới và thu được kết quả đáng ghinhận cả về Thể dục thể thao quần chúng và Thể thao thành tích cao
Hiện nay, phong trào TDTT phát triển rộng khắp từ thành thị đến nôngthôn, miền núi, vùng đồng bào dân tộc với nhiều thành phần tham gia, đó làthanh thiếu niên, người cao tuổi, người khuyết tật, công nhân viên chức, lựclượng vũ trang Số người tập luyện TDTT thường xuyên đạt xấp xỉ 23% dân số
cả nước Thể thao thành tích cao có sự tiến bộ vượt bậc, Việt Nam luôn đứng ởtốp các quốc gia dẫn đầu khu vực Đông Nam Á, một số môn có trình độ đứngđầu Châu Á và thế giới như: Pencak Silat, Wushu, Taekwondo Bên cạnh đó,những công tác khác như: tổ chức giải thi đấu, đào tạo Vận động viên (VĐV),xây dựng mạng lưới cơ sở vật chất phục vụ cho tập luyện và thi đấu được chútrọng và ngày càng hoàn thiện Đến nay, ngành TDTT đã xây dựng được hệthống thi đấu quốc gia của khoảng 40 môn thể thao, hàng năm đào tạo tập trungkhoảng trên 10.000 VĐV các môn thể thao từ địa phương tới Trung ương, cơchế quản lý ở một số môn thể thao chuyển dần sang chuyên nghiệp, bán chuyênnghiệp Có thể khẳng định các hoạt động TDTT đã góp phần nâng cao sứckhoẻ, thể lực, đời sống tinh thần, lòng tự hào dân tộc, phục vụ đường lối đốingoại hoà bình, hữu nghị, hội nhập, hợp tác quốc tế của Đảng và Nhà nước
Điều đó cũng đã được khẳng định rất rõ tại Nghị quyết Đại hội Đảng toànquốc lần thứ X: "Đẩy mạnh các hoạt động TDTT cả về quy mô và chất lượng Phân định rõ trách nhiệm giữa cơ quan quản lý hành chính nhà nước và các tổchức liên đoàn, hiệp hội thể thao Chuyển giao hoạt động tác nghiệp về thể thaocho các tổ chức xã hội và các cơ sở ngoài công lập thực hiện"
Để phục vụ sự nghiệp phát triển TDTT của đất nước theo xu hướng phát triểntất yếu đó đồng thời cũng là thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước, ngànhTDTT cần có lộ trình để thực hiện nhiệm vụ này một cách bài bản, khoa học
Trang 10Cùng với sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội, phong trào thể thao HảiPhòng có những bước phát triển, Hải Phòng đã đóng góp cho Thể thao ViệtNam nhiều VĐV xuất sắc như: Phan Thị Hà Thanh (TDDC), Nguyễn Hữu Việt(Bơi lội), Vũ Mỹ Hạnh, Bùi Thị Nhung, Nguyễn Ngọc Quân (Điền kinh)…Mục tiêu mà TDTT Hải Phòng là phát triển mạnh mẽ phong trào TDTT quầnchúng, đẩy mạnh công tác đào tạo tài năng thể thao nhằm tăng nhanh tốc độthành tích thể thao
Điền kinh là môn thể thao cơ sở (cơ bản), có vị trí quan trọng cả tronggiáo duc thể chất cũng như trong huấn luyên thể thao thành tích cao Điền kinh
là hoạt động rất phong phú, đa dạng về nội dung, hình thức, phương pháp luyệntập và là phương tiện quan trọng để rèn luyện thể chất cho mọi người Chính vìthế Điền kinh chiếm vị trí quan trọng trong trương trình thi đấu của các Đại hộithể thao Olympic và Điền kinh còn đươc các nhà chuyên môn ưu ái gọi là mônthể thao “Nữ hoàng”
Trong Điền kinh nội dung Nhảy xa là nội dung có “thâm niên” lâu đời.Trong lịch sử Điền kinh hiện đại, cuộc thi đấu nhảy xa chính thức đầu tiên được
tổ chức tại Anh vào năm 1864 thành tích lập được là 5,48m Đại hội Olympicđầu tiên tổ chức ở Aten (Hy lạp) Năm 1960 nữ VĐV Xô Viết nhảy xa nữ đầutiên giành huy chương vàng tại Olympic tổ chức ở Rôm
Trong huấn luyện luôn có mục tiêu lớn là chinh phục được đỉnh cao thànhtích, HLV, VĐV cùng các nhà khoa học luôn nghiên cứu và tìm ra nhữngphương pháp có hiệu quả cao nhất trong huấn luyện, thi đấu nhảy xa
Nghiên cứu xây dựng nội dung huấn luyện thể lực trong môn Điền kinh
có sự đóng góp to lớn của các chuyên gia, các nhà chuyên môn, HLV kỳ cựucủa nước nhà như: Nguyễn Đại Dương 1995 - 1997, Vũ Đức Thượng 1991 -1993; Hoàng Vĩnh Giang 1985 - 1987 Những năm gần đây cũng có một sốcông trình của các tác giả như: Nguyễn Thị Hồng Anh (2011), Bùi Thị Liễu(2011)
Trang 11Với điều kiện, đối tượng, mục đích cần nghiên cứu khác nhau, vì thế đisâu nghiên cứu xây dựng nội dung huấn luyện thể lực chuyên môn cho namVĐV Nhảy xa trẻ của Hải Phòng chưa có tác giả nào đề cập và nghiên cứu
Từ những lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Xây dựng nội dung huấn luyện thể lực chuyên môn cho nam VĐV nhảy xa lứa tuổi 13 –
15 Trung tâm đào tạo VĐV Hải Phòng”.
Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng công tác huấn luyện thể lực chuyên môncho VĐV Nhảy xa của Trung tâm đào tạo VĐV Hải Phòng, đề tài sẽ nghiên cứuxây dựng nội dung huấn luyện thể lực chuyên môn cho nam VĐV Nhảy xa lứa
tuổi 13 – 15 nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác huấn luyện từ đó nâng
cao thành tích thi đấu cho VĐV
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được mục đích nghiên cứu, đề tài xác định các nhiệm vụ cụ thểsau:
Nhiệm vụ 1: Đánh giá thực trạng công tác huấn luyện thể lực chuyên môn
cho nam VĐV nhảy xa lứa tuổi 13 – 15 Trung tâm đào tạo VĐV Hải Phòng
Nhiệm vụ 2: Xây dựng và đánh giá hiệu quả nội dung huấn luyện thể lực
chuyên môn cho nam VĐV nhảy xa lứa tuổi 13 – 15 Trung tâm đào tạo VĐV HảiPhòng
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA QUÁ TRÌNH HUẤN LUYỆN NHẢY XA
Điền kinh là một môn thể thao có lịch sử lâu đời nhất, được ưa chuộng vàphổ biến rộng rãi trên thế giới Với nội dung rất phong phú và đa dạng, Điềnkinh chiếm một vị trí quan trọng trong chương trình thi đấu của các Đại hội thểthao Olympic quốc tế và trong đời sống văn hóa thể thao của nhân loại
Quá trình đào tạo VĐV Nhảy xa được chia làm 4 giai đoạn: - huấn luyệnban đầu – chuyên môn hóa ban đầu – chuyên môn hóa sâu và hoàn thiện thểthao
Huấn luyện nhảy xa cho lứa tuổi 13 – 15 nằm trong giai đoạn chuyên mônhóa ban đầu Giai đoạn này VĐV cần đạt tiêu chuẩn VĐV cấp 3 ở môn Nhảy xa,chạy 60m hoặc chạy 100m Vào cuối giai đoạn cần đạt tiêu chuẩn VĐV Nhảy xacấp 2
Mục đích chủ yếu của giai đoạn này chuyên môn hóa ở môn Nhảy xa trên
cơ sở huấn luyện nhiều môn
- Tích lũy kinh nghiệm thi đấu
Đặc điểm huấn luyện: Cần tăng cường sự cá biệt hóa của quá trình giảngdạy, huấn luyện do có sự khác nhau đáng kể về phát triển thể lực của các em ởcùng độ tuổi nhưng có giới tính khác nhau Cần chú ý theo dõi sự phù hợp củalượng vận động với khả năng của các VĐV nhảy xa trẻ Nếu có thể, nên hạn chế
Trang 13sử dụng các bài tập nhảy từ trên cao xuống (nhảy sâu) và các bài tập với tạ nặng.Chú ý thông qua các bài tập phong phú để phát triển các khả năng phối hợpđộng tác và phát triển thể lực Khi hoàn thiện kĩ thuật nhảy cần xác định cự ly đàphù hợp với trình độ chuyên môn Nên tăng cường số lần tham gia thi Nhảy xa
Để đạt thành tích cao trong nhảy xa, VĐV cần có tầm vóc tốt, có trình độcao về sức mạnh – tốc độ và nắm vững kỹ thuật nhảy
Thành tích nhảy xa về cơ bản phụ thuộc vào góc bay của tổng trọng tâmkhi rời đất và tốc độ bay ban đầu Tốc độ bay phụ thuộc nhiều vào tốc độ đà tối
đa có được trước lúc giậm nhảy và giậm nhảy
Để phân tích, kỹ thuật nhảy xa có thể chia thành 4 giai đoạn: Chạy đà,giậm nhảy, bay trên không và rơi xuống đất
Chạy đà:
Mục đích của chạy đà là tạo ra tốc độ tối đa theo phương nằm ngang trướckhi giậm nhảy và chuẩn bị tốt cho việc đặt chân giậm nhảy chính xác vào vángiậm nhảy
Số bước chạy đà ở các VĐV nữ xuất sắc là 18 – 24 bước (khoảng 38 –48m), còn ở các VĐV nữ là 16 – 22 bước (khoảng 32 – 42m) Số lượng bướcchạy đà tối ưu phụ thuộc vào trình độ huấn luyện chuyên môn về chạy củaVĐV
Tính chất chuẩn xác của chạy đà phụ thuộc vào độ dài chuẩn và nhịp điệuthực hiện các bước chạy trong đà
Hai phương án chạy đà thường được dùng là: Tăng tốc độ đều trên toàn
đà và đạt tới tốc độ tối đa ở các bước cuối cùng (cách này phù hợp với nhữngngười mới tập nhảy); cố gắng chạy nhanh ngay từ đầu, duy trì tốc độ cao trên cự
ly và lại cố gắng tăng tốc độ ở cuối cự ly Thông thường độ dài bước cuối nênngắn hơn bước trước đó 15 – 20cm (nữ 5 – 10cm) Tuy vậy cũng có VĐV có độdài 2 bước cuối như nhau và thậm chí có trường hợp bước cuối dài hơn bướctrước đó (R Bimơn khi lập kỷ lục thế giới 8.90m)
Giậm nhảy:
Trang 14Phần lớn các VĐV đặt bàn chân xuống ván giậm nhảy bằng gót hoặc cảbàn chân.
Vào thời điểm đó VĐV phối hợp toàn thân làm động tác rời ván giậmnhảy: Duỗi thẳng các khớp của chân giậm, đồng thời gập gối đưa nhanh đùi củachân lăng về trước – lên trên Tay bên chân giậm vung về trước – lên trên vàdừng khi cánh tay song song với mặt đất Tay bên chân lăng gập ở khuỷu vàđánh sang bên để nâng cao vai Kết thúc động tác giậm nhảy cơ thể ở tư thếbước bộ trên không
Bay trên không:
Sau khi rời đất cơ thể bay theo đường vòng cung Toàn bộ các động táccủa VĐV trong lúc bay là nhằm giữ thăng bằng và tạo điều kiện thuận lợi để rơixuống hố cát có hiệu quả nhất
Sự khác biệt giữa các kiểu nhảy xa chính là ở giai đoạn này Có 3 kiểuchính: “ngồi”, “ưỡn thân” và “cắt kéo”
- Kiểu “ngồi”: Đây là kiểu đơn giản, tự nhiên nhất, phù hợp với người
mới tập Sau khi bay ở tư thế “bước bộ” được 1/3 – 1/2 cự ly, VĐV kéo chân
giậm lên song song với chân ở phía trước (chân lăng) và nâng 2 đùi lên sát ngực.Ở tư thế này, thân trên không nên gập nhiều về trước Tiếp đó, trước khi rơixuống hố cát 2 chân hầu như được duỗi thẳng hoàn toàn đồng thời 2 tay đánhthẳng xuống dưới – về trước và ra sau Động tác có tính chất bù trừ này tạo điềukiện tốt cho việc duỗi thẳng chân trước khi rơi xuống và giữ thăng bằng
- Kiểu “ưỡn thân”: Sau khi cơ thể rời đất và bay lên ở tư thế "bước bộ”,chân lăng phía trước được hạ xuống dưới, về sau sát cùng với chân giậm Lúcnày hai chân dường như ở phía sau, chân lăng duỗi thẳng hơn, còn chân giậmgập ở khớp gối Đồng thời với việc chủ động đưa vùng hông về trước, người nhảyưỡn căng vùng thắt lưng và ngực Hai tay lúc này hơi gập ở khuỷu và đưa sangngang hoặc đưa sang ngang – ra sau – lên trên cũng tạo điều kiện cho việc “ưỡnthân” tích cực Do “ưỡn thân” mà các cơ ở mặt trước thân được kéo dãn tạo điềukiện cho VĐV gập thân trên mạnh và dễ dàng đưa chân về trước xa hơn khi rơixuống cát
Trang 15Khi rơi xuống hai chân gấp ở khớp gối và đưa nhanh lên trên về trước, cònhai tay đánh nhanh về trước, xuống dưới và người nhảy ở tư thế chuẩn bị chạm cát.
- Kiểu “cắt kéo”: Ngay sau khi rời đất hai chân làm tiếp các động tác nhưchạy trên không Hai tay duỗi thẳng (hoặc hơi co ở khuỷu), thực hiện động tácđánh vòng tròn, đuổi nhau lấy vai làm trục và so le với chân, vừa hỗ trợ chođộng tác chân vừa để giữ thăng bằng Thông thường có thể thực hiện 2.5 bướcchạy trên không nhưng cũng có thể thực hiện tới 3.5 bước
Kiểu nhảy này có hiệu quả hơn do duy trì được cấu trúc phối hợp của bướcchạy khi chuyển từ đà sang giậm nhẩy và các động tác trong giai đoạn bay Song
để phát huy được những ưu thế của kỹ thuật, người nhảy cần có trình độ tập luyệntốt, có độ linh hoạt cao ở khớp hông để thực hiện động tác “cắt kéo” với biên độlớn và có cảm giác không gian chính xác khi thực hiện kỹ thuật trên không
Rơi xuống cát:
Để đạt được độ xa của lần nhảy, việc thực hiện đúng kỹ thuật rơi xuốngcát có ý nghĩa rất lớn
Trong tất cả các kiểu nhảy, việc thu chân chuẩn bị rơi xuống cát được bắtđầu khi tổng trọng tâm cơ thể ở cách mặt cát ngang với mức khi họ kết thúcgiậm nhảy
Để chuẩn bị rơi xuống cát, đầu tiên cần nâng đùi, đưa hai đầu gối sát lênngực và gập thân trên nhiều về trước Cẳng chân lúc này được hạ xuống dưới,hai tay chuyển từ trên cao ra phía trước Tiếp đó là duỗi chân, nâng cẳng chân đểgót chân chỉ thấp hơn mông một chút Thân trên lúc này không nên gập về trướcquá nhiều vì sẽ gây khó khăn cho việc nâng chân lên cao Tay lúc này hơi gấp ởkhuyủ và được hạ xuống theo hướng xuông dưới ra sau Sau khi hai gót chânchạm cát cần gập chân ở khớp gối để giảm chấn động và tạo điều kiện chuyểntrọng tâm cơ thể xuống dưới – ra trước vượt qua điểm chạm cát của gót Thântrên lúc này cũng cố gập về trước để giúp không đổ người về sau làm ảnh hưởngtới thành tích [8]
1.2 CÁC QUAN ĐIỂM VỀ HUẤN LUYỆN TỐ CHẤT THỂ LỰC
CHUYÊN MÔN TRONG HUẤN LUYỆN THỂ THAO
Trang 16Huấn luyện thể thao là chuẩn bị cho VĐV giành được thành tích thể thaocao nhất trong thi đấu Do đó các nhiệm vụ chính của huấn luyện thể thao trướchết phải bắt nguồn từ các yêu cầu cụ thể trong thi đấu thể thao, ngoài ra còn xuấtphát từ bản thân các yêu cầu của lượng vận động trong huấn luyện Các nhiệm
vụ chính của huấn luyện thể thao bắt nguồn từ cấu trúc thành tích Các yếu tốxác định thành tích cá nhân được sắp xếp thành 5 nhóm như sau: [15], [16],[18], [21]
- Các phẩm chất cá nhân của VĐV
- Các tố chất thể lực
- Các khả năng kỹ thuật, phối hợp vận động và kỹ xảo
- Khả năng chiến thuật và trí tuệ
- Sự hiểu biết của VĐV trong lĩnh vực khoa học TDTT
Để đạt được thành tích thể thao cao, người ta phải sử dụng các phươngtiện khác nhau
Thông qua việc lựa chọn hợp lý từng bài tập thể chất và thông qua việcphân chia một cách tối ưu lượng vận động của từng bài tập và nhóm bài tập cóthể bảo đảm cho VĐV phát triển đầy đủ năng lực của họ trong lứa tuổi đạt thànhtích thể thao cao nhất
Trang 17Hiện nay, thể thao thành tích cao là một trong những lĩnh vực được quantâm đặc biệt không kém các lĩnh vực văn hoá xã hội, thể hiện khát vọng vươnlên khả năng cao nhất của con người Vì vậy, tiềm năng của con người đã vàđang được khai thác triệt để, nhằm đạt thành tích thể thao cao trong các cuộc thiđấu [18] Các khả năng về kỹ - chiến thuật, thể lực, hoạt động tâm lý, ý chí, trithức của VĐV là những yếu tố quyết định đến thành tích thể thao [21] Trong
đó, khả năng hoạt động thể lực, đặc biệt là thể lực chung và thể lực chuyên môn
là nhân tố quan trọng nhất [27] Điều đó đã được các nhà khoa học, chuyên giahàng đầu trong và ngoài nước nghiên cứu, các HLV luôn quan tâm chú trọngtrong quá trình huấn luyện các tố chất thể lực chung cũng như thể lực chuyênmôn Trong tuyển chọn VĐV, khả năng chịu đựng lượng vận động là một trongnhững chỉ tiêu cơ bản để đánh giá Khả năng chịu đựng lượng vận động lớn củacon người nhờ vào nhiều yếu tố, trong đó có yếu tố quan trọng là sự phát triểnthể lực
Do vậy, huấn luyện thể lực trong huấn luyện thể thao là mặt cơ bản đểnâng cao thành tích thể thao Song, về bản chất mức độ phát triển các tố chất thểlực, phụ thuộc vào các trạng thái chức năng, cấu tạo của nhiều cơ quan và hệ cơquan trong cơ thể [18] Quá trình tập luyện để phát triển các tố chất thể lực, cũngchính là quá trình hoàn thiện các hệ thống chức năng có vai trò chủ yếu trongmỗi hoạt động của cơ bắp cụ thể [21]
Theo quan điểm của Zusalovxki V.P Philin cho rằng: “Các tố chất thể lựcphát triển có tính giai đoạn và không đồng đều, tuỳ thuộc vào từng thời kỳ củalứa tuổi” [38] Vì vậy, người HLV không những phải nắm vững quy luật pháttriển tự nhiên, đặc biệt là thời kỳ nhạy cảm (thời kỳ thuận lợi cho việc phát triểncác tố chất) trong cơ thể, mà còn phải hiểu sâu sắc những đặc điểm phát triển tốchất thể lực theo độ tuổi của từng cá thể VĐV
Theo Harre D 1996, Macximenco G 1980, Novicop Matveep L.P 1990,Pankov B.A 2002, Phomin H 1980, Philin V.P 1996 thì cho rằng: “Dù bất kỳgiai đoạn nào của quá trình đào tạo VĐV, công tác huấn luyện thể lực chung
Trang 18được coi là then chốt, bởi thể lực chung cùng với thể lực chuyên môn được coi
là nền tảng của việc đạt thành tích cao” [18], [36], [38]
Song một điều cần ghi nhận ở một số công trình nghiên cứu của các tácgiả: Nabatnhicova 1985, Ozolin 1980 thì: “Việc huấn luyện tố chất thể lực chungphải là một quá trình liên tục, nhiều năm trong suốt quá trình đào tạo VĐV Tuỳthuộc vào mục đích của từng giai đoạn huấn luyện mà tỷ trọng giữa huấn luyệnthể lực chung và thể lực chuyên môn được xác định cho phù hợp” [37]
Một vấn đề không kém phần quan trọng (theo quan điểm của các tác giảMatveep 1990, Pankov 2002, Phomin 1980 cho thấy: Quá trình huấn luyện thểlực là sự phù hợp của các phương tiện (bài tập thể thất) cũng như các phươngpháp sử dụng, trong quá trình huấn luyện phải phù hợp với các quy luật pháttriển của đối tượng (lứa tuổi, trình độ tập luyện ) [36]
Huấn luyện thể lực (còn gọi là quá trình giáo dục các tố chất thể lựcchung và chuyên môn) là một quá trình tác động liên tục, thường xuyên và theo
kế hoạch được sắp xếp hợp lý bằng những bài tập TDTT nhằm phát triển cácmặt chất lượng và khả năng vận động Quá trình ấy tác động sâu sắc đối với hệthần kinh, cơ bắp cũng như đối với các cơ quan nội tạng của con người [21].Đương nhiên, muốn có thành tích xuất sắc trong môn Nhảy xa, trước tiên cần có
tố chất thể lực tốt phù hợp với yêu cầu chuyên môn, song không có nghĩa là coinhẹ các mặt khác như kỹ - chiến thuật Thông thường tố chất thể lực được chiathành 5 loại cơ bản: Sức nhanh, sức mạnh, sức bền, khả năng mềm dẻo, khảnăng phối hợp vận động (khả năng linh hoạt) [18]
Khi đề cập đến vấn đề thể lực chung cũng như đề cập đến giáo dục các tốchất thể lực chuyên môn, chúng ta hiểu rõ, trong hoạt động chung của con ngườithì hoạt động cơ bắp là dạng đặc trưng và mang tính trọng tâm Hoạt động cơbắp được thể hiện ở 3 phương diện:
- Sự co cơ (phụ thuộc chủ yếu vào tỷ lệ cấu trúc sợi cơ, số lượng sợi cơ vàthiết diện cơ)
- Sự trao đổi chất (tức là các quá trình sản sinh năng lượng)
- Sự dẫn truyền kích thích (hoạt động thần kinh cơ) [25], [26]
Trang 19Theo các tác giả Ozolin 1980, Philin 1996, Phomin 1980 cho rằng, baphương diện trên đây luôn có mối tương quan với khả năng hoạt động của tốchất thể lực [38] Đặc biệt, chúng luôn có mối tương quan chặt chẽ với 3 tố chấtthể lực cơ bản: Sức mạnh, sức nhanh, sức bền Trong đó, độ lớn của sức mạnhquan hệ chủ yếu tới khả năng co cơ, thể hiện theo hướng thay đổi giữa yếu tốthời gian duy trì và cường độ vận động của cơ bắp Do vậy ta có: Sức mạnh tối
đa, sức mạnh nhanh và sức mạnh bền Độ lớn của sức nhanh quan hệ chủ yếu tớikhả năng dẫn truyền của hệ thần kinh và liên quan đến thành phần của sợi cơ
Do vậy ta có: Nhanh phản ứng, nhanh vận động và nhanh động tác Độ lớn củasức bền quan hệ chủ yếu tới hoạt động trao đổi chất Mà mối quan hệ này dựatrên cơ sở sinh năng lượng yếm khí và ưa khí Chính vì vậy ta có sức bền cự lyngắn, sức bền cự ly dài và sức bền cự ly trung bình [25]
Song phải ghi nhớ rằng, tất cả các tố chất vận động trên luôn hiện diệntrong mối tương tác lẫn nhau (không có biểu thị riêng tuyệt đối) Ví dụ: động tácgiữ cung được coi là động tác của sức mạnh tối đa là chủ đạo, song trong đó lạichứa đựng yếu tố sức mạnh bền khi thực hiện động tác Có thể biểu diễn mốiquan hệ lẫn nhau giữa sức mạnh, sức nhanh và sức bền theo sơ đồ sau
Như vậy, thông qua sơ đồ tương tác giữa các tố chất vận động ở trên,chúng ta có thể coi đó là những luận điểm cơ bản nhất trong quá trình giáo dụccác tố chất thể lực chung và chuyên môn cho VĐV
Hiện nay tồn tại rất nhiều quan điểm về huấn luyện thể lực cho các VĐVtrẻ, song đề tài cho rằng với công trình “Hệ thống huấn luyện thể thao hiện đại”của tác giả N.G Ozolin - 1980, thì hệ thống các quan điểm của tác giả là đầy đủhơn cả Tác giả cho rằng: “Quá trình huấn luyện thể lực cho VĐV là việc hướngđến củng cố các hệ thống cơ quan của cơ thể, nâng cao khả năng chức phận củachúng, đồng thời là việc phát triển các tố chất vận động (sức nhanh, sức mạnh,sức bền, mềm dẻo, khéo léo)” Quá trình chuẩn bị thể lực cho VĐV bao gồm:Chuẩn bị thể lực chung và chuẩn bị thể lực chuyên môn: [37]
- Chuẩn bị thể lực chung là nền tảng cho việc nâng cao thể lực chuyên môn
- Chuẩn bị thể lực chuyên môn cần thiết phải chia làm 2 phần:
Trang 20+ Chuẩn bị thể lực chuyên môn cơ sở - là hướng đến việc xây dựng cácnền tảng cơ bản phù hợp với đặc thù chuyên môn của môn thể thao nhất định.
+ Chuẩn bị thể lực chuyên môn cơ bản mà mục đích của nó là việc phát triểnmột cách rộng rãi các tố chất vận động thoả mãn những đòi hỏi của môn thể thao
Qua nghiên cứu tổng hợp nhiều quan điểm khác nhau trong lĩnh vực huấnluyện thể lực cho VĐV, chúng ta thấy rằng, về nguyên tắc trong một chu kỳhuấn luyện lớn đầu tiên phải tiến hành việc huấn luyện thể lực chung, trên nềntảng đó mới tiến hành việc huấn luyện thể lực chuyên môn cơ sở Đây chính lànền tảng để tiến hành việc huấn luyện thể lực chuyên môn cơ sở, mà nhờ vào đótiến hành bước thứ 3 - phát triển ở mức cao hơn các tố chất chuyên môn cơ bản,phù hợp với đòi hỏi của môn thể thao
Như vậy có thể nói rằng, việc phát triển các tố chất thể lực chung ở bước 1càng chặt chẽ bao nhiêu thì ở bước 2 và bước 3 mới có điều kiện phát triển mộtcách cao hơn, chất lượng hơn Sự phát triển tố chất vận động phải phù hợp vớiđặc thù mỗi môn thể thao Song cần phải nhớ rằng, mức độ phát triển thể lựcchung và chuyên môn cơ sở (ở bước 1 và bước 2) là một quá trình liên tục khônggián đoạn và phải được duy trì một cách ổn định Nó chỉ thay đổi – phát triển ởmức mới do những yêu cầu của nhiệm vụ huấn luyện trong giai đoạn sau [18]
Mặt khác, trong một chu kỳ huấn luyện cần thiết phải đảm bảo sự hợp lý,giữa huấn luyện thể lực chung và huấn luyện thể lực chuyên môn cơ sở
Quá trình huấn luyện thể lực theo 3 bước cho các VĐV được áp dụngtrong một chu kỳ huấn luyện, mà thông thường 2 bước đầu được tiến hành ởthời kỳ chuẩn bị, còn bước 3 ở thời kỳ thi đấu Ở thời kỳ chuyển tiếp, thường chỉcòn lại việc chuẩn bị thể lực chung Với quy trình đào tạo VĐV hiện đại, quátrình này được tiến hành nhiều năm và liên tục Vì thế, quy trình huấn luyện thểlực 3 bước nêu trên cũng là một quá trình liên tục, nhiều năm Song, đòi hỏi phải
có sự tăng lên cả về mặt số lượng, chất lượng và như vậy, có thể tồn tại nhiềuphương án pha trộn khác nhau về tỷ lệ giữa huấn luyện thể lực chung với huấnluyện thể lực chuyên môn cơ sở và huấn luyện thể lực chuyên môn cơ bản [21]
Trang 21Cuối cùng, cần chú ý quá trình huấn luyện thể lực theo 3 bước trên choVĐV, chỉ là một phần của quá trình đào tạo VĐV.
Trong quá trình huấn luyện thể lực chung, VĐV phát triển thể lực mộtcách toàn diện, mà sự phát triển này được gọi là năng lực thể chất Nó đượcđánh giá bởi mức độ phát triển về khả năng sức mạnh, sức nhanh, sức bền, mềmdẻo, khéo léo, khả năng làm việc của tất cả các cơ quan chức phận Dưới ảnhhưởng của quá trình chuẩn bị thể lực chung, sức khoẻ của VĐV được tăngcường các hệ thống cơ quan, chức phận của cơ thể được hoàn thiện Và như vậy,khả năng tiếp nhận lượng vận động của VĐV cũng được nâng lên Chính điềunày đã dẫn đến mức độ phát triển tố chất thể lực cao hơn Quá trình phát triểnthể lực chung có một ý nghĩa quan trọng trong việc giáo dục các phẩm chất tâm
lý và ý chí, vì trong quá trình thực hiện các bài tập phát triển thể lực chung,VĐV phải vượt qua những khó khăn ở mức độ khác nhau do việc thực hiện cácbài tập mang lại [8], [21]
Việc huấn luyện thể lực chung phải đạt được khả năng làm việc của các
cơ quan chức phận ở mức độ cao Đó chính là nhiệm vụ cơ bản của quá trìnhchuẩn bị thể lực chung Chuẩn bị thể lực chung cho VĐV nhờ vào các bài tập có
và không có dụng cụ, đồng thời cũng có thể nhờ vào việc sử dụng bài tập củacác môn thể thao khác Vai trò quan trọng trong quá trình chuẩn bị thể lực chung
là việc chọn lựa các bài tập buộc cơ thể phải huy động một số lượng lớn cơ bắp,các cơ quan chức phận của cơ thể tham gia (bài tập chạy, bài tập thể dục ).Song, mặt khác cũng cần thiết phải chọn lựa các bài tập chỉ có những ảnh hưởngnhất định Nói một cách khác, các bài tập này phải hướng tới việc phát triển một
bộ phận nào đó của cơ thể hoặc tổng hợp các bộ phận, các tố chất vận động, cótác dụng làm tăng cường khả năng thể chất VĐV nói chung Điểm đặc biệt củaquá trình chuẩn bị thể lực chung là phải củng cố được những điểm còn yếu trong
cơ thể, những cơ quan chậm phát triển [21], [27]
Huấn luyện thể lực chuyên môn là hướng đến việc củng cố và nâng caokhả năng làm việc của các cơ quan chức phận, các tố chất vận động phù hợp vớiđòi hỏi của mỗi môn thể thao lựa chọn
Trang 22Thể lực chuyên môn cơ sở được hình thành và phát triển trên cơ sở pháttriển thể lực chung - huấn luyện thể lực chung là nền tảng, còn việc chọn lựa cácbiện pháp phù hợp mang những nét đặc trưng riêng của môn thể thao, là tiền đềhình thành nên các tố chất thể lực chuyên môn sau này Việc hình thành thể lựcchuyên môn cơ sở của các môn thể thao không có chu kỳ là tương đối khó khăn,
Qua tham khảo các nguồn tư liệu, các công trình nghiên cứu khoa học củanhiều chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực lý luận và phương pháp huấn luyệnthể thao trong nước như: Lê Văn Lẫm, Lê Bửu, Dương Nghiệp Chí, Phạm TrọngThanh, Nguyễn Toán, Nguyễn Thế Truyền, Phạm Danh Tốn , chúng ta thấycác nhà khoa học đều cho rằng: “Quá trình huấn luyện thể lực cho VĐV làhướng đến việc củng cố và nâng cao khả năng chức phận của hệ thống cơ quantrước lượng vận động thể lực (bài tập thể chất) và như vậy đồng thời đã tác độngđến quá trình phát triển của các tố chất vận động” Đây có thể coi là quan điểm
có xu hướng sư phạm trong quá trình giáo dục các tố chất vận động [18], [21]
Một quan điểm khác theo xu hướng y sinh học của các nhà khoa học ViệtNam như: Lê Bửu, Dương Nghiệp Chí, Nguyễn Hiệp, Nguyễn Ngọc Cừ, LưuQuang Hiệp, Trịnh Hùng Thanh, Phan Hồng Minh, Lê Nguyệt Nga , cho rằng:
“Nói đến huấn luyện thể lực chung và chuyên môn trong huấn luyện thể thao lànói tới những biến đổi thích nghi và dự báo về mặt sinh học (cấu trúc và chứcnăng) diễn ra trong cơ thể VĐV dưới tác động của tập luyện được biểu hiện ởnăng lực hoạt động cao hay thấp” [4], [9], [14], [32], [42]
Theo quan điểm tâm lý học của một số chuyên gia Việt nam đề cập vấn
đề này như: Phạm Ngọc Viễn, Lê Văn Xem thì cho rằng: “Quá trình chuẩn bịthể lực chung và chuyên môn cho VĐV là quá trình giải quyết những khó khăn
Trang 23liên quan đến việc thực hiện các hành động kĩ thuật là sự phù hợp những yếu tốtâm lý trong hoạt động tập luyện và thi đấu của VĐV” [58], [59].
Như vậy, từ các quan điểm nêu trên cho thấy: Chuẩn bị thể lực nói chung
và chuẩn bị thể lực chuyên môn nói riêng cho VĐV là sự tác động có hướngđích của lượng vận động (bài tập thể chất) đến VĐV nhằm hình thành và pháttriển lên một mức độ mới của khả năng vận động biểu hiện ở sự hoàn thiện cácnăng lực thể chất, đồng thời còn nhằm nâng cao khả năng hoạt động của các cơquan chức phận tương ứng với các năng lực vận động của VĐV nâng cao cácyếu tố tâm lý trước hoạt động đặc trưng của mỗi môn thể thao
1.3 NHỮNG CƠ SỞ CỦA PHƯƠNG PHÁP HUẤN LUYỆN TỐ CHẤT THỂ LỰC CHUYÊN MÔN CHO VĐV NHẢY XA
1.3.1 Cơ sở phương pháp giáo dục sức mạnh
Sức mạnh là khả năng con người khắc phục lực cản bên ngoài hoặc chốnglại lực cản đó nhờ sự nỗ lực của cơ bắp Các môn thể thao nói chung và trongnhảy xa nói riêng, sức mạnh là yếu tố không thể thiếu được trong huấn luyện,đặc biệt là huấn luyện thể lực Do vậy, phải nghiên cứu tìm ra phương pháp đểlàm sao giáo dục nâng cao được sức mạnh Hiệu quả huấn luyện thường đượckiểm soát bằng trọng lượng, số lần lặp lại, số tổ luyện tập và nhịp độ bài tập
Sự phát triển tố chất sức mạnh ở trẻ em phụ thuộc vào mức độ hình thành
tổ chức xương, cơ và dây chằng, tức là phụ thuộc vào bộ máy vận động
Theo Diatrocop (1963), Goikhơman (1978), Gotovsen P.I, Dulerovxiki(1983), trong quá trình phát triển của cơ thể, nhờ vào sự hoàn thiện điều hoàthần kinh, sự thay đổi cấu tạo và bản chất hoá học của các cơ, khối lượng cơ bắpbiến đổi đáng kể Từ 04 - 20 tuổi khối lượng cơ bắp tăng lên 7 lần, sức mạnh tối
đa của các nhóm cơ khác cũng tăng 09 - 14 lần Sức mạnh của các nhóm cơ tăngkhông đồng đều, vì vậy tỷ lệ sức mạnh giữa các nhóm cơ thay đổi tuỳ theo lứatuổi Sức mạnh của nhóm cơ duỗi thân mình, đùi, co bàn chân, cẳng tay, cổ tay phát triển yếu hơn, do đó mỗi lứa tuổi lại có một tỷ lệ phân bổ sức mạnh giữacác nhóm cơ đặc trưng của mình Về nguyên tắc, sức mạnh của các nhóm cơ
Trang 24duỗi phát triển nhanh hơn sức mạnh của các cơ co, các cơ hoạt động nhiều sẽphát triển nhanh hơn [17], [21].
Sức mạnh cơ bắp phát triển với nhịp độ nhanh trong giai đoạn 13 - 15, đếncác năm sau đó sức mạnh phát triển chậm lại (nếu không có tập luyện)
Các năng lực sức mạnh nói chung và trong Nhảy xa nói riêng được phânthành 4 hình thức chính:
- Năng lực sức mạnh bột phát: Là năng lực biểu hiện trị số sức mạnh lớnnhất trong khoảng thời gian ngắn nhất Đây là một dạng quan trọng của sứcmạnh và nó có ý nghĩa đặc biệt đối với việc huấn luyện Nhảy xa
- Năng lực sức mạnh tối đa: Là sức mạnh cao nhất mà VĐV có thể thựchiện được khi co cơ tối đa
- Năng lực sức mạnh nhanh: Là khả năng khắc phục lực cản với tốc độ co
cơ cao của VĐV
- Năng lực sức mạnh bền: Là khả năng chống lại mệt mỏi của VĐV khihoạt động sức mạnh kéo dài
Nhiệm vụ chung trong quá trình giáo dục trong nhiều năm của tố chất sứcmạnh là phát triển toàn diện sức mạnh và tạo khả năng phát huy cao sức mạnhtrong các hình thức vận động khác nhau (trong thể thao, lao động ) Vậy giáodục sức mạnh là phải tạo nên sự căng cơ tối đa, huy động số lượng sợi cơ thamgia hoạt động một cách tối đa [21] Những nhiệm vụ cụ thể là:
Tiếp thu và hoàn thiện khả năng thực hiện các hình thức gắng sức cơ bản:Tĩnh lực và động lực, sức mạnh đơn thuần và sức mạnh tốc độ, khắc phục vànhượng bộ
Phát triển cân đối về sức mạnh của tất cả các nhóm cơ của hệ vận động Phát triển năng lực sử dụng hợp lý sức mạnh trong những điều kiện khácnhau
Trong huấn luyện sức mạnh có các khuynh hướng: [17]
- Khắc phục trọng lượng chưa tới giới hạn với số lần lặp lại cực hạn
- Sử dụng trọng lượng tối đa và gần tối đa
- Sử dụng căng cơ đẳng trường (các bài tập tĩnh)
Trang 251.3.2 Cơ sở của phương pháp giáo dục sức nhanh
Sức nhanh là một tổ hợp những đặc điểm chức năng của con người xácđịnh trực tiếp và chủ yếu tính chất nhanh của động tác, cũng như xác định thờigian của phản ứng vận động
Khi đánh giá các biểu hiện của sức nhanh người ta phân biệt:
- Thời gian tiềm tàng của phản ứng vận động
- Tốc độ của một cử động đơn
- Tần số động tác
Những biểu hiện của sức nhanh tương đối độc lập với nhau Điều này đặcbiệt có liên quan đến những chỉ số về thời gian phản ứng vận động Trong nhiềutrường hợp các chỉ số phản ứng vận động không tương quan với những chỉ sốtốc độ động tác Hoàn toàn có căn cứ cho rằng những chỉ số trên phản ánh cácnăng lực tốc độ khác nhau Sự kết hợp 3 chỉ số này cho phép đánh giá tất cả cáctrường hợp biểu hiện của sức nhanh Nhìn chung năng lực tốc độ của con ngườimang tính chất chuyên biệt khả rõ nét [17]
Tốc độ như một tố chất vận động được đặc trưng bởi thời gian tiềm tàngcủa phản ứng vận động, tần số động tác và tốc độ của một động tác đơn lẻ.Trong hoạt động thể lực tốc độ thường biểu hiện một cách tổng quát
Thời gian phản ứng có thể đo được ở lứa tuổi 13 - 15 gần bằng người lớn(0,11- 0,25 giây) Sự phát triển thời gian phản ứng xảy ra không đồng đều: từ 09
- 11 tuổi thời gian phản ứng giảm nhanh, các năm sau nhất là 14 tuổi, 15 - 17tuổi thời gian các phản ứng lại giảm chậm Vì vậy tập luyện TDTT làm giảmthời gian của phản ứng rõ rệt
Tốc độ của động tác đơn lẻ cũng biến đổi rõ rệt, trong quá trình phát triển
13 - 14 tuổi nó xấp xỉ mức độ của người lớn, tuy nhiên 15 - 17 tuổi lại hơi giảmxuống và ở độ tuổi 20 - 30 lại tăng lên Nếu được tập luyện tốc độ của động tácđơn lẻ sẽ phát triển tốt hơn Tần số động tác (trong 10 giây) ở khớp khuỷu từ 04
- 17 tuổi tăng lên gấp 03 lần ở tuổi 11- 12, tần số đạp xe lực kế (không tải) trungbình 20 lần/10 giây tăng lên 33 lần ở tuổi 17 - 18 [17], [21]
1.3.3 Cơ sở của phương pháp giáo dục sức bền
Trang 26Sức bền là khả năng của cơ thể chống lại mệt mỏi trong một hoạt độngnào đó Trong bất kỳ hoạt động nào cũng xuất hiện các thành phần khác nhaucủa các dạng mệt mỏi, song trong lĩnh vực giáo dục thể chất mệt mỏi thể lực dohoạt động cơ bắp gây nên chiếm vị trí chủ yếu Các phương pháp giáo dục sứcbền bao gồm:
- Phương pháp nâng cao khả năng ưa khí: Trong khi tác động lên khả
năng ưa khí của cơ thể trong quá trình giáo dục sức bền và huấn luyện thể thaongười ta phải giải quyết 3 nhiệm vụ
+ Nâng cao mức hấp thụ ôxy tối đa của cơ thể
+ Phát triển khả năng duy trì mức hấp thụ ôxy đó trong thời gian dài.+ Làm cho quá trình hô hấp nhanh chóng bước vào hoạt động với năng suấtcao
- Phương pháp nâng cao khả năng yếm khí: Để nâng cao khả năng yếm
khí cần giải quyết 2 nhiệm vụ:
+ Nâng cao khả năng chức phận của cơ chế phốt phocrêatin (CP)
+ Hoàn thiện cơ chế glucôphân [25], [26]
Như vậy, trình tự tác động có ưu tiên lên các mặt khác nhau của sức bềntrong quá trình huấn luyện trước hết cần phát triển những khả năng hô hấp, sau
đó, phát triển những khả năng glucôphân và cuối cùng phát triển những khảnăng sử dụng năng lượng của phản ứng CP Điều này liên quan đến toàn bộ cácgiai đoạn huấn luyện (thí dụ các giai đoạn tập luyện thể thao) Còn đối với cácbuổi tập riêng biệt thì thường tiến hành theo trình tự ngược lại [25], [26]
Trong quá trình trưởng thành của cơ thể, tố chất thể lực cũng biến đổiđáng kể trong các hoạt động tĩnh và hoạt động động Thể lực tĩnh được đánh giábằng thời gian duy trì một gắng sức tĩnh nào đó, chỉ số này tăng dần theo lứatuổi, mặc dầu khác nhau đối với các nhóm cơ
Từ 13 - 18 tuổi thể lực trong các hoạt động treo, chống, trong thể dục cóthể tăng lên từ 4 - 4,5 lần Thể lực động lực thường được đánh giá thông qua khảnăng hoạt động lực kế, và sự phát triển thể lực này cũng không đồng đều Sứcbền ưa khí phát triển mạnh ở các lứa tuổi 15, 16, 17 và 18 trong khi sức bền yếm
Trang 27khí phát triển mạnh ở lứa tuổi 10 - 12 đến 13 - 14 tuổi Sự phát triển sức bền cònđược đánh giá thông qua chỉ số hấp thụ ôxy tối đa của cơ thể (VO2 max) ở lứatuổi 16 - 17 đạt 3,50 lít/phút.
Sức bền biến đổi rất rõ rệt dưới tác động của sự tập luyện, vì vậy các em
có tập luyện thể lực sẽ phát triển khác hẳn các em không tập luyện khoảng 50%
ở lứa tuổi 13 - 15 cùng lứa
Sự phát triển của sức bền phụ thuộc vào mức độ hoàn thiện của sự phốihợp giữa các chức năng vận động và các chức năng dinh dưỡng, độ bền vữngchức năng của cơ quan nội tạng, đặc biệt là các hệ hô hấp và tim mạch là những
hệ đảm bảo cung cấp ôxy cho cơ thể
Hoạt động sức bền thể hiện ở các dạng, sức bền chung và sức bền chuyênmôn, sức bền tốc độ và sức mạnh bền Sức bền là tố chất thể lực quan trọng đểphát triển thể lực chung Những biện pháp chủ yếu để phát triển sức bền chung
là các bài tập gắng sức với thời gian dài, nhằm nâng cao khả năng chịu đựng của
cơ thể, khắc phục mệt mỏi để duy trì hoạt động vận động Phương tiện để pháttriển sức bền chung thường là các bài tập việt dã trên địa hình tự nhiên từ5.000m đến 10.000m trở lên, có thể sử dụng các bài tập chạy biến tốc, lên dốc,xuống dốc, đua xe đạp và các bài tập mang tính trò chơi vận động… vận dụngphương pháp chạy đều với cường độ không lớn, phương pháp vòng tròn, tiếnhành dưới dạng trò chơi và thi đấu, khi tiến hành phương pháp này cần chú ýđặc điểm đối tượng và tập luyện theo nguyên tắc tăng dần lượng vận động
1.4 CÁC NGUYÊN TẮC HUẤN LUYỆN TỐ CHẤT THỂ LỰC CHUYÊN MÔN CHO VĐV NHẢY XA
- Nguyên tắc tăng lượng vận động ngày một lớn hơn cho đến tối đa
Chẳng hạn khi huấn luyện thể lực tác động của bài tập các cơ quan vậnchuyển và tiêu thụ ôxy phải hoạt động nhiều hơn so với yêu cầu trong suốt cácbuổi tập hàng tuần và những hoạt động thể lực bình thường Cơ thể dần dầnthích nghi với lượng vận động ngày một tăng, sự hấp thụ ôxy được cải thiện,mặt khác, tác dụng tập luyện sẽ được giảm dần khi lượng vận động đã được tăng
Trang 28lên ở mức chỉ có tác dụng duy trì Nếu muốn tăng trình độ thể lực hơn nữa thìphải tăng lượng vận động lên cao hơn nữa [28].
Việc tập luyện có thể được tăng theo từng bước về thời gian luyện tập,cường độ hoặc tần suất các bài tập Nghĩa là có thể lập kế hoạch tập luyện theocác yếu tố thời gian, cường độ số lần thực hiện bài tập Điều tối quan trọng làhuấn luyện phải có kế hoạch và phải phù hợp với điều kiện tập luyện, khả năngthể lực của VĐV và thời gian của mùa thi đấu Điều này quan trọng không chỉ vì
để có được hiệu quả tối ưu khi tập luyện mà còn tránh cho VĐV không bị tổnthương do tập luyện quá sức Khi thực hiện nguyên tắc này việc sử dụng các bàitập phải đảm bảo tác động chính và phụ [4], [5], [28], [36]
Mỗi bài tập có ảnh hưởng tới cơ thể bằng nhiều con đường khác nhau Vídụ: Bài tập chạy là bài tập sơ đẳng nhất về các cơ quan vận chuyển và hấp thụôxy Khi chạy tất cả các cơ quan đều phải hoạt động tích cực hơn và vì vậychúng được rèn luyện; nhưng ngay cả các khớp, gân, dây chằng và các mô liênkết trong cơ cũng được rèn luyện Tác dụng chính của việc tập chạy là luyện tậpkhả năng ưa khí, còn tác dụng phụ rất quan trọng là luyện tập cho các khớpxương và các mô liên kết Trên thực tế có thể đạt được hiệu quả luyện tập 100%
ở một khía cạnh nào đó Vì vậy không thể đồng thời luyện tập cả khả năng ưakhí và sức mạnh tối đa có hiệu quả bằng một bài tập
Nhận thức được ảnh hưởng phụ là vô cùng quan trọng vì những ảnhhưởng phụ này thường tác động lên những chương trình tập luyện Chính vì vậykhi lên chương trình và thời gian biểu luyện tập phải chú ý tới chúng [45]
- Nguyên tắc kết hợp với chuẩn bị chung và chuẩn bị chuyên môn
Chuẩn bị thể lực chung được sử dụng phần lớn trong giai đoạn huấn luyện
cơ bản với những mục tiêu rõ ràng
Chuẩn bị thể lực chuyên môn là phần không thể thiếu được và là hìnhthức luyện tập chủ yếu trong các thời kỳ thi đấu
Chuẩn bị chung là nền tảng bảo đảm cho phát triển kỹ năng vận động vànăng lực tâm lý, tinh thần cho VĐV chuẩn bị chuyên môn Hai phần đó không thể
Trang 29tách rời nhau trong tất cả các giai đoạn, chu kỳ huấn luyện của kế hoạch huấnluyện [4].
- Nguyên tắc biến đổi lượng vận động và nghỉ ngơi
Đây là nguyên tắc phản ánh quy luật sinh lý: Hồi phục cũng quan trọng nhưlượng vận động trong quá trình thích nghi Vì vậy huấn luyện viên không chỉ chú ýđến lượng vận động mà còn phải quan tâm đến thời gian và các thông số khác nhaucủa quá trình nghỉ ngơi hồi phục, đặc biệt trong tình hình có hạn chế về dinh dưỡng[28]
Việc tính toán lượng vận động và nghỉ ngơi trong từng bài tập, từng buổitập và cả chu kỳ khác nhau phải theo đúng nguyên tắc khoa học và quy luật sinh
lý nhằm đạt được hiệu quả huấn luyện tích cực nhất, hạn chế các tác động tiêucực Việc sử nguyên tắc này khi sử dụng các bài tập phải có sự biến đổi lượngvận động, bởi mối quan hệ giữa lượng vận động và nghỉ ngơi trong tập luyệnđóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao thành tích cho VĐV Hiện nay quanniệm nghỉ ngơi nên sử dụng hình thức nghỉ ngơi tích cực không nên sử dụnghình thức nghỉ ngơi tiêu cực trong quá trình tập luyện Sau tiếp thu lượng vậnđộng nhất định quá trình hồi phục xảy ra Trong một buổi tập hay một chu kỳtập luyện với nhiều lượng vận động xen kẽ các quãng nghỉ thì nguồn năng lượng
cơ thể luôn biến động và diễn biến dưới dạng “làn sóng” Việc sắp xếp lượngvận động và nghỉ ngơi hợp lý nhằm tác động các lượng vận động phù hợp vàocác thời điểm thích hợp để nâng cao dần đỉnh của các làn sóng, nghĩa là nhằmđạt được mục đích của huấn luyện [38]
- Nguyên tắc huấn luyện theo chu kỳ
Đây là nguyên tắc phản ánh hiện tượng sinh học của con người, muốn cókết quả huấn luyện khả quan thì huấn luyện viên phải chú ý quán triệt nguyêntắc này, thường có các loại: [36]
+ Chu kỳ ngắn thường là chu kỳ tuần
+ Chu kỳ trung bình gồm 3 - 6 chu kỳ ngắn
+ Chu kỳ dài (từ 6 tháng đến 1 năm)
+ Chu kỳ nhiều năm (nhiều chu kỳ dài)
Trang 30Việc phân chia chu kỳ tập luyện trong năm thường căn cứ vào các giải thiđấu chính trong năm
1.5 BÀI TẬP THỂ CHẤT TRONG HUẤN LUYỆN THỂ THAO
Như chúng ta đã biết, bài tập thể lực là phương tiện chuyên môn cơ bảntrong giáo dục thể chất và huấn luyện thể thao Sự khác biệt giữa các môn thểthao được lựa chọn để chuyên môn hóa là một trong những căn cứ quan trọngnhất để phân loại các bài tập trong huấn luyện thể thao Có thể chia các bài tậphuấn luyện thể thao làm hai loại chính: bài tập tập thi đấu và bài tập huấn luyện.Bài tập huấn luyện lại phân thành bài tập huấn luyện chuyên môn và bài tậphuấn luyện chung
1.5.1 Bài tập thi đấu
Bài tập thi đấu bao gồm những động tác hoàn chỉnh được dùng làmphương tiện cơ bản để tiến hành đua tài trong thể thao theo đúng luật thi Vớinghĩa này, khái niệm "bài tập thi đấu" hoàn toàn trùng hợp với khái niệm "mônthể thao"
Xem xét các môn thể thao có thể dễ dàng nhận thấy sự giống nhau hoặckhác nhau giữa một số môn thể thao Có những môn thể thao có hướng chuyểnđộng tương đối hẹp và hạn chế về thành phần động tác (những môn có chu kỳ,những môn ném đẩy và nhảy trong Điền kinh), nhưng cũng có những môn thểthao lại là một phức hợp những bài tập thi đấu tương đối độc lập và đặc biệtphối hợp hai hay nhiều môn thể thao, gồm các bài tập tương đối đồng nhất hoặccác bài tập hoàn toàn khác nhau [46]
1.5.2 Bài tập huấn luyện chuyên môn
Hiện nay có rất nhiều các khái niệm về bài tập bổ trợ chuyên môn của các tác giảkhác nhau Bài tập bổ trợ chuyên môn là bài tập nhằm hỗ trợ cho việc nhanh chóng tiếpthu và thực hiện có hiệu quả bài tập chuyên môn, trong đó bài tập chuyên môn là những
bài tập hỗ trợ cho việc tiếp thu kĩ thuật động tác Theo quan điểm của PGS TS Nguyễn
Toán và PGS TS Phạm Danh Tốn thì "Bài tập bổ trợ chuyên môn là các bài tập phức
Trang 31hợp các yếu tố của động tác thi đấu cùng các biến dạng của chúng cũng như bài tập dẫn
dắt tác động có chủ đích và có hiệu quả đến sự phát triển các tố chất và các kỹ xảo của
vận động ở chính ngay môn thể thao đó" Còn một số tác giả trong nước cho rằng: Bài
tập bổ trợ là một trong những biện pháp giảng dạy, bao gồm các bài tập mang tính
chuẩn bị cho vận động Bài tập mang tính dẫn dắt, bài tập mang tính chuyển đổi và bàitập tăng cường các tố chất thể lực Quan điểm của các học giả Trung Quốc về bài tập bổtrợ chuyên môn là những bài tập mang tính chuyên biệt cho từng môn thể thao, từng kĩ
thuật riêng biệt (từ điển thể dục thể thao Trung Quốc, trang 17, xuất bản năm 1993).
Các khái niệm trên tuy có khác nhau về cách trình bày nhưng luôn cósự thống
nhất về ý nghĩa Như vậy, "Bài tập bổ trợ chuyên môn là các bài tập mang tính
chuẩn bị, tính dẫn dắt, tính chuyển đổi và tính thể lực chuyên biệt cho từng kĩ thuật và từng môn thể thao khác nhau".
Ví dụ trong nhảy xa người ta phân tích kĩ thuật thành 4 giai đoạn là: Chạy đà, giậm nhảy, trên không và tiếp đất Trên cơ sở đó người học nắm bắt từng phần sau đó liên kết lại thành kĩ thuật hoàn chỉnh, ơ mỗi giai đoạn kỹ thuật, để giúp người học hình thành được kỹ thuật, người ta sử dụng các bài tập:
Mang tính chuẩn bị nhằm đưa người học vào trạng thái sinh lý, tâm lý thích hợp với việc tiếp thu kỹ thuật.
Mang tính dẫn dắt nhằm làm cho người tập nắm được các yếu lĩnh từ dễđến khó, từ đơn giản đến phức tạp, từ đơn lẻ đến liên hoàn kĩ thuật cần học
Mang tính chuyển đổi từ động tác này sang động tác khác với các cảmgiác không gian và thời gian khác nhau nhằm tạo ra sự lợi dụng các kỹ năng đã
Trang 32tố chất thể lực chuyên môn cần thiết Có thể nói tập bổ trợ chuyên môn vừa làbiện pháp để nắm kĩ thuật phức tạp và khó.
Đó là phức hợp các yếu tố của những động tác thi đấu, cùng các biến dạngcủa chúng, cũng như những bài tập dẫn dắt Ví dụ chạy các đoạn ngắn đối vớiVĐV chạy, những phân đoạn liên hợp với VĐV thể dục dụng cụ, các động tác
và phối hợp nhỏ ở VĐV bóng Có khi các bài tập huấn luyện chuyên môn cònbao gồm cả những bài tập lấy từ bài tập cung nhóm môn thể thao Như vậy chỉ
có thể gọi bài tập huấn luyện chuyên môn khi bài tập đó có cái gì đấy giống vàphục vụ trực tiếp, tương đối sát với bài tập thi đấu Vì lẽ đó, các bài tập huấnluyện chuyên môn thường rất có giới hạn
Mặt khác, bài tập huấn luyện chuyên môn cũng không phải là môn thểthao lựa chọn, nhưng phải chọn làm sao tác động có chủ đích, có hiệu quả đến
sự phát triển tố chất và kỹ xảo của VĐV ở chính ngay môn thể thao đó Thí dụ,khi thực hiện các bài tập huấn luyện chuyên môn kiểu kéo hoặc gánh tạ đứng lênngồi xuống, VĐV cử tạ có khả năng khắc phục trọng lượng lớn so với khi chỉthực hiện hai kiểu động tác hoàn chỉnh trong thi đấu chính thức và tác động tốthơn đến việc phát triển các năng lực sức mạnh
Căn cứ vào ưu thế tác động của các bài tập huấn luyện chuyên môn,chúng được chia thành các bài tập dẫn dắt và các bài tập phát triển
Các bài tập dẫn dắt nhằm hỗ trợ cho việc tiếp thu những hình thức kĩ thuậtđộng tác mới, khó Còn các bài tập phát triển lại chủ yếu nhằm phát triển các tốchất thể lực Tất nhiên, việc phân chia này chỉ có ý nghĩa tương đối, vì hình thức
và nội dung các động tác bao giờ cũng thống nhất với nhau Dù vậy, việc phânchia này cũng cần thiết bởi vì, về hình thức các bài tập dẫn dắt gần giống với kĩthuật môn thể thao lựa chọn hơn các bài tập phát triển, còn lượng vân động thìthường nhỏ hơn Theo lệ thường, các bài tập phát triển có lượng vận động lớnhơn Hơn nữa, tỷ lệ sử dụng các bài tập này trong các giai đoạn tập luyện có khácnhau
Trang 331.5.3 Bài tập huấn luyện chung
Các bài tập huấn luyện chung nhằm chuẩn bị chung cho VĐV Khác vềnguyên tắc với những bài tập trên, thành phần của những bài tập huấn luyệnchung thường rộng rãi và đa dạng Về tính chất, các bài tập huấn luyện chung cóthể tác động trùng hợp hoặc không trùng hợp với các bài tập huấn luyện chuyênmôn Về lý thuyết, phạm vi các bài tập này hầu như là không có giới hạn Nhưngtrên thực tế, nó lại bị giới hạn bởi sự hao phí thời gian, các điều kiện cơ sở vậtchất – kĩ thuật và các yếu tố khác
Các bài tập huấn luyện chung trong quá trình tập luyện thể thao có cácchức năng sau:
+ Hình thành, củng cố hoặc hồi phục kỹ năng, kỹ xảo có tác động bổ trợđối với môn thể thao lựa chọn; có tác động trau dồi, hoặc khi cần thiết để thựchiện hợp lý các bài tập theo hướng phát triển các năng lực thể chất
+ Làm một phương tiện để giáo dục các năng lực thể chất chưa được pháttriển đầy đủ ở môn thể thao lựa chọn, nâng cao hoặc duy trì trình độ năng lựchoạt động chung
+ Làm một yếu tố nghỉ ngơi tích cực, có tác động đáng kể tới quá trìnhhồi phục sau lượng vận động lớn và để phòng tránh sự đơn điệu trong tập luyện
Các bài tập huấn luyện chung và các bài tập huấn luyện chuyên môn cóquan hệ chặt chẽ với nhau Trước hết các bài tập này đều xuất phát từ mục đíchchủ yếu của hoạt động thể thao là phục vụ cho thực tiễn cuộc sống Các bài tậphuấn luyện chung, một mặt, tạo tiền đề cho các bài tập huấn luyện chuyên môn,đồng thời lại phản ánh những đặc điểm của chuyên môn hóa thể thao
Trái lại, các bài tập huấn luyện chuyên môn lại luôn luôn xuất phát từ cáctiền đề do các bài tập huấn luyện chung mang lại Ở đây, cũng cần nhớ rằng, cónhững bài tập hầu như đứng giữa hai loại đó Đó là những bài tập có hình thứcvận động giống các bài tập thi đấu, nhưng lại khác về cách thức và chế độ thựchiện Chính những bài tập này đã đảm bảo mối quan hệ qua lại chặt chẽ giữahuấn luyện chung và huấn luyện chuyên môn cho VĐV
Trang 341.6 ĐẶC ĐIỂM TÂM - SINH LÝ LỨA TUỔI 13 – 15
1.6.1 Đặc điểm sinh lý lứa tuổi 13 – 15
1.6.1.1 Hệ thần kinh
Não bộ đang trong thời kỳ hoàn chỉnh, hoạt động của hệ thần kinh chưa
ổn định, quá trình hưng phấn chiến ưu thế so với quá trình ức chế Khả năngphân tích tổng hợp của các em còn thấp nhưng sâu sắc hơn ở tuổi nhi đồng Dễthiết lập phản xạ mới nhưng cũng dễ bị phai mờ vì thế các em dễ tiếp thu nhưnglại chóng quên Hệ thần kinh thực vật còn yếu, các dấu hiệu về kích thích cảmgiác tăng lên, các biểu hiện chủ quan, lo lắng rất hay gặp
Trong các hoạt động định lượng, các em tham gia tập luyện thường xuyênthì khả năng tập trung chú ý nhanh chóng thích nghi và kéo dài hơn so với các emkhông tập luyện Còn trong các hoạt động tối đa, khả năng tập trung chú ý củaVĐV Karate-do cao hơn hẳn các em không tham gia tập luyện trong cùng lứatuổi
1.6.1.2 Hệ vận động
Hệ xương đang trong giai đoạn phát triển mạnh về chiều dài Hệ thốngsụn tại các khớp đang đòi hỏi điều kiện tốt để phát triển và hoàn thiện Đối vớicác em nữ, hệ thống xương chậu phát triển chưa hoàn thiện nên dễ bị lệch lạcnếu quá trình hoạt động vận động không hợp lý
Hệ cơ của các em phát triển chậm hơn sự phát triển của hệ xương và pháttriển chủ yếu về chiều dài Thiết diện cơ chậm phát triển nhưng tới 15-16 tuổithì phát triển nhanh, đặc biệt là cơ co và cơ to Sự phát triển không đồng bộ,thiếu cân đối nên các em không phát huy được sức mạnh và chóng mệt mỏi Vìvậy trong giáo dục thể chất và huấn luyện thể thao cần chú ý phát triển tăngcường cơ bắp và phát triển toàn diện
1.6.1.3 Hệ tuần hoàn
Tim phát triển chậm hơn sơ với sự phát triển của mạch máu, sức co bópcòn yếu, khả năng điều hoà hoạt động của tim chưa ổn định nên hoạt động quá
Trang 35nhiều và quá căng thẳng, sẽ làm tim chóng mệt mỏi Nhịp tim ở lứa tuổi 13-14thiếu ổn định và thay đổi nhiều hơn so với người lớn.
Sự hồi phục ở lứa tuổi 13-15 với các lượng vận động nhỏ diễn ra nhanhhơn so với người lớn nhưng ở những lượng vận động lớn, cơ thể các em hồiphục chậm hơn người lớn
Huyết áp của các em tăng dần theo lứa tuổi, tới 15 tuổi đạt 100-110mmHg và huyết áp tối thiểu cũng đạt 70-80 mmHg Trong các hoạt động thểlực, huyết áp của các em cũng tăng nhưng tăng ít hơn so với người lớn
1.6.1.4 Hệ hô hấp
Phổi của các em phát triển chưa hoàn chỉnh, các ngăn buồng túi phổi cònnhỏ, cơ hô hấp còn yếu, dung lượng khí mỗi lần thở ít, sự điều tiết của hệ thầnkinh trung ương với việc thở chưa bền vững và nhịp nhàng Vì vậy, khi hoạtđộng khẩn trương, nhịp thở nhanh, không giữ được nhịp thở tự nhiên, không kếthợp được với động tác làm cho cơ thể chóng mệt mỏi
1.6.1.5 Hệ trao đổi chất và năng lượng
Đặc điểm chính của lứa tuổi 13-15 là quá trình đồng hoá chiếm ưu thế sovới quá trình dị hoá do nhu cầu phát triển và hình thành cơ thể Cơ thể các emđang phát triển cần nhiều đạm, càng nhỏ quá trình phát triển càng nhanh, nhucầu đạm càng cao cả về số lượng và chất lượng Ngược lại, nhu cầu về đường vàmỡ giảm dần theo lứa tuổi Sự điều hoà trao đổi đường ở cơ thể các em kémhoàn thiện hơn so với người lớn Cơ thể các em huy động nguồn dự trữ đườngchậm hơn và duy trì cường độ trao đổi chất cao trong hoạt động không được lâu.Nước và chất khoáng có ý nghĩa quan trọng với cơ thể các em
Trong cùng một hoạt động thể lực, sự tiêu hao năng lượng của các em lứatuổi 13-14 cao hơn người lớn
Trong cơ thể VĐV lứa tuổi 13-15, lượng đường dự trữ tăng lên, đặc biệt
là khả năng tĩch luỹ glycogen ở gan góp phần quan trọng làm tăng khả năng hoạtđộng thể lực, ngược lại, lượng mỡ dự trữ giảm đi Trong tập luyện thi đấu thểthao cường độ lớn, căng thẳng, hàm lượng đường huyết của các em giảm nhanhhơn người trưởng thành [18], [19], [21], [27], [44], [46]
Trang 361.6.2 Đặc điểm tâm lý lứa tuổi 13 - 15
Ở lứa tuổi 13-14, cơ thể các em có sự phát triển nhảy vọt cả về thể chất vàtinh thần
Sự phát triển thể chất có những biến đổi căn bản trong đó đáng chú ý nhất
là sự phát dục lên tuổi thiếu niên còn được gọi là tuổi dậy thì Sự phát dục ảnhhưởng đến cá tính, tạo cho các em nhiều cảm xúc, suy nghĩ, hứng thú, tínhcách mới mẻ mà thường bàn thân các em không ý thức được Ta phân tích một
số đặc điểm sau:
Quan hệ với người xung quanh:
- Quan hệ với người lớn: trong gia đình, cha mẹ không còn coi các emhoàn toàn bé bỏng mà bắt đầu dành cho các em nhiều quyền sống độc lập hơn.Nhiều em đã xứng đáng với sự tin cậy của cha mẹ Với cha mẹ, các em muốnđược tôn trọng hơn là chiều chuộng, coi mình như trẻ con
- Ở trường: Đối với thầy cô giáo các em vẫn kính trọng nhưng không sùngbái như tuổi nhi đồng Do tiếp xúc với nhiều thầy cô giáo có trình độ và phongcách khác nhau nên những gương tốt trong giáo viên được các em ngưỡng mộ vànoi theo
- Quan hệ tập thể, bạn bè: Các em rất thích hoạt động trong tập thể, sốngvới tập thể Ở lứa tuổi này tinh thần tập thể, tinh thần đồng đội được phát triểnmạnh Các em biết quy trọng danh dự của nhau và bắt đầu đánh giá phẩm chấtcủa bạn bè Quan hệ bạn bè ở lứa tuổi này có tính chọn lọc Các em đòi hỏi bạn
bè của mình phải trung thành, thẳng thắn, gắn bó và tin cậy nhau, các em coihành vi phản bạn là thấp hèn nên thường che dấu khuyết điểm cho nhau
Tuổi thiếu niên thường có quan hệ cách biệt do nhận thấy khác nhau vềgiới tính, các em nam và nữ có hứng thú hoạt động riêng biệt
Một số đặc điểm nhân cách của thiếu niên: Ý thức về bản thân được coi
là một bước chuyển biên căn bản quan trọng, là trung tâm của hình thành vàphát triển nhân cách thiếu niên Mối quan tâm xã hội ngày càng phong phú vàphức tạp đã thúc đẩy nhanh quá trình hình thành ý thức các em Khi nhìn nhậnngười khác, các em có thái độ đánh giá cứng nhắc, thường gắn một phẩm chất
Trang 37cho toàn bộ nhân cách của một người Vì vậy, người lớn rất dễ và cũng rất khógây uy tín với các em.
Tính độc lập: Ở tuổi này, do nhận biết rõ về biến đổi thể chất và tâm lý
của mình nên các em có khuynh hướng đánh giá quá cao những biến đổi đó và
tự coi mình là người lớn, có thể sống độc lập, đòi hỏi mọi người xung quanhcông nhận quyền làm người lớn của mình Tính độc lập thể hiện toàn diện, nhiềuthuộc tính nhân cách phát triển, nhờ đó các em chuyển nhanh sang thế giới củangười lớn
Sự phát triển tình cảm: Tình cảm của thiếu niên sâu sắc và phức tạp hơn
hẳn nhi đồng, nổi bật là tính dễ xúc động Khi tham gia bất kỳ hoạt động laođộng, học tập hay vui chơi giải trí, thiếu niên đều thể hiện tình cảm rõ rệt vàmạnh mẽ Tính dễ kích động của các em đôi khi dẫn đến xúc động quá mạnhnhư vui buồn quá trớn, buồn ủ dột, quá hăng say hay quá chán nản
Ước mơ và lý tưởng: Ước mơ của các em nói chung trong sáng, còn mang
nặng tính viển vông, xa thực tế, ít gắn liền với học tập và rèn luyện hằng ngày
Sự phát triển của trẻ em lứa tuổi này mang tính độc đáo, nổi bật là sự quá
độ vừa trẻ con, vừa người lớn [7], [30], [45], [57]
Ở lứa tuổi này các em có những bước nhảy vọt về cả thể chất lẫn tinhthần Các em đang tách dần khỏi thời kỳ thơ ấu để chuyển sang giai đoạn trưởngthành Các em không còn là trẻ con nhưng cũng chưa phải là người lớn Do đócác nhà tâm lý thường gọi thời kỳ này là thời kỳ quá độ chuyển từ trẻ con sangngười lớn Trong giai đoạn này các em được hình thành các phẩm chất về trí tuệ,tình cảm và ý chí… Đặc trưng của giai đoạn này là sự phát dục, còn gọi là tuổidậy thì, nó ảnh hưởng không nhỏ tới cá tính của các em Tuổi dậy thì đã manglại cho các em động cơ và hứng thú học tập, lao động, tập luyện thể thao củathiếu niên có sắc thái riêng và có ý nghĩa xã hội Sự hứng thú say mê và sáng tạotrong các hoạt động của mình đã đem lại cho các em những kết quả đáng kểtrong các cuộc thi đấu học sinh giỏi trong nước và quốc tế, và cả các cuộc thiđấu thể thao trong và ngoài nước Thực tế trong hoạt động thể thao hiện đại, đã
có những hoạt động mang tính tâm lý: Thể thao là của tuổi trẻ Điều đó nói nên
Trang 38sự hứng thú có nhận thức về hoạt động tập luyện và thi đấu thể thao ở thiếu niên
và thanh niên chiếm ưu thế lớn hơn bất kỳ lứa tuổi nào khác
Trong quan hệ với người xung quanh các em cũng gần gũi hơn, các emmuốn làm người lớn, biết lo lắng trách nhiệm, hăng hái, nhiệt tình, hăm hở đitìm cái mới, nhưng chưa có kinh nghiệm tự lượng sức mình, dễ lẫn lộn giữadũng cảm và liều lĩnh, giữa khiêm tốn và nhu nhược Tuy vậy, các em trước hếtđòi hỏi người lớn phải công nhận khả năng và tôn trọng nhân cách của mình.Tính độc lập ở tuổi thiếu niên cũng phát triển, các em có thể gánh vác nhiềucông việc gia đình, nhà trường và xã hội, các em có khả năng tổ chức tập thể tựquản Song, không phải bao giờ các em cũng có quan điểm đúng đắn Vì thếchúng ta cần đánh giá đúng tính độc lập của thiếu niên Hơn lứa tuổi nào hết,như nguyên tắc giáo dục mà Macarencô đã đề ra: “Quý trọng con người đếnmức cao nhất” đối với thiếu niên thật là phù hợp [39]
Tóm lại, sự phát triển ở tuổi thiếu niên mang tính độc đáo, nổi bật nhất làtính quá độ: “vừa trẻ con, vừa người lớn” Vì lẽ đó nên trong giáo dục và đối xử
có những đặc điểm rất riêng biệt phù hợp tâm lý lứa tuổi
Nhận xét:
Từ những kết quả phân tích và tổng hợp nêu trên, có thể đi đến một sốnhận xét sau:
- Huấn luyện thể lực chuyên môn cho VĐV các môn thể thao nói chung
và môn nhảy xa nói riêng phải xem xét đến nhiều yếu tố khác nhau như: Yếu tố
y sinh, sức nhanh, sức mạnh, sức bền Tuy nhiên, do đặc thù của môn nhảy xađòi hỏi VĐV phải có đầy đủ các tố chất vận động cũng như các đặc tính y sinh
Do đó để đánh giá trình độ thể lực chuyên môn cũng như huấn luyện tố chất thểlực chuyên môn cho VĐV nhảy xa trẻ, cần thiết phải tìm kiếm mức độ ảnhhưởng của từng nhóm yếu tố trên đến thành tích của VĐV
- Các chuyên gia đều cho rằng, quá trình huấn luyện VĐV được thực hiệntrong nhiều năm, phân chia theo các giai đoạn huấn luyện khác nhau Lứa tuổi
13 – 15 của VĐV Nhảy xa nằm trong giai đoạn chuyên môn hoá ban đầu.Nhiệm vụ chính ở giai đoạn này là hoàn thiện kỹ thuật nhảy xa; Nâng cao trình
Trang 39độ huấn luyện thể lực chung và thể lực chuyên môn; Hoàn thiện kỹ - chiến thuật,phẩm chất ý chí ở mức cao trong tập luyện và thi đấu [8].
- Đặc điểm huấn luyện: Tăng đáng kể lượng vận động và tăng cường độthực hiện chúng Cần dùng nhiều thủ pháp để hồi phục và đề phòng chấn thươngcho VĐV Kết thúc việc tuyển chọn cần theo dõi sát khả năng của VĐV thíchhợp với môn nhảy xa (thể hình, thể lực) Tăng số lần thi đấu nhất là ở nhiều mônphối hợp, chạy ngắn, nhảy cao, nhảy 3 bước [8]
- Thành tích thể thao nói chung và nhảy xa nói riêng đều dựa trên cơ sở pháttriển tốt về tố chất thể lực Trong đó, thể lực chuyên môn chiếm phần quan trọng
Như vậy, qua phân tích, tổng hợp các công trình nghiên cứu về phươngpháp huấn luyện tố chất thể lực nói chung và phương pháp huấn luyện tố chấtthể lực chuyên môn cho VĐV Nhảy xa đề tài đã cơ bản hình thành những cơ sở
lý luận mang tính định hướng huấn luyện và sử dụng các phương pháp, phươngtiện tập luyện chung nhất nhằm xây dựng nội dung huấn luyện thể lực chuyênmôn cho nam VĐV nhảy xa lứa tuổi 13 – 15 Trung tâm đào tạo VĐV HảiPhòng, định hướng cho các bước nghiên cứu tiếp theo của đề tài
Trang 40CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU
2.1 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu, trong quá trình nghiên cứu đề tài
đã sử dụng các phương pháp sau:
2.2.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu
Đây là một phương pháp nghiên cứu được sử dụng rộng rãi trong tất cảcác công trình nghiên cứu khoa học nhằm tổng hợp, tiếp thu một cách có chọnlọc các nguồn thông tin khoa học hiện có của nhân loại trong các tài liệu khoahọc đã được công bố Trong khi thực hiện đề tài chúng tôi đã tìm hiểu sưu tầm,tổng hợp và phân tích nghiên cứu các loại sách, tư liệu có liên quan và các đề tàinghiên cứu như: Các quan điểm của Đảng và Nhà nước về TDTT; Học thuyếthuấn luyện; Điền kinh; Nhảy xa; Toán học thống kê Một số luận văn thạc sĩ vềcông tác huấn luyện thể lực…
Phân tích và tổng hợp các tài liệu liên quan là cơ sở để giúp đề tài xâydựng nội dung huấn luyện thể lực phù hợp và đạt hiệu quả
2.2.2 Phương pháp phỏng vấn tọa đàm
Đề tài sử dụng phương pháp này nhằm thu thập các số liệu nghiên cứu thông quaphỏng vấn trực tiếp và gián tiếp bằng phiếu hỏi Đề tài tiến hành phỏng vấn các đốitượng là các Giáo sư, tiến sĩ trong ngành, huấn luyện viên môn Điền kinh
Các lĩnh vực mà đề tài quan tâm là: Các vấn đề liên quan đến việc làm thếnào để xây dựng nội dung huấn luyện thể lực chuyên môn cho nam VĐV nhảy
xa lứa tuổi 13 – 15 Trung tâm đào tạo VĐV Hải Phòng
2.2.3 Phương pháp quan sát sư phạm
Phương pháp quan sát sư phạm là một phương pháp quan trọng trongnghiên cứu về khoa học sư phạm và cả lĩnh vực nghiên cứu khác Đặc điểm nổibật của phương pháp quan sát sư phạm là người nghiên cứu tiếp cận trực tiếpvới thực tế khách quan, như tình hình của đối tượng thực nghiệm trong thực tiễn