1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tính tích cực làm việc của người lao động trong các công ty cổ phần khu vực phía bắc nước ta tt

30 296 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 466,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu về tính tích cực của người lao động trong các Công ty Cổ phần ở Việt Nam, bổ sung thêm những vấn đề lý luận về tính tích cực và đề xuất một số kiến nghị nhằm phát triển và tăn

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HÀ THỊ MINH CHÍNH

TÍNH TÍCH CỰC LÀM VIỆC CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG

TRONG CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN KHU VỰC PHÍA BẮC NƯỚC TA

Ngành : Tâm lý học

Mã số : 62.31.04.01

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÂM LÝ HỌC

Hà Nội – 2017

Trang 2

ii

Công trình được hoàn thành tại:

Khoa Tâm lý học – Học viện khoa học xã hội

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Thị Minh Loan

Có thể tìm hiểu luận án tại:

- Thư viện Quốc gia Việt Nam

- Thư viện Học viện khoa học Xã hội

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Với những ưu thế nổi trội như có khả năng huy động vốn nhanh, kinh doanh năng động, hiệu quả, tận dụng được các nguồn vốn trong xã hội Công ty Cổ phần là loại hình kinh tế phổ biến nhất hiện nay đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế thị trường

Trong những năm gần đây số các Công ty Cổ phần (CTCP) và doanh nghiệp ở nước ta phát triển rất mạnh mẽ, thu hút hàng triệu người lao động từ mọi miền đất nước, góp phần không nhỏ cho ngân sách nhà nước Để có được những thành quả đó, bên cạnh sự nỗ lực của nhiều lực lượng xã hội khác nhau phải khẳng định có sự đóng góp không nhỏ, trực tiếp của đội ngũ người lao động trong các Công ty Cổ phần, họ là lực lượng trực tiếp tham gia vào quá trình duy trì, phát triển doanh nghiệp và xã hội Tuy vậy, mức độ đáp ứng của họ như thế nào trong việc tăng năng suất, chất lượng lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau trong đó có tính tích cực làm việc của họ Việc sử dụng và khai thác nguồn nhân lực như thế nào để phát huy tối đa tính tích cực và sự chủ động của người lao động là một yếu tố quan trọng trong công việc của nhà quản lý

Đối với cá nhân, hoạt động lao động nghề nghiệp có vai trò hết sức quan trọng, nó không chỉ đơn thuần là công việc đem lại thu nhập bởi nó ảnh hưởng đến toàn bộ cuộc sống của người lao động Việc lựa chọn được công việc phù hợp với năng lực, khả năng của người lao động sẽ kích thích được tính tích cực của người lao động, giúp họ tìm thấy niềm đam mê trong công việc, lạc quan, yêu đời và phát huy được năng lực, khơi dậy được tiềm năng và đưa ra các ý tưởng sáng tạo khi làm việc

Thực tế cho thấy, ở nước ta tính tích cực làm việc của người lao động nói chung và đặc biệt người lao động ở các Công ty Cổ phần nói riêng cũng bộc lộ nhiều hạn chế nhất định Bên cạnh những hạn chế về chất lượng lao động, thì một số bộ phận người lao động vẫn chưa nhận thức đầy đủ và sâu sắc về ý nghĩa, vai trò của mình trong hoạt động lao động tại công ty, ý thức

kỷ luật và tinh thần trách nhiệm với công việc chung còn chưa cao Thái độ thụ động, ỷ lại, ngại tiếp cận với đổi mới của công nghệ sản xuất, thiếu sự sáng tạo và say mê với công việc vẫn còn xuất hiện

Về khách thể nghiên cứu, các tác giả nước ngoài như T V Bogdachikova, I N Piontovxki, F J Mayo và E Roethlisberger, S K Parker và cộng sự, V S Merlin….đã nghiên cứu về tính tích cực của các nhóm khách thể khác nhau trong hoạt động lao động Tại Việt Nam

đã có một số nghiên cứu về tính tích cực của người lao động trên nhóm khách thể là giảng viên, sinh viên sau khi tốt nghiệp, cán bộ viên chức nhà nước của một số tác giả như Lê Hương, Nguyễn Thanh Hương, Nguyễn Thị Tình, và những nghiên cứu về người lao động trong các doanh nghiệp nói chung của các tác giả Vũ Dũng, Lê Hương, Lê Thị Minh Loan Trong khi đó

Trang 4

2

những nghiên cứu về người lao động trong các Công ty Cổ phần chưa được quan tâm đúng mức Bên cạnh đó, về nội dung nghiên cứu, những nghiên cứu đi trước đã phân tích các thành phần của tính tích cực của người lao động là nhận thức, cảm xúc, hành vi, hoặc phân tích một

số thành phần của tính tích cực như: động cơ, nhu cầu thành đạt, sự chủ động, sự sáng tạo, sự hứng thú Luận án này tiếp cận tính tích cực như là tổ hợp các thành phần của sự chủ động, sự say mê, sự sáng tạo, và sự nỗ lực vượt khó và bị tác động bởi động cơ, nhu cầu thành tích và các yếu tố khác

Nghiên cứu về tính tích cực của người lao động trong các Công ty Cổ phần ở Việt Nam,

bổ sung thêm những vấn đề lý luận về tính tích cực và đề xuất một số kiến nghị nhằm phát triển

và tăng cường hơn nữa sự gắn kết nghiên cứu lý thuyết với nghiên cứu ứng dụng trong các vấn

đề của tổ chức tại Việt Nam

2 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1 Mục đích nghiên cứu

Làm rõ những cơ sở lý luận và thực trạng tính tích cực làm việc của người lao động trong các Công ty Cổ phần khu vực phía Bắc ở nước ta hiện nay Trên cơ sở đó đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao tính tích cực làm việc của người lao động

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

2.2.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về tính tích cực và tính tích cực làm việc của người lao động

2.2.2 Làm rõ cơ sở lý luận về vấn đề tính tích cực, tính tích cực làm việc của người lao động, những biểu hiện, tiêu chí đo lường và các yếu tố ảnh hưởng đến tính tích cực làm việc của người lao động

2.2.3 Khảo sát và đánh giá thực trạng mức độ tính tích cực làm việc của người lao động trong các Công ty Cổ phần hiện nay và phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng này

2.2.4 Phân tích sâu 02 công ty và 03 trường hợp điển hình trên cơ sở đó đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao tính tích cực làm việc của người lao động trong các Công ty Cổ phần khu vực phía Bắc nước ta

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1 Đối tƣợng nghiên cứu

Biểu hiện và mức độ tính tích cực làm việc của người lao động trong các Công ty Cổ phần khu vực phía Bắc nước ta hiện nay

3.2 Phạm vi nghiên cứu

3.2.1 Phạm vi về nội dung

Trang 5

Trong phạm vi về nội dung luận án chỉ nghiên cứu biểu hiện tính tích cực làm việc của người lao động ở 4 thành phần: Sự chủ động trong làm việc; sự say mê trong làm việc; sự sáng tạo trong làm việc; sự nỗ lực vượt khó trong làm việc và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tính tích cực làm việc của người lao động

3.2.2 Phạm vi khách thể nghiên cứu

Nghiên cứu 318 người lao động, 15 cán bộ quản lý và 5 chuyên gia làm ở một số nghề thuộc lĩnh vực công nghiệp nặng như cơ giới chế tạo máy, Hàn, lắp đặt, gia công kết cấu thép, phun sơn (Công ty Cổ phần Lilama 69-1; Công ty Cổ phần Cơ giới và xây dựng Đặng Gia) và một số nghề thuộc lĩnh vực công nghiệp nhẹ như may mặc, sản xuất giầy dép và đồ gia dụng (Công ty Cổ phần may Đức Giang; Công ty Cổ phần 26 – Bộ quốc phòng) Chúng tôi lựa chọn

4 công ty này vì các lĩnh vực mà công ty tham gia sản xuất đều là trọng điểm mũi nhọn của ngành công nghiệp nặng và công nghiệp nhẹ của Việt Nam hiện nay và là loại hình Công ty Cổ phần 100% vốn trong nước Bên cạnh đó 4 công ty cũng có những đặc thù đặc trưng góp phần thúc đẩy nhanh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp, và đang từng bước có những đổi mới tích cực hướng người lao động nâng cao tính chuyên nghiệp, kỷ luật lao động đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế của đất nước

3.2.3 Phạm vi về địa bàn khảo sát

04 Công ty Cổ phần mà luận án lựa chọn tập trung ở các khu công nghiệp miền Bắc Đó

là Công ty Cổ phần Lilama 69-1, đóng trên địa bàn Từ Sơn - Bắc Ninh; Công ty Cổ phần Đặng Gia, đóng trên địa bàn Sóc sơn - Hà Nội; Công ty Cổ phần May Đức Giang và Công ty Cổ phần

26 – Bộ Quốc phòng, đóng trên địa bàn quận Long Biên – Hà Nội

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

4.1 Phương pháp luận nghiên cứu

Luận án được nghiên cứu dựa trên ba phương pháp tiếp cận: Phương pháp tiếp cận chuyên ngành; Phương pháp tiếp cận hệ thống; Phương pháp tiếp cận hoạt động

4.2 Các phương pháp nghiên cứu

Luận án đã sử dụng một số phương pháp sau: Phương pháp nghiên cứu tài liệu; Phương pháp chuyên gia; Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi; Phương pháp trắc nghiệm; Phương pháp phỏng vấn sâu; Phương pháp quan sát; Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động; Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình; Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

5.1 Đóng góp về mặt lý luận

Luận án đã phân tích và hệ thống hóa các hướng nghiên cứu về tính tích cực và tính tích cực làm việc của người lao động dưới góc độ của tâm lý học Tính tích cực làm việc đã được

Trang 6

4

nhìn nhận và phân tích trên nền tảng là tổ hợp của các thành phần có mối liên hệ chặt chẽ với nhau bao gồm: sự chủ đông; sự say mê; sự sáng tạo; sự nỗ lực vượt khó, với các biểu hiện thành phần cụ thể của tính tích cực làm việc đã góp phần đưa ra cách nhìn mới về các tiêu chí đánh giá tính tích cực làm việc trên nhóm khách thể là người lao động tại các Công ty Cổ phần với các đặc trưng riêng Do đó, luận án đóng góp những kết quả nghiên cứu quan trọng vào hệ thống các nghiên cứu về tính tích cực làm việc nói chung và tính tích cực làm việc của người lao động tại các Công ty Cổ phần phía Bắc nói riêng

Luận án không chỉ phân tích đánh giá sự ảnh hưởng của từng yếu tố chủ quan, khách quan riêng biệt đến tính tích cực làm việc của người lao động mà còn xem xét ảnh hưởng của các yếu tố này đến các thành phần của tính tích cực Bên cạnh đó luận án còn phân tích mức độ

tổ hợp của các yếu tố chủ quan, khách quan đến tính tích cực làm việc của người lao động và xem xét các yếu tố ảnh hưởng như là điều kiện thỏa mãn của tính tích cực làm việc Từ đó giúp cho các nhà quản lý có các chính sách và khai thác nguồn nhân lực hợp lý để phát huy tối đa tính tích cực và sự chủ động trong làm việc của người lao động

Một điểm mới nữa trong công trình nghiên cứu này là đã Việt hóa hai trắc nghiệm: Trắc nghiệm dự báo bầu không khí tâm lý trong nhóm sản xuất nhỏ của V V Spalinsky, E G Selest

và Động cơ làm việc của nhóm tác giả Gagné, M., Forest, J., Gilbert,M., Aubé,C., Morin, E., Malorni, A cho phù hợp với người lao động Việt Nam Các trắc nghiệm này cũng đã được kiểm định về đo độ tin cậy, độ hiệu lực cần thiết và dễ sử dụng trên đối tượng người lao động Việt Nam

5.2 Đóng góp về mặt thực tiễn

Luận án là một trong các nghiên cứu tiên phong chỉ ra thực trạng biểu hiện của tính tích cực làm việc của người lao động tại các Công ty Cổ phần hiện nay và khẳng định tính tích cực làm việc của người lao động được tạo bởi bốn thành phần cốt lõi đó là sự chủ động, sự say mê,

sự sáng tạo và sự nỗ lực vượt khó và các thành phần này phải được thể hiện trong suốt quá trình làm việc của người lao động

Kết quả nghiên cứu thực tiễn đã được luận án phân tích cho thấy bức tranh tổng thể về thực trạng biểu hiện của tính tích cực làm việc của người lao động tại các Công ty

Cổ phần phía Bắc nước ta hiện nay Đồng thời nghiên cứu cũng chỉ ra và lý giải các yếu

tố ảnh hưởng đến tính tích cực làm việc của người lao động Dựa trên cơ sở của kết quả nghiên cứu luận án đã đưa ra những nhận định mới mang tính thời sự và đề xuất một số kiến nghị phù hợp với nhà quản lý, tổ chức nhằm kích thích tính tích cực làm việc của người lao động

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiến của luận án

Trang 7

6.1 Ý nghĩa về mặt lý luận

Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần bổ sung một số vấn đề lý luận về tính tích cực

và tính tích cực làm việc của người lao động, các biểu hiện thành phần của tính tích cực làm việc cho một phân ngành Tâm lý học đó là Tâm lý học quản lý, Tâm lý học lao động, Tâm lý học công nghiệp-tổ chức

Kết quả nghiên cứu đưa ra cách nhìn nhận và đánh giá người lao động trên phương diện tổng quát từ yếu tố của chính chủ thể đến yếu tố của tổ chức Từ đó, giúp cho các nhà quản lý

có chiến lược trong việc hỗ trợ, thúc đẩy người lao động để họ phát huy được hết nội lực của mình trong quá trình làm việc tại các doanh nghiệp hiện nay

6.2.Ý nghĩa về mặt thực tiễn

Luận án góp phần lý giải nguyên nhân của những hiện tượng người lao động chưa tích cực trong quá trình làm việc Kết quả nghiên cứu thực tiễn của luận án giúp cho những người làm công tác quản lý tại các Công ty Cổ phần có cơ sở để đánh giá mức độ tích cực làm việc của người lao động một cách khoa học và chính xác trên quan điểm của tâm lý học quản lý, tâm

lý học lao động và tâm lý học công nghiệp- tổ chức Cuối cùng, số liệu thu được trong luận án này là một gợi ý cho các hướng nghiên cứu tiếp theo trong lĩnh vực tâm lý học lao động nói chung và tâm lý của người lao động nói riêng như nghiên cứu sự gắn kết của người lao động; hành vi công dân trong tổ chức; sự phù hợp của người lao động với môi trường làm việc

7 Cấu trúc của luận án

Ngoài phần mở đầu; Kết luận và kiến nghị; Danh mục tài liệu tham khảo; Phụ lục Luận

án gồm 4 chương

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu tính tính cực làm việc của người lao động

Chương 2: Một số vấn đề lý luận về tính tích cực làm việc của người lao động trong các Công ty Cổ phần

Chương 3: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực trạng tính tích cực làm việc của người lao động trong các Công ty Cổ phần khu vực phía Bắc nước ta

Chương 1

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU TÍNH TÍCH CỰC LÀM VIỆC CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG 1.1 Các nghiên cứu về tính tích cực ở nước ngoài

1.1.1 Các nghiên cứu về tính tích cực của cá nhân

Nghiên cứu tính tích cực được sự quan tâm của nhiều ngành khoa học: sinh học, triết học, chính trị học, xã hội học, kinh tế học, khoa học quản lý và đặc biệt là tâm lý học Trong tâm lý

Trang 8

Thuyết phân tâm học S Freud, K Horney, A Adler, E Erikson, Fromm cho rằng, bản

năng, mà đặc biệt là bản năng tình dục (trong mô hình của Freud), những “sự lo lắng cơ bản” (Horney), “hướng tới yêu thương” (Fromm), “hướng tới thành công, sự độc đáo, quyền lực,

hoàn thiện” (Adler) là những kích thích của tính tích cực hoạt động của con người Họ quan

niệm những cái liên quan đến động lực thúc đẩy con người hoạt động là những cái nằm trong bản thân mỗi người, những cái được di truyền (dẫn theo [41])

Tâm lý học nhân văn mà đại diện là C Rogers (1986), A Maslow (1987) cho rằng, mô

hình tính tích cực được thể hiện trong công thức ngắn gọn: “Nhu cầu – tính tích cực”

Trong tâm lý học hoạt động, vấn đề tâm lý về tính tích cực hoạt động của con người đã được đề cập trong nhiều công trình nghiên cứu, đặc biệt là các công trình của M J Basov, L S Vygotsky, S L Rubinstein, V A Brushlinsky, K A Abulhanova - Slavskaya, D N Uznadze Các công trình này nhấn mạnh tới vai trò quyết định của hoạt động trong việc hình thành và phát triển tính tích cực của con người

Những đóng góp của các công trình nghiên cứu trên đây cho chúng ta thấy tính tích cực được nhìn dưới nhiều quan điểm, góc độ khác nhau, điều đó thể hiện tính đa chiều, nhiều mặt của tính tích cực Tuy nhiên, tính tích cực không thể được nhìn nhận một cách đơn thuần chỉ là

là phản ứng của con vật, sự vật, hiện tượng bên ngoài hay là nhu cầu của bản thân mà cần phải được nhìn nhận, xem xét dưới nhu cầu của con người và được thể hiện trong hoạt động lao động

1.1.2 Nghiên cứu về tính tích cực trong hoạt động lao động

1.1.2.1 Những nghiên cứu về tính tích cực t các thuyết kinh điển về quản lý

F W Taylor cho rằng, cùng với việc thay đổi quy trình lao động, cần quan tâm đến các

khuyến khích vật chất để tăng tính tích cực và hiệu quả làm việc của người lao động Ông cũng

đã ủng hộ học thuyết “Con người kinh tế” và cho rằng, việc khuyến khích bằng tiền với người

lao động là cần thiết để họ sẵn sàng làm việc

Trang 9

Theo trường phái lý thuyết hành chính, M Weber đã đề ra mô hình tổ chức để quản lý doanh nghiệp lớn tư đó phát huy tính tích cực của người lao động Theo ông, một tổ chức được quản lý có hiệu quả phải tuân thủ các nguyên tắc sau: phân công lao động rõ ràng; sắp xếp vị trí của từng người trong tổ chức phù hợp với năng lực của họ, quy định nội quy và thủ tục quản lý

rõ ràng, tuyển chọn người một cách nghiêm ngặt, cùng với một chế độ lương thưởng, đề bạt hợp lý (dẫn theo [9])

Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm như quan tâm đến người lao động ở các khía cạnh như lương, thưởng và thỏa mãn các nhu cầu, lợi ích chính đáng, tạo môi trường làm việc thì các nghiên cứu kinh điển về quản lý cũng bộc lộ những mặt hạn chế Chẳng hạn như coi con người như một cái máy, chỉ cần có một kế hoạch, chi tiết, cụ thể cộng với sự giám sát chặt chẽ thì họ

sẽ làm tốt công việc Các nghiên cứu này chưa quan tâm tới việc tạo sự chủ động, say mê, sáng tạo cho người lao động

1.1.2.2 Những nghiên cứu về tính tích cực t thuyết “Quan hệ con người với con người”

Để khắc phục những hạn chế của cách tiếp cận nghiên cứu tính tích cực dưới góc độ quản

lý theo khoa học, các nhà nghiên cứu F J Mayo, M.P.Follet, K.Lewin…đã nghiên cứu tính tích cực từ góc nhìn về mối quan hệ giữa con người với con người Các nghiên cứu đã góp phần thúc đẩy những nghiên cứu về hành vi con người và các quan hệ của con người trong môi trường làm việc [97] Những nghiên cứu của các tác giả này đã chứng minh rằng, không phải là khuyến khích vật chất (tăng lương), cũng không phải tất cả các thay đổi về điều kiện vật chất gộp lại sẽ làm cho con người lao động có TTCLV để tăng sản lượng Điều quan trọng là việc tăng năng xuất còn liên quan đến yếu tố tinh thần trong nhóm như sự tin tưởng, đoàn kết nhất trí trong nhóm; sự công bằng, hỗ trợ, trân thành lắng nghe nhân viên của người quản lý

1.1.2.3 Nghiên cứu về tính tích cực t thuyết tạo động cơ cho người lao động

Mc Gregor khi nghiên cứu hành vi con người trong một tổ chức đã cho rằng, các quyết định quản lý chịu ảnh hưởng bởi bản chất và động cơ thúc đẩy của con người Mc Gregor đưa

ra những giả thuyết về hành vi của con người lao động với thuyết X – Thuyết Y hoàn toàn đối lập nhau (dẫn theo [43])

C McClelland đưa ra lý thuyết ba nhu cầu thúc đẩy, trong đó khẳng định rằng, trong quá trình làm việc các cá nhân chịu tác động mạnh mẽ bởi 3 nhân tố tác động qua lại với nhau: Nhu cầu thành đạt; Nhu cầu liên kết; Nhu cầu quyền lực Lý thuyết này cho rằng, khi một nhu cầu nào đó được đáp ứng thì sẽ tạo ra cho con người sự hài lòng và con người có xu hướng tích cực làm việc để thỏa mãn 3 loại nhu cầu này [82]

Học thuyết về sự mong đợi V Vroom (1964) xoay quanh 3 khái niệm cơ bản: Sự kỳ vọng; Lợi ích; và Giá trị [9, tr.211] Học thuyết đặc điểm công việc của R Hackman và G

Trang 10

8

Oldham đề xuất, giả thuyết rằng động cơ được xác định bởi sự phù hợp giữa các đặc điểm nhân cách của người lao động và đặc điểm bản thân công việc

Như vậy, các nghiên cứu về tạo động cơ cho người lao động, các nghiên cứu đều cho rằng

dù động cơ bên ngoài hay động cơ bên trong đều có tác dụng nhất định đến TTCLV của người lao động Công việc của nhà quản lý là hiểu được các dạng động cơ này của người lao động và

hỗ trợ người lao động đáp ứng các nhu cầu để họ làm việc được tích cực hơn

1.1.2.4 Các nghiên cứu về ảnh hưởng của tâm lý tích cực đến tính tích cực tại nơi làm việc

Trong nghiên cứu của mình các tác giả Ashforth, B E., & Humphrey, R H (1995) Brief,

A P., & Weiss, H M (2002), Parker (2014) đều khẳng định tâm lý có ảnh hưởng đến hành vi Liên quan đến tính tích cực, mô hình của B L Fredrickson, S K Parker đã xác định hai cơ chế qua đó tâm lý tích cực có thể tạo nên hành vi tích cực bao gồm cơ chế "Lan tỏa" và cơ chế

"Củng cố" Tâm lý tích cực có ảnh hưởng đến các trạng thái nhận thức - động cơ về lâu dài như (sự tự tin, vai trò định hướng) và ảnh hưởng đến khả năng của cá nhân (khả năng phục hồi và khả năng đối phó) [65, tr.300-319], [92]

1.1.2.5 Các nghiên cứu quan tâm đến tính tính cực tại nơi làm việc

Từ các quan niệm truyền thống về TTCLV của người lao động như J M Crant coi tính tích cực như một dạng tâm lý ổn định, D Fay, M Frese coi tính tích cực làm việc như một dạng hành vi hoặc như một cách hành xử trong công việc nên S K Parker nhận xét rằng mối quan tâm hiện nay về TTCLV gây ra sự không đầy đủ trong các mô hình làm việc bởi vẫn đi theo mô hình truyền thống khi giả định rằng người lao động phải tuân theo các hướng dẫn, mô tả công việc, và mệnh lệnh

Đồng thuận với quan điểm của S K Parker thì quan điểm của Grant, A M., & Ashford,

S J lại hoàn toàn khác với quan niệm truyền thống về tính tích cực TTCLV chính là sự chủ động làm cho các sự việc xảy ra theo chủ đích của mình Nó liên quan đến việc chủ động đi trước nhằm thay đổi tình huống hoặc thay đổi bản thân Ví dụ, đảm nhận việc cải tiến phương pháp làm việc, giải quyết các vấn đề trong quá trình làm việc một cách chủ động, áp dụng tính chủ động của cá nhân vào quá trình làm việc như sự đàm phán có lợi chung, và chủ động tìm kiếm phản hồi hoặc hành vi tự khởi xướng, hướng tới tương lai nhằm mục đích tạo ra sự thay đổi trong chính bản thân hoặc tình hình

1.2 Các nghiên cứu về tính tích cực, tính tích cực làm việc ở trong nước

1.2.1 Những nghiên cứu về tính tích cực của cá nhân

Các tác giả Phạm Minh Hạc, Nguyễn Quang Uẩn đều coi nhân cách là chủ thể có ý thức

[14], [42], “Tính tích cực là một thuộc tính của nhân cách, tính tích cực của nhân cách cũng

Trang 11

biểu hiện rõ trong quá trình thỏa mãn các nhu cầu của nó” Các tác giả đều khẳng định nhu cầu

là nguồn gốc của tính tích cực [39 tr.200]

Tác giả Nguyễn Ngọc Bảo: đã đề cập tới tính tích cực và tính tích cực nhận thức dưới góc

độ Triết học và Tâm lý học Theo tác giả, “Tính tích cực nhận thức là thái độ cải tạo của chủ

thể đối với khách thể thông qua sự huy động ở mức độ cao của các chức năng tâm lý nhằm giải quyết những vấn đề nhận thức Nó v a là mục đích học tập, v a là phương tiện v a là điều kiện

để đạt mục đích, v a là kết quả học tập Nó là sản phẩm hoạt động cá nhân”[1, tr.46-51]

Các tác giả Trần Bá Hoành, Lê Tràng Định, Phó Đức Hòa, đưa ra khái niệm tính tích cực

nhận thức trên cơ sở tiếp thu quan niệm của Kharlamôp Các tác giả coi “hứng thú và tự giác là

hai yếu tố tâm lý tạo nên tính tích cực” [16]

1.2.2 Những nghiên cứu về tính tích cực làm việc

Có một số tác giả với các công trình nghiên cứu về tính tích cực làm việc ở nhiều góc độ khác nhau (Mai Hữu Khuê, Nguyễn Thị Tình, Lê Hương, Trần Hương Thanh, Lê Thị Minh Loan)

Các nghiên cứu này đã chỉ ra bản chất của tính tích cực làm việc không còn là quan niệm,

là sự nhìn nhận hay những mong muốn mà là mức chi phí thời gian và sức lực của con người trên thực tế cho hoạt động nghề nghiệp (Lê Hương) Hay nói đến tính tích cực lao động là nói đến tính tích cực của chủ thể trong quá trình hoạt động lao động được thể hiện tính sẵn sàng của con người đối với hoạt động lao động; Khả năng lao động của con người trong việc cải tạo thế giới; Sự năng động của con người (Trần Hương Thanh)

Tính tích cực giảng dạy được nhìn nhận ở ý thức tự giác của giảng viên về mục đích của hoạt động giảng dạy, thể hiện ở lòng say mê với hoạt động giảng dạy, sự chủ động, sáng tạo và

nỗ lực vượt khó khăn, nhằm tổ chức và thực hiện tốt hoạt động giảng dạy (Nguyễn Thị Tình) Tính tích cực được xem xét ở góc độ hứng thú và chủ động Sự chủ động của người lao động là hiện tượng tâm lý phản ánh ý thức của người lao động thể hiện ở việc thực hiện công việc mà không cần sự đôn đốc, giám sát của người quản lý, chủ động hợp tác với đồng nghiệp, làm cho công việc diễn ra theo kế hoạch đã định sẵn và tự kiểm tra đánh giá để rút kinh nghiệm, hoàn thành công việc tốt hơn (Lê Thị Minh Loan)

Bên cạnh đó các nghiên cứu còn chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng và các biện pháp nâng cao tính tích cực làm việc của người lao động Người lao động chỉ hứng thú và phát huy nỗ lực của mình trong khi làm việc nếu như họ có sự thỏa mãn về tâm lý (Mai Hữu Khuê)

Tiểu kết chương 1

Qua việc tổng quan một số công trình nghiên cứu có thể nhận thấy có nhiều nghiên cứu theo các trường phái và ở các cấp độ khác nhau, trên các đối tượng khác nhau đã đề cập đến

Trang 12

10

nhiều khía cạnh của tính tích cực Song trên thực tế cho chúng ta thấy tính tích cực làm việc của người lao động chịu sự tác động, chi phối của nhiều yếu tố trong đó có các yếu tố thuộc về tổ chức, yếu tố kinh tế xã hội, chính vì vậy ở mỗi giai đoạn, điều kiện lịch sử xã hội khác nhau TTCLV vẫn cần nghiên cứu thêm, nhất là dưới góc độ lý luận Các nghiên cứu về tính tích cực của người lao động ở Việt Nam mới chủ yếu tập trung vào nhóm khách thể là giảng viên, cán

bộ hành chính nhà nước còn với nhóm khách thể là người lao động trong các Công ty Cổ phần còn rất khiêm tốn

Chương 2

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÍNH TÍCH CỰC LÀM VIỆC CỦA NGƯỜI

LAO ĐỘNG TRONG CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN 2.1 Một số vấn đề lý luận về tính tích cực

2.1.1 Khái niệm tính tích cực của cá nhân

Trên cơ sở phân tích và tiếp cận các quan điểm của các nhà Tâm lý học với phương pháp luận thống nhất giữa tâm lý – ý thức – hoạt động – giáo tiếp và nhân cách, nghiên cứu xác định tính tích cực như sau:

Tính tích cực của cá nhân là ý thức tự giác của cá nhân thể hiện ở sự chủ động, say mê,

sáng tạo và nỗ lực nhằm thực hiện hoạt động một cách hiệu quả

Khái niệm này đề cập đến tính tích cực để chỉ tính sẵn sàng với hoạt động, là nhu cầu đối với hoạt động Trong đố yếu tố nhu cầu có mối liên hệ chặt chẽ với tính tích cực – đây chính là nguồn gốc của tính tích cực Bên cạnh đó tính tích cực để chỉ tính chủ động, hành động một cách có ý thức, theo chủ ý của chủ thể, và tính tích cực còn thể hiện ở sự say mê, yêu thích công việc, không ngừng sáng tạo, và nỗ lực vượt khó trong suốt quá trình làm việc của cá nhân để đạt được kết quả cao

2.1.2 Nguồn gốc của tính tích cực theo quan điểm của tâm lý học hoạt động

Theo các nhà Tâm lý học, nguồn gốc của tính tích cực chính là nhu cầu [12], [34], [39], [42], chính nhu cầu thúc đấy con người hành động theo một cách nhất định, và một hướng nhất định Và cũng chính nhu cầu là sự kích thích bên trong đầu tiên của bất cứ hoạt động nào Trong hoạt động, con người sẽ nảy sinh những nhu cầu cụ thể, rồi lại từ nhu cầu để tiến hành hoạt động tiếp theo nhằm đạt mục đích cuối cùng Vì vậy, nhu cầu không những biểu hiện vai trò quyết định các điều kiện bên ngoài và các điều kiện bên trong, mà nó còn biểu hiện vai trò của tính sáng tạo, của ý thức trong hoạt động của con người

2.2 Một số vấn đề lý luận về tính tích cực làm việc của người lao động trong các Công ty

Cổ phần

2.2.1 Khái niệm làm việc

Trang 13

Làm việc là hoạt động lao động của con người trong đó họ sử dụng sức lực, trí tuệ tác động đến một đối tượng nào đó để tạo ra sản phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu bản thân và phục

vụ cho xã hội

2.2.2 Khái niệm người lao động trong các Công ty Cổ phần

2.2.2.1 Khái niệm người lao động

Theo Bộ luật lao động, người lao động là người ít nhất đủ 15 tuổi, có khả năng lao động

và có giao kết hợp đồng lao động Trong đó người lao động trực tiếp (người công nhân trực tiếp tham gia sản xuất) Người lao động gián tiếp (người sử dụng lao động: nhà lãnh đạo, quản lý, những người làm việc tại các phòng, ban của một đơn vị, không trực tiếp sản xuất) [28]

Người lao động trong các công ty là những người đã đủ điều kiện về mặt pháp lý để có thể tham gia làm việc trong các công ty bao gồm những người quản lý, người làm công tác văn phòng và công nhân trực tiếp sản xuất tại các phân xưởng

2.2.2.2 Khái niệm Công ty Cổ phần

Điều 77 luật doanh nghiệp 2005 quy định về CTCP theo đó: “Công ty Cổ phần là một

loại hình đặc trưng của loại hình công ty đối vốn, vốn của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần, người sở hữu cổ phần gọi là cổ đông, các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của Công ty cho đến hết giá trị cổ phần mà mình đang sở hữu trong công ty” [24]

2.2.2.3 Đặc điểm người lao động trong các Công ty Cổ phần

Đa số người lao động làm việc trong các CTCP hiện nay là những người lao động trẻ trong độ tuổi 18 – 35, trình độ học vấn nghề nghiệp thấp (chủ yếu mới tốt nghiệp THPT và qua đào tạo nghề), có gần 77% người lao động trong độ tuổi lao động chưa được đào tạo nghề, hoặc được đào tạo thì còn hạn chế về kỹ năng nghề nghiệp và chất lượng lao động ở khu vực thành phố cao hơn so với ở khu vực nông thôn Chính vì lẽ đó mà người lao động chỉ thích ứng được với từng khâu kỹ năng đơn giản và lặp đi lặp lại trong sản xuất, với những công việc đòi hỏi kỹ năng khó, chỉ có số ít lao động được đánh giá là có tay nghề cao mới đáp ứng được [45]

2.2.3 Tính tích cực làm việc của người lao động trong các Công ty Cổ phần

Tính tích cực làm việc của người lao động trong các Công ty Cổ phần là ý thức tự giác của người lao động thể hiện sự chủ động, say mê, sáng tạo và nỗ lực vượt qua mọi khó khăn trở ngại nhằm thực hiện một cách có hiệu quả công việc được giao

Nghiên cứu khẳng định TTCLV của người lao động là sự kết hợp của 4 thành phần chủ đạo đó là: sự chủ động; sự say mê; sáng tạo và sự nỗ lực vượt khó Bốn thành phần biểu hiện này có sự gắn kết và ảnh hưởng đến TTCLV của người lao động, nếu như người lao động làm việc không có sự say mê với công việc, không có sự tìm tòi sáng tạo cũng như chủ động trong

Trang 14

12

công việc và nỗ lực vượt mọi khó khăn trong công việc thì kết quả làm việc của người lao động cũng không cao, và sớm hay muộn thì họ cũng rời bỏ vị trí công việc mà mình đang làm Nói cách khác, tính tích cực là yếu tố quyết định trực tiếp chất lượng và hiệu quả mọi hoạt động của

cá nhân Khái niệm TTCLV của người lao động trong các Công ty Cổ phần nhấn mạnh vào 4

thành phần này

2.2.4 Biểu hiện của tính tích cực làm việc của người lao động trong các Công ty Cổ phần

Luận án tập trung làm rõ bốn thành phần biểu hiện của TTCLV đó là sự chủ động trong làm việc với các biểu hiện thành phần (chủ động thể hiện trong việc lập kế hoạch làm việc; chủ động thể hiện qua hành vi làm việc; chủ động thể hiện trong các mối quan hệ với cấp trên và đồng nghiệp) Sự say mê trong làm việc với các biểu hiện thành phần (say mê thể hiện qua cảm xúc; say mê thể hiện qua hành vi); Sự sáng tạo trong làm việc với các biểu hiện thành phần (sáng tạo thể hiện trong việc đề xuất các ý tưởng; sáng tạo thể hiện trong hành vi làm việc) Sự

nỗ lực vượt khó trong làm việc với các biểu hiện thành phần (sự nỗ lực vượt khó thể hiện trong hành vi làm việc; sự nỗ lực vượt khó thể hiện trong các mối quan hệ với cấp trên và đồng nghiệp)

2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến tính tích cực làm việc của người lao động trong các Công ty

Cổ phần khu vực phía Bắc nước ta

Trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu chúng tôi nhận thấy rằng có rất nhiều yếu tố chủ quan và khách quan ảnh hưởng đến TTCLV của người lao động trong các CTCP khu vực phía Bắc nước ta Ở đây nghiên cứu chỉ chọn ra một số yếu tố chính, chủ đạo có tác động mạnh mẽ, ảnh hưởng đến TTCLV của người lao động

Thứ nhất, nhóm các yếu tố chủ quan như: trình độ văn hóa, chuyên môn của người lao động; động cơ làm việc của người lao động; nhu cầu thành tích của người lao động; thuộc tính nhân cách của người lao động

Thứ hai, nhóm các yếu tố khách quan như: tính chất công việc; lương thưởng và các chế

độ đãi ngộ; yếu tố phúc lợi, bảo hiểm xã hội; yếu tố đào tạo người lao động; yếu tố người quản lý; yếu tố đồng nghiệp; yếu tố bầu không khí tâm lý làm việc

Tiểu kết chương 2

Đề tài luận án đã xác định một số vấn đề lý luận cơ bản làm cơ sở cho việc nghiên cứu thực trạng Xây dựng 2 khái niệm công cụ cốt lõi đó là khái niệm tính tích cực và tính tích cực làm việc của người lao động

Luận án cũng chỉ ra tính tích cực của con người nảy sinh trong hoạt động của cá nhân và thúc đẩy hoạt động đạt tới mục đích, nhằm để thỏa mãn nhu cầu bản thân Tính tích cực được tạo nên từ cái gốc nhu cầu, động cơ của cá nhân Nhu cầu là nguồn gốc động cơ của mọi hoạt động, là nhân tố kích thích tính tích cực hoạt động của nhân cách, là cơ sở để các nhà quản lý sử

Trang 15

dụng vào việc động viên, khuyến khích tinh thần làm việc hăng say, tích cực của người lao động

Luận án cũng chỉ ra hệ thống các biểu hiện của TTCLV của người lao động trong các CTCP khu vực phía Bắc nước ta bao gồm 4 yếu tố thành phần đó là: sự chủ động; sự say mê; sự sáng tạo; sự nỗ lực vượt khó trong làm việc Các thành phần này có mối liên quan mật thiết với nhau và là yếu tố cần và đủ để tạo nên TTCLV của người lao động

Ngoài ra trong luận án của chúng tôi cũng chỉ ra được các yếu tố ảnh hưởng đến TTCLV của người lao động bao gồm các yếu tố chủ quan như: trình độ văn hóa chuyên môn của người lao động; động cơ làm việc của người lao động; các thuộc tính tâm lý cá nhân; nhu cầu thành tích của người lao động; Các yếu tố khách quan như: tính chất công việc; lương thưởng và các chế độ đãi ngộ; yếu tố phúc lợi, bảo hiểm xã hội; yếu tố đào tạo người lao động; yếu tố người quản lý; yếu tố đồng nghiệp; yếu tố bầu không khí tâm lý làm việc Kết quả nghiên cứu cơ sở lý luận đã giúp người nghiên cứu định hình phương pháp nghiên cứu và nội dung nghiên cứu thực tiến

- Giai đoạn 1: Nghiên cứu lý luận và chuẩn bị phương pháp, công cụ nghiên cứu

- Giai đoạn 2: Nghiên cứu thực tiễn

- Giai đoạn 3: Nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao TTCLV của người lao động trong các CTCP khu vực phía Bắc nước ta

3.2 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện các nhiệm vụ của đề tài, chúng tôi thực hiện phối hợp các phương pháp nghiên cứu sau:

3.2.1 Phương pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu

Mục đích: khái quát những vấn đề tâm lý liên quan đến tính tích cực, tích tích cực trong làm

việc của người lao động trong các CTCP để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài

3.2.2 Phương pháp chuyên gia

Mục đích: Nhằm xác định vai trò của TTCLV của người lao động trong các CTCP, những biểu

hiện cụ thể của TTCLV của người lao động trong quá trình làm việc tại CTCP và các yếu tố ảnh hưởng đến TTCLV của người lao động trong các CTCP khu vực phía Bắc nước ta

3.2.3 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Ngày đăng: 30/06/2017, 08:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm