Một nghiên cứu của Nguyễn Hữu Lân trong việc chọn chất đánh dấu hóa mô miễn dịch để chẩn đoán phân biệt u trung biểu mô màng phổi ác tính và ung thư màng phổi loại tế bào biểu mô tuyến. Kết quả nghiên cứu cho thấy Cytokeratin, Thyroid Transcription Factor1, Surfactant Protein A, Desmin, Mesothelioma Ab1 và Calretinin là những chất đánh dấu hóa mô miễn dịch tốt để phân biệt hai thể bệnh này
Trang 1ĐÁNH GIÁ SÁU CHẤT ĐÁNH DẤU HÓA MÔ MIỄN DỊCH ĐỂ PHÂN BIỆT
U TRUNG BIỂU MÔ MÀNG PHỔI ÁC TÍNH VÀ UNG THƯ MÀNG PHỔI
LOẠI TẾ BÀO BIỂU MÔ TUYẾN:
NGHIÊN CỨU TIẾN CỨU TRÊN 94 BỆNH NHÂN
Nguyễn Hữu Lân*, Nguyễn Huy Dũng** Nguyễn Sơn Lam**
TÓM TẮT
Mục đích: Đánh giá giá trị của sáu chất đánh dấu hóa mô miễn dịch trong phân biệt u trung mạc màng
phổi ác tính và ung thư màng phổi loại tế bào biểu mô tuyến
Đối tượng và phương pháp: Từ tháng 01 năm 2008 đến tháng 12 năm 2010, chúng tôi đã thu dung vào
nghiên cứu tiến cứu đơn trung tâm một loạt 94 bệnh nhân có chẩn đoán giải phẫu bệnh là u trung mạc màng phổi ác tính và ung thư màng phổi loại tế bào biểu mô Các yếu tố được phân tích là đặc tính tuổi, giới tính, giải phẫu bệnh và biểu hiện chất đánh dấu hóa mô miễn dịch
Kết quả: Có 35 u trung mạc màng phổi ác tính và 59 ung thư màng phổi loại tế bào biểu mô được nghiên
cứu biểu hiện những chất đánh dấu sau: CytokeratinLMW, Thyroid Transcription Factor-1, Surfactant Protein
A, Desmin, Mesothelioma Ab-1 and Calretinin Đối với u trung mạc màng phổi ác tính, 100% dương tính với calretinin, 65,7% dương tính với mesothelioma Ab-1, 51,4% dương tính với cytokeratin, 48,6% dương tính với desmin, 5,7% dương tính với thyroid transcription factor-1, 2,9% dương tính với Surfactant Protein A Đối với ung thư màng phổi loại tế bào biểu mô tuyến, 96,1% dương tính với thyroid transcription factor-1, 94,1% dương tính với Surfactant Protein A, 35,3% dương tính với Surfactant Protein A, 2% dương tính với calretinin, 2% dương tính với mesothelioma Ab-1, và không có trường hợp nào dương tính với desmin
Kết luận: Phân tích các kết quả đã cho kết luận Cytokeratin, Thyroid Transcription Factor-1, Surfactant
Protein A, Desmin, Mesothelioma Ab-1 và Calretinin là những chất đánh dấu hóa mô miễn dịch tốt để phân biệt
u trung mạc màng phổi ác tính và ung thư màng phổi loại tế bào biểu mô tuyến
Từ khóa: U trung mạc màng phổi ác tính, Ung thư màng phổi loại tế bào biểu mô tuyến, Chất đánh dấu
hóa mô miễn dịch
ABSTRACT
EVALUATION OF SIX IMMUNOHISTOCHEMICAL MARKERS FOR DISTINGUISHING
MALIGNANT PLEURAL MESOTHELIOMA FROM PLEURAL ADENOCARCINOMA: A
PROSPECTIVE STUDY OF 94 PATIENTS
Nguyen Huu Lan, Nguyen Huy Dung, Nguyen Son Lam
* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 15 - Supplement of No 4 - 2011: 103 - 108
Objective: to evaluate the value of six immunohistochemical markers for distinguish malignant pleural
mesothelioma from pleural adenocarcinoma
Material and method: From January 2008 to December 2010, we have included in a prospective
monocentric protocol 94 successive patients who were anatomopathologically diagnosed as malignant pleural mesothelioma and pleural carcinomas The analysed factors were characteristics of age, sex, anatomo-pathologic and expression of the immunohistochemical markers
* BV Phạm Ngọc Thạch
Tác giả liên lạc: TS BS Nguyễn Hữu Lân ĐT: 0913185885 Email: nguyenhuulan1965@gmail.com
Trang 2Results: There were 35 malignant pleural mesothelioma and 59 pleural carcinomas were investigated for
expression of the following markers: CytokeratinLMW, Thyroid Transcription Factor-1, Surfactant Protein A, Desmin, Mesothelioma Ab-1 and Calretinin Of the malignant pleural mesothelioma, 100% were positive for calretinin, 65.7% for mesothelioma Ab-1, 51.4% for cytokeratin, 48.6% for desmin, 5.7% for thyroid transcription factor-1, 2.9% for Surfactant Protein A Of the pleural adenocarcinomas, 96.1% were positive for thyroid transcription factor-1, 94.1% for Surfactant Protein A, 35.3% for Surfactant Protein A, 2% for calretinin and for mesothelioma Ab-1, 0% for desmin
Conclusion: After analyzing the results, it is concluded that Cytokeratin, Thyroid Transcription Factor-1,
Surfactant Protein A, Desmin, Mesothelioma Ab-1 and Calretinin are the well immunohistochemical markers for differentiating malignant pleural mesothelioma from pleural adenocarcinoma
Key words: Malignant pleural mesothelioma, Pleural adenocarcinoma, Immunohistochemical marker
ĐẶT VẤN ĐỀ
U trung mạc ác tính màng phổi là u tân sinh
ở màng thanh dịch xuất phát từ các tế bào trung
mạc đa năng và đặc trưng bởi sự tăng sinh lan
tỏa trong khoang màng phổi(2) Các loại ung thư
biểu mô đôi khi có biểu hiện tổn thương lan tỏa
chỉ trong khoang màng phổi tương tự như u
trung mạc, tình trạng bệnh lý này còn được gọi
là ung thư biểu mô giả u trung mạc(1) Sự biệt
hóa tế bào gai hiếm khi xảy ra trong u trung
mạc, vì vậy nhuộm hóa mô cho chẩn đoán ung
thư biểu mô tế bào gai màng phổi không được
hữu dụng cao(10) Phân biệt về cấu trúc mô học
giữa u trung mạc và ung thư biểu mô tuyến
thường rất khó và các nghiên cứu đều cần giải
quyết vấn đề này Trong nhiều năm qua, nghiên
cứu trên kính hiển vi điện tử là một kỹ thuật cần
thiết để chẩn đoán phân biệt giữa hai cấu trúc
này Những nét điển hình về siêu cấu trúc của u
trung mạc ác tính dạng biểu mô bao gồm những
vi nhung mao dài mảnh, không có quá nhiều
nhú trên bề mặt màng tế bào, nhiều vi nhung
mao bất thường xuất phát từ màng đáy Tuy
nhiên, những dấu hiệu điển hình này không
thấy trong u trung mạc ác tính dạng biểu mô
kém biệt hóa Nhiều khối u khác nhau với cấu
trúc dạng biểu mô có thể thấy trong vùng ngoại
vi phổi, màng phổi hoặc thành ngực Những tổn
thương này bao gồm u trung mạc dạng biểu mô,
các ung thư biểu mô tuyến, các u bao sợi thần
kinh dạng biểu mô, u hắc bào, sarcôm mạch
máu giả u trung mạc Xa hơn nữa, hầu hết các
khối u có những tiêu chuẩn trên là những ung
thư biểu mô tuyến và u trung mạc(13) Vì vậy, nghiên cứu của chúng tôi sẽ khu trú trong việc chẩn đoán phân biệt giữa u trung mạc màng phổi ác tính và ung thư màng phổi loại tế bào biểu mô tuyến
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
Chúng tôi thực hiện nghiên cứu tiến cứu, mô
tả loạt lâm sàng 94 trường hợp bệnh nhân nhập viện tại bệnh viện Phạm Ngọc Thạch từ tháng 1.2008 đến 12.2010, có chẩn đoán xác định ung thư màng phổi dựa vào xét nghiệm giải phẫu bệnh của mẫu mô lấy bằng sinh thiết màng phổi kín hay soi màng phổi Tất cả các bệnh nhân đều được ghi nhận tuổi, giới tính, loại mô ung thư, cách lấy bệnh phẩm để có chẩn đoán xác định Các số liệu sau khi thu thập sẽ được mã hóa và nhập vào máy vi tính, sử dụng phần mềm Stata
10 để xử lý P values nhỏ hơn 0,05 sẽ được xem như có ý nghĩa Chúng tôi sử dụng phép kiểm λ2
để so sánh tỉ lệ khác biệt cho các biến định tính Tất cả các phương pháp kiểm định giả thuyết được thực hiện bằng cách sử dụng kiểm định 2 bên (two-sided alternatives) Ngưỡng ý nghĩa là 0,05 (p < 0,05) để chấp nhận hay bác bỏ giả thuyết thống kê
KẾT QUẢ
Nghiên cứu của chúng tôi thu thập dữ liệu
từ 94 bệnh nhân, tuổi trung bình 59 ± 14 tuổi (từ
25 tuổi đến 88 tuổi) bao gồm 44 bệnh nhân nam, tuổi trung bình 57 ± 14 tuổi, 50 bệnh nhân nữ tuổi trung bình 60 ± 14 tuổi (p > 0,1) 44 bệnh nhân có chẩn đoán mô học bằng sinh thiết màng
Trang 3phổi kín 50 bệnh nhân có chẩn đoán mô học
bằng sinh thiết qua soi lồng ngực
hematoxylin-eosin thường qui gồm có 82 bệnh
nhân ung thư biểu mô tế bào tuyến, 7 bệnh nhân
u trung mạc ác tính, 4 bệnh nhân ung thư biểu
mô tế bào nhỏ, 1 bệnh nhân ung thư biểu mô tế
bào gai-tuyến Có sự thay đổi chẩn đoán xác
định sau làm hóa mô miễn dịch
Chẩn đoán hóa mô miễn dịch gồm có 51
bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào tuyến, 35
bệnh nhân u trung mạc ác tính, 5 bệnh nhân ung
thư biểu mô tế bào nhỏ, 2 bệnh nhân ung thư
biểu mô tế bào gai, 1 bệnh nhân ung thư biểu
mô tế bào gai-tuyến
Bảng 1 trình bày số lượng bệnh nhân
nghiên cứu được chẩn đoán theo mô học và
theo hóa mô miễn dịch Số lượng các chất
đánh dấu dương tính theo loại mô bệnh lý
màng phổi được trình bày trong bảng 2 Bảng
3 trình bày số lượng các chất đánh dấu dương
tính theo loại ung thư biểu mô tế bào tuyến và
u trung mạc ác tính
Bảng 1: Số lượng bệnh nhân được chẩn đoán theo mô
học và theo hóa mô miễn dịch
CĐMH
UTBMTBG-T
CĐMH: chẩn đoán mô học bằng nhuộm HE thường qui
CĐHMMD: chẩn đoán hóa mô miễn dịch UTMAT: U
trung mạc ác tính UTBMTBT: ung thư biểu mô tế bào
tuyến UTBMTBN: ung thư biểu mô tế bào nhỏ
UTBMTBG: ung thư biểu mô tế bào gai UTBMTBGT:
ung thư biểu mô tế bào gai-tuyến
Bảng 2: Số lượng các chất đánh dấu dương tính
theo loại mô bệnh lý màng phổi
Loại tế bào ung thư màng phổi Chất
đánh
dấu
UTMAT
(n = 35)
UTBMTBT
(n = 51)
UTBMTBN
(n = 5)
UTBMTBG
(n = 2)
UTBMTBGT
(n = 1)
Loại tế bào ung thư màng phổi Chất
đánh dấu
UTMAT
(n = 35)
UTBMTBT
(n = 51)
UTBMTBN
(n = 5)
UTBMTBG
(n = 2)
UTBMTBGT
(n = 1) MW
HBM E-1
CKLMW: Cytokeratin Low Molecular Weight TTF-1: Thyroid Transcription Factor-1 SP-A: Surfactant Protein A DES: Desmin HBME-1: Mesothelioma
Ab-1 CAL: Calretinin UTMAT: U trung mạc ác tính
UTBMTBT: ung thư biểu mô tế bào tuyến UTBMTBN: ung thư biểu mô tế bào nhỏ UTBMTBG: ung thư biểu mô tế bào gai UTBMTBGT: ung thư biểu mô tế bào gai-tuyến
Bảng 3: Số lượng các chất đánh dấu dương tính theo
loại ung thư biểu mô tế bào tuyến và u trung mạc ác tính
Chất đánh dấu hóa mô miễn dịch Loại ung thư màng
W TTF1 SP-A DES HBME-1 CAL UTBMTBT (n = 51) 48 49 18 0 1 1 UTMATDBM (n = 19) 8 0 0 4 14 19
UTMATDBSn (n = 1) 0 0 0 0 0 1
CK: CytokeratinLMW (Cytokeratin Low Molecular Weight) TTF-1: Thyroid Transcription Factor-1 SP-A: Surfactant Protein A DES: Desmin HBME-1: Mesothelioma Ab-1 CAL: Calretinin UTBMTBT: ung thư biểu mô tế bào tuyến UTMATDBM: U trung mạc
ác tính dạng biểu mô UTMATDHH: u trung mạc ác tính dạng hổn hợp UTMATDS: u trung mạc ác tính dạng sarcôm UTMATDN: u trung mạc ác tính biệt hóa cao dạng nhú TMATDBSn: u trung mạc ác tính dạng bất sản
BÀN LUẬN
Hóa mô miễn dịch là một kỹ thuật quan trọng trong chẩn đoán u trung mạc ác tính, đặc biệt trong chẩn đoán phân biệt u trung mạc ác tính với ung thư biểu mô tế bào tuyến Sự phân biệt này cực kỳ quan trọng cả trong mục đích
Trang 4tiên lượng bệnh lẫn pháp y(12)
Các sợi Cytokeratin là các sợi trung gian tạo
nên bộ khung của các tế bào biểu mô, kèm tạo
sự nâng đỡ chính cho toàn thể cấu trúc của các
biểu mô Trong cơ thể người có khoảng 20 loại
CK khác nhau Cytokeratin là chất đánh dấu
đầu tiên dùng trong chẩn đoán xác định nguồn
gốc u biểu mô, đặc biệt là ung thư biểu mô tế
bào gai Có rất nhiều loại cytokeratin nằm trong
các cơ quan của cơ thể Cytokeratin dương tính
cao (khoảng 90%) trong các trường hợp ung thư
biểu mô phổi, đặc biệt là loại Cytokeratin phân
tử lượng thấp(5) Trong nghiên cứu của chúng
tôi, CK dương tính ở 51,4% (18/35 bệnh nhân) u
trung mạc màng phổi ác tính, 94,1% (48/51 bệnh
nhân) ung thư màng phổi loại tế bào biểu mô
tuyến (p < 0,000005) CK dương tính ở 80% (4/5
bệnh nhân) ung thư biểu mô tế bào nhỏ, 100%
(2/2 bệnh nhân) ung thư biểu mô tế bào gai (1/1
bệnh nhân) ung thư biểu mô tế bào gai-tuyến
TTF-1 (Thyroid Transcription Factor-1) là
một yếu tố phiên mã chứa homeodomain để
điều tiết hoạt động phiên mã của các gen tuyến
giáp trong tế bào nang Nó được chọn lọc thể
hiện trong tuyến giáp, phổi, và trong não trung
gian Một số nghiên cứu cho thấy TTF-1 là cần
thiết để tạo hình các cơ quan này Trong ung thư
tế bào biểu mô tuyến, TTF-1 hiếm khi hiện diện
trong các khối u có nguồn gốc ngoài phổi, TTF-1
cũng có thể phân biệt giữa u trung mạc màng
phổi ác tính và ung thư màng phổi loại tế bào
biểu mô tuyến di căn từ phổi, vì nhuộm miễn
dịch TTF-1 luôn âm tính trong tổn thương u
trung mạc màng phổi ác tính(8) Nghiên cứu của
chúng tôi cho thấy TTF-1 dương tính ở 5,7%
(2/35 bệnh nhân) u trung mạc ác tính, trong khi
tỷ lệ này ở bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào
tuyến là 96,1% (49/51 bệnh nhân) (p < 0,000005)
Do số lượng bệnh nhân ung thư màng phổi
loại biểu mô tế bào nhỏ, loại biểu mô tế bào gai,
loại biểu mô tế bào gai-tuyến là ít nên cần có
những nghiên cứu với số lượng bệnh nhân lớn
hơn để đánh giá vai trò của CK, TTF-1 trong
chẩn đoán xác định các loại ung thư này Tuy
nhiên, không có nhiều khó khăn trong chẩn đoán hình thái học giữa u trung mạc màng phổi
ác tính với ung thư màng phổi loại biểu mô tế bào nhỏ, loại biểu mô tế bào gai, loại biểu mô tế bào gai-tuyến(10)
Chất tạo sức căng bề mặt của phổi (Lung Surfactant) là một phức hợp lipoprotein được tổng hợp và chế tiết từ những phế bào type II của phế nang Thành phần chính của Surfactant
A này là protein với cấu tạo là glycoprotein đã được giảm biến tính có phân tử lượng khoảng 35
kD Trong tràn dịch màng phổi ác tính, nồng độ SP-A cao chỉ có ở những bệnh nhân với ung thư biểu mô tế bào tuyến Các nghiên cứu hiện nay cho thấy mức độ rất thấp của SP-A trong dịch màng phổi của u trung mạc ác tính Sự hiện diện của SP-A có thể dùng để phân biệt ung thư màng phổi loại tế bào biểu mô tuyến và u trung mạc ác tính, vì SP-A chưa bao giờ được phát hiện trong u mạc ác tính bằng hoá mô miễn dịch(11) Trong nghiên cứu của chúng tôi, SP-A chỉ dương tính ở 2,9% (1/35 bệnh nhân) u trung mạc màng phổi ác tính, trong khi tỷ lệ dương tính ở bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào tuyến
là 35,3% (18/51 bệnh nhân) (p < 0,0004)
Calretinin là protein 29 Kda thuộc thành phần của nhóm lớn gia đình các protein gắn kết calci(5) Calretinin là một trong những chất đánh dấu đầu tiên được coi là hữu ích trong chẩn đoán u trung mạc Nhiều nghiên cứu đã khẳng định sự hữu ích trong nhuộm hóa mô với calretinin trong chẩn đoán phân biệt giữa u trung mạc và ung thư biểu mô tế bào tuyến, chỉ
có một số tương đối ít các nghiên cứu cho thấy
có biểu hiện calretinin dương tính trong ung thư biểu mô tế bào gai của phổi Những nghiên cứu hiện nay cho thấy calretinin đều dương tính trong tất cả các u trung mạc, nên đây chính là tiêu chuẩn chẩn đoán đầu tiên Trong khi đó có 40% ung thư biểu mô tế bào gai dương tính với calretinin Calretinin có khả năng dương tính lan tỏa trong mô tới 100% các trường hợp u trung mạc dạng biểu mô, nhưng chỉ dương tính từng ổ rải rác trong 10% tất cả các loại ung thư biểu mô
Trang 5tế bào tuyến, 18% dương tính trong tất cả các
loại ung thư biểu mô tế bào gai(10) Trong nghiên
cứu của chúng tôi, 100% (35/35 bệnh nhân) u
trung mạc ác tính có phản ứng dương tính với
calretinin, trong khi tỷ lệ này ở ung thư biểu mô
tế bào tuyến chỉ là 2% (2/51 bệnh nhân) Sự khác
biệt này thật sự có ý nghĩa thống kê
Desmin là loại sợi protein trung gian thuộc
nhóm 53 kDa Kháng thể này có đặc hiệu cao với
desmin và không có phản ứng chéo với các sợi
protein trung gian khác, nó có phản ứng với các
sợi có vách trong các mô cơ vân (cả cơ vân bám
xương và cơ tim) và trong mô cơ sẽ bắt màu
nhuộm rõ nhất ở vùng sợi Z đặc trưng của tế bào
cơ vân Kháng thể kháng desmin thường được
dùng để xác định các u có nguồn gốc mô cơ Nó
có thể có phản ứng cả trong sarcôm cơ trơn và
sarcôm cơ vân(4) Desmin được phát hiện trong
56% các u trung mạc ác tính và âm tính trong các
loại ung thư biểu mô của phổi, do đó nó có thể
được dùng để chẩn đoán phân biệt các u này [6]
Nghiên cứu của chúng tôi cũng cho thấy Desmin
hoàn toàn âm tính trong ung thư biểu mô màng
phổi và dương tính trong 48,6% (17/35 bệnh
nhân) u trung mạc màng phổi ác tính
Kháng thể đơn dòng từ chuột HBME-1 được
phát hiện trên bề mặt các tế bào trung mạc là
một chất sinh miễn dịch trong u trung mạc dạng
biểu mô Kháng thể này có thể xuất hiện trên bề
mặt các tế bào trung mạc bình thường và tế bào
u trung mạc, đôi khi cả trên các tế bào biểu mô
khác Khi nhuộm dương tính có thể thấy bắt
màu ở rìa tế bào hoặc trong các vi nhung mao
của tế bào Kháng thể đơn dòng HBME-1 chủ
yếu để chẩn đoán phân biệt giữa u trung mạc
dạng biểu mô và ung thư biểu mô tuyến(7) Sự
hiện diện kháng thể HBME-1 dương tính trên bờ
bàn chải của các tế bào trung mạc cho phép chẩn
đoán phân biệt được giữa u trung mạc màng
phổi và ung thư biểu mô tế bào tuyến của phổi
Việc phân tích dưới kính hiển vi điện tử cũng
cho thấy được các dấu hiệu này và được làm rõ
hơn khi quan sát dưới kính hiển vi quang học(3)
HBME-1 dương tính trong tất cả các trường hợp
u trung biểu mô ác tính dạng biểu mô nhưng dương tính chỉ 39% trong ung thư phổi loại tế bào biểu mô tuyến(9) Trong nghiên cứu của chúng tôi, HBME-1 chỉ dương tính trong 2% (1/51 bệnh nhân) ung thư màng phổi loại tế bào biểu mô tuyến, nhưng dương tính trong 65,7% (23/35 bệnh nhân) u trung mạc màng phổi ác tính (p < 0,000000001), bao gồm 73,7% (14/19 bệnh nhân) u trung mạc màng phổi ác tính dạng biểu mô, 100% (6/6 bệnh nhân) u trung mạc ác tính dạng hổn hợp, 100% (3/3 bệnh nhân) u trung mạc ác tính biệt hóa cao dạng nhú
Từ những kết quả nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy có sự thay đổi chẩn đoán loại tế bào ung thư màng phổi sau khi làm xét nghiệm hóa
mô miễn dịch Trong thực hành hàng ngày, nên nhuộm hóa mô miễn dịch thường quy bằng các chất đánh dấu hóa mô miễn dịch như Cytokeratin, Thyroid Transcription Factor-1, Surfactant Protein A, Desmin, Mesothelioma Ab-1 và Calretinin để chẩn đoán phân biệt u trung mạc màng phổi ác tính và ung thư màng phổi loại tế bào biểu mô tuyến
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Attanoos R.L., Gibbs A.R (2003), “'Pseudomesotheliomatous' carcinomas of the pleura: a 10-year analysis of cases from the Environmental Lung Disease Research Group, Cardiff” Histopathology, 43, pp.444-452
“Mesothelioma”, Pathology and Genetics of Tumours of the Lung,Pleura, Thymus and Heart Lyon: IARC Press;
pp.128-136
“Distinctive microvillous brush border staining with HBME-1 distinguishes pleural mesotheliomas from pulmonary adenocarcinomas”, Pathology, 33(3), pp.287-291
4 Debus E., Weber K., Osborn M (1983), “Monoclonal antibodies
to desmin, the muscle-specific intermediate filament protein”, The EMBO Joumal, 2(12), pp.2305-2312
5 Hoda M I., Mohamed A.A.N., Iman L.A et al (2006), “Pleural Mesothelioma: Diagnostic Problems and Evaluation of Pronostic Factors”, Journal of the Egyptian Nat Cancer Inst., 18(4), pp.303-310
6 Hurlimann J (1994), “Desmin and neural marker expression in mesothelial cells and mesotheliomas”, Hum Pathol, 25(8), pp.753-757
antibody HBME-1 usefulness in differentiation of benign neoplasm and differentiated thyroid carcinoma”, Acta Medica Iranica, 43(2), pp.85-88
8 Ng W.K., Chow J.C., Ng P.K (2002), “Thyroid Transcription Factor-1 is Highly Sensitive and Specific in Differentiating
Trang 6Metastatic Pulmonary from Extrapulmonary Adenocarcinoma
in Effusion Fluid Cytology Specimens”, Cancer, 25, 6(1), pp
43-48
epithelioid mesothelioma”, Arch Pathol Lab Med, 129,
pp.1407–1414
10 Ordonez N.G (2006), “The diagnostic utility of
immunohistochemistry in distinguishing between epithelioid
mesotheliomas and squamous carcinomas of the lung: a
comparative study” Mod Pathol., 19, pp 417-428
11 Shijubo N., Honda Y., Fujishima T et al (1995), “Lung
surfactant protein-A and carcinoembryonic antigen in pleural
effusions due to lung adenocarcinoma and malignant mesothelioma”, Eur Respir J, 8, 403–406
12 Trupiano J.K., Geisinger K.R., Willingham M.C et al (2004),
“Diffuse malignant mesothelioma of the peritoneum and pleura, analysis of markers”, Modern Pathology, 17, pp.476–
481
13 Yaziji H., Battifora H., Barry T.S et al (2006), “Evaluation of 12 antibodies for distinguishing epithelioid mesothelioma from adenocarcinoma: identification of a three-antibody immunohistochemical panel with maximal sensitivity and specificity”, Modern Pathology, 19, pp.514–523