1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

Đánh giá sự tham gia của phụ nữ trong các hoạt động thích ứng với biến đổi khí hậu tại xã hoài hải, huyện hoài nhơn, tỉnh bình định

95 328 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 2,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

50 Bảng 12: Tác động của các hiện tượng thời tiết cực đoan đến một số hoạt động sinh hoạt hàng ngày theo phỏng vấn người dân .... Vì các lý do trên, tác giả đã chọn nghiên cứu về “Đánh g

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SĨ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

Chuyên ngành: BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

Mã số: Chương trình đào tạo thí điểm

Người hướng dẫn khoa học: TS Võ Thanh Sơn

Hà Nội – 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận án này là do tự bản thân thực hiện và không sao chép các

công trình nghiên cứu của người khác để làm sản phẩm của riêng mình Các thông tin,

số liệu thứ cấp được sử dụng trong luận án là có nguồn gốc và được trích dẫn rõ ràng,

đảm bảo tính chính xác Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực và

nguyên bản của luận án

Tác giả

Nguyễn Thị Hồng Nhung

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chân thành tới TS Võ Thanh Sơn –Viện Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường (CRES) - ĐHQGHN đã động viên, hướng dẫn

và giúp đỡ tôi tận tình trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận án

Tôi xin chân thành cảm ơn các cán bộ Khoa Các khoa học liên ngành (tiền thân là Khoa Sau đại học) – Đại học Quốc gia Hà Nội, UBND tỉnh Bình Định, UBND Huyện Hoài Nhơn, UBND cùng toàn thể người dân tại xã Hoài Hải đã tạo điều kiện và giúp

đỡ tôi thực hiện nghiên cứu này

Tôi xin chân thành cảm ơn các bạn đồng nghiệp Khoa Các khoa học liên ngành – Đại học Quốc gia Hà Nội đã ủng hộ và đóng góp những ý kiến quý báu giúp tôi hoàn thành luận văn

Cuối cùng tôi xin cảm ơn gia đình đã động viên, ủng hộ, chia sẻ và là chỗ dựa vật chất và tinh thần giúp tôi tập trung nghiên cứu và hoàn thành bản luận văn của mình

Trang 5

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT 8

DANH MỤC BẢNG 9

DANH MỤC HÌNH, BIỂU 10

MỞ ĐẦU 11

Mục tiêu, nội dung, câu hỏi nghiên cứu 12

Mục tiêu nghiên cứu 12

Nội dung nghiên cứu: 13

Câu hỏi nghiên cứu: 13

Lựa chọn địa bàn nghiên cứu 13

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 15

1.1 Tác động của biến đổi khí hậu đối hệ sinh thái, tài nguyên thiên nhiên và sinh kế hộ gia đình 15

1.1.1 Tác động của biến đổi khí hậu đối với hệ sinh thái 15

1.1.2 Tác động của biến đổi khí hậu đến tài nguyên nước 15

1.1.3.Tác động của biến đổi khí hậu đối với sản xuất lương thực, thực phẩm 16

1.1.4.Tác động đến vấn đề sử dụng năng lượng 18

1.1.5.Biến đổi khí hậu làm tăng gánh nặng lên sinh kế hộ gia đình 19

1.2 Tổng quan về thích ứng biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng và vai trò của phụ nữ trong thích ứng với BĐKH 20

1.3 Tác động của một số hiện tượng thời tiết cực đoan tới sức khỏe và đời sống xã hội của phụ nữ 22

1.3.1.Tác động của nắng nóng đối với sức khoẻ và đời sống xã hội của phụ nữ

24

1.3.2.Tác động của bão đối với sức khoẻ và đời sống xã hội của phụ nữ 25

1.3.3.Tác động của nước biển dâng, mưa lớn và lũ lụt đối với sức khoẻ và đời sống xã hội của phụ nữ 25

1.3.4.Tác động của hạn hán đối với sức khoẻ và đời sống xã hội của phụ nữ 26

CHƯƠNG II: ĐỊA ĐIỂM, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, PHƯƠNG PHÁP 28

NGHIÊN CỨU 28

2.1 Địa điểm nghiên cứu 28

2.1.1 Khái quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội của khu vực nghiên cứu 28 2.1.2 Đặc điểm khí hậu ở khu vực nghiên cứu 32

2.1.3 Một số biểu hiện của Biến đổi khí hậu khu vực nghiên cứu 32

2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 38

2.2.1 Đối tượng 38

2.2.2 Phạm vi nghiên cứu 38

Trang 6

2.3 Phương pháp nghiên cứu 39

2.3.1 Phương pháp thu thập, thống kê, tổng hợp tài liệu thứ cấp 39

2.3.2.Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia 39

2.3.3.Phương pháp trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi 43

2.3.4.Phương pháp phân tích số liệu 43

CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 45

3.1 Đánh giá sự gia tăng tần suất xuất hiện các hiện tượng thời tiết cực đoan qua điều tra, phỏng vấn người dân địa phương 45

3.2 Tác động của các hiện tượng thời tiết cực đoan đến các lĩnh vực của đời sống, sinh hoạt, sản xuất người dân Hoài Hải 49

3.2.1 Tác động của các hiện tượng thời tiết cực đoan đến đời sống, sinh hoạt 50 3.2.2 Tác động của các hiện tượng thời tiết cực đoan đến trồng trọt, chăn nuôi 52

3.2.3 Tác động của các hiện tượng thời tiết cực đoan đến đánh bắt, nuôi trồng thủy sản 53

3.2.4 Tác động của các hiện tượng thời tiết cực đoan đến hoạt động tiểu thủ công nghiệp và kinh doanh buôn bán 55

3.2.5 Tác động của các hiện tượng thời tiết cực đoan đến môi trường và sức khỏe người dân 57

3.2.6 Tác động của các hiện tượng thời tiết cực đoan đến an toàn cộng đồng, tổ chức xã hội 58

3.3 Đánh giá mức độ tham gia của phụ nữ trong các hoạt động thích ứng tại xã Hoài Hải, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định 58

3.3.1 Các hoạt động thích ứng trong đời sống sinh hoạt 59

3.3.2 Thích ứng trong hoạt động trồng trọt, chăn nuôi 60

3.3.3 Các hoạt động thích ứng trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản và đánh bắt hải sản 61

3.3.4 Các hoạt động thích ứng trong lĩnh vực buôn bán, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ, an toàn cộng đồng, sức khỏe và môi trường 62

3.4 Phân tích các yếu tố tác động đến sự tham gia của phụ nữ tại xã Hoài Hải trong các hoạt động thích ứng với BĐKH 63

3.5 Đề xuất một số giải pháp thích ứng với BĐKH phù hợp cho người dân căn cứ theo thực tế của địa phương 65

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 69

Kết luận 69

Khuyến nghị 69

TÀI LIỆU THAM KHẢO 72

Tài liệu Tiếng Việt 72

Tài liệu tiếng Anh 73

Các trang web 76

Trang 7

PHỤ LỤC 1 : MỘT SỐ KHÁI NIỆM SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN 78 PHỤ LỤC 2: PHIẾU KHẢO SÁT HỘ GIA ĐÌNH 80 PHỤ LỤC 3: MỘT SỐ THÔNG TIN CHUNG VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 94

Trang 8

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

ATNĐ: Áp thấp nhiệt đới

BĐKH: Biến đổi khí hậu

ĐBTS: Đánh bắt thủy sản

ĐDSH: Đa dạng sinh học

FAO: Tổ chức Nông lương của Liên Hợp Quốc

GNRRTT: Giảm nhẹ rủi ro thiên tai

HLHPN: Hội liên hiệp Phụ nữ

HST: Hệ sinh thái

IFAD : Quỹ quốc tế về phát triển nông nghiệp

IPCC: Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu

KTTS: Khai thác thủy sản

NBD: Nước biển dâng

NTTS: Nuôi trồng thủy sản

QLRRTT Quản lý rủi ro thiên tai

RRTT Rủi ro thiên tai

STNV: Sinh thái nhân văn

UBND: Ủy ban nhân dân

UNDP: Chương trình phát triển Liên hợp quốc

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1 Số ngày mưa lớn trên 50 mm tại Bình Định trung bình nhiều năm,

1971-2008 34

Bảng 2: Phân bố số ngày mưa lớn trên 50 mm trung bình nhiều năm, 1979-2008 34 Bảng 3: Mực nước biển trung bình tại Trạm hải văn Quy Nhơn (cm) 34

Bảng 4: Tần suất bão đổ bộ vào các vùng bờ biển Việt Nam, 1961-2008 36

Bảng 5: Một số cơn bão lớn (từ cấp 8 trở lên) xuất hiện trên vùng bờ biển 37

Bảng 6: Danh sách phỏng vấn sâu cá nhân 41

Bảng 7: Các hiện tượng thời tiết cực đoan, tần suất và thời gian 45

Bảng 8: Nhận thức của người dân về biến động của thời tiết trong khoảng 10 năm vừa qua 47

Bảng 9: Mức độ tác động của các hiện tượng thời tiết cực đoan 48

Bảng 10: Kênh thông tin về BĐKH 49

Bảng 11: Lĩnh vực chịu tác động của các hiện tượng thời tiết cực đoan 50

Bảng 12: Tác động của các hiện tượng thời tiết cực đoan đến một số hoạt động sinh hoạt hàng ngày theo phỏng vấn người dân 51

Bảng 13: Tác động của các hiện tượng thời tiết cực đoan đến trồng trọt theo phỏng vấn người dân 52

Bảng 14: Tác động của các hiện tượng thời tiết cực đoan đến chăn nuôi theo phỏng vấn người dân 53

Bảng 15: Tác động của các hiện tượng thời tiết cực đoan đến đánh bắt, nuôi trồng thủy sản theo phỏng vấn người dân 55

Bảng 16: Tác động của các hiện tượng thời tiết cực đoan đến hoạt động tiểu thủ công nghiệp và kinh doanh buôn bán 56

Bảng 17: Tác động của các hiện tượng thời tiết cực đoan đến sức khỏe và môi trường theo phỏng vấn người dân 57

Bảng 18: Tác động của thời tiết cực đoan lên lĩnh vực an toàn cộng đồng 58

Bảng 19: Thích ứng trong lĩnh vực các điều kiện sống cơ bản 59

Bảng 20: Thích ứng trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi 60

Bảng 21: Thích ứng trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản, đánh bắt hải sản 61

Bảng 22: Thích ứng trong lĩnh vực buôn bán kinh doanh, dịch vụ, an toàn cộng đồng, sức khỏe & môi trường 62

Bảng 23: Tỷ lệ sở hữu nhà ở theo giới 64

Bảng 24: Những thông tin người dân quan tâm 65

Bảng 25: Các khóa tập huấn người dân mong muốn được tham gia 66

Bảng 26: Mong muốn của người dân về sự hỗ trợ của các cấp, ngành 67

Trang 10

DANH MỤC HÌNH, BIỂU

Danh mục hình

Hình 1: Bản đồ hành chính huyện Hoài Nhơn 29Hình 2: Hệ thống xử lý nước ở xã Hoài Hải (do UNICEF tài trợ) hiện không hoạt động 30Hình 3: Bản đồ nước và vệ sinh xã Hoài Hải 30Hình 4: Các bể chứa nước tập trung ở xã Hoài Hải 31

Danh mục biểu

Biểu 1: Thời điểm diễn ra các hiện tượng thời tiết cực đoan 46Biểu 2: Lịch thời vụ 46Biểu 3: Tác động của các hiện tượng thời tiết cực đoan đến đời sống, sinh hoạt 51Biểu 4: Tác động của các hiện tượng thời tiết cực đoan đến trồng trọt, chăn nuôi 52Biểu 5: Tác động của các hiện tượng thời tiết cực đoan đến đánh bắt, nuôi trồng thủy sản 54Biểu 6: Tác động của các hiện tượng thời tiết cực đoan đến hoạt động tiểu thủ công nghiệp và kinh doanh buôn bán 56Biểu 7: Tác động của các hiện tượng thời tiết cực đoan đến môi trường và sức khỏe người dân 57Biểu 8: Kênh thông tin người dân ưa thích 67

Trang 11

Theo nhận định của các chuyên gia, tình trạng nghèo đói ở các khu vực của châu Á

có thể trở nên trầm trọng do những tác động tiêu cực từ BĐKH [18,42] Tác động của biến đổi khí hậu, thời tiết cực đoan ảnh hưởng đến phụ nữ và nam giới khác nhau và những người nghèo nhất là dễ bị tổn thương nhất 70% số người nghèo trên thế giới là phụ nữ Vì vậy, phụ nữ bị tác động mạnh bởi biến đổi khí hậu nhưng đồng thời họ đóng một vai trò quan trọng trong việc thích ứng và các hành động giảm thiểu [2, 44,46,86,87]

Trong các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ, có ba mục tiêu tập trung cụ thể vào phụ nữ: mục tiêu 3, 4 và 5, nhưng vấn đề của phụ nữ cũng xuyên suốt tất cả 8 mục tiêu Những mục tiêu này bao gồm tất cả các khía cạnh của đời sống của phụ nữ bao gồm cả kinh tế, y tế, và sự tham gia chính trị Tổ chức Nông Lương của Liên hợp quốc (FAO) cũng đã thông qua một khung chiến lược 10 năm vào tháng 11 năm 2009 bao gồm các mục tiêu chiến lược về bình đẳng giới trong việc tiếp cận các nguồn tài nguyên, hàng hóa, dịch vụ và ra quyết định ở các khu vực nông thôn, và lồng ghép bình đẳng giới vào trong các chương trình của FAO về nông nghiệp và phát triển nông thôn [45] Mặc dù Việt Nam đạt được nhiều tiến bộ đáng kể trong thúc đẩy bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ, vẫn còn khoảng cách giữa mục tiêu và kỳ vọng được đề cập trong các văn bản của chính phủ với con số thực tế về sự tham gia của phụ nữ [19,20] Sự tham gia của phụ nữ vào các hoạt động phát triển cũng như vị thế của phụ

nữ trong xã hội là một trong những thước đo bình đẳng giới

Việt Nam được đánh giá là một trong số ít quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu [8,9,44] Đối với một quốc gia có đường bờ biển dài và hai đồng bằng châu thổ lớn là đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long thì những mối đe dọa do mực nước biển dâng cao, bão, lũ lụt, xói lở bờ biển và xâm nhập mặn… là thực

sự nghiêm trọng Điều này đã, đang và sẽ gây ảnh hưởng lớn đến sinh kế của người dân ven biển, đặc biệt là đối với các hộ nghèo, các đối tượng có nguy cơ bị tổn thương cao như phụ nữ, trẻ em… sống phụ thuộc vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên nhạy cảm với biến đổi khí hậu[11]

Tỉnh Bình Định là địa phương ven biển, chịu tác động nặng nề của BĐKH Trong

đó, dải ven biển các huyện Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát và TP Quy Nhơn sẽ bị tác

Trang 12

động mạnh hơn so với các huyện phía trong đất liền Xã Hoài Hải, huyện Hoài Nhơn

là một trong khu vực của tỉnh có khả năng chịu tác động mạnh nhất do địa hình của một xã đảo Bên cạnh đó, xã Hoài Hải là một xã nghèo với tỉ lệ hộ nghèo, cận nghèo khoảng 30%, người dân sinh sống chủ yếu bằng nghề đi biển, nuôi trồng thủy sản, sinh

kế các hộ phụ thuộc chặt chẽ vào tài nguyên thiên nhiên khu vực Tại Hoài Hải, hội phụ nữ được đánh giá là hiệu quả Các ban ngành đoàn thể, tổ chức khác, phụ nữ có thể tham gia, tuy nhiên họ chủ yếu đóng vai trò thành viên, và số lượng phụ nữ “có tiếng nói quyết định” còn thấp Do quan niệm cho rằng “nam giới thì khoẻ mạnh, có thời gian và năng lực để trở thành nhà lãnh đạo trong khi phụ nữ không có thời gian để tham gia vào việc ra quyết định”, phụ nữ hiếm khi được bầu làm lãnh đạo trong các tổ chức cộng đồng Nam giới thường là chủ hộ, đứng tên trong hộ khẩu, trừ khi chồng chết, bị tàn tật hoặc phụ nữ làm mẹ đơn thân Điều này được cho là phổ biến ở địa phương

Phụ nữ được mặc định là phái yếu nhưng lại chính là người chịu trách nhiệm chính chăm lo đời sống của các thành viên trong gia đình từ ăn uống, tắm giặt, sinh hoạt… Hơn thế nữa “phụ nữ có vai trò quan trọng trong các hoạt động ứng phó với thiên tai

và biến đổi khí hậu Họ là những người đầu tiên chăm sóc các thành viên trong gia đình khi thiên tai xảy ra Quá trình lập kế hoạch giảm nhẹ rủi ro thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu sẽ chưa thể thành công nếu không có những ý kiến đóng góp của phụ nữ Phục hồi sau thiên tai ở cộng đồng sẽ không thể đạt được nếu chúng ta không tăng cường năng lực phục hồi của phụ nữ Chúng ta cần tận dụng khả năng và nguồn lực của họ khi ứng phó với biến đổi khí hậu”, bà Shoko Ishikawa, Trưởng đại diện UN Women tại Việt Nam chia sẻ [79] Để công tác phòng chống thiên tai, cũng như giảm nhẹ và thích ứng với biến đổi khí hậu được thành công cần có sự tham gia của cả nam giới và phụ nữ Tại Việt Nam, ở nhiều nơi phụ nữ đang đóng vai trò chủ động trong các hoạt động này Khả năng, kiến thức và kỹ năng của họ còn có thể được phát huy nhiều hơn nữa, tuy nhiên, vai trò và những đóng góp của họ trong công tác quản lí rủi

ro thiên tai còn chưa được ghi nhận Phụ nữ ít được tham gia vào bộ máy hoạch định chính sách trong hệ thống chính trị và quản lí ở cấp địa phương Điều này đã có những ảnh hưởng đến khả năng ứng phó thiên tai có nhạy cảm về giới

Vì các lý do trên, tác giả đã chọn nghiên cứu về “Đánh giá sự tham gia của phụ

nữ trong các hoạt động thích ứng với biến đổi khí hậu tại xã Hoài Hải, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định” từ đó mong muốn đặt ra được định hướng để tiến hành

các nghiên cứu về vấn đề này sâu hơn về sau

Mục tiêu, nội dung, câu hỏi nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu

Trang 13

- Đánh giá được tác động của BĐKH gây ảnh hưởng trực tiếp, gián tiếp đến đời sống người dân địa phương, đặc biệt là phụ nữ trong các hoạt động sinh kế, kinh tế, xã hội; sinh hoạt trong gia đình, sức khoẻ, môi trường

- Đánh giá vai trò phụ nữ trong các hoạt động thích ứng với BĐKH tại xã Hoài Hải, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định

Nội dung nghiên cứu:

 BĐKH tác động đến người dân địa phương, đặc biệt là phụ nữ trong các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, đánh bắt hải sản, môi trường, bệnh tật như thế nào Người dân có hoạt động thích ứng nào với BĐKH

 Mức độ tham gia của phụ nữ trong các hoạt động thích ứng với BĐKH tại xã Hoài Hải, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định:

 Độ tuổi, giới tính, khu vực sống (thôn) của người trả lời tác động đến sự tham gia của họ trong các hoạt động thích ứng với BĐKH

Câu hỏi nghiên cứu:

 BĐKH tác động đến các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, đời sống sinh hoạt, đánh bắt hải sản, môi trường…ở Hoài Hải như thế nào

 Phụ nữ xã Hoài Hải có tham gia vào các hoạt động thích ứng với BĐKH không? Hoạt động thích ứng với BĐKH nào phụ nữ tham gia cao, hoạt động nào tham gia

ít hoặc không tham gia? Lý do khiến phụ nữ tham gia nhiều hoặc ít vào các hoạt động thích ứng với BĐKH?

Phụ nữ xã Hoài Hải có nhu cầu tìm hiểu thông tin về BĐKH, nâng cao năng lực thích ứng với BĐKH không?

Lựa chọn địa bàn nghiên cứu

- Với đặc điểm địa hình giáp biển nên Hoài Hải là khu vực được xem là một trong những vùng hứng chịu nhiều tác động của các hiện tượng thời tiết cực đoan và dưới ảnh hưởng của BĐKH, các hiện tượng thời tiết ngày càng khó dự báo, dự đoán hơn Tại xã Hoài Hải, đã có sự cố sạt lở bờ biển ở 2 thôn Kim Giao Bắc và Kim Giao Trung, làm hư hỏng tài sản của vài chục hộ gia đình và khiến họ phải di tản đến khu tái định cư mới ở thôn Diêu Quang Bên cạnh đó, địa hình ba mặt giáp biển, một mặt giáp sông, đất cát khiến cho địa bàn xã có nguồn nước nhiễm mặn và phèn Nguồn nước cho sinh hoạt của người dân không đảm bảo nên các

hộ đều phải mua nước sinh hoạt từ Hoài Mỹ chuyển sang Nghề nghiệp chính của người dân trong xã là đi biển và nuôi trồng thủy sản Những vấn đề bức xúc nhất

Trang 14

của người dân trong xã theo thứ tự ưu tiên là: (1) nguồn nước bị nhiễm mặn, phèn; (2) sạt lở ven biển; (3) ngập lụt cục bộ

- Ở xã Hoài Hải, đã có ban chỉ huy phòng chống lụt bão và tìm kiếm cứu nạn do Chủ tịch UBND xã làm trưởng ban, chủ tịch Mặt trận tổ quốc xã làm phó ban và các thành viên khác trong UBND xã làm ủy viên Xã cũng có một đội dân phòng chịu trách nhiệm tuần tra, kiểm soát trước, trong và sau thiên tai Tuy nhiên, thành viên của các ban, nhóm này hầu hết là nam giới Bên cạnh đó, người dân trong xã mới nghe thông tin về BĐKH qua các phương tiện truyền thông đại chúng như tivi, loa phát thanh chứ chưa thực sự hiểu về BĐKH Cũng không có dự án hay lớp tập huấn nào cho người dân biết về BĐKH, tác động của nó đến đời sống của người dân Trong khi đó, mỗi khi thiên tai xảy ra, cùng với tác động của BĐKH càng làm sâu thêm các ảnh hưởng của nó đến các lĩnh vực trong đời sống người dân đặc biệt là phụ nữ Phụ nữ đang hàng ngày, hàng giờ tham gia vào các hoạt động thích ứng với BĐKH nhưng lại chưa ý thức được tầm quan trọng của mình

mà mới chỉ coi đó là nghĩa vụ, là bổn phận của mình

- Trong khi đó, nghiên cứu giới nói chung và giới và BĐKH nói riêng ở trên thế giới

và Việt Nam tập trung vào đối tượng phụ nữ và trẻ em gái – những đối tượng được coi là dễ bị tổn thương do BĐKH Những nghiên cứu này tập trung rất nhiều vào tác động của BĐKH đối với các lĩnh vực cụ thể, trong đó có tác động lên đối tượng phụ nữ Ngoài ra, các nghiên cứu trường hợp cũng đưa ra nhiều hình thức thích ứng với BĐKH ở trên thế giới và Việt Nam Tuy nhiên, ở Hoài Hải chưa có

dự án hay nghiên cứu nào liên quan đến giảm thiểu rủi ro thiên tai, thích ứng với BĐKH

Trang 15

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Tác động của biến đổi khí hậu đối hệ sinh thái, tài nguyên thiên nhiên và sinh kế hộ gia đình

Các nhà khoa học thuộc Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) đã chỉ ra rằng, trong 100 năm của thế kỷ trước (1901-2000) nhiệt độ không khí bề mặt Trái đất

đã tăng lên trung bình khoảng 0,6°C - 0,74°C [50] Sự tăng lên của nhiệt độ trung bình toàn câu đã tác động đến môi trường tự nhiên, kinh tế - xã hội và biểu hiện rõ rệt thông qua một số lĩnh vực như: Môi trường, hệ sinh thái, đời sống kinh tế, xã hội, sinh kế và sức khỏe con người

1.1.1 Tác động của biến đổi khí hậu đối với hệ sinh thái

Tác động tiềm tàng của BĐKH lên rừng ngập mặn ở Việt Nam có thể gồm: nhiệt độ tăng sẽ làm rừng ngập mặn chuyển dịch lên phía bắc; lượng mưa tăng thì rừng ngập mặn sẽ tốt lên, nếu giảm thì suy thoái; bão với cường độ tăng sẽ hủy hoại rừng ngập mặn Các hoạt động: phát triển nuôi trồng thủy sản, chuyển đổi sử dụng đất (làm muối, trồng cói, cấy lúa), khai thác quá mức (gỗ, củi) và ô nhiễm nước cũng làm gia tăng tác động của BĐKH đến rừng ngập mặn Nước biển dâng sẽ ảnh hưởng đến vùng đất ngập nước ven biển Việt Nam, diện tích rừng ngập mặn có nguy cơ bị thu hẹp; nghiêm trọng nhất là khu vực rừng ngập mặn dễ bị tổn thương ở Cà Mau, TP Hồ Chí Minh,

Vũng Tàu và Nam Định [24]

Khi nhiệt độ trung bình toàn cầu vượt quá 2-3°C so với mức nhiệt độ thời kỳ tiền công nghiệp, nhiều loài được đánh giá có thể sẽ đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng ngày càng cao Nếu nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng vượt quá 1,5 - 2,5oC, kết hợp với hàm lượng khí CO2 trong khí quyển tăng, sẽ dẫn đến những thay đổi cơ bản trong cấu trúc

và chức năng của các hệ sinh thái Quá trình này gây ra những hậu quả tiêu cực đối với tính đa dạng sinh học, các sản phẩm và dịch vụ của các hệ sinh thái [24]

1.1.2 Tác động của biến đổi khí hậu đến tài nguyên nước

Theo IPCC (2007) những tác động của BĐKH lên nguồn nước ngọt chủ yếu là do

sự nóng lên toàn cầu gây ra những biến đổi hoàn lưu khí quyển và đại dương, đặc biệt

là trong những trường hợp liên quan đến hoạt động của El Nino, La Nina [50]

Những tác động cụ thể của BĐKH đến tài nguyên nước ngọt đã được biết đến như làm suy giảm dòng chảy, nguồn dự trữ nước trong các khối băng tuyết, giảm lượng mưa, tình trạng mất cân bằng nước tại các khu vực Hậu quả gây ra là tần suất lũ lụt

và hạn hán phức tạp hơn, gây ra sự khó tiếp cận với nguồn nước, đặc biệt là nhóm dễ

bị tổn thương, bao gồm phụ nữ [62] Tuy nhiên ngoài vấn đề thiên tai, lũ lụt, hạn hán

Trang 16

thì vấn đề thiếu nước phục vụ các nhu cầu sinh hoạt tối thiểu cũng cần phải được xem xét Có khoảng 900 triệu người trên thế giới không có điều kiện tiếp cận với nước sạch, và hơn 2.6 tỉ người phải sử dụng nguồn nước mất vệ sinh, một phần lớn trong số

đó là phụ nữ và trẻ em gái [36,44] Một nghiên cứu tại khu vực Châu Phi cận Sahara cho thấy phụ nữ và trẻ em gái dành tới 40 tỉ giờ mỗi năm để lấy nước, thời gian này tương đương với tổng thời gian lao động của toàn bộ lực lượng lao động tại Pháp-một quốc gia phát triển ở Châu Âu [59]

Trong hầu hết các quốc gia đang phát triển, gánh nặng của việc thu thập nước cho sinh hoạt gia đình, tưới tiêu đặt lên vai của phụ nữ và trẻ em, đặc biệt là trẻ em gái [48,55] Trong thời gian khủng hoảng nước và năng lượng do ảnh hưởng của BĐKH, trách nhiệm này là cực nhọc nhất do khối lượng và thời gian thu thập nước/năng lượng tăng lên, phụ nữ và trẻ em gái phải đi bộ một khoảng cách xa hơn để tìm kiếm nước/năng lượng [35,56]

Phụ nữ tại các nước đang phát triển chỉ có thể lấy nước từ các nguồn miễn phí, dành cho cộng đồng như sông, hồ…nhưng khi nguồn nước trở nên khan hiếm thì thiếu nước sinh hoạt là vấn đề hay xảy ra Khi nguồn cung cấp nước sạch bị tư nhân hóa, các chi phí nước sinh hoạt phải chi trả cao, điều này gây khó khăn đối với phụ nữ khi nguồn thu nhập của họ thấp Nếu muốn thực hiện được việc sử dụng nước sạch từ nhà cung cấp, họ phải vay mượn nhiều để chi trả, hệ quả là họ rơi vào vòng xoáy của khó khăn khi công việc của họ không đủ giúp họ chi trả khoản nợ [30]

1.1.3 Tác động của biến đổi khí hậu đối với sản xuất lương thực, thực phẩm

Trong bối cảnh BĐKH, khi hàm lượng CO2 cao có thể tăng năng suất Sản lượng một số cây trồng, như lúa mì và đậu nành có thể tăng 30% hoặc nhiều hơn khi tăng gấp đôi nồng độ CO2 Năng suất các loại cây trồng khác như ngô tăng ít hơn 10% Tiềm năng sản xuất lương thực toàn cầu sẽ tăng lên với sự gia tăng nhiệt độ trung bình toàn cầu lên đến khoảng 3°C, nhưng nếu nhiệt độ tăng cao hơn giá trị này thì sản lượng lại có chiều hướng giảm Tại những vùng vĩ độ trung bình đến vĩ độ cao, sự nóng lên chút ít đem lại lợi ích cho sản xuất ngũ cốc và chăn nuôi vùng đồng cỏ, nhưng sự tăng nhiệt độ này lại làm giảm sản lượng lương thực ở vùng nhiệt đới và khô hạn theo mùa Thời tiết cực đoan, đặc biệt là lũ lụt và hạn hán có thể gây hại cho cây trồng, giảm sản lượng Điều này gây ra các thách thức các vấn đề về dinh dưỡng, sức khỏe và sinh kế của phụ nữ và cộng đồng của họ [48,54,57,75,76]

Biến đổi khí hậu làm gia tăng hạn hán, từ đó có thể đe dọa đến các đồng cỏ là nguồn cung cấp thức ăn cho chăn nuôi Đối với động vật mà sống dựa vào lương thực thì những thay đổi trong sản xuất cây trồng do hạn hán cũng có thể trở thành một vấn đề Biến đổi khí hậu có thể làm tăng tỷ lệ ký sinh trùng và các bệnh ảnh hưởng đến hoạt

Trang 17

động chăn nuôi Mùa xuân bắt đầu sớm hơn và mùa đông ấm hơn có thể khiến một số

ký sinh trùng và các mầm bệnh tồn tại một cách dễ dàng hơn

Biến đổi khí hậu làm giảm sản lượng đánh bắt, nuôi trồng của các loài cá và động vật có vỏ Một số bệnh ảnh hưởng đến đời sống thủy sinh có thể trở nên phổ biến hơn trong nước ấm Thay đổi về nhiệt độ và sự dịch chuyển của các mùa có thể ảnh hưởng đến thời gian sinh sản và di cư Nhiều giai đoạn trong vòng đời của một động vật thủy sản bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ và thay đổi của các mùa

Trong khi xu thế về sản lượng lương thực và diện tích canh tác nông nghiệp có

chiều hướng giảm thì dân số thế giới vẫn tiếp tục tăng, từ mức 6.2 tỉ người vào năm

2010 có thể tăng lên 9.5 tỉ người vào năm 2050 Vì vậy, một câu hỏi lớn đặt ra cho thế giới là làm sao để cung ứng lương thực đủ nuôi sống dân số thế giới trong điều kiện cả đất đai và nguồn nước suy giảm [44] Theo đánh giá, BĐKH có thể trở thành động lực chủ đạo cho sự mất mát của các hệ sinh thái và đa dạng sinh học vào cuối thế kỷ này [38,39] Điều này ảnh hưởng nhiều đến người nghèo, phụ nữ - những người phụ thuộc nhiều vào các tài nguyên thiên nhiên đó [22]

Tình trạng suy dinh dưỡng và thiếu đói là nguyên nhân của hơn 3.5 triệu người chết mỗi năm trên toàn cầu, tuy nhiên giá trị này sẽ tiếp tục tăng lên trong bối cảnh BKH Các nghiên cứu chỉ ra vào năm 2050 sẽ có thêm 25 triệu trẻ em suy dinh dưỡng, chết đói do nguyên nhân từ thiếu đất canh tác và giá cả lương thực tăng [45] Tình trạng bất bình đẳng giới, phân chia lương thực thiếu cân bằng là nguyên nhân khiến trẻ em gái

bị suy dinh dưỡng bên cạnh lý do chịu ảnh hưởng mạnh từ việc thiếu lương thực Có thể lấy ví dụ từ Đông Nam Á, nơi mà bất bình đẳng giới xảy ra trong các gia đình và

xã hội, phụ nữ và trẻ em gái chịu rủi ro trong vấn đề cung cấp lương thực ngay cả khi tình trạng thiếu lương thực ít xảy ra [73]

Vào năm 2050, chúng ta cần thêm 40% lương thực, 30% lượng nước sử dụng, 50% nguồn năng lượng, tuy vậy trong bối cảnh BĐKH, đất đai gần như không thể tăng thêm diện tích Hơn nữa, trong bối cảnh BĐKH, nhiều đánh giá cho rằng vào năm

2050, sản lượng lương thực có thể bị suy giảm đến 50% ở một vài nước khu vực Châu Phi [44] Mặt khác, với tình trạng bất bình đẳng giới như hiện nay, nguồn tài nguyên trên thế giới khó có thể phân phối cân bằng cho phụ nữ, điều này rất đáng lo ngại Có nhiều vấn đề nghiêm trọng khi thiếu thốn lương thực, thực phẩm, tác động mạnh đến giới và đời sống phụ nữ

Tỷ lệ phụ nữ lao động trong nông nghiệp chiếm đa số tại các quốc gia đang phát triển, đặc biệt cao ở Châu Phi với 70%, chúng ta dễ dàng thấy tác động của BĐKH lên giới và đời sống phụ nữ tại các quốc gia này trong hoạt động sản xuất nông nghiệp

Trang 18

[26,27,30] Khi lượng giáng thủy trở nên khó dự báo, công việc của phụ nữ trong nông nghiệp trở nên cực nhọc hơn, họ phải đảm bảo được việc canh tác khi các điều kiện cho sản xuất nông nghiệp bị hạn chế chẳng hạn như phải làm thủy lợi, bơm nước chống hạn vào mùa khô và tiêu úng vào mùa lũ Các nghiên cứu chỉ rõ ra rằng nữ giới

bị ảnh hưởng nghiêm trọng hơn so với nam giới do thiếu lương thực, và hạn hán xảy

ra, suy giảm sản lượng lương thực gây tử vong cho phụ nữ nhiều hơn nam giới [69] Phụ nữ phải đối mặt với những rủi ro mất mùa do hạn hán và lũ lụt nhiều hơn nam giới với tỷ lệ 48% ở Burkina-Faso, 73% ở Công-gô và 64% ở Việt Nam [13,45] Bên cạnh đó, phụ nữ cũng tham gia vào hầu hết các công việc như cày cuốc, làm cỏ, thu hoạch, chuẩn bị đất, đập lúa, vận chuyển và sử dụng [56] Nghiên cứu được thực hiện bởi IFAD ở một số khu vực miền núi Ấn Độ cho thấy phụ nữ đảm nhiệm công việc trong nông nghiệp nhiều hơn nam giới từ 4,6 đến 5,7 lần và ở Nê-pan là từ 6,3 đến 6,6 lần [51] Lũ lụt và hạn hán không chỉ làm mất đi nguồn sinh kế chủ yếu của họ mà còn làm tăng gánh nặng trong công việc đồng áng Họ phải bỏ nhiều thời gian và công sức

để chuẩn bị đất, lấy nước, tưới nước, bảo vệ mùa màng khỏi sâu bệnh [7] Một số nghiên cứu cho thấy bất bình đẳng lan rộng và sâu sắc làm cho phụ nữ và trẻ em gái bị ảnh hưởng nghiêm trọng hơn và chết nhiều hơn nam giới trong bối cảnh BĐKH [59,62]

Trong điều kiện hiện nay, khi sản xuất nông nghiệp gặp khó khăn, việc sử dụng máy móc hỗ trợ và phân bón hóa học, thuốc trừ sâu là vô cùng cần thiết Tuy nhiên, nguy cơ về bất bình đẳng giới khiến cho phụ nữ không có cơ hội tiếp cận và điều kiện kinh tế để mua máy móc và phân bón, thuốc trừ sâu Ngoài ra, áp lực về sử dụng thời gian hoặc nhiên liệu như xăng dầu trong vận hành máy nông nghiệp khiến cho phụ nữ đặc biệt là phụ nữ ở nông thôn ít cơ hội, ít thời gian sản xuất, cơ hội lao động tăng thu nhập cho gia đình cũng thấp hơn, trái ngược với nam giới Thêm vào đó, BĐKH làm gia tăng sự mất mùa, phụ nữ gặp bất lợi do giảm thu nhập, lại thiếu các tài sản và quyền sở hữu tài sản nên khó khăn hơn khi đầu tư chuyển đổi sinh kế phù hợp hơn [32] Trái lại, nam giới thường được lợi thế hơn nên có thể chuyển đổi sang các công việc phi nông nghiệp khác, đi làm ăn xa nên dễ dàng vượt qua các tác động bất lợi kể trên

1.1.4 Tác động đến vấn đề sử dụng năng lượng

Hiện tại, có trên 1.6 tỉ người – chiếm gần ¼ dân số thế giới, đặc biệt là khu vực Nam Á, và khu vực Châu Phi gần Sahara thiếu khả năng tiếp cận với các nguồn năng lượng tân tiến của thế giới Có khoảng gần 2.4 tỉ người đang tiếp tục phải sử dụng năng lượng từ tự nhiên như củi đốt, chất thải nông nghiệp trong đun nấu, sinh hoạt, sưởi ấm, và con số này có thể tăng lên mức 2.6 tỉ người vào năm 2030 [49]

Trang 19

Có thể nhận thấy mối liên quan chặt chẽ giữa vấn đề sử dụng năng lượng và vấn đề giới Trong gia đình, việc đun nấu, chuẩn bị thực phẩm là công việc phụ nữ đảm nhận

Họ gặp rất nhiều khó khăn khi đun nấu, sử dụng năng lượng trong điều kiện thiếu điện năng Họ phải đi xa tìm kiếm nguồn cung cấp chất đốt, sức khỏe bị ảnh hưởng khi sử dụng chất đốt trong các bếp đốt truyền thống Nghiên cứu tại khu vực nông thôn châu Phi chỉ ra, nhiều phụ nữ phải mang vác khoảng 20kg củi khô và đi trùng bình 5km một ngày [49] Trong bối cảnh BĐKH, phụ nữ và trẻ em gái phải đi xa để thu thập chất đốt, nguy cơ bị tai nạn, tổn thương trong điều kiện thời tiết nắng nóng như say nắng, chóng mặt, ngất xỉu, stress và kiệt sức dễ xảy ra

Việc đưa vào sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo, giảm thiểu phát thải khí nhà kính quy mô hộ gia đình như bếp năng lượng mặt trời, đèn dùng pin mặt trời còn chưa được rộng rãi Tuy nhiên, việc đưa vào sử dụng nguồn năng lượng lại vấp phải vấn đề giá cả có thể gây kho khăn cho người dung có thu nhập thấp, đặc biệt là phụ nữ, vì việc sử dụng năng lượng này chiếm tỉ lệ cao trong thu nhập của họ [63]

Để tiếp cận được phương hướng giải quyết, cũng như tìm ra giải pháp phù hợp, một vài nghiên cứu chọn hướng tiếp cận về kinh tế - xã hội, nhằm giúp phụ nữ nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, đồng thời phát triển kinh tế đi đôi với nhận thức về bảo vệ môi trường [66]

1.1.5 Biến đổi khí hậu làm tăng gánh nặng lên sinh kế hộ gia đình

Phụ nữ và trẻ em gái chịu tác động mạnh do thiên tai và áp lực môi trường, đồng thời phải đảm nhận các công việc khắc phục hậu quả sau thiên tai [33] Điều này khiến thu nhập của họ bấp bênh, không có thời gian học tập, hơn nữa, các chi phí y tế gia tăng cao, cuộc sống của họ càng khó khăn hơn Tình trạng giáo dục thấp hạn chế phụ

nữ tiếp cận thông tin y tế hoặc các hệ thống cảnh báo sớm Điều này cũng có nghĩa là trẻ em gái và phụ nữ kiểm soát cuộc sống cá nhân của họ kém hơn

Khoảng gần 2/3 dân số thế giới sống ở các nước nghèo là phụ nữ, đối tượng chịu sự tổn thương mạnh của BĐKH Sự khác biệt về sức chịu tác động của BĐKH giữa nam giới và nữ giới liên quan đến các chuẩn mực xã hội chung, các giá trị truyền thống và

sự khác biệt về cơ cấu phân công lao động trong gia đình Phụ nữ trong gia đình phải chịu trách nhiệm về chuẩn bị thực phẩm, nhưng họ hiếm khi đánh giá, kiểm soát được nguồn thực phẩm cần thiết một cách chi tiết Vấn đề BĐKH tác động đến năng suất nông nghiệp, mất mùa, gây ảnh hưởng đến an ninh lương thực, gây nguy hại cho người dân trong các vùng nông nghiệp Hơn nữa, phụ nữ ít có cơ hội tìm hiểu về kiến thức công nghệ ứng dụng vào nông nghiệp, không có tiếng nói, không được tham gia đóng góp vào việc xây dựng các chương trình hành động về BĐKH, mặc dù tác động bất lợi của BĐKH gây ra cho phụ nữ là vô cùng nặng nề [33,36,46]

Trang 20

Phụ nữ cao tuổi có thể chịu gánh nặng trách nhiệm gia đình gây ra căng thẳng và mệt mỏi, họ ít cơ hội tham gia vào các hoạt động kinh tế xã hội rộng lớn hơn Họ ít có

cơ hội tiếp cận các dịch vụ cộng đồng cơ bản cho về ý tế, chăm sóc sức khoẻ, đặc biệt

là phụ nữ và nam giới lớn tuổi sống ở nông thôn, người thường không thể đi đến các

Những khái niệm về GNRRTT và thích ứng với BĐKH cũng được trình bày một cách có hệ thống trong Chương 1, tại mục 1.1.2 [24] Những khái niệm và nội dung này đều được thể hiện trong các chính sách lớn của Việt Nam Theo các trình tự thời gian, bắt đầu từ việc giảm nhẹ BĐKH, hạn chế những ảnh hưởng có hại của BĐKH, phòng và chống thiên tai, là 1 trong 9 lĩnh vực ưu tiên về môi trường trong Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (2004) Công tác phòng, chống thiên tai, đảm bảo phát triển bền vững được làm rõ trong Chiến lược quốc gia về phòng chống và giảm nhẹ thiên tai (2007) Trong Chiến lược quốc gia về BĐKH (2011), việc ứng phó với BĐKH, giảm nhẹ phát thải khí nhà kính gắn liền với phát triển bền vững, hướng tới một nền kinh tế các-bon thấp được coi là nội dung rất quan trọng Gần đây, trong Luật Phòng chống thiên tai (2013) những khái niệm như thiên tai, rủi ro thiên tai, phòng chống thiên tai đã được xác định cụ thể và chú trọng thực hiện ở các ngành và địa phương, dựa trên quan điểm phát triển bền vững [3,4]

Vai trò của cộng đồng trong chủ động ứng phó và phòng ngừa thiên tai, thích ứng với BĐKH cũng được đề cập trong hệ thống pháp luật ở Việt Nam Ở cấp quốc gia, Thủ tường Chính phủ (2009) đã có quyết định phê duyệt đề án nâng cao nhận thức cộng đồng về QLRRTT dựa vào cộng đồng năm 2009 Theo đó, các tỉnh xây dựng kế hoạch thực hiện đề án của từng tỉnh, phụ thuộc vào tình hình thiên tai và kinh tế - xã hội của mỗi tỉnh [24] Phương châm “bốn tại chỗ”: chỉ huy tại chỗ; lực lượng tại chỗ phương tiện, vật tư tại chỗ, và hậu cần tại chỗ là cách giao quyền làm chủ và trách

Trang 21

nhiệm quản lý rủi ro của chính quyền và tổ chức cộng đồng cấp cơ sở Phương châm này bắt nguồn từ kinh nghiệm trong công tác hộ đê và được mở rộng ra áp dụng cho lĩnh vực phòng chống và giảm nhẹ thiên tai Quá trình thực hiện các Phương châm này bắt đầu được cụ thể hóa trong các văn bản quy phạm pháp luật từ năm 2006 (Khoản d, Mục 7, Điều 10 trong chương III của Nghị định Số: 08/2006/NĐ-CP ngày 16/01/2006 của Chính Phủ) [6]

Khi các hiện tượng thời tiết cực đoan, thiên tai xảy ra, việc sử dụng các lực lượng sẵn có tại địa bàn để ứng cứu, hỗ trợ là nhanh nhất, hiệu quả nhất Các lực lượng tại chỗ thường là dân quân, dân phòng, đoàn thanh niên, các đội xung kích, các lực lượng quân đội đóng trên địa bàn Các lực lượng tại chỗ thực hiện ứng phó khẩn cấp như di dời dân chúng ở các khu vực xung yếu đến nơi trú ẩn an toàn, tham gia tìm kiếm cứu nạn , đảm bảo cung cấp các dịch vụ hậu cần như lương thực, nước sạch, thuốc men…

và khắc phục hậu quả của thiên tai như làm vệ sinh môi trường, phòng ngừa dịch bệnh, giúp đỡ các gia đình bị nạn… [6]

Khi xảy ra thiên tai, thảm hoạ môi trường, phụ nữ thường được đợi chờ để chăm sóc những người đau ốm Trách nhiệm này của họ luôn có xu hướng ngày càng tăng thêm, bởi các thành viên khác trong gia đình dễ bị ốm hơn do phải đương đầu với dịch bệnh hoành hành như: sốt rét hay bệnh tả, một căn bệnh xuất phát từ nước Việc chăm sóc này sẽ hạn chế thời gian của phụ nữ trong hoạt động tạo thu nhập Điều này lại đi đôi với việc chi phí thuốc men tăng cao do ốm đau, làm tăng mức nghèo đói Do đó, cũng làm giảm sự đóng góp với xã hội - giảm cả sự tham gia vào quá trình ra quyết định [46]

Mặc dù nữ giới và nam giới ở nông thôn có vai trò bổ sung cho nhau trong việc đảm bảo an ninh lương thực, nhưng vẫn thường thấy phụ nữ có vai trò lớn hơn trong việc quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên và đảm bảo dinh dưỡng Phụ nữ luôn gánh vác tất cả các khâu, từ nuôi trồng, chế biến, đến tiêu thụ các sản phẩm lương thực và các tài nguyên thiên nhiên khác Đồng thời họ lại lo toan cả những việc chăn nuôi gia súc, gia cầm, làm vườn, tìm kiếm chất đốt và nguồn nước sinh hoạt [45] Sự tham gia của phụ nữ trong hoạt động nông nghiệp là rất phổ biến ở mọi địa phương, mọi cộng đồng tộc người, mọi quốc gia Và cũng chính vì thế, họ cũng bị tác động nhiều nhất từ biến đổi khí hậu, đặc biệt ở khu vực tiểu sa mạc Sahara – châu Phi và châu Á Họ cũng lại gánh cả trách nhiệm thích ứng với biến đổi khí hậu, trong đó có cả việc ra tìm cách thay thế để nuôi sống gia đình mình [26, 27 30] Nói chung, phụ nữ luôn là người chịu trách nhiệm chính trong việc cung ứng lượng nước sinh hoạt cho gia đình, trong đó gồm cả nước dành cho chăn nuôi nhỏ Còn nam giới thường đảm nhiệm việc thuỷ lợi, tưới tiêu, nước cho đàn gia súc lớn hay trang trại theo kiểu công nghiệp Sự khác biệt

Trang 22

về vai trò, trách nhiệm như thế quy định phụ nữ và nam giới có những nhu cầu và ưu tiên khác nhau liên quan đến sử dụng nước

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu, được dự báo đến năm 2025 rằng 2/3 dân

số thế giới sẽ bị thiếu nước sinh hoạt Biến đổi khí hậu cũng dẫn đến sự gia tăng lụt lội

và giảm chất lượng nước Những điều này tác động đặc biệt tiêu cực đến phụ nữ, bởi vai trò quan trọng của họ gắn với sử dụng nước và những nguy cơ đặc thù khi có những thảm hoạ xảy ra Ở những khu vực dễ bị khô hạn, bị sa mạc hoá, thời gian kiếm tìm và vận chuyển nước về sẽ phải tăng lên Như thế, phụ nữ và trẻ em (chủ yếu là các

em gái) sẽ phải vất vả hơn [2,36,51]

Phụ nữ không chỉ là nạn nhân của biến đổi khí hậu, mà còn là nhân tố tích cực để giảm thiểu và thích ứng với nó Những kiến thức và kỹ năng mà phụ nữ đang sở hữu cần được sử dụng tích cực trong những chiến lược giảm thiểu tác nhân gây biến đổi khí hậu cũng như thảm hoạ và chiến lược thích ứng với biến đổi khí hậu [21] Những trách nhiệm mà phụ nữ đang gánh vác trong gia đình và cộng đồng, với tư cách là những người quản lý nguồn lực tự nhiên, đã đặt phụ nữ vào vị trí luôn phải đưa ra những chiến lược sinh kế để thích ứng với mọi biến đổi môi trường Mặc dầu vậy, phụ

nữ vẫn có xu hướng bị đứng ngoài việc ra quyết định về những vấn đề liên quan đến phát triển bền vững, trong đó bao gồm vấn đề biến đổi khí hậu Chính điều này đã hạn chế phụ nữ đóng góp những quan điểm và năng lực đặc biệt của họ trong ứng phó với biến đổi khí hậu [9]

1.3 Tác động của một số hiện tượng thời tiết cực đoan tới sức khỏe và đời sống

đề bình đẳng giới, và nghiên cứu về giới mới chỉ được lưu ý gần đây sau khi có báo cáo của UNDP và của IPCC vào 2007 Vấn đề về giới là vấn đề lớn liên quan đến

BĐKH thể hiện ở 2 khía cạnh:

 Phụ nữ, đặc biệt là ở các nước đang phát triển, chịu tác động của BĐKH và dễ bị

tổn thương hơn so với nam giới

 Hơn nữa, đàn ông và phụ nữ chịu tác động rất khác nhau bởi BĐKH

Khi xem xét các tác động liên quan đến vấn đề giới, các nghiên cứu cũng chỉ ra cụ thể tính dễ bị tổn thương của nhóm những người nghèo trong xã hội không chỉ do họ

Trang 23

phụ thuộc nhiều vào tài nguyên thiên nhiên, mà còn bởi họ thiếu hiểu biết liên quan đến các giải pháp thích ứng BĐKH Các báo cáo cũng nói thêm rằng phụ nữ, trẻ em chịu tác động do các thảm hoạ thiên nhiên và có nguy cơ tử vong cao hơn gấp 14 lần [28] Điều này có thể giải thích rằng vấn đề văn hoá – xã hội khi thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng: các cảnh bảo về thảm hoạ ở khu vực công cộng thường khó tiếp cận đối với phụ nữ là một ví dụ Hơn nữa trong lúc xảy ra các thảm hoạ, thiên tai do vấn đề về sức khỏe, sinh lý cũng như khả năng chống chịu kém hơn, phụ nữ thường chịu các rủi ro về sức khoẻ, tai nạn cao hơn nhiều so với nam giới Ngoài ra, sau thảm hoạ, việc khôi phục lại cuộc sống khó khăn hơn khi họ phải đối mặt với các công việc dọn dẹp, chăm sóc y tế Vì các lý do trên, họ ít cơ hội tham gia vào các công việc tăng thu nhập nhưng họ lại chịu nhiều rủi ro khi có thảm hoạ Đến năm 2030, chi phí cho bệnh tiêu chảy ở các vùng có thu nhập thấp ước tính gia tăng thêm khoảng 2-5% Vào năm 2050, ước tính sự gia tăng hàng năm là 5-18% đối với các cộng đồng thố dân ở Úc Các trường họp ngộ độc thực phẩm ước tính cũng sẽ tăng lên ở Vương quốc Anh khi nhiệt độ tăng từ 1-3°C [76]

Vào năm 2085, số người có nguy cơ bị bệnh sốt xuất huyết sẽ tăng lên do BĐKH, ước tính đạt khoảng 3.5 tỷ người Theo tổ chức y tế thế giới (WHO) đã chỉ rõ BĐKH

là nguyên nhân gây ra khoảng 140,000 cái chết mỗi năm [76] Trong điều kiện nghiên cứu rất khó để đưa ra được các dữ liệu chính xác về mối liên hệ giữa BĐKH và vấn đề sức khỏe con người Tuy nhiên, các tác động của BĐKH biểu hiện thông qua hiện tượng cực đoan trở nên nghiêm trọng hơn, thiên tai, thảm họa gây tử vong cho con người, bệnh dịch bùng phát… Nhiệt độ tăng cao có thể làm gia tăng lây truyền bệnh sốt rét ở một số địa điểm Việc này đã gây ra 300 triệu bệnh cấp tính và giết chết gần 1 triệu người mỗi năm [76] Phụ nữ mang thai đặc biệt dễ bị bệnh sốt rét vì họ "hấp dẫn" gấp hai lần so với phụ nữ không mang thai đối với muỗi mang sốt rét Một nghiên cứu

so sánh tương đối về "tính hấp dẫn" muỗi giữa phụ nữ mang thai và không mang thai ở nông thôn Gambia Trong khi mang thai, lưu lượng máu đến da tăng, giúp tản nhiệt, đặc biệt là ở tay và chân, bụng của phụ nữ mang thai nóng hơn trung bình 0,7°C so với phụ nữ không mang thai Có thể có sự gia tăng trong việc phát hành các chất dễ bay hơi từ bề mặt da và dấu hiệu lớn hơn từ người cho phép muỗi phát hiện những người này dễ dàng hơn trong phạm vi gần Thay đổi sinh lý và hành vi xảy ra trong khi mang thai có thể giải thích một phần rủi ro này tăng đối với sự nhiễm trùng [75] Sốt rét ở người mẹ làm tăng nguy cơ sẩy thai, sinh non, thai chết lưu và sinh nhẹ cân

Một số nghiên cứu đã tìm thấy sự gia tăng tỷ lệ biến chứng trong thai kỳ trong điều kiện khí hậu có nhiệt độ thấp, độ ẩm cao hoặc lượng mưa cao, với tỷ lệ tăng đặc biệt cao trong những tháng đầu tiên của mùa mưa [76]

Trang 24

Ngoài ra, phụ nữ dễ bị suy dinh dưỡng vì nhu cầu dinh dưỡng của họ ít, đặc biệt là khi họ đang mang thai hoặc cho con bú, và một số nền văn hóa đã phân cấp thực phẩm

hộ gia đình Ví dụ, ở Nam Á và Đông Nam Á, 45-60 % phụ nữ ở độ tuổi sinh sản bị thiếu cân và 80% phụ nữ mang thai thiếu sắt Ở vùng châu Phi cận Sahara, phụ nữ mang thai phải mang vác nặng hơn so với nam giới nhưng nhận được một lượng calo thấp hơn do quy chuẩn văn hóa là cho nam giới nhận được nhiều thực phẩm hơn [45] Đối với trẻ em gái và phụ nữ , tình trạng dinh dưỡng kém có liên quan đến tỷ lệ tăng của bệnh thiếu máu, mang thai và sinh nở, và tăng tỷ lệ thai nhi chậm phát triển trong

tử cung, sinh non và tử vong Theo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp (FAO), ở những nơi thiếu sắt là phổ biến, nguy cơ phụ nữ chết trong khi sinh có thể tăng lên đến 20% [45] Phụ nữ mang thai và cho con bú phải đối mặt với những thách thức khác như nhu cầu gia tăng về thực phẩm và nước, và tính năng động hạn chế của họ [65] Những yếu tố sinh học tạo ra những người dân dễ bị tổn thương trong một nhóm mà vốn đã có nguy cơ dễ bị tổn thương [75]

Tình trạng dinh dưỡng quyết định phần nào đến khả năng đối phó với những ảnh hưởng của thiên tai Các dự báo về rủi ro vào năm 2030 cho thấy sự gia tăng tình trạng thiếu đói, suy dinh dưỡng,các hậu quả khác liên quan tới tăng trưởng và phát triển của trẻ em, đặc biệt là ở Châu Phi, Châu Á [75]

Những phụ nữ đã phải chịu hậu quả gia tăng sau thảm họa, họ có thể bị ly tách ra khỏi gia đình, bạn bè và các hỗ trợ tiềm năng và các hệ thống bảo vệ khác Sau một thảm họa tự nhiên, phụ nữ có nhiều khả năng trở thành nạn nhân của bạo lực gia đình

và bạo lực tình dục, và có thể họ sẽ tránh sử dụng nơi trú ẩn do sợ hãi [76] Tâm lý căng thẳng có thể sẽ nghiêm trọng hơn sau khi thiên tai, đặc biệt là khi các gia đình phải di dời và phải sống trong tình trạng khẩn cấp hoặc nhà tạm Sự đông đúc, thiếu tính riêng tư và sự mất đi thói quen và mô hình sinh kế hàng ngày có thể góp phần dẫn đến sự tức giận, thất vọng và bạo lực, với trẻ em và phụ nữ - đối tượng dễ bị tổn thương nhất Trẻ em gái vị thành niên đặc biệt dễ bị quấy rối và lạm dụng tình dục cao

do hậu quả của thiên tai và họ phàn nàn về việc thiếu sự riêng tư trong nơi trú ẩn khẩn cấp [31]

1.3.1 Tác động của nắng nóng đối với sức khoẻ và đời sống xã hội của phụ nữ

Một số nghiên cứu, chủ yếu là ở các thành phố ở các nước đang phát triển, đã chỉ ra rằng tỷ lệ tử vong tăng lên khi nhiệt độ tăng, theo hai hướng, từ nhiệt độ tối ưu đối với dân số đó Do đó, có sự quan ngại rằng mặc dù nhiệt độ ấm hơn có thể dẫn đến tử vong ít hơn trong mùa đông, thì tỉ lệ này lại có khả năng tăng vào mùa hè Theo một số nghiên cứu ở nước Anh, số ca tử vong liên quan đến thời tiết lạnh do BĐKH được dự báo là giảm đi nhiều hơn số ca tử vong tăng do nắng nóng; nhiệt độ cứ tăng 2°C sẽ làm

Trang 25

tăng gấp đôi tỷ lệ tử vong hàng năm do các đợt nóng tại nhiều thành phố [54,57] Ước tính sự gia tăng số người có nguy cơ tử vong do nóng nực sẽ tăng nhưng khác nhau giữa các quốc gia, tùy thuộc vào địa điểm, số người có tuổi, và các biện pháp thích ứng tại chỗ

Có bằng chứng cho rằng tính dễ bị tổn thương là khác nhau tùy thuộc giới tính: số phụ nữ đã chết trong đợt nắng nóng châu Âu năm 2003 cao hơn nhiều so với nam giới,

và phần lớn các nghiên cứu châu Âu đã chỉ ra rằng phụ nữ có nhiều nguy cơ chết trong những sự kiện như vậy [54] Có thể có một số lý do sinh lý dẫn nguy cơ gia tăng ở phụ

nữ cao tuổi [34,47]

1.3.2 Tác động của bão đối với sức khoẻ và đời sống xã hội của phụ nữ

Trong tháng năm 2008, cơn bão Nargis đã đổ bộ vào Ayeyarwady của Myanmar Trong số 130,000 người chết hoặc mất tích sau cơn bão, 61% là nữ [2] Thảm họa bão trong năm 1991 đã giết chết 140,000 người ở Bangladesh , 90 % nạn nhân là phụ nữ [27] Tỷ lệ tử vong ở những người trong độ tuổi từ 20-44 là 71 trên 1000 phụ nữ, so với 15 trên 1000 nam giới [43] Giải thích cho điều này bao gồm thực tế là phụ nữ phải

ở nhà nhiều hơn nam giới, chăm sóc trẻ em và trông coi tài sản Thậm chí nếu có cảnh báo được ban hành, nhiều phụ nữ đã tử vong trong khi chờ đợi người thân của họ trở

về nhà để đưa họ đi cùng đến nơi trú ẩn an toàn Lý do khác cho rằng phụ nữ được ăn uống kém dinh dướng hơn và do đó ít có khả năng thể chất hơn để đối phó với những tình huống này so với nam giới [43]

Phụ nữ, và những người có tình trạng kinh tế xã hội thấp được cho là có nguy cơ lo

âu và rối loạn tâm trạng tương đối cao sau khi thảm họa [75,76] Một nghiên cứu về

rối loạn lo âu và tâm trạng (theo định nghĩa của ấn bản thứ tư của Chẩn đoán và thống

kê các rối loạn tâm thần; DSM-IV ) sau cơn bão Katrina cho thấy tỷ lệ mắc bệnh liên

quan tới các yếu tố sau: độ tuổi dưới 60 tuổi; là phụ nữ; trình độ học vấn thấp hơn cấp đại học; thu nhập gia đình thấp; tình trạng việc làm trước khi có bão (phần lớn là thất nghiệp và người tàn tật); và là người chưa kết hôn

1.3.3 Tác động của nước biển dâng, mưa lớn và lũ lụt đối với sức khoẻ và đời

sống xã hội của phụ nữ

Biến đổi khí hậu làm gia tăng mực nước biển, tăng nguy cơ lũ lụt và nhân rộng hiểm họa đối với sức khỏe Tuy nhiên, chỉ có một số ít nghiên cứu và phân tích giới có tính hệ thống về tình trạng sức khỏe do ngập lụt [64] Đến năm 2030, lũ lụt vùng ven biển được dự đoán sẽ gây ra sự gia tăng lớn tỉ lệ tử vong Nhìn chung, dân số có nguy

cơ chịu lũ lụt dự kiến tăng lên từ 2 đến 3 lần vào năm 2080 Nhiễm mặn nguồn nước phục vụ sản xuất, sinh hoạt dự kiến sẽ trầm trọng hơn do biến đổi khí hậu và nước biển dâng [63, 65]

Trang 26

Các hậu quả về sức khỏe có thể có của các mối nguy hiểm liên quan đến lũ lụt và bão gây ra mất thu nhập và sinh kế, liên quan đến khía cạnh giới mạnh mẽ [45,75] Phụ nữ thường là người chăm sóc chính của gia đình, chịu gánh nặng về quản lý và nấu thức ăn, lấy nước uống, và chăm sóc của các thành viên gia đình và vật nuôi Nghiên cứu phát hiện thấy sự ngập úng ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của phụ

nữ trong các cộng đồng Hiện tượng phổ biến dễ quan sát được là nguồn bệnh truyền bệnh qua nguồn nước gia tăng Sau mỗi trận lụt, nguồn nước bị ô nhiễm, các loài trung gian truyền bệnh phát tán theo nước ô nhiễm, điển hình có muỗi, các côn trùng [76] Hàng năm, các bệnh do nguyên nhân từ nguồn nước bị nhiễm bẩn chiếm tỉ lệ cao, tới hơn 80% số ca bệnh do nguồn nước, các bệnh phổ biến như sốt rét, tiêu chảy… liên quan đến hậu quả sau mỗi thảm họa [20] Phụ nữ buộc phải ở gần cộng đồng và uống nước không hợp vệ sinh, như nước giếng khoan thường xuyên bị ô nhiễm Phụ nữ mang thai thường gặp khó khăn di chuyển trong điều kiện trơn trượt và do đó thường

bị buộc phải ở trong nhà Các nhân viên y tế đã báo cáo rằng các vấn đề phụ khoa do

sử dụng nước mất vệ sinh có xu hướng ngày càng tăng Do nam giới thường ra khỏi khu vực này để tìm việc làm, họ thường không bị ảnh hưởng nghiêm trọng như phụ nữ [57]

Trẻ em gái và phụ nữ này có thể tiếp cận với kỹ năng sống quan trọng ngày càng ít hơn do các chuẩn mực giới hay kỳ vọng xung quanh hành vi được coi là "phù hợp" Ví

dụ, ở một số nước Mỹ Latinh và châu Á, phụ nữ và trẻ em gái thường không được dạy bơi, vì các lý do của sự khiêm tốn [27,30] Trong bối cảnh Nam Á, chuẩn mực xã hội điều tiết quy tắc ăn mặc phù hợp với khái niệm của sự khiêm tốn có thể cản trở phụ nữ

và trẻ em gái học bơi, việc này có thể làm giảm cơ hội sống sót trong thảm họa lũ lụt [21]

1.3.4 Tác động của hạn hán đối với sức khoẻ và đời sống xã hội của phụ nữ

Trên toàn cầu, các nguồn tài nguyên nước ngọt được phân bố không đều, và các khu vực khan hiếm nước nghiêm trọng nhất là những nơi có mật độ dân số cao nhất Các tác động đến sức khỏe của hạn hán và khía cạnh giới của nó có thể trầm trọng thêm trong bối cảnh biến đổi khí hậu Dự kiến số lượng người sống trong lưu vực sông khan hiếm nước sẽ tăng từ khoảng 1,5 tỷ người hiện nay lên 3-6 tỷ người vào năm 2050 [29] Gần 90% bệnh tiêu chảy là do thiếu tiếp cận với nước sạch và vệ sinh môi trường [76]; tình trạng thiếu nước do hạn hán và những tác động của BĐKH có thể khiến tình hình trầm trọng hơn Bệnh tiêu chảy ở các nước đang phát triển là nguyên nhân hàng đầu tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi [75] Hơn nữa, khi nước khan hiếm, các hoạt động vệ sinh thường phải nhường chỗ cho các nhu cầu dùng nước cấp bách hơn, chẳng hạn như uống và nấu ăn Sự thiếu vệ sinh có thể dẫn đến các bệnh như đau mắt hột và bệnh

Trang 27

ghẻ…Gần một nửa cư dân đô thị ở châu Phi, châu Á và Mỹ Latin đã là nạn nhân của bệnh liên quan đến cấp nước và vệ sinh kém [76]

Hạn hán kéo dài không chỉ liên quan đến tình trạng thiếu nước và an ninh lương thực mà còn làm tăng nguy cơ các vụ cháy, giảm nguồn nhiên liệu sẵn có, xung đột, di

cư, hạn chế tiếp cận chăm sóc sức khỏe và gia tăng đói nghèo Đã có một vài nghiên cứu về hậu quả của hạn hán đối với sức khỏe con người, nhưng tất cả các nghiên cứu

để chỉ chỉ ra rằng các tác động lên nam giới và phụ nữ là khác nhau

Trong thời gian khan hiếm nước phụ nữ có ít lựa chọn và buộc phải lấy nước từ những nguồn không an toàn, bao gồm sông suối, ao nuôi, những nguồn có thể bị ô nhiễm Hạn hán và khô hạn có thể dẫn đến bất ổn xã hội, an ninh lương thực và các vấn đề sức khỏe lâu dài và có thể gây thiệt hại hoặc phá hủy sinh kế liên quan [76]

Ở hầu hết các nước đang phát triển, phụ nữ chịu trách nhiệm thu thập, lưu trữ, bảo

vệ và phân phối nước Với phụ nữ, hành trình dài đi bộ vào các giếng gần nhất và mang những chậu nước nặng không chỉ gây ra mệt mỏi và hại cho xương, cột sống, các cơ cổ và lưng dưới, dẫn đến lão hóa sớm của cột sống mà còn đi kèm với chi phí

cơ hội, chẳng hạn như thời gian đó có thể được sử dụng hiệu quả bằng cách đi học hoặc làm việc [28,44,62,63] Do sức khỏe không đảm bảo, lượng nước thu được thường không đủ để dùng cho các nhu cầu sinh lý cơ bản của con người Theo một nghiên cứu về nhu cầu nước và sức khỏe của phụ nữ ở Ghana, những người phụ nữ duy trì chuẩn mực truyền thống đặc biệt dễ bị tổn thương trong tình trạng khan hiếm nước, như họ thường ưu tiên cho những người chồng của họ, đảm bảo nhu cầu nước của người chồng được đáp ứng trước khi đến lượt họ [26,30]

Một nghiên cứu về quản lý hạn hán ở Ninh Thuận, Việt Nam cho thấy 64% người được hỏi đồng ý rằng thảm họa tái diễn có ảnh hưởng khác nhau đối với phụ nữ và nam giới, và 74% số người được hỏi cho rằng phụ nữ đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng hơn so với nam giới bởi hạn hán, do nhu cầu nước khác nhau Phụ nữ phải lấy nước từ những nguồn đang ngày càng xa hơn do hạn hán Do nguồn nước ngày càng ít hơn, phụ nữ thường đi bộ xa để tìm nước Phụ nữ còn phải nấu ăn, dọn dẹp, chăm sóc trẻ

em và kiếm củi, vì vậy họ phải đối mặt với gánh nặng vật chất khổng lồ hàng ngày [21]

Trang 28

CHƯƠNG II: ĐỊA ĐIỂM, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 2.1 Địa điểm nghiên cứu

2.1.1 Khái quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội của khu vực nghiên cứu

Hoài Nhơn là một huyện nằm ở phía Bắc của tỉnh Bình Định, cách thành phố Quy Nhơn khoảng 100km Xã Hoài Hải có diện tích đất tự nhiên nhỏ nhất với 501 ha, trong

đó 439 ha là đất nông nghiệp và nghề nghiệp chính của người dân nơi đây là đánh bắt

cá và nuôi trồng thuỷ sản

Hoài Hải là một xã vùng ven biển của thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định, Việt Nam

Xã được tách ra từ thôn Kim Giao của xã Hoài Hương và thôn Diêu Quang của xã Hoài Mỹ Xã được thành lập vào năm 1992 Xã Hoài Hải là một xã vùng ven biển của thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định dài và hẹp Cách Quy Nhơn 100 km về phía Nam và cách tuyến đường quốc lộ 1A 14 km về phía Đông Phía nam xã Hoài Hải là núi và rừng, phía tây tây nam giáp xã Hoài Mỹ, phía tây giáp sông Lại Giang, phía Bắc là cửa biển An Dũ, phía đông giáp biển Đông Bên kia sông Lại Giang là xã Hoài Mỹ (phía nam) và xã Hoài Hương (phía bắc) Nhìn từ trên xuống, xã Hoài Hải có hình như mũi kiếm Do địa thế như vậy nên xã Hoài Hải có thể được xem là một hòn đảo Năm

2008, xã được nhà nước công nhận là xã bãi ngang Xã Hoài Hải là một xã vùng ven biển của thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định dài và hẹp

Xã Hoài Hải có 5 thôn với 1744 hộ (7238 người) Tổng số hộ nghèo của xã là 269

hộ, tỷ lệ hộ nghèo và hộ cận nghèo tương ứng là 15% và 20,4% Tỷ lệ gia tăng dân số

Trang 29

phát thanh và truyền thông trực tiếp qua các cuộc họp thôn Ở xã Hoài Hải, có 13 loa phát thanh ở 5 thôn, và có khoảng 70% người dân có thể nghe thông tin qua loa phát thanh

Tại Hoài Hải, hội phụ nữ được đánh giá là hoạt động tương đối hiệu quả Các ban ngành đoàn thể, tổ chức khác, phụ nữ có thể tham gia, tuy nhiên họ chủ yếu đóng vai trò thành viên, và số lượng phụ nữ “có tiếng nói quyết định” còn thấp Do quan niệm cho rằng “nam giới thì khoẻ mạnh, có thời gian và năng lực để trở thành nhà lãnh đạo trong khi phụ nữ không có thời gian để tham gia vào việc ra quyết định”, phụ nữ hiếm khi được bầu làm lãnh đạo trong các tổ chức cộng đồng Nam giới thường là chủ hộ, đứng tên trong hộ khẩu, trừ khi chồng chết, bị tàn tật hoặc phụ nữ làm mẹ đơn thân Điều này được cho là phổ biến ở địa phương

Hình 1: Bản đồ hành chính huyện Hoài Nhơn

Trang 30

Khí hậu ở khu vực này được phân chia thành 2 mùa riêng biệt Tháng 7 và tháng 8

là mùa khô, tháng 10 và tháng 11 là mùa mưa Ở xã Hoài Hải, hầu hết đất là đất cát, và cát pha sét ở gần sông Khu vực xã Hoài Hải có thể được phân chia thành 2 nhóm dân cư: một nhóm sống ở khu vực thấp, dọc theo bờ sông và một nhóm sống ở lưu vực sâu trong khu vực cát cao hơn Bởi vì các khu vực khác được bao bọc bởi sông Lại Giang

và biển, hầu hết nước giếng ở đây bị nhiễm mặn Chất lượng nước giếng được đánh giá là không đảm bảo cho nhu cầu sinh hoạt Tuy nhiên, một vài giếng ở khu vực bờ sông thì không bị nhiễm mặn và có thể sử dụng để giặt giũ Ở thôn Kim Giao Nam, Kim Giao Thiện và Diêu Quang, ở độ sâu 6 – 8m, có nước nhưng bị nhiễm phèn và vôi Chất lượng nước giếng được đánh giá là không sạch, không hợp vệ sinh và còn bị nhiễm bẩn Chính vì vậy, người dân thường phải mua nước sinh hoạt

Hình 2: Hệ thống xử lý nước ở xã Hoài Hải (do UNICEF tài trợ) hiện không

hoạt động

Hình 3: Bản đồ nước và vệ sinh xã Hoài Hải

Trang 31

Ở xã Hoài Hải, khu vực bờ sông thường bị ngập vào mùa mưa từ tháng 8 đến tháng

10 âm lịch Điểm ngập sâu nhất vào khoảng 4m, nhiều hộ gia đình phải di chuyển đến nơi ở khác Hệ thống thoát nước mưa được xây dựng và hoạt động tốt ở khu tái định

cư thôn Diêu Quang nhưng hiện nay đang bị xuống cấp do ứ đọng nghiêm trọng

Do khó khăn trong việc đảm bảo nguồn nước sinh hoạt, năm 1996, Uỷ ban nhân dân tỉnh hỗ trợ cho xã, xây dựng 02 giếng đào ở xã Hoài Mỹ, dẫn nước từ các giếng đào đến cấp nước sinh hoạt cho nhân dân xã Hoài Hải Đây là nguồn nước chính sử dụng cho sinh hoạt của các hộ gia đình ở Hoài Hải Quy mô xây dựng gồm 02 giếng đào (nguồn cấp), 5 bể chứa công cộng có dung tích 24 m3, mạng đường ống từ giếng đến các bể chứa Nước không được xử lý, bơm cấp trực tiếp; Công suất thiết kế 120

m3/ngày đêm, cấp cho 918 hộ gồm các thôn Kim Giao Bắc, Kim Giao Trung, Kim Giao Nam; việc quản lý hệ thống được giao cho Ủy ban nhân dân xã quản lý; người dân có nhu cầu dùng nước thì tập trung đến các vị trí bể công cộng để lấy nước và đóng phí nước hàng tháng, một số hộ gia đình không dùng nước từ bể (do nhà ở xa bể) phải mua nước từ xe téc chở đến đầu ngõ, các hộ gia đình dùng can ra mua nước tự mang về nhà dùng Người dân địa phương cũng thường mua nước đóng bình để uống trực tiếp Tuy nhiên, hiện nay có 3 trên 5 bể chứa không hoạt động do chỉ còn 01 giếng hoạt động, do đường ống nước bị vỡ, biến dạng, lưu lượng nước của giếng đào không đảm bảo, bơm hỏng không đủ cột áp để bơm đẩy đến các bể xã trong xã, bể chứa bị nứt nẻ do không sử dụng làm thất thoát nước, chất lượng nước kém Công suất thực tế hiện nay là 30 m3/ngày-đêm, thời gian cấp 3 giờ/ngày, số hộ được cấp nước 125 hộ

Rõ ràng với việc khai thác nước như trên thì chất lượng nước không đảm bảo về lượng nước sạch/người/ngày Bên cạnh đó, thời gian đi lại để lấy nước và chi phí tốn kém, ảnh hưởng đến điều kiện kinh tế từng hộ gia đình, trong khi thu nhập của người dân trong xã còn quá thấp Việc lấy nước sinh hoạt của các hộ dân đều do phụ nữ hoặc trẻ

em gái đảm nhận, vô hình chung đã tăng áp lực công việc cho nữ giới

Hình 4: Các bể chứa nước tập trung ở xã Hoài Hải

Trang 32

2.1.2 Đặc điểm khí hậu ở khu vực nghiên cứu

Bình Định là tỉnh có tổng lượng mưa lớn nhất khu vực duyên hải Nam Trung Bộ, khoảng 1600 – 3000 mm Tuy nhiên, sự phân phối mưa theo không gian và thời gian ở Bình Định rất không đồng đều, lượng mưa năm trung bình ở nơi mưa nhiều nhất và nơi mưa ít nhất chênh nhau rất lớn, đạt 242mm gây nhiều bất lợi cho sự phát triển dân sinh, kinh tế của tỉnh

Do sự phân bố bất hợp lý đó dẫn đến mùa mưa rất dư thừa nước, thường xảy ra lũ lụt, thiệt hại về dân sinh và kinh tế ở Bình Định, ngược lại trong các tháng mùa khô ít mưa thường bị khô hạn, thiếu nước phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt

Nhiệt độ trung bình ngày ở Bình Định thuận lợi cho các hoạt động dân sinh, sinh

kế Tuy nhiên, trong những tháng gió mùa mùa hạ có từ 22 – 25 ngày nhiệt độ trung bình ngày lên trên 30 độ C lại xảy ra trong thời kỳ ít mưa

Độ ẩm tương đối trung bình năm ở Bình Định dao động từ 79 – 83%, phân bố không có quy luật chung rõ rệt theo không gian

Hàng năm, đều có xuất hiện nhiều ngày gió Tây khô nóng, trung bình vùng ven biển như xã Hoài Hải, huyện Hoài Nhơn có khoảng 15 – 40 ngày Gió Tây khô nóng xuất hiện với nền nhiệt độ không khí khá cao, độ ẩm thấp và bốc hơi lớn ảnh hưởng rất nhiều đến đời sống và sản xuất Thời kỳ xuất hiện gió Tây khô nóng thường trùng với lúc dòng chảy trên các sông, suối đã cạn kiệt càng làm gia tăng mức độ khô hạn, gây nhiều bất lợi với cây trồng, vật nuôi

Trên hầu hết các vùng thuộc tỉnh Bình Định, nhất là vùng đồng bằng ven biển có số giờ nắng khá cao, trung bình hàng năm từ 2350 – 2500 giờ, phân bố tương đối đều theo thời gian

Do vị trí địa lý của tỉnh nằm ở khu vực Nam Trung Bộ, phía Đông dãy Trường Sơn; điều kiện địa hình phức tạp, tỉnh Bình Định thường chịu ảnh hưởng kết hợp hoặc riêng

lẻ của các hệ thống thời tiết lớn như bão, áp thấp nhiệt đới, gió mùa Đông Bắc, dải hội

tụ nhiệt đới…Chính những loại hình thế trên là nguyên nhân chủ yếu gây mưa to, lũ lụt lớn, gió mạnh tàn phá…[14]

2.1.3 Một số biểu hiện của Biến đổi khí hậu khu vực nghiên cứu

a Biến đổi nhiệt độ

Theo Phạm Việt Hùng, Tai biến thiên nhiên ở tỉnh Bình Định và các giải pháp thích ứng, giảm nhẹ: Nhiệt độ trung bình đo được tại trạm thuộc thành phố Quy Nhơn, giai đoạn 1981 – 1990 là 27oC; biến thiên nhiệt độ trung bình năm của thời kì là – 0,14oC, biến thiên nhiệt độ trung bình tháng 1, tháng 7 lần lượt là 0,36oC và 0,02oC Giai đoạn

1991 – 2000 nhiệt độ trung bình tăng lên 27,2oC; biến thiên nhiệt độ trung bình năm

Trang 33

của thời kì là 0,1oC, biến thiên nhiệt độ trung bình tháng 1, tháng 7 lần lượt là 0,25oC

và 0,11oC Giai đoạn 2001 -2012, nhiệt độ trung bình tăng lên 27,3oC; biến thiên nhiệt

độ trung bình năm của thời kì là 0,12oC, biến thiên nhiệt độ trung bình tháng 1, tháng 7 lần lượt là 0,1oC và 0,16oC Kết quả khảo sát, tính toán cho thấy, nhiệt độ trung bình năm có xu hướng tăng lên rõ rệt, biến thiên nhiệt độ ngày càng lớn

Kết quả khảo sát của Sở KHCN tỉnh Bình Định cũng chỉ ra rằng, các tháng mùa khô nhiệt độ tăng lên cao, số tháng có nhiệt độ trên 28oC trước đây chỉ là 4 tháng, hiện nay

đã tăng lên 5 -6 tháng Số giờ nắng trung bình tăng lên, trước đây, năm 2000 chỉ có 2217,4 giờ; tuy nhiên, đến năm 2012, số giờ nắng tăng lên 2562,2 giờ

Nắng nóng kết hợp gió Tây trong mùa khô, nhiệt độ cao, lượng bốc hơi lớn kéo dài

và thêm vào đó là địa hình dốc, sông ngắn không trữ được nhiều nước trong mùa mưa gây nên tình trạng hạn hán rất nghiêm trọng tại Hoài Hải nói riêng và Bình Định nói chung Mùa khô kéo dài 8 tháng, hàng năm thường bị hạn hán xảy ra vào vụ hè thu và

vụ mùa [14]

b Biến đổi lượng mưa

Theo Phạm Việt Hùng, Tai biến thiên nhiên ở tỉnh Bình Định và các giải pháp thích ứng, giảm nhẹ: Lượng mưa trung bình thời kì 1980-1990 tại Quy Nhơn là 1870,8mm, thời kì 1991-2000 là 2063,9mm, thời kì 2001- 2008 là 1923,0mm, so với trung bình nhiều năm (1980-2008) là 1918,0mm Tính ra chênh lệch thời kì 1980-1990 so với trung bình nhiều năm là –47,2mm; thời kì 1991- 2000 là 145,8mm và thời kì 2001-

2008 là 5,0mm Số liệu trên cho thấy lượng mưa diễn biến thất thường và có xu hướng tăng lên, một số năm lượng mưa rất lớn với hơn 2800mm (năm 1998 là 2889mm) Số ngày mưa lớn trong năm cũng có xu hướng tăng

Một năm trung bình có tới 137 ngày mưa, thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường cho thấy thập kỉ 1980-1990 số ngày mưa lớn và rất lớn rất ít (ít hơn trung bình thời kì 1980-2012 từ 4 – 7 ngày, nhưng thời kì 2000-2012 số này mưa lớn và rất lớn tăng hơn trung bình trên 1-2 ngày Mưa to bất thường thường tập trung vào một khoảng thời gian ngắn đã gây ra hậu quả rất lớn: như xói lở, sạt lở bờ biển và ảnh hưởng trực tiếp đến các ngành nông nghiệp, đánh bắt thủy sản, thủy lợi

Trang 34

Bảng 1 Số ngày mưa lớn trên 50 mm tại Bình Định trung bình nhiều năm,

1971-2008

bắt đầu

Năm kết thúc

Hoài

Nhơn

0,00 0,00 0,00 0,00 0,00 0,00 0,00 0,03 0,00 0,13 0,10 0,00

Nguồn: Phạm Việt Hùng, [14]

c Hiện tượng nước biển dâng và xâm nhập mặn

Hiện tượng nóng lên của toàn cầu làm cho băng tan ở hai cực và là nguyên nhân dẫn đến nước biển dâng Hoài Nhơn nói riêng và Bình Định nói chung có đường bờ biển dài hơn, thống kê của Đài Khí tượng Thủy văn khu vực Nam Trung Bộ năm 2004 trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến 2012 mực nước biển ở tỉnh Bình Định nói chung và Hoài Hải, Hoài Nhơn nói riêng tăng lên nhanh chóng và có xu thế ngày càng tăng Bảng dưới ghi lại kết quả đo đạc tại trạm hải văn Quy Nhơn :

Bảng 3: Mực nước biển trung bình tại Trạm hải văn Quy Nhơn (cm)

Năm 2000 2002 2004 2006 2008 2010 2012

Nguồn :Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bình Định, Báo cáo tổng kết

công tác PCLB và TKCN (2003 – 2010), từ năm 2003 đến năm 2010.)

Như vậy, ta thấy trong khoảng thời gian từ 2000 – 2012 mực nước biển đã dâng lên 3cm Theo dự báo, trong tương lai mực nước biển ở Bình Định sẽ tăng với tốc độ 2,5mm/năm Với đặc thù là một xã ven biển, Hoài Hải chịu tác động mạnh nếu mực nước biển tăng nhanh, kéo theo đó là xâm nhập mặn Các thôn của Hoài Hải hầu hết đều không khai thác được nguồn nước ngầm do bị nhiễm mặn và phèn Hiện tượng xâm nhập mặn xảy ra trên địa bàn rất đáng lo ngại, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp của người dân địa phương

Trang 35

Hoài Hải chịu ảnh hưởng của nhật triều không đều, thời gian trong tháng khoảng 20 ngày nhật triều Biên độ nhật triều từ 1,2 – 2,2m Mùa mưa nếu trận mưa trùng với biên độ của triều cường có thể gây ra sự chênh lệch từ 0,4 – 0,6m, trong tương lai khi mực nước biển dâng theo các kịch bản biến đổi khí hậu có thể gây ra sạt lở đất và ngập lụt ven biển

d Bão và áp thấp nhiệt đới

Theo Phạm Việt Hùng, bão là loại hình thời tiết nguy hiểm thường xuất hiện ở Bình Định từ tháng 9 đến tháng 11, khả năng tập trung vào tháng 9 là 20%, tháng 10 khoảng 40% [14] Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, các tỉnh thành duyên hải Trung Bộ (trong đó có Bình Định) thường xuyên gánh chịu khoảng 70% tổng số các cơn bão đổ bộ vào nước ta, trong đó, có từ 60-65% số cơn bão có sức mạnh từ cấp 8-

12 Gió bão thường đi kèm với triều cường ven biển nên hậu quả gây ra đối với môi trường và đời sống sản xuất của nhân dân là rất lớn Cũng theo Nguyễn Đức Tôn, Bình Định trung bình có một cơn bão ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp mỗi năm Theo thống kê giai đoạn sau năm 1975 đến nay, số lượng các cơn bão khoảng 1,13 cơn bão/năm, trong khi giai đoạn trước đó con số này là 0,7 Xu hướng chung cho cả thời

kì khảo sát là số cơn bão mỗi năm có xu hướng tăng Thường trong những năm có La Nina và El Nino cao hơn trung bình nhiều năm khoảng 1 cơn, trong đó thời kì có La Nina cao hơn thời kì có El Nino (3,4 so với 2,1 cơn) Bình Định là một trong những tỉnh chịu số lượng các cơn bão nhiều nhất từ biển Đông và có xu hướng tăng theo thời gian [12]…

Trang 36

Bảng 4: Tần suất bão đổ bộ vào các vùng bờ biển Việt Nam, 1961-2008 Vùng bờ biển T4 T5 T6 T7 T8 T9 T10 T11 T12

Trang 37

Bảng 5: Một số cơn bão lớn (từ cấp 8 trở lên) xuất hiện trên vùng bờ biển

Bình Định – Ninh Thuận từ năm 1981 đến 2014) Tên Vùng Bờ Biển Thời Gian Xuất

Hiện Tên Cơn Bão Cấp Gió

Cấp 11 (103 – 117 km/h)

Trang 38

cơn/10 năm từ 1995 – 2004 và 4 cơn/10 năm từ 1985 – 1994 Có thể thấy, bão mạnh tác động đến Bình Định có xu hướng tăng lên một phần do tác động của BĐKH

Thông thường mùa mưa bão bắt đầu từ tháng 9, tập trung chủ yếu vào tháng 10, tháng 11 và kết thúc vào tháng 12 Tuy nhiên, gần đây các cơn bão có xu hướng xuất hiện sớm hơn với cường độ mạnh hơn, điển hình là cơn bão số 2 xảy ra ngày 11/6/2004 với sức gió cấp 7, cấp 8, giật trên cấp 10 kèm theo mưa lớn trên diện rộng gây thiệt hại rất lớn Hàng năm, khả năng xuất hiện một cơn bão lớn chiếm 39%, khả năng không có trận bão nào chiếm 35% và có từ 3 cơn bão đến 4 cơn bão chỉ chiếm 4% đến 5% [14]

2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.2.1 Đối tượng

- Vai trò của phụ nữ trong các hoạt động thích ứng với BĐKH,

- Tác động của một số hiện tượng thời tiết cực đoan xảy ra tại địa phương đối với sinh kế và đời sống của người dân bao gồm bão, lũ lụt, hạn hán, nắng nóng kéo dài, mưa lớn kéo dài, nước biển dâng, xâm nhập mặn, sạt lở bờ biển, vỡ đê…

- Các hoạt động thích ứng với BĐKH trong cộng đồng xã Hoài Hải, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định Bao gồm thích ứng trong các lĩnh vực: điều kiện sống cơ bản, trồng trọt, chăn nuôi gia súc/gia cầm, nuôi trồng thủy sản, đánh bắt hải sản, buôn bán, kinh doanh dịch vụ, an toàn cộng đồng, sức khỏe & môi trường

- Phạm vi nghiên cứu về nội dung: Nghiên cứu thích ứng với BĐKH có nhiều nội dung Tuy nhiên, trong khuôn khổ của luận văn thạc sỹ, nghiên cứu này nhấn mạnh đến phạm vi nghiên cứu các hoạt động thích ứng với BĐKH trong các lĩnh vực đời sống sinh hoạt, chăn nuôi gia súc, gia cầm, trồng trọt, đánh bắt hải sản, nuôi trồng thủy sản, buôn bán kinh doanh, dịch vụ, an toàn xã hội, sức khỏe và môi trường… qua việc nghiên cứu thực trạng và cảm nhận của người dân, hậu quả và cách ứng phó của người

Trang 39

dân Từ đó nhấn mạnh đến vai trò của phụ nữ trong các hoạt động thích ứng với

BĐKH và tìm ra giải pháp để tăng cường bình đẳng giới dưới tác động của BĐKH 2.3 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu này sẽ sử dụng các phương pháp nghiên cứu như sau:

2.3.1 Phương pháp thu thập, thống kê, tổng hợp tài liệu thứ cấp

Phương pháp này được thực hiện trên cơ sở kế thừa, phân tích và tổng hợp các nguồn tài liệu và số liệu thông tin có liên quan một cách có chọn lọc, từ đó, đánh giá chúng theo yêu cầu và mục đích nghiên cứu Cụ thể:

Sử dụng các tài liệu, số liệu về kinh tế - xã hội cho đánh giá điều kiện kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu Số liệu này được thu thập từ nguồn của UBND xã Hoài Hải, bao gồm Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội năm 2014 và Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội

6 tháng đầu năm 2015 và nhiệm vụ, giải pháp 6 tháng cuối năm 2015 Ngoài ra, còn có bảng tổng hợp thông tin nền của địa phương (Phụ lục 3) Các số liệu nền này sẽ là cơ

sở để tìm hiểu tổng quan về khu vực nghiên cứu

2.3.2 Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia

PRA là một trong những cách tiếp cận mới để thay thế phương pháp lỗi thời (áp đặt) trong phát triển nông thôn Nó được dựa trên kinh nghiệm địa phương, nơi các cộng đồng quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên của họ một cách có hiệu quả PRA là phương pháp có sự tham gia đồng tình của người dân, là một thành phần căn bản trong việc xây dựng kế hoạch đề án; điều đó duy trì được các kỹ thuật địa phương cũng như duy trì các hệ thống bền vững của sinh thái, kinh tế, chính sách; và những khởi điểm phát triển bền vững thật sự đó sẽ hợp thành những cách tiếp cận mà chính các cộng đồng địa phương có thể quản lý và kiểm soát

Các kỹ thuật PRA được sử dụng cho các chủ đề nghiên cứu khác nhau

Trang 40

KHẢO SÁT THĂM DÒ HỆ THỐNG CANH TÁC ( Sơ đồ mặt cắt/ quan sát trực tiếp; Lịch thời vụ;

Các bản đồ xã hội/ tài nguyên) XÁC ĐỊNH NHÓM MỤC TIÊU ( Bản đồ xã hội ; Xếp hạng giàu nghèo)

XÁC ĐỊNH VẤN ĐỀ ( Xếp hạng cặp đôi/ Cây vấn đề) ĐIỀU TRA TÍNH CHẤT CỦA VẤN ĐỀ ( Phỏng vấn SSI ; Sơ đồ mặt cắt/ quan sát trực tiếp; Vẽ bản đồ)

XÁC ĐỊNH CÁC GIẢI PHÁP KHẢ THI ( Phỏng vấn SSI ; Quan sát trực tiếp) Trong nghiên cứu này, tác giả tổ chức 2 cuộc họp nhóm (cả nam và nữ) để vẽ bản đồ

và lịch thời vụ, 1 cuộc thảo luận nhóm nam, 1 cuộc thảo luận nhóm nữ và phỏng vấn

cá nhân 10 người

a Vẽ bản đồ nước và vệ sinh

Bản đồ của điểm nghiên cứu thể hiện vị trí, nơi đâu là các nguồn tài nguyên, các hoạt động sản xuất Các thông tin trên bản đồ bao gồm ranh giới giữa các thôn, trụ sở UBND xã, trạm y tế và các trường học, nguồn nước, điểm ngập lụt, điểm người dân đi

vệ sinh bừa bãi, khu vực rừng phòng hộ Việc vẽ bản đồ được thực hiện trước khi tiến hành thảo luận nhóm và do người tham gia thảo luận nhóm cùng vẽ Mục đích của vẽ bản đồ để tìm hiểu thuận lợi và khó khan của người dân trong khi triển khai các hoạt động thích ứng với BĐKH

b Lịch thời vụ

Lịch thời vụ nhằm để chỉ rõ ra các hoạt động chính của cộng đồng trong một năm bao gồm các hoạt động: trồng lúa, hoa màu, nuôi gia súc/gia cầm, nuôi thủy sản, đi biển, tiểu thủ công nghiệp Lịch thời vụ cũng được tiến hành trước khi thực hiện thảo luận nhóm và do người dân tham gia thảo luận và đưa ra 01 lịch thời vụ chung cho cả xã Mục đích của lịch thời vụ nhằm tìm hiểu thời điểm diễn ra các hoạt động sản xuất của người dân so với thời điểm thường xảy ra các hiện tượng thời tiết cực đoan để xem mức độ tác động của các hiện tượng này đến hoạt động sản xuất của người dân

c Phỏng vấn cá nhân

Nghiên cứu tiến hành phỏng vấn sâu 10 cá nhân độ tuổi từ 20 - 60 bao gồm:

Ngày đăng: 29/06/2017, 16:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Chính phủ Việt Nam, UNDP, (2013). Dự án 58492 “Tăng cường tiếp cận công lý và bảo vệ quyền ở Việt Nam”. Bộ công cụ lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường tiếp cận công lý và bảo vệ quyền ở Việt Nam
Tác giả: Chính phủ Việt Nam, UNDP
Năm: 2013
35. Chant, Sylvia, (2008). "The 'Feminisation of Poverty' and the 'Feminisation' of Anti-Poverty Programmes: Room for Revision?". Journal of Development Studies 44 (2): 165 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The 'Feminisation of Poverty' and the 'Feminisation' of Anti-Poverty Programmes: Room for Revision
Tác giả: Chant, Sylvia
Năm: 2008
36. Chindarkar, N., (2012). “Gender and climate change – induced migration: proposing a framework for analysis”, Environmental Research Letters, 7 (2012) 025601 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gender and climate change – induced migration: proposing a framework for analysis
Tác giả: Chindarkar, N
Năm: 2012
39. Dankelman, Irene, (2011). "Climate change is not gender-neutral: realities on the ground." Public Hearing on “Women and Climate Change” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Climate change is not gender-neutral: realities on the ground." Public Hearing on “Women and Climate Change
Tác giả: Dankelman, Irene
Năm: 2011
41. Djoudi, H., Brockaus, M., (2011). “Is adaptation to climate change gender neutral? Lessons from communities dependent on livestock and forests in Northern Mali”, International Forestry Review, Vol. 13 (2), 123 – 135 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Is adaptation to climate change gender neutral? Lessons from communities dependent on livestock and forests in Northern Mali
Tác giả: Djoudi, H., Brockaus, M
Năm: 2011
48. Healey, J. F. (2003). "Race, Ethnicity, Gender and Class: the Sociology of Group conflict and Change", Pine Forge Press ISBN 141291521X Sách, tạp chí
Tiêu đề: Race, Ethnicity, Gender and Class: the Sociology of Group conflict and Change
Tác giả: Healey, J. F
Năm: 2003
56. Nancy, A., (2010), “Gender and Climate change – induced conflict in pastoral communities: Case study of Turkana in north-western Kenya”, 81 – 102, African Journal on Conflict Resolution, Volume 10 No.2, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gender and Climate change – induced conflict in pastoral communities: Case study of Turkana in north-western Kenya
Tác giả: Nancy, A
Năm: 2010
1. Bộ Tài nguyên Môi trường (2012). Kịch bản BĐKH, nước biển dâng cho Việt Nam. http://www.monre.gov.vn Link
2. CARE (2011). Giới và thích ứng với Biến đổi khí hậu. Báo cáo khoá tập huấn Giới và Biến đổi khí hậu, ngày 25 – 27/9/2011 tại Hà Nội. http://www.vngo-cc.vn/khoa- tap-huan-ve-gioi-va-bien-doi-khi-hau Link
5. Đào Xuân Học (2009). Kế hoạch thích ứng với biến đổi khí hậu trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn. Báo cáo trình bày tại Hội thảo Việt Nam thích ứng với Biến đổi khí hậu ngày 31/7/2009 tại Hội An, Quảng Nam. http://www.occa- mard.gov.vn Link
53. Jyoti Parikh, IRADe, 2007. Is Climate change a Gender issue http://www.disasterwatch.net/climatechange/gndr_climt07.pdf Link
3. Chiến lược quốc gia về Biến đổi khí hậu (2011). (Ban hành kèm theo Quyết định số 2139/QĐ – TTg ngày 05 tháng 12 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ) Khác
6. JANI (2011). Phương châm bốn tại chỗ trong phòng, chống thiên tai: Nội dung cơ bản và thực tiễn áp dụng. Dự án vận động chính sách phòng chống thiên tai dựa vào cộng đồng Khác
7. Kỷ yếu hội thảo Khoa học quốc tế “Kinh tế học Biến đổi khí hậu và gợi ý chính sách đối với Việt Nam, Hà Nội (2013) Khác
8. MARD và UNDP (2011). Tài liệu kỹ thuật – Quản lý rủi ro thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu Khác
9. MARD (2014). Tài liệu hướng dẫn đánh giá rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng Khác
11. Nguyễn Đức Ngữ (2008), Biến đổi khí hậu, Nhà Xuất bản Khoa học và Kỹ Thuật, Hà Nội Khác
12. Nguyễn Đức Tôn (2014). Biến đổi khí hậu và ảnh hưởng của nó đến sản xuất nông nghiệp thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. Tạp chí khoa học ĐHSP TP Hồ Chí Minh. Số 64. 2014 Khác
13. Nguyễn Hữu Minh, Trần Thị Vân Anh, (2009). Bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam: Thực trạng, diễn tiến và nguyên nhân, Viện gia đình và giới, NXB KHXH Khác
14. Phạm Việt Hùng (2009). Tai biến thiên nhiên ở tỉnh Bình Định và các giải pháp thích ứng, giảm nhẹ Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w