1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

Đánh giá tính dễ bị tổn thương lĩnh vực trồng trọt do biến đổi khí hậu huyện hòa vang, thành phố đà nẵng

108 288 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 1,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc xác định mức độ tổn thương của sản xuất nông nghiệp trong đó có lĩnh vực trồng trọt tại Hòa Vangnhằm góp phần tìm ra các giải pháp thích ứng với BĐKHvà giảm thiểu thiệt hại trong sả

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH

DƯƠNG HỒNG GIANG

ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG LĨNH VỰC

TRỒNG TRỌT DO BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU HUYỆN HÒA VANG,

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

Chuyên ngành: BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

Mã số: Chương trình đào tạo thí điểm

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Mai Trọng Nhuận

HÀ NỘI – 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới GS.TS Mai Trọng Nhuận, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các anh chị cán bộ Trung tâm Nghiên cứu Đô thị - Đại học Quốc gia Hà Nội, Chi cục Thống kê huyện Hòa Vang và Phòng Nông nghiệp huyện Hòa Vang đã giúp đỡ nhiệt tình trong quá trình thu thập số liệu, tài liệu, nghiên cứu

và thực hiện luận văn tốt nghiệp

Bên cạnh đó, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô giáo, các cán bộ Khoa Sau đại học - Đại học Quốc Gia Hà Nội, các bạn bè, đồng nghiệp, người thân đã giúp đỡ, đóng góp ý kiến, khích lệ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Trong khuôn khổ một luận văn, do điều kiện hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót

Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày 04 tháng 05 năm 2017

Tác giả

Dương Hồng Giang

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tác giả Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong công trình của người khác

Tác giả

Dương Hồng Giang

Trang 5

MỤC LỤC

CHỮ VIẾT TẮT 5

DANH MỤC CÁC BẢNG 6

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG LĨNH VỰC TRỒNG TRỌT HUYỆN HÒA VANG, ĐÀ NẴNG 4

1.1 Khái niệm về tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu 4

1.1.1 Khái niệm chung về tính dễ bị tổn thương (TDBTT) 4

1.1.2 Khái niệm tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu 5

1.1.3 Các phương pháp tiếp cận tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu 8

1.1.4 Các phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu 11

1.1.5 Các nghiên cứu trong và ngoài nước 17

1.2 Phương pháp nghiên cứu về tính dễ bị tổn thương lĩnh vực trồng trọt do biến đổi khí hậu huyện hòa vang, thành phố đà nẵng 20

1.2.1 Khung nghiên cứu 20

1.2.2 Phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương tlĩnh vực trồng trọt do biến đổi khí hậu huyện hòa vang 23

1.2.3 Số liệu và phương pháp xử lý số liệu 41

CHƯƠNG 2: CÁC YẾU TỔ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG LĨNH VỰC TRỒNG TRỌT HUYỆN HÒA VANG, ĐÀ NẴNG 43

2.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên huyện hòa vang 43

2.1.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên 43

2.1.2 Khí hậu 44

2.1.3 Thủy văn 45

2.1.4 Các nguồn tài nguyên 46

Trang 6

2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 48

2.2.1 Cơ cấu kinh tế 48

2.2.2 Cơ sở hạ tầng phục vụ trồng trọt huyện Hòa Vang 50

2.3 Thực trạng lĩnh vực trồng trọt huyện Hòa Vang 52

2.3.1 Thực trạng tăng trưởng ngành nông nghiệp huyện Hòa Vang 52

2.3.2 Tình hình phát triển trồng trọt huyện Hòa Vang 52

2.4 Xu thế biến đổi khí hậu huyện Hòa Vang 56

CHƯƠNG 3: TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG DO BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU LĨNH VỰC TRỒNG TRỌT HUYỆN HÒA VANG, ĐÀ NẴNG 61

3.1 Hiện trạng cơ cấu cây trồng tại huyện Hòa Vang 61

3.2 Tác động của các tai biến đến sản xuất trồng trọt tại huyện Hòa Vang 62

3.3 Tính dễ bị tổn thương lĩnh vực trồng trọt của huyện Hòa Vang 66

3.3.1 Mức độ phơi bày trước hiểm họa biến đổi khí hậu đối với lĩnh vực trồng trọt huyện Hòa Vang 67

3.3.2 Độ nhạy cảm do biến đổi khí hậu trong lĩnh vực trồng trọt huyện Hòa Vang 69

3.3.3 Khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu của lĩnh vực trồng trọt huyện Hòa Vang 71

3.4 Đề xuất giải pháp nâng cao năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu trong lĩnh vực trồng trọt huyện Hòa Vang 77

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 81

1 KếT LUậN: 81

2 KIếN NGHị 82

PHỤ LỤC 89

Trang 7

CHỮ VIẾT TẮT

BĐKH Biến đổi khí hậu

HDI Chỉ số phát triển con người

IPCC Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu

UNDP Cơ quan Phát triển liên hiệp quốc

TDBTT Tính dễ bị tổn thương

UNDP Cơ quan Phát triển liên hiệp quốc

UNFCCC Chương trình khung về Biến đổi khí hậu Liên hợp quốc

CVCA Phương pháp phân tích tính dễ bị tổn thương và năng lực thích ứng

Biến đổi khí hậu

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Phân loại các cách tiếp cận về khái niệm Tính dễ bị tổn thương 4

Bảng 1.2: Tính dễ bị tổn thương trong đánh giá của hội chữ thập đỏ 17

Bảng 1.3: Bảng sắp xếp dữ liệu chỉ số phụ theo vùng 27

Bảng 1.4: Sơ bộ về tác động của BĐKH đến lĩnh vực trồng trọt 32

Bảng 1.5: Bảng các biến thành phần của độ phơi bàytrong tính toán chỉ số TDBTT 34

Bảng 1.6: Bảng các biến thành phần của độ nhạy trong tính toán chỉ số DBTT 36

Bảng 1.7 Bảng các biến thành phần của khả năng thích ứng AC 40

Bảng 2.1: Nhiệt độ trung bình (0C), độ ẩm (%) tháng và năm 2013 tại huyện Hòa Vang 45

Bảng 2.2: Lượng mưa trung bình năm (mm) tại Hòa Vang giai đoạn 2008 - 2013 45

Bảng 2.3: Cơ cấu tài nguyên đất chia theo mục đích sử dụng huyện Hòa Vang: 47

Bảng 2.4: Giá trị sản xuất và cơ cấu kinh tế qua các năm 49

Bảng 2.5 Diện tích, sản lượng, năng suất cây lúa giai đoạn 2008 – 2013 53

Bảng 2.6 Diện tích, sản lượng, năng suất cây ngô giai đoạn 2008 – 2013 54

Bảng 2.7: Mức tăng nhiệt độ trung bình (0C) so với trung bình thời kỳ 1980-1999 cho thành phố Đà Nẵng tương ứng với các kịch bản phát thải cao (A1FI, A2) và trung bình (B2) 57

Bảng 2.8: Mức thay đổi tỷ lệ lương mưa (%) so với trung bình thời kỳ 1980-1999 cho thành phố Đà Nẵng tương ứng với các kịch bản phát thải cao (A1FI, A2)và trung bình (B2) 57

Bảng 2.9: Bảng thống kê số ngày nhiệt độ vượt quá 35 °C từ 2005 đến 2012 59

Bảng 2.10: Bảng thống kê nhiệt độ tháng vượt quá 35oC từ năm 2008 – 2013 59

Bảng 3.1: Thống kê bão, lũ qua các năm trên địa bàn TP Đà Nẵng từ năm 2005 - 2013 62

Bảng 3.2: Thông số của mức độ phơi bày trước hiểm họa E 67

Bảng 3.3: Kết quả tính toán độ phơi bày đối vớilĩnh vực trồng trọt huyện Hòa Vang 68

Bảng 3.4: Thông số của độ nhạy cảm lĩnh vực trồng trọt huyện Hòa Vang 69

Bảng 3.5: Mối quan hệ giữa các biến thành phần và TDBTT 70

Bảng 3.6: Kết quả tính toán độ nhạy cảm lĩnh vực trồng trọt huyện Hòa Vang 71

Bảng 3.7 Thông số của khả năng thích ứng lĩnh vực trồng trọt huyện Hòa Vang 71

Bảng 3.8: Mối quan hệ giữa các biến thành phần và biến phụ 72

Bảng 3.9: Kết quả tính toán khả năng thích ứng lĩnh vực trồng trọt huyện Hòa Vang 73

Bảng 3.10: Bảng kết quả tính toán chỉ số dễ bị tổn thương V 75

Bảng 3.11: Giải pháp nâng cao năng lực thích ứng 78

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1: Sơ đồ cách tiếp cận từ trên xuống (Outcome Vulnerability) 8

Hình 1.2 Sơ đồ cách tiếp cận từ dưới lên (Contextual Vulnerability) 9

Hình 1.3 Cách tiếp cận tổng hợp 11

Hình 1.4 Tổn thương về sinh kế tại Mô-dăm-bíc 12

Hình 1.5 Tổn thương đới ven biển ở vùng biển quốc gia Cape Cod (CACO) 13

Hình 1.6: Sơ đồ đánh giá TDBTT nông nghiệp cấp tỉnh, huyện 19

Hình 1.7 Sơ đồ Phương pháp luận Đánh giá tính dễ bị tổn thương 21

Hình 1.8 Sơ đồ tiếp cận đánh giá TDBTT của BĐKH trong lĩnh vực trồng trọt 22

Hình 1.9 Sơ đồ xác định các chỉ số của tính dễ bị tổn thương 26

Hình 1.10 Sơ đồ quy trình xác định và tính toán các chỉ số của tính dễ bị tổn thương 31

Hình 2.1 Bàn đồ huyện Hòa Vang 43

Hình 2.2.Ruộng lúa huyện Hòa Vang 50

Hình 2.3 Giá trị sản xuất nông nghiệp huyện Hòa Vang 52

Hình 3.1 Cơ cấu cây lúa trên toàn huyện Hòa Vang 61

Hình 3.2 Hòa Phú chuyển đổi diện tích lúa vụ hè thu sang trồng mía 65

Hình 3.3: Kết quả so sánh E, S, và AC của 3 xã 75

Bảng 3.10: Bảng kết quả tính toán chỉ số dễ bị tổn thương V 75

Hình 3.4 Bản đồ dễ bị tổn thương của 3 xã 76

Hình 3.5 Sơ đồ mối quan hệ các chỉ số nguồn vốn với chỉ số AC vả chỉ số V 77

Trang 10

1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài nghiên cứu

Biến đổi khí hậu (BĐKH), với các biểu hiện chính là sự gia tăng nhiệt độ toàn cầu

và nước biển dâng, tác động và đe dọa lớn nhất đến nhân loại trong thế kỷ 21 BĐKH đã thực sự làm cho thiên tai, đặc biệt là bão, lũ, hạn hán ngày càng khốc liệt hơn Thiên tai

và các hiện tượng khí hậu cực đoan đang gia tăng, tác động trực tiếp đến sản xuất, đời sống hàng ngày của con người Việt Nam là một trong những quốc gia trên thế giới bị tổn thương nặng nhất do BĐKH và nước biển dâng Hiện tượng cực đoan khí hậu ngày càng tác động mạnh mẽ đến Việt Nam trong đó có thành phố Đà Nẵng

Thành phố Đà Nẵng bao gồm quần đảo Hoàng Sa Và vùng đất liền nằm ở 15°55' đến 16°14' vĩ độ Bắc, 107°18' đến 108°20' kinh độ Đông Thành phố có 6 quận(Hải Châu, Thanh Khê, Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn, Liên Chiểu, Cẩm Lệ) và 2 huyện (Hòa Vang và Hoàng Sa) Nằm cách Trung tâm thành phố Đà Nẵng 7km, huyện Hòa Vang bao bọc thành phố như một vòng cung rộng lớn về phía Tây, có tọa độ địa lý trải dài từ 15055' đến 16031' vĩ độ Bắc và từ 108049' đến 108014' kinh độ Đông Huyện Hòa Vang bao gồm 11 xã: Hoà Bắc, Hoà Ninh, Hoà Liên, Hoà Sơn, Hoà Nhơn, Hoà Phong, Hoà Khương, Hoà Phú, Hoà Châu, Hoà Tiến và Hoà Phước với tổng diện tích tự nhiên là 73.488,7650 ha Huyện Hòa Vang có địa hình đa dạng, phức tạp, trải rộng trên cả 3 vùng: miền núi, trung

du và đồng bằng, bị chia cắt theo hướng dốc chính từ Tây Bắc xuống Đông Nam

Khí hậu huyện Hòa Vang có hai mùa rõ rệt là mưa và khô, chế độ nhiệt tương đối

ổn định, chế độ nắng, mưa, ẩm thuận lợi cho cây trồng, vật nuôi và sinh vật phát triển Tuy nhiên, chế độ khí hậu kết hợp với địa hình đất đai cũng gây ra nhiều hạn chế đến hiệu quả sử dụng đất Vào mùa mưa, bão lớn kèm mưa to, gió mạnh gây xói mòn, rửa trôi và ngập úng, còn mùa khô gây nên hạn hán, , gây tác hại đến đời sống nhân dân và sự phát triển của một số ngành, đặc biệt là ngành nông nghiệp

Các nghiên cứu ở nhiều nơi trên thế giới và Việt Nam chỉ ra ngành nông nghiệp dễ

bị tổn thương do BĐKH Trong những năm gần đây, do ảnh hưởng của BĐKHvới các hiện tượng nhiệt độ trung bình có xu hướng tăng lên, lượng mưa trung bình nhiều vùng đã giảm rõ rệt, hạn hán ngày càng trầm trọng hơn, tần suất và quy luật bão lũ có sự thay đổi khó lường đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến diện tích và năng suất nông nghiệp, làm

Trang 11

người nông dân tại Đà Nẵng càng trở nên dễ bị tổn thương Hòa Vang là huyện chiếm 77,5% diện tích đất thành phố Đà Nẵng, trong đó diện tích đất nông nghiệp chiếm 81,38% diện tích tự nhiên, sản xuất nông nghiệp là ngành kinh tế chủ yếu của huyện với giá trị sản xuất trồng trọt chiếm đến 56% (2008-2013) trên giá trị sản xuất nông nghiệp Do đó, lĩnh vực trồng trọt tại huyện Hòa Vang rất dễ bị tổn thương do BĐKH, đặc biệt trong bối cảnh diễn biến BĐKH phức tạp và khó lường trong tương lai Việc xác định mức độ tổn thương của sản xuất nông nghiệp trong đó có lĩnh vực trồng trọt tại Hòa Vangnhằm góp phần tìm ra các giải pháp thích ứng với BĐKHvà giảm thiểu thiệt hại trong sản xuất nông nghiệp là một vấn đề cấp thiết hiện nay.Trên cơ sở đó, đề tài nghiên cứu “Đánh giá tính

dễ bị tổn thương lĩnh vực trồng trọt do biến đổi khí hậu huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng” được lựa chọn thực hiện để góp phần giải quyết vấn đề nêu trên

2 Mục tiêu nghiên cứu

Đánh giá các yếu tố và tính dễ bị tổn thương lĩnh vực trồng trọt do BĐKH huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng, làm cơ sở đề xuất giải pháp nâng cao khả năng thích ứng của lĩnh vực này

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hoàn thiện phân tích phương pháp chỉ số trong đánh giá tổn thương trên cơ sở phân tích, đánh giá: (i) các đánh giá tính dễ bị tổn thương trong lĩnh vực trồng trọt do BĐKH đã áp dụng trên thế giới và tại Việt Nam; (ii) thực trạng trồng trọt và tác động của BĐKH đến trồng trọt huyện Hòa Vang

- Tính toán tính dễ bị tổn thương trong lĩnh vực trồng trọt do BĐKH của một số xã đại diện tại huyện Hòa Vang bằng phương pháp chỉ số

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: các yếu tố gây tổn thương và tính dễ bị tổn thương đối với lĩnh vực trồng trọt do BĐKH huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng

- Phạm vi không gian: Xã Hòa Phong, Hòa Tiến và Hòa Phú, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng Đây là 3 xã có diện tích trồng trọt lớn trên địa bàn huyện và đại diện cho các vùng địa hình đồng bằng, trung du và đồi núi cao của huyện, có biểu hiện rõ nétảnh hưởng của BĐKH đến hoạtđộng lĩnh vực trồng trọt

- Phạm vi thời gian: Đánh giá tính dễ bị tổn thương ở hiện tại trong 5 năm

Trang 12

(2009-3

2013) Đây là khoảng thời gian nghiên cứu có số liệu, đặc biệt là các số liệu thống kê của cấp huyện đầy đủ và phù hợp để có thể thu thập Đây cũng khoảng thời gian tối thiểu (5 năm) để nghiên cứu diễn biến của biến đối khí hậu tại địa phương

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phần phụ lục, luận văn có 3 chương chính như sau:

Chương 1: Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu tính dễ bị tổn thương lĩnh vực trồng trọt huyện Hòa Vang, Đà Nẵng

Chương 2: Các yếu tố ảnh hưởng đến tính dễ bị tổn thương lĩnh vực trồng trọt huyện Hòa Vang, Đà Nẵng

Chương 3: Tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu lĩnh vực trồng trọt huyện Hòa Vang, Đà Nẵng

Trang 13

CHƯƠNG 1: PHƯƠNGPHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TÍNH DỄ

BỊ TỔN THƯƠNG LĨNH VỰC TRỒNG TRỌT HUYỆN HÒA VANG, ĐÀ NẴNG

1.1 Khái niệm về tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu

1.1.1 Khái niệm chung về tính dễ bị tổn thương(TDBTT)

Khái niệm về tính dễ bị tổn thương đã có nhiều thay đổi trong 20 năm qua Đã có nhiều hướng nghiên cứu khác nhau nhằm phân loại các thành phần, yếu tố để đánh giá tính dễ bị tổn thương Tuy nhiên, việc sử dụng các thuật ngữ liên quan đến tính dễ bị tổn thương giữa các ngành, lĩnh vực cũng khác nhau và đôi khi mâu thuẫn nên khó có thể phân loại thành một hệ thống thống nhất Trong nỗ lực để phân loại các thuật ngữ này, Adger (2006) [22] đã thành công và chỉ ra rằng sự đa dạng trong khái niệm tính dễ bị tổn thương phản ánh “tính dễ bị tổn thương được biểu hiện tại những nơi nhất định trong những thời điểm nhất định” Điều đó nghĩa là tính dễ bị tổn thương sẽ thay đổi phụ thuộc bối cảnh cụ thể, vùng cụ thể, thời điểm cụ thể và quan điểm, mục tiêu của người đánh giá tính dễ bị tổn thương

Bảng 1.1: Phân loại các cách tiếp cận về khái niệm Tính dễ bị tổn thương Cách tiếp cận về

Tính dễ bị tổn thương về

hiểm họa tự nhiên

Xác định và dự đoán nhóm đối tượng, khu vực dễ bị tổn thương thông qua phân tích hậu quả và khả năng xảy ra hiểm họa tự nhiên

Sinh thái học nhân văn Phân tích một cách hệ thống về những nguyên nhân sâu xa

dẫn đến tính dễ bị tổn thương đối với hiểm họa tự nhiên với

nỗ lực giải thích vì sao nhóm đối tượng người nghèo và yếu

Trang 14

5

thế là dễ bị tổn thương nhất trước hiểm họa tự nhiên

Mô hình “Hiểm họa tự

nhiên - Áp lực và giải

tỏa”

Phát triển hoàn thiện thêm mô hình sinh thái học nhân văn nhằm liên kết chặt chẽ rủi ro hiểm họa với các yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội và quản lý thiên tai và các can thiệp, thể hiện hiểm họa là áp lực và cũng là tính chất của tính dễ bị tổn thươngvề xã hội và vật lý

Các nghiên cứu sau này (sau 1999) Tính dễ bị tổn thương về

BĐKH và các dao động

khí hậu

Giải thích tính dễ bị tổn thương về xã hội và lý sinh (các yếu

tố chính) trước các rủi ro tương lai bằng nhiều phương pháp nghiên cứu đã được áp dụng trước đó

Giải thích tính dễ bị tổn thương của hai hệ thống có mối quan

hệ chặt chẽ: con người và môi trường

Nguồn: Adger (2006)

Nhìn chung, có thể chia thành 3 trường pháiquan điểm chính về tính dễ bị tổn thương là: (1) Chú trọng đến sự tiếp xúc với các hiểm họa vật lý, mức độ thiệt hại và các tác động; (2) Chú trọng đến các khía cạnh xã hội và các tổn thương liên quan đến xã hội; (3) Kết hợp cả hai phương pháp và xác định tính dễ bị tổn thương như là hiểm họa nơi mà chứa đựng những rủi ro sinh lý cũng như những tác động thích ứng của xã hội [7]

Như vậy, theo các định nghĩa đã có trước, thì TDBTT gồm 2 yếu tố: 1) mức độ tổn thất, suy thoái của (hệ thống) và 2) mức độ chống chịu, phục hồi, ứng phó của đối tượng

bị tổn thương

1.1.2 Khái niệm tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu

Liên quan đến khía cạnh BĐKH, nghiên cứu và đánh giá TDBTT đã được đề cập, thực hiện với nhiều công trình của các giả và tổ chức trên thế giới được dựa trên các ý niệm và phương pháp nghiên cứu trước đây về TDBTT, nhưng tiến bộ hơn các nghiên cứu trước trong việc phát triển những phân tích về TDBTT một cách đa ngành, đa hệ

Trang 15

thống, đa góc độ và đa quy mô

Khái niệm về tính dễ bị tổn thương do BĐKH đã được đưa ra từ nhiều nghiên cứu, nhưng được xem xét một cách đầy đủ nhất, bao trùm nhất là định nghĩa của Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC), theo đó tính dễ bị tổn thương được định nghĩa như sau:

IPCC, 1992[37] định nghĩa “Tính dễ bị tổn thương là mức độ mà một hệ thống không thể đối phó được với tác động của BĐKH và nước biển dâng”

IPCC trong báo cáo lần thứ 2 SAR, 1996[38] định nghĩa: “Tính dễ bị tổn thương là quy mô mà BĐKH có thể gây thiệt hại hoặc làm tổn hại đến một hệ thống, nó phụ thuộc không chỉ vào độ nhạy cảm của hệ thống mà còn phụ thuộc vào khả năng thích ứng với các điều kiện khí hậu mới”

Trong báo cáo lần thứ 3 TAR, 2001[39], IPCC định nghĩa: “Tính dễ bị tổn thương tới BĐKH là mức độmà ở đó một hệ thống dễ bị ảnh hưởng và không thể ứng phó với các tác động tiêu cực của BĐKH, gồm các dao động theo quy luật và các thay đổi cực đoan của khí hậu Tính dễ bị tổn thương là hàm của độ nhạy cảm (mức độ mà một hệ thống phản ứng với một thay đổi về khí hậu, bao gồm tác động có lợi hay có hại), khả năng thích ứng (mức độ mà hệ thống điều chỉnh các thiệt hại tiềm năng hay tận dụng các cơ hội thuận lợi mà thay đổi về khí hậu mang lại) và mức độ mà hệ thống tiếp xúc với các hiểm họa khí hậu”

Điểm nổi bật trong định nghĩa của IPCC là định nghĩa này tích hợp các yếu tố hiểm họa, độ nhạy cảm và khả năng thích ứng Theo định nghĩa này, một hệ thống có khả năng tổn thương cao là một hệ thống rất nhạy cảm với các thay đổi nhỏ của khí hậu

Năm 2007, trong báo cáo lần thứ 4 của IPCC[40], định nghĩa tính dễ bị tổn thương

và các yếu tố thành phần so với các định nghĩa trước đó đã được làm rõ hơn, theo đó

“Tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu là mức độ mà một hệ thống dễ bị tổn thương

và không thể đối phó được, với tác động bất lợi của BĐKH, bao gồm cả những dao động

và hiện tượng khí hậu cực đoan Tính dễ bị tổn thương là hàm của đặc tính, cường độ và tỉ

lệ của biến đổi và dao động khí hậu mà hệ thống bị phơi bày, mức độ nhạy cảm và khả năng thích ứng của nó”

Như vây, theo định nghĩa này, TDBTT gồm 3 hợp phần: mức độ phơi bày, mức độ

Trang 16

7

nhạy cảm và khả năng thích ứng

Mức độ phơi bày là mức độ mà hệ thống bị phơi bàyvới các biến đổi và dao động khí hậu quan trọng

Mức độ nhạy cảm là mức độ mà hệ thống chịu tác động (trực tiếp hoặc gián tiếp)

có lợi cũng như bất lợi bởi các tác nhân kích thích liên quan đến khí hậu(IPCC, 2007) [40].Khả năng thích ứng là khả năng của một hệ thống có thể điều chỉnh thành phần hoặc chức năng của nó trước BĐKH (bao gồm các dao động và cực đoan khí hậu), nhằm mục đích (i) giảm nguy cơ bị tổn thương, (ii) tận dụng cơ hội do môi trường thay đổi đem lại, và/hoặc (iii) ứng phó với các hậu quả xảy ra(IPCC (2007) [40]

Các hợp phần của tính dễ bị tổn thươngbao gồm:

TDBTT=f(Mức độ phơi bày, Độ nhạy cảm, Khả năng thích ứng)

Trong đó: Tác động tiềm năng (potential impact) = Mức độ phơi bày(exposure) + Độ nhạy cảm (sensitivity)

Định nghĩa này của IPCC thể hiện rằng một hệ thống càng bị coi là dễ bị tổn thương nếu nó phơi bày và nhạy cảm càng nhiều với BĐKHvà khả năng thích ứng càng thấp, và ngược lại, hệ thống ít tổn thương hơn nếu mức độ phơi bày và nhạy cảm thấp nhưng khả năng thích ứng cao.Trong đó, vai trò của khả năng thích ứng rất quan trọng Khả năng thích ứng của hệ thống càng cao thì hệ thống đó càng có khả năng điều chỉnh trước dao động và BĐKH, do đó càng tổn thương ít hơn[40]

Căn cứ theo định nghĩa này, Bộ Tài nguyên và Môi trường (2008)[1] đã đưa ra định nghĩa trong Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKHnhư sau “Khả năng (tính) dễ bị tổn thương do tác động của BĐKHlà mức độ mà một hệ thống (tự nhiên, xã hội, kinh tế) có thể bị tổn thương do BĐKH, hoặc không có khả năng thích ứng với những tác động bất lợi của BĐKH”

Trong báo cáo lần thứ 5 năm 2013, IPCC định nghĩa “Tính dễ bị tổn thương là xu hướng hay khuynh hướng bị tác động bất lợi Tính dễ bị tổn thương bao gồm các khái niệm và các yếu tố bao gồm độ nhạy cảm hoặc nhạy cảm với tổn hại và thiếu năng lực để đối phó và thích ứng” Trong báo cáo này, tính dễ bị tổn thương được xác định trong từng bối cảnh cụ thể, tương tác với hiểm họa và mức độ phơi bày trước hiểm họa tạo nên các rủi ro Tính dễ bị tổn thương là một tậphợp các yếu tố từ bối cảnh văn hóa, xã hội, môi

Trang 17

trường, chính trị và kinh tế [41]

Trong luận văn nàysử dụng định nghĩa của IPCC trong báo cáo 2007 [40] và của

Bộ Tài nguyên và Môi trường (2008) [1] vàquan điểm của IPCC trong báo cáo 2013[41] vềđánh giá tính dễ bị tổn thương dựa trên cách tiếp cận tổng hợp, xem xét đối tượng bị ảnh hưởng không chỉ trên góc độ tiếp xúc với những thiên tai mà còn dựa trên khả năng thích ứng với thiên tai đó, để xây dựng khung lý thuyết cho đánh giá TDBTT

1.1.3 Các phương pháp tiếp cận tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu

Căn cứ vào kết quả nghiên cứu tổng quan các khung và phương pháp tiếp cận nghiên cứu về TDBTT do BĐKH trong nước và trên thế giới, nhìn chung, các phương pháp tiếp cận này có thể chia thành 3 loại chính sau đây:

1.1.3.1 Cách tiếp cận từ trên xuống

Cách tiếp cận từ trên xuống (Outcome Vulnerability) là phương pháp tiếp cận dựa trên kết quả coi TDBTT là điểm cuối của phân tích, là tác động (tiềm năng) còn lại của BDKH trên một đối tượng bị phơi bày cụ thể (có thể về mặt lý sinh và xã hội) sau khi đã thực hiện những biện pháp thích ứng khả thi [56] Cách tiếp cận này đặc biệt chú trọng vào các giải pháp thích ứng và giảm nhẹ nhằm giảm thiểu các tác động của BĐKH Vì vậy, TDBTT được xác định bởi khả năng thích ứng của hệ thống

Hình 1.1: Sơ đồ cách tiếp cận từ trên xuống (Outcome Vulnerability)

Nguồn: Allen và cs (2005), dựa trên Holding (1987)

Dao động và BĐKH

Khả năng thích ứng

Tính dễ bị tổn thương - Kết quả

Tác động tiềm năng

Trang 18

9

Cách tiếp cận này tập trung đánh giá các rủi ro khí hậu trong dài hạn như vài thập kỷ

và thường đến 2100 và dựa trên các kịch bản BĐKH Điển hình các khung, phương pháp sử dụng cách tiếp cận từ trên xuống bao gồm: Phương pháp 7 bước của IPCC; Phương

phápđánh giá của Trung tâm nghiên cứu ven biển NOAA, Hoa Kỳ

1.1.3.2 Cách tiếp cận từ dưới lên

Cách tiếp cận từ dưới lên(Contextual Vulnerability) coi TDBTT là điểm bắt đầu, là khả năng không thể ứng phó hiện tại của một hệ thống với những điều kiện khí hậu đang biến đổi[56] Cách tiếp cận này chú trọng vào các yếu tố kinh tế xã hội chính hiện tại của

hệ thống hoặc các tác nhân của TDBTT (bao gồm các điều kiện về kinh tế, xã hội, thể chế,v.v ) Do vậy, với cách tiếp cận này, TDBTT trước các tác nhân BĐKH sẽ xác định khả năng thích ứng của hệ thống

Hình 1.2 Sơ đồ cách tiếp cận từ dưới lên (Contextual Vulnerability)

Nguồn: Thomas Fellman(2012), dựa trên O’ Brian (2007)

Cách tiếp cận nàymới được đưa ra trong những năm gần đây, bổ sung cho cách tiếp cận từ trên xuống (Outcome Vulnerability) do dựa trên các chiến lược đối phó của địa

Cấu trúc thể chế,

chính trị và

sự thay đổi cấu trúc

Cấu trúc kinh tế, xã hội

và sự thay đổi cấu trúc

Các điều kiện của bối cảnh

Các yếu tố thể chế Các yếu tố KT-XH

Các yếu tố lý sinh Các yếu tố công nghệ

Tính dễ bị tổn thương

- Bối cảnh

Khả năng thích ứng Dao động và biến đổi khí hậu

Trang 19

phương, công nghệ và kiến thức bản địa, năng lực và khả năng đối phó của cộng đồng và chính quyền trước các dao động khí hậu hiện tại Cách tiếp cận này rất hữu ích trong việc xây dựng các chiến lược cụ thể và thực hiện chính sách[56] Điển hình cho cách tiếp cận này là phương pháp được sử dụng trong Chương trình Hành động Thích ứng Quốc gia (NAPA) của UNFCCC, Chương trình Biến đổi khí hậu –Văn phòng hợptác phát triển quốc tế Mỹ (VARA)và hầu hết các khung và phương pháp đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương được sử dụng tại Việt Nam đều theo cách tiếp cận từ dưới lên (Contextual Vulnerability) bao gồm khung và phương pháp của Hội chữ thập đỏ, chương trình giảm thiểu BĐKH tại các thành phố châu Á, Viện Nước, Tưới tiêu và Môi trường

Thực tế cho thấy có 2 cách tiếp cận về khái niệm Tính dễ bị tổn thương khác nhau cho thấy việc đánh giá TDBTT phụ thuộc và bối cảnh, mục đích, địa điểm, thời gian nghiên cứu cũng như quan điểm của từng nhà nghiên cứu Do đó, khó có thể nói khái niệm nào hay cách tiếp cận nào hơn cách nào.Chính xác hơn, cả hai cách tiếp cận trên đều bổ sung lẫn cho nhau trong việc đánh giá TDBTT từ các khái niệm và quan điểm khác nhau trước đó Một cách thì thiên về khoa học tự nhiên (cách tiếp cận từ trên xuống), cách còn lại dựa trên nền tảng khoa học xã hội (cách tiếp cận từ dưới lên) đưa lại những góc độ đánh giá khác nhau và đều quan trọng trong việc giúp con người thấu hiểu những khía cạnh liên quan đến lĩnh vực đó với BĐKH Và quan trọng hơn, trong quá trình nhận thức về một hệ thống phức tạp đa biến (vật

lý, môi trường, xã hội, văn hóa và kinh tế), rõ ràng chúng ta cần đánh giá TDBTT của hệ thống một cách đa chiều hoặc tích hợp các phương pháp đánh giá để có thể nhìn thấy bức tranh đầy đủ của TDBTT do BĐKH

1.1.3.3 Cách tiếp cận tổng hợp:

Kết hợp cả hai cách tiếp cận trên được gọi là cách tiếp cận tổng hợp như dự án

“Đánh giá rủi ro do BĐKH và kế hoạch thích ứng tại vùng ven biển Mandurah – Úc” được thực hiện bởi Chính phủ Úc năm 2009, Khung hướng dẫn đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương, khả năng thích ứng và hành động (CV&A) của Văn phòng Phát triển Quốc tế Canada và Phương pháp của Viện Môi trường Stockholm và Viện Công nghệ Ấn Độ [56]

Trang 20

11

Hình 1.3 Cách tiếp cận tổng hợp

Nguồn: Thomas Fellman (2012), dựa trên Dessau and Hulme (2004, p112)

1.1.4 Các phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu

Như vậy, tính dễ bị tổn thương trên thế giới được nghiên cứu ở các quy mô, khía cạnh khác nhau: vùng/khu vực, hệ thống tự nhiên - xã hội, kinh tế, chính trị, môi trường,

y tế dưới các tác động và hoàn cảnh đa dạng (sự BĐKH toàn cầu, tai biến thiên nhiên và biến động môi trường, biến động giá cả hàng hóa trên thị trường, sự khan hiếm lương thực, sự thay đổi tổ chức và thể chế, thảm họa công nghệ, chiến tranh,…) Và TDBTT trên thế giới cũng như tại Việt Nam cũng được đánh giá bằng nhiều phương pháp khác nhau Ta có thể phân loại thành ba phương pháp chính về đánh giá TDBTT do BĐKHlà: (1) Phương pháp chỉ số; (2) Phương pháp mô hình và GIS; và (3) Phương pháp các bên tham gia[56]

1.1.4.1 Phương pháp đánh giá TDBTT bằng chỉ số

Các phương pháp đánh giá TDBTT bằng chỉ số thường được sử dụng như thước đo

Sự phát triển thế giới Khí nhà kính toàn cầu

Mô hình khí hậu toàn cầu Khí hậu khu vực Tác động

Khả năng thích ứng Nguồn lực KT

Cơ sở hạ tầng

Công nghệ

Công bằng Thể chế

Thông tin và kỹ năng

Toàn cầu

Khu vực

TDBTT TDBTT (xã hội) (lý sinh)

Chính sách thích ứng

Quá khứ

Trang 21

TDBTT,giúp đánh giá TDBTT một cách định lượng Có rất nhiều bộ chỉ số tổn thương đã được xây dựng, phát triển và được áp dụng rộng rãi trên thế giới cũng như tại Việt Nam, trong đó phải kể đến:

a Bộ chỉ số tổn thương sinh kế (LVI):

Bộ chỉ số này do Hahn, Riederer và Foster (2009)[33] xây dựng nhằm đánh giá TDBTT do BĐKH tại các quận của Mô-dăm-bíc, sau đó được áp dụng tại các nước như Nê-pan, Ghana, Trinidad và Tobago, và trong một số nghiên cứu khác [44,54]bao gồm 7 hợp phần chính: hồ sơ nhân khẩu, chiến lược sinh kế, mạng lưới xã hội, sức khỏe, lương thực, nước,thảm họa thiên tai và BĐKH Bộ chỉ số đánh giá mức độ phơi bàytrước các tai biến và BĐKH, đánh giá các đặc điểm kinh tế xã hội của hộ gia đình có ảnh hưởng đến khả năng thích ứng của họ, và đánh giá các đặc điểm về sức khỏe, thực phẩm, nguồn nước vốn có ảnh hưởng đến mức độ nhạy cảm của hộ gia đình trước các tác động của BĐKH Một điểm khác biệt của phương pháp này so với các nghiên cứu trước đó là bộ chỉ số được xây dựng dựa trên các khảo sát hộ gia đình và khung tổn thương được thể hiện bằng

sơ đồ mạng nhện để thể hiện vai trò các hợp phần đối với TDBTT [33]

Hình 1.4 Tổn thương về sinh kế tại Mô-dăm-bíc

Nguồn: Hahn (2009)

Tại Việt Nam, phương pháp đánh giá sử dụng LVI cũng được sử dụng trong nghiên cứu của Nguyễn Duy Cần và cs (2013) [47]tại đồng bằng sông Cửu Long, gồm 10 hợp phần hay Nguyễn Văn Quỳnh Bôi và Đoàn Thị Thanh Kiều (2012) tại Quảng Namgồm 7 hợp phần như mô hình của Hahn [8]

Sức khỏe

Trang 22

13

b Bộ chỉ số tổn thương đới bờ biển (CVI):

Bộ chỉ số này do Gornitz (1990) [32] xây dựng để xác định những rủi ro liên quan đến nước biển dâng vùng bờ biển đông nước Mỹ,sau đó đã được McLaughlin và cs(2002) [45], Duriyapong and Nakhapakorn (2011) [30] và Hammar-Klose, Erika S và cs, 2001 [34] phát triển thêm và được sử dụng rộng rãi cho việc đo TDBTT đới bờ biển Trong đó, nghiên cứu của Hammar-Klose, Erika S và cs đã xây dựng được chỉ số tổn thương của đới bờ(CVI) gồm 6 chỉ số: địa mạo, tỉ lệ thay đổi đường bờ lịch sử, độ dốc đường bờ, thay đổi mực nước biển, chiều cao sóng trung bình, mức độ triều trung bình Kết quả đã thiết lập được bản đồ tổn thương cho từng khu vực (hình 1.6)[34]

Hình 1.5 Tổn thương đới ven biển ở vùng biển quốc gia Cape Cod (CACO)

Nguồn: Hammar-Klose, Erika S và cs, 2001 (2001)

Tại Việt Nam, dự án Đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương tại các vịnh biển Việt Nam của Khoa địa chất – Trường ĐH Khoa học tự nhiên Hà Nội và Viện địa chất học và khoáng sản Việt Nam thực hiện đã sử dụng bộ chỉ số tổn thương đới bờ biển CVI kết hợp với chỉ số tổn thương thương môi trường EVI với khung đánh giá của NOOA được điều chỉnh phù hợp với tình hình cụ thể tại Việt Nam [4,45]

c Bộ chỉ số tổn thương vật lý (PVI)

Bộ chỉ số PVI gồm các biến vật lý của một hệ thống như độ dốc bờ biển, tỷ lệ xói

lở hay độ cao sóng trung bình Bộ chỉ số này thường được kết hợp với các chỉ số khác để

Trang 23

tạo thành 1 bộ chỉ số tổng thể và được thể hiện bằng bản đồ tổn thương [30]

d Bộ chỉ số tổn thương kinh tế - xã hội (SVI):

Bộ chỉ số này được sử dụng rất phổ biến trong việc đánh giá tổn thương, bao gồm nhiều biến xã hội như mật độ dân số, di sản văn hóa, sử dụng đất, v.v… Bộ chỉ số này cũng thường được kết hợp với chỉ số tổn thương khác như bộ chỉ số tổn thương vật lý (PVI) để hợp thành bộ chỉ số tổn thương tổng hợp [30]

Tuy nhiên, nhìn chung, những phương pháp chỉ số này không phải không có nhược điểm bao gồm tính không đồng nhất, hạn chế về số liệu, và các chỉ số không thể hiện hết quy mô cũng như tính phức tạp của TDBTT [53] Nhưng bêncạnh những hạn chế trên, sử dụng chỉ số vẫn là một trong các phương pháp chính để đo lường TDBTT và các chỉ số này ngày càng được phát triển đa dạng và tinh vi hơn trong các nghiên cứu sau này

1.1.4.2 Phương pháp đánh giá TDBTT bằng mô hình và GIS

a Phương pháp sử dụng mô hình

Phương pháp mô hình dựa trên máy tính đã được Moss và cộng sự (2001) [47] xây dựng để đánh giá TDBTT (Vulnerability) và khả năng chống chịu (Resilience) do BĐKH trong bối cảnh hiện tại và cho 3 kịch bản trong tương lai.Mô hình này là sự kết hợp các yếu tố như độ nhạy và khả năng chống chịu, trong đó độ nhạy bao gồm các hợp phần: sự định cư, an ninh lương thực, y tế, sinh thái, nước Còn khả năng chống chịu bao gồm các hợp phần về nguồn lực kinh tế, môi trường, con người Mỗi hợp phần lại bao gồm một vài biến đại diện Bản thân các biến đại diện này khi kết hợp nhau cũng tạo thành một bộ chỉ

số tổn thương lũy kế Nếu nó cho giá trị là âm thì kết quả là nhạy cảm, giá trị dương thì có nghĩa là có khả năng chống chịu.Phương pháp này giúp việc đánh giá TDBTT toàn diện hơn do đem lại những phân tích sâu hơn về TDBTT trong sự tương tác giữa các yếu tố kinh tế xã hội và các thay đổi về môi trường.Mô hình này sau đó đã được IPCC áp dụng

để xây dựng 3 kịch bản BĐKH tương lai tại 38 quốc gia và trên thế giới

Ngoài mô hình của Moss, một mô hình tiêu biểu khác là mô hình VI-CRED [55], là một bộ chỉ số tổn thương về BĐKH, bao hàm trong mô hình đánh giá tích hợp „khí hậu‟ và „sự phát triển kinh tế khu vực‟ (CRED với phương pháp tiếp cận đơn giản và dễ hiểu bằng cách đo tổn thương quốc gia qua ba hợp phần: tổng giá trị quốc dân (GDP); phần trăm dân số sống dưới mức 5m hơn mực nước biển; và khả năng tiếp cận nước ngọt nhằm xác định được nơi nào

Trang 24

Hạn chế của nghiên cứu này là để có được đủ dữ liệu đáng tin cậy trong tiến hành đánh giá không đơn giản, và nghiên cứu cũng khuyến cáo cần tiếp tục điều tra sau đánh giá bởi việc đánh giá chỉ là một "quan điểm" của thực tại

1.1.4.3 Phương pháp đánh giá TDBTT các bên tham gia

Phương pháp đánh giá TDBT các bên tham gia tập trung vào các cá nhân, cộng đồng hoặc nhóm bị ảnh hưởng Phương pháp này sử dụng một loạt các công cụ cho việc thu thập và phân tích TDBTT, ví dụ như lập bản đồ nhận thức, phỏng vấn sâu, khảo sát, quy trình có sự tham gia và lấy ý kiến các chuyên gia để đánh giá TDBTT hiệu quả và cụ thể trong từng bối cảnh nhằm xây dựng kế hoạch thích ứng Đánh giá TDBTT các bên tham gia liên quan chặt chẽ với các phương pháp đánh giá TDBTT dựa vào cộng đồng

Dựa theo phương pháp này, tài liệu hướng dẫn về Phân tích TDBTT và Năng lực thích ứng BĐKH (CVCA) của tổ chức CARE International [27]được xây dựng dựa trên cách tiếp cận dựa vào cộng đồng với quan điểm rằng nâng cao năng lực qua sự tham gia

và chia sẻ kiến thức của cộng đồng có thể dẫn tới sự thay đổi Phương pháp CVCA của CARE sử dụng các phương pháp phân tích có sự tham gia bằng nhiều công cụ khác nhau nhằm liên kết kiến thức cộng đồng với các dữ liệu khoa học để phân tích tổn thương và thích ứng BĐKH trên cơ sở các bên cùng có lợi CVCA được xây dựng dựa trên bốn hợp phần trong cách tiếp cận dựa vào cộng đồng gồm có: sinh kế bền vững, giảm thiểu rủi ro thiên tai, phát triển năng lực và giải quyết các nguyên nhân sâu xa dẫn đến tổn thương Nhờ vậy, tài liệu này đã góp phần đưa việc phân tích tổn thương được áp dụng tại các cấp

Trang 25

quốc gia, chính phủ, cộng đồng và hộ gia đình

Phương pháp đánh giá TDBTT các bên tham gia còn được sử dụng nhiều trong các nghiên cứu tiêu biểu khác của Devisscher, T et al (2011) [29] và Keskitalo, E.C.H (2008) [43]

Tại Việt Nam, phương pháp VCA có sự tham gia các bên đã được Hội chữ thập đỏ Việt Nam phát triển dựa trên các nghiên cứu khác để đánh giá tính dễ bị tổn thương của con người trước những hiểm họa, trong đó đã xác định các yếu tố rủi ro của từng loại hiểm họa và phân tích các nguyên nhân gây ra rủi ro[3].Theo phương pháp này, tính dễ bị tổn thương được xác định trong quan hệ với 5 thành phần, hàm chứa hầu hết các khía cạnh mà con người phải chịu đựng trong một hiểm họa tự nhiên cụ thể Một khi đã liên hệ VCA với các thành phần khác nhau của tính dễ bị tổn thương và hiểu được mối quan hệ giữa chúng, sẽ dễ xác định các khả năng liên quan cần phải tăng cường 5 thành phần này là: (i) Sinh kế và khả năng hồi phục xác định các điều kiện sống và liên quan đến tạo nguồn thu nhập; (ii) Các điều kiện sống cơ bản về sức khỏe (gồm cả sức khỏe tinh thần)

và dinh dưỡng, rất quan trọng đối với khả năng hồi phục; (iii) Sự tự bảo vệ có liên quan đến việc có một sinh kế đầy đủ để có thể đáp ứng cho việc bảo vệ nhà và tài sản; (iv) Sự bảo vệ của xã hội nói chung là do các tổ chức địa phương (như các nhóm tự giúp, chính quyền địa phương, các tổ chức phi chính phủ, v.v.) cung cấp; (v) Tổ chức xã hội/chính quyền thể hiện qua việc hoạt động của bộ máy quyền lực trong việc xác định, phân bổ các nguồn lực, nguồn thu nhập và sự có mặt và hoạt động của các tổ chức dân sự

Đối với mỗi thành phần, có thể chia tính dễ bị tổn thương thành 3 loại như trình bày kèm theo các ví dụ trong bảng 1.2 dưới đây:

Trang 26

- Thiết kế và vật liệu xây dựng nhà cửa

- Thiếu cơ sở hạ tầng cơ bản (đường xá, đê kè, v.v.) các dịch vụ

- Các tổ chức cộng đồng thiếu hoặc yếu

3 Thái độ/ động cơ - Thái độ tiêu cực đối với thay đổi

- Thụ động, trông chờ vào số phận, mất hy vọng, phụ thuộc

- Thiếu sáng kiến hoặc tinh thần đấu tranh

- Phụ thuộc vào sự hỗ trợ từ bên ngoài

Nguồn: Đánh giá tính dễ bị tổn thương và khả năng thích ưng (VCA – Hội chữ thập đỏ

Việt Nam – Tập 1, 1/2010)

1.1.5 Các nghiên cứu trong và ngoài nước

Trong khoảng 30 năm trở lại đây, thì tính dễ bị tổn thương được các nhà khoa học tập trung nghiên cứu nhiều trong các lĩnh vực như kinh tế - xã hội, môi trường, tự nhiên, thiên tai… Trong đó, các chỉ số dễ bị tổn thương đã được phát triển như một công thức đánh giá nhanh và thích hợp cho mô tả các mối liên quan về tính dễ bị tổn thương của các hợp phần khác nhau Trong những năm gần đây, đã có một số nghiên cứu trên thế giới xây dựng và

áp dụng bộ chỉ số dễ bị tổn thương đối với nông nghiệp Cụ thể:

O‟Brien et al (2004) [49] đã sử dụng định nghĩa của IPCC về tính dễ bị tổn thương, bao gồm các yếu tố của độ phơi bàytrước hiểm họa, mức độ nhạy cảm, và năng lực thích ứng để lập bản đồ dễ bị tổn thương cho nông nghiệp của Ấn Độ đối với BĐKH và toàn cầu hóa với quy mô dưới quốc gia Nhóm tác giả đã sử dụng kỹ thuật chồng xếp bản đồ và những nghiên cứu trường hợp để xác định các khu vực có mức độ dễ bị tổn thương cao Brenkert và Malone (2005), Patnaik và Narayanan (2005) [25, 51] đã xây dựng chỉ số dễ

Trang 27

bị tổn thương để đánh giá tác động của BĐKH đối với Ấn Độ Trong đó, các tác giả xem xét tính dễ bị tổn thương như là một hàm của mức độ phơi bày trước hiểm họa đối với thay đổi khí hậu và tai biến tự nhiên; mức độ nhạy cảm đối với những tác động do độ phơi bàytrước hiểm họa đó và năng lực thích ứng với biến đối khí hậu đã và sẽ diễn ra

Deressa et al (2008) [28]đã đánh giá và lập bản đồ tổn thương do BĐKH đối với người nông dân Ethiopia tại 7 trên 11 vùng của nước này thông qua bộ chỉ số về kinh tế, chính trị,

xã hội chi phối các hộ nông dân trong việc sẵn lòng áp dụng những chương trình thích ứng cũng như mức độ mà các yếu tố đó ảnh hưởng đến nhận thức và hành động thích ứng của họ qua ba hợp phần củatính dễ bị tổn thương là độ phơi bày trước hiểm họa, mức độ nhạy cảm,

và năng lực thích ứng

Yusuf và Francisco (2009) [58] đã xây dựng thành công bộ chỉ số tổn thương và bản

đồ tổn thương do BĐKH để đánh giá tính dễ bị tổn thương cho khu vực Đông Nam Á Nghiên cứu này đánh giá tính dễ bị tổn thương cho 530 khu vực hành chính cấp tỉnh, quận cho bảy quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Á, bao gồm Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Malaysia, Indonesia và Philippin Đánh giá này được thực hiện dựa trên sự nghiên cứu độ phơi bàydựa trên chuỗi số liệu về tai biến tự nhiên, sử dụng các bản đồ hiểm họa

tự nhiên (XTNĐ, lũ lụt, lở đất, hạn hán và nước biển dâng), mức độ nhạy cảm của dân số

và sinh thái và xây dựng bộ chỉ số về năng lực thích ứng

Tại Việt Nam, các nghiên cứu về tính dễ bị tổn thương trong nông nghiệp dựa trên bộ chỉ số chưa nhiều, tuy nhiên có thể kể đến hai nghiên cứu tiêu biểu: (i) nghiên cứu “Xây dựng khung đánh giá và công cụ tính toán chỉ số tình trạng dễ bị tổn thương do BĐKH: Nghiên cứu thí điểm cho sản xuất nông nghiệp tại một số tỉnh đồng bằng sông Hồng, Việt Nam” của ThS NCS Hà Hải Dương, GS Trần Thục, GS Lars Ribbe (2012) [2] Kết quả của nghiên cứu đã đưa ra được cơ sở khoa học để xây dựng một khung đánh giá tình trạng

dễ bị tổn thương nói chung và đối với sản xuất nông nghiệp nói riêng ở Nam Định, Hải Phòng, Hà Nam và Hải Dương; và (ii) nghiên cứu “Ứng dụng phương pháp tiếp cận không gian trong bản đồ tổn thương của BĐKH trong lĩnh vực nông nghiệp” của ThS Nguyễn Xuân Trịnh, TS Alexander Blair Campbell và ThS Trần Văn Tam [9].Nghiên cứu này miêu tả phương pháp tiếp cận khỏng gian bằng việc sử dụng công cụ phân tích của GIS để tạo ra và lượng hóa những chỉ số phụ trong việc đánh giá tổn thương của BĐKH đối với nông nghiệptheo sơ đồ tổng hợp bên dưới:

Trang 28

19

Chỉ số tổn thương TB

theo tình

Chỉ số K.H mùa đông

Hệ sinh thái nông nghiệp trồng lúa

số phụ:

độ dốc và

độ phủ của rừng)

Nhạy cảm môi trường sinh thái

Hành chính tỉnh

NN

Chỉ số tổn thương theo các loại đất NN

Hệ sinh thái cửa sông ven biển

biển dâng Hạn hán

Chỉ số văn minh

XH

Chỉ số về KT-XH

Chỉ số về cơ

sở hạ tầng và tiếp cận thông tin

Mức độ ảnh hưởng theo không gian

Cường

độ ảnh hưởng

Tần suấtt trong 30 năm

Mức độ ảnh hưởng lũ, lụt

Mức độ ảnh hưởng do

sự xâm nhập mặn theo quy

mô không gian

Chỉ số K.H mùa xuân

Chỉ số xa đường giao thông

Chỉ số xa trung tâm: (xa trung tâm tỉnh, thành phố và xa trung tâm huyện)

Chỉ số về tích lũy bình quân của

hộ

Chỉ số về

tỉ lệ đói nghèo và cận nghèo

Tỉ lệ %

số thông,

ấp, bản trong xã

có hệ thống truyền thanh

Tỉ lệ %

số hộ sử dụng điện

Tiềm năng xuất hiện Tần suất

Chỉ số K.H mùa thu

Chỉ số K.H mùa

Trang 29

Tại Đà Nẵng, đã có một số các công trình nghiên cứu liên quan đến BĐKHvà đánh giá tính dễ bị tổn thương áp dụng nhiều phương pháp đánh giá khác nhau như: “Đánh giá tính dễ bị tổn thương do BĐKH thành phố Đà Nẵng” thực hiện bởi Viện Nước, Tưới tiêu

và Môi trường [20]; “Xây dựng Bản đồ ngập lụt cho thành phố Đà Nẵng ứng với các kịch bản BĐKH – Nước biển dâng” thực hiện bởi Viện Khoa học Thuỷ lợi Miền Nam [19];

“Xây dựng kịch bản BĐKH và Nước biển dâng đối vớicác thành phố Đà Nẵng, Quy Nhơn

và Cần Thơ” thực hiện bởi Trung tâm Tư vấn Khí tượng Thuỷ văn và Môi trường (Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường IMHEN) [17]; “Tình trạng dễ bị tổn thương

do BĐKH đối với ngành du lịch thành phố Đà Nẵng” thực hiện bởi nhóm nghiên cứu của Văn phòng Biến đổi khí hậu thành phố Đà Nẵng [15];“Nghiên cứu điển hình về khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu tại Đà Nẵng” được thực hiện bởi Viện chuyển đổi Môi trường và Xã hội Quốc tế [16] và “Mô hình đô thị Đà Nẵng thích ứng với BĐKH” thuộc

đề tài “Nghiên cứu và xây dựng mô hình đô thị ven biển có khả năng thích ứng với BĐKH”[5]

Như vậy, nhìn chung nghiên cứu về BĐKH và đánh giá định lượng về tình trạng dễ bị tổn thương do BĐKH trên thế giới trong lĩnh vực nông nghiệp khá đa dạng tuy nhiên lại phức tạp khi áp dụng cho Việt Nam bởi các phương pháp đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương hiện có đều được sử dụng theo phương pháp riêng của từng cá nhân hoặc tổ chức chuyên nghiên cứu về BĐKH và chưa có một phương pháp thống nhất Tại Việt Nam nói chung và Đà Nẵng nói riêng, phương pháp đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương chỉ dựa chủ yếu vào đánh giá rủi ro hoặc kế thừa sử dụng các phương pháp trên thế giới, chưa có

sự thống nhất về phương pháp đánh giá cũng như tính toán chỉ số tình trạng dễ bị tổn thương, đặc biệt các nghiên cứu áp dụng trong lĩnh vực nông nghiệp tại khu vực này vẫn còn rất hạn chế Vì vậy, việc nghiên cứu đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương và xây dựng

bộ chỉ số cho sản xuất nông nghiệp tại Đà Nẵng là rất cần thiết

1.2 Phương pháp nghiên cứu về tính dễ bị tổn thương lĩnh vực trồng trọt do biến

đổi khí hậu huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng

1.2.1 Khung nghiên cứu

Từ cơ sở nghiên cứu tổng quan ta thấy được rằng với mỗi một phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương khác nhau sẽ phù hợp với từng quy mô, từng khu vực và từng đối tượng khác nhau

Với mỗi phương pháp khác nhau cũng yêu cầu số liệu đầu vào khác nhau Sau quá

Trang 30

21

trình thu thập xử lý tài liệu, cũng như phân tích đặc điểm khu vực nghiên cứu, luận văn lựa chọn phương pháp đánh giá mức độ tổn thương do BĐKH tới lĩnh vực trồng trọt tại huyện Hòa Vang là sử dụng phương pháp đánh giá dựa trên khái niệm của của IPCC Tính dễ bị tổn thương (Vulnerability) được xem xét trên 3 yếu tố là: mức độ phơi bàytrước các hiểm họa (Exposure), mức độ nhạy cảm (Sensitivity) và khả năng thích ứng (Adaptive Capacity)

V= ƒ (E, S, AC)

Hình 1.7.Sơ đồ Phương pháp luận Đánh giá tính dễ bị tổn thương

Nguồn: Dựa trên Khung ý niệm của Allison và cộng sự(2009)

Căn cứ vào kết quả nghiên cứu tổng quan cũng như khái niệm về TDBTT

đã được lựa chọn ở trên, căn cứ vào điều kiện thực tế huyện Hòa Vang, luận văn đề xuất tiếp cận phương pháp đánh giá TDBTT của BĐKH trong lĩnh vực trồng trọt theo sơ đồ ở hình 1.8

Trồng trọt BĐKH

Trang 31

Hình 1.8.Sơ đồ tiếp cận đánh giá TDBTT của BĐKH trong lĩnh vực trồng trọt

Theo sơ đồ trên, phương pháp đánh giá TDBTT sử dụng trong luận văn sẽ gồm hai phần chính:

(1) Đánh giá TDBTT ở cấp cộng đồng: nhằm xác định được tình trạng tổn thương ở cấp cộng đồng, từ đó có được các biện pháp thích ứng với BĐKH Công cụ sử dụng để đánh giá chính ở đây là khảo sát thực địa

(2) Đánh giá TDBTT ở cấp huyện/xã: nghiên cứu các số liệu thứ cấp ở cấp huyện và

xã để xác định TDBTT tổn thương khác nhau của các xã và được thể hiện trên bản

đồ TDBTT cho vùng nghiên cứu Phương pháp sử dụng ở đây là thu thập, điều tra, tổng hợp và phân tích số liệu

Cuối cùng, tổng hợp của hai phần trên ta sẽ có được kết quả đánh giá TDBTT cho vùng nghiên cứu

Xác định mục tiêu, đối tượng đánh giá Xác định đặc điểm khu vực và lĩnh vực nghiên cứu

Lựa chọn khung đánh giá

Bảng biểu thu thập

số liệu Phương pháp, công cụ đánh giá

Thuật toán giải V= ƒ (E, S, AC)

Đánh giá tác động BĐKH (huyện/xã)

Xử lý số liệu

V= ƒ (E, S, AC)

Biểu đồ, bản đồ TDBTT

Giải pháp Đánh giá tác động

BĐKH (cộng đồng)

Trang 32

23

1.2.2 Phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương tlĩnh vực trồng trọt do biến đổi khí

hậu huyện Hòa Vang

1.2.2.1 Phương pháp kế thừa, tổng hợp và phân tích tài liệu

Phương pháp này được sử dụng để tổng quan và nghiên cứu các tài liệu về đánh giá TDBTT nói chung và đánh giá cho ngành nông nghiệp nói riêng để kế thừa và tìm phương pháp phù hợp cho việc đánh giá TDBTT đối với lĩnh vực trồng trọt và nghiên cứu

về lĩnh vực và khu vực nghiên cứu

(i) Các tài liệu được kế thừa và nghiên cứu về phương pháp đánh giá TDBTT

- Các số liệu về khí tượng thủy văn và số liệu thống kê về thiên tai và thiệt hại

- Các báo cáo về tình hình kinh tế, xã hội

- Các tài liệu liên quan đến sản xuất nông nghiệp, quy hoạch nông nghiệp, quy hoạch về phát triển kinh tế xã hội vùng nghiên cứu và quản lý rủi ro thiên tai của địa phương

- Các kịch bản BĐKH và NBD tại Đà Nẵng

- Các nghiên cứu liên quan đến BĐKH và các tác động tại thành phố Đà Nẵng

- Các dự án, chương trình quan trọng đã/đang/sẽ thực hiện trên địa bàn vùng nghiên cứu, đặc biệt là các dự án về bảo vệ môi trường, phòng chống thiên tai và BĐKH

- Các tài liệu khác

Đặc biệt trong đó là các kết quả nghiên cứu của đề tài khoa học cấp nhà nước mã sốBĐKH - 32 “Nghiên cứu và xây dựng mô hình đô thị ven biển có khả năng thích ứng với BĐKH” của Trung tâm Nghiên cứu Đô thị, Đại học Quốc gia và số liệu thống kê về tình hình trồng trọt tại huyện Hòa Vang đã được kế thừa và thu thập để xây dựng và tính toán bộ chỉ số TDBTT của BĐKH đối với trồng trọt tại địa phương

Trang 33

1.2.2.2 Phương pháp khảo sát thực địa

Phương pháp khảo sát thực địa được thực hiện nhằm lựa chọn được khu vực nghiên cứu điển hình, mang tính đại diện và thu thập được các tài liệu, số liệu liên quan đến khu vực nghiên cứu điển hình đó Địa điểm nghiên cứu là 3 xã Hòa Phú, Hòa Tiến và Hòa Phong có tính chất đại diện về lĩnh vực trồng trọt với diện tích trồng trọt thuộc loại lớn nhất của huyện Hòa Vang, và đại diện cho nghiên cứu điển hình về tác động BĐKH cho 3 vùng miền núi, trung du và đồng bằng của huyện trước các tác động được sàng lọc chính cho khu vực nghiên cứu là bão, lũ lụt và hán hạn Các phương pháp khảo sát thực địa trong luận văn bao gồm phỏng vấn sâu bằng phiếu hỏi người dân 3 xã lựa chọn, thu thập tài liệu liên quan từ các phòng ban xã, huyện và tham vấn các cán bộ các phòng ban

xã, huyện về các tai biến bão, lũ lụt và hán hạn

1.2.2.3 Phương pháp GIS

Kết quả tính toán tính dễ bị tổn thương trên Excel được tích hợp với từng đơn vị bản đồ cấp xã nhằm thể hiện và phân loại mức độ tổn thương của từng xã thông qua các màu sắc khác nhau

1.2.2.4 Phương pháp chỉ số

Như đã trình bày ở trên, trên cơ sở phương pháp luận là khung lý thuyết của IPCC (2007) [39]và Allison (2009)[24], luận văn sử dụng phương pháp chỉ số để đánh giá định lượng TDBTT cho khu vực nghiên cứu.Phương pháp này cho kết quả là một số duy nhất,

có thể được dùng để so sánh các vùng khác nhau Chỉ số tổn thương được tiếp cận theo khung lý thuyết đã được đề cập ở trên bao gồm ba chỉ số chính: mức độ phơi bày (E), độ nhạy cảm (S) và khả năng thích ứng (AC) Theo các nghiên cứu về phương pháp xây dựng chỉ số, thông thường các chỉ số này cần có mối tương quan nội tại với nhau Mối liên hệ giữa các chỉ số và đối tượng mà các chỉ số này được dùng để đánh giá lại phụ thuộc vào cấu trúc các chỉ số này được xây dựng để đo lường TDBTT Có hai mô hình đo lường chính là mô hình đo lường cấu trúc hay mô hình đo lường tương tác Trong mô hình đo lường tương tác, đối tượng đánh giá có ảnh hưởng đối với các chỉ thị Ví dụ, chỉ

số đói nghèo là ví dụ tiêu biểu cho phương pháp đánh giá tương tác vì đói nghèo ảnh hưởng đến các chỉ thị như khả năng biết đọc, biết viết; chi phí… Tất cả các chỉ thị này đều có mối liên hệ với nhau Trong khi đó, trong mô hình đo lường cấu trúc, các chỉ thị

Trang 34

25

được giả định là tạo ra đối tượng đánh giá Trong trường hợp chỉ số khả năng dễ bị tổn thương, mọi chỉ thị được lựa chọn đều có ảnh hưởng đến khả năng dễ bị tổn thương của một vùng trước BĐKH Ví dụ, tần suất xảy ra thiên tai như lũ lụt, hạn hán, động đất và chiều dài đường bờ biển đều cấu thành khả năng dễ bị tổn thương của một vùng trước BĐKH Do đó, chỉ số dễ bị tổn thương được đánh giá theo cấu trúc và các chỉ thị lựa chọn không cần có mối tương quan nội tại với nhau [36]

Đối với mỗi chỉ số trên, các nghiên cứu lại đưa ra các chỉ số phụ cấu thành khác nhau dựa trên việc tham khảo tài liệu Mỗi chỉ số phụ lại được cấu thành từ nhiều yếu tố con khác nhau Ví dụ như độ nhạy cảm bao gồm các chỉ số phụ là mật độ và cấu trúc dân

số, an ninh lương thực, việc quản lý nguồn nước và sức khỏe người dân Đối với yếu tố sức khỏe người dân lại bao gồm các yếu tố con ví dụ như tuổi thọ trung bình của người dân Chỉ số tổn thương sử dụng cách tiếp cận trong đó mỗi yếu tố phụ đều có giá trị như nhau đối với với chỉ số chính dù chỉ số chính là giá trị tổng hợp của nhiều chỉ số phụ Thuật ngữ chỉ số trong phương pháp này được hiểu là số được tính toán từ một nhóm biến được chọn cho khu vực/địa phương nghiên cứu và được dùng để so sánh với nhau hoặc với một điểm tham chiếu nào đó Nói cách khác, chỉ số này được hiểu là số thứ

tự mà thông qua đó các khu vực sẽ được xếp hạng, phân nhóm theo các mức dễ bị tổn thương Chỉ số được xây dựng sao cho nằm trong khoảng từ 0 đến 1 để dễ tiến hành so sánh giữa các vùng Đôi khi, chỉ số còn được thể hiện theo phần trăm bằng cách nhân nó với 100

Quy trình xây dựng bộ chỉ số tính dễ bị tổn thương:

Chỉ số dễ bị tổn thương được xây dựng qua nhiều bước, cụ thể như sau:

Bước 1:Lựa chọn khu vực nghiên cứu gồm nhiều vùng khác nhau và chọn bộ chỉ số cho mỗi vùng cho từng hợp phần Mức độ phơi bày trước hiểm họa (E), Độ nhạy cảm (S)

và Khả năng thích ứng (AC) của tính dễ bị tổn thương dựa trên các tiêu chí: độ sẵn có của

dữ liệu, đánh giá của các nghiên cứu trước đó cùng lĩnh vực, và đánh giá cá nhân Đối với từng biến số chính E, S và AC có thể bao gồm nhiều chỉ số phụ cấp 1: E1, E2, , En; S1,

S2, , Sn, và AC1, AC2, , ACn Các chỉ số phụ đó lại có thể có các biến con tương ứng

Trang 35

ứng, tạm gọi là chỉ số phụ cấp 2: E11 † E1n, En1 † Enn, S11 † S1n, , Sn1 † Snn, và AC11 †

AC1n, ACn1 † ACnn Các biến con này được xác định càng nhiều thì việc tính toán tính dễ

bị tổn thương cho kết quả càng chính xác

Hình 1.9 Sơ đồ xác định các chỉ số của tính dễ bị tổn thương

Bước 2:Sắp xếp các chỉ số: Ở mỗi chỉ số phụ của tính dễ bị tổn thương, dữ liệu thu

thập được sẽ được sắp xếp theo ma trận hình chữ nhật với các hàng thể hiện các vùng và các cột thể hiện các chỉ số phụ Giả sử M là các vùng/địa phương, và K là các chỉ số phụ

Trang 36

27

mà ta đã thu thập được Gọi Xij là giá trị của chỉ số phụ j tương ứng với vùng i Khi đó bảng dữ liệu sẽ có M hàng K cột như sau:

Bảng 1.3: Bảng sắp xếp dữ liệu chỉ số phụ theo vùng Vùng/địa

Như vậy ta sẽ có 3 bảng tương ứng với các chỉ số phụ của các chỉ số chính E, S và

AC của vùng nghiên cứu

Bước 3: Chuẩn hóa các chỉ số phụ cấp 2: Có thể dễ dàng thấy rằng các chỉ số được

thể hiện theo các đơn vị khác nhau Bởi vậy, cần phải chuẩn hóa các chỉ số để đưa vào tính toán Các chỉ số sẽ được chuẩn hóa theo phương pháp sử dụng trong Báo cáo Chỉ số phát triển Con người của UNDP (HDI) (UNDP, 2006) [57] Theo cách này, để thu được các số không còn phụ thuộc vào đơn vị và được chuẩn hóa để nằm trong khoảng từ 0 đến

1 thì quá trình chuẩn hóa được thực hiện cho chỉ số cấp thấp nhất là E11 † E1n, En1 † Enn,

S11 † S1n, , Sn1 † Snn, và AC11 † AC1n, ACn1 † ACnn theo công thức sau:

- Nếu mối quan hệ giữa chỉ số phụ cấp 2 và tính dễ bị tổn thương là thuận, thì áp dụng công thức:

𝑋𝑖𝑗 = 𝑥𝑖𝑗 − 𝑀𝑖𝑛 𝑥𝑖𝑗𝑀𝑎𝑥 𝑥𝑖𝑗 − 𝑀𝑖𝑛 𝑥𝑖𝑗 (1𝑎)

- Nếu mối quan hệ giữa chỉ số phụ cấp 2 và tính dễ bị tổn thương là nghịch thì:

𝑌𝑖𝑗 = 𝑀𝑎𝑥 𝑥𝑖𝑗 − 𝑥𝑖𝑗𝑀𝑖𝑛 𝑥𝑖𝑗 − 𝑀𝑎𝑥 𝑥𝑖𝑗 (1𝑏) Trong đó Max Xij và Min Xij lần lượt là giá trị lớn nhất, nhỏ nhất của chỉ số phụ thứ j

Trang 37

của vùng i Kết quả là 1 có nghĩa là vùng có tính dễ bị tổn thương cao nhất, và 0 có nghĩa là vùng có tính dễ bị tổn thương thấp nhất

Bước 4: Xác định trọng số cho các chỉ số phụ cấp 2: Nhìn chung, hiện nay phương

Trong cách tính này, đầu tiên cần xác định các nguồn TDBTT, các chỉ số được xếp vào các nguồn tương ứng Sau khi chuẩn hóa, ta tính được giá trị trung bình của mỗi nguồn (AI) Từ đó, TDBTT được tính theo công thức 3 VI=[ 𝑛𝑖=1𝐴𝐼𝑖∝]1/∝ 𝑛 (3)

Trong đó, n là số nguồn về TDBTT và ∝ = n

- Phương pháp xác định trọng số không cân bằng:

Theo phương pháp này thì có 3 cách xác định trọng số là (i) theo ý kiến của chuyên gia, (ii) theo số lượng thành phần của các chỉ số phụ đóng góp vào chỉ

số chính, và (iii) theo cách tính của Iyengar và Sudarshan (1982) [42]giúp tính các chỉ số hỗn hợp từ dữ liệu đa biến, thể hiện bất kỳ chỉ số nào cũng có thể có vai trò đóng góp khác nhau của các chỉ số chính, do đó có thể giúp so sánh rõ ràng hơn sự khác biệt của các khu vực

Cách tính trọng số của Iyengar và Sudarshan (1982) [42] được tóm tắt như sau: Với M vùng/khu vực, K các chỉ số TDBTT, xij (trong đó, i=1, 2, , M; j=1,2, , K) là những giá trị đã được chuẩn hóa, giá trị chuẩn của xij là

Trang 38

và nnk [6] khi áp dụng đồng thời 3 công thức, kết quả tính toán của công thức (2) phản ánh tính dễ bị tổn thương sát với kết quả quan trắc hơn công thức (3) Vì vậy, áp dụng cách 1 và công thức (2) giúp đơn giản hóa việc tính toán nhưng vẫn đảm bảo độ tin cậy của kết quả

Bước 5: Xác định các chỉ số phụ cấp 1: Sau khi chỉ số phụ cấp 2 được chuẩn hóa

và tính giá trị theo phương pháp trọng số cân bằng công thức (2), giá trị chuẩn hóa của các chỉ số cấp 1 của các hợp phần E, S, AC được xác định như sau:

𝑋𝑖 = 𝑋𝑖𝑗

𝑛

𝑗 =0

𝑛 (5) Trong đó:

Xi: Chỉ số phụ cấp 1 thứ i của độ phơi bày, độ nhạy cảm hay khả năng thích ứng;

(6)

Trong đó:

X: Chỉ số chính tương ứng E, S, AC

Trang 39

Xi: Chỉ số phụ cấp 1 thứ i được xác định tại công thức (5);

ni: Số lượng biến thành phần cấu tạo nên chỉ số phụ cấp 1 thứ i

m: Số lượng biến phụ Xi

Bước 7: Tính chỉ số dễ bị tổn thương: Chỉ số dễ bị tổn thương được tính bằng giá

trị trung bình của các chỉ số chính, thể hiện các chỉ số chính có vai trò đóng góp như nhau đối với tính dễ bị tổn thương, trong đó vai trò của AC trong công thức được thể hiện bằng cách nghịch đảo giá trị thành (1-AC) để nhấn mạnh nếu mối quan hệ nghịch giữa tính dễ bị tổn thương và khả năng thích ứng Khả năng thích ứng càng cao thì tính

dễ bị tổn thương tổn thương càng thấp, và ngược lại nếu khả năng thích ứng càng thấp

Quy trình xác định bộ chỉ số tính dễ bị tổn thương trong luận văn được tóm tắt lại trong sơ đồ sau:

Trang 40

31 Hình 1.10 Sơ đồ quy trình xác định và tính toán các chỉ số của tính dễ bị tổn thương

- Kế thừa kết quả nghiên cứu

- Thực địa, khảo sát thực tế E11 E1n En1 Enn S11 S1n Sn1 Snn AC11 AC1n AC1n ACnn

- Tổng hợp tài liệu

- Thu thập số liệu thống kê

- Xử lý phiếu phỏng vấn người dân

Số liệu E 11 † E 1n , E n1 † E nn , S 11 † S 1n , S n1 † S nn , AC 11 † AC 1n , AC n1 † AC nn , với đơn vị tương ứng

Xij = xij – Min xij / Max xij – Min xij (1a)

Y ij = Max x ij – x ij / Max x ij – Min x ij (1b)

1 trong 2 công thức được áp dụng tùy theo quan hệ thuận/nghịch với tính dễ bị tổn thương

Số liệu E 11 † E 1n , E n1 † E nn , S 11 † S 1n , S n1 † S nn , AC 11 † AC 1n , AC n1 † AC nn được chuẩn hóa

Thu thập số liệu đầu

vào cho các biến phụ

và biến phụ cấp 2

Chuẩn hóa nhằm loại

bỏ thứ nguyên của biến

Ngày đăng: 29/06/2017, 16:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Hà Hải Dương, nnk (2010),Đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương trong nông nghiệp dưới tác động của biến đổi khí hậu, Tạp chí Khoa học thủy lợi số 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương trong nông nghiệp dưới tác động của biến đổi khí hậu
Tác giả: Hà Hải Dương, nnk
Năm: 2010
3. Hội chữ thập đỏ Việt Nam (1/2010), Đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương và khả năng (VCA) – Tập 1+2, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương và khả năng (VCA)
4. Mai Trọng Nhuận và nnk (2011), Điều tra, đánh giá tổng hợp mức độ tổn thương tài nguyên- môi trường vùng biển và đới ven biển Việt Nam và đề xuất giải pháp quản lý phát triển bền vững, Báo cáo lưu trữ, Tổng cục Môi trường, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra, đánh giá tổng hợp mức độ tổn thương tài nguyên- môi trường vùng biển và đới ven biển Việt Nam và đề xuất giải pháp quản lý phát triển bền vững
Tác giả: Mai Trọng Nhuận và nnk
Năm: 2011
5. Mai Trọng Nhuận, Nguyễn Tài Tuệ, Trần Mạnh Liểu, Trần Đăng Quy, Lê Thị Thu Hiền, Nguyễn Thị Thu Hà, Nguyễn Thị Hoàng Hà (2016), Mô hình đô thị ven biển thích ứng với biến đổi khí hậu, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình đô thị ven biển thích ứng với biến đổi khí hậu
Tác giả: Mai Trọng Nhuận, Nguyễn Tài Tuệ, Trần Mạnh Liểu, Trần Đăng Quy, Lê Thị Thu Hiền, Nguyễn Thị Thu Hà, Nguyễn Thị Hoàng Hà
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2016
6. Mai Văn Trịnh và nnk (2011), Ứng dụng một số phương pháp tính toán các chỉ số về BĐKH tại Việt Nam, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam, số 3 (24) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng một số phương pháp tính toán các chỉ số về BĐKH tại Việt Nam
Tác giả: Mai Văn Trịnh và nnk
Năm: 2011
7. Nguyễn Thanh Sơn và Cấn Thu Văn (2012), Các phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương - Lý luận và thực tiễn. Phần 1: Khả năng ứng dụng trong đánh giá tính dễ bị tổn thương lũ lụt ở miền Trung Việt Nam, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Tự nhiên 28(Số 3S ), tr. 115-122 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương - Lý luận và thực tiễn. Phần 1: Khả năng ứng dụng trong đánh giá tính dễ bị tổn thương lũ lụt ở miền Trung Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thanh Sơn và Cấn Thu Văn
Năm: 2012
8. Nguyễn Văn Quỳnh Bôi và Đoàn Thị Thanh Kiều (2012), Áp dụng chỉ số tổn thương trong nghiên cứu sinh kế - Trường hợp xã đảo Tam Hải, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam, Tạp chí Khoa học – Công nghệ thủy sản, Số 1 -2013. Đại học Nha Trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Áp dụng chỉ số tổn thương trong nghiên cứu sinh kế - Trường hợp xã đảo Tam Hải, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Quỳnh Bôi và Đoàn Thị Thanh Kiều
Năm: 2012
9. Nguyễn Xuân Trịnh, nnk (2010), Ứng dụng phương pháp tiếp cận không gian trong bản đồ tổn thương của biến đổi khí hậu trong lĩnh vực nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Xuân Trịnh, nnk (2010)
Tác giả: Nguyễn Xuân Trịnh, nnk
Năm: 2010
18. Viện Khoa học Khí tượng thủy văn và Môi trường (IMHEN) (2011), Tài liệu hướng dẫn Đánh giá tác động của Biến đổi khí hậu và xác định các giải pháp thích ứng, NXB Tài nguyên môi trường và bản đồ Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu hướng dẫn Đánh giá tác động của Biến đổi khí hậu và xác định các giải pháp thích ứng
Tác giả: Viện Khoa học Khí tượng thủy văn và Môi trường (IMHEN)
Nhà XB: NXB Tài nguyên môi trường và bản đồ Việt Nam
Năm: 2011
20. Viện Nước, Tưới tiêu và Môi trường (2009), Báo cáo: Tình trạng dễ bị tổn thương và tác động của Biến đổi khí hậu tại TP Quy Nhơn.http://ccco.danang.gov.vn/LinkClick.aspx?fileticket=wJSP0GaeM5s%3D&tabid=70 21. Cổng thông tin huyện Hòa Vang http://hoavang.danang.gov.vn/Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo: Tình trạng dễ bị tổn thương và tác "động của Biến đổi khí hậu tại TP Quy Nhơn
Tác giả: Viện Nước, Tưới tiêu và Môi trường
Năm: 2009
23. Allen Consulting (2005), Climate change risk and vulnerability. Promoting an efficient adaptation response in Australia,Canberra, Department of the Environment and Heritage, The Australian Greenhouse Office Sách, tạp chí
Tiêu đề: Climate change risk and vulnerability. Promoting an efficient adaptation response in Australia
Tác giả: Allen Consulting
Năm: 2005
25. Brenkert, A. L. and Malone, E.L. (2005), Modeling vulnerability and resilience to climate change: a case study of India and Indian States Sách, tạp chí
Tiêu đề: Brenkert, A. L. and Malone, E.L. (2005)
Tác giả: Brenkert, A. L. and Malone, E.L
Năm: 2005
27. Daze, A., Ambrose, K. & Ehrhart, C. (2009), Climate vulnerability and capacity analysis handbook, CARE International, First edition Sách, tạp chí
Tiêu đề: Climate vulnerability and capacity analysis handbook
Tác giả: Daze, A., Ambrose, K. & Ehrhart, C
Năm: 2009
28. Deressa, T. T., Hassan, R. M., and Ringler C. (2008), Measuring Ethiopian Farmers’ Vulnerability to Climate Change across Regional States. IFPRI Discussion Paper 00806, IFPRI, Washington, DC Sách, tạp chí
Tiêu đề: Measuring Ethiopian Farmers’ "Vulnerability to Climate Change across Regional States
Tác giả: Deressa, T. T., Hassan, R. M., and Ringler C
Năm: 2008
29. Devisscher, T., Bharwani, S., Tiani, A.M., Pavageau, C., Kwack, N.E. & Taylor, R. (2011), Component 2: Adaptation in the field. Baseline assessment of current vulnerability and adaptive capacity. COBAM – Project 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Component 2: Adaptation in the field. Baseline assessment of current vulnerability and adaptive capacity
Tác giả: Devisscher, T., Bharwani, S., Tiani, A.M., Pavageau, C., Kwack, N.E. & Taylor, R
Năm: 2011
30. Duriyapong, F. & Nakhapakorn, K. (2011), Coastal vulnerability assessment: a case study of Samut Sakhon coastal zone, Songklanakarin Journal of Science and Technology, 33(4), pp 469–476 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Coastal vulnerability assessment: a case study of Samut Sakhon coastal zone
Tác giả: Duriyapong, F. & Nakhapakorn, K
Năm: 2011
31. Ebert, A., Kerle, N. & Stein, A. (2008), Urban social vulnerability assessment with physical proxies and spatial metrics derived from air- and spaceborne imagery and GIS data, Natural Hazards, 48(2): 275-294 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Urban social vulnerability assessment with physical proxies and spatial metrics derived from air- and spaceborne imagery and GIS data
Tác giả: Ebert, A., Kerle, N. & Stein, A
Năm: 2008
32. Gornitz, V. M. (1990), Vulnerability of the east coast, USA, to future sea level rise, J Coast Res (9), pp 201-237 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vulnerability of the east coast, USA, to future sea level rise
Tác giả: Gornitz, V. M
Năm: 1990
33. Hahn M. B., Riederer A. M., Foster S. O. (2009), The Livelihood Vulnerability Index: A pragmatic approach to assessing risks from climate variability and change—A case study in Mozambique, Global Environmental Chang, vol 19(1), pp 74–88 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Livelihood Vulnerability Index: A pragmatic approach to assessing risks from climate variability and change—A case study in Mozambique
Tác giả: Hahn M. B., Riederer A. M., Foster S. O
Năm: 2009
35. Heltberg, B. R. and Bonch-osmolovskiy, M. (2010), Mapping vulnerability to climate change. A climate vulnerability index for Tajikistan, Economists‟ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mapping vulnerability to climate change. A climate vulnerability index for Tajikistan
Tác giả: Heltberg, B. R. and Bonch-osmolovskiy, M
Năm: 2010

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm