Nghị quyết TW2 và Nghị quyết TW5 khóa 8 của Đảng ta xác định một trong những nhiệm vụ chính trị quan trọng là duy trì, kế thừa, phát huy bản sắc văn hóa truyền thống Việt Nam và văn hóa
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS Tạ Quang Tuấn
HÀ NỘI, 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả, trích dẫn trong luận văn là đầy đủ, chính xác và trung thực.Những ý kiến khoa học được đề cập trong luận văn chưa được ai công bố ở bất cứ nơi nào khác
Hà Nội, ngày tháng 06 năm 2017
Tác giả luận văn
Sô Đa
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin gửi lời chân thành cảm ơn đến quý Thầy, Cô trong Khoa Tâm lý - Giáo dục học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới
TS Tạ Quang Tuấn, người đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ, truyền đạt kiến thức,
hướng dẫn cho tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn
Đồng thời, tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến cán bộ, công chức, viên chức của các xã, thị trấn; giáo viên Tổng phụ trách Đội các Liên Đội; cán bộ Đoàn cơ
sở, các em thiếu nhi và các bậc phụ huynh có con em trong độ tuổi thiếu niên trên địa bàn huyện đã cung cấp những tài liệu, những hiểu biết và giúp đỡ nhiệt tình cho tôi trong suốt thời gian tìm hiểu thực trạng tại địa phương
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu nặng tới gia đình, bạn bè những người thân, đã luôn quan tâm ủng hộ và giúp đỡ trong suốt khóa học vừa qua cũng như trong suốt quá trình thực hiện luận văn của mình
Hà Nội, tháng 6, năm 2017
Tác giả
Sô Đa
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 4
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 4
4 Giả thuyết khoa học 5
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài 5
7 Phương pháp nghiên cứu 6
8 Cấu trúc luận văn 7
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC VĂN HÓA CỘNG ĐỒNG CHO THIẾU NIÊN 8
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 8
1.1.1 Những công trình nghiên cứu trên thế giới 8
1.1.2 Những công trình nghiên cứu ở Việt Nam 11
1.2 Một số khái niệm công cụ của đề tài 16
1.2.1 Giáo dục 16
1.2.2 Hoạt động giáo dục 16
1.2.3 Văn hóa 17
1.2.4 Cộng đồng 19
1.2.5 Văn hóa cộng đồng 20
1.3 Đặc điểm tâm - sinh lý lứa tuổi thiếu niên 21
1.3.1 Sự biến đổi về mặt giải phẫu sinh lí: 22
1.3.2 Sự phát triển trí tuệ: 22
1.3.3 Hoạt động giao tiếp: 23
1.2.4 Sự phát triển nhân cách: 24
1.4 Mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức, lực lượng, đối tượng tổ chức hoạt động giáo dục văn hóa cộng đồng cho thiếu niên 25
Trang 61.4.1 Mục tiêu tổ chức hoạt động giáo dục văn hóa cộng đồng cho thiếu niên 25
1.4.2 Nội dung tổ chức hoạt động giáo dục văn hóa cộng đồng cho thiếu niên 27
1.4.3 Phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục văn hóa cộng đồng cho thiếu niên 37
1.4.4 Lực lượng giáo dục tổ chức hoạt động giáo dục văn hóa cộng đồng cho thiếu niên 40
1.4.5 Đối tượng hướng tới để giáo dục văn hóa cộng đồng cho thiếu niên 41
Kết luận chương 1 43
Chương 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC VĂN HÓA CỘNG ĐỒNG CHO THIẾU NIÊN HUYỆN SƠN HÕA, TỈNH PHÚ YÊN 44
2.1 Khái quát chung về địa phương Sơn Hòa và lực lượng thiếu niên trên địa bàn huyện 44
2.1.1 Tình hình chung về huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên: 44
2.1.2 Lực lượng thiếu niên trên địa bàn huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên 45
2.2 Khái quát về quá trình điều tra, khảo sát 46
2.2.1 Mục tiêu khảo sát 46
2.2.2 Đối tượng khảo sát 46
2.2.3 Nội dung khảo sát 47
2.2.4 Phương pháp khảo sát 47
2.2.5 Thời gian khảo sát 47
2.2.6 Địa phương khảo sát 47
2.2.7 Xử lý kết quả khảo sát 48
2.3 Thực trạng giáo dục văn hóa cộng đồng cho thiếu niên huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên 48
2.3.1 Thực trạng nhận thức của thiếu niên, giáo viên, cán bộ địa phương, cán bộ Đoàn cơ sở và của phụ huynh về vị trí, vai trò giáo dục văn hóa cộng đồng cho thiếu niên 48
Trang 72.3.2 Nhận thức về ý nghĩa giáo dục văn hóa cộng đồng cho thiếu niên huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên 53
2.4 Thực trạng về việc thực hiện giáo dục văn hóa cộng đồng cho thiếu niên huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên 54
2.4.1 Thực trạng về nội dung giáo dục văn hóa cộng đồng cho thiếu niên huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên 54 2.4.2 Các lực lượng giáo dục văn hóa cộng đồng cho thiếu niên huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên 55 2.4.3 Phương pháp giáo dục văn hóa cộng đồng cho thiếu niên huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên 59 2.4.4 Thực trạng về hình thức tổ chức giáo dục văn hóa cộng đồng cho thiếu niên huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên 60 2.4.5 Thực trạng về cách thức kiểm tra kết quả giáo dục văn hóa cộng đồng cho thiếu niên huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên 63 2.4.6 Kết quả giáo dục văn hóa cộng đồng cho thiếu niên huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên 64
2.5 Nguyên nhân ảnh hưởng tới thực trạng giáo dục văn hóa cộng đồng cho thiếu niên huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên 65
2.5.1 Những khó khăn của cán bộ địa phương, giáo viên phụ trách Đội, cán
bộ Đoàn cơ sở khi thực hiện giáo dục văn hóa cộng đồng cho thiếu niên
huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên 65 2.5.2 Nguyên nhân ảnh hưởng tới thực trạng giáo dục văn hóa cộng đồng cho thiếu niên huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên 67 2.5.3 Đánh giá chung về kết quả và nguyên nhân của thực trạng giáo dục văn hóa cộng đồng cho thiếu niên huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên 69
Kết luận chương 2 72
Trang 8Chương 3: BIỆN PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC VĂN HÓA
CỘNG ĐỒNG CHO THIẾU NIÊN HUYỆN SƠN HÕA, TỈNH PHÖ YÊN 73
3.1 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 73
3.1.1 Đảm bảo tính mục đích 73
3.1.2 Đảm bảo tính khoa học và thực tiễn 73
3.1.3 Đảm bảo tính toàn diện, đồng bộ 74
3.1.4 Đảm bảo tính hiệu quả và tính khả thi 75
3.2 Các biện pháp giáo dục văn hóa văn hóa cộng đồng cho thiếu niên huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên 75
3.2.1 Bồi dư ng, nâng cao nhận thức và năng lực cho các lực lượng giáo dục về giáo dục văn hóa cộng đồng cho các em thiếu niên 75
3.2.2 Đổi mới hình thức và phương pháp tổ chức hoạt động giáo dục văn hóa cộng đồng cho thiếu niên theo hướng tương tác, phát triển toàn diện 78
3.2.3 Phối hợp các lực lượng giáo dục để nâng cao hiệu quả hoạt động giáo dục văn hóa cộng đồng cho thiếu niên 79
3.2.4 Sử dụng hợp lý cơ sở vật chất, trang thiết bị cho hoạt động giáo dục văn hóa cộng đồng cho thiếu niên tại các địa phương: 81
3.2.5 Đổi mới hình thức kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động giáo dục văn hóa cộng đồng cho thiếu niên 83
3.2.6 Phát huy tối đa vai trò chủ thể của các em thiếu niên 86
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 87
3.4 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 88
3.4.1 Khái quát về khảo nghiệm 88
3.4.2 Kết quả khảo nghiệm 89
Kết luận chương 3 92
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 93
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Nhận thức của thiếu niên, giáo viên, cán bộ địa phương, cán bộ
Đoàn cơ sở và phụ huynh về vị trí, vai trò của giáo dục văn hóa cộng đồng cho thiếu niên huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên 49
Bảng 2.2: Nhận thức về vai trò của việc giáo dục văn hóa văn hóa cộng đồng
cho thiếu niên huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên 50
Bảng 2.3: Nhận thức về ý nghĩa giáo dục văn hóa cộng đồng cho thiếu niên
huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên 53
Bảng 2.4: Thực trạng thực hiện nội dung giáo dục văn hóa cộng đồng
cho thiếu niên huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên 54
Bảng 2.5 Đánh giá mức độ quan trọng của các lực lượng giáo dục văn hóa
cộng đồng cho thiếu niên huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên 56
Bảng 2.6 Đánh giá mức độ thực hiện các lực lượng tham gia giáo dục văn
hóa cộng đồng cho thiếu niên huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên 57
Bảng 2.7 Thực trạng phối hợp giữa các lực lượng giáo dục trong giáo dục
văn hóa cộng đồng cho thiếu niên huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên 58
Bảng 2.8 Đánh giá mức độ sử dụng các phương pháp giáo dục văn hóa cộng
đồng cho thiếu niên huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú 59
Bảng 2.9 Thực trạng đánh giá của các em về hình thức tổ chức giáo dục văn
hóa hóa cộng đồng cho thiếu niên huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên 60
Bảng 2.10 Thực trạng đánh giá của giáo viên về hình thức tổ chức giáo dục
văn hóa cộng đồng cho thiếu niên 62
Bảng 2.12 Đánh giá cán bộ địa phương, giáo viên phụ trách Đội, cán bộ
Đoàn cơ sở và phụ huynh về kết quả giáo dục văn hóa cộng đồng cho thiếu niên huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên 64
Trang 10Bảng 2.13 Khó khăn ảnh hưởng tới thực trạng giáo dục văn hóa cộng đồng
cho thiếu niên huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên 66
Bảng 2.14 Ý kiến của cán bộ địa phương, giáo viên phụ trách Đội, cán bộ
Đoàn cơ sở về các yếu tố ảnh hưởng đến việc giáo dục văn hóa cộng đồng cho thiếu niên 68
Bảng 3.1: Ý kiến đánh giá về mức độ cần thiết của các biện pháp 89 Bảng 3.2 Ý kiến đánh giá về mức độ khả thi của các biện pháp 90
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Nghị quyết TW2 và Nghị quyết TW5 khóa 8 của Đảng ta xác định một trong những nhiệm vụ chính trị quan trọng là duy trì, kế thừa, phát huy bản sắc văn hóa truyền thống Việt Nam và văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam trong mối quan hệ giao lưu và tiếp nhận thường xuyên những tinh hoa văn hoa tiến bộ của nhân loại và đề cao vai trò của giáo dục đối với việc duy trì nền văn hóa này Giáo dục góp phần quan trọng phát triển nền văn hóa dân tộc Văn hóa là nội dung và mục đích của giáo dục Giáo dục là con đường chuyển tải và phát huy giá trị văn hóa
Chỉ thị số 42 – CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XI
về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thế hệ trẻ giai đoạn 2015 – 2030”
đã xác định trọng tâm là giáo dục toàn diện thế hệ trẻ về lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa, xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa Giáo dục thế hệ trẻ là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, trong đó Đoàn TNCS Hồ Chí Minh có vai trò quan trọng Đoàn TNCS Hồ Chí Minh được Đảng tin cậy giao nhiệm vụ là “trường học xã hội chủ nghĩa của thanh niên”, thực hiện tốt công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thanh thiếu nhi
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: Một năm khởi đầu từ mùa xuân Một đời người khởi đầu từ tuổi trẻ Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội Đó không chỉ là lời cổ vũ, động viên mà còn là cả một tấm lòng, một niềm tin yêu của Hồ Chủ tịch cũng như toàn thể dân tộc đối với thế hệ trẻ Ai cũng biết, thế
hệ trẻ chuẩn bị hành trang vào đời cần phải tích lũy các kiến thức khoa học công nghệ, ngoại ngữ, tin học…nhưng nếu chỉ dừng ở đó thôi mà không lưu tâm hoặc bỏ qua việc trau dồi phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, văn hóa
Trang 12ứng xử, văn hóa giao tiếp, ý thức pháp luật thì sẽ dẫn đến sự thiếu hụt những giá trị nhân văn trên con đường hình thành nhân cách con người Sự thiếu hụt
đó là nguy cơ suy thoái thậm chí biến dạng quá trình phát triển cá nhân và cộng đồng Đã đến lúc chúng ta phải giáo dục giá trị văn hóa cộng đồng để nhân cách của thế hệ trẻ phát triển toàn diện, có ý thức trách nhiệm hơn, dám
vì mình, vì mọi người và vì những giá trị đích thực nhằm đáp ứng nhu cầu của
sự nghiệp đổi mới
Văn hóa có vai trò quan trọng trong mọi mặt của đời sống xã hội Văn hóa cộng đồng là nền tảng của văn hóa dân tộc, là cơ sở hình thành những sắc màu đa dạng và bản chất tinh khôi, bền vững của văn hóa dân tộc Chính văn hóa cộng đồng đã rèn luyện nên phẩm chất, nhân cách, lối sống, thói quen của mỗi thành viên bằng những truyền thống, những quy ước, hương ước chặt chẽ, văn minh tiến bộ của cộng đồng Văn hóa cộng đồng không chỉ có giá trị tinh thần mà còn là động lực thúc đẩy sự phát triển của cộng đồng; là chất kết dính những thành viên, tạo nên sức mạnh vật chất, tinh thần của cộng đồng
Giáo dục luôn gắn liền với sự phát triển của loài người, sự tồn tại và phát triển kinh tế xã hội luôn chịu sự chi phối của giáo dục và ngược lại việc phát triển của kinh tế xã hội có vai trò to lớn trong việc phát triển giáo dục; giáo dục là công cụ, phương tiện để cải tiến xã hội Chỉ khi kinh tế xã hội phát triển thì giáo dục được coi vừa là động lực vừa là mục tiêu cho việc phát triển xã hội Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) đánh giá thực trạng giáo dục và đào tạo nhấn mạnh:
“Đặc biệt đáng lo ngại là một bộ phận học sinh, sinh viên có tình trạng suy thoái về đạo đức, mờ nhạt về lý tưởng, theo lối sống thực dụng, thiếu hoài bão lập thân, lập nghiệp vì tương lai của bản thân và đất nước Trong những năm tới cần tăng cường giáo dục tư tưởng đạo đức, ý thức công dân, lòng yêu nước, chủ nghĩa Mác Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh… tổ chức cho
Trang 13học sinh tham gia các hoạt động xã hội, văn hoá, thể thao phù hợp với lứa tuổi
và với yêu cầu giáo dục toàn diện”
1.2 Những năm vừa qua, đất nước ta đang chuyển mình trong công cuộc đổi mới sâu sắc và toàn diện, từ một nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Với công cuộc đổi mới, chúng ta có nhiều thành tựu to lớn rất đáng tự hào về phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa - giáo dục Tuy nhiên, mặt trái của cơ chế mới cũng ảnh hưởng tiêu cực đến sự nghiệp giáo dục, trong đó sự suy thoái về đạo đức và những giá trị nhân văn tác động đến đại đa số thanh thiếu niên như: có lối sống thực dụng, thiếu ước mơ và hoài bão, lập thân, lập nghiệp Thêm vào đó, sự du nhập văn hoá phẩm đồi truỵ thông qua các phương tiện như phim ảnh, games, mạng Internet…làm ảnh hưởng đến những quan điểm về tình bạn, tình yêu trong lứa tuổi thiếu niên, nhất là các em chưa được trang bị và thiếu kiến thức về vấn đề này
Một bộ phận không nhỏ thiếu niên huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên cũng không đứng ngoài thực trạng đó Do sự thiếu hụt những kiến thức cần thiết ở lứa tuổi này nên các em đang có những biểu hiện đáng lo ngại về lối sống đạo đức: sống buông thả, đua đòi, xa hoa, lười biếng trong học tập, trong lao động, giải trí thiếu lành mạnh trái ngược với những giá trị nhân văn lâu đời của dân tộc, những giá trị đã tạo nên bản sắc văn hóa và đạo đức truyền thống của con người Việt Nam Do đó, dẫn đến phạm pháp, quan hệ yêu đương sớm, thậm chí có quan hệ tình dục sớm, nạo phá thai trước tuổi trưởng thành, ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe, học tập, tâm lý và tương lai của các em Những tồn tại trên đã cho thấy sự mất cân đối giữa giáo dục học vấn và giáo dục nhân cách văn hóa cho các em
1.3 Vậy làm thế nào để giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa cộng đồng truyền thống của dân tộc, ngăn chặn tình trạng thiếu lành mạnh, ngoại
Trang 14lai, trái với thuần phong mỹ tục; làm thế nào để đẩy lùi cái ác, cái xấu, cái thấp hèn, lạc hậu làm tha hóa con người, ảnh hưởng xấu đến việc xây dựng nhân cách văn hóa lứa tuổi vị thành niên về lý tưởng, đạo đức, lối sống, thể chất, lòng tự tôn dân tộc, trách nhiệm xã hội, ý thức chấp hành pháp luật, cũng như xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Nhận thức được vấn đề này, một vài năm trở lại đây, giáo dục nhân cách cho các em lứa tuổi vị thành niên đã được quan tâm, song vẫn chưa có chiều sâu
và chất lượng chưa được nâng cao Cho đến nay, chưa có công trình nào đi vào vấn đề “tổ chức hoạt động giáo dục văn hóa cộng đồng cho thiếu niên” một cách chuyên biệt
Với lý do trên và với trách nhiệm là một cán bộ Đoàn TNCS Hồ Chí
Minh, tôi chọn đề tài “Tổ chức hoạt động giáo dục văn hóa cộng đồng cho thiếu niên huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên” Qua đó, nhằm giáo dục đạo đức, lối
sống nâng cao những giá trị tiến bộ trong lối sống, đạo đức, hành vi ứng xử … trong đời sống hằng ngày cho cho thiếu niên huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận về giá trị giáo dục văn hóa cộng đồng nhóm tuổi thiếu niên
- Đề xuất những giải pháp về giáo dục văn hóa cộng đồng phù hợp với nhóm tuổi thiếu niên trên địa bàn huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên
3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
- Quá trình giáo dục văn hóa cộng đồng cho thiếu niên huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên
3.2 Đối tượng nghiên cứu
- Biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục văn hóa cộng đồng cho thiếu niên huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên
Trang 154 Giả thuyết khoa học
Chất lượng giáo dục văn hóa cộng đồng cho thiếu niên còn nhiều vấn
đề cần giải quyết và chịu sự tác động của nhiều nhân tố kinh tế- xã hội khác
nhau Tuy nhiên, nếu tìm và áp dụng một cách đồng bộ một số biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục văn hóa cộng đồng cho thiếu niên thì chất lượng giáo dục đạo đức, lối sống có thể được nâng cao, góp phần giáo dục toàn diện các em đáp ứng yêu cầu của giai đoạn mới
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Góp phần làm rõ cơ sở lý luận việc tổ chức hoạt động giáo dục văn
hóa cộng đồng cho thiếu niên
5.2 Đánh giá thực trạng tổ chức hoạt động giáo dục văn hóa cộng đồng
trong đó trọng tâm là đạo đức, lối sống thiếu niên hiện huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên
5.3 Đề xuất một số biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục văn hóa cộng
đồng cho thiếu niên huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài
− Các em thiếu niên tại các xã, thị trấn trên địa bàn huyện: 240 em
− Cán bộ các cơ quan, ban, ngành tại các xã, thị trấn và giáo viên Tổng phụ trách Đội tại các Liên Đội: 32 người
Trang 16− Cán bộ Đoàn cấp cơ sở và các phụ huynh có con em đang trong độ tuổi thiếu niên trên địa bàn huyện: 120 người
6.4 Thời gian
Từ tháng 5 năm 2016 đến tháng 5 năm 2017
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
- Tổng hợp tài liệu có liên quan để hình thành cơ sở lí luận cho đề tài
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
Chúng tôi thiết kế bảng hỏi dành cho các em thiếu niên, cán bộ địa phương, giáo viên phụ trách Đội, cán bộ Đoàn cơ sở và phụ huynh có con em trong độ tuổi thiếu niên nhằm tìm hiểu thực trạng giáo dục văn hóa cộng đồng cho thiếu niên tại địa phương
7.2.2 Phương pháp phỏng vấn sâu
Chúng tôi tiến hành phỏng vấn các em thiếu niên, cán bộ địa phương, giáo viên phụ trách Đội, cán bộ Đoàn cơ sở và phụ huynh có con em trong độ tuổi thiếu niên nhằm tìm hiểu rõ hơn về thực trạng nhu cầu giáo dục văn hóa cộng đồng cho thiếu niên và những giải pháp cần thực hiện
7.2.3 Phương pháp quan sát
Quan sát đời sống các em thiếu niên địa bàn huyện Sơn Hòa trong quá trình học tập, rèn luyện, giao tiếp ứng xử…để biết thêm những thông tin về cuộc sống thực tại của các em và nhất là thái độ ứng xử của các em với giá trị văn hóa cộng đồng của dân tộc
7.3 Phương pháp thống kê toán học trong khoa học giáo dục
Sử dụng phần mềm SPSS để xử lý, tổng kết số liệu điều tra đưa ra các kết luận định lượng làm cơ sở cho các kết luận định tính
Trang 178 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về tổ chức hoạt động giáo dục văn hóa cộng đồng cho thiếu niên
Chương 2: Thực trạng tổ chức hoạt động giáo dục văn hóa cộng đồng cho thiếu niên huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên
Chương 3: Biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục văn hóa cộng đồng cho thiếu niên huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên
Trang 18Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
VĂN HÓA CỘNG ĐỒNG CHO THIẾU NIÊN
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, nảy sinh và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người Giáo dục là một hoạt động có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, với mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức xác định Trong đó mục đích của giáo dục là hình thành
và phát triển nhân cách toàn diện cho người học Sự phát triển đó bao gồm
cả sự phát triển về thể chất, tâm lí và xã hội Mục đích giáo dục này là đơn đặt hàng của xã hội vì vậy xã hội càng phát triển thì đòi hỏi càng cao đối với chất lượng giáo dục
Hiện nay do yêu cầu của xã hội ngày càng cao, đòi hỏi giáo dục phải đào tạo ra những con người năng động, có khả năng thích ứng tốt, nhạy bén, đáp ứng được bốn trụ cột chính của giáo dục thế kỉ XXI: học để biết, học để làm, học để chung sống và học để khẳng định mình
Một yêu cầu đặt ra cho giáo dục là phải tổ chức hướng dẫn người học hoạt động để các em có được những năng lực thực tiễn, học phải đi đôi với hành Tuy nhiên không phải bây giờ tư tưởng đó mới xuất hiện mà đó là sự kế thừa tư tưởng của các nhà giáo dục vĩ đại của nhân loại
1.1.1 Những công trình nghiên cứu trên thế giới
Những nhà giáo dục tiêu biểu cho các thời kì từ lịch sử cổ đại đến hiện đại luôn thể hiện tư tưởng này trong giáo dục của mình, đó là quan điểm học
đi đôi với hành, lí luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường gắn liền với giáo dục gia đình và xã hội
- Khổng Tử (551-449 TCN) một nhà triết gia nổi tiếng Trung Hoa cổ đại được mệnh danh là “Đại Thành Chí Thánh” từng khẳng định: “Tụng thi tam bách, thụ chi dĩ chính bất phạt, sứ vu tứ phương bất năng chuyên đối”
Trang 19(Đọc kinh thư 300 thiên, nhưng giao chính quyền cho không làm được, đi sứ các nước không đối đáp được, tuy có học nhiều cũng chẳng ích gì) Như vậy ngay từ thời giáo dục chủ yếu đào tạo ra những con người “tầm chương chích cú” thì vấn đề “học” để “hành” cũng đã được đề cập [28]
- J.A Cômenxki (1592 – 1670), là cha đẻ của nền giáo dục cận đại, đã
có những cống hiến quý báu cho sự nghiệp giáo dục Cômenxki đã nêu lên nhiều nguyên tắc, phương pháp sư phạm mới của việc dạy học nhằm phát huy tính tích cực chủ động của người học, phản đối phương pháp giảng dạy kinh viện giáo điều Ông đặc biệt nhấn mạnh nguyên tắc trực quan, ông đã phân tích tỉ mỉ những yêu cầu cơ bản đối với nguyên tắc dạy và học khác như: bảo đảm tính hệ thống, liên tục, vừa sức, củng cố tri thức, ôn tập, khêu gợi hứng thú cho học sinh Ông chú trọng đến việc bồi dưỡng cho người học những tri thức phong phú phục vụ cho nhu cầu thực tế [28]
- Petxtalôzi (1746 - 1827) - một nhà giáo dục lớn của Thụy Sĩ và người đương thời gọi ông là “ông thầy của các ông thầy” Bằng con đường giáo dục thông qua thực nghiệm ông muốn cứu vớt trẻ em mồ côi, con nhà nghèo Nhân dân dựng tượng ông và ghi dòng chữ: “tất cả cho người khác, không gì cho mình” Ông dựng ra “trại mới” giúp trẻ vừa học văn hóa, vừa lao động ngoài lớp, ngoài trường học Ông cho rằng hoạt động ngoài lớp không những tạo ra của cải vật chất mà còn là con đường giáo dục toàn diện cho người học Ông quan niệm giáo dục gia đình đi trước, giáo dục trường học là sự tiếp nối
“giờ nào sinh ra trẻ em thì giờ đó bắt đầu sự giáo dục” [28]
- A.X Macarenco (1888 -1939), nhà giáo dục thực tiễn Xô Viết bằng kinh nghiệm gần 20 năm với trại lao động Goocki và công xã Deczinxki nhằm cải tạo trẻ em phạm pháp, ông đã nêu và làm sang rõ quan điểm giáo dục bằng lao động và trong lao động của mình Thành công của cuộc thực nghiệm này chính là ở chỗ, Macarenco không chỉ giáo dục trẻ em phạm pháp
Trang 20trong trường mà ông đã gắn liền giáo dục trong lao động, trong sinh hoạt tập thể và hoạt động xã hội đồng thời chứng minh chân lý giáo dục XHCN; giáo dục trong sinh hoạt xã hội; giáo dục trong tập thể, bằng tập thể; giáo dục trong lao động, giáo dục bằng tiền đồ viễn cảnh [28]
- Vào những năm 60 - 70, đất nước Liên xô đang trên con đường xây dựng CNXH, việc giáo dục con người phát triển toàn diện được Đảng cộng sản và Nhà nước quan tâm Các nghiên cứu về lí luận giáo dục nói chung và HĐGDNGLL nói riêng được đẩy mạnh Trong cuốn sách “Giáo dục học” tập
3, tác giả T.A.Ilina đã nêu: “Công tác giáo dục ngoại khoá bổ sung và làm sâu thêm công tác giáo dục nội khoá, trước tiên là phương tiện để phát hiện đầy
đủ tài năng và năng lực của trẻ em, làm thức tỉnh hứng thú và thiên hướng của người học đối với một hoạt động nào đó; đó là một hình thức tổ chức giải trí của người học và là cơ sở để tổ chức việc thực tập về hành vi đạo đức, để xây dựng kinh nghiệm của hành vi này” [43]
Như vậy, từ luận điểm của C.Mác về bản chất xã hội của con nguời
là “tổng hòa các mối quan hệ xã hội” đến luận điểm về sự kết hợp giáo dục, xây dựng môi trường giáo dục… là một chặng đường dài hơn nửa thể kỷ
XX và đây là cơ sở lý luận cơ bản của việc tổ chức hoạt động giáo dục văn hóa cộng đồng hiện nay Ngày nay, cùng với xu thế hội nhập và sự phát triển của các quốc gia… giáo dục của các nước đang có những định hướng
cơ bản nhằm tạo một thế hệ năng động, sáng tạo, thích nghi với hoàn cảnh sống luôn thay đổi, trong đó kĩ năng sống là thành tố cốt lõi của chất lượng giáo dục Điều này được thể hiện trong khẳng định của UNSECO là:
- Giáo dục thường xuyên, giáo dục suốt đời
- Nhà trường mở, giáo dục mở
- Tăng cường giáo dục cộng đồng, giáo dục gia đình
- Giáo dục cho mọi người
Trang 21- Giáo dục hướng tới bốn trụ cột: học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình
Các nghiên cứu của các nhà giáo dục trên bên cạnh giáo dục tri thức thì đều nhấn mạnh tầm quan trọng của giáo dục văn hóa cộng đồng, giáo dục đạo đức, lối sống, hành vi ứng xử, kỹ năng…cho người học Để thiếu niên có thể phát triển toàn diện, các ban, ngành, đoàn thể và các tổ chức chính trị - xã hội, các nhà giáo dục không phải chỉ cần quan tâm đến việc cung cấp tri thức trong nhà trường mà còn phải coi trọng các hoạt động tập thể, vui chơi giải trí, thể dục thể thao, văn nghệ, sinh hoạt tập thể… để người học phát triển toàn diện
1.1.2 Những công trình nghiên cứu ở Việt Nam
Thứ nhất, những nghiên cứu liên quan đến văn hóa, văn hóa cộng đồng
Ở Việt Nam, khi đề cập đến văn hóa cộng đồng phải kể đến những cống hiến to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh Người đã có nhiều đóng góp quý giá và sáng tạo cho nền văn hóa dân tộc và nhân loại Cuộc đời và sự nghiệp của Người là sự tỏa sáng văn hóa Hồ Chí Minh, là một nhân cách cao thượng Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu tượng cho sự tổng hòa thành công của nhiều nền văn hóa tiên tiến trên thế giới Người đã đưa ra quan niệm về “Văn hóa”, nhiệm vụ của văn hóa, tính chất của nền văn hóa mới (dân tộc, khoa học và đại chúng) cũng như xác định vai trò của văn hóa, của văn nghệ sĩ trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước Chúng ta có thể tìm thấy trong nhiều bài nói, bài viết hay các tác phẩm thơ của Người “Truyện và ký” (tập hợp những bài viết của Bác từ tháng 6-1922 đến tháng 10 – 1925), được nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 1974) đã để lại trong cộng đồng một bài học hết sức ấn tượng và sâu sắc về một trái tim sôi nổi, một ý chí đấu tranh bất khuất kiên cường và một tinh thần lạc quan cách mạng “Nhật ký trong tù” – một trong những tác phẩm văn học nổi tiếng của Hồ Chí Minh được viết chủ yếu trong khoảng thời gian từ tháng 8 - 1942 đến tháng 9 – 1943, ngoài giá trị lịch sử,
Trang 22giá trị triết học, “Nhật ký trong tù” còn là một tác phẩm văn học kiệt xuất phản ánh giá trị tinh thần trong quan hệ với vật chất, với “thể phách” của con người Toàn bộ tác phẩm toát lên sức sống, niềm tin, lạc quan cách mạng
“Muốn nên sự nghiệp lớn / Tinh thần phải càng cao” Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, cùng với chăm lo xây dựng đời sống vật chất, Người luôn quan tâm đến xây dựng đời sống tinh thần Điều đó thể hiện trong các bài phát biểu của Người tại Hội nghị văn hóa toàn quốc (ngày 24-6-1946); Đại hội văn nghệ toàn quốc lần thứ III (ngày 1-12-1962)
Cùng với Chủ tịch Hồ Chí Minh, cố thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng
để lại cho chúng ta nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa mà giá trị của nó
có sức lan tỏa to lớn, sâu rộng trong xã hội Việt Nam không chỉ hôm nay mà
cả mai sau Trong số các công trình đó phải kể đến cuốn “Văn hóa và đổi mới” [9] Trong lời giới thiệu, tác giả cho rằng: “Văn hóa và đổi mới là một
đề tài có tính thời sự nóng hổi Đối với nhiều người chúng ta, đây là một đề tài rấ thú vị, ở chỗ nó mở ra những chân trời mới cho sự suy nghĩ và nghiên cứu, và từ đó cho sự vận dụng và thực hiện trong cuộc sống” [9, 5] Trong mục “Văn hóa trong lịch sử dân tộc” đã luận giải một cách sâu sắc tầm quan trọng của văn hóa trong toàn bộ lịch sử phát triển dân tộc Văn hóa làm nên sức sống mãnh liệt, giúp cộng đồng các dân tộc Việt Nam vượt qua biết bao khó khăn, thử thách Do đó, việc kế thừa và phát huy các giá trị văn hóa, nhất
là các giá trị văn hóa tinh thần dân tộc là việc làm hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện nay
Các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam là một trong những cơ sở lý luận quan trọng định hướng cho mọi nghiên cứu về văn hóa, văn hóa cộng đồng Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII đã đưa ra Nghị quyết về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm
đà bản sắc dân tộc” Có thể nói đây là chiến lược phát triển văn hóa trong thời
Trang 23kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước Qua các kỳ Đại hội lần thứ IX (2001), lần thứ X (2006) Đảng ta đã tiếp tục chủ trương “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thuấn nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ; làm cho văn hóa trở thành nền tảng vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển” [18, 75-76] Gần đây, tháng 6 – 2014, tại Hội Trung ương 9 (khóa XI) Đảng ta đã tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) về văn hóa và ban hành Nghị quyết số 33-NQ/TW về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước Trong mục tiêu chung, Nghị quyết khẳng định văn hóa phải thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vẹ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Đo là cơ sở cho chúng ta hiểu rõ vấn đề phải làm cho văn hóa trở thành nhân tố thúc đẩy con người Việt Nam hoàn thiện nhân cách
Ngoài tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cố thủ tướng Phạm Văn Đồng, quan điểm của Đảng ta về văn hóa, về văn hóa cộng đồng, một số nhà nghiên cứu Việt Nam cũng có những luận giải khá sâu sắc về vấn đề này
Theo GS Vũ Khiêu, nói đến văn hóa là nói đến con người, là quan hệ giữa con người với con người, con người với tự nhiên, là cái của con người,
do con người và vì con người, không có giá trị văn hóa tự thân, tách khỏi con người Vì vậy, nói tới văn hóa là nói tới thái độ, trách nhiệm và những quy tắc ứng xử của mỗi người trong quan hệ với bản thân mình, với gia đình, bạn bè
và cộng đồng xã hội [26, 36-37]
GS Trần Văn Giàu trong công trình “Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam” [22], từ góc độ Sử học, Triết học, GS nghiên cứu, và phân tích 7 đức tính tốt đẹp của dân tộc Việt Nam bao gồm: Yêu nước, cần cù, anh
Trang 24hùng, sáng tạo, lạc quan, thương người, tình nghĩa Các truyền thống ấy, theo tác giả, đã được định hình với những nét cơ bản ngay từ thời Văn Lang xưa, được phát triển độc lập, không bị đồng hóa do ảnh hưởng từ bên ngoài
Trong số những công trình nghiên cứu về văn hóa nói chung và văn hóa Việt Nam nói riêng, tác phẩm “Bản sắc văn hóa Việt Nam” của GS Phan Ngọc [39] có một vị trí đặc biệt Đặc biệt vì đây là một trong số rất ít những quyển sách với mục tiêu xây dựng những khái niệm nền tảng, những phương pháp cơ bản cho ngành văn hóa nói chung và ngành nghiên cứu văn hóa Việt Nam nói riêng Đây là công trình nghiên cứu công phu và tâm huyết, đưa ra nhiều khái niệm và cách tiếp cận đầy sáng tạo như: “khúc xạ văn hóa”, “tiếp xúc văn hóa”, “truyền thống vượt gộp trong văn hóa Việt Nam”, “nhân cách Việt Nam”, “một định nghĩa thao tác luận về văn hóa” [39] Tuy nhiên, những khái niệm liên quan trực tiếp đến luận văn như “văn hóa cộng đồng” lại chưa được tác giả đề cập tới
Công trình nghiên cứu “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam” [45] của
GS Trần Ngọc Thêm đã xây dựng cơ sở lý luận về văn hóa, sắc thái riêng và đặc trưng văn hóa với cái nhìn độc lập, khá hệ thống, đi từ nhận thức về văn hóa , đến phân tích văn hóa cộng đồng trên cơ sở đi sâu vào văn hóa tập thể
và văn hóa cá nhân của lịch sử phát triển dân tộc Phần cuối cuốn sách, tác giả phân tích khá sâu sắc sự hình thành văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên
và môi trường xã hội trong bản sắc văn hóa Việt Nam
Thứ hai, những nghiên cứu liên quan đến hoạt động giáo dục văn hóa
cộng đồng
Giáo dục văn hóa cộng đồng cho thiếu niên thực chất là giáo dục đạo đức, lối sống và ý thức công dân thông qua các loại hình tổ chức hoạt động giáo dục nhằm bồi dưỡng cho thiếu niên những phẩm chất đạo đức của người công dân chân chính
Trang 25Công trình “Một số vấn đề lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã hội” [52]
do Huỳnh Khái Vinh chủ biên (2001), đã cho thấy rõ: lối sống, đạo đức và chuẩn giá trị xã hội là những yếu tố cơ bản trong đời sống của mỗi con người, gắn liền với các cơ sở kinh tế, chính trị, tư tưởng và mọi mặt của đời sống xã hội, từ thực trạng tác động của các yếu tố đó, tác giả đưa ra giải pháp để xây dựng lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã hội
Tạp chí lý luận chính trị “Nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức trong Trường phổ thông hiện nay” [40] của Phạm Nguyên Nhung (2013), trong đó tác giả đưa ra một trong những giải pháp quan trọng để nâng cao chất lượng giáo dục trong trường phổ thông hiện nay là phải tăng cường có hiệu quả việc giảng dạy môn Giáo dục công dân - một môn học ảnh hưởng trực tiếp đến việc cung cấp tri thức đạo đức cũng như điều chỉnh hành vi đạo đức của học sinh
Như vậy, xung quanh vấn đề văn hóa, văn hóa cộng đồng, giáo dục văn hóa cộng đồng đã được một số tác giả đề cập đến trong nghiên cứu từ các cách tiếp cận khác nhau Có thể nói, các công trình nghiên cứu trên đã tập trung làm rõ được nội dung, tầm quan trọng cũng như đề xuất một số giải pháp thiết thực, để giáo dục văn hóa cộng đồng cho thiếu niên ở nhiều khía cạnh khác nhau Đây là những tài liệu quý giúp chúng tôi hoàn thành luận văn này
Tuy nhiên, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống về vấn đề tổ chức hoạt động giáo dục văn hóa cộng đồng cho thiếu niên
ở huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên Do vậy, tác giả thấy cần phải đi sâu nghiên cứu vấn đề “Tổ chức hoạt động giáo dục văn hóa cộng đồng cho thiếu niên huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên”, qua đó luận giải những đặc điểm có tính quy luật, đề xuất những giải pháp cơ bản tổ chức hoạt động giáo dục văn hóa cộng đồng cho thiếu niên huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên Đây là vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng trong nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo của huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên hiện nay
Trang 261.2 Một số khái niệm công cụ của đề tài
1.2.1 Giáo dục
Theo Giáo dục học đại cương giáo dục được hiểu theo hai nghĩa:
- Giáo dục (nghĩa hẹp) là quá trình hình thành cho người được giáo dục
lí tưởng, động cơ, niềm tin, những nét tính cách của nhân cách, những hành
vi, thói quen cư xử đúng đắn trong xã hội thông qua việc tổ chức cho họ các hoạt động và giao lưu
- Giáo dục (theo nghĩa rộng) là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch, có nội dung, và bằng phương pháp khoa học của nhà giáo dục tới người được giáo dục trong các cơ quan giáo dục nhằm hình thành nhân cách cho họ [41]
Trên cơ sở khái niệm trên có thể đưa ra cách hiểu giáo dục là một quá trình dạy và học nhằm chuẩn bị những kiến thức và kỹ năng cần thiết, hoặc làm thay đổi hành vi có hại bằng hành vi có lợi Giáo dục cũng là quá trình giao tiếp hai chiều và qua đó người dạy và người học cùng chia sẻ hiểu biết, kinh nghiệm và cùng học tập lẫn nhau
1.2.2 Hoạt động giáo dục
Cuộc sống con người là một dòng hoạt động Con người là chủ thể của các hoạt động thay thế nhau Trong đó hoạt động là quá trình con người thực hiện các quan hệ của mình với thế giới tự nhiên, xã hội, người khác và bản thân Hoạt động là phương thức tồn tại của con người, là nhân tố quyết định trực tiếp sự hình thành và phát triển nhân cách Hoạt động của con người là hoạt động có mục đích, mang tính xã hội, được thực hiện bằng những thao tác nhất định với công cụ nhất định Thông qua hai quá trình đối tượng hóa và chủ thể hóa trong hoạt động mà nhân cách được bộc lộ và hình thành
Sự hình thành và phát triển tâm lí, ý thức, nhân cách gắn chặt với hoạt động của con người Muốn hình thành và phát triển nhân cách con người phải
Trang 27tham gia vào các dạng hoạt động khác nhau phải gia nhập vào các mối quan
hệ xã hội bởi sự tham gia của các cá nhân vào các hoạt động toàn diện là điều kiện cho sự phát triển toàn diện của con người với tư cách là một nhân cách Hoạt động giáo dục giữ vai trò chủ đạo đối với sự hình thành và phát triển nhân cách
Như vậy, hoạt động giáo dục (HĐGD) là hoạt động do người dạy tổ chức theo kế hoạch, chương trình, điều hành và chịu trách nhiệm
Để HĐGD có hiệu quả, việc tổ chức các HĐGD phải chú ý những vấn
đề cơ bản sau:
- Cơ cấu các HĐGD cần được xác định theo mục tiêu giáo dục mà trước hết nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội và nhu cầu phát triển con người nhưng không thể đi quá xa so với các hoạt động cơ bản của người học Xét cho cùng HĐGD chỉ là một trong rất nhiều hoạt động của người học
- Các HĐGD tạo môi trường cho hoạt động của người học và chính những hoạt động của người học quyết định sự phát triển nhân cách của mỗi cá nhân Vì thế các HĐGD phải dựa vào hoạt động của người học, mặt khác hoạt động của người học phải được định hướng bởi các HĐGD Hoạt động giáo dục và hoạt động của người học không thể thay thế cho nhau Do vậy tất cả các HĐGD với các hình thức khác nhau cần phải hoạch định sao cho phát huy tốt nhất những hoạt động cơ bản của người học tập trung ưu tiên và đẩy mạnh những hoạt động này
- Các HĐGD thường hướng vào các mặt giáo dục tương ứng Vì vậy có bao nhiêu mặt giáo dục thì sẽ có bấy nhiêu HĐGD Tuy nhiên các HĐGD này đều dựa trên nền tảng dạy học, có hoạt động dạy học thì tất yếu có HĐGD
1.2.3 Văn hóa
Trong nghiên cứu về văn hóa nhiều học giả cho rằng văn hóa (hiểu theo nghĩa rộng) nói chung bao gồm tất cả những giá trị vật chất và tinh thần Theo
Trang 28nghĩa rộng nhất của nó, văn hóa bao gồm những sáng tạo về vật chất và tinh thần của con người trong quá trình cải tạo hiện thực khách quan Những tri thức, các kết quả của hoạt động cải tạo xã hội và tự nhiên là thành phần của văn hóa Văn hóa không tự hạn chế vào một số biểu hiện của đời sống tinh thần Nó là toàn bộ cuộc sống; cả vật chất, tinh thần của từng cộng đồng người Như vậy, có thể khẳng định rằng: tất cả những gì không phải là thiên nhiên đều là văn hóa
Văn hóa tinh thần cũng được hiểu theo hai nghĩa cơ bản rộng và hẹp Theo nghĩa rộng, văn hóa được hiểu là toàn bộ những giá trị, những hoạt động tinh thần của con người Taylor cho rằng “Văn hóa hiểu theo nghĩa rộng nhất của nó là toàn bộ phức thể bao gồm hiểu biết, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và những khả năng và tập quán khác mà con người có được với tư cách là một thành viên của xã hội” Tiêu biểu cho cách hiểu này là A.K Vlêđốp: “Việc coi văn hóa tinh thần chỉ là tổng hợp những giá trị tinh thần
là phiến diện Văn hóa tinh thần như là sự hoạt động sáng tạo tích cực của con người, như là sự sản xuất cất giữ và sử dụng những giá trị tinh thần”
Theo nghĩa hẹp, các tác giả cho rằng văn hóa tinh thần là những dấu ấn tinh thần, những giá trị tinh thần đặc thù của một quốc gia dân tộc nhằm phân biệt dân tộc này với dân tộc khác Tiêu biểu cho cách hiểu này là khái niệm văn hóa của UNESCO được thừa nhận rộng rãi: Văn hóa là “tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo của con người đã diễn ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại Qua hàng thế kỷ các hoạt động sáng tạo ấy đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống thị hiếu thẩm mỹ và lối sống
mà dựa trên đó từng dân tộc khẳng định bản sắc riêng của mình” [29, 5]
Văn hóa là một hệ thống hữu cơ những giá trị vật chất và tinh thần do con người, loài người sáng tạo, tích lũy thông qua hoạt động thực tiễn trong suốt quá trình lịch sử của mình Con người là sản phẩm cao nhất của tự nhiên
Trang 29và văn hóa là sản phẩm đặc sắc nhất của con người Có thể nói văn hóa là sự hóa thân của đời sống, nó thấm vào mọi lĩnh vực hoạt động của con người, nó xuyên suốt cơ thể xã hội, nó biểu hiện trình độ người, trình độ xã hội, văn minh quốc gia, văn minh nhân loại
1.2.4 Cộng đồng
Xuất phát từ tiếng La – tinh, “cộng đồng” – comminis có nghĩa là
“chung/ công cộng/ được chia sẻ với mọi người hoặc nhiều người
Theo quan điểm Mác – Xít, cộng đồng là mối quan hệ qua lại giữa các
cá nhân, được quyết định bởi sự cộng đồng hóa lợi ích giống nhau của các thành viên về các điều kiện tồn tại và hoạt động của những người hợp thành cộng đồng đó, bao gồm các hoạt động sản xuất vật chất và các hoạt động khác của họ, sự gần gũi các cá nhân về tư tưởng, tín ngưỡng, hệ giá trị chuẩn mực cũng như các quan niệm chủ quan của họ về các mục tiêu và phương tiện hoạt động [31, 10-11]
Như vậy, quan niệm về cộng đồng theo quan điểm Mác – Xít là quan niệm rất rộng, có tính khái quát cao, mang đặc thù của kinh tế - chính trị Dấu hiệu đặc trưng của nhóm người trong cộng đồng này là “điều kiện tồn tại và hoạt động”, là “lợi ích” chung, là “tư tưởng”, “tín ngưỡng”, “giá trị” chung Thực chất đó là cộng đồng giai cấp, ý thức hệ
“Cộng đồng là một tập thể có tổ chức, bao gồm các cá nhân con người sống chung ở một địa bàn nhất định, có chung một đặc tính xã hội hoặc sinh học nào đó và cùng chia sẻ với nhau một lợi ích vật chất hoặc tinh thần nào đấy” (Trung tâm Nghiên cứu và Tập huấn PTCĐ)
“Cộng đồng là tập thể người sống trong cùng một khu vực, một tình hoặc một quốc gia và được xem như một khối thống nhất”; “Cộng đồng là một nhóm người có cùng tín ngưỡng, chủng tộc, cùng loại hình nghề nghiệp, hoặc cùng mối quan tâm”; “Cộng đồng là một tập thể cùng chia sẻ, hoặc có tài nguyên chung, hoặc có tình trạng tương tự nhau về một số khía cạnh nào đó” (Tự điển Đại học Oxford)
Trang 30Như vậy, cộng đồng có thể ở quy mô các cấp khác nhau từ lớn đến nhỏ,
từ chung chung đến cụ thể như: cộng đồng địa lý bao gồm những người dân
cư trú trong cùng một địa bàn có thể có chung các đặc điểm văn hoá xã hội và
có thể có mối quan hệ ràng buộc với nhau Họ cùng được áp dụng chính sách chung Cộng đồng chức năng gồm những người có thể cư trú gần nhau hoặc không gần nhau nhưng có lợi ích chung Họ liên kết với nhau trên cơ sở nghề nghiệp, sở thích, hợp tác hay hiệp hội có tổ chức
Từ những quan niệm trên, theo chúng tôi, cộng đồng là danh từ chung chỉ một tập hợp người nhất định nào đó với hai dấu hiệu quan trọng: 1/ họ cùng tương tác (tác động qua lại) với nhau; 2/ họ cùng chia sẻ với nhau (có chung với nhau) một hoặc một vài đặc điểm vật chất hay tinh thần nào đó
1.2.5 Văn hóa cộng đồng
Theo tác giả Phạm Hồng Tung:
Văn hóa cộng đồng là văn hóa ứng xử của một cộng đồng, tức là phương thức và nguyên tắc ứng xử của một cộng đồng trong những môi trường, không gian và lịch sử xác định [47]
Như vậy, văn hóa cộng đồng là:
Ứng xử nội bộ cộng đồng (ứng xử hướng nội)
Ứng xử của cộng đồng với môi trường xung quanh (ứng xử hướng ngoại) Khi quan niệm rằng văn hóa cộng đồng là văn hóa ứng xử, không có nghĩa là đơn giản hóa văn hóa cộng đồng tới mức chỉ chú trọng những yếu tố, phương tiện bề ngoài mà coi nhẹ hoặc bỏ qua nhưng yếu tố bên trong như hệ giá trị hay ý thức cộng đồng…Trái lại, những yếu tố đó, cho dù là tiềm ẩn nhưng đóng vai trò cốt lõi và luôn được thể hiện hoặc hiện thực hóa thông qua các quy tắc, tiêu chí, chuẩn mực và phương thức ứng xử của cộng đồng
Theo chúng tôi, văn hóa cộng đồng là những khuôn mẫu lý tưởng, những quy tắc ứng xử giữa con người với con người, giữa con người với tự
Trang 31nhiên trên cơ sở hệ giá trị do cộng đồng sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động, trong mối quan hệ với môi trường xã hội Hệ giá trị đó bao gồm: truyền thống yêu nước, truyền thống nhân ái, khoan dung, truyền thống đoàn kết, ý thức cộng đồng, truyền thống hiếu học – tôn sư trọng đạo, truyền thống yêu lao động, cần cù, tiết kiệm, đức tính giản dị, khiêm tốn, thủy chung, lạc quan
Như vậy, giáo dục văn hóa cộng đồng là hoạt động có mục đích của các chủ thể và đối tượng giáo dục, nhằm trang bị những giá trị đạo đức truyền thống của cộng đồng dân tộc Việt Nam cho thiếu niên, thông qua hệ thống nội dung, hình thức, biện pháp khoa học, góp phần hoàn thiện phẩm chất nhân cách cho thiếu niên huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên
Giáo dục văn hóa cộng đồng cho thiếu niên tồn tại như một hệ thống luôn ở trạng thái vận động, phát triển không ngừng, diễn ra trong môi trường nhà trường và xã hội Sự vận động, phát triển đồng bộ, tổng hợp của các thành tố tạo nên sự vận động, phát triển của quá trình giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cho thiếu niên huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên Đó là quá trình tương tác hợp quy luật giữa giáo dục và đào tạo của Nhà trường, của các
tổ chức cộng đồng với sự tự giáo dục, rèn luyện của người học nhằm hình thành, phát triển ở họ những chuẩn mực đạo đức cách mạng theo mục tiêu, yêu cầu đào tạo
1.3 Đặc điểm tâm - sinh lý lứa tuổi thiếu niên
Tuổi thiếu niên là giai đoạn phát triển của trẻ từ 11 - 15 tuổi, các em được vào học ở trường trung học cơ sở (từ lớp 6 - 9) Lứa tuổi này có một vị trí đặc biệt và tầm quan trọng trong thời kỳ phát triển của trẻ em, vì nó là thời
kỳ chuyển tiếp từ tuổi thơ sang tuổi trưởng thành và được phản ánh bằng những tên gọi khác nhau như: “thời kỳ quá độ“, “tuổi khó bảo“, “tuổi khủng hoảng “, “tuổi bất trị” ,
Trang 32Thời kì này có một vị trí hết sức quan trọng và đặc biệt, vì đặc biệt là thời kì chuyển từ cuối nhi đồng sang lứa tuổi thiếu niên Sự chuyển tiếp này tạo nên nội dung cơ bản và sự khác biệt đặc thù về mọi mặt ở thời kỳ này, được biểu hiện như sau:
1.3.1 Sự biến đổi về mặt giải phẫu sinh lí:
Đây là lứa tuổi phát triển mạnh mẽ nhưng không đều về mặt cơ thể Tầm vóc của các em lớn lên trông thấy Sự phát triển của hệ xương mà chủ yếu là sự phát triển của các xương tay, xương chân rất nhanh nhưng ương ngón tay, ngón chân phát triển chậm Vì thế ở lứa tuổi này các em không mập béo, mà cao, gầy và thiếu cân đối, các em có vẻ long ngóng, vụng về của mình mà cố gắng che giấu nó bằng điệu bộ không tự nhiên, cầu kì, tỏ ra mạnh bạo, can đảm để người khác không chú ý tới vẻ bề ngoài của mình
Sự phát triển của hệ tim mạch cũng không cân đối; tuyến nội tiết bắt đầu hoạt động hoạt động mạnh, thường dẫn đến sự rối loạn của hoạt động thần kinh Do đó, các em dễ xúc động, dễ bực tức Hệ thần kinh của lứa tuổi này còn chưa có khả năng chịu kích thích mạnh, đơn điệu, kéo dài dễ gây cho các em tình trạng bị ức chế hay ngược lại, xảy ra tình trạng bị kích động mạnh
Tóm lại, sự thay đổi về thể chất của lứa tuổi này đã làm cho các em
có những đặc điểm nhân cách khác nhau với các em ở lứa tuổi trước Lứa tuổi này là lứa tuổi có nghị lực dồi dào, có tính tích cực cao có, có nhiều
dự định lớn lao
1.3.2 Sự phát triển trí tuệ:
Lứa tuổi này có khả năng phân tích, tổng hợp phức tạp hơn khi tri giác các sự vật, hiện tượng Khối lượng tri giác tăng lên, tri giác trở nên có kế hoạch, có trình tự hoàn thiện hơn
Trang 33Hoạt động tư duy của lứa tuổi này có những biến đổi cơ bản Do nội dung các môn học phong phú, đa dạng, phức tạp đòi hỏi tính chất mới mẻ của việc lĩnh hội tri thức, đòi hỏi phải dựa vào tư duy độc lập, khả năng khái quát hóa, trừu tượng hóa, so sánh, phán đoán mới rút ra được kết luận, mới hiểu được tài liệu học Vì thế tư duy của các em đã phát triển ở mức cao
1.3.3 Hoạt động giao tiếp:
Lứa tuổi này có nhu cầu mở rộng quan hệ với người lớn và mong muốn người lớn quan hệ với nó một cách bình đẳng như người lớn, không muốn người lớn coi nó như trẻ con trước đây nữa
Sự nảy sinh ở lứa tuổi này là cảm giác về sự trưởng thành và nhu cầu được người lớn thừa nhận nó là người lớn đã đứa đến vấn đề quyền hạn của người lớn và các em trong quan hệ với nhau
Như vậy việc chuyển tiếp từ kiểu quan hệ giữa người lớn và trẻ em, sang kiểu quan hệ mới về chất (đặc thù cho sự giao tiếp lứa tuổi thiếu niên với người lớn), tạo điều kiện phát triển mức độ trưởng thành ở lứa tuổi này
Sự giao tiếp giữa các em đã vượt qua ngoài phạm vi nhà trường, mà còn mở rộng trong những hứng thú mới, những việc làm mới, những quan hệ mới trong đời sống của các em, các em có nhu cầu lớn trong giao tiếp với bạn
bè, Vì vậy, ở lứa tuổi này hoạt động giao tiếp với bạn bè đã trở thành hoạt động chủ đạo đứng sau hoạt động học tập Do đó, giáo dục đạo đức cho các
em ở lứa tuổi này cần lưu ý đến những nhóm bạn bè mà các em tham gia
Tóm lại, sự giao tiếp ở lứa tuổi thiếu niên là một hoạt động đặc biệt Nhờ hoạt động giao tiếp mà các em nhận thức được người khác và bản thân mình; đồng thời qua đó làm phát triển một số kĩ năng như năng so sánh, phân tích, khái quát hành vi của bản thân và của bạn, làm phong phú thêm những biểu tượng về nhân cách của bạn và của bản thân
Trang 341.2.4 Sự phát triển nhân cách:
Sự hình thành tự ý thức
Đặc điểm quan trọng về tự ý thức của lứa tuổi này là sự mâu thuẫn giữa nhu cầu tìm hiểu bản thân với kĩ năng chưa đầy đủ để phân tích đúng đắn sự biểu lộ của nhân cách
Ý nghĩa quyết định nhất để phát triển tự ý thức ở lứa tuổi này là cuộc sống tập thể của các em, nơi mà nhiều mối quan hệ giá trị đúng đắn, mối quan
hệ này sẽ hình thành ở các em lòng tự tin vào sự tự đánh giá của mình, nhưng
là những yêu cầu ngày càng cao đối với hành vi, hoạt động của các em, nguyện vọng tìm kiếm một vị trí trong hệ thống những mối quan hệ xã hội đứng đắn đối với các em, cũng đồng thời giúp cho sự phát triển về mặt tự ý thức của các em
Sự hình thành tình cảm
Tình cảm của lứa tuổi này có một đặc điểm nổi bật là dễ xúc động, dễ
bị kích động, tình cảm còn mang tính chất bồng bột Nhiều khi do hoạt động thần kinh không cân bằng, thường quá trình hưng phấn mạnh hơn quá trình ức chế mà khiến các em không thể kiềm chế nổi
Ở lứa tuổi này, đã bắt đầu xuất hiện sự quan tâm đến bản thân, đến những phẩm chất nhân cách của mình Ở các em đã biểu hiện nhu cầu tự đánh giá, nhu cầu so sánh mình với người khác Các em đã bắt đầu xem xét mình, vạch cho mình một nhân cách tương lai, muốn hiểu biết về mặt mạnh, mặt yếu trong nhân cách của mình
Sự bắt đầu hình thành và phát triển tự ý thức đã gây ra nhiều ấn tượng sâu sắc đến toàn bộ đời sống tâm lý của lứa tuổi này, đến hoạt động học tập, đến sự hình thành mối quan hệ qua lại mọi người Sự tự ý thức của lứa tuổi này bắt đầu
từ sự nhận thức hành vi của mình Lúc đầu các em tự nhận thức được những hành vi riêng lẻ, sau đó là toàn bộ hành vi của mình Cuối cùng là các em nhận thức về những phẩm chất đạo đức, tính cách và khả năng của mình
Trang 35Tóm lại, thiếu niên là lứa tuổi đang hình thành nhân cách, lứa tuổi rất thích hoạt động nhưng nhận thức và khả năng còn hạn chế Đây là yếu tố chi phối việc giáo dục văn hóa cộng đồng thiếu niên Xét cho cùng, kết quả giáo dục nói chung và giáo dục đạo đức nói riêng phụ thuộc rất nhiều vào việc tiếp nhận của đối tượng giáo dục Dù chủ thể giáo dục có tích cực đến đâu mà đối tượng giáo dục không tiếp nhận thì quá trình giáo dục không có hiệu quả
1.4 Mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức, lực lượng, đối tượng tổ chức hoạt động giáo dục văn hóa cộng đồng cho thiếu niên
1.4.1 Mục tiêu tổ chức hoạt động giáo dục văn hóa cộng đồng cho thiếu niên
Để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước do Đảng ta lãnh đạo, nhằm xây dựng xã hội Việt Nam ngày càng trở nên giàu đẹp thì chúng ta cần có nguồn lực con người vững mạnh, đó phải là những con người mới, những con người phát triển toàn diện về mọi mặt, trong
đó, đức là gốc, là nền tảng để sử dụng hữu ích tài năng giúp mình, giúp nước như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: có đức mà không có tài thì không có đủ năng lực điều hành công việc Có tài mà không có đức dẫn tới hỏng việc, có hại cho cách mạng Với chiến lược phát triển con người toàn diện phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thế hệ trẻ nói chung và thiếu niên nói riêng là đối tượng cần phải chú ý đầu tiên, bởi lẽ, họ “là người chủ tương lai của nước nhà”
Chính vì vậy, việc tổ chức hoạt động giáo dục văn hóa cộng đồng cho thiếu niên nhằm hướng đến mục tiêu sau:
- Tổ chức hoạt động giáo dục văn hóa cộng đồng cho thiếu niên sẽ góp phần giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống trong điều kiện lịch sử mới
Trang 36- Tổ chức hoạt động giáo dục văn hóa cộng đồng giúp thiếu niên có hiểu biết sâu sắc về các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, góp phần bảo
vệ và phát huy những giá trị tốt đẹp ấy trong xây dựng văn hóa mới, xây dựng đời sống tinh thần mới cho thiếu niên
- Tổ chức hoat động giáo dục văn hóa cộng đồng cho thiếu niên sẽ góp phần phát triển và hoàn thiện nhân cách thiếu niên, đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Mục tiêu của cách mạng nước ta là: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh” Để đạt mục tiêu đó cần phải có những con người mới, những nhân cách phát triển toàn diện
- Tổ chức hoạt động giáo dục văn hóa cộng đồng còn tạo điều kiện để thiếu niên tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại để hoàn thiện nhân cách của mình Việc tổ chức hoạt động giáo dụcgiáo dục văn hóa cộng đồng cho thiếu niên còn tạo ra một cơ chế phòng ngừa những phản giá trị xuất hiện từ mặt trái của kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập thế giới, sự giao thoa, tiếp biến giữa các nền văn hóa là điều không thể tránh khỏi Vấn đề đặt ra là tiếp thu cái gì, tiếp thu như thế nào điều đó phụ thuộc vào chủ thể giáo dục Việc phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, bên cạnh những tác động tích cực như thúc đẩy sự phát triển kinh tế, kích thích tính tích cực của nhân cách trong lao động, học tập thì kinh tế thị trường vẫn tạo ra những hiệu ứng tiêu cực đối với sự phát triển nhân cách con người nói chung, nhân cách thanh niên nói riêng Kinh tế thị trường trong khi thừa nhận và khuyến khích việc chạy theo lợi ích cá nhân đã tạo ra xu hướng tuyệt đối hóa lợi ích cá nhân Về điều này, Hội nghị Trung ương lần thứ năm khóa VIII đã nhấn mạnh: “Chúng
ta không quy mọi xấu xa đều do kinh tế thị trường, nhưng không thể không thấy rằng, về khách quan mà nói kinh tế thị trường với sức mạnh tự phát ghê
Trang 37gớm của nó đã khuyến khích chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng, làm cho người ta chỉ chú ý tới lợi ích vật chất mà coi nhẹ lợi ích cộng đồng, chỉ chú ý tới lợi ích trước mắt mà coi nhẹ lợi ích cơ bản lâu dài” [12, 30]
1.4.2 Nội dung tổ chức hoạt động giáo dục văn hóa cộng đồng cho thiếu niên
Nội dung giáo dục văn hóa cộng đồng bao gồm giáo dục về: tinh thần yêu nước; tinh thần đoàn kết và ý thức cộng đồng; tinh thần nhân ái - yêu thương con người; tinh thần hiếu học, ham hiểu biết, có ý chí vượt khó; tinh thần cần cù, tiết kiệm, thông minh, sáng tạo, cụ thể:
Tinh thần yêu nước
Yêu nước là tình cảm của tất cả mọi dân tộc trên thế giới chứ không phải chỉ là tình cảm, là truyền thống riêng của dân tộc Việt Nam Tuy nhiên, ở mỗi một quốc gia dân tộc thì tình cảm này lại được thể hiện khác nhau và mang những nội dung không hoàn toàn trùng nhau Đối với dân tộc Việt Nam, lòng yêu nước là bậc thang cao nhất trong hệ thống các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử dân tộc Việt Nam từ ngàn xưa cho tới hôm nay
Yêu nước là tình yêu đối với đất nước, là lòng trung thành với Tổ quốc biểu hiện ở khát vọng và hành động tích cực để phục vụ và đem lại nhiều lợi ích cho Tổ quốc và nhân dân Yêu nước là tình cảm thiêng liêng của nhân dân ta từ xưa tới nay Lòng yêu nước có nguồn gốc sâu xa từ ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc Yêu nước là đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lên trên hết, là chăm lo xây dựng quê hương đất nước, sẵn sàng chống đô hộ và xâm lược, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, giữ gìn và phát huy văn hóa dân tộc Lòng yêu nước của dân tộc ta đã trở thành triết lý sống, triết lý nhân sinh, trở thành chủ nghĩa yêu nước như giáo
sư Trần Văn Giàu đã viết: “Chủ nghĩa yêu nước là sản phẩm của bản thân
Trang 38lịch sử Việt Nam được bắt đầu từ tình cảm tự nhiên của mỗi người đối với quê hương mình tiến lên thành lý tưởng và hệ thống tư tưởng làm chủ của nhận thức đúng sai, tốt xấu, nên chăng và chỉ đạo rất nhiều phương lược xây dựng và bảo vệ nước nhà” [21, 7]
Lịch sử dân tộc Việt Nam là lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm, lịch sử dựng nước và giữ nước Vì vậy, yêu nước trước hết là nêu cao tinh thần chiến đấu chống giặc ngoại xâm của dân tộc Điều này đã được chứng minh qua lịch sử đấu tranh của dân tộc ta để bảo vệ độc lập dân tộc xây dựng đất nước Trải qua hơn một nghìn năm dưới ách đô hộ của thực dân phong kiến phương Bắc, cha ông ta vẫn kiên cường giữ nước, giữ làng Mỗi làng xóm Việt Nam là một thành trì vững chắc chống lại chính sách đô hộ của bọn ngoại bang, bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc Khi đất nước đã hoàn toàn giải phóng, truyền thống yêu nước được thể hiện trong điều kiện tồn tại của nhà nước phong kiến độc lập Trong khoảng thế kỷ thứ X đến thế kỷ XV, nhân dân cả nước thực sự bắt tay vào xây dựng đất nước Công cuộc khai khẩn đất đai, xây dựng các công trình thủy lợi, phát triển nông nghiệp, mở mang nhiều ngành nghề đã góp phần hình thành một nền kinh tế tự chủ, đáp ứng phần lớn các nhu cầu thiết yếu của nhân dân trong nước và đặt cơ sở cho việc ngoại giao với các nước khác Trên cơ sở kinh tế đó, nhà nước phong kiến được củng cố và phát triển với đầy đủ các thiết chế chính trị, quân sự, văn hóa ý thức dân tộc do đó cũng được tăng cường và củng cố thêm
Truyền thống đó một lần nữa lại được phát huy cao độ trong cuộc chiến đấu vì độc lập tự do của nhân dân ta Cuộc chiến đó diễn ra trong sự so sánh lực lượng chênh lệch có lợi về phía địch Trong điều kiện đó, tinh thần yêu nước, ý chí bất khuất kiên cường là nhân tố có ý nghĩa quyết định tạo nên sức mạnh chiến đấu và chiến thắng của dân tộc ta Chính lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần dân tộc sâu sắc đã giúp nhân dân ta vượt qua mọi khó khăn, chiến
Trang 39thắng mọi thế lực xâm lược Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là một truyền thống quý báu của ta Từ xưa tới nay mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước” [36, 171]
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội thì truyền thống yêu nước của dân tộc ta được biểu hiện chủ yếu ở tình yêu nhân dân, yêu chủ nghĩa xã hội, không chỉ yêu nhân dân nước mình mà còn biết quý trọng, yêu mến nhân dân nước khác Yêu nước hiện nay là nâng cao lòng tự hào dân tộc, tin tưởng
ở tương lai tươi sáng của dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng, phấn đấu thực hiện một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Chủ nghĩa yêu nước của dân tộc Việt Nam sớm được hình thành, được thử thách và khẳng định qua bao thăng trầm của lịch sử, được bổ sung và phát triển qua từng thời kỳ, theo yêu cầu phát triển của dân tộc và của thời đại Kế thừa và phát huy chủ nghĩa yêu nước trong hoàn cảnh lịch sử mới vừa là trách nhiệm, vừa là vinh dự lớn lao đối với mỗi người dân Việt Nam hiện nay nói chung, thiếu niên nói riêng
Tinh thần đoàn kết và ý thức cộng đồng
Tinh thần đoàn kết bắt nguồn từ chủ nghĩa yêu nước và nó cũng là biểu hiện của chủ nghĩa yêu nước Đoàn kết là sức mạnh tổng hợp của cả cộng đồng dân tộc trong việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là điều kiện tất yếu để bảo tồn dân tộc, nhất là khi đất nước có giặc ngoại xâm Tinh thần ấy thể hiện
từ rất sớm ngay trong truyền thuyết “Trăm trứng nở trăm con” Nhờ đoàn kết
mà cha ông ta đã sáng tạo nên nền văn minh Sông Hồng, đặt cơ sở cho toàn
bộ tiến trình về sau của lich sử Đoàn kết đã giúp nhân dân ta vượt qua những thử thách khắc nghiệt của thiên nhiên, phát triển sản xuất để phục vụ đời sống của mình Tinh thần đoàn kết toàn dân là nguồn sức mạnh to lớn để nhân dân
ta đánh thắng mọi thế lực xâm lược
Trang 40Tinh thần đoàn kết của người Việt Nam, trước tiên, được thể hiện trong gia đình, trong cộng đồng làng xã, và hơn hết, trong toàn thể cộng đồng các dân tộc Việt Nam Có lẽ, hiếm có một dân tộc nào mà tinh thần đoàn kết lại được biểu hiện nhiều và đa dạng như ở những làng quê Việt Nam Ở bất cứ lĩnh vực gì người ta cũng tạo ra sự nhất trí cao như Đào Duy Anh đã nhận xét:
“Ở trong một làng người ta thấy những cuộc đoàn kết nhỏ như hội tư văn gồm những người có chức tước khoa danh, hội văn phả gồm những người nho học
mà không có phẩm hàm khoa mục gì, hội võ phả gồm những người quan võ, hội đồng môn gồm có tất cả học trò của một thầy Ngoài ra còn có vô số các đoàn thể khác, như hội mua bán dùng cách gắp thăm hay bỏ tiền úp bát mà lần lượt góp tiền cho nhau trong việc khánh hỷ, cùng là những hội bách nghệ họp các thợ thủ công đồng nghiệp, hội chư bà họp các bà vãi lễ phật, hội đồng quan họp những bà thờ đồng thánh, hội bát âm họp các tài tử âm nhạc, cho đến hội chọi gà, hội chọi chim…xem thế thì thấy người nhà quê ta rất ham lập hội”
Tinh thần cộng đồng làng xã được mở rộng thành tinh thần đoàn kết dân tộc và không ngừng được nâng cao trong quá trình dựng nước và giữ nước Từ kinh nghiệm thực tế ông cha ta đã khẳng định rằng “Đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết”, rồi “Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao” và chắc rằng mỗi người trong chúng ta đều không thể quên được câu chuyện “Bó đũa” về tinh thần đoàn kết trong gia đình Trong lịch sử chống giặc ngoại xâm, dựa vào tinh thần đoàn kết mà Ngô Quyền cùng nhân dân ta đã làm nên chiến thắng vang dội trên sông Bạch Đằng và cho tới ngày hôm nay tinh thần ấy vẫn được phát huy cao độ
Tinh thần đoàn kết và ý thức cộng đồng trở thành một truyền thống đạo đức quý báu của dân tộc Điều này đã được minh chứng trong toàn bộ tiến trình lịch sử của dân tộc Việt Nam Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: dễ mười lần không dân cũng chịu, khó trăm lần dân liệu cũng xong