1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

Nghiên cứu đề xuất giải pháp tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong hoạt động cấp nước nông thôn bền vững tại xã thanh trạch, huyện bố trạch, tỉnh quảng bình

109 311 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 2,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở Việt Nam, những nghiên cứu về sự tham gia của cộng đồng trong lĩnh vực cấp nước và vệ sinh nông thôn chưa nhiều, đặc biệt là sự tham gia của cộng đồng góp phần đảm bảo tính ổn định các

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH

NGUYỄN THỊ HỒNG HẢI

NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNGSỰ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNGTRONG HOẠT ĐỘNG CẤP NƯỚC NÔNG THÔN BỀN VỮNGTẠI XÃ THANH TRẠCH, HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC BỀN VỮNG

HÀ NỘI – 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH

NGUYỄN THỊ HỒNG HẢI

NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNGSỰ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNGTRONG HOẠT ĐỘNG CẤP NƯỚC NÔNG THÔN BỀN VỮNGTẠI XÃ THANH TRẠCH, HUYỆN BỐ TRẠCH,TỈNH QUẢNG BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC BỀN VỮNG

Chuyên ngành: KHOA HỌC BỀN VỮNG

Mã số: Chương trình đào tạo thí điểm

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Chu Hồi

HÀ NỘI – 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôixincamđoan,luậnvănnàylàcôngtrìnhnghiên cứudocánhântôithực hiệndướisựhướngdẫnkhoahọccủaPGS TS Nguyễn Chu Hồi,khôngsaochépcáccông trìnhnghiêncứucủangườikhác.Sốliệuvàkếtquảcủaluậnvănchưatừngđượccông

Trang 4

LỜICẢMƠN

Luậnvănthạcsĩ“Nghiên cứu đề xuất giải pháp tăng cường sự tham gia của cộng đồng

trong hoạt động cấp nước nông thôn bền vững tại xã Thanh Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình”đãđượchoànthànhtại Khoacác khoa học liên ngành-ĐạihọcQuốcgiaHà

Nộitháng1 1 năm2016.Trongquátrìnhhọctập,nghiêncứuvàhoànthànhluậnvăn, học viên đãnhậnđượcrấtnhiềusựgiúpđỡcủacácthầycô,bạnbèvàgiađình

Học viênxinđượcgửilờicảmơnchânthànhđếnPGS.TS Nguyễn Chu Hồiđãtrựctiếp hướngdẫnvàgiúpđỡhọc viêntrongquátrìnhnghiêncứuvàhoànthiệnluậnvăn

Học viêncũngxinđượcgửilờicảmơn đếncácanhchịđanglàmviệctạiTrung tâm Quốc gia Nước sạch và Vệ sinh Môi trường nông thôn, Ban Quản lý dự án Cấp nước và Vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Quảng Bình,UBND xã Thanh Trạch, cáchộgiađìnhởthôn Quyết Thắng, thôn Thành Vinh và thôn Thanh Xuânđãhỗtrợhọc viênvềchuyên môn,thuthậptàiliệu, thôngtintrongcácchuyếnthựcđịaphương

Học viêncũngxinđượcgửilờicảmơnđếncácthầycôgiáoKhoa các khoa học liên ĐạihọcQuốcgiaHàNộivàtoànthểcácthầycôgiáođãgiảngdạy lớp Khoahọcbềnvững-Khóa1

ngành-vì đã cung cấp kiến thức và tạomọiđiềukiệnthuậnlợinhấtchohọc viêntrongsuốt thời gianhọctập và thựchiệnluậnvăn

Trongkhuônkhổcủamộtluậnvăn thạc sỹ,dothờigiancũngnhưđiềukiệnhạnchế nênkhôngtránhkhỏinhữngthiếusót.Vìvậy,học viênrấtmongnhậnđượcnhữngý kiếnđónggópquýbáucủacácthầycôvàcácđồngnghiệp

Xintrântrọngcảmơn!

HàNội, tháng năm2016

Tác giả

Nguyễn Thị Hồng Hải

Trang 5

IEC Thông tin - Giáo dục - Truyền thông

M&E Giám sát và đánh giá

MARD

MTTQ

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Mặt trận Tổ quốc

NCERWASS Trung tâm quốc gia Nước sạch và Vệ sinh Môi trường nông thôn

NN&NT Nông nghiệp và Nông thôn

PCERWASS Trung tâm Nước và Vệ sinh nông thôn tỉnh

RRA

PTBV

Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn Phát triển bền vững

O&M Vận hành và bảo dưỡng

PCERWASS Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh Môi trường nông thôn cấp tỉnh

PTBV Phát triển bền vững

SWOT Điểm mạnh- điểm yếu- cơ hội- thách thức

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN 2

LỜICẢMƠN 3

DANH MụC VIếT TắT 1

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do lựa chọn đề tài nghiên cứu 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 4

3 Dự kiến những đóng góp của đề tài 5

4 Vấn đề nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 5

4.1 Vấn đề nghiên cứu 5

4.2 Giả thuyết nghiên cứu 5

CHƯƠNG 1: CƠ Sở LÝ LUậN CủA Đề TÀI NGHIÊN CứU 7

1.1 Các khái niệm công cụ 7

1.1.1 Khái niệm cộng đồng 7

1.1.2 Khái niệm sự tham gia 8

1.1.3 Khái niệm cấp nước nông thôn bền vững 10

1.2 Tổng quan nghiên cứu 11

1.2.1 Về nông thôn bền vững và vai trò của hoạt động cấp nước sạch trong việc xây dựng nông thôn mới 11

1.2.2 Kinh nghiệm về sự tham gia của cộng đồng trong dự án cấp nước sạch trên thế giới và ở Việt Nam 17

1.3 Đặc trưng cơ bản về vùng nghiên cứu 24

1.3.1 Tiêu chí lựa chọn địa điểm nghiên cứu 24

1.3.2 Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của vùng nghiên cứu 25 1.3.3 Hiện trạng cấp nước và vệ sinh môi trường tại địa bàn nghiên cứu 27 1.3.4 Tình hình bệnh tật liên quan đến cấp nước và vệ sinh tại địa bàn

Trang 7

nghiên cứu 28

CHƯƠNG 2: ĐốI TƯợNG, PHạM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CứU 30

2.1 Đối tượng nghiên cứu 30

2.2 Phạm vi nghiên cứu 30

2.3 Nội dung nghiên cứu 30

2.4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 31

2.4.1 Cách tiếp cận 31

2.4.2 Phương pháp nghiên cứu 33

2.4.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 36

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 37

3.1 Sự tham gia của cộng đồng trong các giai đoạn của dự án cấp nước sạch ở xã Thanh Trạch 37

3.1.1 Mức độ tham gia của cộng đồng trong giai đoạn chuẩn bị dự án 38

3.1.2 Hoạt động tham gia của cộng đồng trong giai đoạn thực hiện dự án42 3.1.3 Tham gia của cộng đồng trong giai đoạn vận hành bảo dưỡng 46

3.1.4 Hoạt động tham gia của cộng đồng trong giai đoạn giám sát và đánh giá 48

3.2 Các hình thức tham gia của cộng đồng trong các giai đoạn của dự án cấp nước sạch ở khu vực nghiên cứu 48

3.2.1 Cộng đồng tham gia dưới hình thức “Nghe và biết thông tin về dự án” 49

3.2.2 Cộng đồng tham gia bằng hình thức “đóng góp tiền bạc và công lao động cho dự án” 53

3.2.3 Cộng đồng tham gia dự án bằng hình thức “tuyên truyền vận động cho người khác” 54 3.2.4 Cộng đồng tham gia dự án qua hình thức “tham dự các cuộc họp” 59 3.2.5 Cộng đồng tham gia bằng hình thức giám sát thực hiện và bảo vệ

Trang 8

công trình 60

3.3 Vai trò tham gia của cộng đồng trong việc duy trì tính ổn định lâu dài của hoạt động cấp nước sạch 62

3.4 Đánh giá chung sự tham gia của cộng đồng trong dự án cấp nước sạch tại xã Thanh Trạch bằng phân tích SWOT 68

3.5 Thảo luận chung 70

CHƯƠNG 4: Đề XUấT GIảI PHAP THÚCĐẩY Sự THAM GIA CủA CộNG ĐồNG TRONG HOạT ĐộNG CấP NƯớC SạCH GÓP PHầN XÂY DựNG NÔNG THÔN BềN VữNG 73

4.1 Xây dựng môi trường pháp lý phù hợp để thúc đẩy sự tham gia bền vững của cộng đồng 73

4.2 Phát triển cộng đồng gắn với tổ chức cộng đồng 74

4.3 Thay đổi cách tiếp cận quy hoạch, lập kế hoạch phát triển ngành cấp nước 75

4.4 Tăng cường phương thức “tiếp cận theo nhu cầu” và “tiếp cận dựa trên quyền” 75

4.5 Nâng cao năng lực hỗ trợ cộng đồng của chính quyền địa phương 75

4.6 Phân bổ ngân sách cho các hoạt động hỗ trợ cộng đồng sau khi dự án kết thúc 78

4.7 Tăng cường năng lực cho cộng đồng về vận hành, bảo dưỡng công trình 78

4.8 Tăng cường quyền tiếp cận thông tin cho cộng đồng 79

KếT LUậN VA KHUYếN NGHị 80

1 Kết luận 80

2 Khuyến nghị 81

TAI LIệU THAM KHảO 83 PHụ LụC 1 HƯớNG DẫN PHỏNG VấN BÁN CấU TRÚC I PHỤ LỤC 2 BảNG HỏI KHảO SÁT Hộ GIA ĐÌNH III

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Vị trí xã Thanh Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình 26

Hình 1.2 Các ca bệnh tật liên quan đến cấp nước và vệ sinh được báo cáo trong cộng đồng xã Thanh Trạch 29

Hình 3.1 Cộng đồng tham gia vào các giai đoạn của dự án cấp nước sạch xã Thanh Trạch 37

Hình 3.2 Hoạt động tham gia cộng đồng trong giai đoạn chuẩn bị dự án tại xã Thanh Trạch 39

Hình 3.3 Hoạt động của cộng đồng trong giai đoạn chuẩn bị dự án tại xã Thanh Trạch 41

Hình 3.4 Hoạt động tham gia cộng đồng trong giai đoạn thực hiện dự án tại xã Thanh Trạch 42

Hình 3.5 Cộng đồng tham gia chương trình Ngày thứ Bảy xanh trong hoạt động CBA-IEC 45

Hình 3.6 Hoạt động tham gia cộng đồng trong giai đoạn vận hành bảo dưỡng công trình tại xã Thanh Trạch 47

Hình 3.7 Người dân nghe và biết thông tin vể dự án 49

Hình 3.8 Các kênh thông tin về dự án cấp nước xã Thanh Trạch (%) 51

Hình 3.9 Hình thức đóng góp vào công trình cấp nước xã Thanh Trạch (%) 53

Hình 3.10 Cộng đồng tham gia vào các hoạt động truyền thông nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi 55

Hình 3.11 Truyền thông của cộng đồng trong khu vực dự án nghiên cứu 55

Hình 3.12 Cộng đồng tham gia dự án thông qua hình thức họp cộng đồng 59

Hình 3.13 Mong muốn tham gia đóng góp ý kiến vào dự án 59

Hình 3.14 Hình thức đóng góp ý kiến vào dự án (%) 60

Hình 3.15 Các hình thức tham gia của cộng đồng trong dự án cấp nước sạch khu vực nghiên cứu 61

Hình 3.16 Hình ảnh cộng đồng sử dụng nước sạch trong khu vực nghiên cứu 67

Hình 3.17 Mức thang tương ứng với sự tham gia của cộng đồng vào dự án 71

Hình 3.18 Mức thang cộng đồng tham gia vào các giai đoạn của dự án 72

Trang 10

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Thành phần Ban Nước và Vệ sinh xã và Đội tuyên truyền viên phân

theo giới 43 Bảng 3.2 Các kênh thông tin người dân mong muốn nhận được thông tin nhiều

nhất (%) 52 Bảng 3.3 Nội dung thông tin truyền thông về việc sử dụng nước máy 566 Bảng 3.4 Thông tin về giá nước, phí sử dụng nước và chi phí đấu nối của khu

vực nghiên cứu 577 Bảng 3.5 Các hình thức truyền thông về chủ đề sử dụng nước máy 588 Bảng 3.6 Hình thức, mức độ và vai trò tham gia của cộng đồng trong dự án 63 Bảng 3.7 Kết quả phân tích SWOT đối với sự tham gia của cộng đồng trong dự

án cấp nước sạch khu vực nghiên cứu 688 Bảng 4.1 Mô tả nhiệm vụ hỗ trợ cộng đồng của cơ quan chức năng trong từng

giai đoạn 76

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài nghiên cứu

Nước sạch là một phần quan trọng trong bức tranh tổng thể về chất lượng của cuộc sống và cũng chính là phần quan trọng không thể thiếu được cho cuộc sống con người Thông điệp của Liên Hiệp Quốc: “Nước - 2 tỷ người đang khát” đưa ra trong Ngày Môi trường Thế giới năm 2003 đã thể hiện và phản ánh được tính bức bách của gần 1/3 dân cư trên khắp hành tinh do tình trạng thiếu nước, trong đó có Việt Nam Kể từ sau năm 1975 cho đến những năm đầu thế kỷ XXI, vẫn còn hàng chục triệu người Việt Nam, đặc biệt là người dân sinh sống trong khu vực nông thôn chưa từng có cơ hội tiếp cận với nước sạch [28] Họ đang phải từng ngày đối mặt với những nguy cơ bệnh tật hiểm nghèo, sức khỏe suy giảm vì thiếu nước sạch Nước sạch là giấc mơ và cũng là ước vọng của hàng triệu người dân nông thôn Việt Nam

Ngay từ thập niên cuối của thế kỷ 20, nhận thức được tầm quan trọng và tính cấp bách của vấn đề nước sạch trong việc cải thiện đời sống người dân nông thôn, Việt Nam đã xây dựng chính sách, chiến lược và chương trình mới phù hợp với Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDGs) và các mục tiêu quốc gia nhằm cải thiện cung cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn

Kể từ khi Chiến lược quốc gia về Cấp nước sạch và Vệ sinh Môi trường Nông thôn ra đời năm 2000, trong những năm qua, đầu tư cho lĩnh vực cấp nước nông thôn đã gia tăng một cách đáng kể Bên cạnh các nguồn đầu tư của Chính Phủ và của các tổ chức quốc tế như UNICEF, Cơ quan Viện trợ phát triển Quốc tế Đan Mạch (DANIDA), Cơ quan Viện trợ phát triển Quốc tế của Úc (AUSAID), Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) và rất nhiều các tổ chức Chính phủ và phi chính phủ khác, Việt Nam đã đạt được những tiến bộ rõ rệt về cấp nước sinh hoạt nông thôn trong hơn 10 năm qua Tính đến cuối những năm 1990, tỷ lệ dân cư nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh ở Việt Nam vẫn còn rất thấp, chỉ khoảng 30%, đến năm 2005 cả nước đã có khoảng 62% người dân nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh và cho đến nay đã nâng tỷ lệ người dân nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh lên khoảng 84 % vào cuối năm

Trang 12

2014[4] Tuy nhiên, phần lớn các chương trình đầu tư được tiến hành theo phương thức

„tiếp cận truyền thống‟ - nghĩa là các hoạt động thường được quyết định từ trên xuống mà không có sự tham gia và đóng góp ý kiến của các cấp cơ sở, việc cung cấp dịch vụ theo quan điểm của nhà đầu tư, không có hoặc có rất ít sự tham gia của người sử dụng Nói cách khác, các công trình cấp nước thường được tiến hành xây dựng theo khả năng cung cấp và trang bị kỹ thuật của các nhà đầu tư và do đó, ít quan tâm chú trọng đến nhu cầu và mong muốn của người sử dụng cũng như các khả năng chi trả của họ Kết quả là, tính ổn định của các thành quả đã đạt được chưa cao, các công trình chưa được thiết kế phù hợp và không đáp ứng được nhu cầu của người sử dụng; công tác thi công và bảo dưỡng còn kém, thu không đủ bù chi phí vận hành, bảo dưỡng và sửa chữa dẫn đến công trình bị xuống cấp, thậm trí ngừng hoạt động1[4]

Sự tham gia của cộng đồng trong các chương trình và dự án phát triển đã được thực hiện trong nhiều thập kỷ qua tại các nước phát triển Tuy nhiên, trong khoảng thời gian dài tại Việt Nam người dân không biết làm thế nào để tham gia vào các giai đoạn khác nhau của một chương trình tại địa phương cũng như không có năng lực và kinh nghiệm cần thiết trong quá trình tham gia vào các hoạt động phát triển Đồng thời, các cơ chế khuyến khích

sự tham gia của người dân vào quá trình ra quyết định còn hạn chế, cũng như không có thông tin hay hướng dẫn cụ thể nào giúp người dân tham gia vào quá trình ra quyết định Nhận thức được những thách thức trong quá trình phát triển như vậy, từ đầu năm

2000, sự tham gia của cộng đồng đã trở thành một phần quan trọng trong các chương trình

và dự án phát triển, đặc biệt là trong các chương trình và dự án của Ngân hàng Phát triển Châu Á, Ngân hàng Thế giới và các tổ chức phát triển khác „Sự tham gia‟ được coi vừa là mục đích vừa là phương tiện, vì nó xây dựng kỹ năng và nâng cao năng lực hành động của cộng đồng trong việc giải quyết các vấn đề và cải thiện cuộc sống của chính họ, cũng như đáp ứng nhu cầu của người dân, đặc biệt là người nghèo Các chương trình và dự án sẽ có nhiều cơ hội thành công và bền vững hơn nếu có sự tham gia hiệu quả của người hưởng lợi,

1Thống kê tổng hợp của Trung tâm quốc gia Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn đến cuối năm 2007 cho biết, cả nước có trên 7.000 công trình cấp nước tập trung mọi quy mô, trong đó chỉ có 1.826 công trình hoạt động tốt (chiếm 41%); 1.537 công trình hoạt động bình thường (35%); 856 công trình kém (hơn 19%) và 214 công trình không hoạt động Như vậy, tỷ lệ công trình cấp nước hoạt động kém hoặc không còn hoạt động chiếm tới gần 25%.

Trang 13

và sự tham gia này phải diễn ra ở mọi giai đoạn trong chu kỳ hoạt động của dự án, từ hoạch định chính sách và chiến lược, xây dựng dự án, thực hiện dự án, đến giám sát và đánh giá

Dự án cấp nước và vệ sinh nông thôn xã Thanh Trạch, huyện Bố Trạch tỉnh Quảng Bình là một trong 14 tiểu dự án của Dự án Cấp nước và Vệ sinh Môi trường nông thôn vùng miền Trung được thực hiện từ cuối năm 2011 đến hết tháng 12 năm 2016, sử dụng vốn vay của Ngân hàng Phát triển Châu Á và được triển khai thực hiện tại 6 tỉnh miền Trung Việt Nam, bao gồm: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Nam và Bình Định Mục tiêu của dự án là cung cấp nước sạch và nhà tiêu hợp vệ sinh cho 100% dân số trong vùng dự án; dân cư trong vùng dự án được cải thiện về hành vi vệ sinh Dự án cũng góp phần thực hiện mục tiêu của Chiến lược quốc gia về nước sạch của Việt Nam đến năm 2020; góp phần bảo đảm phát triển „nông thôn bền vững‟ và tham gia giải quyết đồng

bộ ba vấn đề - nông dân, nông nghiệp và nông thôn‟ trong chính sách „Tam nông‟

Một trong những nội dung của dự án là huy động sự tham gia của cộng đồng trong các giai đoạn khác nhau của dự án, từ thiết kế, tới triển khai và giám sát đánh giá Dự án được thực hiện theo phương pháp tiếp cận dựa vào cộng đồng (CBA) thông qua kế hoạch hành động dựa vào cộng đồng được xây dựng dựa trên nhu cầu và đặc điểm của mỗi địa phương, nhằm thay đổi cách tiếp cận truyền thống từ trên xuống (top-down) nói trên Dự án

áp dụng CBA để huy động cộng đồng tham gia tích cực vào tất cả các giai đoạn của chu trình dự án, từ việc xác định đầu tư, lựa chọn kỹ thuật, đóng góp về mặt tài chính và các loại hình đóng góp khác, giám sát xây dựng và quản lý công trình sau xây dựng

Sự tham gia của cộng đồng được hợp thức hóa bằng cách thành lập các tổ chức cộng đồng của những nhóm người đại diện cho các hộ gia đình được hưởng lợi (như Ban nước

và vệ sinh xã; Đội tuyên truyền viên sức khỏe và vệ sinh) Thông qua tổ chức cộng đồng người hưởng lợi sẽ: Lựa chọn hình thức cung cấp nước và công nghệ (đấu nối giữa các hộ gia đình, vòi nước tại hộ gia đình, v.v.); Trao đổi về mức độ dịch vụ mà họ sẵn sàng và có khả năng chi trả; Đóng vai trò quan trọng trong lập kế hoạch và thiết kế dự án; Đóng góp thời gian, công sức và tài liệu cho dự án; Vận hành và duy trì hệ thống đảm bảo tính ổn định; và Thực hiện can thiệp thay đổi nhận thức và hành vi về sử dụng nước sạch và vệ sinh

Trang 14

môi trường

Thực tế đã cho thấy, sự tham gia của cộng đồng là một yếu tố quan tro ̣ng cho s ự thất bại hay thành công c ủa một dự án Bởi vì cộng đồng, những người hưởng lợi, bao gồm cảphụ nữ, người cao tuổi, hộ nghèo, nữ chủ hộ, người dân tộc thiểu số,…đều có quyền tham gia đóng góp ý kiến vào tất cả các giai đoạn của dự án, do đó thái độ và trách nhiệm làm chủ của mỗi người đều được nâng cao, qua đó đáp ứng tốt nhất nhu cầu của người hưởng lợi, nhằm đảm bảo lợi ích về kinh tế - xã hội trong dài hạn mà dự án sẽ mang lại trong tương lai

Ở Việt Nam, những nghiên cứu về sự tham gia của cộng đồng trong lĩnh vực cấp nước và vệ sinh nông thôn chưa nhiều, đặc biệt là sự tham gia của cộng đồng góp phần đảm bảo tính ổn định các kết quả do dự án cấp nước mang lại càng ít hơn Để đạt kết quả ổn định trong lĩnh vực cấp nước và vệ sinh môi trường sau khi dự án kết thúc, bên cạnh công tác đầu tư xây dựng và vận hành kỹ thuật, thì yếu tố sự tham gia của cộng đồng cũng cần được phân tích và đánh giá, từ đó có những giải pháp tăng cường hiệu quả của sự tham gia của cộng đồng trong các dự án cấp nước và vệ sinh môi trường góp phần phát triển nông thôn bền vữngở khu vực nghiên cứu

Với các lý do trên, học viên đã lựa chọn đề tài luận văn thạc sỹ về “Nghiên cứu đề

xuất giải pháp tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong hoạt động cấp nước nông thôn bền vững tại xã Thanh Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình”

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Hiểu được vai trò và mối quan hệ của sự tham gia của cộng đồng trong hoạt động cấp nước sạch với phát triển nông thôn bền vững trong bối cảnh thực hiện xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam hiện nay

- Đánh giá thực trạng sự tham gia của cộng đồng trong hoạt động cấp nước sạch tại

xã Thanh Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình

- Đề xuất các giải pháp tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong hoạt động cấp nước sạch để góp phần xây dựng nông thôn bền vững ở khu vực nghiên cứu

Trang 15

3 Dự kiến những đóng góp của đề tài

Là một đề tài luận văn thạc sỹ thực hiện trong phạm vi thời gian ngắn và năng lực còn hạn chế liên quan đến „khoa học bền vững‟ nên học viên chỉ mong muốn góp một phần nhỏ trong việc đánh giá sự tham gia của cộng đồng trong các hoạt động cấp nước sạch khu vực nông thôn tại địa bàn nghiên cứu, trên cở sở đó sẽ khuyến nghị,nhân rộng giải pháp từ kết quả nghiên cứu điểm này ra các khu vực nông thôn khác ở Việt Nam

4 Vấn đề nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

4.1 Vấn đề nghiên cứu

- Làm rõ nhu cầu phát triển nông thôn mới (nông thôn bền vững) và mối quan hệ của nó với với vấn đề cấp nước sạch khu vực nông thôn; Xác định vai trò tham gia của cộng đồng trong việc duy trì tính hiệu quả (ổn định lâu dài) của hoạt động cấp nước sạch nông thôn

- Làm rõ thực trạng và mức độ tham gia của cộng đồng trong hoạt động cấp nước sạch tại xã Thanh Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình Sự tham gia này được biểu hiện thông qua những hoạt động nào và trong các giai đoạn nào của chu trình dự án?

- Cần có giải pháp và chính sách nào để thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng nhằm duy trì tính bền vững trong hoạt động cấp nước khu vực nông thôn?

4.2 Giả thuyết nghiên cứu

- Giả thuyết nghiên cứu 1: Trong dự án cấp nước sạch tại xã Thanh Trạch, huyện Bố

Trạch, tỉnh Quảng Bình cộng đồng có cơ hội được tham gia đóng góp ý kiến và đưa ra quyết định của mình về các điều kiện cấp nước sạch ngay từ đầu trong tất cả các bước của chu trình dự án, trong đó đặc biệt quan tâm ý kiến của nhóm người nghèo, nhóm phụ nữ và nhóm dân tộc thiểu số Nếu thiếu sự tham gia đó, liệu kết quả thực hiện dự án theo cách tiếp cận truyền thống có duy trì được kết quả tốt lâu dài sau khi dự án kết thúc không; và có ảnh hưởng đến phát triển khu vực nông thôn bền vững không

- Giả thuyết nghiên cứu 2: Trong phần lớn dự án mà các công trình là vốn nhà nước

đầu tư, cơ hội cho người dân nông thôn tham gia góp ý kiến và đưa ra các quyết định của

Trang 16

họ - với tư cách là những khách hàng trong các giai đoạn của dự án là rất hạn hẹp, và được thực hiện theo phương pháp tiếp cận truyền thống Dự án cấp nước sạch tại xã Thanh Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình được thực hiện theo cách tiếp cận dựa vào cộng đồng, theo nguyên tắc tiếp cận từ dưới lên (bottom-up) nhằm tăng cường và đảm bảo sự tham gia rộng rãi của cả cộng đồng, đặc biệt là nhóm yếu thế trong cộng đồng Vậy sự tham gia hiện nay của cộng đồng trong dự án cấp nước sạch ở khu vực nông thôn nghiên cứu đã bảo đảm kết quả thu được từ dự án ổn định lâu dài chưa

- Giả thuyết nghiên cứu 3: Có rất nhiều hình thức huy động và thúc đẩy sự tham gia

của cộng đồng trong dự án cấp nước sạch nông thôn Tuy nhiên, liệu các giải pháp bổ sung

có tăng cường được sự tham gia hiệu quả của cộng đồng vào dự án cấp nước sạch để góp phần bảo đảm tính bền vững của khu vực nông thôn của họ không

Trang 17

CHƯƠNG 1:CƠ Sở LÝ LUậN CủA Đề TÀI NGHIÊN CứU

1.1 Các khái niệm công cụ

1.1.1 Khái niệm cộng đồng

Cộngđồnglàkháiniệm cóthểhiểutheonghĩarộngvàtheonghĩahẹp Từkháiniệm nghĩarộngcóthểhiểucộng đồng tồntạidướinhiều dạngkhác nhau,theonghĩa hẹp có thể hiểu cộng đồngnhư:

- Những cộng đồng về địa lý có thể bao gồm một vùng, một thị trấn, hoặc một nhóm nông trại trải dài theo không gian rộng

- Một cộng đồng đồng nhất là một nhóm người có những mối quan tâm chung trên cơ

sở có cùng nghề nghiệp, vǎn hoá, hiểu biết, tôn giáo hoặc các hoạt động giải trí

- Các cộng đồng có thể là cộng đồng doanh nghiệp; cộng đồng sinh viên học sinh; cộng đồng nông nghiệp; hay rộng lớn hơn là nhóm các quốc gia như Cộng đồng Chung châu Âu

Một cá nhân có thể đồng thời thuộc về vài cộng đồng tại cùng một thời điểm do bản thân họ có nhiều mối quan tâm, nhiều sở thích và chia sẻ lợi ích với nhiều nhóm người khác nhau; trong một cộng đồng số thành viên thườngcó xu hướng biến đổi Cộng đồng nông thôn gắn kết với nhau trên cơ sở tình xóm giềng truyền thống và quan

hệ trong nội bộ dòng tộc

Có nhiều khái niệm về cộng đồng, theo nghĩa hẹp, trong đó nổi bật 2 khái niệm sau: Marcia (2007) cho rằng “cộng đồng là các nhóm dân cư có cùng sở thích, có chung lợi ích và mối quan tâm”[64]

T Schouten và P Moriarty (2006) lại cho rằng “Cộng đồng sinh ra và tồn tại do một nhóm những người đồng sở thích, nhưng cộng đồng không chỉ có nghĩa chỉ là một nhóm gồm những cá nhân ó mà nó còn bao hàm cả mối quan hệ, hành vi, ứng xử và sự tương tác giữa các thành viên” [72]

Trong nghiên cứu, luận văn sử dụng khái niệm của Marcia (2007), vì khái niệm này đã phản ánh được những đặc trưng mang tính bản chất của cộng đồng

Trang 18

1.1.2 Khái niệm sự tham gia

Về mặt khái niệm, tham gia là một quá trình hướng tới sự tham gia và chia sẻ giữa

các bên liên quan trong các hoạt động.Theo Anstein Sherry (1969), sự tham gia của cộng đồng được xem là quyền lực công dân [51] Cohen và Uphoff (1977) cho rằng sự tham gia bao gồm sự can dự của người dân trong tiến trình ra quyết định, trong thực hiện chương trình, chia sẻ quyền lợi của các chương trình phát triển cũng như trong đánh giá các chương trình [54]

Vềcáccấpđộsựthamgia.Để xem xét sự tham gia của cộng đồng, luận văn sử dụng

các mô hình lý thuyết về cấp độ tham gia của Anstein Sherry [51], Brager và Specht [53]

và của Ngân hàng Thế giới Cách phân chia của Arnstein có phần nghiêng về việc mô tả các hành động của chủ quản lý dự án hướng tới cộng đồng để lôi kéo và trao quyền cho

họ

Anstein Sherry [51]mô tả quá trình tham gia của cộng đồng như là một chiếc thang với tám bước:

(1) Sự vận động, lôi kéo

(2) Liệu pháp: chưa tạo ra sự tham gia, chỉ có mục đích đào tạo người tham gia Giả

sử kế hoạch kiến nghị là tốt nhất và phải giành được sự ủng hộ từ cộng đồng thông qua quan hệ công chúng

(3) Thông báo/ Cung cấp thông tin Đây là bước quan trọng đầu tiên nhằm thúc đẩy

sự tham gia nhưng thường thông tin chỉ mang tính một chiều mà không có phản hồi

(4) Tham vấn Khảo sát thái độ, tổ chức các cuộc họp khu dân cư và tham khảo ý kiến cộng đồng Thường lại chỉ là những nghi thức

(5) Xoa dịu Bầu những thành viên xứng đáng vào tổ chức

(6) Hợp tác Dàn xếp để phân phối lại quyền lực giữa công dân và chính quyền Cả hai đều phải có trách nhiệm trong lên kế hoạch và ra quyết định

(7) Ủy quyền Các công dân phải nắm giữ đa số các vị trí trong tổ chức và có quyền quyết định

(8) Kiểm soát Quần chúng đã có thể chịu trách nhiệm

Brager và Specht [53] xuất phát từ lập trường của người dân để mô tả mức độ mà họ

Trang 19

đạt được trong tiến trình tham gia dự án với mức độ từ thấp đến cao:

- Không Cộng đồng không được nói gì: vì sự tham gia không thểxảy ra

- Nhận thông tin Cộng đồng được nói về những gì được lập kế hoạch và sựchấp nhận được kỳ vọng

- Được tham vấn Sự chấp nhận đạt được thông qua phát triển sự đồng thuậnđối với

- Có quyền Cộng đồng được tham gia vào trong quá trình lập cộngđồng từ lúc lập

dự án, nhưng vẫn còn các yếu tố từ trênxuống

- Có quyền kiểm soát Cộng đồng thực hiện cả xác định vấn đề và tìm cách giải quyết

Ngân hàng Thế giới xem sự tham gia của người dân như là 1 quá trình, nhờ đó người dân và đặc biệt là phụ nữ, người nghèo và trẻ em được tham gia vào quá trình ra quyết định ảnh hưởng tới cuộc sống của họ Sự tham gia của người dân nhằm các mục đích:

(1) Trao quyền- một sự chia sẻ quyền lực hợp lý với người tham gia để nâng cao nhận thức về khả năng tham gia của họ vào quá trình thực hiện dự án

(2) Xây dựng và nâng cao năng lực của người dân trong phát triển của chính họ và cộng đồng của họ

(3) Tăng cường hiệu lực của dự án, thúc đẩy sự đồng thuận, sự hợp tác cũng như tương tác giữa những người hưởng lợi của dự án và giữa họ với các cơ quan thực hiện dự

án

(4) Chia sẻ chi phí của dự án với người hưởng lợi, do đó giảm được chi phí cũng như thời gian thực hiện dự án

Trang 20

1.1.3 Khái niệm cấp nước nông thôn bền vững

- Công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn (gọi tắt là công trình cấp nước nông thôn) là công trình hạ tầng kỹ thuật nhằm khai thác nguồn nước ngầm, nước mặt tự nhiên

để phục vụ nhu cầu nước sinh hoạt cho nhân dân nông thôn

- Hoạt động cấp nước nông thôn bền vững khi nó hội tụ đầy đủ 3 yếu tố kinh tế- kỹ thuật, xã hội và môi trường như sau:

 Bền vững về mặt kinh tế, kỹ thuật: đảm bảo công trình được vận hành tốt , bảo dưỡng tốt, cung cấp nước đủ tiêu chuẩn Đảm bảo các hộ dân thực hiện việc cam kết đấu nối và sẵn sàng chi trả phí đấu nối và sử dụng nước đúng hạn Kinh tế của các hộ dân có điều kiện phát triển kinh tế khi không mất thời gian đi lấy nước, giảm chi phí thuốc men và thăm khám các bệnh liên quan đến nước,được vay vốn

từ quỹ tiết kiệm khi tham gia Nhóm tiết kiệm- tín dụng của Quỹ Tín dụng vệ sinh quay vòng vốn để sản xuất kinh doanh

 Bền vững về mặt xã hội: cộng đồng được tham gia vào các khâu của dự án ( chuẩn bị, thực hiện, vận hành bảo dưỡng, giám sát đánh giá) Thông qua việc tham gia các hoạt động của dự án sẽ phát huy sức mạnh tập thể của người dân, gắn kết tình đoàn kết nội bộ rất phù hợp với “ văn hóa làng xã” tại Việt Nam Người dân phát huy được quyền làm chủ của mình

 Bền vững về mặt môi trường: Việc sử dụng nước sạch, nhà tiêu hợp vệ sinh, thực hiện các hành vi vệ sinh đúng cách, hoạt động vệ sinh tổng thể cộng đồng giúp cho môi trường tại nông thôn được cải thiện, sức khỏe của người dân được nâng cao

Cộng đồng thông qua việc phát huy các vai trò sản xuất, vai trò tái sản xuất, vai trò

xã hội khi tham gia dự án cấp nước và vệ sinh môi trường nông thôn sẽ đóng góp vào việc duy trì tính bền vững của dự án

Trang 21

1.2 Tổng quan nghiên cứu

1.2.1 Về nông thôn bền vững và vai trò của hoạt động cấp nước sạch trong việc xây

dựng nông thôn mới

1.2.1.1 Về nông thôn bền vững

Thuật ngữ “phát triển bền vững” (PTBV) được giới thiệu lần đầu tiên bởi Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) Họ cho rằng “sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội

và sự tác động đến môi trường sinh thái" [74] Để làm rõ hơn khái niệm trên, Ủy ban Thế giới về Môi trường và Phát triển [73] đã đưa ra khái niệm PTBV là "sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai, "

Định nghĩa trên hàm chứa hai ý tưởng chính: i) khái niệm "nhu cầu", đặc biệt nhấn mạnh ưu tiên đến nhu cầu thiết yếu của người nghèo trên thế giới; ii) khái niệm hóa những hạn chế (khuôn định công nghệ và xã hội trong khả năng chịu đựng của môi trường) để đáp ứng nhu cầu hiện tại và tương lai Tuy nhiên, tham khảo từ Bùi Đức Kính [6] nhiều bình luận cho rằng khái niệm này quá lạc quan, đầy mơ hồ, thiếu chuẩn xác và hơn thế nó nhắm đến các lợi ích khác nhau và thậm chí xung đột nhau [52, tr 129]

Dù khái niệm về PTBV còn nhiều tranh cãi, cho đến nay, định nghĩa của WECD được xem là phổ biến nhất khi nhấn mạnh đến tính công bằng giữa các thế hệ trong quá trình phát triển và được khẳng định trong Hội nghị Liên Hiệp Quốc vềMôi trường và Phát triển (UNCED) tại Hội nghị Rio 1992 hay Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất 1992 [74] và được bổ sung, hoàn chỉnh tại Hội nghị Johannesburg 2002: “ PTBV là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển Đó là: phát triển kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường”

Các quan niệm và lý thuyết PTBV chỉ mới được tiếp cận tại Việt Nam từ thập niên

1980, tuy nhiên, Chính phủ Việt Nam đã xây dựng được Chương trình nghị sự 21 riêng của mình Từ đó, PTBV được xem là tư tưởng chủ đạo định hướng các chính sách của Việt Nam Cụ thể quyết định số 153/2004/QĐ- TTg về “Định hướng chiến lược PTBV ở Việt

Trang 22

Nam” đã được ban hành cùng với quyết định 1032/QĐ-TTg về việc thành lập Hội đồng PTBV Quốc gia vào tháng 9/2005 Vào tháng 4/2012, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược PTBV Việt Nam giai đoạn 2011-2020 Đâylà chiếnlượckhung,baogồmnhữngnguyêntắcvề PTBV,mục tiêuvàtầm nhìndàihạn,cáclĩnh vực hoạt động ưutiên,phươngtiệnvà giảipháp, nhằmbảo đảm PTBV đất nướctrongthế kỷ XXI

Bên cạnh đó, khái niệm “phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững” lần đầu

tiên được đưa ra ở Hội nghị về Nông nghiệp và Môi trường của Tổ chức Nông Lương thế giới (FAO) tại Hertogenbosch năm 1991 Khái niệm này đã được khẳng định tại Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất tại Rio de Janeiro năm 1992 trong Chương 14 của Chương trình Nghị

sự 21, và tiếp tục được tái khẳng định tại Hội nghị Thượng đỉnh về PTBV tại Johannesburg năm 2002 Phát triển nông nghiệp và nông thôn (NN&NT) bền vững là một quá trình đa chiều, bao gồm: (i) tính bền vững của chuỗi lương thực (từ người sản xuất đến người tiêu thụ, liên quan trực tiếp đến cung cấp đầu vào, chế biến và thị trường); (ii) tính bền vững trong sử dụng tài nguyên đất và nước theo không gian và thời gian; và (iii) khả năng tương tác thương mại trong tiến trình phát triển NN&NTđể đảm bảo cuộc sống đủ, an ninh lương thực trong vùng và giữa các vùng Như vậy, quan niệm về phát triển NN&NTbền vững đã ảnh hưởng đến các cách thực hành trong nông nghiệp Các cách thực hành này phải đảm bảo tính chất bền vững, có nghĩa là phải đáp ứng đồng thời ba mục tiêu: (i) Bền vững về sinh thái; (ii) Lợi ích về kinh tế; và (iii) Lợi ích xã hội đối với nông dân và cộng đồng

Ở nước ta, trong lĩnh vực NN&NT, ngay từ nghị quyết 5 Trung ương khoá IX đã khẳng định quan điểm: “Ưu tiên bảo vệ môi trường, phòng chống, hạn chế và giảm nhẹ thiên tai, phát triển NN&NTbền vững,… Kết hợp chặt chẽ các vấn đề kinh tế và xã hội trong quá trình CNH, HĐH NN&NTnhằm giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo, ổn định

xã hội và phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của người dân nông thôn;… giữ gìn, phát huy truyền thống văn hoá và thuần phong mỹ tục”

Trong bối cảnh một nền kinh tế dựa vào nông nghiệp, việc hiểu biết khái niệm phát triển NN&NTbền vững cần thiết phải bao gồm việc hiểu rõ ba loại hình phát triển tổng quát Có thể coi đây là các điều kiện tiên quyết để đạt được PTBV toàn diện Ba loại hình

Trang 23

phát triển này là: (i) Phát triển kinh tế nông thôn bền vững; (ii) Phát triển xã hội nông thôn bền vững và an toàn môi trường nông thôn; (iii) Tăng cường bảo vệ, quản lý tài nguyên thiên nhiên

Trần Ngọc Ngoạn (2008) [44] đã tiếp cận đến những vấn đề lý luận và kinh nghiệm trong phát triển NN&NT bền vững, làm rõ được những vấn đề: phát triển NN&NT bền vững – một yêu cầu phát triển mới của các quốc gia trên thế giới; khuôn khổ lý thuyết làm

cơ sở cho phát triển bền vững nông thôn và một số kinh nghiệm quốc tế trong việc ứng dụng các phương pháp nhằm phát triển bền vững nông thôn Một trong những phương thức phát triển thể chế bền vững là vai trò tham gia của quần chúng trong hệ thống phát triển nông thôn mới, đặc biệt là sự tham gia của các nhóm đối tượng dễ bị tổn thương như phụ

nữ, những người nghèo nhất và nhóm dân tộc thiểu số,…Ông cũng nhấn mạnh vai trò tham gia của cộng đồng được xem là yếu tố chính để duy trì các khoản đầu tư phát triển, xác định đâu là những khoản đầu tư đúng lúc, đúng chỗ, và tránh sự không cần thiết do khu vực công quản lý đối với các dịch vụ cấp nước và vệ sinh nói riêng và dịch vụ công cộng nông thôn nói chung

Đào Thế Tuấn (2005) trong bài viết “ Chính sách nông thôn, nông dân và nông nghiệp mới ở Trung Quốc ” [18] khái quát tình hình nông thôn Trung Quốc từ năm 1978 đến năm 2005, chính sách xây dựng nông thôn XHCN mới với mục tiêu giảm bớt khoảng cách giữa đô thị - nông thôn và tạo ra sự PTBV.Phạm Ngọc Dũng (2011) trong cuốn sách

“ Công nghiệp hóa, hiện đại hóa NN&NT từ lý luận đến thực tiễn ở Việt Nam hiện nay” [36] đã chỉ ra những nhân tố chi phối đến khả năng khắc phục, phát triển kinh tế- xã hội bền vững ở nông thôn Trong phần viết này, các nhà nghiên cứu chỉ ra hai nguyên nhân: cơ chế chất lượng cao và bình đẳng trong phân phối thu nhập, trong đó nguyên nhân cơ chế chất lượng cao là nhân tố quan trọng nhất chi phối đến khả năng khắc phục, phát triển kinh tế-

xã hội bền vững ở nông thôn Việt Nam hiện nay

Tóm lại, quan điểm PTBV được đề cập ngày càng nhiều trong các tài liệu nghiên cứu và phát triển NN&NT bền vững dựa trên ba trụ cột chính: kinh tế nông thôn, xã hội nông thôn và tăng cường bảo vệ, quản lý môi trường tự nhiên Các nhà nghiên cứu cũng

Trang 24

cho rằng phát triển NN&NT bền vững là đòi hỏi đương nhiên và khả năng hiện thực, ở nước ta nó là một nhân tố then chốt để có thể đạt được các mục tiêu tổng thể về phát triển kinh tế- xã hội bền vững Để phát triển nông thôn bền vững, cần tiếp cận phát triển theo vùng và tiếp cận từ dưới lên, lấy cộng đồng dân cư nông thôn làm chủ tiến trình phát triển, kết hợp với sự chỉ đạo của Nhà nước, phát triển kinh tế nông thôn, tăng thu nhập người dân

và bảo vệ môi trường nông thôn

1.2.1.2 Vai trò của hoạt động cấp nước sạch trong việc xây dựng nông thôn mới

Ở Việt Nam, nông thôn là nơi sinh sống của một bộ phận dân cư chủ yếu làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp, với hơn 70% dân cư đang sống ở vùng nông thôn Phát triển NN&NT đã, đang và sẽ còn là mối quan tâm hàng đầu, có vai trò quyết định đối với việc ổn định kinh tế xã hội đất nước Mục tiêu của quá trình phát triển NN&NT là không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của dân cư nông thôn trên cơ sở công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; trong đó, phát triển sản xuất nông nghiệp là then chốt, xây dựng nông thôn mới là căn bản, nông dân giữ vai trò chủ thể Tại Nghị quyết Đại hội Đại biểu

toàn quốc lần thứ X của Đảng xác định mục tiêu xây dựng nông thôn mới là: “Xây dựng

nông thôn mới ngày càng giàu đẹp, dân chủ, công bằng, văn minh, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất phù hợp, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phát triển ngày càng hiện đại”

Thực hiện đường lối của Đảng, ngày 28/10/2008, Chính phủ đã ra Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP ban hành một chương trình hành động của Chính phủ về xây dựng nông nghiệp, nông dân và nông thôn, thống nhất nhận thức, hành động về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới Nội dung chính của Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới là: xây dựng, tổ chức cuộc sống của dân cư nông thôn theo hướng văn minh, hiện đại, giữ gìn bản sắc văn hóa và môi trường sinh thái gắn với phát triển đô thị, thị trấn, thị tứ [7]

Như vậy, mô hình nông thôn mới là tổng thể những đặc điểm, cấu trúc tạo thành một

kiểu tổ chức nông thôn theo tiêu chí mới, với 5 nội dung cơ bản: Thứ nhất, đó là làng, xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại; Thứ hai, sản xuất phải phát triển bền vững theo hướng

Trang 25

kinh tế hàng hóa; Thứ ba, đời sống vật chất và tinh thần của nông dân, nông thôn ngày càng nâng cao; Thứ tư, bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn; Thứ năm,xã hội nông thôn an ninh

tốt, quản lý dân chủ

Để xây dựng nông thôn với 5 nội dung trên, ngày 16/04/2009 Thủ tướng Chính Phủ

đã ký Quyết định số 491/QĐ-TTg ban hành bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới bao gồm

19 tiêu chí được khái quát thành 5 nhóm nội dung : (i) quy hoạch ; (ii) hạ tầng kinh tế - xã hội ; (iii) kinh tế và tổ chức sản xuất ; (iv) văn hóa - xã hội - môi trường và ; (v) hệ thống chính trị Trong bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới [41], nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn nằm trong nhóm nội dung thứ 4 (văn hóa- xã hội – môi trường), thuộc tiêu chí thứ 17- tiêu chí về môi trường với mục tiêu chính là cung cấp đủ nước sinh hoạt sạch và hợp vệ sinh cho dân cư, trường học, trạm y tế, công sở và các khu dịch vụ công cộng; thực hiện các yêu cầu về bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái trên địa bàn

xã Đây cũng là một trong những tiêu chí xây dựng nông thôn mới được các cấp, các ngành quan tâm đặc biệt Nội dung tiêu chí môi trường được xác định nông thôn mới gồm 5 yêu cầu: (a) Tỷ lệ hộ được sử dụng nước hợp vệ sinh2 và nước sạch theo quy chuẩn quốc gia [4] đạt mức quy định của vùng (từ 70 đến 90%); (b) Các cơ sở sản xuất - kinh doanh trên địa bàn đạt chuẩn về môi trường ; (c) Đường làng, ngõ xóm, cảnh quan từng hộ xanh - sạch - đẹp, không có hoạt động làm suy giảm môi trường; (d) Nghĩa trang được xây dựng theo quy hoạch; và (e) Chất thải, nước thải được thu gom và xử lý theo quy định

Trên cơ sở bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới, Chính Phủ đã ban hành Quyết định 800/QĐ-TTg, ngày 4/6/2010 về “Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020” Theo đó, nội dung thứ 9 là cấp nước sạch

và vệ sinh môi trường với mục tiêu đạt yêu cầu theo tiêu chí số 17 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới là bảo đảm cung cấp đủ nước sinh hoạt sạch và hợp vệ sinh cho dân cư, trường học, trạm y tế, công sở và các khu dịch vụ công cộng; thực hiện các yêu cầu về bảo

vệ và cải thiện môi trường sinh thái trên địa bàn xã Xây dựng các công trình bảo vệ môi

2 Nước hợp vệ sinh là nước sử dụng trực tiếp hoặc sau lọc thoả mãn yêu cầu chất lượng: không màu, không mùi, không vị lạ, không chứa thành phần gây ảnh hưởng đến sức khoẻ con người, có thể dùng để ăn uống sau khi đun sôi;

Trang 26

trường nông thôn trên địa bàn xã, thôn theo quy hoạch, gồm: xây dựng, cải tạo nâng cấp hệ thống tiêu thoát nước trong thôn, xóm; xây dựng các điểm thu gom, xử lý rác thải ở các xã; chỉnh trang, cải tạo nghĩa trang; cải tạo, xây dựng các ao, hồ sinh thái trong khu dân cư, phát triển cây xanh ở các công trình công cộng

Theo Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới, để đáp ứng được tiêu chí số 17

về môi trường, mỗi xã cần có 70% số hộ trở lên được sử dụng nước sạch hợp vệ sinh theo quy chuẩn quốc gia cùng với tiêu chí nhỏ khác Tuy nhiên, theo đánh giá của các chuyên gia, tiêu chí môi trường trong chương trình vẫn là tiêu chí khó thực hiện nhất, đặc biệt tiêu chí về sử dụng nước sạch theo quy chuẩn quốc gia (QCVN: 02:2009/BYT) Theo số liệu báo cáo của Ban chỉ đạo Chương trình nông thôn mới, tính đến nay hiện cả nước mới có 26% [38]các xã điểm nông thôn đạt tiêu chí về môi trường.Trong đó, tỷ lệ hộ dân được sử dụng nước sạch hợp vệ sinh theo quy chuẩn quốc gia trên địa bàn nông thôn chưa bảo đảm yêu cầu, tỷ lệ đạt thấp Nhiều xã mới chỉ đạt tiêu chuẩn nước hợp vệ sinh mà chưa đạt quy chuẩn 02: 2009/BYT của Bộ Y tế

Cấp nước và vệ sinh môi trường vùng nông thôn đặc biệt quan trọng đối với Việt Nam khi 70,2% (trong năm 2009) dân số nông thôn chưa tiếp cận với nước máy, 60% chưa được tiếp cận với nguồn nước hợp vệ sinh từ tất cả các nguồn [43] Thậm chí với những nơi

đã có nước máy cũng thường chưa đạt tiêu chuẩn an toàn Chất lượng công trình vệ sinh kém cộng với hành vi không hợp vệ sinh làm xấu đi tình hình sức khỏe và giảm hiệu quả lao động trong khu vực dự án Cùng với sự phát triển của công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngày càng xuất hiện nhiều khu công nghiệp, nhiều làng nghề, nước thải từ các làng nghề, các khu công nghiệp và thậm chí chất thải từ gia súc, từ thuốc bảo vệ thực vật đang ngày càng đe dọa sức khỏe cộng đồng và gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nguồn nước mà người dân các vùng nông thôn đang sử dụng (ao, hồ, bể chứa nước mưa và nước ngầm từ giếng khơi, giếng khoan) Nếu nguồn nước không bảo đảm vệ sinh sẽ gây nên nguy cơ mắc các bệnh đường ruột, bệnh ngoài da và một số căn bệnh khác Có tới một nửa các trường hợp bệnh tật trong cộng đồng ở Việt Nam là liên quan tới cấp nước và vệ sinh kém

Có thể nói, sử dụng nước sạch là nhu cầu thiết yếu của người dân nói chung, nhất là

Trang 27

người dân sinh sống ở vùng nông thôn ven biển Đây là một yếu tố quan trọng đánh giá chất lượng cuộc sống, nhất là trong giai đoạn hiện nay, dưới tác động trực tiếp hay gián tiếp của con người đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến nguồn nước và môi trường Chính vì vậy, vai trò của nước sạch ở các vùng nông thôn luôn quan trọng và cần thiết hơn bao giờ hết trong bối cảnh hiện nay Việc huy động nguồn vốn thông qua các chương trình, dự án,

kể cả sự đóng góp của cộng đồng xã hội để xây dựng công trình cấp nước là việc làm rất cần thiết và cấp bách Bởi nó không chỉ góp phần thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia

về xây dựng nông thôn mới mà trên hết là giúp người dân được sử dụng nguồn nước sạch trong sinh hoạt, tránh được những tác hại do sử dụng nguồn nước không hợp vệ sinh, góp phần cải thiện, nâng cao chất lượng cuộc sống người dân khu vực nông thôn, phát triển kinh tế gắn liền bảo vệ môi trường, tài nguyên thiên nhiên, hướng tới một xã hội bền vững Tóm lại, nước sạch cho dân cư nông thôn là một trong những tiêu chí quan trọng của

bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới Việc tiếp cận được nguồn nước hợp vệ sinh giúp cải thiện tình trạng vệ sinh môi trường ở khu vực nông thôn, qua đó giảm đáng kể các bệnh liên quan đến nước và vệ sinh môi trường, tiết kiệm được ngân sách cho y tế, nâng cao sức khỏe cộng đồng và nhiều tác động tích cực khác, góp phần cho các địa phương hoàn thành tiêu chí về nước sạch, vệ sinh môi trường nông thôn, tạo đà thuận lợi trong quá trình xây dựng nông thôn mới

1.2.2 Kinh nghiệm về sự tham gia của cộng đồng trong dự án cấp nước sạch trên thế

giới và ở Việt Nam

1.2.2.1 Trên thế giới

“Tham gia” là một thuật ngữ được đề cập rộng rãi trong các hoạt động chính trị, các nghiên cứu mang tính học thuật cũng như trong các nghiên cứu và hoạt động của các dự án phát triển Ở nước ngoài, các nghiên cứu về sự tham gia nói chung và sự tham gia của cộng đồng nói riêng đều nhận được nhiều quan tâm của các học giả và các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Phát triển Châu Á,…

Về mặt lý luận, các nghiên cứu từ thập niên 60, 70 và 80 của thế kỷ XX đã tập trung

mổ xẻ các khía cạnh của sự tham gia Theo Anstein Sherry (1969), sự tham gia của cộng

Trang 28

đồng được xem là quyền lực công dân [51] Cohen và Uphoff (1977) cho rằng sự tham gia bao gồm sự can dự của người dân trong tiến trình ra quyết định, trong thực hiện chương trình, chia sẻ quyền lợi của các chương trình phát triển cũng như trong đánh giá các chương trình [54] Theo Paul Samuel(1987), sự tham gia của cộng đồng là một tiến trình chủ động qua đó người thụ hưởng hay nhóm thân chủ ảnh hưởng định hướng và sự thực hiện một dự

án phát triển với quan điểm nâng cao chất lượng cuộc sống về thu nhập, tăng trưởng cá nhân, tự tin hoặc những giá trị khác mà họ mong ước [67] Oakley P (1989) cho rằng tham gia là một quá trình tạo khả năng nhạy cảm của người dân và làm tăng khả năng tiếp thu và năng lực của người dân nhằm đáp ứng các nhu cầu phát triển cũng như khích lệ các sáng kiến địa phương [66]

Anstein (1969) đã phân chia sự tham gia thành 8 nấc thang tương ứng với 3 cấp độ, từ cấp độ không tham gia tới các dấu hiệu có sự tham gia và tới các cấp độ quyền lực công dân/ tham gia thực sự [51] Một góc nhìn có phần khác biệt so với Arnstein được đưa ra bởi Brager và Specht (1973) cũng đưa ra một phân tích về mức độ tham gia tham gia của cộng đồng xuất phát từ góc độ người tham gia Các tác giả xây dựng thành một chuỗi bảy mắt xích thể hiện mức độ tham gia từ thấp lên cao liên quan đến quyền lực: từ không tham gia tới có quyền kiểm soát thể hiện ở việc vừa xác định vấn đề vừa tìm cách giải quyết [53] Từ góc độ hai chiều (Goethert, 1998, Imparato và Ruster, 2003) cho ta một cái nhìn rõ hơn về

mô hình vai trò của cộng đồng trong tương quan với mô hình vai trò của các tác nhân từ bên ngoài trong quá trình nâng cao sự tham gia Sự thay đổi vai trò bắt đầu từ việc cộng đồng không tham gia, vai trò của họ bị thay thế bởi tác nhân bên ngoài cho tới khi họ thực

sự „kiểm soát đầy đủ‟ thì họ nắm vai trò „người đứng đầu‟ và tác nhân bên ngoài chỉ là

„nguồn lực‟ [58] Như vậy, trao quyền là mục tiêu cuối cùng và là cấp độ cao nhất cần hướng tới khi thực hiện quá trình tham gia của một dự án, chương trình

Vai trò của cộng đồng trong phát triển bền vững và bảo vệ môi trường cũng được nhấn mạnh trong các nghiên cứu những năm gần đây Chủ đề này được trình bày trong tác phẩm Quy tắc hướng tới cộng đồng: Cân bằng giữa Phát triển và Môi trường tại Việt Nam của Dara O‟Rourke vào năm 2004 Nghiên cứu tập trung vào các vấn đề phát sinh về quản

lý môi trường trong nỗ lực cân bằng giữa phát triển công nghiệp và bảo vệ môi trường

Trang 29

Trong đó, ông đưa ra luận điểm áp lực của cộng đồng sẽ thực hiện công bằng trong các cuộc xung đột môi trường, thúc đẩy chính quyền địa phương phản ứng với sự cố ô nhiễm

cụ thể, gây sức ép với cơ quan môi trường để cải thiện việc giám sát, thực thi và mở rộng nhận thức của công chúng về các vấn đề môi trường

Về thực nghiệm, các nghiên cứu nước ngoài dựa trên nền kinh nghiệm phong phú từ hàng loạt các dự án phát triển Sự tham gia trong các dự án phát triển của Ngân hàng Phát triển Châu Á, Ngân hàng Thế giới là một trong những điển hình Có thể kể ra một số nghiên cứu của Ngân hàng Phát triển Châu Á, Ngân hàng Thế giới trong các bối cảnh của các dự án ở các nước khác nhau trên thế giới, như: Ruth Meinzen-Dick, Richard Reidinger, Andrew Manzardo (1995) bàn về sự tham gia trong dự án tưới tiêu nông nghiệp [69]; Nat J Colletta, Gallian Perkins (1965) nói về sự tham gia trong lĩnh vực giáo dục [65]; Golam M Mathbor (2008) bàn về sự tham gia hiệu quả của cộng đồng trong các dự án phát triển vùng ven biển [60] ;Gabrielle Watson; N Vijay Jagannathan (1995) bàn về sự tham gia trong hoạt động cấp nước và vệ sinh [59]

Philippines và Thái Lan là hai nước đầu tiên ở Đông Nam Á tiến hành phân cấp các dịch vụ cơ sở hạ tầng nông thôn vì người nghèo (DFID, 2003) Sự tham gia hiệu quả của các nhóm thụ hưởng đường giao thông được xem là yếu tố then chốt cho việc phân cấp hiệu quả dịch vụ cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn Đồng thời đây cũng là một cách chống lại quá trình ra quyết định kiểu chuyên quyền Một số bài học để tăng cường sự tham gia của

cộng đồng được rút ra từ 2 quốc gia này: Thứ nhất, để tham gia hiệu quả, vai trò và trách

nhiệm của các nhóm thụ hưởng cũng như của các cấp chính quyền địa phương cần phải

được xác định rõ ràng, nếu có thể phải được đồng ý bằng văn bản; Thứ hai, cần phải khuyến khích sự phát triển của các nhà thầu nhỏ tại địa phương Thứ ba, chú trọng tới việc

sử dụng nguyên vật liệu sẵn có tại địa phương (Thái Lan) có tác động tốt tới sự phát triển

Thứ năm, kinh nghiệm tại Philippines cho thấy sự tham gia của các bên liên quan vào quá

trình ra quyết định có thể giúp phân bổ nguồn lực minh bạch và khách quan hơn

Về kinh nghiệm tham gia của cộng đồng trong lĩnh vực cấp nước và vệ sinh môi trường nông thôn có thể kể đến dự án„cung cấp nước và vệ sinh môi trường nông thôn ở Sri

Trang 30

Lanka‟(ADB, 1999) Dự án này lấy cộng đồng làm trung tâm, trong đó tập trung vào kiến thức và sự tham gia của địa phương nhằm tránh những can thiệp bất hợp lý và tăng quyền

sở hữu và tính bền vững Chính phủ đã chuyển từ vai trò người thực hiện sang người hướng dẫn và vai trò của cộng đồng chuyển từ thụ động hưởng lợi sang chủ động tham gia [48]

Dự án „giải quyết vấn đề dịch vụ cộng đồng về nước và y tế ở In-đô-nê-xi-a' (ADB, 2005) cũng áp dụng cách tiếp cận lấy cộng đồng làm trung tâm để xây dựng và nâng cấp cơ sở hạ tầng về nước và vệ sinh cộng đồng ở nông thôn nơi các dự án được triển khai [49]

Như vậy, cách tiếp cận lấy cộng đồng làm trung tâm cho thấy cần thêm nhiều thời gian để thu hút cộng đồng tham gia đầy đủ và thiết thực hơn nhằm đảm bảo sự bền vững Cộng đồng nhận thức được việc tiếp cận nguồn nước và hệ thống vệ sinh giúp họ cải thiện sức khỏe và giải phóng thời gian để tạo ra thu nhập, chăm sóc trẻ em và tham gia vào các hoạt động khác

Tóm lại, chỉ khi từng cộng đồng được PTBV thì mới đảm bảo sự PTBV chung Do

đó, việc tiếp tục hỗ trợ và nâng cao vai trò của cộng đồng và người dân trong cấp nước và

vệ sinh, xóa đói, giảm nghèo, nâng cao ý thức bảo vệ sinh thái, môi trường, thiết kế những

mô hình sinh sống lâu dài thích ứng với biến đổi khí hậu,…Đây là những vấn đề mà các nghiên cứu cũng như các chính sách của các chính quyền đang hướng tới vì mục tiêu PTBV

1.2.2.2 Tại Việt Nam

Ở Việt Nam, nghiên cứu về sự tham gia chưa nhiều, song đã có một số quan điểm đáng chú ý Tô Duy Hợp (2007) đã chỉ ra sự yếu kém về năng lực tự quản cộng đồng cũng như thiếu sự tham gia tích cực và chủ động của địa phương là một trong những vấn đề xã hội nan giải Việc nâng cao năng lực quản lý xã hội, xây dựng Quy chế dân chủ cơ sở trong khu vực tam nông (nôngthôn, nông nghiệp và nông dân) gặp phải lực cản từ sự yếu kém về năng lực quản lý xã hội của cán bộ địa phương và của người dân do sự di cư [42] Trịnh Duy Luân (2006) trong khi đề cập tới sự tham gia nói chung đã nhấn mạnh sự tham gia của thanh niên vào đời sống chính trị, kinh tế và văn hóa xã hội ngày càng cần được chú trọng hơn [45]

Trang 31

Một số nghiên cứu trực tiếp đề cập đến sự tham gia cộng đồng như: Đỗ Hậu (2000) phân tích sự tham gia của cộng đồng đối với việc quy hoạch đô thị và phân chia sự tham gia của cộng đồng thành 4 giai đoạn theo chu trình dự án Tham gia bao hàm việc thu hút người dân vào quá trình ra quyết định, thực hiện các chương trình, phân chia lợi ích trong các chương trình phát triển và lôi cuốn họ vào việc đánh giá các chương trình này Quá trình này hướng tới sự tăng cường năng lực tự kiểm soát các nguồn lực và tổ chức điều hành trong những hoàn cảnh nhất định [22] Theo Nguyễn Ngọc Hợi (2003) tham gia bao hàm việc ra quyết định, thực hiện, phân chia lợi ích và đánh giá các hoạt động phát triển của người dân [30]

Các nghiên cứu về sự tham gia của cộng đồng trong các dự án phát triển tại Việt Nam thường chú trọng vào các yếu tố ảnh hưởng tới sự tham gia của cộng đồng và vai trò của cộng đồng địa phương trong việc ra quyết định, đó là: Sự tham gia của cộng đồng trong hoạt động nâng cấp đô thị tại chỗ (Huỳnh Ngọc Tuyết, 2003) [23]; trong hoạt động bảo vệ tài nguyên và môi trường biển Việt Nam (Nguyễn Chu Hồi, 2007)[29]; trong việcxác định nguồn lực và nhu cầu đầu tư phát triển thủy sản của ngư dân nghèo (Nguyễn Văn Huân, Ngô Minh Hương, 2006) [32]; trong hoạt động giảm nghèo ở một số địa phương miền núi phía Bắc (Lưu Thị Thọ, Phạm Bảo Dương, 2013) [26]; và trong việc quản lý nước dựa vào cộng đồng (Lê Anh Tuấn, Huỳnh Vương Thu Minh, Đinh Diệp Anh Tuấn và cộng sự, 2015) [24]

Trần Ngọc Ngoạn (2008) đã đúc kết một số bài học quý giá về vai trò tham gia của cộng đồng trong hoạt động phát triển nông thôn, đó là : (i) Sự tham gia đòi hỏi cần phải có

sự thay đổi về thái độ, sự hiểu biết, sự linh hoạt và kiên nhẫn; (ii) Có những yếu tố mang tính thúc đẩy, chẳng hạn như: sự ủng hộ chính trị, sự phân cấp hóa quyền lực, các truyền thống về tổ chức cộng đồng và các quy trình công nghệ nhằm thúc đẩy hơn nữa quyền tự chủ và sự độc lập; và (iii) Chính phủ và các NGO đều có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự tham gia.Vai trò tham gia trong phát triển nông thôn không chỉ là về sự tham gia của những người nông dân nghèo trong các dự án phát triển, mà còn là sự phát triển các tổ chức trong đó người nghèo nhất có thể có tiếng nói và có quyền lợi của riêng họ, bảo vệ những gì

họ có Vai trò quan trọng nhất của các cơ quan phát triển nông thôn là khả năng thúc đẩy và

Trang 32

gắn kết giữa các tổ chức, những thay đổi về thể chế và pháp lý nhằm đem lại lợi ích cho người nghèo nói riêng và cộng đồng nói chung [44]

Dựa trên quan điểm sinh kế bền vữngnăm 2009, Chương trình Chia sẻ do SIDA điều phối đã nghiên cứu các nhân tố hỗ trợ và cản trở hộ nghèo tiếp cận các nguồn vốn sinh kế

để giảm nghèo bền vững với mục tiêu nâng cao năng lực phát triển cộng đồng Cụ thể, trong vấn đề tiếp cận các nguồn lực (nguồn sinh kế) cho mục tiêu phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo và cuối cùng là phát triển bền vững với một số nghiên cứu điển hình ở 3 tỉnh là Yên Bái, Hà Giang, Quảng Trị[35]

Theo hướng tiếp cận PTBV dựa vào cộng đồng kết hợp với nguyên tắc sinh thái, Phạm Thành Nghị và cộng sự (2005) đã tiến hành nghiên cứu giải pháp nâng cao ý thức sinh thái cộng đồng ở nước ta trong những năm tới tại 4 tỉnh (Bắc Giang, Hải Dương, Thừa Thiên-Huế và Đồng Nai) Kết quả nghiên cứu đã cho thấy mối quan hệ khá chặt chẽ giữa mức độ ý thức sinh thái cộng đồng và hoạt động bảo vệ môi trường Có thể nói hoạt động của chính quyền, của các tổ chức đoàn thể, văn hóa và sự gắn kết cộng đồng có tác động lớn đến ý thức sinh thái cộng đồng [37]

Dự án đánh giá nghèo với sự tham gia của cộng đồng (Nhóm hành động chống đói nghèo, 2003) đã đưa ra một số hạn chế về sự tham gia của cộng đồng trong công tác xóa đói giảm nghèo, như: (i) Tiếp tục tồn tại cơ chế quản lý từ trên xuống; (ii) Năng lực của cán

bộ xã và thôn còn hạn chế và (iii) Năng lực thực hiện các quyền của người dân (đa số người dân hiểu rất mơ hồ khẩu hiệu “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, ) [34 ]

Chương trình Tiếp cận Cộng đồng Đông Nam Á (SEACAP 15, 2005) đề cập đến vấn

đề thiếu sự tham gia quyết định của cộng đồng trong những dự án giao thông nông thôn, cơ bản về: hành chính, đóng góp và ngân quỹ, thiếu những hướng dẫn đơn giản và rõ ràng về lập kế hoạch và quản lý có sự tham gia của người dân Với cách tiếp cận này đã dẫn đến tình trạng cơ sở hạ tầng phát triển không đáp ứng được nhu cầu của cộng đồng, mà nguyên nhân chủ yếu là do năng lực quản lý hành chính còn hạn chế, việc sử dụng các nguồn vốn công còn thiếu minh bạch và trách nhiệm giải trình, mối liên hệ giữa cấp ra quyết định và những người dân thụ hưởng chưa thực sự gắn kết, cũng như thiếu công tác lập kế hoạch

Trang 33

dựa trên dự án [9]

Một số nghiên cứu trong các dự án giảm nghèo cho thấy sự tham gia của người dân chưa được thực hiện đầy đủ theo quy định của quy chế dân chủ cơ sở Ngân hàng Thế giới (1999) [72] cho thấy người dân thực tế không được tham gia vào tất cả các giai đoạn mà nguyên tắc dân chủ cơ sở đưa ra „Chính sách của Đảng là dân biết, dân bàn, dân làm nhưng

ở đây người dân chỉ thực hiện phần cuối, tức là dân làm (người nghèo ở Hà Tĩnh)‟ Anderson và cộng sự (2010) cũng chỉ ra rằng người dân chỉ tập trung vào việc thực hiện những vấn đề đã được quyết định, người dân chỉ tham gia vào việc lựa chọn các công trường xây dựng công trình 135, còn tỷ lệ tham gia giám sát thì rất thấp [1] Nghiên cứu ở đồng bằng sông Cửu Long (UNDP và AusAID, 2004) cho thấy thực tế người dân không biết gì về kế hoạch phát triển và ngân sách của xã, họ chỉ biết về kế hoạch đầu tư nào đó sau khi nó đã được phê duyệt và đến lúc kêu gọi nhân dân đóng góp cho dự án [46]

Một đánh giá khác của Aderson và cộng sự (2010) cũng đồng thuận với ý kiến này khi cho rằng khoảng một nửa các hộ gia đình ở Việt Nam không được biết thông tin gì về ngân sách và kế hoạch của xã [1] Tuy nhiên, sự tham gia của người dân mạnh hơn ở cấp thôn (Đặng Ngọc Quang và cộng sự, 2010) khi mà các hoạt động có liên quan trực tiếp đến quyền lợi của họ, điển hình như quyết định yêu cầu đóng góp về công sức hay tiền của [19] Như vậy, có thể thấy mức độ tham gia của người dân vào công tác lập kế hoạch và quản lý phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương là rất thấp và chủ yếu chỉ được thực hiện ở cấp thôn, cấp trực tiếp đối với họ

Khác với cách tiếp cận dựa vào quyết định từ cấp trung ương xuống, dự án cơ sở hạ tầng nông thôn dựa vào cộng đồng (Ngân hàng Thế giới, 2001) [76] đã giúp hơn hai triệu người dân thoát nghèo nhờ phương pháp lập kế hoạch từ cấp cơ sở dựa vào cộng đồng Với cách tiếp cận này, người dân thụ hưởng tại địa phương được tạo cơ hội tham gia vào quá trình ra quyết định cũng như triển khai các dự án phát triển tại địa phương mình Sau khi giai đoạn triển khai dự án hoàn thành, Chính phủ đã triển khai đánh giá một cách toàn diện

dự án và kết luận rằng phương pháp lập kế hoạch và quản lý dựa vào cộng đồng là hướng đi đúng cho các dự án phát triển trong tương lai

Trang 34

Tương tự với cách tiếp cận này, dự án „Cấp nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn đồng bằng sông Hồng‟ [60] đã cung cấp nước sạch cho 1,3 triệu dân tại 4 tỉnh với cách tiếp cận dựa trên cộng đồng Người dân trong vùng đóng vai trò tích cực trong công tác lập

kế hoạch, giám sát, thi công vận hành và bảo dưỡng công trình Với cách làm minh bạch và

có sự tham gia này dự án đã đáp ứng nhu cầu của người dân và đảm bảo chất lượng dịch

vụ

Như vậy, ở Việt Nam tuy chưa có một nghiên cứu sâu rộng về sự tham gia cộng đồng trong lĩnh vực cấp nước và vệ sinh khu vực nông thôn, nhưng các nghiên cứu trên đã phản ánh phần nào thực tế là sự tham gia của người dân trong hoạt động phát triển là một hợp phần của quá trình dân chủ hóa đời sống xã hội, phản ánh trình độ dân chủ của mỗi quốc gia, mỗi cộng đồng xã hội, mỗi tổ chức, mỗi thiết chế xã hội

Các bài học kinh nghiệm trong nước về sự tham gia của cộng đồng trong các hoạt động và chương trình phát triển nói chung, bao gồm : (i) Thực tế đã chứng minh, nhiều chương trình, dự án vì thiếu sự tham gia của cộng đồng mà đã dẫn đến những sự thất bại không đáng có; (ii) Cần đánh giá cụ thể các yếu tố tác động đến sự tham gia của cộng đồng trước khi xây dựng chương trình và triển khai dự án; (iii) Tạo cơ hội cho người dân được tham gia vào nhiều hơn các hoạt động khác nhau của các chương trình cộng đồng thông qua

mở rộng các lĩnh vực người dân được tham gia, tạo cơ chế tham gia một cách khách quan

và công bằng hơn; (iii) Cần phải tập huấn, hướng dẫn cho người dân về vai trò tham gia của cộng đồng và các kỹ năng cần thiết; (iv) Xây dựng cơ chế và các phương án triển khai rõ ràng trước khi thực hiện chương trình hay dự án; và (v) Chính phủ và các tổ chức phi chính phủ đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng

1.3 Đặc trƣng cơ bản về vùng nghiên cứu

1.3.1 Tiêu chí lựa chọn địa điểm nghiên cứu

Các tỉnh ở khu vực miền Trung có mức nghèo đói cao hơn trung bình toàn quốc vì thế

mà đầu tư cho cấp nước và vệ sinh môi trường của địa phương bị hạn chế Phần lớn số hộ gia đình các tỉnh ở khu vực miền Trung phần lớn số hộ gia đình lấy nước từ giếng đào nông, nơi mà nguồn nước ngầm bị nhiễm mặn nặng, nước đục, lắng cặn, nhiễm flo, sắt,

Trang 35

mangan, phèn, và bị ô nhiễm do chất thải con người, chất thải công nghiệp và gia súc Nước mặt thường bị ảnh hưởng bởi độ đục, chất hữu cơ, và ô nhiễm bởi dòng chảy bề mặt

có chứa vi sinh vật và hóa chất nông nghiệp Nước sông vùng hạ lưu thường bị ô nhiễm bởi hoạt động công nghiệp và các khu dân cư ở thượng nguồn Kết quả là, rất nhiều hộ gia đình nông thôn, đặc biệt là những người dân tộc thiểu số có ít sự lựa chọn nguồn nước uống và

họ đôi khi phải mua nước từ nhà phân phối hay đi lấy nước rất xa với giá cao Các hộ nghèo phải sử dụng nước ô nhiễm cao cho nhu cầu sinh hoạt hàng ngày

Xã Thanh Trạch là xã ven biển miền Trung, là vùng chịu tác động trực tiếp của biến đổi khí hậu.Hơn nữa, xã Thanh Trạch chưa có hệ thống nước máy Nguồn nước chính là giếng đào/giếng khoan, ở đây nước bị nhiễm phèn cao và thậm chí một số nơi bị nhiễm dầu

bị lưu lại trong đất từ thời chiến tranh Do đó, hầu hết mọi người chỉ sử dụng nguồn nước giếng cho mục đích sinh hoạt trong gia đình như: tắm rửa, giặt giũ và phải mua nước cho ăn uống từ nhà cung cấp và được đưa tới bằng xe tải với giá cao (150.000 đồng/m3) Tuy nhiên, người nghèo không đủ khả năng trả cho mức giá này và phải sử dụng nước ngầm cho ăn uống

Vì vậy, để đảm bảo nguồn nước và chất lượng nước qua đó nâng cao sức khỏe cộng đồngcũng như cải thiện điều kiện sống và chất lượng cuộc sống người dân, đặc biệt người dân ở vùng ven biển là vùng chịu tác động trực tiếp của nước biển dâng, xâm nhập mặn, qua nghiên cứu học viên chọn xã Thanh Trạch làm địa điểm nghiên cứu nhằm đạt được các tiêu chí nêu trên

1.3.2 Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của vùng nghiên cứu

Thanh Trạch là một xã ven biển, có diện tích 24,39 km2, nằm ở phía Đông Bắc của huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình, cách thành phố Đồng Hới khoảng 25 km về phía Bắc Thanh Trạch có đường Quốc lộ số 1 đi qua, phía Đông giáp biển, phía Bắc tiếp giáp với cửa sông Gianh, phía Tây và phía Nam tiếp giáp với các xã Bắc Trạch, Sơn Lộc, Phú Trạch và

Lý Hóa, cũng của huyện Bố Trạch Xã có khoảng 6 km bờ biển

Theo báo cáo Khảo sát nền kinh tế xã hội, tổng số dân của xã vào đầu năm 2012 là 12.191 người, trong đó có 6.103 người là nữ, chiếm 50,07% dân số của xã Số hộ là 2.587

Trang 36

hộ, trong đó có 1.548 hộ có chủ hộ là nữ, chiếm 60% tổng số hộ Mật độ dân số là 500 người/km2 Dân sống tập trung phần lớn gần khu vực Cảng Sông Gianh, một số nhỏ sinh sống và làm dịch vụ du lịch ở khu vực Đá Nhảy Các khu vực khác là nơi trồng cây lương thực và trồng rừng Xã Thanh Trạch có 8 thôn gồm: thôn Thanh Vinh, Thanh Xuân, Thanh Khê, Thanh Giang, Thanh Hải, Quyết Thắng, Tiền Phong và Đá Nhảy

Hình1.1: Vị trí xã Thanh Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình

Thanh Trạch có tốc độ tăng trưởng trung bình trong bảy năm gần đây từ 14 - 15%

Xã có nền kinh tế dựa vào tiểu thủ công nghiệp - dịch vụ - du lịch, chiếm tới 60% cơ cấu kinh tế, có giá trị sản xuất là 50 tỷ trong năm 2011 Nông-lâm-ngư nghiệp chiếm 40% giá trị sản xuất, trong đó, ngư nghiệp là ngành có thu nhập cao, chiếm tới 65%, còn trồng trọt

và chăn nuôi chỉ chiếm 35% Ngoài ra, xã hiện có trên 600 lao động đang ở nước ngoài (chủ yếu là nam), hàng năm gửi về địa phương trên 50 tỷ đồng Thu nhập bình quân trên đầu người của xã là 18 triệu đồng/năm trong năm 2011 Theo phân loại của UBND xã, có bốn nhóm thu nhập ở xã Thanh Trạch, trong đó số hộ giàu chiếm tới 30%; hộ khá chiếm 35%; hộ trung bình chiếm 29%; và hộ nghèo chỉ còn 122 hộ chiếm 4,7%

Trang 37

Xã Thanh Trạch có một trường mầm non, hai trường tiểu học và một trường trung học cơ sở Không có trẻ em nào trong độ tuổi tiểu học và trung học cơ sở trong năm học 2011-2012 phải nghỉ học vì lý do gia đình khó khăn hoặc ốm đau bệnh tật Tất cả các trường đều có nhà vệ sinh riêng cho nam và nữ

Hiện tại tất cả các thôn đã được trang bị loa phát thanh truyền thông về tất cả các chính sách của Đảng và Nhà nước và chính quyền địa phương Phương pháp truyền thông qua hệ thống loa đài này được người dân ưa thích, vì phương pháp này có thể cung cấp thông tin rộng rãi tới nam, nữ, người già, trẻ em, và đặc biệt là người nghèo

1.3.3 Hiện trạng cấp nước và vệ sinh môi trường tại địa bàn nghiên cứu

Cấp nước và vệ sinh môi trường vùng nông thôn đặc biệt quan trọng đối với Việt Nam khi 70,2% (trong năm 2009)dân số nông thôn chưa tiếp cận với nước máy, 60% chưa được tiếp cận với nguồn nước hợp vệ sinh từ tất cả các nguồn [43] Thậm chí với những nơi nước máy đã có, nó thường cũng chưa đạt tiêu chuẩn an toàn Chất lượng công trình vệ sinh kém cộng với hành vi không hợp vệ sinh làm xấu hơn tới tình hình sức khỏe và giảm hiệu quả lao động trong khu vực dự án Ô nhiễm từ nhiễm mặn, chất thải gia súc, chất thải từ buôn bán và các chất hóa học nông nghiệp ngày càng đe dọa sức khỏe cộng đồng Có tới nửa các trường hợp bệnh tật của cộng đồng ở Việt Nam là liên quan tới cấp nước và vệ sinh kém

Theo báo cáo khảo sát nền kinh tế xã hội, tại xã Thanh Trạch chưa có hệ thống cấp nước máy ngoại trừ một vài hộ dân được kết nối với đồn biên phòng gần nhà Nguồn nước chính là giếng đào/giếng khoan, ở đây nước bị nhiễm phèn cao và thậm chí một số nơi bị nhiễm dầu bị lưu lại trong đất từ thời chiến tranh Do đó, hầu hết mọi người sử dụng nguồn nước giếng để sinh hoạt trong gia đình: tắm rửa, giặt giũ và phải mua nước cho ăn uống từ nhà cung cấp và được đưa tới bằng xe tải với giá cao (150.000 đồng/m3)

Tỷ lệ hộ có nhà vệ sinh riêng chiếm tới 90%, trong đó nhà vệ sinh tự hoại chiếm khoảng 50%; nhà vệ sinh một, hai ngăn và tự đào chiếm 40%, nhưng không phải tất trong

số này có nhà vệ sinh hợp vệ sinh Hầu hết những hộ gia đình mà không có nhà vệ sinh riêng là hộ nghèo và hộ cận nghèo Họ thường dùng chung nhà vệ sinh với họ hàng hoặc

Trang 38

hàng xóm, hoặc đi vệ sinh ngoài đồng ruộng hoặc bìa rừng

Hệ thống thoát nước của các hộ dân hoàn toàn là tự thấm, một số khu vực công cộng

đã xây hệ thống thoát nước nhưng đã bị xuống cấp và tắc do rác thải Toàn xã thường bị ngập sau khi mưa với độ sâu trung bình từ 0,5 đến 1m Xã đã có dịch vụ thu gom rác nhưng hoạt động chưa tốt do ngân sách hạn chế và nhiều người vẫn xả rác không ở các điểm tập trung rác

Các vấn đề bức xúc nhất về môi trường của địa phương vào thời điểm khảo sát là thiếu nước sạch sinh hoạt, thiếu hệ thống thoát nước, thu gom rác thải và thiếu nhà vệ sinh hợp vệ sinh cho các hộ nghèo và cận nghèo

1.3.4 Tình hình bệnh tật liên quan đến cấp nước và vệ sinh tại địa bàn nghiên cứu

Tổng số ca khám bệnh được ghi nhận tại trung tâm y tế xã trong năm 2011 là 878 ca với dân số 12.191 người, trong đó có 250 ca liên quan tới bệnh ngoài da như ghẻ, chấy rận,

120 ca bệnh đường ruột, 455 ca bệnh phụ khoa, 28 ca bệnh về mắt, và 25 ca ung thư Tổng

số ca bệnh phụ nữ là 670 ca

Đơn vị: ca

Trang 39

(Nguồn; Báo cáo khảo sát kinh tế - xã hội của dự án)

Hình 1.2: Các ca bệnh tật liên quan đến cấp nước và vệ sinh được báo cáo trong cộng

đồng xã Thanh Trạch

Nguyên nhân số ca mắc bệnh đường ruột tương đối cao là do người dân vẫn có thói

quen uống nước chưa đun sôi, ăn rau sống, thức ăn không đảm bảo, không rửa tay trước khi

ăn Trong các gia đình, phụ nữ vẫn là người đảm nhận chính các công việc nhà: nấu cơm,

giặt giũ, rửa ráy, dọn nhà vệ sinh, chăm sóc người già và trẻ nhỏ Do vậy, phụ nữ trong gia

đình là người tiếp xúc với nước thường xuyên hơn nam giới nên số ca mắc bệnh lên quan

đến nước xuất hiện ở phụ nữ nhiều hơn nam giới (số ca mắc bệnh ở phụ nữ chiếm tỷ lệ cao,

bằng một nửa tổng số ca)

Việc không có thời gian để để ý đến các hành vi vệ sinh đúng (rửa tay, uống nước

đun sôi, trực tiếp sờ đến phân (vệ sinh cho trẻ và người bị ốm, dọn nhà vệ sinh,…) không

những khiến bản thân người phụ nữ mắc bệnh mà còn có thể khiến những đứa con của họ

(do phụ nữ chăm sóc) cũng mắc các bệnh liên quan đến đường tiêu hóa

Bênh cạnh đó, đặc điểm sinh học của phụ nữ cũng dễ bị tổn thương hơn khi phải sử

dụng nguồn nước không sạch, do vậy phụ nữ trong khu vực dự án thường mắc các bệnh

phụ khoa khi nguồn nước giếng (dùng cho tắm, giặt) không đảm bảo

Ngoài ra, bệnh hô hấp cũng xảy ra khá phổ biến đối với trẻ em trong khu vực dự án

Theo cán bộ trạm y tế xã nguyên nhân chủ yếu do thời tiết khắc nghiệt và ô nhiễm từ mùi

nước thải của các hộ chăn nuôi, cồng rãnh và việc đốt rác trong cộng đồng

Trang 40

CHƯƠNG 2: ĐốI TƯợNG, PHạM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CứU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Sự tham gia của cộng đồng trong hoạt động cấp nước sạch góp phần phát triển nông thôn bền vững thông qua nghiên cứu điểm tại xã Thanh Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình

- Cộng đồng trong khu vực dự án, chính quyền địa phương, các tổ chức đoàn thể quần chúng-xã hội như Mặt trận Tổ quốc thôn, xã, Hội phụ nữ, Hội nông dân, Hội người cao tuổi, Hội Cựu chiến binh, Đoàn thanh niên,

2.3 Nội dung nghiên cứu

- Tổng quan về nông thôn bền vững, các tiêu chí xác định nông thôn mới trong Chính sách về nông thôn, nông dân, nông nghiệp (tam nông) ở Việt Nam Vai trò của hoạt động cấp nước sạch trong việc xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam hiện nay

- Nghiên cứu tổng quan về sự tham gia của cộng đồng trong các hoạt động phát triển

và trong dự án cấp nước sạch trên thế giới và ở Việt Nam (nhấn mạnh vào các bài học kinh nghiệm)

- Phân tích các đặc trưng cơ bản về điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế (sinh kế,

Ngày đăng: 29/06/2017, 15:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Anderson, J. và cộng sự (2010). Báo cáo phát triển Việt Nam 2010: Các thể chế hiện đại.Ngân hàng Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo phát triển Việt Nam 2010: Các thể chế hiện đại
Tác giả: Anderson, J. và cộng sự
Năm: 2010
2. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2012). Báo cáo Khảo sát nền kinh tế xã hội, tiểu dự áncấp nước và vệ sinh môi trường xã Thanh Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Liên danh tư vấn CDM, Nippon Koei và Vinaconsult Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Khảo sát nền kinh tế xã hội, tiểu dự áncấp nước và vệ sinh môi trường xã Thanh Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Năm: 2012
4. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2015). Kết quả thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn giai đoạn 2011-2015. Hội nghị Môi trường toàn quốc lần thứ IV ngày 29/9/2015, Bộ Tài nguyên và Môi trường Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nghị Môi trường toàn quốc lần thứ IV ngày 29/9/2015
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2015
5. Bộ Y tế (2009). Thông tư số 05/2009/TT – BYT, ngày 17/6/2009 về việc ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt (QCVN:02:2009/BYT) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 05/2009/TT – BYT, ngày 17/6/2009 về việc ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2009
6. BùiĐứcKính (2010).Pháttriểnbềnvững vànềntảngsinhthái.Tạpchí Khoahọcxã hội, số11+12, 147-148 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạpchí Khoahọcxã hội
Tác giả: BùiĐứcKính
Năm: 2010
8. Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2012). Thực hiện phát triển bền vững tại Việt Nam: Báo cáo quốc gia tại hội nghị cấp cao của Liên Hiệp Quốc về phát triển bền vững (RIO+20), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hiện phát triển bền vững tại Việt Nam: Báo cáo quốc gia tại hội nghị cấp cao của Liên Hiệp Quốc về phát triển bền vững (RIO+20)
Tác giả: Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2012
9. Chương trình Tiếp cận Cộng đồng Đông Nam Á - SEACAP 15 (2005). Sự tham gia của Cộng đồng trong Giao thông Nông thôn. Những vấn đề về đóng góp và tham gia ở Việt Nam. Công ty Tư vấn Mekong Economics Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự tham gia của Cộng đồng trong Giao thông Nông thôn
Tác giả: Chương trình Tiếp cận Cộng đồng Đông Nam Á - SEACAP 15
Năm: 2005
10. Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2004). Định hướng Chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng Chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam)
Tác giả: Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2004
11. CộnghòaXãhộiChủnghĩaViệtNam (2005). Chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch và Vệ sinh Môi trường Nông thôn, giai đoạn 2006-2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch và Vệ sinh Môi trường Nông thôn, giai đoạn 2006-2010
Tác giả: CộnghòaXãhộiChủnghĩaViệtNam
Năm: 2005
12. CộnghòaXãhộiChủnghĩaViệtNam (2006). Chiến lược quốc gia về tài nguyên nước đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược quốc gia về tài nguyên nước đến năm 2020
Tác giả: CộnghòaXãhộiChủnghĩaViệtNam
Năm: 2006
13. CộnghòaXãhộiChủnghĩaViệtNam (2010). Báo cáo mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ: Việt Nam 2/3 chặng đường thực hiện các mục tiêu phát triển Thiên niên kỳ, hướng tới năm 2015, Hà Nội, tháng 8/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ: Việt Nam 2/3 chặng đường thực hiện các mục tiêu phát triển Thiên niên kỳ, hướng tới năm 2015
Tác giả: CộnghòaXãhộiChủnghĩaViệtNam
Năm: 2010
14. Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2010). Chương trình Mục tiêu Quốc gia về Nước sạch và Vệ sinh Nông thôn Giai đoạn 2011-2015, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình Mục tiêu Quốc gia về Nước sạch và Vệ sinh Nông thôn Giai đoạn 2011-2015
Tác giả: Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2010
15. CụcBảovệ Môitrường (2003).10 năm pháttriểnbềnvữngchặngđườngtừRio deJaneiro1992đếnJohannesburg2002.Hộithảovìsựpháttriểnbềnvững của Việt Nam, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Hà Nội, tháng 10/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hộithảovìsựpháttriểnbềnvững của Việt Nam
Tác giả: CụcBảovệ Môitrường
Năm: 2003
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2011
19. Đặng Ngọc Quang và cộng sự (2004). Đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng tại đồng bằng sông Hồng, tỉnh Hà Tây và Hải Dương, Nhà xuất bản Lao động và Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng tại đồng bằng sông Hồng, tỉnh Hà Tây và Hải Dương
Tác giả: Đặng Ngọc Quang và cộng sự
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao động và Xã hội
Năm: 2004
20. DFID (2003). Nghiên cứu tác động của mạng lưới đường nông thôn đối với người nghèo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tác động của mạng lưới đường nông thôn đối với người nghèo
Tác giả: DFID
Năm: 2003
21. Diễn đàn về việc cung cấp các dịch vụ cơ sở hạ tầng vì người nghèo (2003), Băng Cốc, Thái Lan, tháng 11/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diễn đàn về việc cung cấp các dịch vụ cơ sở hạ tầng vì người nghèo
Tác giả: Diễn đàn về việc cung cấp các dịch vụ cơ sở hạ tầng vì người nghèo
Năm: 2003
22. Đỗ Hậu (2000). Sự tham gia của cộng đồng dân cư trong công tác quy hoạch xây dựng đô thị ở Việt Nam. Tạp chí Xã hội học, số 3 (71), 92-96 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Xã hội học
Tác giả: Đỗ Hậu
Năm: 2000
23. Huỳnh Ngọc Tuyết (2003). Sự tham gia của cộng đồng trong hoạt động nâng cấp đô thị tại chỗ: Trường hợp dự án thí điểm 415 “Nâng cấp đô thị làm sạch kênh Tân Hóa- Lò Gốm”. Tạp chí Khoa học Xã hội, số 5 (63), 67-79 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cấp đô thị làm sạch kênh Tân Hóa- Lò Gốm”. "Tạp chí Khoa học Xã hội
Tác giả: Huỳnh Ngọc Tuyết
Năm: 2003

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.2: Các ca bệnh tật liên quan đến cấp nước và vệ sinh được báo cáo trong cộng - Nghiên cứu đề xuất giải pháp tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong hoạt động cấp nước nông thôn bền vững tại xã thanh trạch, huyện bố trạch, tỉnh quảng bình
Hình 1.2 Các ca bệnh tật liên quan đến cấp nước và vệ sinh được báo cáo trong cộng (Trang 39)
Hình 3.1: Cộng đồng tham gia vào các giai đoạn của dự án cấp nước sạch xã - Nghiên cứu đề xuất giải pháp tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong hoạt động cấp nước nông thôn bền vững tại xã thanh trạch, huyện bố trạch, tỉnh quảng bình
Hình 3.1 Cộng đồng tham gia vào các giai đoạn của dự án cấp nước sạch xã (Trang 47)
Hình 3.2: Hoạt động tham gia cộng đồng trong giai đoạn chuẩn bị dự án tại xã - Nghiên cứu đề xuất giải pháp tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong hoạt động cấp nước nông thôn bền vững tại xã thanh trạch, huyện bố trạch, tỉnh quảng bình
Hình 3.2 Hoạt động tham gia cộng đồng trong giai đoạn chuẩn bị dự án tại xã (Trang 49)
Hình 3.3: Hoạt động của cộng đồng trong giai đoạn chuẩn bị dự án tại xã Thanh - Nghiên cứu đề xuất giải pháp tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong hoạt động cấp nước nông thôn bền vững tại xã thanh trạch, huyện bố trạch, tỉnh quảng bình
Hình 3.3 Hoạt động của cộng đồng trong giai đoạn chuẩn bị dự án tại xã Thanh (Trang 51)
Hình 3.5: Cộng đồng tham gia chương trình Ngày thứ Bảy xanh trong hoạt động - Nghiên cứu đề xuất giải pháp tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong hoạt động cấp nước nông thôn bền vững tại xã thanh trạch, huyện bố trạch, tỉnh quảng bình
Hình 3.5 Cộng đồng tham gia chương trình Ngày thứ Bảy xanh trong hoạt động (Trang 55)
Hình 3.6: Hoạt động tham gia cộng đồng trong giai đoạn vận hành bảo dƣỡng - Nghiên cứu đề xuất giải pháp tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong hoạt động cấp nước nông thôn bền vững tại xã thanh trạch, huyện bố trạch, tỉnh quảng bình
Hình 3.6 Hoạt động tham gia cộng đồng trong giai đoạn vận hành bảo dƣỡng (Trang 57)
Hình 3.9:  Hình thức đóng góp vào công trình cấp nước xã Thanh Trạch (%) - Nghiên cứu đề xuất giải pháp tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong hoạt động cấp nước nông thôn bền vững tại xã thanh trạch, huyện bố trạch, tỉnh quảng bình
Hình 3.9 Hình thức đóng góp vào công trình cấp nước xã Thanh Trạch (%) (Trang 63)
Hình 3.10:  Cộng đồng tham gia vào các hoạt động truyền thông nâng cao nhận - Nghiên cứu đề xuất giải pháp tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong hoạt động cấp nước nông thôn bền vững tại xã thanh trạch, huyện bố trạch, tỉnh quảng bình
Hình 3.10 Cộng đồng tham gia vào các hoạt động truyền thông nâng cao nhận (Trang 65)
Hình 3.11: Truyền thông của cộng đồng trong khu vực dự án nghiên cứu - Nghiên cứu đề xuất giải pháp tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong hoạt động cấp nước nông thôn bền vững tại xã thanh trạch, huyện bố trạch, tỉnh quảng bình
Hình 3.11 Truyền thông của cộng đồng trong khu vực dự án nghiên cứu (Trang 65)
Hình 3.13: Mong muốn tham gia đóng góp ý kiến vào dự án - Nghiên cứu đề xuất giải pháp tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong hoạt động cấp nước nông thôn bền vững tại xã thanh trạch, huyện bố trạch, tỉnh quảng bình
Hình 3.13 Mong muốn tham gia đóng góp ý kiến vào dự án (Trang 69)
Hình 3.14: Hình thức đóng góp ý kiến vào dự án (%) - Nghiên cứu đề xuất giải pháp tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong hoạt động cấp nước nông thôn bền vững tại xã thanh trạch, huyện bố trạch, tỉnh quảng bình
Hình 3.14 Hình thức đóng góp ý kiến vào dự án (%) (Trang 70)
Hình  thức và  mức độ  tham  gia - Nghiên cứu đề xuất giải pháp tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong hoạt động cấp nước nông thôn bền vững tại xã thanh trạch, huyện bố trạch, tỉnh quảng bình
nh thức và mức độ tham gia (Trang 74)
Hình 3.16: Hình ảnh cộng đồng sử dụng nước sạch trong khu vực nghiên cứu - Nghiên cứu đề xuất giải pháp tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong hoạt động cấp nước nông thôn bền vững tại xã thanh trạch, huyện bố trạch, tỉnh quảng bình
Hình 3.16 Hình ảnh cộng đồng sử dụng nước sạch trong khu vực nghiên cứu (Trang 77)
Hình 3.17: Mức thang tương ứng với sự tham gia của cộng đồng vào dự án - Nghiên cứu đề xuất giải pháp tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong hoạt động cấp nước nông thôn bền vững tại xã thanh trạch, huyện bố trạch, tỉnh quảng bình
Hình 3.17 Mức thang tương ứng với sự tham gia của cộng đồng vào dự án (Trang 81)
Hình 3.18: Mức thang cộng đồng tham gia vào các giai đoạn của dự án - Nghiên cứu đề xuất giải pháp tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong hoạt động cấp nước nông thôn bền vững tại xã thanh trạch, huyện bố trạch, tỉnh quảng bình
Hình 3.18 Mức thang cộng đồng tham gia vào các giai đoạn của dự án (Trang 82)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w