1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Ảnh hưởng của ép xanh cành lá chè đốn và bổ sung lân, chế phẩm vi sinh đến chè LDP1 giai đoạn kinh doanh tại Thái Nguyên (LV thạc sĩ)

110 164 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 26,87 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ảnh hưởng của ép xanh cành lá chè đốn và bổ sung lân, chế phẩm vi sinh đến chè LDP1 giai đoạn kinh doanh tại Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Ảnh hưởng của ép xanh cành lá chè đốn và bổ sung lân, chế phẩm vi sinh đến chè LDP1 giai đoạn kinh doanh tại Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Ảnh hưởng của ép xanh cành lá chè đốn và bổ sung lân, chế phẩm vi sinh đến chè LDP1 giai đoạn kinh doanh tại Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Ảnh hưởng của ép xanh cành lá chè đốn và bổ sung lân, chế phẩm vi sinh đến chè LDP1 giai đoạn kinh doanh tại Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Ảnh hưởng của ép xanh cành lá chè đốn và bổ sung lân, chế phẩm vi sinh đến chè LDP1 giai đoạn kinh doanh tại Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Ảnh hưởng của ép xanh cành lá chè đốn và bổ sung lân, chế phẩm vi sinh đến chè LDP1 giai đoạn kinh doanh tại Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Ảnh hưởng của ép xanh cành lá chè đốn và bổ sung lân, chế phẩm vi sinh đến chè LDP1 giai đoạn kinh doanh tại Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Ảnh hưởng của ép xanh cành lá chè đốn và bổ sung lân, chế phẩm vi sinh đến chè LDP1 giai đoạn kinh doanh tại Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Ảnh hưởng của ép xanh cành lá chè đốn và bổ sung lân, chế phẩm vi sinh đến chè LDP1 giai đoạn kinh doanh tại Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Ảnh hưởng của ép xanh cành lá chè đốn và bổ sung lân, chế phẩm vi sinh đến chè LDP1 giai đoạn kinh doanh tại Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Ảnh hưởng của ép xanh cành lá chè đốn và bổ sung lân, chế phẩm vi sinh đến chè LDP1 giai đoạn kinh doanh tại Thái Nguyên (LV thạc sĩ)

Trang 1

ANH HUONG CUA EP XANH CANH LA CHE DON VA BO SUNG LAN, CHE PHAM VI SINH DEN CHE LDP1 GIAI DOAN KINH DOANH

TAI THAI NGUYEN

Ngành: Khoa học cây trồng

Mã số: 60.62.01.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ

KHOA HOC CAY TRONG

Người hướng dẫn khoa học: TS Đỗ Thị Ngọc Oanh

Thái Nguyên, năm 2016

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu — ĐHTN http://www.trc.tnu.edu.vn

Trang 2

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được sử dụng đề bảo vệ bất cứ một học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này

đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguôn gôc

Tác giả

Ngô Mạnh Cường

Trang 3

LOI CAM ON

Sau quá trình học tập và nghiên cứu đề tài, tôi đã hoàn thành bản luận văn nghiên cứu khoa học Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn và sự kính trọng tới các thầy giáo, cô giáo trong Khoa Sau Đại học; Khoa Nông Học, Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình tiến hành nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn cô giáo TS Đỗ Thị Ngọc Oanh đã luôn quan tâm giúp đỡ nhiệt tình, trách nhiệm và công tâm trong suốt quá

trình tôi tiến hành nghiên cứu đề tài và hoàn thành luận văn

Do còn hạn chế về trình độ lý luận và kinh nghiệm thực tế nên không tránh khỏi thiếu sót, tôi rất mong được sự giúp đỡ, góp ý kiến bổ sung của các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp đề đề tài của tôi được

hoàn thiện hơn

Nhân dịp này, tôi xin trân trọng gửi tới các thầy giáo, cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp, gia đình sự biết ơn sâu sắc và xin gửi lời chúc tốt đẹp nhất

Thái Nguyên, tháng 10 năm 2016

Tác giả

Ngô Mạnh Cường

Trang 4

MỤC LỤC

I09)09 082979057 4 i LOI CAM ON

MUC LUC eeecesscsssessssesssessscssscsssessscsssesssesssassessssssesssessscssseassesssesseesssessecssecaseeasecaseess iii

DANH MUC CAC TU VIET TAT ueescsscescssesscessessesscsssessessessessssssessessesssesstsntessessess Vv

DANH MỤC CÁC HÌNH - (St SE SE EEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEkrrkrrervee vii

1 Tính cấp thiét ctta G6 tai eecceecceececccesssesssesssecssesssesssesssecssecssesssecssesssesssesssesssessneeaee 1

2.-Muc dich va yOu CaU NN 2 2.1 Muc dich 2

3.Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài -¿- 5c ctct tk xEExEE111 111111 ckee 2 3.1 Y nghiia khoa HOC o ssscsssesssesssesssesssecssecssecssecsscssecssecsscssesssesssecssecssesssecssecsnecsseease 2 3.2 Ý nghĩa thurc tiGn cceccecceccesssessessesssesseesesssessecsssssessessueesecsecsusssessessuessessesssessesseseass 3

Churong 1 TONG QUAN TAI LIEU NGHIEN CỨU 2 2- 225522552 4

1.1.Cơ sở khoa học của bón phân cho Ché ou eee cess ceseseesseeestseeeesseeeeseeeeeees 4 1.1.1.Vai trò và nhu cầu dinh đưỡng của cây chè 2- 22 ss2xzccxevrxserxerrree 4 1.1.2 Vai trò của chất hữu co trong đất đối với cây trồng . -¿ + 12

1.1.3 Vai trò của vi sinh vật phân giải chất hữu cơ đối với cây trồng 15

1.1.4 Vai trò của phân lân đối với cây trồng và trong xử lý ủ phân hữu cơ 19

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài c-Ss St E111 E1EE1E111111111111111111111 1.111 21

1.2.1 Tình hình sử dụng phân bón cho chè trong sản xuất . -. : s 21

1.2.2 Lượng thân cành lá chè đốn và các biện pháp xử lý trong sản xuất 21

1.2.3 Nghiên cứu về sử dụng chế phẩm vi sinh phân giải chất hữu cơ 23

1.2.4 Nghiên cứu sử dụng chất hữu cơ trong nông nghiệp . : 27

1.2.5 Nghiên cứu sử dụng chất hữu cơ trong sản xuất chè -¿- sz=s+

Chương 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2,1, Vật liệu nghiẾH GỨU cuc s6 151116616611g11111 558 0611415615515131635555614355515Y511855E159842158

2.2: Phạm vi nghiÊn'CỨUzss:s:zzsiszz6csi15605115116100565031131133830463391510G145431813/35gGi931088 32 2.3 Nội dung nghiÊn CỨU - «+1 vn TT nh TH nh Hàn ng 32 DScLcANGWVAUNSAMBEDICD GỨU ucsscssvsssoscyiEELiLESBEELLL110011460001565400601566466615608600608056.2060/1000 32

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN hftp://www.Ìrc.tmu.edu.vn

Trang 5

2,3:2:Gác:công thức:nphiện.CỨUsssossstsortsgtsstrtrigtistTöi35s0558330135551835058361331380430ã8864 33 2.4 Các chỉ tiêu nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu . -‹- «+ s+s=«+ 35 2.4.1 Các chỉ tiêu sinh trưởng .- - c6 1x E111 1 11 11211211 nh ng tư 35

2.4.2 Các yéu tố cầu thành năng suất -2- 22 2++©+++CE+++EEEverxxrerrerrrrrcee 35

2.4.3 Chỉ tiêu phẩm cấp nguyên liệu 2- 2+ ©2+++2+++CEE+eEExerxxrerxrrrrkrree

2.4.4 Các chỉ tiêu về lý tính và sinh vật dat

2.4.5 Tính hiệu quả của phun chế phẩm -2-2¿©2++2+EE2+EE£+EEz+EEevrxevrseee 2.5 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu -2- 2+2z+xz+£xz+txzzrxzsrreees 37

Chương 3 KÉT QUÁ VÀ THẢO LUẬN . 22-©2+ec2cxevEExerrrkerrrkerrrrcee 39

3.1 Ảnh hưởng của phân lân, chế phẩm vi sinh trong ép xanh thân cành lá chè đốn

đến một số chỉ tiêu lý tính đất . -2¿+++E+t+Ek+2EEt2EE2EE2E1 2X 22122 2Ekcrex 39

3.2 Ảnh hưởng của phân lân, chế phẩm vi sinh trong ép xanh thân cành lá chè đốn

đến sinh vật đất ¿- 6© E1 211211111 1111.111111 11111 11 T1 11 11 11 g1 1xx grrey 42

3.3 Ảnh hưởng của phân lân, chế phẩm vi sinh trong ép xanh thân cảnh lá chè đốn đến sinh trưởng chiều cao cây của giống chè LDPI -¿-©¿+c+e+czxezcxz 43 3.4 Ảnh hưởng của phân lân, chế phâm vi sinh trong ép xanh thân cành lá chè đốn

đến độ rộng tán của giống chè LIDPI, 2 ¿++£+E+++EE+2EE+2EE£EEtzrxezrxrrrrrrrk 46

3.5 Ảnh hưởng của phân lân, chế phẩm vi sinh trong ép xanh thân cành lá chè đồn đến khối lượng búp của giống chè LIDPI 2: 2¿©2¿++£+EE£2EESEE2EEevrxerrrerre 49 3.6 Ảnh hưởng của phân lân, chế phâm vi sinh trong ép xanh cành lá chè đốn đến

mật độ búp của giống chè LIDPL ¿2:22 +EE2EE2SEE222E2221222122212212222 x2 52

3.7 Ảnh hưởng của phân lân, chế phẩm vi sinh trong ép xanh thân cành lá chè đốn đến phẩm cấp nguyên liệu của giống chè LDPI -2-©2+sz+£x+rxz+rxezrseee 54

3.8 Ảnh hưởng của phân lân, chế phẩm vi sinh trong ép xanh cành lá chè đốn đến

năng suất của giỗng chè LDPI 2-2¿-©2¿©+++2E+ESEExtEEkErErkeerrkrerrrrerrrrrrkx 58 3.8 Hiệu quả kinh tế của phân lân, chế phẩm vi sinh trong ép xanh cảnh lá chè đốn trong i4 ¡09 “ A H 66

KET LUAN VA DE NGHI csssessscsssesssessseessesssesssesssesssesssssssessseessesssesssessseesseessesssess 68

1 KẾT luận 6c tt kề k SE EEE1111E71111111111111111111111 1111111111111 E71 crke 68

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN hftp://www.Ìrc.tmu.edu.vn

Trang 6

STT Chir viét tat Nghĩa của từ

1 CTV : Cộng tác viên

2 CS : Cộng sự

4 ĐH : Dai hoc

5 FAO : 76 chite néng lvong lién hợp quốc

6 KHKT : Khoa hoc ky thuat

Trang 7

DANH MUC CAC BANG

Bang 3.1 Ảnh hưởng của phân lân, chế phẩm vi sinh trong ép xanh canh 14 ché dén đến phẩm cấp nguyên liệu của chè LDPI -2¿2+©+22+++2z++etzxeerrxrcrrx 55 Bảng 3.2 Ảnh hưởng của phân lân, chế phẩm vi sinh trong ép xanh cành lá chè đốn đến năng suất lý thuyết của chè LDPI 2-22 ¿+22 E£+EE+2EE++EEeZEEetrxezrxrrrx 59 Bảng 3.3: Ảnh hưởng của phân lân, chế phâm vi sinh trong ép xanh cành lá chè đốn đến năng suất thực thu của chè LDP1

Đơn vị: tấn/ha/lỨa - 56 St kEEkEEEEEkEEkEESE11111111711111111111111 11111111111 cr

Bảng 3.4: Ước tính năng suất thực thu cả năm của giống chè LDPI 65 Bảng 3.5: Hiệu quả kinh tế của phân lân, chế phẩm vi sinh trong ép xanh cành lá chè đốn trong sản xuất chè -2+©222+EESEE2EE27122712271127112711211211211 xe 66

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN hftp://www.Ìrc.tmu.edu.vn

Trang 8

DANH MUC CAC HiNH

Hình 3.1: Ảnh hưởng của phân lân, chế phẩm vi sinh trong ép

xanh cành lá chè đốn đến chỉ tiêu độ xốp đất . -2z+cs+cs+¿ 40 Hình 3.2: Ảnh hưởng của phân lân, chế phẩm vi sinh trong ép

xanh cành lá chè đốn đến chỉ tiêu hàm lượng mùn -2 2-2 Al

Hình 3.3: Ảnh hưởng của phân lân, chế phẩm vi sinh trong ép

xanh cành lá chè đốn đến sinh vật đất 2- 2 z+sz+£zx+zrxezrxeerred 42 Hình 3.4 Ảnh hưởng của phân lân, chế phẩm vi sinh trong ép xanh cành lá chè đốn đến chiều cao cây của chè LDPI -2¿2++22+2E+z+cz++zzs2 44 Hình 3.5: Ảnh hưởng của của phân lân, chế phẩm vi sinh trong ép xanh thân cành lá chè đốn đến độ rộng tán của giống chè LDPI 2- 2 41 Hình 3.6 Ảnh hưởng của phân lân, chế phẩm vi sinh trong ép xanh thân cành đốn đến khối lượng búp một tôm ba lá của giống chè LDPI 50 Hình 3.7: Ảnh hưởng của phân lân, chế phẩm vi sinh trong ép xanh cành lá chè đốn đến mật độ búp của giống chè LDPI 2- s2 z+z+zsz=ze2 52

Trang 9

Cay ché (Camellia sinensis O Kuntze) là cây công nghiệp dài ngày, có nhiệm kỳ kinh tế dai, đem lại hiệu quả kinh tế cao và ôn định góp phần xóa

đói giảm nghẻo, tăng thu nhập cho người nông dân

Theo Ban quản lý dự án phát triển chè tỉnh Thái Nguyên, diện tích chè của tỉnh Thái Nguyên tính đến hết năm 2015 là 21.127 ha đứng thứ 2 cả nước; trong đó diện tích chè đang cho thu hoạch là 17.376 ha Tỉnh Thái Nguyên luôn xác định cây chè là cây trồng chủ lực trong phát triển kinh tế và làm giàu cho người nông dân Các địa danh như Tân Cương, La Bằng hay Vô Tranh, Tức Tranh đã và đang trở thành những vùng chè nổi tiếng, tạo nên những nét đặc trưng riêng biệt của chè Thái Nguyên, thương hiệu Chè Thái Nguyên ngày càng nồi tiếng trên thị trường trong nước và quốc tế

Một trong những khó khăn trong sản xuất chè là thiếu phân hữu cơ trong khi đó hàng năm đều có một lượng lớn chất hữu cơ ngay tại nương chè chưa được khai thác và sử dụng hiệu quả Với mỗi hecta chè kinh doanh đang cho năng suất ồn định thì lượng thân cành lá đốn hàng năm khoảng 10 - 15 tắn/ha Với việc xử lý hiện nay, các hộ nông dân làm chè thường hay vơ nhặt vứt xuống bề mặt luống chè hoặc thu gom mang về làm củi Việc làm này làm mắt đi một lượng lớn chất hữu cơ và dinh dưỡng, hơn thế nữa nó còn là nguồn phát sinh sâu bệnh hại cho cây chè

Ép xanh là kỹ thuật vùi lấp thân cành lá chè sau khi đốn hàng năm ở giữa hai hàng chè Kỹ thuật này đã được nghiên cứu và khuyến cáo áp dụng

từ những năm 1970 Thân cành lá chè sau khi ép xanh được phân hủy sẽ bổ sung lại chất hữu cơ, hàm lượng mùn và chất dinh dưỡng cho cây chè Cơ sở khoa học của kỹ thuật ép xanh là vi sinh vật phân giải chất hữu cơ vì vậy hiệu quả của kỹ thuật phụ thuộc vào chủng loại vi sinh vật và điều kiện môi trường như nhiệt độ, âm độ Vì thế trên thực tế, nhiều nơi đã sử dụng bổ sung khi

Trang 10

rệt Vì vậy câu hỏi đặt ra là khi ép xanh thân cành lá chè đốn có nên bổ sung lân không? Sử dụng chế phẩm vi sinh vật có làm tăng hiệu quả của ép xanh không? Và nên bồ sung loại vi sinh vật nào?

Đề trả lời những câu hỏi trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:

“Ảnh hưởng của ép xanh cành lá chè đắn và bố sung lân, chế phẩm vi sinh đến chè LDPI giai đoạn kinh doanh tại Thái Nguyên ”

2.Mục đích và yêu cầu

2.1 Mục đích

Xác định ảnh hưởng của sử dụng phân lân, chế phẩm vi sinh trong ép xanh thân cành lá chè đốn đến cải thiện độ phì của đất và hiệu quả sản xuất của giống chè LDPI

2.2 Yêu cầu

- Đánh giá ảnh hưởng của sử dụng phân lân, chế phẩm vi sinh trong ép

xanh thân cành lá chè đến đến:

+ Lý tính đất và sinh vật đất

+ Sinh trưởng của cây chè LDPI

+ Chất lượng nguyên liệu chè búp tươi

+ Năng suất của giống chè LDPI

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

3.1 Ý nghĩa khoa học

- Góp phần bồ sung quy trình kỹ thuật chăm sóc thâm canh chè

- Đây là tài liệu tham khảo có giá trị cho cán bộ khoa học kỹ thuật, cho

người sản xuất kinh doanh chè, cho giáo viên, sinh viên, học viên cao học

trong học tập, nghiên cứu về cây chè

Trang 11

chất hữu cơ trong ép xanh thân cành lá chè đốn làm tăng năng suất, chất lượng chè và độ phì của đất trồng chè Đặc biệt là thân cành lá chè đốn hàng năm là nguồn bồ sung hữu cơ tại chỗ cung cấp cho đất trồng chè

- Xác định được một số loại chế phẩm vi sinh có khả năng phân giải chất hữu cơ từ thân cành lá chè, làm tăng năng suất, chất lượng chè và độ phì đất trồng chè

- Góp phần cải tạo, nâng cao độ phì nhiêu của đất, tiết kiệm chỉ phí sản xuất từ đó nâng cao hiệu quả kinh tế cho người trồng chè

Trang 12

1.1.Cơ sở khoa học của bón phân cho chè

1.1.1.Vai trò và nhu cầu dinh dưỡng của cây chè

Theo Balu L Bumb và Carlos A Banante (1996), năng suất đóng góp trên 80% sản lượng cây trồng, 20% còn lại là do tăng diện tích Hiện nay, gần như 100% sản lượng tăng thêm của các cây trồng chính tại Việt Nam là nhờ tăng năng suất [33]

Cây chè có khả năng liên tục hút dinh dưỡng trong chu kỳ phát dục hàng năm cũng như trong chu kỳ phát dục cả đời sống của nó Đối tượng thu hoạch chè là búp và lá non Mỗi năm thu hoạch từ 5 - 10 tan/ha, vì thế lượng dinh dưỡng trong đất mất đi khá nhiều, nếu không bổ sung kịp cho đất thì cây trồng sẽ sinh trưởng kém và cho năng suất thấp[ 17]

Theo Eden (1958) trong búp chè non có 4,5% N; 1,5% P205 va 1,2 -

2,5% KạO Những kết quả nghiên cứu cho thấy nhu cầu dinh dưỡng khoáng của cây chè rất lớn [34]

1.1.1.1 Nhu cau vé dam

Dam (N): là thành phần của chất hữu cơ, diệp lục tố, nguyên sinh chất,

axit nucleic, protein [10] [23] Đạm giúp tăng chiều cao cây, ra nhiều lá và búp mới, tăng năng suất chè

Thiếu đạm: cây sinh trưởng phát triển kém, ít nảy đọt, búp non có màu xanh nhạt, xanh vàng đến ửng đỏ, năng suất thấp

Những kết quả nghiên cứu về nhu cầu phân bón và các thực nghiệm về hiệu lực phân bón đã chứng minh: đạm là yếu tố chủ yếu đối với cây chè, có tương quan chặt chẽ với năng suất Đạm có tương quan tuyến tính giữa năng suất chè với cả mức bón phân cao hơn 120 kg N/ha Khi lượng bón trên 80 -

90 kg Na thì tối thiểu phải bón làm 2 lần Hiệu ứng của đạm là tác động tích lũy, vượt qua giới hạn của một năm mà phải tính qua các chu kỳ thu hái [12]

Trang 13

hưởng trực tiếp đến năng suất Thiếu đạm cây sinh trưởng kém, lá nhỏ, búp nhỏ và búp bị mù nhiều, do đó năng suất thấp Yêu cầu về đạm thay đổi tùy

theo loại đất tuổi của cây và năng suất của vườn chè [1 I]

Theo kết quả nghiên cứu ở Assam thấy rằng hiệu lực đạm tăng đều đặn theo thời gian: hiệu suất của 1 kg N của lần bón thứ 1, 2, 3 và 4 là 2 kg, 4 kg, 6

kg và 8 kg chè khô [ L7]

Ở Đông Phi hiệu suất của 1 kg N là từ 4 - 8 kg chè khô Tác dụng đầy

đủ của đạm được thể hiện chỉ trên nền đảm bảo các yếu tố khác (Willson,

1992) [36]

Cây chè ở giai đoạn đầu sau trồng (1 - 3 tuổi) bước sang giai đoạn cho thu búp (4 - 6 tuổi) lượng đạm được bón làm nhiều lần, bón từ 30 kg N/ha tăng dần nhưng không vượt quá 100 kg N/⁄ha Hiệu lực của lượng đạm 100 kg Nha đạt cao nhất ở độ tuổi 7 - 8 đến 10 - 12 tuổi Thời kỳ 10 - 12 tuổi lượng đạm bón có hiệu lực cao nhất từ 200 - 300 kg N/ha, nhưng năng suất búp của | kg

N cao nhất không quá 200 kg N/ha ở những nương chè có mức năng suất 5 - 8 tan dot tươi/ha, còn những nương chè có năng suất trên 10 tắn/ha đầu tư đến

300 kg N/ha van cho hiệu suất cao Tắt cả các liều lượng bón trên 300 kg N/ha không làm tăng năng suất chè và hiệu suất giảm Các nương chẻ trên 20 tuổi hiệu lực phân đạm tốt nhất với liều lượng không quá 200 kg N?ha (Willson,

1992) [36]

Cũng theo Willson K C và Lifford M N (1992) để thu hoạch 1 tắn chè

búp tươi cần phải bón 32,0 - 33,5 kg N; 16,5 - 18,0 kg P2Os; 2,0 - 10,0 kg

K20 Trong đó chỉ một nửa dinh dưỡng bị lấy đi bởi thu hái búp, được tích lũy trong 25 - 28% lượng vật chất khô trong búp thu hoạch Bởi vậy cung cấp lượng dinh dưỡng hằng năm cho cây chè cần quan tâm đến sự tiêu hao cho quá trình duy trì bộ khung tán cây chè, bộ rễ, sinh khối phần đốn hằng năm, và

Trang 14

trọng nhất Năng suất búp phụ thuộc chặt chẽ vào lượng bón (Sandanam và Rajasingham, 1980) [35]

và phẩm chất, nhiều tài liệu ở nước ngoài như Nhật Bản, An Độ,

Xrilanca đều cho rằng bón đạm không hợp lý, bón quá nhiều hoặc bón đơn độc đều làm giảm chất lượng chè (đặc biệt là đối với nguyên liệu dùng để chế biến chè đen) Những công trình nghiên cứu của Liên Xô cho thấy liều lượng đạm

300 kg/ha thì hàm lượng tanin, cafein và vật chất hòa tan trong búp chè đều cao, có lợi cho phẩm chất, song nếu vượt quá giới hạn trên thi pham chất chè giảm thấp Khi bón nhiều đạm hàm lượng protein ở trong lá tăng lên Protein kết hợp với tanin thành các hợp chất không tan vì thế lượng tanin trong chè bị giảm đi Mặt khác khi bón nhiều đạm, hàm lượng ancaloit trong chẻ tăng lên làm cho chè có vị đắng (dẫn theo Nguyễn Văn Hùng , Nguyễn Văn Tạo, 2006) [11]

Tài liệu của trại thí nghiệm chè Phú Hộ - Vĩnh Phú cho thấy bón đạm

đầy đủ, sản lượng búp chè tăng 2 - 2,5 lần so với đối chứng không bón [18]

Bón đạm trên cơ sở cân đối với các yếu tố cơ bản khác, theo Đỗ Ngọc

Quỹ (1980): trên nền 100 - 200 kg N/ha, 50 kg K2O/ha hiệu lực phân lân không rõ với mức bón 50 kg P2O5s/ha Kết quả nghiên cứu về bón hàng năm

60 -180 kg P2Os/ha trên nền hữu cơ có đạm làm tăng năng suất chè 13,04 -

16,67% [19]

Đạm làm tăng khối lượng búp, tăng lượng nước và chất hòa tan, song làm giảm lượng tannin trong búp chè Kali làm tăng khối lượng búp, giảm lượng nước, tăng độ hòa tan và tăng lượng tannin đóng góp vào việc tăng phẩm chất búp chè rõ rệt (Nguyễn Tử Siêm, Nguyễn Thị Thanh Hà và Thái

Phiên, 1997) [20]

1.1.1.2 Nhu câu về lân

Trang 15

cho sự phát triển của bộ rễ, kích thích chồi mới, tăng khả năng chịu hạn, tăng

tuổi thọ của cây, tăng năng suất và lượng đường hòa tan và tanin, tăng chất lượng chè Bón kết hợp lân và N đã làm tăng cường sự sinh trưởng của bộ rễ Lân còn có tác dụng tích cực trong việc nâng cao chất lượng chè chế biến, làm tăng hương vị của chè đen

Thiếu lân: lá có màu xanh đục mờ không sáng bóng, thân cây mảnh, rễ kém phát triển, khả năng hấp thu đạm kém Chè thiếu lân trầm trọng sẽ bị trụi

cành, năng suất và chất lượng đều thấp {11]

Các tài liệu nghiên cứu của Liên Xô cho thấy bón lân có ảnh hưởng tăng năng suất và phẩm chất búp chè rõ rệt Đimitrôva J (1965) cho rằng hiệu

quả của phân lân được nâng lên một cách rõ rệt trên đất đã được bón N, K

Ngược lại hiệu quả của phân lân thấp không những do lân bị cố định trong đất

mà còn do đất thiếu N, K Một đặc điểm cần chú ý là hiệu quả về sau của lân

kéo tới 20 - 25 năm Trên đất đỏ (Liên Xô) hiệu quả về sau của lân thường

cao hơn những năm bón trực tiếp Theo nghiên cứu của Urusatze F H thi hiệu quả trực tiếp của 3 năm bón lân với liều lượng 120 - 960 kg/ha trên nền N,

K là tăng sản lượng búp 5 - 30% so với đối chứng bón N, K Song hiệu quả tăng sản bình quân trong 21 năm về sau là 60 - 78% (dan theo Dinh Thi Ngo,

1996) [15]

Những nghiên cứu của Cuaxanop (1954), Mgaloblisvili (1966) đều khẳng định bón phân lân trên nền N, K làm tăng hàm lượng catechin trong búp chè, có lợi cho phẩm chất (dẫn theo Nguyễn Văn Hùng , Nguyễn Văn Tạo,

2006) [11]

Lân chứa trong búp khá lớn, cứ thu hoach 1 tấn búp, tức đưa ra khỏi đất

4 - 5 kg P2Os, mà lân có trong đất, cây trồng khó sử dụng do đất có khả năng hấp phụ lân cao (ở đất sét 73% lượng lân bị hấp phụ, đất nâu rừng là 56%, đất

Trang 16

Ở nước ta, việc nghiên cứu hiệu quả của phân lân đối với năng suất và hâm chất búp mới tiến hành chưa được bao lâu Song kết quả sơ bộ rút ra từ thí

nghiệm 10 năm bón phân N, P, K cho chè tại trại thí nghiệm chè Phú Hộ cho

thấy: trên cơ sở bón 100 kgN/ha, bón thêm 50 kg P2O5 qua từng năm không

có sự chênh lệch gì đáng kể về năng suất, nhưng từ năm thứ 7 trở đi bội thu tăng dần một cách rõ rệt và để chúng qua 10 năm thì supe lân tỏ ra có hiệu lực chắc chắn và đáng tin cậy Bình quân 10 năm cứ 1 kg P205 da làm tăng được

3,5 kg búp chè [20]

1.1.1.3 Nhu cau vé kali

Kali (K): hoat hóa enzim liên quan đến quang hợp, tổng hợp hydratcarbon, protein, điều chỉnh pH và nước ở khí không [10] Giúp cây cứng chắc, tăng khả năng chống chịu sâu bệnh, rét và hạn, giảm khô lá và

rụng lá già, tắng năng suất và tăng độ ngọt, độ đậm trong chè búp [11]

Thiếu kali: cây sinh trưởng chậm, mép và chóp lá có màu xám hay nâu nhạt sau khô dần, lá già rụng sớm, lá non ngày càng nhỏ, dé bị sâu bệnh Búp thưa, vỏ cây có màng trắng bạc, cây chậm ra búp, năng suất thấp, chè kém

ngọt, chất lượng giảm [ 17]

Vai trò của kali đối với sự sinh trưởng và năng suất chè còn nhiều ý kiến chưa được thống nhất, có tác giả cho rằng hiệu lực kali đối với chè là tùy thuộc vào từng loại đất Trên các loại đất có hàm lượng kali tổng số và dễ tiêu thấp, bón kali cho chè đã làm tăng năng suất rõ rệt Song cũng có những nghiên cứu bón kali trong thời gian dài đã không làm tăng năng suất chè ở mức độ có ý nghĩa Thậm chí, có thí nghiệm bón kết hợp đạm và kali kéo dài trong 2l năm cũng không thấy tăng năng suất đáng kể (Wanyoko, Othieno,

1987) [37]

Wanyoko và Othieno (1987) [37] với thí nghiệm bón K cho chè trong

Trang 17

năng suất búp chè hàng năm ở mức có ý nghĩa

Khi nghiên cứu bón kali cho chè trong 3 năm, với 3 mức bón K2O khác

nhau (70, 140 va 200 kg/ha) trên nền bón N va P2Os đã kết luận: chè được

bón kali năng suất tăng so với đối chứng từ 21,0; 24,0 và 30,0% Krishnamoothy (1985) khi nghiên cứu ảnh hưởng của bón kali trên các loại

đất khác nhau, đến năng suất chè đã cho thấy: trên các loại đất có hàm lượng

kali tổng số và đễ tiêu nghèo, việc bón kali đã làm tăng năng suất ở mức độ tin cậy Nhu cầu K thay đổi tùy theo loại đất, cần định ra mức bón K phù hợp

và cân đối với các loại phân khác Trong điều kiện các chất dinh đưỡng đủ và cân đối cây chè cho năng suất cao Việc định ra mức bón kali chung là khó khăn, khi mà một trong các điều kiện như đất đai, địa hình, năng suất, kỹ

thuật canh tác và thời tiết khí hậu khác nhau (dẫn theo Nguyễn Tử Siêm

„19Ø7) [20]

Bón kali kết hợp với N cho chè năng suất tăng khoảng 13,3 - 20,0% Bón lân với các dạng supe lân Lâm Thao, lân chậm tan đã có tác dụng tăng

năng suất chè từ 23 - 24% (Bùi Đình Dinh, 1995) [2]

Trên những nương chè mới trồng, phân kali không có hiệu quả vì trên

những loại đất mới khai phá hàm lượng K2O trong đất đủ cho yêu cầu sinh

trưởng phát triển của cây (20 - 25 mg K2O/100g đất) ở những nơi thường xuyên bón N, K với liều lượng cao trong nhiều năm, đất trở nên thiếu kali thi hiệu quả việc bón K2O rất rõ rệt [17]

1.1.1.4 Các nguyên tổ khác

Laru huỳnh (S): là thành phần của các axit amin chứa S và vitamin, biotin, thiamin và coenzim A Giúp cho cấu trúc protein vững chắc, tăng năng

suất, chất lượng chè

Trang 18

Thiếu lưu huỳnh: xuất hiện vệt vàng nhạt giữa gân các lá non, trong giai đoạn phát triển thiếu lưu huỳnh lá trở nên vàng, khô dần và rụng, năng suất và chất lượng đều thấp Trong một số trường hợp, thiếu lưu huỳnh làm cây chết non

- Magié (Mg): cau tao diệp lục tố, enzim chuyên hóa hydratcarbon và axit nucleic Thúc đầy hấp thụ, vận chuyền lân và đường trong cây, giúp cây cứng chắc và phát triển cân đối, tăng năng suất và chất lượng chè khô

Thiếu magiê: xuất hiện những vệt màu xanh tối hình tam giác ở giữa lá, lá già dần chuyển vàng, hạn chế khả năng ra búp, năng suất thấp, chất lượng chè

khô giảm

- Canxi (Ca): cần cho sự phân chia tế bào, duy trì cấu trúc nhiễm sắc

thể, hoạt hóa enzim, giải độc axit hữu cơ Giúp cây cứng cáp, tăng khả năng chống chịu sâu bệnh, và điều kiện thời tiết bất thuận, tăng năng suất và độ dầy của lá, độ lớn của búp, tăng năng suất và chất lượng chè khô

- Đồng (Cu): là thành phần của men cytochrome oxydase, ascorbic,

axit axidase, phenolase, lactase, xúc tiến quá trình hình thành vitamin A, tăng

sức chống chịu sâu bệnh, tăng năng suất và chất lượng chè

Thiếu đồng: cây sinh trưởng phát triển kém, dễ bị nắm bệnh tấn công Chè thiếu đồng khi hàm lượng đồng trong lá < 12 ppm

- Kém (Zn): la thanh phan cua men metallo-enzimes-carbonic, anhydrase, anxohol dehydrogenase, quan trong trong tong hop axit indol acetic, axit nucleic va protein, tang kha nang str dung lân và đạm của cây Thúc đầy sinh trưởng, phát triển, tăng năng suất và chất lượng chè

Thiếu kẽm: cây lùn, cời cọc, lá chuyên dan bac trắng, số búp ít

- Sất (Fe): là thành phần của nhiều enzim, quan trọng trong chuyên hóa axit nucleic, RNA, diép luc tố Tăng sinh trưởng và sức ra búp, tăng năng suất

và chất lượng chè

- Mangan (Mn): là thành phần của pyruvate carboxylase, liên quan đến

Trang 19

phản ứng enzim, hô hấp, chuyên hóa đạm và sự tổng hợp diệp lục tố Kiểm soát thế oxyhóa - khử trong tế bào Giúp tăng khả năng ra lá, ra búp, tăng năng suất và chất lượng chè khô

- Bo (B): cần cho sự phân chia tế bào, tổng hợp protein, lignin trong cây, tăng khả năng thắm ở màng tế bào và vận chuyền hydrat carbon Tăng độ dẻo của búp, giảm rụng lá, tăng năng suất và chất lượng chè

- Molypden (Mo): 1a thanh phan cla men nitrogenase, can cho vi khuan

Rhizobium cố định đạm, tăng hiệu suất sử dụng đạm, tăng năng suất và chất

lượng chè

- Clo (Cl): là thành phan cua axit auxin chloindole-3 acetic, kich thich

sự hoạt động của enzim và chuyển hóa hydrat carbon, khả năng giữ nước của cây, tăng năng suất và chất lượng chè

- Nhôm (AI) và Nari (Na): ảnh hưởng tốt đến hương thơm và vị đậm của chè Tăng năng suất và nâng cao phẩm cấp của chè búp khô Trong 100

kg búp chè có chứa 4 kg N + 1,15 kg P2Os + 2,4 kg K2O, tuy nhiên để tạo ra

100 kg chè thương phẩm, lượng dinh dưỡng cần rất lớn Chè cần nhiều đạm nhất sau tới lân, kali và các chất trung vi lượng Chè là cây khá khác biệt so

với các cây khác đó là có nhu cầu cao về nhôm, natri, sắt và mangan

Nhiều nguyên t6 vi lượng có ảnh hưởng tốt tới quang hợp: Mn, Cu, B, Co,

Mo đầy mạnh sự tông hợp diệp lục trong lá và phân giải diệp lục trong tối; B

va các nguyên tố khác tăng cường sự tổng hợp Gluxit, làm cho sự tổng hợp và

vận chuyền xacaro và các gluxit khác thuận lợi hơn; Mn, Zn, Cu, Mo làm

tăng độ hô hấp và tốc độ của quá trình ôxi hóa khử

Bón kết hợp NPK và MgSO4, tăng năng suất, chất lượng chè từ 1,5 - 2 lần Đối với giống chè Shan Chất Tiền (giai đoạn chè kiến thiết cơ bản) bón bổ sung 50

kg MgSO2/ha và giống chè LDPI (giai đoạn chè kinh doanh) bón bổ sung 50 kg

MgSO24/ha cho kết quả tối ưu nhất (Hà Thi Thanh Doan, 2008) [7]

Trang 20

Hiện nay phân vi lượng đang bắt đầu được sử dụng rộng rãi trong sản xuất nông nghiệp, có khả năng tiềm tàng góp phần đây mạnh sự phát triển của ngành trồng trọt và chăn nuôi Song việc nghiên cứu và sử dụng phân vi lượng cho chè còn rất ít Ở Xrilanca đã nghiên cứu và sử dụng kẽm sunfat

hoặc axit kẽm để phun lên lá, hoặc bón borat phối hợp với Ñ, P, K cho chè ở

những nơi xác định có hiện tượng thiếu kẽm và bo Kết quả nghiên cứu của Tranturia (1973) cho thấy bón N, P, K phối hợp với 5 kg Zn và 5 kg B, cho 1

ha, làm tăng phẩm chất của chè nguyên liệu Ở Việt Nam bước đầu đang nghiên cứu ảnh hưởng của một số nguyên té vi lượng như Zn, B, Mo, Mn,

Cu, đối với sự sinh trưởng và phát dục của chè, hoặc dùng H2BO4 (0,02%) phun phối hợp với urê (2%) để trừ sâu và thúc sinh trưởng cho chè càng cho kết quả tốt [8]

1.1.2 Vai trò của chất hữu cơ trong đất đối với cây trồng

Chat hữu cơ là thành phần cơ bản kết hợp với các sản phâm phong hoá từ

đá mẹ đề tạo thành đất, là đặc trưng đề phân biệt mẫu chất và đất Chất hữu cơ đóng vai trò rất quan trọng đối với độ phì đất Đó là nguồn cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng và ảnh hưởng nhiều tới tính chất lý, hoá va sinh hoc dai Chất hữu cơ trong đất chia làm 2 nhóm lớn: Chất hữu cơ không phải mùn và

chất mùn[6]

Chất hữu cơ không phải mùn bao gồm tàn tích hữu cơ (chủ yếu thực vật) còn giữ nguyên trạng thái hoặc đã mất cấu trúc cấu tạo ban đầu Chúng chủ yếu có ở tầng thảm mục A0 hoặc lớp than bùn Chúng thường chiếm 10 - 15% trong tổng số chất hữu cơ của đất

Chất mùn là một hợp chất đặc biệt dạng cao phân tử có màu đen với cầu

trúc tương đối phức tạp, khá bền vững và tổn tại lâu dài trong mối liên kết với các phần khoáng của đất Đó là phần quan trọng nhất của hợp chất hữu cơ trong đất và chiếm tới 85 - 90% tông số chất hữu cơ Các tàn dư hữu cơ của thực vật,

vi sinh vật và động vật sống trong đất là nguồn nguyên liệu tạo mùn chủ yếu

Trang 21

Chất hữu cơ của đất là chỉ tiêu số một về độ phì và ảnh hưởng đến nhiều tính chất của đất: khả năng cung cấp chất dinh dưỡng, khả năng hấp thụ, giữ nhiệt và kích thích sinh trưởng cây trồng Chất hữu cơ đất là nguồn cung cấp chất dinh dưỡng và năng lượng chủ yếu trong hệ sinh thái đất Gần đây người

ta nhấn mạnh rằng để phát triển nông nghiệp bền vững nhất thiết phải giảm

sự mất mát chất hữu cơ đất, nhất là sử dụng đất ở vùng nhiệt đới

Nguồn gốc chất hữu cơ trong đất và trên bề mặt là xác thực vật, động vật, cơ thể vi sinh vật và xác một số động vật đất

Tàn dư sinh vật ở trong đất và trên bề mặt đất bị phân giải bởi vi sinh vật và chúng sử dụng xác sinh vật như là nguồn năng lượng và dinh dưỡng Trong quá trình phân giải, xác sinh vat mat cấu trúc, vật chất hữu cơ ban đầu chuyền thành những hợp chất linh động vả đơn giản hơn[6]

Một phần những hợp chất đó được vi sinh vật khoáng hoá hoàn toàn để

tạo ra sản phẩm cuối cùng là các chất tan và chất khí Một phần được sinh vật sử

dụng đề tái tổng hợp các protit, Hydrat cacbon, lipit xây dựng cơ thể chúng và khi chết đi lại được tiếp tục phân huỷ Đó là quá trình phân huý, khoáng hoá xác hữu cơ[6]

Chat hữu cơ có vai trò quan trọng trong sự hình thành cấu trúc và duy trì độ bền cấu trúc đất, giúp kết gắn các phần tử cơ học với nhau tạo thành các đoàn lạp có độ bền với xói mòn và các ngoại lực khác tác động vào đất; chất hữu cơ còn có vai trò rất toàn điện đối với độ phì đất, ảnh hưởng đến mọi tính chất lý hóa và sinh học của đất Trong quá trình thoái hoá đất nhiệt đới, ngoài

lý tính thay đổi mạnh mẽ thì yếu tố mùn là yếu tố hoá tính biến đổi rõ nét nhất

Sự khôi phục độ phì đất bị thoái hoá không thể không đề cập tới sự bồi hoàn chất hữu cơ trong đất Mùn được coi là chỉ tiêu quyết định độ phì nhiêu của đất [6]

Mùn là kho thức ăn cho cây và vi sinh vật Chất hữu cơ và mùn đều

chứa một lượng khá lớn các nguyên tố dinh dưỡng cho cây trồng và vi sinh

vật như: N, P, K, 5, Ca, Mg và các nguyên tố vi lượng Trong đó đặc biệt là N

Trang 22

Các nguyên tô dinh dưỡng có ở trong chất hữu cơ và mùn được giải phóng từ

từ cho cây trồng, vi sinh vật sử dụng Ngoài ra mùn còn chứa một số chất kích thích sinh trưởng làm tăng hoạt động của bộ rễ, hạt nảy mầm Mùn cung cấp chất dinh dưỡng cho cây và vi sinh vật đầy đủ và cân đối nhat[6]

Đối với lý tính của đất: Chất hữu cơ và mùn làm cải thiện thành phần co giới đất va trang thái kết cấu dat Vì vậy đất nhiều mùn thì có chế độ nước, không khí và nhiệt độ tốt phù hợp cho cây sinh trưởng và phát triển và cho năng suất cao

Đối với hoá tính đất: Chất hữu cơ và mùn tham gia vào các phản ứng hoá học của đất nâng cao tính đệm của đất Mùn ảnh hưởng đến trạng thái oxy hoá - khử của đất, ảnh hường đến dung tích hấp thu và chi phối các chỉ tiêu hoá

tính khác của đất

Đối với sinh tính đất: Mùn nâng cao số lượng, thành phần và hoạt tính của

hệ vi sinh vật đất Đất nhiều mùn số lượng và khả năng hoạt động của các

nhóm sinh vật đất được tăng cường

Theo Nguyễn Bảo Vệ, sự sinh trưởng và năng suất của cây trồng được quyết định bởi chất dinh dưỡng, nước và không khí trong đất, và điều kiện môi trường như ánh sáng và nhiệt độ Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu cho thấy chất hữu cơ trong đất có ảnh hưởng rất lớn đến cây trồng Số lượng và chất lượng

của chất hữu cơ trong đất có tương quan chặt đến năng suất cây trồng

Chất hữu cơ trong đất ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và năng suất của cây trồng thông qua các đặc tính lý, hóa, sinh của đất như: Bản thân chất hữu

Cơ cung cấp chất đạm, lân, lưu huỳnh và các chất vi lượng một cách từ từ cho cây trồng; Chất hữu cơ được xem như là một kho tích trữ dưỡng chất từ phân hóa học, giúp hạn chế việc mất phân sau khi bón, những chất dinh dưỡng được mùn hữu cơ giữ lại này sau đó được phóng thích cho cây hấp thụ khi cần thiết; Chất hữu cơ cải thiện cấu trúc của đất, làm đất có nhiều lỗ rỗng hơn

vì thế đất trở nên thông thoáng, giúp sự di chuyên của nước trong đất được dễ

Trang 23

dàng, và giữ được nhiều nước hơn; Chất hữu cơ làm tăng một số vi sinh vật

trong đất, bao gồm cả vi sinh vật có lợi

Ảnh hưởng của chất hữu cơ đến sự sinh sinh trưởng của cây trồng không phải chỉ đơn thuần bằng những cách trên mà còn có vai trò kích thích cho cây trồng phát triển Tính kích thích này là do sự hiện diện của những chất có chức năng như là những chất điều hòa sinh trưởng thực vật có trong

chất hữu cơ, có hoạt tính tuong tu nhu IAA, Gibberillin, cytokinin Hoac là

những chất ngăn cản sự phân hủy auxin như: Chất hữu cơ kích thích sự nây mầm của hạt và sự tăng trưởng của cây con; Chất hữu cơ kích thích sự tượng

rễ và sự phát triển của rễ; Chất hữu cơ còn kích thích sự phát triển của chi

1.1.3 Vai trò của vi sinh vật phân giải chất hữu cơ đối với cây trồng

1.1.3.1 Vai trò, thành phần của vi sinh vật

Trong tự nhiên vi sinh vật tồn tại ở cả ba môi trường: Đắt, nước va

không khí Cây trồng sinh trưởng và phát triển trong điều kiện tự nhiên chịu ảnh hưởng của các vi sinh vật Nói cách khác, vi sinh vật có vai trò quan trọng đối với sinh trưởng, phát triển và khả năng chống chịu của cây trồng

Vi sinh vật đất bao gồm nhiều nhóm khác nhau, có vai trò đặc biệt quan

trọng trong quá trình hình thành và phát triển của đất, khép kín các vòng tuần

hoàn vật chất trong tự nhiên

Vị sinh vật sống trong đất và trong nước tham gia tích cực vào quá

trình phân giải các xác hữu cơ biến chúng thành CO2 và các hợp chất vô cơ

khác cung cấp đinh đưỡng cho cây trồng

- Vi sinh vật có khả năng phân giải các hợp chất khó tan chứa P, K, S

và tạo ra các vòng tuần hoàn trong tự nhiên

- Tăng cường sự phân giải các hợp chất hữu cơ trong đất góp phần hình thành chất mùn trong đất đề tăng độ phì trong đất

- Vi sinh vật tham gia tích cực vào việc phân giải các phế phẩm công nghiệp, phế thải đô thị, phế thải công nghiệp cho nên có vai trò quan trọng

Trang 24

trong việc bảo vệ môi trường

Vi sinh vật có khả năng tiết ra các chất kích thích sinh trưởng, làm tăng sức sống của cây trồng, tăng khả năng chịu hạn, chịu úng và chịu nhiệt; làm tăng khả năng quang hợp của cây trồng; làm tăng khả năng hấp thụ các chất

dinh dưỡng cho cây

Vi sinh vật có khả năng tiết ra kháng sinh chống lại sâu bệnh hại

như: nấm, xạ khuẩn : một số vi sinh vật có ích có thể sống ký sinh trên cơ thể của sâu bệnh hại hoặc môi giới truyền bệnh

Vị sinh vật còn tham gia vào quá trình hình thành chất mùn Vi sinh vật tham gia tích cực vào việc phân giải các phế phẩm công nghiệp, phế thải đô thị, phế thải công nghiệp cho nên có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ môi trường

Trong đất có rất nhiều vi sinh vật Chúng được xếp vào 5 nhóm chính: nắm,

xạ khuẩn, vi khuẩn, tảo và nguyén sinh dong vat (protozoa) [5]

* Nhóm nấm: thường gặp cdc chi Penicillium, Aspergillus,

Trichoderma, Chaetomium, Alternaria, Rhizoctonia, Verticillium

* Nhóm xạ khuẩn: thường gặp là các Sírepfomyces, có nhiều loại có khả năng tiết ra kháng sinh chống lại sự phát triển các loài vi sinh vật khác

* Nhóm vi khuẩn: nhóm này rất đa dạng và giữ những vai trò quan trọng trong quá trình chuyển hóa vật chất trong đất Tùy theo vai trò của chúng có thể phân ra làm các tiêu nhóm:

- Vi khuẩn hiếu khí (aerobic bacteria): có nhiều ở những nơi đất cao

Trang 25

ammonium (CH4) nhu:Pseudomonas, Bacillus, Clostridium, Serratia,

Nitrosospira, Nitrosocystis va Nitrosogloea

+ Vi khuẩn oxi hóa nitrite (nitrite oxidizer): oxi hóa NO2 (nitrite) thành NO3 (nitrate), gom c6 2 chi Nitrobacter va Nitrocystis

- Vi khudn khir N (denitrifier): gitt vai tro khtr 6xy cua NO3 dé chuyén

thanh N2

- Vi khuẩn cố định N (nitrogen fixer): cé dinh N của khí quyén Có thể là

vi khuẩn cộng sinh như: Rhizobiưm hoặc không cộng sinh như: Nữrobacter,

Clostridium, Azospirillum

Tuy nhiên, vị sinh vật có hai loại: vi sinh vật có ích và vi sinh vat có

hại Vi sinh vật có hại là những sinh vật dị dưỡng sống ký sinh trên cây trồng, kìm hãm sự sinh trưởng và phát triển, gây bệnh cho cây trồng Như vậy, nếu trong môi trường vi sinh vật có hại chiếm ưu thế thì nó sẽ kìm hãm sinh trưởng phát triển và gây bệnh cho cây trồng và ngược lại Chính vì thế, việc cung cấp thêm một số vi sinh vật có ích cho cây trồng sẽ có tác động rất tốt đến sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng

1.1.3.2 Các chủng vì sinh vật có khả năng phân giải xelluloza

Xelluloza là thành phần chủ yếu của màng tế bào thực vật Hàng ngày, hàng giờ, một lượng lớn xelluloza được tích luỹ lại trong đất do các sản phẩm

tổng hợp của thực vật thải ra, cây cối chết đi, cành lá rụng xuống Một phần

không nhỏ do con người thải ra dưới dạng rác, giấy vụn, phôi bào, mùn cưa Nếu không có quá trình phân giải của vi sinh vật thì lượng chất hữu cơ khổng

Trang 26

lồ này sẽ tràn ngập trái đất

Xelluloza là một cơ chất không hoà tan, khó phân giải Bởi vậy vi sinh vật phân huỷ xelluloza phải có một hệ enzym gọi là hệ enzym xellulaza bao gồm 4 enzym khác nhau Enzym thứ nhất có tác dụng cắt đứt liên kết hydro, biến dạng xelluloza tự nhiên có cầu hình không gian thành dạng xelluloza vô định hình, enzym này gọi là xenlobiohydrolaza Enzym thứ hai là Endoglucanaza có khả năng cắt đứt các liên kết L1' - 1,4 bên trong phân tử tạo thành những chuỗi dài Enzym thứ 3 là Exo - gluconaza tiến hành phân giải

các chuỗi trên thành disaccarit goi 1a xellobioza [5]

* Một số chủng vi sinh vật có khả năng phân giải xelluloza

Nhóm vi khuẩn là nhóm vi sinh vật được nghiên cứu nhiều nhất từ khoảng thế kỷ 19 đến nay Các nhà khoa học đã phân lập được một số chủng vi sinh vật có khả năng phân giải xelluloza từ phân và dạ cỏ của động vật nhai lại Dau thé ky 20, người ta phân lập được các nhóm vi khuẩn hiếu khí phân giải xelluloza Trong môi trường có độ 4m cao thường làm tăng khả năng phân giải xelluloza và hemixelluloza của các nhóm vi khuẩn, nhưng chủ yếu

Trang 27

Xa khuẩn là một nhóm vi khuẩn đặc biệt, tế bào đặc trưng bởi sự phân nhánh, hệ sợi chia thành khuẩn ty cơ chất và khuẩn ty khí sinh, bào tử bắn, thường có mặt quanh năm trong các loại đất

Một số nhóm xạ khuẩn phân giải xelluloza:

pH trong khoảng từ 3,5 - 6,6 Vì vậy, chúng thường phân hủy xelluloza ở giai

đoạn cuối của bể ủ, khi nhiệt độ bề ủ lạnh đi

Một số nhóm nắm có khả năng phân giải xelluloza:

Lân có vai trò quan trọng trong quá trình trao đổi năng lượng và tổng hop chat prétéin Lan là thành phần chủ yếu của các chất ADP và ATP là những chất dự trữ năng lượng cho các quá trình sinh hóa trong cây, đặc biệt là cho quá trình quang hợp, tạo thành phần chất béo và prôtê¡n

Lân thúc đây sự phát triển của hệ rễ cây, kích thích sự hình thành nốt san ở các cây họ đậu Lân thúc đây sự ra hoa và hình thành quả ở cây, là yếu

Trang 28

tố chủ yếu quyết định chất lượng hạt giống Lân giúp cây tăng khả năng

chống chịu với các điều kiện bất thuận như rét, hạn, sâu bệnh Lân còn có tác

dụng hạn chế tác hại của việc bón thừa đạm Bón đủ lân, cây không những sinh trưởng tốt, cho năng suất cao mà chất lượng nông sản cũng cao

Thiếu lân bộ rễ cây phát triển kém, toàn cây còi cọc, thân cây có vết

tím, hạt và quả ít, chất lượng kém Ngược lại nếu thừa lân các lá non mắt màu

xanh, đầu lá đen, lá già bị nứt gay, ảnh hưởng sinh trưởng của cây

Ngoài ra bón phân lân vào đất còn cung cấp dinh dưỡng cho vi sinh vat phân hủy hữu cơ làm cho vi sinh vật hoạt động mạnh hơn nhờ vậy sẽ giúp rút ngắn thời gian phân hủy các chất hữu cơ, hạn chế được quá trình ngộ độc hữu cơ

Theo Gaur và cộng sự (1980) (Gaur A.C (1980), cho thấy việc bổ sung

các loại vi sinh vật có khả năng phân huỷ xenlulo cao cùng các nguyên tố dinh dưỡng như đạm dạng hữu cơ, lân dạng quặng photphorit và một số điều kiện môi trường khác đã giúp rút ngắn thời gian ủ phân chuồng từ 4 - 6 tháng xuống còn 2 - 4 tuần Các chủng vi sinh vật phân giải hợp chất hữu cơ được

bổ sung trong quá trình ủ đống, vai trò vi sinh vật khởi động sản xuất nhanh phân hữu cơ từ nguồn phế thải giàu xelulo là Aspergillus, Trichoderma va Penicillium Cũng từ các kết quả nghiên cứu và thực tiễn sản xuất, vào năm

1982 Gaur và cộng sự đã đề xuất kỹ thuật bô sung thêm quặng photphat với liều 5% và vi sinh vật phan giai lan (Aspergillus, Penicillium, Pseudomonas,

Bacillus) v6i mat d6 108 - 108

Theo Ha Thi Thanh Doan, Nguyén Van Toan (2013) [7], xtr ly canh 14 chè cộng 70% NPK đạt năng suất tương đương với công thức không xử lý cành

lá cộng 100% NPK, ở năm thứ nhất là 1 15,48 tạ/ha, ở năm thứ 2 là 123,04 tạ/ha

Tóm lại, ngoài vai trò là dinh dưỡng thiết yếu, phân lân còn có vai trò cải tạo đất, cung cấp dinh dưỡng cho vi sinh vật đất

Trang 29

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

1.2.1 Tình hình sử dụng phân bón cho chè trong sản xuất

Chè là cây công nghiệp lâu năm, trồng một lần có thể cho thu hoạch tới vài chục năm nếu chăm sóc, đốn, hái đúng quy trình kỹ thuật Hàng năm, quá trình thu hoạch búp đã lấy đi trong đất một lượng chất dinh dưỡng rất lớn Chính vì vậy, hàng năm cần phải bồ sung lại chất dinh dưỡng cho đất dé cung cấp cho cây

Bon phân cho cây chè phụ thuộc nhiều vào tuổi cây và năng suất thu hái hàng năm Chè có khả năng hấp thu dinh dưỡng liên tục suốt quá trình sinh trưởng và phát triển Sử dụng phân bón cho cây chè chia làm hai giai đoạn, thời kỳ kiến thiết cơ bản và thời kỳ kinh doanh

Việc sử dụng phân bón cho các loại cây trồng nói chung cũng như cho cây chè nói riêng chưa được người nông dân quan tâm đúng mức Phân vô cơ như đạm, lân, kali mà đặc biệt là đạm được sử dụng phổ biến Sử dụng phân bón cho cây chè chưa cân đối Phân hữu cơ hay phân hữu cơ vi sinh chưa được quan tâm sử dụng nhiều trong sản xuất chè

1.2.2 Lượng thân cành lá chè đốn và các biện pháp xử lý trong sản xuất Đối với những nương chè sinh trưởng bình thường và cho năng suất búp tươi trung bình 10 - 12 tắn/ha/năm thì lượng thân cành lá chè sau khi đốn hàng năm là khá lớn tương đương 10 - 15 tắn/ha Nhưng việc xử lý lượng thân cành lá này của người nông dân làm chè chưa tốt, làm lãng phí một lượng rất lớn dinh dưỡng cũng như chất hữu cơ cho cây chè

Trong búp chè non của cây chè có 4,5%N, 1,5% P20s, và 1,2 - 2,5%

K,O (Eden 1958) [34] ma hang nam chung ta hai đi 5 - 15 tấn búp tươi/ha và đốn đi một lượng thân lá đáng kể Như vậy hàng năm qua hái và đồn ta đã lay

đi từ chè một lượng lớn N, P, K và các chất khoáng khác, hơn nữa hàng năm

một lượng dinh dưỡng đáng kể trong đất bị rửa trôi, xói mòn (theo Daraseha thì lượng N bị rửa trôi thường bằng 1/3 lượng N bón vào đất) Do vậy cần bón

Trang 30

bổ sung lượng dinh dưỡng đã lấy đi từ cây chè và lượng dinh dưỡng bị rửa trôi để cây chè sinh trưởng phát triển tốt

Nghiên cứu về kỹ thuật đốn chè đã được Eden (1958) [34], Đỗ Văn

Ngọc (1991) [14], Nguyễn Văn Tạo (1995) [22], Barbora (1996) [32] thực

hiện và chỉ ra rằng đốn chè không những có ảnh hưởng đến sinh trường, phát triển của cây chè mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và chất lượng chè

Đốn hái đúng kỹ thuật, quản lý cỏ bằng biện pháp tủ gốc, trồng cây che bóng hợp lý đã làm nương chè phục hồi nhanh, có bộ khung tán to khỏe cho năng suất cao hơn những nương không được áp dụng từ 20 - 25% Mô hình quản lý cỏ bằng biện pháp tủ gốc và bón phân vi sinh qua áp dụng đã chống được cỏ dại, giữ ẩm cho đất, tăng được nguồn hữu cơ do vật liệu tự mục nát tạo cho nương chè sinh trưởng tốt, cải tạo được độ chai cứng đất cho năng suất tăng bình quân là 15% so với nương không áp dụng

Việc tận dụng cành lá chè đốn, các phụ phẩm nông nghiệp ngoài việc tăng khả năng giữ nước, dinh dưỡng của đất, chống xói mòn, rửa trôi, tăng hiệu quả kinh tế mà còn mang lại hiệu quả trong việc bảo vệ môi trường Tuy nhiên cành lá chè đốn cũng như một số phụ phẩm hữu cơ khác, khi đưa vào đất sẽ cần một thời gian nhất định dé phân hủy, tạo thành chất dinh dưỡng cung cấp cho cây trồng trong khi đó hầu như tại bất kỳ thời điểm nào cây

cũng cần chất dinh dưỡng đề sinh trưởng phát triền

Sản phâm cành lá chè đốn hàng năm có khối lượng xấp xỉ bằng khối

lượng búp và lá non đã thu hoạch Mỗi năm thu hoạch từ 5 - 10 tắn/ha búp và lá non, tương đương sẽ có 5 - 10 tan cành lá chè đốn trên 1 ha Vì thế, lượng dinh dưỡng trong đất mất đi khá nhiều Cho nên, giữ lại cành lá chè đốn có tác dụng rất lớn đối với việc cải tạo đất trồng chè vì nó là một trong những nguồn bé sung khối lượng chất hữu cơ tại chỗ cho cây chè Đồng thời nó còn giữ âm đất, kiểm soát cỏ dại từ đó tăng năng suất, chất lượng chè

Kết quả nghiên cứu của Viện nghiên cứu chè về việc sử dụng toàn bộ

Trang 31

cành lá chè đốn hàng năm, cây cỏ dại quanh đồi và trên nương chè ủ với vôi, supe lân đã cải thiện tốt chế độ mùn và năng suất chè tăng 8 - 10%

Việc vệ sinh đồng ruộng của người nông dân hiện nay chưa tốt Phần lớn lượng thân cành lá chè sau khi đốn chủ yếu được người dân thu gom hoặc là vứt ngay trên bãi chè hoặc mang về sử dụng làm củi đốt Việc làm này không những làm lãng phí một lượng rất lớn chất hữu cơ và dinh dưỡng mà cây chè tích lũy trong suốt chu kỳ sinh trưởng hàng năm mà nó còn là nguồn phát sinh

và lây lan các loại sâu bệnh hại chè

1.2.3 Nghiên cứu về sử dụng chế phẩm vi sinh phân giải chất hữu cơ

Sản phẩm phân bón vi sinh vật đầu tiên trên thế giới được sản xuất vào năm 1898 do Công ty Niragin tại Mỹ với tên gọi Nitragin chứa chủng vi khuẩn nốt sần Rhizobim Trải qua một thời gian dài, tới nay phân bón vi sinh vật đã trở thành hàng hoá và được sử dụng ở nhiều quốc gia trên thế giới Ngoài phân vi khuẩn nốt sần, các loại phân vi sinh vật khác như có định nitơ

tự do tt Azotobacter, Clostridium, tao lam cố định mtơ từ Azospirillum, phan

giải phophat khó tan từ Bacillus, Pseudomonas tăng sức đề kháng cho cây trồng tir vi sinh vat gay bénh ving ré tir Steptomyces, Bacillus cing duge

sản xuất với số lượng lớn Theo số liệu thống kê năm 1993 tại ấn Độ, cho thấy

thời gian từ 1992 - 1993, tổng lượng các dạng vi sinh vật bón trực tiếp cho cây trồng là 2.584 tấn Năm 2000, tổng số các loại vi sinh vật tại ấn Độ có khả

năng đạt 818.000 tấn (Phạm Văn Toản, 2002 ) [25]

Trong những năm gần đây việc nghiên cứu và ứng dụng các chủng vi sinh vật trong sản xuất nông nghiệp ngày càng trở nên phổ biến Những chế phẩm sinh học chứa các chủng vi sinh vật trong sản xuất nông nghiệp đang khẳng định những ưu điểm vượt trội như: Không ảnh hưởng tiêu cực đến vật nuôi, cây trồng: không gây ô nhiễm môi trường sinh thái; có tác dụng cân bằng hệ sinh thái (vi sinh vật, dinh dưỡng .) trong môi trường đất nói riêng

và môi trường nói chung: không làm hại kết cấu đất, không làm chai đất, thoái

Trang 32

hóa đất mà còn góp phần làm tăng độ phì nhiêu của đất; có tác dụng đồng hóa các chất dinh dưỡng, góp phần tăng năng suất và chất lượng nông sản; có tác dụng tiêu diệt côn trùng gây hại, hạn chế bệnh hại, tăng khả năng đề kháng bệnh của cây trồng mà không làm ảnh hưởng đến môi trường như các loại thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc hóa học khác; có khả năng phân hủy,

chuyển hóa các chất hữu cơ bền vững, các phế thải sinh học, phế thải nông

nghiệp, công nghiệp, góp phần làm sạch môi trường [29]

Chế phẩm sinh học nắm đối kháng Trichoderma ngoai tac dung san xuất phân bón hũu cơ sinh học, hay sử dụng như một loại thuốc bảo vệ thực vật thì còn có tác dụng đề xử lý ủ phân chuồng, phân gia súc, vỏ cà phê, chất thải hũu cơ như rơm, rạ, rác thải hữu cơ rất hiệu quả [29]

Chế phẩm sinh học BIMA (có chứa Trichoderma sp.) của Trung Tâm Công nghệ Sinh học TP Hồ Chí Minh, chế phẩm Vi-DK của Công ty thuốc sát trùng Việt Nam đang được nông dân TP Hồ Chí Minh và khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long, Đông Nam Bộ sử dụng rộng rãi trong việc ủ phân chuồng bón cho cây trồng Việc sử dụng chế phẩm sinh học này đã đây nhanh tốc độ ủ hoai phân chuồng từ 2 - 3 lần so với phương pháp thông thường, giảm thiêu ô nhiễm môi trường do mùi hôi thối của phân chuồng [29]

Người nông dân lại tận dụng được nguồn phân tại chỗ, vừa đáp ứng được nhu cầu ứng dụng tăng khả năng kháng bệnh cho cây trồng do tác dụng

của nắm đối kháng 7richoderma có chứa trong trong phân

Chế phẩm sinh học BIO-F của Viện Sinh học nhiêt đới là chế phẩm sinh học chứa các vi sinh vật do nhóm phân lập và tuyển chọn: xạ khuẩn Ấtreptomyces sp, nẫm mốc Trichodermna sp và vi khuẩn Bacillus sp Những vi sinh vật trên trong chế phẩm sinh học có tác dụng phân huỷ nhanh các hợp chất hữu cơ trong phân lợn, gà và bò (protein và cellulose), gây mất mùi hôi

Trước đó, chế phẩm sinh học BIO-F đã được sử dụng để sản xuất thành công

phân bón hữu cơ vi sinh từ bùn đáy ao, vỏ cà phê và xử lý rác thải sinh hoạt [29]

Trang 33

Chế phẩm sinh học giữ âm cho đất có tên là Lipomycin-M được Viện

Công nghệ Sinh học (Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam) nghiên cứu và

sản xuất thành công Thành phần chính là của Lipomycin-M là chủng nắm men Lipomyces PT7.1 cé kha nang tao mang nhay trong điều kiện đất khô hạn, giúp giảm thoát nước, duy trì độ âm cho đất trong điều kiện địa hình không có nước tưới thời gian dài, góp phần nâng cao tỷ lệ sống của cây trồng, hỗ trợ tốt cho việc phủ xanh đất trống đồi trọc Chế phâm sinh học này được xem là một giải

pháp cải tạo đất bền vững cho môi trường sinh thái [29]

Chế phẩm sinh học VINEEM 1500 EC của Công ty thuốc sát trùng Miền Nam nghiên cứu và phát triển ứng dụng phòng trừ sâu bệnh VINEEM

1500 EC được chiết xuất từ nhân hạt Neem (Azadirachta indica A Iuss) có chứa hoạt chất Azadirachrin, có hiệu lực phòng trừ nhiều lọai sâu hại trên cây trồng như lúa, rau màu, cây công nghiệp, cây ăn trái, hoa kiếng [29]

Chế phẩm vi sinh BT (Bacciluss Thuringiensis var.) do Viện khoa học nông nghiệp Việt Nam nghiên cứu và sản xuất bằng kỹ thuật công nghệ sinh

học, thuộc nhóm thuốc trừ sâu sinh học có nguồn gốc vi khuẩn, phô diệt sâu rộng và hữu hiệu đối với các loại sâu như sâu cuốn lá, sâu tơ, sâu xanh, sâu khoang, sâu ăn tạp [29]

Chế phẩm sinh học Biobac và Biosar được Khoa Nông nghiệp và Sinh

học ứng dụng (Đại học Cần Tho) nghiên cứu và phát triển có khả năng phòng

trừ 02 bệnh thường gặp trên lúa là đốm van và cháy lá [29]

Sử dụng chế phẩm vi sinh ưa nhiệt Sagi Bio sản xuất từ các chủng vi khuẩn Bacilius và xạ khuẩn S/reptomyces đã thúc đây nhanh quá trình xử lý rác thải sinh hoạt thành phân hữu cơ: rút ngắn thời gian xử lý khoảng 20 ngày, lượng mùn hữu cơ thu được tăng 30-36%; chất lượng mùn tốt hơn: tỷ lệ hữu

cơ tăng khoảng 5%, hàm lượng nitơ dễ tiêu tăng 11,2%, photpho dễ tiêu tăng 17%, axit humic tăng 40% so với không sử dụng chế phẩm Phân hữu cơ vi sinh sản xuất từ chất thải rác sinh hoạt có tác dụng làm tăng năng suất cây

Trang 34

trồng: lúa tăng từ 11-1I1,8%, bắp cải :13,4-15,9% và chè: 15,5 -I5,8%, theo

Nguyễn Kim Vũ (1995) [28]

Chế phẩm Biomix 1 bổ sung vào quá trình xử lý rác thải sinh hoạt, phế thải nông nghiệp đã rút ngắn thời gian xử lý, hạn chế quá trình sinh mùi hôi

thối, các chất hữu cơ được phân hủy triệt để hơn đã mang lại hiệu quả kinh tế

và xã hội, góp phần cải thiện môi trường, tái sử dụng được một nguồn hữu cơ

lớn để cải tạo Chế phẩm đang được đưa vảo sản xuất và ứng dụng tại một số

địa phương, theo Tăng Thị Chính, Lý Kim Bảng, Nguyễn Thị Phương Chi, Lê

Gia Hy (2003) [1]

Chế phẩm sinh học xử lý phế thải đồng ruộng làm phân hữu cơ

Microkitba (Vixura) đã được Viện Công nghệ sinh học Việt Nam nghiên cứu

thành công Chế phẩm sinh học Vixura: là chế phẩm dạng bột chứa 12-15 loại vi

sinh vật được phân lập, tuyển chọn tại Viện Công nghệ Sinh học, trong đó có

các chủng Bacilius, xạ khuẩn có khả năng sinh ra các enzyme khác nhau để phân huỷ chất hữu cơ trong rác và rơm rạ Ngoài ra, còn có một số vi sinh vật chức năng như các vi sinh vật đối kháng với một số bệnh của cây trồng, vi sinh vật cỗ định đạm, vi sinh vật phân huỷ phốt phát khó tan giúp cho cây trong dé dang hấp thụ dinh dưỡng [24]

Theo Nguyễn Thị Thu và Đỗ Thị Hồng Gam (2014), chế phẩm phân

bón vi sinh Vixura do Viện công nghệ sinh học sáng chế có tác dụng phân hủy phế thải đồng ruộng (rơm rạ, vỏ cà phê, cành chè, cành lá cây hồ tiêu sau khi đốn ) thành mùn đề từ đó ủ thành phân bón hữu cơ vi sinh [24]

Chế phẩm EM (Effective Microorganisms) được nghiên cứu và áp

dụng thực tiễn vào đầu năm 1980 sau 15 năm nghiên cứu Tại Nhật Bản Chế

phẩm đầu tiên ở dạng dung dịch, bao gồm 80 loài vi khuẩn từ 10 loại được

phân lập từ Okinawa và các vùng khác nhau của Nhật Bản Sau đó, EM được

sản xuât và sử dụng ở trên 40 nước trên thê giới

Trang 35

Tại Việt Nam, công nghệ EM được biết đến vào cuối những năm 1996

và đã được thử nghiệm tại một số địa phương Nhận thức được vai trò của

phân bón vi sinh vật từ những năm đầu của thập kỷ 80 nhà nước ta đã triển khai hàng loạt các đề tài nghiên cứu thuộc chương trình công nghệ sinh học phục vụ nông nghiệp giai đoạn 1986 -1990 và chương trình công nghệ sinh

học các năm 1991-1995, 1996-1998 (Phạm Văn Toản, 2002) [25]

Chế phẩm Emuniv được Đại học Tổng hợp nghiên cứu và ứng dụng trong chăn nuôi và xử lý môi trường từ cuối những năm 80 thế kỷ trước

Emuniv là chế phẩm chứa các vi sinh vật hữu hiệu như: Bacilus subtilis

va Bacillus licheniformis cé kha nang sinh caéc enzyme cellulase amylase, protease dé phan giải chất hữu cơ chứa cellulose tỉnh bột va protein; Lactobacillus plantarum va Lactobacillus acidophilus sinh axit

lactic va bateniocin, canh tranh sinh trưởng với các vi sinh vật có hại khác;

Streptomyces sp,sinh chất kháng sinh tự nhiên chống nấm bệnh; Saccharomyces cerevisiae, sinh efanol cung cấp nguồn cacbon cho các vi sinh vat; Bacillus megaterium , phần giải phot phat khó tan

Qua những kết quả nghiên cứu về hiệu quả sử dụng chế phẩm vi sinh vật ở Việt Nam và nước ngoài cho thấy, phân bón hữu cơ vi sinh có tác dụng tốt đến sự sinh trưởng, phát triển, năng suất cây trồng, giảm giá thành, nâng cao hiệu quả trồng trọt và cải tạo môi trường đất canh tác

1.2.4 Nghiên cứu sử dụng chất hữu cơ trong nông nghiệp

Trước công nguyên hơn 2000 năm loài người đã biết dùng phân hữu cơ bón ruộng cải tạo đất, nâng cao năng suất cây trồng Theo Phratus (372-287 trước công nguyên) phân hữu cơ đã được phân cấp chất lượng như sau: Tốt nhất là phân người (phân bắc) và sau đó lần lượt là các loại phân lợn, dê, cừu,

bò cái, bò đực và kém hơn cả là phân ngựa

Dấu ấn người Việt Nam biết sử dụng phân hữu cơ để bón ruộng được

Lê Quý Đôn (1773) viết trong cuốn Vân Đài Loại Ngữ ghi lại từ sách Tề Dâm

Trang 36

Yếu Thuật: "Phép làm tốt ruộng thì trước hãy nên trồng đậu Đậu xanh tốt hơn, thứ đến đậu nhỏ và vừng (hồ ma) Các thứ ấy đều trồng trong tháng 5 tháng 6 Đến tháng 7 tháng 8 thu hoạch xong, cày lật úp xuống, làm ruộng rồi

trồng lúa thì mùa xuân năm sau mỗi mẫu thu được vài chục tạ thóc Những

cây đậu, vừng vùi làm phân như thế bón ruộng tốt ngang với phân tằm và phân người"

Vào giữa thế kỷ 19 bèo dâu đã được dùng làm phân hữu cơ bón cho cây trồng Việc làm phân ủ (compost) đề bón ruộng ở nước ta xuất hiện từ bao giờ chưa rõ Song vào đầu thế kỷ 20 người ta đã biết dùng phân hoai để bón cho chẻ, có nghĩa là đã qua quá trình ủ

Từ năm 2003, được sự tài trợ của chính phủ Hà Lan chương trình “Khí sinh học cho ngành chăn nuôi Việt Nam” được triển khai ở 23 tỉnh, mục tiêu chính của chương trình là cải thiện vệ sinh môi trường và năng lượng cho người dân và nông thôn phát triển bền vững

Tại Việt Nam, trong khuôn khổ dự án sản xuất thử nghiệm KC 04 - DA11,

năm 2005 Bộ mon Vi sinh vat - Viện Thổ nhưỡng nông hoá đã sản xuất thử nghiệm thành công 2500kg chế phẩm Compost Maker phục vụ cho sản xuất hàng nghìn tắn phân hữu cơ sinh học từ nguồn gốc phế thải chăn nuôi

Các nhà khoa học Việt Nam đã thử nghiệm thành công phương pháp nuôi giun bằng rác thải, nhằm giải quyết nạn ô nhiễm môi trường do rác gây

ra, đồng thời cung cấp thức ăn cho gia súc Loại giun này được nhập từ Philippines, có ưu điểm là dễ nuôi, sinh sản nhanh, thích nghỉ tốt với khí hậu

Việt Nam Theo Huỳnh Thị Kim Hồi thuộc viện Sinh Thái và Tài Nguyên

sinh vật, đã nghiên cứu kinh nghiệm dân gian, kết hợp với các kiến thức khoa học hiện đại, để cho ra một quy trình sản xuất xử lý phế thải nhờ giun đất Philippines Theo tính toán, để phân huỷ một tấn rác hữu cơ trong một năm, người ta cần khoảng 1.000 con giun giống và các thế hệ con cháu của chúng

Trang 37

Theo Võ Thị Hạnh (2004), nghiên cứu xử lý nguồn phân chuồng, biến phế thải này thành phân hữu cơ vi sinh khi sử dụng Bio-F, chế phẩm chứa các

vi sinh vat nhu xa khuan Stetomyces sp , nam mốc Trichoderma sp và vì khuan Bacillus sp Nhimg vi sinh vật trên có tác dụng phân huỷ nhanh các hợp chất hữu cơ trong phân lợn, gà và bò gây mùi hôi phân lợn, gà sau khi được thải xử lý âm độ, sau đó ủ với chế phâm Bio-F Sau 3 ngày các vi sinh vật hữu ích phát triển mạnh phân giải và làm mắt mùi phân Nhiệt độ trong khối ủ tăng lên tới 60 - 70°C, tiêu diệt các vi sinh vật gây bệnh và trứng giun trong phân Sau 7 - 10 ngày, giai đoạn kết thúc và sản phẩm thu được là phân bón hữu cơ chất lượng cao, có tác dụng phòng chống nắm gây hại cây trồng

Năm 1998 - 2000 Truong Dai Hoc Nông Nghiệp I Hà Nôi đã nghiên cứu thử nghiệm và tiếp thu công nghệ vi sinh vật hữu hiệu (EM) trong nông

nghiệp và vệ sinh môi trường, xác định hỗn hợp các vi sinh vật đặc hiệu có

tác dụng tích cực trong việc giảm thiểu ô nhiễm không khí của bãi rác, rác thải sinh hoạt và ô nhiễm nước do các phế thải hữu cơ gây nên và xác định các vi sinh vật hữu hiệu có tác dụng ức chế một số vi sinh vật gây bệnh đường

ruột ở động vật Sử dụng EM hoặc sản phẩm thứ cấp từ EM (Bocashi) có thể

giảm thiểu mùi hôi của các chuồng trại chăn nuôi

1.2.5 Nghiên cứu sử dụng chất hữu cơ trong sản xuất chè

Bón phân hữu cơ cho chè ngoài việc cung cấp thức ăn cho cây, còn có

tác dụng cải thiện tính chất vật lý, hóa học, sinh vật học và chế độ nước trong

đất Nguồn phân hữu cơ gồm có phân chuồng, phân trấp, phân xanh và các nguyên liệu ép xanh (dùng cành lá sau khi đốn vùi vào giữa hai hàng chè)

Trong những năm gần đây, việc nghiên cứu sử dụng các loại phân hữu

cơ trong sản xuất chè đã được quan tâm như việc sử dụng các loại phân chuồng hoai để bón cho cây chè; sử dụng các loại cây phân xanh như cây cốt khí, cây muỗng lá nhọn, cây chó đẻ, cỏ Ghi nê để ủ thành phân bón cho

Trang 38

chè; sử dụng các loại phân hữu cơ khoáng và hữu cơ vi sinh trong sản xuất

chè an toàn, bền vững

Kết quả thí nghiệm của Christian Bruns va Christian Schuler (2000)

cũng cho thấy nếu phân hữu cơ (làm từ phân người, gia súc và cây xanh) có

bổ sung thêm Bacillus Subtilus, Lactobaccillus Rhammossus, Bacillus

Polymyxa bón cho chè thì chất hòa tan trong chè tăng từ 47,31% (chỉ bón phân hữu cơ) lên 51,01% (bón phân hữu cơ vi sinh)

Các thực nghiệm của Karthikeyan và cộng sự (2005) ở vùng Assam - Án

Độ, Vân Nam - Trung Quốc, Java - Inđonêsia khẳng định hiệu quả phối trộn giữa phân bón hữu cơ với Mycorrhiza, Trichoderma (tao phan httu co vi sinh) lam tang nang suat ché 12 - 16% so véi chi sit dụng riêng phân hữu cơ

Kết quả nghiên cứu của N.L.Bziava (1973) cho thấy trung bình 16 năm, phân chuồng làm tăng sản lượng búp 18%, phân xanh 16% và phân trấp 9%

Theo Viện nghiên cứu chè, bón 100P;0; + 30 N /ha cây cốt khí cho năng suất chất xanh cao nhất Dùng 20 tấn cành lá cây cốt khí bón cho chè sản xuất kinh doanh, so với bón 20 tấn phân chuồng năng suất chè tương đương

Trồng cỏ Ghi nê TD58 tại Phú Hộ và Phú Đa (Phú Thọ) cho thấy hình

thái lá ít biến động chiều dài từ 83,6 - 86,8 em, chiều rộng lá từ 3,28 - 3,4 em;

chiều cao cây cỏ Ghi nê TD58 1,15 m - 1,07 m, tuy nhiên tốc độ sinh trưởng

và năng suất có khác biệt do phụ thuộc vào đất trồng Ở Phú Hộ cỏ Ghinê vào

mùa mưa những tháng 6 - 7 - 8 - 9 sinh trưởng khoẻ nhất qua 6 lần cắt, năng

suất 68,8 tấn/ha, Tại Công ty Chè Phú Đa, cỏ DT 58 có tưới 1 lần/ tháng, năng suất cỏ 103,9 tấn/ ha Khi thay thế 80% đạm vô cơ bằng đạm hữu cơ

cho chất lượng chè chế biến cao nhất, điểm thử nếm cảm quan đạt 16,37

điểm, nhất là hương thơm và vị của chè được cải thiện

Bon N:P:K:Mg tỷ lệ 3:1:1:0,3 trên nền phân ủ, tăng mật độ búp, giảm

tỷ lệ búp mù xoè và năng suất chè tăng 15,93% so đối chứng Bón phân NPK

Trang 39

tỷ lệ 3:1:1 (35 N/ tấn sp), kết hợp bón Mg và thay một phần đạm vô cơ bằng đạm hữu cơ, còn có ảnh hưởng tốt đến năng suất và chất lượng chè

Theo Đỗ Văn Ngọc (2005), Viện nghiên cứu chè đã phối hợp với tổ chức Cidse nghiên cứu chè hữu cơ với quy trình tổng hợp, dùng phân hữu cơ; cây che bóng hợp lý, thuốc có nguồn gốc thực vật đã có kết quả tốt, ở Viện nghiên cứu chè dùng phương pháp quản lý tổng hợp dịch hại trên chè đã làm giảm số lần phun thuốc cho chè còn 1/3 so với sản xuất đại trà, có hiệu quả trong sản xuất Đây là hướng đi phù hợp với xu hướng nông nghiệp hữu cơ của thế giới

Theo Nguyễn Thị Ngọc Bình (2010), bón phân hữu cơ vi sinh đã nâng cao năng suất, chất lượng búp chè và nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón vô

cơ Sử dụng phân hữu cơ vi sinh sản xuất từ bã sắn có thể sử dụng thay thế một phần lượng đạm vô cơ cho các giống chè LDPI và LDP2

Trang 40

Chương 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Vật liệu nghiên cứu

- Giống chè LDPI trồng tại tỉnh Thái Nguyên, § năm tuổi (trồng năm 2008)

- Thân cành lá chè đẫn

- Phân lân supe Lâm Thao

- Chế phẩm vi sinh phân giải chất hữu cơ Vixura: Được nghiên cứu

và sản xuất tại Viên Công nghệ sinh học — Viện Hàn lâm khoa học Việt Nam

- Chế phẩm vi sinh phân giải chất hữu cơ EM: Được sản xuất và phát triển bởi Trung tâm ứng dụng và chuyển giao công nghệ - Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Thái Nguyên

- Chế phẩm vi sinh phân giải chất hữu cơ Emuniv: Được sản xuất và phát triển bởi Công ty cổ phần sinh học ứng dụng — Khoa Sinh học, trường

Đại học Khoa học tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội

2.3 Nội dung nghiên cứu

2.3.1 Nội dung nghiên cứu

- Nội dung I: Nghiên cứu ảnh hưởng của bồ sung lân, chế phẩm vi sinh trong ép xanh cành lá chè đốn đến lý tính đất và sinh vật đất

Ngày đăng: 29/06/2017, 03:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w