1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nâng cao năng lực cạnh tranh của một mặt hàng thủy sản Việt Nam trên thị trường EU từ khi Việt Nam gia nhập tổ chức Thương mại Thế giới

183 329 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 183
Dung lượng 1,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam trở thành thành viên đầy đủ của WTO vào ngày 11 tháng 1 năm 2007. Sự kiện gia nhập WTO của Việt Nam đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trên con đường hướng nền kinh tế nước nhà tới tự do hóa thương mại và phát triển bền vững. Sau 10 năm gia nhập WTO, nền kinh tế Việt Nam đã trải qua nhiều mảng màu sáng và những khoảng tối rất khác nhau trong bức tranh phát triển kinh tế dưới tác động của tiến trình toàn cầu hóa. Bài học hội nhập kinh tế là rất bổ ích với Việt Nam, vì hiện nay Việt Nam vẫn đang đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế dựa vào xuất khẩu, với những mặt hàng sử dụng nhiều lao động và tài nguyên thiên nhiên [8]. EU là một trong 3 trụ cột của nền kinh tế thế giới, là thị trường lớn với 28 quốc gia thành viên, có dân số trên 500 triệu người. Việt Nam – EU thiết lập quan hệ ngoại giao vào năm 1990. Từ đó, Việt Nam – EU luôn nỗ lực để thúc đẩy quan hệ song phương lên những tầm cao mới như việc ký kết, Hiệp định khung về Hợp tác (FCA) năm 1995, Hiệp định Hợp tác Đối tác (PCA) năm 2012 và đã kết thúc đàm phán FTA Việt Nam – EU vào ngày 1/12/2015. Dự kiến FTA Việt Nam - EU sẽ có hiệu lực từ năm 2018. FTA Việt Nam - EU nhằm mục đích tạo ra một sân chơi bình đẳng cho cả hai bên, góp phần làm cho môi trường kinh doanh ổn định và dự đoán được, do đó thúc đẩy tăng trưởng và việc làm. Một FTA hiện đại có khả năng tăng cường thương mại hai chiều và đầu tư thông qua tự do hóa thương mại và tăng cường tiếp cận thị trường tốt hơn [29]. Trong nhiều năm qua, EU luôn là đối tác thương mại lớn thứ 2 của Việt Nam và là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam. Năm 2015, EU là một trong những thị trường ngoài nước quan trọng nhất của Việt Nam (EU xếp thứ hai sau Mỹ). Tỷ trọng xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường này chiếm 19% tổng lượng xuất khẩu của Việt Nam. Thương mại hai chiều tăng 12.5% chủ yếu là do tỷ lệ tăng trưởng ấn tượng của hàng xuất khẩu Việt Nam sang EU, điều này đã làm cho tỷ lệ tăng năm sau so với năm trước là 11.4% (31,1 tỷ USD). Đặc biệt, khoản thặng dư thương mại khoảng gần 21 tỷ USD mà Việt Nam có được trong giao thương với EU giúp cân bằng đáng kể thâm hụt thương mại khổng lồ của Việt Nam với Trung Quốc. Hàng xuất khẩu của Việt Nam sang EU tập trung vào các sản phẩm sử dụng nhiều lao động bao gồm: hàng điện tử lắp ráp/điện thoại, giầy dép, hàng dệt may, cà phê, hải sản và đồ gỗ. Hàng xuất khẩu chính của EU vào Việt Nam là các sản phẩm công nghệ cao, bao gồm: nồi hơi, máy móc và sản phẩm cơ khí, máy móc và thiết bị điện, dược phẩm và các loại xe [83]. Riêng về mặt hàng thủy sản, theo Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực Liên Hợp Quốc (FAO), Việt Nam được đánh giá là một trong 20 nước có sản lượng đánh bắt thủy sản lớn nhất thế giới, đứng thứ 4 về sản lượng và kim ngạch xuất khẩu thủy sản. Ngành thủy sản Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi để trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Chiến lược phát triển ngành thủy sản Việt Nam đến 2020 xác định: kinh tế thủy sản đóng góp 30 - 35% GDP trong khối nông - lâm - ngư nghiệp, tốc độ tăng giá trị sản xuất ngành thủy sản từ 8 - 10%/năm, kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt 8 - 9 tỷ USD, tổng sản lượng thủy sản đạt 6,5 - 7 triệu tấn, trong đó nuôi trồng chiếm 65 - 70% tổng sản lượng [10]. Việt Nam đã trở thành một trong những nước xuất khẩu thủy sản hàng đầu thế giới. Theo số liệu từ ITC, giai đoạn (2007 -2015), kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam không ngừng tăng nhanh, trung bình 11,5%/năm. EU là thị trường tiêu thụ thủy sản lớn của thế giới, thị trường này tiêu thụ khoảng 10% sản lượng cá của thế giới và là thị trường xuất khẩu thủy sản lớn của Việt Nam. Tuy nhiên, đây là một thị trường khó tính đòi hỏi chất lượng cao nên thời gian gần đây việc xuất khẩu hàng thủy sản vào thị trường này có nhiều biến động. Theo Tổng cục Hải quan, kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang EU năm 2014 đạt 1,4 tỷ USD, tăng 21,7% so với năm 2013. Năm 2015, đạt 1,16 tỷ USD (đứng thứ hai sau thị trường Mỹ với 1,31 tỷ USD), giảm 17,1%. Vì vậy, để duy trì thị phần và tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường EU cần phải nhận biết thật đầy đủ để hiểu EU là một thị trường có tính bảo hộ rất cao với hàng rào phi thuế quan (đặc biệt là các rào cản kỹ thuật) rất nghiêm ngặt với những qui định chặt chẽ (nhiều khi đến mức “không tưởng” đối với hàng xuất khẩu Việt Nam) về nguồn gốc xuất xứ, vệ sinh, an toàn thực phẩm, kiểm dịch động vật, tiêu chuẩn kỹ thuật đối với thực phẩm, tiêu chuẩn an toàn cho người sử dụng, tiêu chuẩn bảo vệ môi trường v..v… Vì vậy, ngành thủy sản Việt Nam phải không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh cho mặt hàng thủy sản của mình [33]. Để tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức tại thị trường EU, yêu cầu cấp bách hiện nay là phải nâng cao sức cạnh tranh của các mặt hàng xuất khẩu sang EU, trong đó có mặt hàng thủy sản... Do vậy, việc nghiên cứu một cách tổng thể thực trạng năng lực cạnh tranh của sản phẩm thủy sản trên thị trường EU là cấp thiết. Nghiên cứu nhằm tìm ra những nhân tố có ảnh hưởng quyết định đến việc củng cố và nâng cao năng lực cạnh tranh của mặt hàng thủy sản, từ đó làm cơ sở cho việc đề ra những định hướng và các giải pháp để nâng cao năng lực cạnh của mặt hàng thủy sản trên thị trường EU. Nhận thức được vấn đề này, tác giả đã lựa chọn đề tài “Nâng cao năng lực cạnh tranh của mặt hàng thủy sản Việt Nam trên thị trường EU từ khi Việt Nam gia nhập tổ chức Thương mại Thế giới” làm chủ đề nghiên cứu cho luận án tiến sĩ của mình.

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HOÀNG HẢI BẮC

NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA MẶT HÀNG THỦY SẢN VIỆT NAM TRÊN THỊ TRƯỜNG EU TỪ KHI VIỆT NAM GIA NHẬP TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC BẢNG ix

DANH MỤC HÌNH VẼ ix

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án 4

4 Phương pháp luận và nghiên cứu của luận án 4

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án 5

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án 5

7 Kết cấu của luận án 6

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA MẶT HÀNG THỦY SẢN VIỆT NAM TRÊN THỊ TRƯỜNG EU 7

1.1 Các công trình nghiên cứu trong nước 7

1.1.1 Các công trình nghiên cứu liên quan đến cơ sở lý luận 7

1.1.2 Các công trình nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của thủy sản Việt Nam 8

1.1.3 Các công trình nghiên cứu liên quan đến xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang EU 11

1.2 Các công trình nghiên cứu ngoài nước 14

1.2.1 Các công trình nghiên cứu liên quan đến cơ sở lý luận 14

1.2.2 Các công trình nghiên cứu liên quan đến thị trường thủy sản EU 17

1.2.3 Các công trình nghiên cứu liên quan đến thủy sản Việt Nam 18

1.3 Đánh giá các nghiên cứu 20

1.3.1 Về phương pháp tiếp cận và giải quyết vấn đề 20

1.3.2 Về cơ sở lý luận 20

1.3.3 Về cơ sở thực tiễn 21

1.3.4 Nhận xét chung và những đóng góp mới của luận án 21

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA MẶT HÀNG THỦY SẢN XUẤT KHẨU 23

Trang 3

2.1 Khái niệm và tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của mặt hàng thủy sản xuất

khẩu 23

2.1.1 Khái niệm và phân loại mặt hàng thủy sản xuất khẩu 23

2.1.2 Một số khái niệm về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của mặt hàng thủy sản xuất khẩu 26

2.1.3 Các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của mặt hàng thủy sản xuất khẩu 35 2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của mặt hàng thủy sản xuất khẩu 39

2.2.1 Các nhân tố thuộc nước xuất khẩu 39

2.2.2 Các nhân tố thuộc thị trường nhập khẩu 41

2.3 Kinh nghiệm của một số quốc gia về nâng cao năng lực cạnh tranh mặt hàng thủy sản trên thị trường EU 43

2.3.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của mặt hàng thủy sản xuất khẩu sang EU 43

2.3.2 Kinh nghiệm của Ấn Độ trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của mặt hàng thủy sản xuất khẩu sang EU 45

2.3.3 Kinh nghiệm của Thái Lan trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của mặt hàng thủy sản xuất khẩu sang EU 47

2.3.4 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của mặt hàng thủy sản xuất khẩu sang EU 50

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA MẶT HÀNG THỦY SẢN VIỆT NAM TRÊN THỊ TRƯỜNG EU SAU KHI VIỆT NAM GIA NHẬP WTO 53

3.1 Khái quát việc sản xuất và xuất khẩu mặt hàng thủy sản Việt Nam giai đoạn 2007 - 2015 53

3.1.1 Khái quát về nuôi trồng, khai thác và chế biến thủy sản ở Việt Nam 53

3.1.2 Xuất khẩu thủy sản của Việt Nam 55

3.1.3 Thực trạng xuất khẩu mặt hàng thủy sản Việt Nam sang thị trường EU giai đoạn 2007 -2015 59

3.2 Năng lực cạnh tranh của mặt hàng thủy sản Việt Nam trên thị trường EU giai đoạn 2007 - 2015 63

3.2.1 Chất lượng mặt hàng thủy sản 63

3.2.2 Giá xuất khẩu của mặt hàng thủy sản 67

3.2.3 Khả năng tăng kim ngạch xuất khẩu của mặt hàng thủy sản 70

3.2.4 Thị phần xuất khẩu của mặt hàng thủy sản 73

Trang 4

3.2.5 Đánh giá chung về năng lực cạnh tranh mặt hàng thủy sản Việt Nam trên thị

trường EU 76

3.3 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của mặt hàng thủy sản Việt Nam trên thị trường EU 78

3.3.1 Các nhân tố trong nước 78

3.3.2 Các nhân tố thuộc thị trường EU 91

3.3.3 Nhận xét chung về các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của mặt hàng thủy sản Việt Nam trên thị trường EU 97

3.4 Những nguyên nhân hạn chế đến năng lực cạnh tranh của mặt hàng thủy sản Việt Nam trên thị trường EU 99

3.4.1 Những hạn chế 99

3.4.2 Nguyên nhân của những hạn chế 100

CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH MẶT HÀNG THỦY SẢN VIỆT NAM TRÊN THỊ TRƯỜNG EU TRONG THỜI GIAN TỚI 104

4.1 Căn cứ xác định hướng nâng cao năng lực cạnh tranh của mặt hàng thủy sản Việt Nam trên thị trường EU thời gian tới 104

4.1.1 Sự tác động của bối cảnh và EVFTA đến nâng cao năng lực cạnh tranh của mặt hàng thủy sản trên thị trường EU trong thời gian tới 104

4.1.2 Quan điểm và mục tiêu của chính phủ về phát triển ngành thủy sản Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030 112

4.1.3 Các quan điểm đề xuất giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của mặt hàng thủy sản Việt Nam trên thị trường EU 114

4.2 Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của mặt hàng thủy sản Việt Nam trên thị trường EU đến năm 2020, tầm nhìn 2030 117

4.2.1 Nhóm giải pháp chung 117

4.2.2 Nhóm giải pháp cho một số mặt hàng cụ thể 131

4.3 Một số khuyến nghị 142

4.3.1 Khuyến nghị đối với nhà nước 142

4.3.2 Khuyến nghị đối với các hiệp hội thủy sản 145

KẾT LUẬN 148

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 151

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 152

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

nhất CBI

Centre for the Promotion of Imports from developing countries

Trung tâm Xúc tiến Nhập khẩu từ các nước đang phát triển

Commerce in Việt Nam

Phòng Thương mại châu Âu tại Việt Nam

EVFTA EU - Việt Nam Free Trade

Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc

GAP Good Agricultural Practices Tiêu chuẩn về Thực hành nông

nghiệp tốt GLOBAL

GAP

Global Good Agricultural

Critical Control Point System

Hệ thống Phân tích mối nguy và Kiểm soát điểm tới hạn

ITC International Trade Center Trung tâm Thương mại quốc tế

Unregulated fishing

Luật chống khai thác thủy sản bất hợp pháp, không khai báo và không

Trang 6

theo quy định

MUTRAP European Trade Policy and

Investment Support Project

Dự án Hỗ trợ Chính sách thương mại và Đầu tư của châu Âu

NAFIQAD

Agro-Forestry-Fisheries Quality Assurance Department

Cục Quản lý Chất lượng Nông Lâm sản và Thủy sản

thôn OECD

Organization for Economic

Development

Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh

tế PCA

comprehensive partnership and cooperation

Hiệp định khung về Đối tác và Hợp tác toàn diện

Food and Feed

Hệ thống cảnh báo nhanh về thực phẩm và thức ăn

Aquaculture

Viện nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản

SPS Sanitary and Phytosanitary

TBT Technical Barriers to Trade

Trang 7

DANH MỤC BẢNG Bảng 2.1 Phân loại mặt hàng thủy sản xuất khẩu theo Tổ chức Hải quan thế giới 25 Bảng 2.2 Xuất khẩu thủy sản của Trung Quốc sang EU theo giá trị, theo mặt hàng,

giai đoạn 2007 -2015 44

Bảng 2.3 Xuất khẩu thủy sản của Ấn Độ sang EU theo giá trị, theo mặt hàng, giai đoạn 2007 -2015 46

Bảng 2.4 Xuất khẩu thủy sản của Thái Lan sang EU theo giá trị, theo mặt hàng, giai đoạn 2007 -2015 48

Bảng 3.1 Sản lượng thủy sản Việt Nam, giai đoạn 2007-2014 53

Bảng 3.2 Kim ngạch xuất khẩu thủy sản của một số quốc gia trên thế giới 56

Bảng 3.3 Kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam 56

Bảng 3.4 Kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam theo thị trường 58

Bảng 3.5 Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang EU theo giá trị, giai đoạn 2007 - 2015 59

Bảng 3.6 Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang EU theo sản lượng, giai đoạn 2007 – 2015 60

Bảng 3.7 Xuất khẩu tôm Việt Nam sang EU theo giá trị, giai đoạn 2007 – 2015 60

Bảng 3.8 Xuất khẩu cá ngừ của Việt Nam sang thị trường EU theo giá trị, giai đoạn 2007 – 2015 61

Bảng 3.9 Các nước thành viên EU nhập khẩu thủy sản từ Việt Nam, theo giá trị, giai đoạn 2007 - 2015 62

Bảng 3.10 Giá xuất khẩu trung bình của mặt hàng thủy sản của một số quốc gia sang EU 67

Bảng 3.11 Giá xuất khẩu mặt hàng tôm nguyên liệu đông lạnh của một số quốc gia sang EU 68

Bảng 3.12 Giá xuất khẩu mặt hàng tôm đã qua chế biến của một số quốc gia sang EU 68

Bảng 3.13 Giá xuất khẩu mặt hàng cá ngừ đã chế biến, bảo quản của một số quốc gia sang EU 69

Bảng 3.14 Giá xuất khẩu mặt hàng cá ngừ phi lê của một số quốc gia sang EU 69

Bảng 3.15 Giá xuất khẩu một số mặt hàng cá phi lê của một số quốc gia sang thị trường EU 70

Bảng 3.16 Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu thủy sản của của một số quốc gia sang EU 71

Bảng 3.17 Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang một số quốc gia thuộc EU 71

Trang 8

Bảng 3.18 Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng tôm của một số quốc gia sang EU 72 Bảng 3.19 Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu của các mặt hàng tôm Việt Nam sang EU 72 Bảng 3.20 Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng cá ngừ của một số quốc gia sang EU 73 Bảng 3.21 Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng cá tra phi lê của Việt Nam sang EU 73 Bảng 3.22 Thị phần kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang một số quốc gia thuộc EU 74 Bảng 3.23 Diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản 79 Bảng 3.24 Xuất khẩu thủy sản của EU theo giá trị, theo sản phẩm, 2007 – 2015 92 Bảng 3.25 Sản lượng các sản phẩm thủy sản của EU, 2005-2012 93 Bảng 3.26 Nhập khẩu thủy sản của EU theo giá trị, theo quốc gia xuất khẩu, giai đoạn 2007 - 2015 94 Bảng 3.27 Nhập khẩu thủy sản của EU theo giá trị, theo mặt hàng, giai đoạn 2007 -

2015 95

Trang 9

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 3.1 Cơ cấu mặt hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam năm 2015 57 Hình 3.2 Số lô thủy sản của một số quốc gia xuất khẩu sang EU bị cảnh báo 65 Hình 3.3 Số lô hàng thủy sản của Việt Nam xuất khẩu sang EU bị cảnh báo 66 Hình 3.4 Thị phần kim ngạch xuất khẩu thủy sản của một số quốc gia sang EU 74 Hình 3.5 Thị phần kim ngạch xuất khẩu tôm của một số quốc gia sang EU 75 Hình 3.6 Thị phần kim ngạch xuất khẩu cá ngừ của một số quốc gia sang EU 76

Trang 10

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam trở thành thành viên đầy đủ của WTO vào ngày 11 tháng 1 năm

2007 Sự kiện gia nhập WTO của Việt Nam đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trên con đường hướng nền kinh tế nước nhà tới tự do hóa thương mại và phát triển bền vững Sau 10 năm gia nhập WTO, nền kinh tế Việt Nam đã trải qua nhiều mảng màu sáng và những khoảng tối rất khác nhau trong bức tranh phát triển kinh tế dưới tác động của tiến trình toàn cầu hóa Bài học hội nhập kinh tế là rất bổ ích với Việt Nam, vì hiện nay Việt Nam vẫn đang đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế dựa vào xuất khẩu, với những mặt hàng sử dụng nhiều lao động và tài nguyên thiên nhiên [8]

EU là một trong 3 trụ cột của nền kinh tế thế giới, là thị trường lớn với 28 quốc gia thành viên, có dân số trên 500 triệu người Việt Nam – EU thiết lập quan

hệ ngoại giao vào năm 1990 Từ đó, Việt Nam – EU luôn nỗ lực để thúc đẩy quan

hệ song phương lên những tầm cao mới như việc ký kết, Hiệp định khung về Hợp tác (FCA) năm 1995, Hiệp định Hợp tác Đối tác (PCA) năm 2012 và đã kết thúc đàm phán FTA Việt Nam – EU vào ngày 1/12/2015 Dự kiến FTA Việt Nam - EU

sẽ có hiệu lực từ năm 2018 FTA Việt Nam - EU nhằm mục đích tạo ra một sân chơi bình đẳng cho cả hai bên, góp phần làm cho môi trường kinh doanh ổn định và

dự đoán được, do đó thúc đẩy tăng trưởng và việc làm Một FTA hiện đại có khả năng tăng cường thương mại hai chiều và đầu tư thông qua tự do hóa thương mại và tăng cường tiếp cận thị trường tốt hơn [29]

Trong nhiều năm qua, EU luôn là đối tác thương mại lớn thứ 2 của Việt Nam

và là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam Năm 2015, EU là một trong những thị trường ngoài nước quan trọng nhất của Việt Nam (EU xếp thứ hai sau Mỹ) Tỷ trọng xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường này chiếm 19% tổng lượng xuất khẩu của Việt Nam Thương mại hai chiều tăng 12.5% chủ yếu là do tỷ lệ tăng trưởng ấn tượng của hàng xuất khẩu Việt Nam sang EU, điều này đã làm cho tỷ lệ tăng năm sau so với năm trước là 11.4% (31,1 tỷ USD) Đặc biệt, khoản thặng dư

Trang 11

thương mại khoảng gần 21 tỷ USD mà Việt Nam có được trong giao thương với EU giúp cân bằng đáng kể thâm hụt thương mại khổng lồ của Việt Nam với Trung Quốc Hàng xuất khẩu của Việt Nam sang EU tập trung vào các sản phẩm sử dụng nhiều lao động bao gồm: hàng điện tử lắp ráp/điện thoại, giầy dép, hàng dệt may, cà phê, hải sản và đồ gỗ Hàng xuất khẩu chính của EU vào Việt Nam là các sản phẩm công nghệ cao, bao gồm: nồi hơi, máy móc và sản phẩm cơ khí, máy móc và thiết bị điện, dược phẩm và các loại xe [83]

Riêng về mặt hàng thủy sản, theo Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực Liên Hợp Quốc (FAO), Việt Nam được đánh giá là một trong 20 nước có sản lượng đánh bắt thủy sản lớn nhất thế giới, đứng thứ 4 về sản lượng và kim ngạch xuất khẩu thủy sản Ngành thủy sản Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi để trở thành ngành kinh tế mũi nhọn Chiến lược phát triển ngành thủy sản Việt Nam đến 2020 xác định: kinh tế thủy sản đóng góp 30 - 35% GDP trong khối nông - lâm - ngư nghiệp, tốc

độ tăng giá trị sản xuất ngành thủy sản từ 8 - 10%/năm, kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt 8 - 9 tỷ USD, tổng sản lượng thủy sản đạt 6,5 - 7 triệu tấn, trong đó nuôi trồng chiếm 65 - 70% tổng sản lượng [10] Việt Nam đã trở thành một trong những nước xuất khẩu thủy sản hàng đầu thế giới Theo số liệu từ ITC, giai đoạn (2007 -2015), kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam không ngừng tăng nhanh, trung bình 11,5%/năm

EU là thị trường tiêu thụ thủy sản lớn của thế giới, thị trường này tiêu thụ khoảng 10% sản lượng cá của thế giới và là thị trường xuất khẩu thủy sản lớn của Việt Nam Tuy nhiên, đây là một thị trường khó tính đòi hỏi chất lượng cao nên thời gian gần đây việc xuất khẩu hàng thủy sản vào thị trường này có nhiều biến động Theo Tổng cục Hải quan, kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang EU năm 2014 đạt 1,4 tỷ USD, tăng 21,7% so với năm 2013 Năm 2015, đạt 1,16

tỷ USD (đứng thứ hai sau thị trường Mỹ với 1,31 tỷ USD), giảm 17,1% Vì vậy, để duy trì thị phần và tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường EU cần phải nhận biết thật đầy đủ để hiểu EU là một thị trường có tính bảo

hộ rất cao với hàng rào phi thuế quan (đặc biệt là các rào cản kỹ thuật) rất nghiêm

Trang 12

ngặt với những qui định chặt chẽ (nhiều khi đến mức “không tưởng” đối với hàng xuất khẩu Việt Nam) về nguồn gốc xuất xứ, vệ sinh, an toàn thực phẩm, kiểm dịch động vật, tiêu chuẩn kỹ thuật đối với thực phẩm, tiêu chuẩn an toàn cho người sử dụng, tiêu chuẩn bảo vệ môi trường v v… Vì vậy, ngành thủy sản Việt Nam phải không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh cho mặt hàng thủy sản của mình [33]

Để tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức tại thị trường EU, yêu cầu cấp bách hiện nay là phải nâng cao sức cạnh tranh của các mặt hàng xuất khẩu sang EU, trong đó có mặt hàng thủy sản Do vậy, việc nghiên cứu một cách tổng thể thực trạng năng lực cạnh tranh của sản phẩm thủy sản trên thị trường EU là cấp thiết Nghiên cứu nhằm tìm ra những nhân tố có ảnh hưởng quyết định đến việc củng cố

và nâng cao năng lực cạnh tranh của mặt hàng thủy sản, từ đó làm cơ sở cho việc đề

ra những định hướng và các giải pháp để nâng cao năng lực cạnh của mặt hàng thủy sản trên thị trường EU Nhận thức được vấn đề này, tác giả đã lựa chọn đề tài

“Nâng cao năng lực cạnh tranh của mặt hàng thủy sản Việt Nam trên thị trường

EU từ khi Việt Nam gia nhập tổ chức Thương mại Thế giới” làm chủ đề nghiên

cứu cho luận án tiến sĩ của mình

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở hệ thống hóa một số vấn đề lý luận liên quan đến vấn đề năng lực cạnh tranh của mặt hàng thủy sản, đồng thời nhận diện năng lực cạnh tranh của mặt hàng thủy sản Việt Nam tại thị trường EU, luận án đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho mặt hàng thủy sản của Việt Nam trên thị trường EU

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, luận án tập trung thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu sau:

- Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến chủ đề năng lực cạnh tranh của mặt hàng thủy sản Việt Nam trên thị trường EU

- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến vấn đề năng lực cạnh tranh của mặt hàng thủy sản xuất khẩu

Trang 13

- Nhận diện năng lực cạnh tranh của mặt hàng thủy sản Việt Nam tại thị trường EU trong giai đoạn 2007 đến nay, làm rõ những thành công và hạn chế cũng như nguyên nhân

- Phân tích kinh nghiệm của một số nước trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của mặt hàng thủy sản trên thị trường EU và rút ra bài học cho Việt Nam

- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho mặt hàng thủy sản của Việt Nam trên thị trường EU

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là năng lực cạnh tranh của mặt hàng thủy sản Việt Nam trên thị trường EU

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Không gian: Nghiên cứu trong phạm vi “Việt Nam và khu vực Liên Minh

châu Âu (EU – 28)” chủ yếu tập trung vào những thị trường xuất khẩu thủy sản lớn của Việt Nam như Anh, Đức, Hà Lan, Pháp, Ý…

Thời gian: Từ thời điểm Việt Nam gia nhập WTO (năm 2007) đến nay

Nội dung: Các nội dung nghiên cứu của đề tài bao gồm: Các vấn đề lý luận,

thực tiễn về năng lực cạnh tranh sản phẩm thủy sản xuất khẩu; các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm thủy sản Việt Nam trên thị trường EU; thực trạng năng lực cạnh tranh của mặt hàng thủy sản Việt Nam tại EU; Luận án tập trung đưa ra các giải pháp kinh tế (không đề cập đến các giải pháp kỹ thuật) để nâng cao năng lực cạnh tranh của mặt hàng thủy sản xuất khẩu sang thị trường EU Việc nghiên cứu ở cấp độ mặt hàng là chủ yếu

4 Phương pháp luận và nghiên cứu của luận án

Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, luận án sử dụng các phương pháp phân tích thống kê, so sánh, đối chiếu, phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp chuyên gia

Trang 14

Dữ liệu sử dụng trong luận án là dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các nguồn: EUROSTAT, WTO, Trung tâm Thương mại quốc tế, Trung tâm Thông tin PTNNNT, Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản, Tổng cục Thống kê, Tổng cục Hải quan Tổng cục Thủy sản; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Luận

án, sách báo, tạp chí,… Ngoài dữ liệu thứ cấp, nghiên cứu còn tiến hành thu thập dữ liệu sơ cấp Nghiên cứu sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu trong thu thập dữ liệu

sơ cấp Đối tượng phỏng vấn là các nhà quản lý thuộc các doanh nghiệp thủy sản, cán bộ thuộc Tổng cục Thủy sản, các nhà nghiên cứu về lĩnh vực thủy sản,…

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

- Luận án đã giải quyết một cách trực tiếp những vấn đề lý luận về năng lực cạnh tranh của mặt hàng thủy sản xuất khẩu như khái niệm, tiêu chí đánh giá, các nhân tố ảnh hưởng

- Luận án đã luận giải thực trạng năng lực cạnh tranh của mặt hàng thủy sản Việt Nam trên thị trường EU giai đoạn 2007 – 2015, từ đó chỉ ra những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế

- Luận án đã tập trung đưa ra các quan điểm đề xuất giải pháp Các quan điểm

đó chỉ ra việc nâng cao năng lực cạnh tranh của mặt hàng thủy sản Việt Nam trên thị trường EU là một quá trình tổng thể và đòi hỏi sự kết hợp, tương tác của nhiều khâu, nhiều thành phần tham gia trong một chuỗi giá trị xuất khẩu sang thị trường EU

- Đặc biệt, luận án đã đề xuất một hệ thống giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của mặt hàng thủy sản Việt Nam trên thị trường EU, gồm nhóm giải pháp chung và nhóm giải pháp cho ba mặt hàng chủ lực, tôm, cá tra, cá ngừ Hệ thống giải pháp được đề xuất một cách toàn diện, cụ thể, khả thi theo hướng phát triển bền vững ngành thủy sản Việt Nam trong hiện tại cũng như tương lai

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

6.1 Ý nghĩa về mặt lý luận

Luận án đã trình bày một cách có hệ thống những vấn đề lý luận để làm rõ

Trang 15

bản chất về năng lực cạnh tranh sản phẩm, các quan điểm phân tích năng lực cạnh tranh sản phẩm Đồng thời chỉ rõ đặc điểm, tiêu chí đánh giá làm cơ sở đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm chung và sản phẩm thủy sản nói riêng

6.2 Ý nghĩa về mặt thực tiễn

Luận án đưa ra những bài học kinh nghiệm về nâng cao năng lực cạnh tranh mặt hàng thủy sản của các nước, đồng thời rút ra những kết quả nổi bật và những điểm yếu cần được khắc phục của sản phẩm thủy sản Việt Nam Luận án cũng đã chỉ ra cơ hội và thách thức đối với mặt thủy sản Việt Nam, điều này có ý nghĩa quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh của mặt hàng thủy sản Việt Nam trong bối cảnh mới Kết quả nghiên cứu của luận án là một tài liệu tham khảo tin cậy cho các Hiệp hội, các cơ quan quản lý nhà nước, các doanh nghiệp làm cơ sở để đưa ra các chiến lược, chính sách, kế hoạch… phù hợp để tận dụng tối đa cơ hội, khắc phục, hạn chế những thách thức do các FTA thế hệ mới mang lại cho sản phẩm thủy sản cũng như các sản phẩm khác của Việt Nam

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận

án được kết cấu thành 4 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến năng lực cạnh

tranh của mặt hàng thủy sản Việt Nam trên thị trường EU Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về nâng cao năng lực cạnh tranh của

mặt hàng thủy sản xuất khẩu Chương 3: Thực trạng năng lực cạnh tranh mặt hàng thủy sản Việt Nam trên

thị trường EU sau khi Việt Nam gia nhập WTO Chương 4: Giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh mặt hàng thủy sản

Việt Nam trên thị trường EU đến năm 2020

Trang 16

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA MẶT HÀNG THỦY SẢN VIỆT NAM

TRÊN THỊ TRƯỜNG EU

Liên quan đến cơ sở lý luận và thực tiễn về chủ đề năng lực cạnh tranh của thủy sản Việt Nam nói chung và năng lực cạnh tranh của thủy sản xuất khẩu nói riêng đã được nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm với các cách tiếp cận và mức độ khác nhau, thông qua các công trình nghiên cứu, các ấn phẩm được xuất bản Nội dung một số công trình nghiên cứu chủ yếu của các tác giả trong và ngoài nước trong những năm gần đây có thể được chia theo từng nhóm chủ đề cụ thể sau đây:

1.1 Các công trình nghiên cứu trong nước

1.1.1 Các công trình nghiên cứu liên quan đến cơ sở lý luận

Từ Thúy Anh với công trình “Giáo trình Kinh tế học Quốc tế”, đã hệ thống

hóa và phân tích tương đối toàn diện các nội dung lý luận cơ bản về kinh tế học quốc tế, từ khái niệm, đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu đến đặc điểm của thương mại quốc tế và thương mại quốc tế của Việt Nam Đặc biệt, công trình nghiên cứu đã làm rõ về thuế quan, các rào cản thuế quan và bảo hộ mậu dịch Đây là một công trình lý luận tương đối toàn diện về kinh tế quốc tế, giúp cho đối tượng người đọc trong nước có những kiến thức căn bản về cách thức tiếp cận cùng những lý luận về kinh tế quốc tế, làm cơ sở để đi sâu phân tích các vấn đề cụ thể của kinh tế quốc tế [1]

Ngô Doãn Vịnh với công trình “Các cơ sở lý luận về học thuyết ngoại thương và sự vận dụng trong chiến lược phát triển ngoại thương của Việt Nam”

Đây là công trình nghiên cứu toàn diện và công phu Kết cấu của công trình gồm 3 phần chính: Phần 1, cơ sở học thuyết về ngoại thương Trong phần này, tác giả đã phân tích các nội dung cơ bản các học thuyết ngoại thương theo các trường phái cổ điển, tân cổ điển, các học thuyết hiện đại; Phần 2, mối quan hệ của các học thuyết ngoại thương với tăng trưởng kinh tế Trong phần này, tác giả đã làm rõ mối quan

Trang 17

hệ biện chứng giữa cơ sở lý luận và thực tiễn giữa ngoại thương với tăng trưởng kinh tế, chỉ rõ ngoại thương là một trong những động lực cơ bản để cải thiện và nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế; Phần 3, sự vận dụng các học thuyết ngoại thương trong chiến lược phát triển ngoại thương Việt Nam Trong phần này, dựa trên các học thuyết đã trình bày, tác giả đã chọn lựa các học thuyết cơ bản về lợi thế

so sánh, năng lực cạnh tranh, cân bằng xuất nhập khẩu để vận dụng làm cơ sở hoạch định chiến lược phát triển ngoại thương Việt Nam trong giai đoạn cụ thể [68]

Nguyễn Đức Nam với công trình “Vận dụng lợi thế so sánh để khai thác và đẩy mạnh xuất khẩu của Việt Nam trong thời kỳ hội nhập Quốc tế” Tác giả đã dựa

trên lý thuyết lợi thế so sánh, phân tích những điểm mạnh điểm yếu, cơ hội và thách thức đối với thị trường xuất khẩu của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế Trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất các định hướng, quan điểm, giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế [43]

Nguyễn Hữu Thắng với cuốn sách chuyên khảo, “Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay”

Cuốn sách này dựa trên kết quả nghiên cứu đề tài khoa học của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Chương 1 của cuốn sách này, tác giả tập trung nghiên cứu

về lý luận chung về năng lực cạnh tranh trong kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế Tại đây, tác giả đã khái lược được tiến trình phát triển của lý thuyết cạnh tranh và khẳng định trường phái quản lý chiến lược được coi là mô hình khá mạnh nghiên cứu về năng lực cạnh tranh Trường phái này nghiên cứu và lý giải cơ sở lý thuyết

về cạnh tranh, làm rõ nguồn lực bảo đảm cho năng lực cạnh tranh Đặc biệt, tác giải

đã hệ thống hóa và phân loại các nghiên cứu năng lực cạnh tranh theo 3 loại: nghiên cứu năng lực cạnh tranh hoạt động; năng lực cạnh tranh dựa trên việc khai thác, sử dụng tài sản; năng lực cạnh tranh gắn quá trình [58]

1.1.2 Các công trình nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của thủy sản Việt Nam

Nghiên cứu “Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản Việt Nam đến năm 2020” Đây là luận án tiến sỹ do Trần Thế Hoàng thực

Trang 18

hiện được hoàn thành vào năm 2011 Luận án đã hệ thống hóa sự phát triển về lý thuyết cạnh tranh của doanh nghiệp, đã tiến hành đo lường các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh, phân tích thực trạng các điểm mạnh, điểm yếu, từ đó đề xuất các nhóm giải pháp cơ bản nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản Việt Nam đến năm 2020 Bên cạnh đó, luận án cũng nêu ra các kiến nghị đối với nhà nước và ngành thủy sản để tạo điều kiện khả thi thực hiện các giải pháp [22]

Nghiên cứu “Nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành chế biến thủy sản Việt Nam”, Đây là Luận án tiến sĩ kinh tế do Bùi Đức Tuân thực hiện được hoàn

thành năm 2011 Luận án đi phân tích, đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của ngành chế biến thủy sản Việt Nam, phân tích các yếu tố tiềm năng và lợi thế của Việt Nam trong quá trình phát triển ngành chế biến thủy sản, từ đó phát hiện những vấn đề đặt ra cho ngành chế biến thủy sản Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh

tế thế giới Luận án đã đánh giá tình trạng năng lực cạnh tranh của ngành, những yếu tố rào cản ảnh hưởng đến nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành chế biến thủy sản Việt Nam, bên cạnh một số lợi thế cạnh tranh nhất định so với các quốc gia khác trên thế giới Nghiên cứu cho những kết quả hiện tại của ngành mới chủ yếu đạt được trên cơ sở khai thác và tận dụng các lợi thế tự nhiên mà chưa được đặt trên một nền móng vững chắc của các lợi thế quốc gia khác [54]

Báo cáo nghiên cứu “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu trong ba ngành: May mặc, Thủy sản, Điện tử ở Việt Nam” của Viện Nghiên cứu

Quản lý Kinh tế Trung ương Quỹ châu Á đã đồng ý hỗ trợ Viện Nghiên cứu Quản

lý Kinh tế Trung ương thực hiện nghiên cứu Mục tiêu của nghiên cứu này là xác định các yếu tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh trong ba ngành kể trên và đề xuất khuyến nghị chính sách Báo cáo được trình bày gồm năm phần Phần thứ nhất, tổng quan hoạt động xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2001-2010 Phần thứ hai, trình bày một số chính sách ảnh hưởng trực tiếp đến các doanh nghiệp xuất khẩu Phần thứ ba, phân tích tổng quan các doanh nghiệp xuất khẩu trong ba ngành lựa chọn, gồm may mặc, thủy sản và điện tử Phần thứ tư, phân tích những yếu tố

Trang 19

ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu qua kết quả điều tra doanh nghiệp xuất khẩu Để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, nhóm tác giả sử dụng khung phân tích được phát triển từ các lý thuyết khác nhau về hành vi và kết quả xuất khẩu của doanh nghiệp Hội nghị Liên hiệp quốc về Thương mại và Phát triển - UNCTAD (2005) đã chỉ ra rằng khi tiếp cận thị trường nước ngoài, cơ sở hạ tầng, môi trường vĩ mô và chất lượng thể chế là những yếu tố chính ảnh hưởng tới kết quả xuất khẩu của doanh nghiệp

và quốc gia Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy trong cùng điều kiện kinh doanh và kinh

tế vĩ mô như nhau, kết quả xuất khẩu của doanh nghiệp cũng có thể khác nhau, ngay cả trong cùng một ngành Đó là do các yếu tố nội tại của doanh nghiệp như chiến lược kinh doanh của công ty, số năm hoạt động, quy mô, tài sản, trình độ lao động, công nghệ sử dụng, hình thức sở hữu, v.v có thể ảnh hưởng lớn tới kết quả hoạt động cũng như năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp [66]

Võ Thị Hồng Lan với nghiên cứu “Nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu thủy sản Việt Nam trong điều kiện gia nhập WTO”, đây là luận văn được hoàn

thành năm 2009 Luận văn nghiên cứu một số vấn đề về lý luận cạnh tranh, năng lực cạnh tranh của sản phẩm xuất khẩu Nghiên cứu tình hình về nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành thủy sản ở một số quốc gia, rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Luận văn tập trung nghiên cứu tình hình xuất khẩu thủy sản Việt Nam vào các thị trường trọng điểm như Mỹ, Liên minh châu Âu, Nhật Bản trên một số phương diện như giá cả, chất lượng sản phẩm, cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu, thương hiệu sản phẩm trong thời gian từ năm 2000 đến năm 2009, hướng đến năm

2020 Phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh, khái quát những điểm mạnh và yếu của hàng thủy sản xuất khẩu Việt Nam Luận văn nghiên cứu những cam kết của Việt Nam về thủy sản và thương mại quốc tế trong khuôn khổ WTO cùng những ảnh hưởng của nó đến xuất khẩu thủy sản của Việt Nam Đề xuất các giải pháp chủ yếu, từ phía nhà nước, doanh nghiệp, Hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản để góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh, đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản thời gian tới Mặc dù được thực hiện vào năm 2009 nhưng đây là một luận văn có những đánh giá và giải pháp sâu sắc [38]

Trang 20

1.1.3 Các công trình nghiên cứu liên quan đến xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang EU

Cuốn sách “Xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường Liên minh châu Âu” của nhà xuất bản Công thương – Bộ Công Thương Cuốn sách này gồm 4

chương Chương 1, Khái quát về thị trường thủy sản Liên minh châu Âu; Chương 2, thực trạng xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang Liên minh châu Âu; chương 3, thách thức và triển vọng vượt các rào cản thương mại của EU để đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường EU thời gian tới; Chương 4, các giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường Liên minh châu Âu Cuốn sách này sử dụng chủ yếu là nguồn dữ liệu thứ cấp, đó là các nguồn thông tin được công bố công khai của các tổ chức có uy tín như: Cơ quan thông kê châu Âu (EUROSTAT), Tổ chức Nông Lương Thế giới (FAO), Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) [4]

Nhìn chung, đây là một tài liệu hữu ích không những cho các doanh nghiệp xuất khẩu mà còn cung cấp các thông tin cho các nhà nghiên cứu Những thông tin

về đặc điểm thị trường EU, thực trạng xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang EU giai đoạn 2002- 2011 Cùng với việc chỉ ra những hạn chế, nguyên nhân hạn chế của thủy sản Việt Nam, cuốn sách đã đưa ra được một hệ thống giải pháp khá toàn diện, bao gồm 6 nhóm giải pháp: từ nuôi trồng đánh bắt, chế biến, thương mại cũng các hoạt động hỗ trợ khác

Trong phân tích thực trạng xuất khẩu thủy sản, cuốn sách chỉ tập trung phân tích về kim ngạch và sản lượng xuất khẩu, giải pháp cách tiếp cận chủ yếu từ góc độ chính sách Có một giải pháp về nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm thủy sản nhưng trình bày khá sơ sài, chung chung

Báo cáo nghiên cứu “Thị trường thủy sản EU và những khuynh hướng” do

Trung tâm Thông tin Phát triển nông nghiệp nông thôn, Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển nông nghiệp nông thôn, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phát hành năm 2010 Báo cáo đã thể hiện bức tranh toàn diện về thị trường tiêu dùng thủy sản EU thông qua những phân tích về các yếu tố thay đổi của thị trường

Trang 21

EU trong giai đoạn khó khăn kinh tế vừa qua cũng như những khuynh hướng chủ đạo đang chi phối thị trường tiêu thụ thủy sản lớn nhất thế giới Các số liệu trong báo cáo được thu thập từ các nguồn thông tin đã công bố công khai của các tổ chức

có uy tín như Trung tâm Xúc tiến hoạt động nhập khẩu từ các nước đang phát triển của EU (CBI)), Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực Liện Hiệp Quốc (FAO), Bộ Nông nghiệp Mỹ (FAS/USDA), Cơ quan Thống kê châu Âu (EUROSTAT) [63]

Nhìn chung, đây là một báo cáo nghiên cứu rất công phu của Việt Nam Những thông tin phân tích về đặc điểm, qui mô, các kênh phân phối, tình hình nhập khẩu thủy sản và các khuynh hướng của thị trường thủy sản EU thực sự hữu ích cho hoạt động sản xuất, xuất khẩu của doanh nghiệp muốn tiếp cận thị trường EU

Do là báo cáo nghiên cứu về thị trường thủy sản EU và những khuynh hướng nên báo cáo chỉ tập trung phân tích chủ yếu về đặc điểm và khuynh hướng của thị trường thủy sản EU Về qui mô, tình hình nhập khẩu của thị trường báo cáo có đề cập tuy nhiên cũng chưa phân tích cơ cấu, số lượng, giá trị của sản phẩm nhập khẩu, các nước thành viên nhập khẩu chính của các sản phẩm thủy sản của EU Báo cáo cũng chưa phân tích cơ cấu, số lượng, giá trị các sản phẩm thủy sản các quốc gia xuất khẩu chính vào EU Báo cáo chưa phân tích thực trạng xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang EU và đề xuất các giải pháp để thúc đẩy xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang thị trường EU

Lê Minh Tâm với cuốn sách chuyên khảo“Xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường Liên minh châu Âu trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” Cuốn sách

dựa trên kết qủa nghiên cứu của luận án tiến sĩ của tác giả tại Học viện Khoa học

Xã hội Cuốn sách được chia thành 3 chương: Chương 1, một số vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về xuất khẩu thủy sản trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam Trong chương này, tác giả đã phân tích được hội nhập kinh tế quốc tế, tác động và những vấn đề đặt ra đối với xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang EU; Chương 2, thực trạng xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường Liên minh châu

Âu Trong phần này, tác giả đã phân tích và đánh giá thực trạng xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang EU trong giai đoạn từ 2002 đến 2011 Chương 3, các giải pháp

Trang 22

nhằm đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường Liên minh châu Âu Trong phần này, tác giả đã đưa ra một hệ thống giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang thị trường EU đến năm 2020 và một số khuyến nghị với Nhà nước, Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam và đối với doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản [50]

Luận án tiến sĩ kinh tế “Hệ thống giải pháp đồng bộ đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản Việt Nam từ nay đến năm 2020” của Nguyễn Xuân Minh được hoàn thành

năm 2006 Nội dung của Luận án đã đánh giá toàn diện thực trạng xuất khẩu thủy sản Việt Nam giai đoạn 1990 đến 2006, rút ra những điểm mạnh, yếu, cơ hội và nguy cơ và từ đó đưa ra những giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu trong bối cảnh hiện tại Do luận án được thực hiện và hoàn thành năm 2006 nên các số liệu và tư liệu dùng để phân tích chủ yếu là trước năm 2006 Do cách tiếp cận và yêu cầu nội dung nên tác giả luận án có phân tích thực trạng xuất khẩu thủy sản của Việt Nam nhưng chưa phân tích về thực trạng xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang EU Các giải pháp mà tác giả luận án đề nghị để đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản chủ yếu cho ngành thủy sản Việt Nam, tuy nhiên trong những năm gần đầy nền kinh

tế Việt Nam liên tục phát triển và hội nhập với nền kinh tế thế giới, đặc biệt là sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) và chính phủ phê duyệt chiến lược phát triển ngành thủy sản giai đoạn 2010 – 2020 nên cần có các giải pháp khác để phù hợp với tình hình mới Hơn nữa, tác giả luận án cũng chưa phân tích đến thị trường và các giải pháp để đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản sang thị trường thủy sản lớn nhất của Việt Nam là EU [41]

Đề tài khoa học cấp bộ trọng điểm “Giải pháp vượt rào cản phi thuế quan để đẩy mạnh xuất khẩu bền vững hàng thủy sản của Việt Nam trong điều kiện là thành viên của WTO” do GS.TS Đỗ Đức Bình thực hiện năm 2008 Nội dung đề tài đề

cập đến một vấn đề không mới nhưng có ý nghĩa sống còn đối với các doanh nghiệp xuất khẩu mặt hàng thủy sản Việt Nam trong điều kiện là thành viên của WTO - vấn

đề đáp ứng rào cản phi thuế quan đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản bền vững Đề tài đã

đi sâu nghiên cứu về các rào cản phi thuế quan trong thương mại quốc tế, giới thiệu

Trang 23

kinh nghiệm vượt rào của một số quốc gia như: EU, Thái Lan và Trung Quốc; Phân tích tác động rào cản phi thuế quan của một số nước đối với hàng xuất khẩu của nước ta và thực trạng vượt rào cản phi thuế quan trong xuất khẩu hàng thủy sản Việt Nam thời gian qua; Dự báo các rào cản mới, đồng thời đề ra những giải pháp chiến lược vượt rào hữu hiệu nhằm thúc đẩy xuất khẩu bền vững mặt hàng thủy sản của Việt Nam và xây dựng rào cản đối với hàng thủy sản nhập khẩu vào nước ta trong thời gian tới Đây là tài liệu khảo cứu bổ ích và thiết thực cho các nhà nghiên cứu, các doanh nghiệp Tuy nhiên đề tài chỉ nghiên cứu các vấn đề về thực trạng, các giải pháp kiến nghị giúp các doanh nghiệp, cơ quan quản lý vượt qua các rào cản thương mại nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu thủy sản [2]

1.2 Các công trình nghiên cứu ngoài nước

1.2.1 Các công trình nghiên cứu liên quan đến cơ sở lý luận

Cụ thể, khi nghiên cứu về năng lực cạnh tranh, phải nói đến Michael E Porter Porter đã cung cấp một khung lý thuyết để phân tích về năng lực cạnh tranh Trong đó, ông mô hình hóa các ngành kinh doanh và cho rằng ngành kinh doanh nào cũng phải chịu tác động của năm lực lượng cạnh tranh Các nhà chiến lược đang tìm kiếm ưu thế nổi trội hơn các đối thủ có thể sử dụng mô hình này nhằm hiểu rõ hơn bối cảnh của ngành kinh doanh mình đang hoạt động

Mô hình Porter’s Five Forces được công bố lần đầu trên tạp chí Harvard Business Review năm 1979 với nội dung tìm hiểu yếu tố tạo ra lợi nhuận trong kinh doanh Mô hình này, thường được gọi là “Năm lực lượng của Porter”, được xem là công cụ hữu dụng và hiệu quả để tìm hiểu nguồn gốc lợi nhuận Quan trọng hơn cả,

mô hình này cung cấp các chiến lược cạnh tranh để công ty duy trì hay tăng lợi nhuận Các công ty thường sử dụng mô hình này để phân tích xem họ có nên gia nhập một thị trường nào đó, hoặc hoạt động trong một thị trường nào đó không Tuy nhiên, vì môi trường kinh doanh ngày nay mang tính “động”, nên mô hình này còn được áp dụng để tìm kiếm trong một ngành nhất định các khu vực cần được cải thiện để sản sinh nhiều lợi nhuận hơn Các cơ quan chính phủ, chẳng hạn như Ủy ban chống độc quyền và sáp nhập ở Anh, hay Bộ phận chống độc quyền và Bộ Tư

Trang 24

pháp ở Mỹ, cũng sử dụng mô hình này để phân tích xem liệu có công ty nào đang lợi dụng công chúng hay không [87]

Theo Michael Porter, cường độ cạnh tranh trên thị trường trong một ngành sản xuất bất kỳ chịu tác động của 5 lực lượng cạnh tranh sau: Sức mạnh nhà cung cấp; nguy cơ thay thế; các rào cản gia nhập; sức mạnh khách hàng; mức độ cạnh tranh

Tiếp đó, năm 1985, Porter xuất bản cuốn sách “Competitive Advantage: Creating and Sustaining Superior Performance” Trong cuốn sách này, Porter

nghiên cứu về lợi thế cạnh tranh và cách thức một công ty thực sự đạt được lợi thế hơn các đối thủ Ông chỉ ra rằng lợi thế cạnh tranh không chỉ nằm trong các hoạt động của mỗi công ty, nó còn nằm trong cách các hoạt động liên quan với nhau Cuốn sách này cũng cung cấp lần đầu tiên những công cụ để có chiến lược phân đoạn một ngành công nghiệp và đánh giá một cách logic, chặt chẽ tính cạnh tranh của sự đa dạng hoá [88]

Không dừng lại ở đó, năm 1990, M Porter công bố tác phẩm “Competitive Advantage of Nations” Cuốn sách này được Porter nghiên cứu tại mười quốc gia

hàng đầu về kinh tế Cuốn sách đưa ra lý thuyết đầu tiên của cạnh tranh dựa trên nguyên nhân là năng suất, nhờ đó các công ty cạnh tranh với nhau Porter cho thấy những lợi thế so sánh truyền thống như tài nguyên thiên nhiên và lao động giá rẻ đã không còn là nguồn gốc của sự thịnh vượng Cuốn sách cũng giới thiệu mô hình

"kim cương" - một cách để hiểu được vị thế cạnh tranh của một quốc gia (hoặc các địa điểm) trong cuộc cạnh tranh toàn cầu hiện nay và là một phần không thể thiếu trong tư duy kinh doanh quốc tế Trong cuốn sách này, Porter còn giới thiệu khái niệm "cụm", có thể hiểu là nhóm các công ty liên kết với nhau, các nhà cung cấp, các ngành liên quan, các tổ chức phát sinh tại các địa điểm cụ thể Khái niệm này đã trở thành một cách thức mới cho các công ty và chính phủ suy nghĩ về nền kinh tế, đánh giá lợi thế cạnh tranh về vị trí và thiết lập các chính sách công

Mô hình “Kim cương” đã nêu lên các yếu tố quyết định sự cạnh tranh của một quốc gia trong thương mại quốc tế Theo ông, khả năng cạnh tranh của một

Trang 25

quốc gia ngày nay lại phụ thuộc vào khả năng sáng tạo và sự năng động của ngành, của quốc gia đó Khi thế giới cạnh tranh mang tính chất toàn cầu hoá, nền tảng cạnh

tranh sẽ chuyển dịch từ các lợi thế tuyệt đối hay lợi thế so sánh do tự nhiên ban cho sang những lợi thế cạnh tranh quốc gia được tạo ra và duy trì vị thế cạnh tranh lâu dài của các công ty trên thương trường quốc tế [89]

Mô hình Kim cương của Porter đưa ra khuôn khổ phân tích để hiểu bản chất

và đo lường năng lực cạnh tranh của công ty Mô hình này đã lý giải những lực lượng thúc đẩy sự đổi mới và năng động của các công ty và qua đó nâng cao khả năng cạnh tranh của các công ty trên thị trường Bốn nhóm nhân tố trong mô hình viên kim cương của M.Porter phát triển trong mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau và tác động quan trọng đến việc hình thành và duy trì năng lực cạnh tranh quốc tế của các công ty trong một ngành kinh tế - kỹ thuật nào đó Sự sẵn có cả về số lượng và chất lượng các nguồn lực cần thiết cho việc phát triển một ngành có khả năng cạnh tranh; thông tin thông suốt về những cơ hội kinh doanh mà các công ty có thể tiếp cận; chiến lược của các công ty trong khai thác và sử dụng các yếu tố nguồn lực; quan điểm, triết lý kinh doanh của chủ sở hữu, quản trị viên, các nhân viên trong công ty,… đều có thể “cộng hưởng” thúc đẩy các công ty trong một ngành phải hoạt động hiệu quả hơn, nâng cao chất lượng sản phẩm, đổi mới nhanh hơn và đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng Vai trò của Nhà nước là thông qua các chính sách

vĩ mô tác động vào cả bốn “mặt” của “viên kim cương” sao cho chúng cùng phát triển tương xứng, đồng bộ và hỗ trợ lẫn nhau tạo thuận lợi cho các công ty trong nước nâng cao năng lực cạnh tranh trên thương trường quốc tế

Năm 1998, Porter cho ra đời cuốn sách “Competitive Strategy – Techniques for Analyzing Industries and Competitors” Trong cuốn sách này, tác giả đã nêu ra

cách phân tích kỹ thuật chiến lược cạnh tranh tổng quát, môi trường công nghiệp chung và chiến lược đưa ra quyết định [90]

Năm 2008, cuốn sách về năng lực cạnh tranh đáng chú ý được xuất bản là

“On Competition, Updated and Expanded Edition” cũng của tác giả Michael E

Porter Cuốn sách này được viết theo nhiều chủ đề, cho phép người đọc dễ dàng

Trang 26

truy cập đến hàng loạt các công việc của Porter Phần I và II giới thiệu việc các công ty, cũng như các quốc gia và khu vực, đạt được và duy trì lợi thế cạnh tranh như thế nào Phần III cho thấy cách suy nghĩ chiến lược có thể giải quyết những thách thức cấp bách nhất của xã hội từ môi trường bền vững Phần IV tìm hiểu làm thế nào để các công ty có thể tạo ra giá trị cho xã hội nhiều hơn Phần V khám phá những mối liên hệ giữa chiến lược và lãnh đạo [91]

Ngoài Porter, còn một số tác giả khác cũng đề cập đến năng lực cạnh tranh

Năm 1995, H Chang Moon, Alan M Rugman và Alain Verbeke viết cuốn “The generalized double diamond approach to international competitiveness” Trong

cuốn sách này, các tác giả đề cập đến cách tốt hơn để đầu tư trực tiếp nước ngoài và vai trò của chính phủ đến khả năng cạnh tranh của các công ty, công nghiệp và quốc gia [81]

Cristina Simón và Gayle Allard viết “Competitiveness and the employment relationship in Europe: Is there a global missing link in HRM?” Trong nghiên cứu

này, các tác giả đề cập đến các liên kết giữa khả năng cạnh tranh và mối quan hệ lao động (ER); phân tích năng lực cạnh tranh quốc gia của các nước châu Âu thông qua trình độ lao động ở các nước này và đưa ra kết luận cho thấy người lao động trong nước cạnh tranh được hưởng sự linh hoạt và tự chủ Một số kết luận được nêu lên về những gì công ty có thể làm từ quan điểm quản lý nhân sự để tối ưu hóa khả năng lao động, dẫn đến sản xuất nhiều hơn và cạnh tranh trong môi trường làm việc [75]

1.2.2 Các công trình nghiên cứu liên quan đến thị trường thủy sản EU

Nghiên cứu “EU Import Conditions for Seafood and Other Fishery

khỏe và người tiêu dùng thuộc Ủy ban châu Âu (European Commission’s Directoriate – General for Health & Consumers) Trong công trình này nhóm tác giả

đã phân tích những nguyên tắc cơ bản của Luật an toàn thực phẩm châu Âu, nhấn mạnh đến nguyên tắc quản lý chất lượng sản phẩm và kiểm soát quá trình chế biến sản phẩm thông qua chuỗi dây chuyền chế biến từ khâu đánh bắt cá, đến chế biến và phân phối tới tận tay người tiêu dùng Các điều luật chung trong việc nhập khẩu các

Trang 27

sản phẩm thủy sản cá tôm ở thị trường châu Âu cũng được đề cập đến Đặc biệt trong công trình này, nhóm tác giả đã đề xuất ra 8 danh mục điều kiện mà các nước xuất khẩu thủy sản tới châu Âu buộc phải thực hiện Nhóm tác giả khẳng định mong muốn của châu Âu sẵn sàng dành gói cứu trợ về kỹ thuật và đào tạo nguồn nhân lực cho các nước đang phát triển để các nước này có thể tuân thủ được những yêu cầu nhập khẩu thủy sản nghiêm ngặt của EU [72]

Nghiên cứu “EU Market Access: Conditions and Challenges for ACP Countries” của tác giả Campling L và Dugal M, xuất bản năm 2009 Trong công

trình này các tác giả phân tích những điều kiện cần thiết để tiếp cận thị trường thủy sản châu Âu, những thách thức trong việc xuất khẩu thủy sản của các nước châu Phi, Carribean và Thái Bình Dương khi tiếp cận thị trường thủy sản châu Âu Đặc biệt, ảnh hưởng của việc giảm thuế của các nước phát triển tới hoạt động xuất khẩu thủy sản của các nước trên cũng được đề cập đến trong công trình này [73]

Nghiên cứu “ Cá tra bền vững – tiềm năng thị trường tại EU” của tác giả

Carson Roper được phát hành năm 2013 Nghiên cứu phân tích xu hướng thị trường thủy sản EU và những chính sách tìm nguồn cung ứng sản phẩm thủy sản của các nhà bán lẻ hàng đầu tại EU Nghiên cứu tập trung vào sản phẩm cá tra tại 5 thị trường thủy sản lớn của EU: Đức, Hà Lan, Tây Ban Nha , Anh, Pháp Nghiên cứu

đã thu được các nhận thức sâu sắc về sản phẩm cá tra tại thị trường châu Âu, từ kết quả điều tra thảo luận về cá tra, basa với 14 nhà bán lẻ chính từ Áo, Bỉ, Pháp, Đức,

Hà Lan, Tây Ban Nha, Thụy Sĩ và Vương quốc Anh [6]

1.2.3 Các công trình nghiên cứu liên quan đến thủy sản Việt Nam

Nghiên cứu của đồng tác giả Arie Pieter van Duijn, Rik Beukers and Willem

van der Pijl, “The VietNamese seafood sector A value chain analysis”, được công

bố năm 2012 Công trình tập trung phân tích những nội dung: đặc điểm và xu hướng của ngành thủy sản Việt Nam; Nhu cầu của EU đối với thủy sản Việt Nam; Những tắc nghẽn cho xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang EU Công trình sử dụng công cụ chuỗi giá trị toàn cầu phân tích 4 phân ngành của thủy sản Việt Nam: tôm, cá tra, cá ngừ và phân ngành nghê, sò, trai [70]

Trang 28

Báo cáo “The Fisheries Sector in Việt Nam: A Strategic Economic Analysis”

do Đại sứ quán Đan Mạch ở Việt Nam trong Giai đoạn II của Chương trình Hỗ trợ ngành Thủy sản, vào đầu năm 2010 Nghiên cứu này được trình bày cho các nhà hoạch định chính sách của chính phủ Việt Nam, nhằm cung cấp một cơ sở cho việc lựa chọn đúng đắn trong việc lựa chọn và thiết kế biện pháp can thiệp của chính phủ trong ngành thủy sản của Việt Nam Nghiên cứu tập trung vào các vấn đề chính sau: Đánh giá tổng quan về ngành thủy sản Việt Nam; Nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam; Khai thác thủy sản Một điểm quan trọng là nghiên cứu này đi phân tích, đánh giá hoạt động nghề cá quy mô nhỏ và vai trò của nó với sinh kế của nông dân [76]

Nghiên cứu của nhóm tác giả Conner Bailey, Norbert Wilson và Michael

Phillips, “Governance of Global Value Chains in Response to Food Safety and Certification Standards: The Case of Shrimp from Viet Nam” được xuất bản năm

2013 Công trình sử dụng chuỗi giá trị toàn cầu (GVC) để xem xét quản trị của ngành công nghiệp nuôi tôm của Việt Nam Công trình mô tả GVC này giúp người mua định hướng với các tiêu chuẩn an toàn thực phẩm quan trọng đối với chính phủ của các nước nhập khẩu và hệ thống chứng nhận mới thúc đẩy bởi các tổ chức phi chính phủ Quan hệ quản trị rõ ràng giữa các chính phủ ở các nước nhập khẩu và Việt Nam, và giữa các nhà nhập khẩu và các tổ chức phi chính phủ Quan hệ quản trị tiếp tục bị phân nhỏ hơn xuống các chuỗi có số lượng lớn các nhà sản xuất và buôn bán nhỏ hoạt động Việc phân chia này có thể ảnh hưởng xấu đến sự xâm nhập vào các thị trường hấp dẫn nhất [74]

Nghiên cứu “ Viet Nam in post WTO” do Tổ chức Phát triển Công nghiệp

Liên Hợp Quốc (UNIDO) công bố năm 2014 Nghiên cứu này cung cấp một cái nhìn tổng quan chính xác về tình hình của các doanh nghiệp nông nghiệp ở Việt Nam sau khi thực hiện các hiệp định thương mại khác nhau và đặc biệt, việc gia nhập WTO vào năm 2007 Nghiên cứu tập trung vào cá da trơn, một sản phẩm cốt lõi của hàng xuất khẩu Việt Nam để hiểu những vấn đề cụ thể đã phát sinh liên quan đến các biện pháp SPS (Sanitary and Phytosanitary), sau khi thực hiện các hàng rào thuế quan và phi thuế quan mới [93]

Trang 29

1.3 Đánh giá các nghiên cứu

Qua phần hệ thống hóa và phân tích những nội dung đóng góp của các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước cho thấy, dưới góc độ tiếp cận khác nhau, các công trình nghiên cứu đã có những đóng góp quan trọng và làm sáng

tỏ một số vấn đề cơ bản sau đây:

1.3.1 Về phương pháp tiếp cận và giải quyết vấn đề

Thứ nhất, các công trình nghiên cứu đã bám sát các chủ đề, trên cơ sở tiếp

cận bằng phương pháp hệ thống trong cấu trúc nội dung và giải quyết các nội dung theo mục đích, yêu cầu của từng chủ đề Nhờ đó các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước đã bám sát trọng tâm, tạo hiệu ứng hiệu quả của từng công trình Đây cũng là điều kiện hết sức cần thiết đối với nghiên cứu sinh tiếp thu học tập trong thực hiện luận án

Thứ hai, hầu hết các công trình nghiên cứu dù là công trình lý luận cơ bản

hay các công trình mang ý nghĩa thực tiễn đều được tiếp cận và giải quyết bằng phương pháp logic, biện chứng trên cơ sở nêu vấn đề và giải quyết vấn đề theo quan điểm: Nêu vấn đề gì? Giải quyết như thế nào? Mục đích là gì?

Thứ ba, các vấn đề được nghiên cứu, đặc biệt các vấn đề liên quan đến khảo

sát, đánh giá thực trạng về năng lực cạnh tranh thủy sản, xuất khẩu thủy sản cũng như đánh giá năng lực xuất khẩu mặt hàng thủy sản, phần lớn các công trình đều dựa vào các nguồn tài liệu sơ cấp và thứ cấp, dựa trên các khung lý thuyết để xem xét, đối chiếu trong quá trình giải quyết vấn đề Quá trình từ khái quát đánh giá thực trạng, đưa giải pháp, các tác giả đã đưa ra được các quan điểm, định hướng và hệ thống giải pháp vừa mang tính thực tiễn vừa mang tính khả thi đễ vận dụng trong nghiên cứu cũng như trong hoạt động thực tiễn

1.3.2 Về cơ sở lý luận

Các công trình nghiên cứu liên quan đến cơ sở lý luận đã hệ thống hóa, phân tích và có những đóng góp có giá trị về mặt khoa học một số vấn đề chủ yếu sau đây: Đã làm rõ khái niệm, đặc điểm về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh Mặc dù, trong chừng mực nhất định, còn có những quan niệm khác nhau nhưng về cơ bản

Trang 30

các tác giả tương đối thống nhất khái niệm năng lực cạnh tranh “là khả năng tạo ra các sản phẩm, dịch vụ phù hợp với yêu cầu của thị trường và tạo ra cơ hội thu nhập cao hơn bền vững hơn cho chủ thể cạnh tranh” Năng lực cạnh tranh được phân chia thành các cấp: quốc gia, ngành, doanh nghiệp, sản phẩm

1.3.3 Về cơ sở thực tiễn

Các công trình nghiên cứu dưới các góc độ khác nhau đã đề cập đến thực trạng, định hướng, giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của thủy sản, năng lực cạnh tranh của mặt hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam Đây là những cơ sở quan trọng để luận án có thể tham khảo, vận dụng và rút ra những bài học kinh nghiệm nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của mặt hàng thủy sản Việt Nam trên thị trường EU đến năm 2020, tầm nhìn 2030

1.3.4 Nhận xét chung và những đóng góp mới của luận án

Quá trình tổng hợp, phân tích các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến chủ đề của luận án, tác giả nhận thấy cho đến nay vẫn chưa có một

nghiên cứu riêng biệt trong và ngoài nước về “Nâng cao năng lực của mặt hàng thủy sản Việt Nam trên thị trường EU từ khi Việt Nam gia nhập tổ WTO” Các công

trình đã công bố chưa nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống, cập nhật, chưa nghiên cứu sâu và sự phối hợp đồng bộ các giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh cho thủy sản xuất khẩu của Việt Nam, đặc biệt là năng lực cạnh tranh của mặt hàng thủy sản của Việt Nam sang thị trường EU trong điều kiện triển khai hiệp định FTA Việt Nam - EU Thêm vào đó, các công trình của các nhà khoa học đều được thực hiện những năm ở giai đoạn trước, nên trong điều kiện hội nhập kinh tế thế giới hiện nay cần phải nghiên cứu sâu hơn cho phù hợp với tình hình mới Nhằm nhận diện đầy đủ năng lực cạnh tranh của mặt hàng thủy sản Việt Nam trên thị trường EU và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của mặt hàng thủy sản Việt Nam trên thị trường này đến năm 2020, tầm nhìn 2030 dưới góc

độ kinh tế thế giới và quan hệ kinh tế quốc tế từ phía Việt Nam Đây là những vấn

đề đặt ra đối với luận án cần phải giải quyết tiếp Những vấn đề tiếp tục cần giải quyết trong luận án có thể coi đây là những đóng góp, những điểm mới của luận án

Trang 31

Tiểu kết chương 1

Chương 1 của luận án làm rõ một số nội dung cơ bản sau:

Tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước và nước ngoài liên quan đến chủ để năng lực cạnh tranh của mặt hàng thủy sản Việt Nam trên thị trường EU Các công trình tập trung vào các nội dung: Cơ sở lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh; Thủy sản Việt Nam; Năng lực cạnh tranh của mặt hàng thủy sản Việt Nam; Xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang EU; Thị trường thủy sản EU

Dưới nhiều góc độ tiếp cận khác nhau, các công trình nghiên cứu đã có những đóng góp quan trọng và làm sáng tỏ các nội dung cơ bản: Về phương pháp tiếp cận và giải quyết vấn đề; Về cơ sở lý luận; Về cơ sở thực tiễn

Cho đến nay, vẫn chưa có một nghiên cứu riêng biệt trong nước, ngoài nước

về “Nâng cao năng lực của mặt hàng thủy sản Việt Nam trên thị trường EU từ khi Việt Nam gia nhập tổ WTO”, đặc biệt là trong điều kiện triển khai hiệp định FTA

Việt Nam - EU

Trang 32

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC CẠNH

TRANH CỦA MẶT HÀNG THỦY SẢN XUẤT KHẨU

2.1 Khái niệm và tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của mặt hàng thủy sản xuất khẩu

2.1.1 Khái niệm và phân loại mặt hàng thủy sản xuất khẩu

2.1.1.1 Khái niệm và phân loại thủy sản

Khái niệm thủy sản: Có nhiều khái niệm khác nhau về thủy sản Theo Từ

điển Tiếng Việt của Nhà xuất bản Thanh niên, thủy sản là thứ sản vật có giá trị kinh

tế khai thác được từ dưới nước như cá, tôm, hải sâm, rau câu Theo như vi.wikipedia.org thủy sản là một thuật ngữ chỉ chung về những nguồn lợi, sản vật đem lại cho con người từ môi trường nước và được con người khai thác, nuôi trồng thu hoạch sử dụng làm thực phẩm, nguyên liệu hoặc bày bán trên thị trường Trong Luật Thủy sản quy định, “Nguồn lợi thủy sản là tài nguyên sinh vật trong vùng nước tự nhiên, có giá trị kinh tế, khoa học để phát triển nghề khai thác thủy sản, bảo tồn và phát triển nguồn lợi thủy sản” Mặc dù có sự khác nhau về cách thức giải thích, nhưng có thể hiểu thủy sản là những thứ có giá trị kinh tế và được khai thác, nuôi trồng và thu hoạch từ dưới nước như cá, tôm, hải sâm…[34], [40], [47]

Phân loại thủy sản: Thủy sản có thể được phân loại theo nhiều cách khác

nhau, theo những tiêu chí khác nhau như:

Phân loại thủy sản dựa theo đặc điểm cấu tạo loài, môi trường sống và khí hậu, ta có: (i) Nhóm cá là những động vật nuôi có đặc điểm cá rõ rệt, chúng có thể

là cá nước ngọt hay cá nước lợ; (ii) nhóm giáp xác, phổ biến nhất là nhóm giáp xác mười chân, trong đó tôm và cua là các đối tượng nuôi quan trọng (iii) nhóm động vật thân mềm gồm các loài có vỏ vôi, nhiều nhất là nhóm hai mảnh vỏ và đa số sống ở biển (nghêu, sò huyết, hàu, ốc hương, ) và một số ít sống ở nước ngọt (trai, trai ngọc); (iv) nhóm rong (Seaweeds) là các loài thực vật bậc thấp, đơn bào, đa bào, có loài có kích thước nhỏ, nhưng cũng có loài có kích thước lớn như Chlorella, Spirulina, Chaetoceros, Sargassium (Alginate), Gracillaria… (v) nhóm bò sát

Trang 33

(Reptilies) và lưỡng cư (Amphibians): bò sát là các động vật bốn chân có màng ối(ví dụ: cá sấu) lưỡng cư là những loài có thể sống cả trên cạn lẫn dưới nước (ví dụ: ếch, rắn…) được nuôi để lấy thịt, lấy da dùng làm thực phẩm hoặc dùng trong

mỹ nghệ như đồi mồi (lấy vây), ếch (lấy da và thịt), cá sấu (lấy da)

Phân loại theo môi trường nước ta có: Thủy sản nước ngọt, thủy sản nước lợ, thủy sản nước mặn hay hải sản

Phân loại theo nguồn gốc ta có thủy sản tự nhiên, thủy sản nuôi trồng

2.1.1.2 Mặt hàng thủy sản xuất khẩu

Mặt hàng thủy sản: Mặt hàng thủy sản hay sản phẩm thủy sản là sản phẩm

của các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh hàng thủy sản, sản phẩm thủy sản được hình thành nên từ các nguyên liệu thủy sản khác nhau như cá, tôm, của, mực, trai, ốc

Mặt hàng thủy sản xuất khẩu: Hàng thủy sản được sản xuất ra không bán

cho thị trường nội địa mà phục vụ nhu cầu của thị trường nước ngoài được gọi là hàng thủy sản xuất khẩu, hoặc hàng thủy sản của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được sản xuất trong các khu chế xuất bán tại thị trường trong nước cũng được gọi là hàng thủy sản xuất khẩu Tuy nhiên, đề tài này chỉ tập trung xem xét hàng thủy sản được sản xuất trong nước và xuất khẩu ra thị trường nước ngoài

Phân loại thủy sản xuất khẩu: Mặt hàng thủy sản xuất khẩu cũng được phân

loại theo nhiều cách: Phân loại thủy sản dựa theo đặc điểm cấu tạo loài, môi trường sống và khí hậu, theo môi trường nước ta có, theo nguồn gốc, theo mức độ chế biến: thủy sản nguyên liệu; thủy sản sơ chế; thủy sản chế biến; thủy sản ăn trực tiếp Hay theo cách phân loại của Tổ chức Hải quan thế giới, thường được gọi tắt là Hệ thống hài hòa hoặc Hệ thống HS, là hệ thống được tiêu chuẩn hóa quốc tế về tên gọi

và mã số Trong luận án này, tác giả chủ yếu sử dụng các cách phân loại sau: Theo

hệ thống HS; Theo đặc điểm cấu tạo loài như tôm, cá tra, cá ngừ và kết hợp của nhiều cách như tôm nguyên liệu, tôm chế biến, cá tra phi lê, cá ngừ phi lê, cá ngừ đóng hộp

Trang 34

Bảng 2.1 Phân loại mặt hàng thủy sản xuất khẩu theo Tổ chức Hải quan thế

giới

0301 Cá sống

0302 Cá, tươi hoặc ướp lạnh, trừ phi-lê cá (fillets) và các loại thịt cá khác thuộc nhóm 03.04

0303 Cá, đông lạnh, trừ phi-lê cá (fillets) và các loại thịt khác thuộc nhóm 03.04

0304 Phi-lê cá và các loại thịt cá khác (đã hoặc chưa xay, nghiền, băm), tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh

0305

Cá, làm khô, muối hoặc ngâm nước muối; cá hun khói, đã hoặc chưa làm chín trước hoặc trong quá trình hun khói; bột mịn, bột thô và bột viên làm từ cá, thích hợp dùng làm thức ăn cho người

0306

Động vật giáp xác, đã hoặc chưa bóc mai, vỏ, sống, tươi, ướp lạnh, đông lạnh, làm khô, muối hoặc ngâm nước muối; động vật giáp xác hun khói, đã hoặc chưa bóc mai, vỏ, đã hoặc chưa làm chín trước hoặc trong quá trình hun khói; động vật giáp xác chưa bóc mai, vỏ, đã hấp chín hoặc luộc chín trong nước, đã hoặc chưa ướp lạnh, đông lạnh, làm khô, muối, hoặc ngâm nước muối; bột thô, bột mịn và bột viên của động vật giáp xác, thích hợp dùng làm thức ăn cho người

0307

Động vật thân mềm, đã hoặc chưa bóc mai, vỏ, sống, tươi, ướp lạnh, đông lạnh, làm khô, muối hoặc ngâm nước muối; động vật thân mềm hun khói, đã hoặc chưa bóc mai, vỏ, đã hoặc chưa làm chín trước hoặc trong quá trình hun khói; bột mịn, bột thô và bột viên của động vật thân mềm, thích hợp dùng làm thức ăn cho người

0308

Động vật thủy sinh không xương sống trừ động vật giáp xác và động vật thân mềm, sống, tươi, ướp lạnh, đông lạnh, làm khô, muối hoặc ngâm nước muối; động vật thủy sinh không xương sống hun khói trừ động vật giáp xác và động vật thân mềm, đã hoặc chưa làm chín trước hoặc trong quá trình hun khói; bột mịn, bột thô và bột viên của động vật thủy sinh trừ động vật giáp xác và động vật thân mềm, thích hợp dùng làm thức ăn cho người

1504 Mỡ và dầu và các phần phân đoạn của chúng, từ cá hoặc các loài động vật có vú sống ở biển, đã hoặc chưa tinh chế nhưng không thay đổi về mặt hoá học

1604 Cá đã được chế biến hay bảo quản; trứng cá tầm muối và sản phẩm thay thế trứng cá tầm muối chế biến từ trứng cá

1605 Động vật giáp xác, động vật thân mềm và động vật thủy sinh không xương sống khác, đã được chế biến hoặc bảo quản

Nguồn: Tổng cục Hải quan

Trang 35

2.1.1.3 Đặc điểm của mặt hàng thủy sản xuất khẩu

Đối tượng sản xuất của mặt hàng thủy sản xuất khẩu là sinh vật nên phải tuân theo các quy luật sinh học và quy luật tự nhiên làm cho chúng có tính biến động và rủi ro cao Mặt hàng thủy sản xuất khẩu chịu tác động và ảnh hưởng lớn của các điều kiện tự nhiên, đặc biệt là các điều kiện về đất đai, khí hậu, thời tiết Chúng rất nhạy cảm với các yếu tố ngoại cảnh Mọi sự thay đổi về điều kiện tự nhiên đều tác động trực tiếp đến sự sinh trưởng và phát triển của thủy sản Nếu điều kiện tự nhiên thuận lợi thủy sản sẽ sinh trưởng và phát triển bình thường, cho sản lượng cao, chất lượng tốt Ngược lại, nếu điều kiện tự nhiên không thuận lợi như: nắng nóng hoặc giá rét kéo dài gây hạn hán hoặc bão lụt… sẽ gây sụt giảm sản lượng và chất lượng mặt hàng thủy sản

Sản phẩm thủy sản xuất khẩu có đặc trưng tiêu biểu là dễ hư hỏng và thay đổi chất lượng, phẩm cấp sản phẩm khi chuyển dịch trên chuỗi cung ứng, nên mỗi sản phẩm khác nhau yêu cầu cách thức bảo quản khác nhau Mặt hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam hiện nay chủ yếu là hàng thô, sơ chế và bảo quản chủ yếu là đông lạnh nên chất lượng suy giảm rất nhiều trong quá trình xuất khẩu

Chất lượng của mặt hàng thủy sản xuất khẩu tác động trực tiếp đến sức khỏe của người tiêu dùng Chính vì vậy, chất lượng mặt hàng thủy sản xuất khẩu luôn là yếu tố đầu tiên được người tiêu dùng quan tâm Tại các quốc gia phát triển nơi nhập khẩu mặt hàng thủy sản, ngày càng có nhiều yêu cầu được đặt ra đối với hàng thủy sản nhập khẩu về tiêu chuẩn chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm, kiểm dịch, xuất xứ… Vì vậy, để xâm nhập vào các thị trường khó tính này buộc doanh nghiệp phải đáp ứng được những yêu cầu mà họ đặt ra

2.1.2 Một số khái niệm về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của mặt hàng thủy sản xuất khẩu

2.1.2.1 Cạnh tranh

Có nhiều quan niệm khác nhau về cạnh tranh Trước đây, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật điều kiện thuận lợi trong sản xuất và kinh doanh các mặt hàng để

Trang 36

thu lợi nhuận siêu ngạch Trong thời kỳ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất dưới chế độ phong kiến và tiền tư bản, cạnh tranh được xem là các hoạt động chèn ép nhau, loại trừ nhau, dùng mọi mưu kế, quyền thế nhằm tạo sự độc tôn trên thị trường Ngày nay, quan niệm về cạnh tranh có nhiều thay đổi Nhiều quốc gia cho rằng, mặt hàng hay sản phẩm cạnh tranh tốt trên thị trường như là một động lực thúc đẩy phát triển kinh tế, nâng cao mức sống và tăng phúc lợi cho người dân, các doanh nghiệp tạo ra nhiều mặt hàng chất lượng cao, thoả mãn nhu cầu ngày càng cao của khách hàng sẽ phát triển Các quốc gia và doanh nghiệp đều cố gắng huy động và sử dụng hợp lý các nguồn lực sản xuất, bảo vệ môi trường, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh Cạnh tranh là cơ chế lựa chọn mang tính tự nhiên và thúc đẩy các quốc gia, doanh nghiệp phát triển Hiện nay, quan niệm về cạnh tranh rất đa dạng với những mục tiêu mang tới lợi ích cho xã hội

và lợi ích của doanh nghiệp, quốc gia [7], [67]

Trong cuốn Từ điển Bách khoa Việt Nam năm 1995, Hội đồng quốc gia biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam đã định nghĩa cạnh tranh là '' Hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối bởi quan hệ cung - cầu, nhằm giành được các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất'' Theo quan niệm này, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, quốc gia trở nên bình đẳng hơn Hàng hóa trên thị trường bị tác động bởi quan hệ cung cầu Khi có cầu trên thị trường sẽ có cung, nghĩa là xuất hiện các doanh nghiệp, quốc gia đưa hàng hóa ra bán, nhưng số khách hàng mua có hạn trong khi nhiều doanh nghiệp, quốc gia bán hàng hóa Cung lớn hơn cầu dẫn đến cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, quốc gia nhằm thu hút khách hàng và giành thị trường tiêu thụ Đây là yếu tố khách quan trong nền kinh tế thị trường, buộc các doanh nghiệp, quốc gia tìm ra những biện pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh cho sản phẩm của mình [61]

Trong cuốn Đại Từ điển Tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên năm 1998 cho rằng ''Cạnh tranh là tranh đua giữa cá nhân, tập thể có chức năng như nhau, nhằm giành phần hơn, phần thắng về mình'' Theo Từ điển Tiếng Việt của Nhà xuất

Trang 37

bản Thanh niên, cạnh tranh là “cố gắng giành phần hơn, phần thắng về mình giữa những người, tổ chức hoạt động nhằm những lợi ích như nhau” Điều này thể hiện với mọi hoạt động khác nhau, những cá nhân hoặc tập thể với những chức năng như nhau cùng hoạt động trong một vị trí nào đó đều có sự tranh đua để làm việc tốt hơn, mang lại chất lượng cuộc sống cho mỗi cá nhân và tập thể tốt hơn Sự tranh đua ở đây, được hiểu theo nghĩa không nhằm mục đích triệt tiêu nhau, để kẻ thắng người bại, tranh đua nhằm giúp các cá nhân, tập thể đưa ra cách thức thoả mãn nhu cầu khách hàng tốt hơn Trong kinh doanh, những cá nhân, tổ chức như doanh nghiệp hay quốc gia cùng đưa ra thị trường hàng hóa phục vụ một nhóm khách hàng nhất định sẽ có sự tranh đua để giành phần thắng Sự tranh đua này chính là cạnh tranh và những yếu tố thể hiện phần thắng giữa các cá nhân, tập thể thể hiện bằng nhiều tiêu chí khác nhau, nó phụ thuộc vào mục tiêu cá nhân hoặc tập thể đó hướng tới như doanh thu cao, chi phí thấp, thị phần lớn, thương hiệu nổi tiếng, đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế về chất lượng, môi trường, trách nhiệm xã hội [40], [69]

Từ các quan niệm trên, có thể hiểu khái niệm về cạnh tranh như sau: cạnh tranh kinh tế là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế (nhà sản xuất, nhà phân phối, bán

lẻ, người tiêu dùng, thương nhân…) nhằm giành lấy những vị thế tạo nên lợi thế tương đối trong sản xuất, tiêu thụ hay tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ hay các lợi ích về kinh tế, thương mại khác để thu được nhiều lợi ích nhất cho mình

2.1.2.2 Năng lực cạnh tranh

Khái niệm năng lực cạnh tranh ngày càng được nhiều người quan tâm, từ nhà nghiên cứu, chính trị gia, nhà quản lý chính quyền đến giới doanh nhân Tuy nhiên, cho đến nay khái niệm này vẫn chưa được quan niệm và sử dụng một cách thống nhất Qua nghiên cứu các nguồn tài liệu khác nhau, năng lực cạnh tranh có thể được định nghĩa như sau: (i) Theo Bạch Thụ Cường, tác giả cuồn sách Bàn về cạnh tranh toàn cầu lại quan niệm năng lực cạnh tranh là “năng lực của một doanh nghiệp hoặc một ngành, một quốc gia không bị doanh nghiệp khác, ngành khác, quốc gia khác đánh bại về năng lực kinh tế”; (ii) theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), “năng lực cạnh tranh” được định nghĩa là sức sản xuất ra

Trang 38

thu nhập tương đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu tố sản xuất có hiệu quả làm cho doanh nghiệp, các ngành, các địa phương, các quốc gia và khu vực phát triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh quốc tế; (iii) Diễn đàn Kinh tế thế giới lại quan niệm “năng lực cạnh tranh là khả năng của một đất nước trong việc đạt được tỷ lệ tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người cao và bền vững”; (iv) theo Chủ tịch Hội đồng Năng lực cạnh tranh của Mỹ: “năng lực cạnh tranh là khả năng của một quốc gia, trong điều kiện thị trường tự do và lành mạnh, tạo ra các sản phẩm và dịch vụ phù hợp với yêu cầu của thị trường quốc tế”; (v) theo Nhóm tư vấn về Năng lực cạnh tranh: “Năng lực cạnh tranh liên quan đến các yếu tố năng suất, hiệu suất và khả năng sinh lợi Năng lực cạnh tranh là một phương tiện nhằm tăng các tiêu chuẩn cuộc sống và phúc lợi xã hội Xét trên bình diện toàn cầu, nhờ tăng năng suất, hiệu suất trong bối cảnh phân công lao động quốc tế, năng lực cạnh tranh tạo nền tảng cho việc tăng thu nhập thực tế của người dân” [7], [93], [95]

Có thể kết luận, quan niệm về năng lực cạnh tranh hiện được hiểu rất rộng theo nhiều nghĩa, và chưa có được một khái niệm thống nhất và thực sự rõ ràng Từ các quan niệm trên, có thể hiểu khái niệm về năng lực cạnh tranh như sau: “Năng lực cạnh tranh là khả năng khai thác các nguồn lực, lợi thế nhằm tạo ra các sản phẩm, dịch vụ phù hợp với yêu cầu của thị trường và tạo ra cơ hội thu nhập cao hơn và bền vững cho chủ thể cạnh tranh”

2.1.2.3 Các cấp năng lực cạnh tranh

Cạnh tranh được nghiên cứu dưới các cấp độ khác nhau như cạnh tranh ở cấp quốc gia, cạnh tranh ở cấp ngành, doanh nghiệp và cạnh tranh ở cấp độ sản phẩm

Năng lực cạnh tranh quốc gia: (i) Theo Uỷ ban Cạnh tranh công nghiệp của

Hoa Kỳ, ''năng lực cạnh tranh đối với một quốc gia là mức độ mà ở đó, dưới các điều kiện thị trường công bằng và tự do, có thể sản xuất ra các hàng hoá và dịch vụ đáp ứng được các đòi hỏi của thị trường quốc tế, đồng thời duy trì và mở rộng được thu nhập thực tế của nhân dân nước đó'' (ii) Theo Báo cáo về Cạnh tranh toàn cầu của Diễn đàn Kinh tế thế giới đưa ra định nghĩa năng lực cạnh tranh của một quốc gia là ''khả năng của nước đó đạt được những thành quả nhanh và bền vững về mức

Trang 39

sống, nghĩa là đạt được các tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao được xác định bằng thay đổi của tổng sản phẩm quốc nội trên đầu người theo thời gian''; (iii) nổi tiếng nhất là những đóng góp của Michael E Porter, nhà kinh tế Hoa Kỳ Ông cho rằng cạnh tranh của một quốc gia thể hiện một cách có ý nghĩa nhất ở năng suất lao động Lý thuyết của Porter đề cao vai trò của doanh nghiệp trong cạnh tranh quốc gia Một quốc gia cạnh tranh cao về hàng hóa khi các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh trong quốc gia đó có sức mạnh cạnh tranh và sức mạnh đó là năng suất lao động cao hơn, là chất lượng sản phẩm cao hơn Theo M Porter, những yếu tố như cơ sở hạ tầng, người lao động lành nghề, thông tin, sức ép cạnh tranh, luật pháp, công nghệ

có vai trò rất lớn tạo ra môi trường cạnh tranh, chính môi trường cạnh tranh này làm tăng năng suất lao động của các doanh nghiệp, tổng hợp năng suất lao động các doanh nghiệp tạo thành năng suất lao động quốc gia đối với hàng hàng hóa [57], [89]

Hằng năm, cấp độ cạnh tranh giữa các quốc gia được các tổ chức quốc tế đánh giá, so sánh và xếp hạng như OECD, Học viện IMD ở Thụy Sĩ, WEF Cấp độ cạnh tranh quốc gia là căn cứ để các nhà đầu tư nước ngoài lựa chọn địa điểm đầu

tư Vì thế, cấp độ cạnh tranh quốc gia có vai trò rất quan trọng đối với thu hút đầu

tư của quốc gia đó [89]

Từ các quan niệm trên, có thể hiểu khái niệm về năng lực cạnh tranh quốc gia như sau: năng lực cạnh tranh quốc gia là năng lực vận hành nền kinh tế có hiệu quả, với chi phí hợp lý nhất mang lại kết quả thịnh vượng và bền vững tối đa nhất

Cạnh tranh ở cấp ngành và doanh nghiệp: (i) Theo quan niệm về năng lực

cạnh tranh dựa trên yếu tố năng suất bình quân toàn ngành, một ngành công nghiệp được coi là có năng lực cạnh tranh khi mức độ yếu tố năng suất bình quân toàn ngành bằng hoặc cao hơn mức đó của các đối thủ cạnh tranh Đây là cách tiếp cận mang tính chiến lược để cải thiện năng suất của ngành Năng suất toàn bộ nhấn mạnh tới hiệu quả của ngành trong việc sử dụng yếu tố đầu vào của vốn và lao động tạo ra năng suất lao động cao hơn, góp phần tăng cạnh tranh của ngành (ii) Theo quan điểm của M Porter, trong nền kinh tế thị trường, bất kỳ ngành, doanh nghiệp

Trang 40

nào trong quá trình hoạt động đều phải chịu áp lực cạnh tranh Năng lực cạnh tranh của ngành, doanh nghiệp phụ thuộc vào năm yếu tố là sức mạnh đàm phán của nhà cung cấp; đe doạ của các doanh nghiệp mới gia nhập thị trường; đe doạ của các sản phẩm và dịch vụ thay thế; sức mạnh đàm phán của người mua và cạnh tranh giữa các đối thủ hiện tại Cũng như cấp độ cạnh tranh quốc gia, các quan niệm và cách tính toán đưa ra của các nhà nghiên cứu về cạnh tranh có khác nhau nhưng kết quả cuối cùng là ngành, doanh nghiệp sau khi cạnh tranh phải đứng vững trên thị trường Khả năng đứng vững của doanh nghiệp trên thị trường thể hiện ở nhiều khía cạnh như sử dụng ít nguồn lực lao động và vốn nhưng lại đưa nhiều hàng ra thị trường, doanh thu lớn, thị phần tăng lên Kết quả đó chứng tỏ ngành, doanh nghiệp

có năng lực cạnh tranh

Từ các quan niệm trên, có thể hiểu khái niệm về năng lực cạnh tranh của ngành và doanh nghiệp như sau: “Năng lực cạnh tranh của ngành, doanh nghiệp là khả năng duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi

ích kinh tế cao và bền vững”

Cạnh tranh ở cấp sản phẩm: Có nhiều quan niệm khác nhau về năng lực

cạnh tranh ở cấp sản phẩm hay mặt hàng Tuy nhiên, các quan điểm đều có điểm chung là cấp độ nghiên cứu vi mô, nó hoàn toàn khác với nghiên cứu năng lực cạnh tranh ở cấp quốc gia và cấp ngành: (i) Theo quan niệm của các nhà quản lý, mặt hàng hay sản phẩm có tính cạnh tranh được đo bằng thị phần trên thị trường Mặt hàng hay sản phẩm có thị phần lớn là mặt hàng có năng lực cạnh tranh tốt hơn Quan niệm trên, theo tác giả mới thể hiện một phần trong năng lực cạnh tranh ở cấp sản phẩm mà chưa đưa ra hết sức mạnh và đặc tính của sản phẩm đó trên thị trường Khi mua một sản phẩm, khách hàng quan tâm nhiều yếu tố như giá cả, chất lượng, thương hiệu sản phẩm, dịch vụ khách hàng Sau khi xem xét

và cân nhắc các yếu tố đó, khách hàng mới quyết định mua, chính sự quan tâm và

ra quyết định mua của khách hàng là dấu hiệu chứng tỏ mặt hàng này có năng lực cạnh tranh tốt hơn mặt hàng khác (ii) Keinosuke Ono và Tatsuyuki Negoro cho

Ngày đăng: 28/06/2017, 14:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[15]. Đại học ngoại thương (2009), Một số giải pháp nâng cao năng lực xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu các mặt hàng nông lâm thủy sản sang thị trường Nhật Bản, Đại học ngoại thương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp nâng cao năng lực xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu các mặt hàng nông lâm thủy sản sang thị trường Nhật Bản
Tác giả: Đại học ngoại thương
Nhà XB: Đại học ngoại thương
Năm: 2009
[19]. Nguyễn An Hà (2016), Điều chỉnh FTA của Liện Minh châu Âu và đối sách của Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều chỉnh FTA của Liện Minh châu Âu và đối sách của Việt Nam
Tác giả: Nguyễn An Hà
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học Xã hội
Năm: 2016
[20]. Đinh Xuân Hạng (2010), Giải pháp về vốn đối với phát triển kinh tế biển ở Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 381 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp về vốn đối với phát triển kinh tế biển ở Việt Nam
Tác giả: Đinh Xuân Hạng
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu kinh tế
Năm: 2010
[21]. Lê Văn Hảo, Knud S. Larsen (2012), Hành vi tổ chức trong một thế giới đang thay đổi, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hành vi tổ chức trong một thế giới đang thay đổi
Tác giả: Lê Văn Hảo, Knud S. Larsen
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2012
[22]. Trần Thế Hoàng (2010), Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản Việt Nam, Tạp chí Phát triển kinh tế, số 242 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản Việt Nam
Tác giả: Trần Thế Hoàng
Năm: 2010
[23]. Trần Thế Hoàng (2011), Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản Việt Nam đến năm 2020, Luận án Tiến sỹ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản Việt Nam đến năm 2020
Tác giả: Trần Thế Hoàng
Năm: 2011
[24]. Đinh Công Hoàng (2016), Rào cản thương mại tại thị trường liên minh châu Âu đối với hàng da, giầy xuất khẩu của Việt Nam, Luận án Tiến sỹ, Học viện Khoa học xã hội Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rào cản thương mại tại thị trường liên minh châu Âu đối với hàng da, giầy xuất khẩu của Việt Nam
Tác giả: Đinh Công Hoàng
Năm: 2016
[35]. Nguyễn Tiến Hưng (2010), Hiện trạng cán cân thương mại thủy sản một số nước trên thế giới, và một số Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện trạng cán cân thương mại thủy sản một số nước trên thế giới, và một số
Tác giả: Nguyễn Tiến Hưng
Năm: 2010
[36]. Đỗ Thị Hương (2009), Hoàn thiện hoạt động xúc tiến nhằm thúc đẩy xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam vào thị trường EU, Luận án Tiến sỹ, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện hoạt động xúc tiến nhằm thúc đẩy xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam vào thị trường EU
Tác giả: Đỗ Thị Hương
Nhà XB: Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Năm: 2009
[37]. Keinosuke Ono - Tatsuyuki Negoro (2001), Quản trị chiến lược các doanh nghiệp sản xuất, Nhành xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị chiến lược các doanh nghiệp sản xuất
Tác giả: Keinosuke Ono, Tatsuyuki Negoro
Nhà XB: Nhành xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2001
[38]. Võ Thị Hồng Lan (2009), Nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu thủy sản Việt Nam trong điều kiện gia nhập WTO, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu thủy sản Việt Nam trong điều kiện gia nhập WTO
Tác giả: Võ Thị Hồng Lan
Năm: 2009
[39]. Ngô Thị Tuyết Mai (2007), Nâng cao sức cạnh tranh một số mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế: Luận án Tiến sĩ, Đại học Kinh tế Quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao sức cạnh tranh một số mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả: Ngô Thị Tuyết Mai
Năm: 2007
[40]. Hồng Mây (2011), Từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Thanh Niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Hồng Mây
Nhà XB: Nhà xuất bản Thanh Niên
Năm: 2011
[41]. Nguyễn Xuân Minh (2006), Hệ thống giải pháp đồng bộ đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản Việt Nam từ nay đến năm 2020, Luận án tiến sĩ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống giải pháp đồng bộ đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản Việt Nam từ nay đến năm 2020
Tác giả: Nguyễn Xuân Minh
Năm: 2006
[42]. Đoàn Hùng Nam (2010), Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam, Tạp chí Tài chính. số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam
Tác giả: Đoàn Hùng Nam
Nhà XB: Tạp chí Tài chính
Năm: 2010
[43]. Nguyễn Đức Nam (2008), Vận dụng lợi thế so sánh để khai thác và đẩy mạnh xuất khẩu của Việt Nam trong thời kỳ hội nhập Quốc tế, Tạp chí thương mại, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận dụng lợi thế so sánh để khai thác và đẩy mạnh xuất khẩu của Việt Nam trong thời kỳ hội nhập Quốc tế
Tác giả: Nguyễn Đức Nam
Năm: 2008
[44]. Phòng công nghiệp và thương mại Việt Nam (2015), Tóm lược Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam – EU, http://trungtamwto.vn/tin-tuc/tom-luoc-hiep-dinh-thuong-mai-tu-do-viet-nam-eu-evfta Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tóm lược Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam – EU
Tác giả: Phòng công nghiệp và thương mại Việt Nam
Năm: 2015
[45]. Nguyễn Kim Phúc (2011), Nâng cao chất lượng tăng trưởng ngành thủy sản Việt Nam, Luận án Tiến sỹ, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lượng tăng trưởng ngành thủy sản Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Kim Phúc
Năm: 2011
[46]. Đỗ Quang, Hoàng Hải Bắc (2014), Một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng thủy sản của Việt Nam sang thị trường Nga, Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế: Hợp tác kinh tế toàn diện giữa Việt Nam và Liện bang Nga trong bối cảnh mới, Đại học Ngoại Thương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng thủy sản của Việt Nam sang thị trường Nga
Tác giả: Đỗ Quang, Hoàng Hải Bắc
Nhà XB: Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế: Hợp tác kinh tế toàn diện giữa Việt Nam và Liện bang Nga trong bối cảnh mới
Năm: 2014
[48]. Trần Sửu (2006), Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong điều kiện toàn cầu hóa, Sách, Nhà xuất bản Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong điều kiện toàn cầu hóa
Tác giả: Trần Sửu
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao động
Năm: 2006

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.3. Kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam - Nâng cao năng lực cạnh tranh của một mặt hàng thủy sản Việt Nam trên thị trường EU từ khi Việt Nam gia nhập tổ chức Thương mại Thế giới
Bảng 3.3. Kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam (Trang 65)
Bảng 3.2. Kim ngạch xuất khẩu thủy sản của một số quốc gia trên thế giới - Nâng cao năng lực cạnh tranh của một mặt hàng thủy sản Việt Nam trên thị trường EU từ khi Việt Nam gia nhập tổ chức Thương mại Thế giới
Bảng 3.2. Kim ngạch xuất khẩu thủy sản của một số quốc gia trên thế giới (Trang 65)
Bảng 3.4. Kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam theo thị trường - Nâng cao năng lực cạnh tranh của một mặt hàng thủy sản Việt Nam trên thị trường EU từ khi Việt Nam gia nhập tổ chức Thương mại Thế giới
Bảng 3.4. Kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam theo thị trường (Trang 67)
Bảng 3.9. Các nước thành viên EU nhập khẩu thủy sản từ Việt Nam, theo giá - Nâng cao năng lực cạnh tranh của một mặt hàng thủy sản Việt Nam trên thị trường EU từ khi Việt Nam gia nhập tổ chức Thương mại Thế giới
Bảng 3.9. Các nước thành viên EU nhập khẩu thủy sản từ Việt Nam, theo giá (Trang 71)
Hình 3.2. Số lô thủy sản của một số quốc gia xuất khẩu sang EU bị cảnh báo - Nâng cao năng lực cạnh tranh của một mặt hàng thủy sản Việt Nam trên thị trường EU từ khi Việt Nam gia nhập tổ chức Thương mại Thế giới
Hình 3.2. Số lô thủy sản của một số quốc gia xuất khẩu sang EU bị cảnh báo (Trang 74)
Hình 3.3. Số lô hàng thủy sản của Việt Nam xuất khẩu sang EU bị cảnh báo - Nâng cao năng lực cạnh tranh của một mặt hàng thủy sản Việt Nam trên thị trường EU từ khi Việt Nam gia nhập tổ chức Thương mại Thế giới
Hình 3.3. Số lô hàng thủy sản của Việt Nam xuất khẩu sang EU bị cảnh báo (Trang 75)
Bảng 3.16. Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu thủy sản của của một số - Nâng cao năng lực cạnh tranh của một mặt hàng thủy sản Việt Nam trên thị trường EU từ khi Việt Nam gia nhập tổ chức Thương mại Thế giới
Bảng 3.16. Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu thủy sản của của một số (Trang 80)
Bảng 3.20. Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng cá ngừ của một - Nâng cao năng lực cạnh tranh của một mặt hàng thủy sản Việt Nam trên thị trường EU từ khi Việt Nam gia nhập tổ chức Thương mại Thế giới
Bảng 3.20. Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng cá ngừ của một (Trang 82)
Hình 3.4. Thị phần kim ngạch xuất khẩu thủy sản của một số quốc gia sang EU - Nâng cao năng lực cạnh tranh của một mặt hàng thủy sản Việt Nam trên thị trường EU từ khi Việt Nam gia nhập tổ chức Thương mại Thế giới
Hình 3.4. Thị phần kim ngạch xuất khẩu thủy sản của một số quốc gia sang EU (Trang 83)
Hình 3.5. Thị phần kim ngạch xuất khẩu tôm của một số quốc gia sang EU - Nâng cao năng lực cạnh tranh của một mặt hàng thủy sản Việt Nam trên thị trường EU từ khi Việt Nam gia nhập tổ chức Thương mại Thế giới
Hình 3.5. Thị phần kim ngạch xuất khẩu tôm của một số quốc gia sang EU (Trang 84)
Hình 3.6. Thị phần kim ngạch xuất khẩu cá ngừ của một số quốc gia sang EU - Nâng cao năng lực cạnh tranh của một mặt hàng thủy sản Việt Nam trên thị trường EU từ khi Việt Nam gia nhập tổ chức Thương mại Thế giới
Hình 3.6. Thị phần kim ngạch xuất khẩu cá ngừ của một số quốc gia sang EU (Trang 85)
Bảng 3.24. Xuất khẩu thủy sản của EU theo giá trị, theo sản phẩm, 2007 – 2015 - Nâng cao năng lực cạnh tranh của một mặt hàng thủy sản Việt Nam trên thị trường EU từ khi Việt Nam gia nhập tổ chức Thương mại Thế giới
Bảng 3.24. Xuất khẩu thủy sản của EU theo giá trị, theo sản phẩm, 2007 – 2015 (Trang 101)
Bảng 3.25. Sản lượng các sản phẩm thủy sản của EU, 2005-2012 - Nâng cao năng lực cạnh tranh của một mặt hàng thủy sản Việt Nam trên thị trường EU từ khi Việt Nam gia nhập tổ chức Thương mại Thế giới
Bảng 3.25. Sản lượng các sản phẩm thủy sản của EU, 2005-2012 (Trang 102)
Bảng 3.26. Nhập khẩu thủy sản của EU theo giá trị, theo quốc gia xuất khẩu, - Nâng cao năng lực cạnh tranh của một mặt hàng thủy sản Việt Nam trên thị trường EU từ khi Việt Nam gia nhập tổ chức Thương mại Thế giới
Bảng 3.26. Nhập khẩu thủy sản của EU theo giá trị, theo quốc gia xuất khẩu, (Trang 103)
Bảng 3.27. Nhập khẩu thủy sản của EU theo giá trị, theo mặt hàng, giai đoạn - Nâng cao năng lực cạnh tranh của một mặt hàng thủy sản Việt Nam trên thị trường EU từ khi Việt Nam gia nhập tổ chức Thương mại Thế giới
Bảng 3.27. Nhập khẩu thủy sản của EU theo giá trị, theo mặt hàng, giai đoạn (Trang 104)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w