Nếu nghiên cứu đề xuất và áp dụng các biện pháp huy động sự tham gia của cộng đồng trong tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh THCS một cách khoa học nhằm tăng cường
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ ĐÀO
HUY ĐỘNG SỰ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP CHO HỌC SINH TRUNG HỌC
CƠ SỞ THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH
HÀ NỘI - 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ ĐÀO
HUY ĐỘNG SỰ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP CHO HỌC SINH TRUNG HỌC
CƠ SỞ THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH
Chuyên ngành: Giáo dục và phát triển cộng đồng
Mã số: THÍ ĐIỂM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS NGUYỄN KẾ HÀO
HÀ NỘI – 2017
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, Đảng chủ trương thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hóa để đưa đất nước ta, dân tộc ta vĩnh viễn thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020, xứng đáng sánh vai với các cường quốc năm châu Sự thành công của sự nghiệp trọng đại đó tùy thuộc vào công tác đào tạo nguồn nhân lực, vào sự nghiệp “trồng người” Do đó, Đảng ta đã xác định: “Cùng với khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo phải thật sự là quốc sách hàng đầu” Nhà nước ta đã không ngừng tăng đầu tư ngân sách và đề ra nhiều chính sách quan trọng để phát triển sự nghiệp giáo dục; nhân dân ta vốn có truyền thống hiếu học từ bao đời đã và đang hết lòng chăm lo cho con cháu học hành, học để lập thân, lập nghiệp phấn đấu
“Con hơn cha, nhà có phúc” Bối cảnh đó đặt ra cho ngành giáo dục, đội ngũ thầy
cô giáo, cán bộ quản lý và mỗi nhà trường trách nhiệm rất nặng nề, dù khó khăn đến đâu cũng phải tiếp tục thi đua dạy tốt, học tốt để nâng cao chất lượng giáo dục
toàn diện Trong việc thực hiện sứ mệnh nặng nề và cao cả đó, mỗi trường học phải
là một tập thể đoàn kết phấn đấu nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức và chất lượng dạy học đích thực, đào tạo thế hệ trẻ thành những công dân yêu nước, có văn hoá, có trình độ kiến thức, kỹ năng khoa học, có ý chí, hoài bão vươn lên không cam chịu nghèo hèn, làm giàu cho đất nước và cho bản thân Để làm được điều đó, mỗi trường học phải xây dựng cho được môi trường sư phạm tích cực, thân thiện: Thân thiện giữa thầy với trò, thân thiện giữa trò với trò, thân thiện giữa nhà trường
với cộng đồng theo nguyên lý: “Giáo dục nhà trường gắn liền với giáo dục gia đình
và giáo dục xã hội” Từ nguyên lý này, ta có thể nhận ra quá trình giáo dục thế hệ
trẻ phải được thực hiện bằng nhiều con đường, nhiều phương thức và thông qua nhiều dạng hoạt động giáo dục
Trong nhà trường có hai hệ thống giáo dục cơ bản đó là: Hoạt động giáo dục trong hệ thống các môn học và các hoạt động ngoài hệ thống môn học thường
Trang 4gọi là Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp (HĐGDNGLL) Mặc dù chỉ là hoạt động giáo dục ngoài kế hoạch dạy học các môn chính khóa, nhưng hoạt động này lại là công cụ mạnh mẽ để phát triển giá trị, nội dung, các quan hệ xã hội thực tiễn một cách sâu sắc
Thứ nhất: Chương trình giáo dục phổ thông HĐGDNGLL thực sự là một bộ phận quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục Một mặt nó kiểm nghiệm kiến thức đã có, bổ sung những kiến thức còn thiếu hụt và việc mở rộng kiến thức; mặt khác thông qua các HĐGDNGLL người học nâng cao tầm hiểu biết và nhận thức đầy đủ hơn về xã hội, gắn kiến thức đã học với thực tế trong cuộc sống, tăng cường phát triển trí lực, thể lực, rèn luyện kỹ năng sống và tính thẩm mỹ Đây là con đường dẫn dắt các em từng bước đến với nền văn hóa, xã hội của dân tộc và nền văn hóa văn minh của nhân loại, học tập những cái hay, cái đẹp mà thế giới và dân tộc đã để lại
Thứ Hai: Với những đặc điểm riêng biệt về tâm lý, về xã hội của tuổi học trò việc tổ chức các HĐGDNGLL thì đây là dịp tạo cho các em có cơ hội tham gia các hoạt động thực tiễn để có thêm những hiểu biết, tích luỹ được kinh nghiệm giao tiếp, giàu thêm vốn sống cho mình, mở được một tầm nhìn thực tế
Thứ ba: Trong HĐGDNGLL, nếu tổ chức các hoạt động trò chơi dân gian, tham gia lễ hội ở địa phương, văn hóa nghệ thuật truyền thống dân tộc và chăm sóc đài tưởng niệm, nghĩa trang liệt sĩ thì càng có ý nghĩa quan trọng trong việc giáo
dục thế hệ trẻ về tình cảm, đạo lý: “Uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ người trồng cây”, “lòng tự hào dân tộc” Từ đó giúp các em có ý thức gìn giữ, bảo tồn và
phát huy nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, có ý thức phấn đấu trở thành những công dân có ích cho xã hội, góp phần hình thành nhân cách mới con người Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và thích ứng với xu thế hội nhập quốc tế hiện nay Tuy nhiên trong thực tế, công tác quản lý quá trình giáo dục ở trường THCS chưa được đầu tư thích đáng cả về kế hoạch, nguồn lực; nội dung, hình thức tổ chức còn đơn điệu; học sinh chưa tích cực, chủ động tham gia Vì thế chưa phát huy được tác
Trang 5dụng của HĐGDNGLL trong việc hình thành, phát triển nhân cách toàn diện cho học sinh
Thực tiễn, tại các trường THCS thành phố Móng Cái việc huy động sự tham gia của cộng đồng vào tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp đã có những thành tựu đáng kể song gặp cũng không ít khó khăn dẫn đến hiệu quả của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp chưa đạt được như mong muốn
Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn vấn đề: “Huy động sự tham gia của cộng đồng trong tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh THCS thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh” làm đề tài nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận và khảo sát thực trạng việc huy động sự tham gia của cộng đồng trong tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh THCS thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh, đề xuất các biện pháp huy sự tham gia của cộng đồng trong tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh THCS thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh, góp phần nâng cao chất
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp huy động sự tham gia của cộng đồng trong tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh THCS thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh
4 Giả thuyết khoa học
Trang 6Nếu nghiên cứu đề xuất và áp dụng các biện pháp huy động sự tham gia của cộng đồng trong tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh THCS một cách khoa học nhằm tăng cường nguồn lực vật chất, tài chính và nguồn lực tinh thần cho GDTHCS sẽ đẩy mạnh và phát huy tốt việc tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh THCS thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả Giáo dục Trung học cơ sở
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về huy động
sự tham gia của cộng đồng trong tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh THCS
5.2 Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng huy động sự tham gia của cộng đồng trong tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh THCS thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh
5.3 Đề xuất biện pháp huy động sự tham gia của cộng đồng trong tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh THCS thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn hiện nay
6 Giới hạn nghiên cứu
+ Phạm vi về nội dung nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu những biện pháp huy động cộng đồng về nguồn lực vật chất, tài chính và nguồn lực tinh thần trong tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh THCS thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh
+ Phạm vi về Chủ thể thực hiện biện pháp: Trường THCS ở thành phố Móng Cái tỉnh Quảng Ninh; cấp uỷ Đảng, Chính quyền địa phương và của các tổ chức xã hội trong cộng đồng Trong đó chủ thể chính là Trường THCS
+ Phạm vi về địa bàn nghiên cứu: Trường THCS Hải Xuân, Hòa Lạc,
KaLong thành phố Móng Cái tỉnh Quảng Ninh
Trang 7+ Phạm vi về khách thể điều tra khảo sát: Ban giám hiệu, Giáo viên chủ nhiệm, Giáo viên, Phụ huynh học sinh
+ Phạm vi về thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu thực trạng thời gian từ năm
2013 đến năm 2017, đề xuất biện pháp thời gian từ năm 2017 đến năm 2020
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận
Bao gồm các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa tài liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài
7.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp điều tra
Xây dựng các phiếu điều tra (Xem mục lục) để điều tra về huy động sự tham gia của cộng đồng trong tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh THCS, nhằm thu thập thông tin về thực trạng HĐCĐ và nguyên nhân của thực trạng
7.2.2 Phương pháp phỏng vấn
Tiến hành phỏng vấn 1 số Công ty TNHH, Công ty cổ phần và các doanh nghiệp để tìm kiếm và thu thập thông tin về nội dung, hình thức tổ chức và các biện pháp huy động sự tham gia của cộng đồng trong tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh THCS thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh
7.2.3 Phương pháp quan sát
Được sử dụng trong đề tài để quan sát các hình thức tổ chức, các nội dung của huy động cộng đồng Đồng thời quan sát các công việc của tập thể và cá nhân tham gia thực hiện việc huy động sự tham gia của cộng đồng trong tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh THCS, nhằm thu thập thêm các thông tin cần thiết, bổ xung cho kết quả điều tra bằng bảng hỏi, làm tăng thêm tính khách quan và độ tin cậy của kết quả nghiên cứu
Trang 87.2.4 Phương pháp chuyên gia
Tham khảo ý kiến của một số chuyên gia để được định hướng cho thực nghiệm tác động cũng như nội dung cách thức tổ chức thực nghiệm
7.2.5 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Phương pháp tổng kết kinh nghiệm là phương pháp kết hợp lý luận với thực
tế, đem lý luận phân tích thực tế, từ phân tích thực tế lại rút ra lý luận cao hơn Phương pháp tổng kết kinh nghiệm là phương pháp xem xét lại những thành quả của hoạt động thực tiễn trong quá khứ để rút ra những kết luận bổ ích cho khoa học
và thực tiễn Dựa trên một lý thuyết khoa học để chứng minh, để giải thích sự kiện, tìm ra những kết luận thực sự khách quan về bản chất và quy luật phát triển của sự kiện, rút ra những bài học cần thiết, sau đó cần được phổ biến, tuyên truyền rộng rãi những bài học rút ra được qua phân tích và tổng kết kinh nghiệm Tổng kết kinh nghiệm được coi là một phương pháp nghiên cứu khoa học độc lập, chủ yếu được
sử dụng trong nghiên cứu khoa học giáo dục nói riêng và khoa học xã hội nói chung,
có nhiệm vụ nghiên cứu, phân tích, phát hiện, tổng kết những kinh nghiệm tiên tiến của bản thân người khác hay của một tập thể khác
7.3 Phương pháp thống kê toán học
Được sử dụng để xử lý số liệu đảm bảo tính chính xác khoa học nhằm nâng cao tính khách quan của đề tài nghiên cứu
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận - khuyến nghị, tài liệu tham khảo và các phục lục, Nội dung nghiên cứu đề tài được kết cấu chủ yếu ở 3 chương sau đây:
Chương 1: Cơ sở lý luận về huy động sự tham gia của cộng đồng trong tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh THCS
Trang 9Chương 2: Thực trạng huy động sự tham gia của cộng đồng trong tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh THCS thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh
Chương 3: Biện pháp huy động sự tham gia của cộng đồng trong tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh THCS thành phố Móng Cái, tỉnh
Giáo dục là một hoạt động mang tính xã hội cao, là một hình thái ý thức xã hội, đồng thời là một trong những nhân tố đánh dấu nấc thang trình độ văn minh của các thời đại trong lịch sử Giáo dục có liên quan trực tiếp đến mỗi người và lợi ích của mọi người trong xã hội Quan tâm đầu tư, huy động mọi nguồn lực cho phát triển giáo dục là sách lược lâu dài của nhiều quốc gia trên thế giới Mặc dù bản chất của giáo dục ở các nước có khác nhau nhưng đều cho thấy xã hội hóa sự giáo dục là cách làm phổ biến, kể cả ở những nước có nền công nghiệp hiện đại - kinh tế phát
triển cao
Huy động cộng đồng để phát triển giáo dục đã xuất hiện và có bề dày lịch sử trong các chế độ xã hội và thể chế chính trị Lịch sử nghiên cứu vấn đề xã hội hóa giáo dục đã có từ lâu, đó không phải là vấn đề hoàn toàn mới nếu xem xét nó về bản chất Không chỉ ở Việt Nam mà nhiều nơi trên thế giới đều rất quan tâm đến việc xây dựng và củng cố công tác giáo dục gắn liền với phát triển cộng đồng với mục đích vì lợi ích cộng đồng, nâng cao chất lượng cuộc sống
Trải qua các giai đoạn lịch sử, việc chăm lo vật chất, khích lệ cổ vũ người học, tôn vinh người Thầy trong xã hội và những trò giỏi thành đạt đã trở thành
Trang 10truyền thống, đạo lý tốt đẹp của Dân tộc Việt Nam Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng, không phân biệt già, trẻ, trai, gái, cứ là người Việt Nam thì phải tham gia học tập, tham gia xóa nạn mù chữ ”
Trong thời kỳ đổi mới, thực hiện sự nghiệp Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, sự nghiệp giáo dục được Đảng, Nhà nước ta coi là quốc sách hàng đầu, khẳng định giáo dục là động lực, là nguồn lực để thúc đẩy kinh
tế văn hóa xã hội phát triển với phương châm: “Giáo dục là sự nghiệp của toàn dân”
1.1.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài
Các luật giáo dục của Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản, Pháp, Đức , các chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2020 của nhiều nước trên thế giới đều coi trọng phương thức huy động cộng đồng Các nước thuộc khu vực Đông Nam Á và khối ASEAN cũng đang tích cực đẩy nhanh quá trình phát triển giáo dục bằng cách phát huy sức mạnh của cộng đồng trong việc tham gia phát triển giáo dục
1.1.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam
Cần nói ngay rằng, khái niệm huy động cộng đồng thường được hiểu là một
bộ phận, một hoạt động của xã hội hoá sự nghiệp giáo dục
Chỉ từ những năm 1980 đến nay trong lĩnh vực khoa học quản lý mới nói đến cộng đồng Quan điểm của Hồ Chí Minh, của Đảng và Nhà nước ta về sự tham gia của gia đình và xã hội vào sự nghiệp giáo dục là nền tảng cho việc thực hiện xã hội hoá sự nghiệp giáo dục huy động cộng đồng tham gia giáo dục là cốt lõi của quan điểm giáo dục là sự nghiệp của toàn xã hội Huy động cộng đồng đã có sức sống tiềm tàng trong truyền thống giáo dục của nhân dân ta suốt chiều dài lịch sử Tư tưởng dân là gốc, "lấy dân làm gốc" đã được kết tinh truyền thống và lưu thành bản sắc độc đáo của dân tộc Việt Nam "Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong" (Bác Hồ)
Trang 11Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương khoá VIII; Đại hội lần thứ X của Đảng đã khẳng định xã hội hoá là một trong những quan điểm để hoạch định hệ thống các chính sách xã hội
Quan điểm của Đảng, Nhà nước về xã hội hoá sự nghiệp giáo dục được thể chế hoá bằng pháp luật thể hiện ở Luật Giáo dục là cơ sở pháp lý để thực hiện xã hội hoá sự nghiệp giáo dục Tại Điều 1 về xã hội hoá sự nghiệp giáo dục, Luật này ghi rõ: "Mọi tổ chức, gia đình và công dân đều có trách nhiệm chăm lo sự nghiệp giáo dục, xây dựng phong trào học tập và môi trường giáo dục lành mạnh, phối hợp nhà trường thực hiện mục tiêu giáo dục Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển sự nghiệp giáo dục , khuyến khích vận động và tạo điều kiện để tổ chức cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục"
Ngày 18/4/2005 Chính Phủ đề ra Nghị quyết 05/2005/NQ-CP về "Đẩy mạnh
xã hội hoá các hoạt động giáo dục, " để đẩy mạnh hơn nữa quá trình xã hội hoá
Như vậy, hệ thống quan điểm của Đảng và các chính sách của Nhà nước ta
về xã hội hoá sự nghiệp giáo dục thực chất là khẳng định tư tưởng chiến lược của Đảng trong quá trình phát triển Giáo dục & Đào tạo
Vấn đề huy động cộng đồng để đầu tư cho giáo dục thực chất là vấn đề tăng cường xã hội hoá sự nghiệp giáo dục, vấn đề này đã được nhiều sách báo đề cập, ở nước ta đã có một số nhà khoa học, nhà quản lý giáo dục nghiên cứu lĩnh vực này Tuy nhiên, vẫn còn rất ít nghiên cứu tập trung vào vấn đề huy động cộng đồng Do
đó, cần thiết phải xem xét huy động cộng đồng từ góc độ khoa học quản lý giáo dục
để làm rõ mối quan hệ giữa huy động cộng đồng và xã hội hoá sự nghiệp giáo dục, các biện pháp huy động cộng đồng và cách cải tiến quản lý giáo dục nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của các biện pháp huy động cộng đồng tham gia xây dựng
và phát triển giáo dục
Tuy nhiên ở mỗi tỉnh, thành phố, quận, huyện, thị xã có điều kiện địa lý, đặc điểm kinh tế xã hội khác nhau, nên hoạt động huy động cộng đồng tham gia xây
Trang 12dựng giáo dục và việc vận dụng những phương pháp huy động cũng mang những sắc thái riêng, đặc trưng cho địa phương đó
1.2 Tổ chức hoạt động ngoài giờ lên lớp cho học sinh trung học cơ sở
1.2.1 Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp (hay trước đây còn gọi là hoạt động ngoại khóa) là thuật ngữ dùng để chỉ những hoạt động giáo dục cho học sinh được tiến hành ngoài những giờ học các môn văn hóa
Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp giúp học sinh củng cố và mở rộng những kiến thức đã học, phát triển những thái độ và kỹ năng cần thiết Đặc biệt, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là cơ hội thuật lợi cho học sinh thể nghiệm, thực hành các thái độ và hành vi tích cực
Trong giáo trình HĐGD NGLL tác giả Nguyễn Dục Quang (chủ biên) đưa ra khái niệm: “HĐGD NGLL là bộ phận hữu cơ cùng với HĐDH tạo nên sự hài hoà, cân đối của quá trình sư phạm tổng thể nhằm thực hiện hoá mục tiêu cấp học” [Nguyễn Dục Quang (Chủ biên), Ngô Quang Quế, Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, Sách dành cho các trường CĐSP]
Trong quan niệm này, tác giả dường như đã xem có 2 loại hình HĐ cơ bản trong quá trình sư phạm tổng thể là hoạt động dạy học (HĐDH) và HĐGD NGLL
Theo quan niệm khác [Bộ GD&ĐT (2013), Tài liệu tập huấn BDGV đáp ứng yêu cầu của Chuẩn nghề nghiệp GV trung học Mô đun Tổ chức các HĐGD trong nhà trường, NXB giáo dục, Hà Nội.], HĐGD trong nhà trường được chia
thành haibộ phận:
- HĐDH trong nhà trường, bao gồm HĐDH các môn văn hóa trên lớp
- Hoạt động giáo dục (HĐGD) trong nhà trường, bao gồm:
+ HĐGD tập thể
Trang 13HĐGD tập thể
Trong Chương trình THCS, Bộ Giáo dục và Đào tạo khẳng định: “Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là những hoạt động được tổ chức ngoài giờ học của các môn học ở trên lớp Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là sự tiếp nối hoạt động dạy – học trên lớp, là con đường gắn lí thuyết với thực tiễn, tạo nên sự thống nhất giữa nhận thức với hành động của học sinh” [ Bộ Giáo dục và Đào tạo - Chương trình trung học cơ sở - NXB Giáo dục 2002 – tr 99]
Tác giả Đặng Vũ Hoạt cho rằng: “Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là việc tổ chức giáo dục thông qua hoạt động thực tiễn của học sinh về khoa học-kĩ thuật, lao động công ích, hoạt động xã hội, hoạt động nhân đạo, văn hóa văn nghệ, thẩm mĩ, thể dục thể thao, vui chơi giải trí, v v để giúp các em hình thành và phát triển nhân cách (đạo đức, năng lực, sở trường…)” [Đặng Vũ Hoạt (chủ biên), Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường trung học cơ sở - NXBGD1998,
tr.7]
Như vậy, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là hoạt động giáo dục được
tổ chức ngoài thời gian học tập trên lớp Đây là một trong hai hoạt động giáo dục
cơ bản, được thực hiện một cách có tổ chức, có mục đích theo kế hoạch của nhà trường; là hoạt động tiếp nối và thống nhất hữu cơ với hoạt động học tập trên lớp, nhằm góp phần hình thành và phát triển nhân cách học sinh theo mục tiêu đào tạo, đáp ứng những yêu cầu đa dạng của xã hội đối với thế hệ trẻ
Trang 14Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp do nhà trường tổ chức và quản lí với
sự tham gia của các lực lượng xã hội Nó được tiến hành tiếp nối hoặc xen kẽ hoạt động dạy – học trong nhà trường hoặc trong phạm vi cộng đồng Hoạt động này diễn ra trong suốt năm học và cả thời gian nghỉ hè để khép kín quá trình giáo dục, làm cho quá trình này được thực hiện ở mọi nơi, mọi lúc
1.2.2.Vị trí, vai trò, mục tiêu, nhiệm vụ của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
1.2.2.1 Vị trí của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Nhà trường có nhiệm vụ dạy chữ và dạy người Nếu nhà trường chỉ thực hiện hoạt động dạy - học các bộ môn văn hóa trên lớp thì nhiệm vụ dạy người sẽ không hoàn thành, vì học sinh sẽ thiếu môi trường hoạt động và giao tiếp, hạn chế về tình huống thực tế, hạn chế về thời gian…các em hầu như không có điều kiện để trải nghiệm những kiến thức đã học vào hoạt động thực tế Vì vậy, việc nhà trường tổ chức các hoạt động, các mối quan hệ khác nhau vào thời gian ngoài giờ lên lớp là điều kiện quan trọng để hình thành thái độ, rèn luyện hành vi, kĩ năng xã hội cho học sinh Nói cách khác, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp có vị trí rất quan
trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ dạy người trong các nhà trường hiện nay
Dưới góc độ chỉ đạo chung, vị trí của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp được khẳng định tại điều 27 Điều lệ trường tiểu học và điều 24 Điều lệ trường trung học (ban hành ngày 11 tháng 7 năm 2000), là một trong hai hoạt động giáo dục trong nhà trường:
- Hoạt động giáo dục trên lớp được tiến hành thông qua các môn bắt buộc và tự chọn…
- Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp do nhà trường phối hợp với các lực lượng giáo dục ngoài nhà trường tổ chức,…
Trang 15Như vậy, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp không phải là hoạt động
“phụ”, hoạt động “bề nổi” mà giữ một vị trí rất quan trọng trong các hoạt động giáo dục của các nhà trường
- Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là cầu nối tạo ra mối liên hệ hai chiều giữa nhà trường và xã hội
+ Thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp nhà trường có điều kiện phát huy vai trò tích cực của mình đối với xã hội , mở ra khả năng thuận lợi để gắn học với hành, nhà trường với xã hội thông qua việc đưa Thầy và Trò tham gia các hoạt động cộng đồng
+ Bằng việc đóng góp sức người, sức của của cộng đồng để tổ chức các hoạt động giáo dục, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là điều kiện và phương tiện để huy động sức mạnh cộng đồng tham gia vào quá trình đào tạo thế hệ trẻ, vào sự phát triển nhà trường
1.2.2.2 Vai trò của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Từ vị trí quan trọng nêu trên, theo các tác giả Nguyễn Dục Quang và Ngô Ngọc Quế thì hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp có những vai trò thể hiện ở những điểm sau []:
- Đây là dịp để học sinh củng cố tri thức đã học ở trên lớp, biến tri thức thành niềm tin Thông qua các hình thức hoạt động cụ thể, học sinh có dịp để đối chiếu, để kiểm nghiệm tri thức đã học, làm cho những tri thức đó trở thành của chính các em
- Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là sự tiếp nối hoạt động dạy học,
do đó tạo nên sự hài hòa, cân đối của quá trình sư phạm tổng thể nhằm hiện thực hóa mục tiêu giáo dục của cấp học
- Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp vừa củng cố, vừa phát triển quan hệ giao tiếp giữa các lớp trong trường và với cộng đồng xã hội
Trang 16- Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp thu hút và phát huy được tiềm năng của các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường để nâng cao hiệu quả giáo dục học sinh
- Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp phát huy cao độ tính chủ thể, tính chủ động, tích cực của học sinh Dưới sự cố vấn, giúp đỡ của giáo viên, học sinh cùng nhau tổ chức các hoạt động tập thể khác nhau trong đời sống hàng ngày
ở nhà trường, ngoài xã hội Từ đó giúp hình thành những kinh nghiệm giao tiếp, ứng xử có văn hóa, giúp cho việc hình thành và phát triển nhân cách ở các em
1.2.2.3 Mục tiêu của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Ở trường Trung học cơ sở, Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường trung học cơ sở nhằm []:
- Củng cố và khắc sâu những kiến thức của các môn học; mở rộng và nâng cao hiểu biết cho học sinh về các lĩnh vực của đời sống xã hội, làm phong phú thêm vốn tri thức, kinh nghiệm hoạt động tập thể của học sinh
- Rèn luyện cho học sinh các kĩ năng cơ bản phù hợp với lứa tuổi học sinh trung học cơ sở như: kĩ năng giao tiếp ứng xử có văn hóa; kĩ năng tổ chức quản lí và tham gia các hoạt động tập thể với tư cách là chủ thể của hoạt động; kĩ năng tự kiểm tra đánh giá kết quả học tập, rèn luyện; củng cố, phát triển các hành
vi, thói quen tốt trong học tập, lao động và công tác xã hội
- Bồi dưỡng thái độ tự giác tích cực tham gia các hoạt động tập thể và hoạt động xã hội; hình thành tình cảm chân thành, niềm tin trong sáng với cuộc sống, với quê hương đất nước; có thái độ đúng đắn đối với các hiện tượng tự nhiên
và xã hội
1.2.2.4 Nhiệm vụ của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
* Nhiệm vụ giáo dục về nhận thức
Trang 17- Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp giúp học sinh bổ sung, củng cố
và hoàn thiện những tri thức đã được học trên lớp; giúp cho các em có những hiểu biết mới, mở rộng nhãn quan với thế giới xung quanh, cộng đồng xã hội
- Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp giúp học sinh biết vận dụng những tri thức đã học để giải quyết các vấn đề do thực tiễn đời sống (tự nhiên, xã hội) đặt ra, giúp các em định hướng nghề nghiệp trong tương lai
- Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp giúp học sinh biết tự điều chỉnh hành vi, lối sống cho phù hợp chuẩn mực đạo đức Qua đó cũng từng bước làm giàu thêm những kinh nghiệm thực tế, xã hội cho các em
- Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp giúp học sinh định hướng chính trị, xã hội, có những hiểu biết nhất định về truyền thống đấu tranh cách mạng, truyền thống xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, truyền thống văn hóa tốt đẹp của đất nước…qua đó cũng tăng thêm sự hiểu biết của các em về Bác Hồ, về Đảng, về Đoàn, về Đội…mà thực hiện tốt nghĩa vụ của học sinh, của đội viên, của đoàn viên
- Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp giúp học sinh có những hiểu biết tối thiểu về các vấn đề có tính thời đại như vấn đề quốc tế, hợp tác, hòa bình
và hữu nghị, vấn đề bảo vệ môi sinh, môi trường, vấn đề dân số và kế hoạch hóa gia đình, vấn đề pháp luật…
* Nhiệm vụ giáo dục về thái độ
- Trước hết, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp phải tạo cho học sinh những hứng thú và lòng ham muốn hoạt động Vì vậy, đòi hỏi nội dung, hình thức
và qui mô hoạt động phải phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí, lứa tuổi và nhu cầu của học sinh, lôi cuốn các em tự giác tham gia để đạt được hiệu quả giáo dục
- Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp từng bước hình thành cho học sinh niềm tin vào những giá trị mà các em phải vươn tới, đó là niềm tin vào chế độ
xã hội chủ nghĩa đang đổi mới mà Bác Hồ và Đảng ta đã chọn, tin vào tiền đồ,
Trang 18tương lai của đất nước Từ đó các em có lòng tự hào dân tộc, mong muốn làm đẹp thêm truyền thống của trường, của lớp, của quê hương mình, mong muốn vươn lên trở thành con ngoan, trò giỏi để trở thành công dân có ích cho xã hội mai sau
- Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp bồi dưỡng cho học sinh những tình cảm đạo đức trong sáng, qua đó giúp các em biết kính yêu và trân trọng cái tốt, cái đẹp, biết ghét và đấu tranh với cái xấu, cái lỗi thời không phù hợp
- Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp bồi dưỡng cho học sinh tính tích cực, tính năng động, sẵn sàng tham gia hoạt động xã hội, hoạt động tập thể của trường, của lớp vì lợi ích chung, vì sự trưởng thành và tiến bộ của bản thân
- Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp còn góp phần giáo dục cho học sinh tình đoàn kết hữu nghị với thanh thiếu niên, nhi đồng quốc tế, với các dân tộc trên thế giới
* Nhiệm vụ rèn luyện kĩ năng
- Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp rèn luyện cho học sinh những kĩ năng giao tiếp, ứng xử có văn hóa, những thói quen tốt trong học tập, lao động công ích và trong các hoạt động khác
- Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp rèn luyện cho học sinh các kĩ năng tự quản, trong đó có kĩ năng tổ chức, kĩ năng điều khiển và thực hiện một hoạt động tập thể có hiệu quả, kĩ năng nhận xét, đánh giá kết quả hoạt động
- Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp rèn luyện cho học sinh các kĩ năng giáo dục, tự điều chỉnh, kĩ năng hòa nhập để thực hiện tốt các nhiệm vụ do thầy cô hoặc tập thể giao cho
1.2.3 Các nguyên tắc tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Để đạt được chất lượng và hiệu quả giáo dục mong muốn, nhà trường cần phả tuân thủ một số nguyên tắc tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp sau đây:
Trang 192.2.3.1 Nguyên tắc về tính mục đích, tính kế hoạch
- Tính mục đích: Bất cứ hoạt động giáo dục nào cũng phải đạt được
những mục đích nhất định, tuy nhiên thực tiễn giáo dục trong nhà trường cho thấy, mục tiêu giáo dục của các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp thường bị che lấp bởi những tiêu chí mang tính thi đua, phong trào như nhà trường sẽ có giải vàng
về điền kinh trong Hội khỏe Phù đổng cấp tỉnh, giải thi tìm hiểu Luật giao thông đường bộ…Vì vậy, nhà trường phải xác định mục đích của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho cả năm học, từng học kì, từng hoạt động; trong đó cần định hướng tính đa dạng của mục tiêu giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục toàn
diện
- Tính kế hoạch: kế hoạch sẽ định hướng và giúp cho việc tổ chức hoạt
động có chất lượng và hiệu quả Tính kế hoạch của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp sẽ đảm bảo tính ổn định tương đối, tính hệ thống và tính hướng đích, không gây sự hỗn loạn và tùy tiện trong tổ chức các hoạt động của nhà trường Trên cơ sở kế hoạch, nhà trường chủ động định hướng cách thức tổ chức, dự tính các nguồn lực (con người, kinh phí, cơ sở vật chất, thời gian), nội dung, hình thức cũng như qui mô hoạt động; sự chuẩn bị kế hoạch giáo dục chu đáo sẽ đem lại chất lượng, hiệu quả giáo dục mà nhà trường và xã hội mong muốn
2.2.3.2 Nguyên tắc về tính tự nguyện, tự giác tham gia hoạt động
- Nếu học sinh bắt buộc phải học tập các môn học trên lớp thì các em
có quyền lựa chọn tham gia các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp mà các em
ưa thích Nguyên tắc này đảm bảo học sinh có quyền lựa chọn tham gia các hoạt động phù hợp với khả năng, hứng thú, sức khỏe và điều kiện cụ thể của bản thân mỗi em; chỉ có như vậy, nhà trường – nhà giáo dục mới tạo được sự hứng thú, tự giác và tích cực tham gia hoạt động, phát huy được thiên hướng, khả năng của mỗi học sinh, trên cơ sở đó giúp nhà trường và gia đình hướng nghiệp học sinh phù hợp nhất
Trang 20- Nguyên tắc này đòi hỏi nhà trường – các nhà giáo dục phải tổ chức được nhiều hoạt động phong phú, đa dạng; tổ chức và duy trì được nhiều nhóm hoạt động với các chủ đề các khác nhau như các câu lạc bộ bộ môn, các đội thể thao, đội văn nghệ…; các hoạt động giao lưu kết bạn trong và ngoài nhà trường, hoạt động tham quan du lịch kết hợp học tập, các hoạt động văn nghệ, thể thao, lao động công ích, từ thiện xã hội…Chỉ khi nhà trường tổ chức được nhiều hoạt động phong phú, đa dạng thì học sinh mới có cơ hội được lựa chọn tham gia loại hình hoạt động mà mình ưa thích, khi đó nguyên tắc đảm bảo tính tự giác, tự nguyện tham gia hoạt động của học sinh mới trở thành hiện thực Thực hiện tốt nguyên tắc này sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường
2.2.3.3 Nguyên tắc tính đến đặc điểm lứa tuổi và tính cá biệt của học sinh
Trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách học sinh, mỗi lứa tuổi có những đặc điểm tâm sinh lí khác nhau, cá biệt có một số ít học sinh có những biểu hiện khác biệt trong quá trình phát triển Nhà trường – giáo viên phải hiểu những nét đặc trưng của sự phát triển này để tổ chức hoạt động có nội dung và hình thức đáp ứng nhu cầu và phù hợp với khả năng của từng lứa tuổi học sinh Vì vậy, giáo viên cần thường xuyên theo dõi học sinh, phát hiện những nét mới, những khả năng mới được hình thành ở các em để kịp thời đề xuất và điều chỉnh nội dung và hình thức hoạt động cho phù hợp với sự phát triển của các em trong từng giai đoạn của năm học, của cấp học
2.2.3.4 Nguyên tắc kết hợp sự lãnh đạo sư phạm của thầy với tính tích cực, độc lập và sáng tạo của học sinh
- Tính tích cực, độc lập và sáng tạo được coi là những tiêu chí đánh giá khả năng tham gia hoạt động của học sinh, trình độ tự quản các hoạt động tập thể của các em Đặc biệt, đối với học sinh THCS, THPT thì nguyên tắc này phải được quán triệt trong quá trình tổ chức hoạt động cho học sinh, phải được thể hiện từ bước chuẩn bị hoạt động, đến bước tiến hành hoạt động cho đến đánh giá kết quả
Trang 21hoạt động Trong mỗi bước, học sinh phải thực sự phát huy khả năng của mình, được bày tỏ ý kiến của mình cũng như những sáng kiến nhằm giúp cho chính hoạt động của tập thể đạt hiệu quả
- Ở lứa tuổi học sinh THCS, các em chưa có đủ kinh nghiệm sống, kinh nghiệm tổ chức hoạt động; vì vậy, vai trò của thầy cô giáo là người định hướng, gợi ý, dẫn dắt, giúp đỡ các em trong quá trình tổ chức hoạt động nhưng không làm thay họ
1.2.4 Nội dung và hình thức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
1.2.4.1 Nội dung hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Nội dung của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp rất phong phú và đa dạng,
chủ yếu tập trung vào 5 loại hình hoạt động sau đây [Bộ GD&ĐT (2013), Tài liệu tập huấn BDGV đáp ứng yêu cầu của Chuẩn nghề nghiệp GV trung học Mô đun
Tổ chức các HĐGD trong nhà trường, NXB giáo dục, Hà Nội.]:
- Hoạt động xã hội và nhân văn:
Hoạt động kỉ niệm các ngày lễ lớn, các sự kiện về chính trị, xã hội trong nước và quốc tế hoặc những sự kiện đáng chú ý ờ địa phương
Thi tim hiểu những truyền thống tốt đẹp của nhà trường, của địa phương Tuyên truyền cổ động về nội quy nhà trường, những quy định về pháp luật (như Luật Giao thông, trật tự công cộng ); những chính sách lớn của nhà nước (như dân số, bảo vệ môi sinh, môi trường, phòng chống các tệ nạn xã hội ) và những quy định của địa phương
Hưởng ứng và tham gia các hoạt động lễ hội, hoạt động văn hoá, truyền thống ở địa phương
Công tác Trần Quổc Toản và các hoạt động nhân đạo đền ơn đáp nghĩa, hoạt động từ thiện khác như thăm hỏi và giúp đỡ các gia đình, các cá nhân có hoàn cảnh khó khăn đặc biệt ở địa phương các bạn trong lớp, trong trường đau yếu, tật nguyền,
Trang 22nghèo khổ chia sẻ với các bạn cùng trang lứa (trong nước hoặc quốc tế) gặp khó khăn về thiên tai, chiến tranh, dịch bệnh với các hình thức phù hợp; thăm viếng nghĩa trang liệt sĩ, đài tưởng niệm ờ địa phương
Phụ trách Sao Nhi đồng (ở địa phương, ở trường tiểu học kết nghĩa)
- Hoạt động văn hoá nghệ thuật và thẩm mĩ:
Sinh hoạt văn nghệ thơ ca, múa hát, kịch ngắn, kịch câm, tẩu, kể chuyện, âm nhạc được thể hiện dưới các hình thức khác nhau
Đọc sách báo, xem phim, xem biểu diễn văn nghệ, biểu diễn nghệ thuật Tham quan các danh lam thắng cảnh, các di tích lịch sử
Du lịch, cắm trại
Thi vẻ đẹp học sinh tuổi thiếu niên
Thi khéo tay và trưng bày triển lãm những sản phẩm và thành tích nhân ngày hội học sinh của trường hoặc kết hợp trong một hoạt động tập thể theo chủ đề của lớp Ví dụ, có thể tổ chức cho học sinh thi thêu, đan, cắm hoa, may vá, vẽ, nặn trưng bày vở sạch chữ đẹp, những bài văn hay, những điểm 10, những cách giải bài độc đáo, những dụng cụ học tập, học sinh tự tạo, những tờ báo tường đẹp
Các hoạt động câu lạc bộ chuyên đề phù hợp với lứa tuổi và hứng thú của học sinh
- Hoạt động vui chơi và giải trí:
Thể dục giữa giờ chống mệt mỏi
Tập và chơi thể thao: có thể thành lập các đội thể thao theo lớp hoặc khối lớp, trường như bóng đá, bóng bàn, điền kinh, cờ quốc tế
Các trò vui chơi giải trí như các loại trò chơi vận động, trò chơi thể thao, trò chơi trí tuệ xen kẽ trong các tiết sinh hoạt lập thể của lớp, hoặc trong giờ ra chơi, trong các ngày hội
Trang 23Tổ chức ngày hội vui khỏe, biểu diễn, thi đấu
- Hoạt động tiếp cận khoa học (tự nhiên, xã hội, kĩ thuật và hướng nghiệp): Các trò chơi hỏi - đáp tìm hiểu về xã hội, khoa học theo các chuyên đề (toán,
lí, hoá, sinh vật thiên văn )
Sưu tầm, tìm hiểu về các danh nhân, nhà bác học, những tấm gương ham học, say mê phát minh, sáng chế
Tham gia sinh hoạt câu lạc bộ “Những người ham hiểu biết" (theo các lĩnh vực hứng thú và hợp năng khiếu)
Tham quan các cơ sở sản xuất - các công trình khoa học; xem triển lãm về thành tựu kinh tế, kĩ thuật
Thi làm đồ dùng học tập, dụng cụ trực quan (thi khéo tay, kĩ thuật, trưng bày )
- Hoạt động lao động công ích:
Trực nhật, vệ sinh lớp học, sân trường và các khu vực của nhà trường
Trang trí lớp học
Trồng cây, làm bồn hoa, cây cảnh cho đẹp trường, đẹp lớp
Tham gia lao động trong các công trình công cộng của nhà trường
Chương trình hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường trung học cơ sở bao gồm 8 chủ điểm giáo dục trong năm học và 1 chủ điểm hoạt động hè Đó là các chủ điểm:
Tháng 9: Truyền thống nhà trường
Tháng 10: Chăm ngoan học giỏi
Tháng 11: Tôn sư trọng đạo
Tháng 12: Uống nước nhớ nguồn
Tháng 1,2: Mừng Đảng mừng xuân
Trang 24Tháng 3: Tiến bước lên Đoàn
1.2.4.2 Hình thức tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường phổ thông rất đa dạng và phong phú, song do những yêu cầu thực tiễn mà hoạt động này được thực hiện chủ yếu thông qua 3 hình thức tổ chức cơ bản (đã được qui định và dành thời gian trong kế hoạch dạy học) sau đây:
- Tiết chào cờ đầu tuần;
- Tiết hoạt động ngoài giờ lên lớp hàng tuần, tiết hoạt động tập thể lớp cuối tuần;
- Hoạt động giáo dục theo chủ điểm hàng tháng
1.2.5 Qui trình tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Theo GS Đặng Vũ Hoạt, Qui trình chung tổ chức một hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh (qui mô lớp hoặc qui mô trường) nên tiến hành theo các bước sau:
- Bước 1: Đặt tên chủ đề hoạt động và xác định các yêu cầu giáo dục cần phải đạt được
+ Trước hết, các nhà giáo dục cần xác định chủ đề của hoạt động, vì chủ đề chứa đựng nội dung hoạt động và định hướng cho việc lựa chọn hình thức hoạt động phù hợp với lứa tuổi và điều kiện cụ thể của nhà trường
+ Sau khi lựa chọn chủ đề, cần xác định rõ mục tiêu giáo dục để chỉ đạo triển khai hoạt động đúng hướng và có hiệu quả Việc xác định mục tiêu hoạt
Trang 25động phải căn cứ vào các nhiệm vụ của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, chú
ý vào 3 yêu cầu giáo dục:
1) Yêu cầu giáo dục về nhận thức: hoạt động sẽ cung cấp cho học sinh những hiểu biết, những thông tin gì? củng cố hoặc nâng cao những hiểu biết gì cho học sinh?
2) Yêu cầu giáo dục về thái độ: qua hoạt động sẽ giáo dục học sinh về mặt
tình cảm, thái độ gì ? (yêu ghét, hứng thú, tích cực…)
3) Yêu cầu giáo dục về kĩ năng: qua hoạt động sẽ hình thành ở học sinh những kĩ năng gì? (kĩ năng giao tiếp, ứng xử; kĩ năng tự phục vụ; kĩ năng tự quản…)
- Bước 2: Chuẩn bị cho hoạt động
Sau khi đã xác định chủ đề và mục tiêu hoạt động, hiệu quả của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp phụ thuộc phần lớn vào việc chuẩn bị cho hoạt động, cụ thể là:
+ Vạch kế hoạch bao gồm: dự kiến thời gian chuẩn bị, thời gian tiến hành hoạt động; dự kiến nội dung và hình thức hoạt động; dự kiến những điều kiện về kinh phí, phương tiện hoạt động và cơ sở vât chất cho hoạt động;
+ Dự kiến những công việc phải chuẩn bị và phân công lực lượng tham gia chuẩn bị Lực lượng tham gia chuẩn bị chủ yếu là học sinh; nhưng trong nhiều hoạt động cần có sự tham gia chuẩn bị của giáo viên bộ môn, cha mẹ học sinh, đoàn – đội, các lực lượng ngoài xã hội …;
+ Xây dựng chương trình thực hiện hoạt động;
+ Bồi dưỡng đội ngũ cốt cán học sinh về kĩ năng tự quản, kĩ năng điều khiển hoạt động …;
+ Đôn đốc, kiểm tra việc chuẩn bị
Trang 26Trong quá trình chuẩn bị hoạt động, nhà giáo dục phải khuyến khích và lôi cuốn học sinh tham gia vào các công việc chuẩn bị, để học sinh là chủ thể tích cực hoạt động
- Bước 3: Tiến hành hoạt động
Ở bước này, học sinh sẽ điều khiển hoạt động theo chương trình đã được xây dựng từ trước Nhà giáo dục tham gia như một đại biểu và chỉ xuất hiện khi thật cần thiết để giúp học sinh giải quyết những tình huống bất ngờ trong quá trình hoạt động
- Bước 4: Đánh giá kết quả hoạt động và tổ chức rút kinh nghiệm
Việc đánh giá kết quả hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp có liên quan tới kết quả giáo dục toàn diện của nhà trường, của lớp; vì vậy, cần phải tổ chức đánh giá kết quả từng hoạt động cũng như đánh giá sau một thời kì (học kì, năm học) để
từ đó rút kinh nghiệm cho việc tổ chức các hoạt động tiếp theo
1.3 Huy động cộng đồng trong Giáo dục
1.3.1 Cộng đồng
* Khái niệm:
Theo Phạm Hồng Trung - Đại học Quốc gia Hà Nội (Thông tin Khoa học xã hội, số 12.2009) “Cộng đồng” là một khái niệm đã và đang được sử dụng khá rộng rãi trên văn đàn khoa học, trong nhiều lĩnh vực như sử học, văn hóa học, xã hội học, tâm lý học, triết học, nhân học, sinh học, nghiên cứu phát triển v.v…Vì vậy, một yêu cầu khách quan đặt ra là phải có những cách định nghĩa về khái niêm “cộng đồng” để xây dựng được một định nghĩa vừa đảm bảo tính chặt chẽ, khoa học, vừa
có tính công cụ hay tính “thao tác luận” (functionalist) cao, làm cơ sở và là công cụ cho những nghiên cứu về cộng đồng và các vấn đề có liên quan đến cộng đồng Đây là một vấn đề đã được bàn thảo khá nhiều ở nước ngoài, song còn chưa được quan tâm thỏa đáng ở Việt Nam Thuật ngữ “cộng đồng” vốn bắt nguồn từ gốc
Trang 27tiếng Latin là “cummunitas”, với nghĩa là toàn bộ tín đồ của một tôn giáo hay toàn
bộ những người đi theo một thủ lĩnh nào đó Một số quan điểm cho rằng:
- Cộng đồng phải là tập hợp của một số đông người;
- Mỗi cộng đồng phải có một bản sắc bản thể riêng;
- Các thành viên của cộng đồng phải tự cảm thấy có sự gắn kết với cộng đồng và với thành viên khác của cộng đồng;
- Có thể có nhiều yếu tố tạo nên bản sắc và sức bền gắn kết cộng đồng, nhưng quan trọng nhất chính là sự thống nhất về ý chí và chia sẻ về tình cảm, tạo nên ý thức cộng đồng;
- Mỗi cộng đồng đều có những tiêu chí bên ngoài để nhận biết về cộng đồng và có những quy tắc chế định hoạt động và ứng xử chung của cộng đồng;
Trên cơ sở những nội hàm như trên, có thể đi đến một định nghĩa chung nhất như sau về “cộng đồng”: Cộng đồng là tập hợp người có sức bền cố kết nội tại cao, với những tiêu chí nhận biết và quy tắc hoạt động, ứng xử chung dựa trên sự đồng thuận về ý chí, tình cảm, niềm tin và ý thức cộng đồng, nhờ đó các thành viên của cộng đồng cảm thấy có sự cố gắn kết họ với cộng đồng và với các thành viên khác của cộng đồng [Võ Tấn Quang (2001), Xã hội hóa giáo dục, Viện Khoa học Giáo dục, Hà Nội.]
* Nguyên tắc phát triển cộng đồng
- Phát triển cộng đồng phải xuất phát từ nhu cầu đích thực của người dân Không phải tác nhân bên ngoài, không phải là sự “nhập khẩu cách mạng” làm nên sự thành công của phát triển cộng đồng Sự khởi xướng phát triển cộng đồng phải xuất phát từ yếu tố “nội tại”, từ chính nhu cầu của người dân
- Sự tham gia và quyền tự quyết của người dân Nhu cầu muốn thay đổi khi đã được đông đảo người dân nhận thức, được giác ngộ một cách rộng rãi trong các tầng lớp nhân dân thì nó sẽ trở thành động lực để người dân đoàn kết lại, tổ
Trang 28chức lại, cùng chung lưng đấu cật, cùng hành động Trong quá trình tổ chức lại, thành lập các nhóm, các tổ chức đại diện của mình sẽ là một nhu cầu thực tế Mỗi
tổ chức, mỗi nhóm phải khuyến khích người dân tham gia đầy đủ vào các hoạt động Người lãnh đạo, người tác viên cộng đồng chỉ hành động trên cơ sở ý kiến của người dân Giống như khi làm việc với cá nhân và nhóm, ở đây tác viên cộng đồng luôn khích lệ và tạo điều kiện để người dân tham gia vào các hoạt động Người dân phải được tham gia cùng làm, kết hợp với các tổ chức nguồn lực bên ngoài để giải quyết vấn đề của chính họ Trong các cuộc họp, tác viên cộng đồng chỉ là người điều phối còn người dân mới là người đưa ra các quyết định cuối cùng cho các vấn đề của họ
- Tin vào khả năng của người dân Khi người dân đã có động lực, khi người dân đã được huy động, họ sẽ tìm thấy sức mạnh tinh thần và sức mạnh vật chất cần thiết để hành động Khả năng của người dân ở đây là khả năng suy tính cho phù hợp với hoàn cảnh, khả năng đống góp kinh nghiệm, cả khả năng nguồn lực Khả năng ở đây không phải là khả năng của một hai cá nhân, cá thể mà là của
cả một tập thể, một cộng đồng, đó là sức mạnh rất lớn Thực hiện nguyên tác này, tác viên cộng đồng hay những người lãnh đạo cộng đồng phải biết phát huy cao độ sức mạnh “dời non, lấp biển”, sức mạnh “một cây làm chẳng lên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao” Những thành công công nhỏ là niềm khuyến khích lớn để người dân tiếp tục đi lên Không nên làm thay, làm hộ mà cùng sống, cùng làm với người dân và khuyến khích họ một cách kịp thời
- Phát huy nội lực
+ Nguồn nhân lực của cộng đồng bao gồm gia đình và gia phong, đạo đức, luân lý gia đình, dòng họ, phong cách sống lành mạnh, kinh nghiệm giáo dục con cháu trong gia đình, dòng họ cộng đồng; Truyền thống văn hóa, tương thân, tương ái; kỹ năng chuyên môn, nghề nghiệp, tổ chức công ăn việc làm, nghề truyền thống, khả năng kinh doanh, buôn bán… Kỹ năng lập kế hoạch, lãnh đạo, quản lý… Các chính sách về nguồn nhân lực, luật Lao động, các chính sách của nhà nước liên
Trang 29quan đến chăm sóc y tế, giáo dục, an sinh xã hội… liên quan đến con người và quyền con người Những tổ chức đã có trong cộng đồng
+ Nguồn lực tự nhiên: gồm có đất đai, rừng núi, nguồn nước, nguồn không khí và nhiều sản vật trên mặt đất và trong long đất: cây cối, song suối, ao hồ…, thực vật và động vật nuôi dưỡng và động vật sinh vật tự nhiên
+ Nguồn lực tài chính: ngân sách địa phương; các khoản thu từ hoạt động kinh tế của cộng đồng, các quỹ vay vốn quay vòng, quỹ của các tổ chức trong cộng đồng; các khoản vay cần thiết từ ngân hang; kinh phí xin từ các chương trình dự án của nhà nước và của các tổ chức khác; các khoản đầu tư sinh lời; hệ thống chính sách tài chính quốc gia mà cộng đồng có thể tiếp cận được
+ Nguồn cơ sở hạ tầng hiện có của cộng đồng: Hệ thống đường xá, trường học, cơ sở y tế, hệ thống thông tin liên lạc; bưu điện, đường dây điện thoại, hệ thống cung cấp, truyền tải điện; trạm phát điện, trạm biến thế, hệ thống dây dẫn…
Hệ thống thương mại buôn bán; chợ, cửa hang, cửa hiệu
1.3.2 Bản chất của huy động cộng đồng trong giáo dục
- Huy động cộng đồng là quá trình huy động các cá nhân và tập thể (không phân biệt giai tầng, ý thức hệ, khoảng cách địa lí …) bằng nhiều giải pháp và cách thức khác nhau, để thu hút và kéo các nguồn lực xã hội ấy
về với giáo dục, đồng thời thúc đẩy phát triển của sự nghiệp Giáo dục & Đào tạo ở từng cơ sở và từng địa phương nhằm thực hiện được mục tiêu xã hội hoá giáo dục Huy động sự tham gia của cộng đồng trong tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh THCS chính là huy động các nguồn lực từ cộng đồng để nâng cao chất lượng giáo dục THCS
- Bản chất của huy động cộng đồng là quá trình xã hội hóa giáo dục sâu sắc
Xã hội hóa là xây dựng cộng đồng trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân đối với việc tạo lập và cải thiện môi trường kinh tế, xã hội lành mạnh và thuận lợi cho
Trang 30các hoạt động giáo dục Xã hội hóa là mở rộng các nguồn đầu tư, khai thác tiềm năng về nhân lực, vật lực và tài lực trong xã hội
Xã hội hóa sự nghiệp Giáo dục: Là huy động toàn bộ xã hội làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân dưới sự quản lý của nhà nước Trong điều kiện đang đổi mới kinh tế - xã hội ở Việt Nam hiện nay, cần đẩy mạnh xã hội hóa sự nghiệp Giáo dục với nghĩa là tăng cường huy động cộng đồng tham gia vào quá trình giáo dục của nhà trường và nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục nhà trường
1.3.3 Các văn bản pháp quy về huy động cộng đồng
Điều 26, luật Giáo dục (sửa đổi năm 2009) nêu:
Chủ trương của Đảng, Nhà nước về huy động nguồn lực của cộng đồng xã hội trong phát triển giáo dục và đổi mới giáo dục
Chủ trương của Đảng, Nhà nước về huy động nguồn lực trong phát triển giáo dục
Đảng và Nhà nước đã thường xuyên có những chính sách và giải pháp để thúc đẩy sự phát triển của giáo dục của nước nhà
Khi bàn về công tác giáo dục, Hồ Chủ tịch đã dạy: “Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng, cần phải phát huy đầy đủ dân chủ xã hội chủ nghĩa, xây dựng quan
hệ thật tốt, đoàn kết thật chặt chẽ giữa thầy với thầy, giữa trò với trò, giữa học trò với nhau, giữa cán bộ các cấp, giữa nhà trường với nhân dân để hoàn thành nhiệm vụ…”[Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam: Kế hoạch hành động quốc gia giáo dục cho mọi người (2003-2015)]
Hiến pháp của nước ta coi “Giáo dục & Đào tạo là quốc sách hang đầu”;
“mục tiêu của giáo dục là hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân” (Điều 35); “học tập là quyền và nghĩa vụ của công dân” (Điều 59) Chính phủ cũng đã ban hành Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP ngày 18/4/2005 về đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục, y tế, văn hóa và thể dục thể thao và nghị định số 53/2006/NĐ-CP ngày 25/5/2006 về chính sách khuyến khích phát triển các
Trang 31cơ sở cung ứng dịch vụ ngoài công lập đã từng bước hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật, cơ chế chính sách về khuyến khích và phát triển các cơ sở cung ứng dịch
vụ ngoài công lập [Luật Giáo dục ngày 14 tháng 6 năm 2005; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục ngày 25 tháng 11 năm 2009]
Nghị quyết số 04-NQ/HNTW ngày 14/01/1993 Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII về tiếp tục đổi mới sự nghiệp Giáo dục & Đào tạo
đã ghi: “Huy động các nguồn đầu tư trong nhân dân, viện trợ của các tổ chức quốc
tế, kể cả vay vốn của nước ngoài để phát triển giáo dục” [Chính phủ (1999) Nghị định số 73/1999/NĐ-CP ngày 18/9/1999 về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao.]
Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII khảng định: “Huy động toàn
xã hội làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân đóng góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sự quản lý của Nhà nước” [Chính phủ (2005): Nghị định số 05/2005/NĐ-CP ngày 18/4/2005 về đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa và thể dục, thể thao.]
Đại hội XI (2011) xác định rõ những giải pháp trực tiếp cho chiến lược phát triển nguồn nhân lực, đó là: “Đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ và hội nhập quốc tế” [Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013
về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.]
1.3.4 Đặc điểm của huy động cộng đồng
Một cách tổng quát nhất có thể hiểu huy động cộng đồng là một cách thực hiện xã hội hoá sự nghiệp Giáo dục và nó có những đặc điểm cơ bản như sau:
- Sức mạnh tổng hợp của các ngành có liên quan đến giáo dục được huy động vào việc phát triển sự nghiệp giáo dục
Trang 32- Các lực lượng xã hội của cộng đồng được huy động tham gia vào công tác giáo dục
- Các lực lượng xã hội được huy động vào đa dạng hoá các hình thức giáo dục và các loại hình nhà trường
- Mở rộng các nguồn đầu tư, khai thác tiềm năng về nhân lực, vật lực, tài lực trong xã hội, phát huy và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của nhân dân, tạo điều kiện cho giáo dục phát triển
- Có sự lãnh đạo trực tiếp, thường xuyên của Đảng, sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước và vai trò chủ động, nòng cốt của ngành giáo dục Đây là điều kiện tiên quyết để thực hiện thành công việc huy động cộng đồng và cũng là đặc điểm riêng của xã hội hoá sự nghiệp Giáo dục của nước ta
1.3.5 Nội dung huy động cộng đồng
Nội dung chính của huy động cộng đồng là để tạo ra các nguồn lực phục vụ việc xây dựng một môi trường giáo dục tốt nhất, chăm lo sự nghiệp giáo dục.Cũng
có cách phân loại nguồn lực thành 2 nhóm:
- Nguồn lực vật chất bao gồm: Tài lực, Vật lực, Nhân lực (lao động chân
tay), đất đai, trường sở, trang thiết bị phục vụ giảng dạy và học tập
- Nguồn lực phi vật chất bao gồm: Việc tạo ra môi trường giáo dục thống nhất, các yếu tố tinh thần, sự ủng hộ chủ trương giáo dục, sự tư vấn, trao đổi thông tin, kinh nghiệm, sự vận động người khác ủng hộ, ý thức trách nhiệm đối với việc tham gia vào các hoạt động giáo dục và quản lý giáo dục
Huy động cộng đồng cần được tiến hành với 5 chiến lược sau đây: Cộng đồng hoá giáo dục; Cộng đồng hoá trách nhiệm; Đa dạng hoá loại hình giáo dục với
sự tham gia của cộng đồng; Đa phương hoá nguồn lực với sự đóng góp của cộng đồng; Thể chế hoá sự tham gia của cộng động trong giáo dục
Trang 331.4 Huy động sự tham gia của cộng đồng trong tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh THCS
1.4.1 Khái niệm
Giáo dục xuất hiện cùng với đời sống xã hội của loài người Trong quá trình phát triển của xã hội, giáo dục là yếu tố cơ bản, quan trọng nhất, là hạt nhân của mọi sự phát triển Sự tồn tại của giáo dục luôn chịu sự chi phối của trình độ phát
triển kinh tế xã hội và ngược lại
Huy động sự tham gia của cộng đồng là xây dựng cộng đồng trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân đối với việc tạo lập và cải thiện môi trường kinh tế, xã hội lành mạnh và thuận lợi cho các hoạt động giáo dục Huy động cộng đồng là mở rộng các nguồn đầu tư, khai thác tiềm năng về nhân lực, vật lực và tài lực trong xã hội
Huy động sự tham gia của cộng đồng trong tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh THCS: Là huy động toàn bộ xã hội làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân dưới sự quản lý của nhà nước Trong điều kiện đang đổi mới kinh tế - xã hội ở Việt Nam hiện nay, cần đẩy mạnh xã hội hóa sự nghiệp Giáo dục với nghĩa là tăng cường huy động cộng đồng vào quá trình dạy học và giáo dục của nhà trường nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục nhà trường
1.4.2 Mục đích, ý nghĩa của huy động sự tham gia của cộng đồng trong tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh THCS
Để đảm bảo mối quan hệ cân bằng động giữa Giáo dục & Đào và Kinh tế xã hội, Giáo dục & Đào tạo phải là một hệ tự điều chỉnh, phải tự nâng mình lên để đáp ứng những yêu cầu đòi hỏi phát triển Kinh tế xã hội Thế nhưng, thực trạng Giáo dục & Đào tạo nước ta những năm vừa qua cho thấy tự nó không thể điều chỉnh, tự nâng mình lên được vì quá yếu kém Cơ sở vật chất xuống cấp và lạc hậu, động lực của người dạy cũng như người học giảm sút, sự phát triển của giáo dục về cả số
Trang 34lượng và chất lượng đều chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển Kinh tế xã hội của đất nước Để phát triển sự nghiệp Giáo dục & Đào tạo, chúng ta cần tiến hành huy động sự tham gia của cộng đồng
1.4.3 Nội dung của huy sự tham gia củacộng đồng trong tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh THCS
Thứ nhất, huy động toàn xã hội tham gia thực hiện mục tiêu, nội dung giáo dục phổ thông tạo sự đồng thuận về nhận thức, tư tưởng, hành động của gia đình, cộng đồng dân cư; các tổ chức chính trị - xã hội, các đoàn thể quần chúng, các tổ chức xã hội trong và ngoài nước đối với sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ nói chung và trong hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp nói riêng
Thứ hai, nâng cao ý thức trách nhiệm và sự tham gia của toàn dân đối với giáo dục, vận động toàn dân chăm sóc thế hệ trẻ, phối hợp chặt chẽ giữa giáo dục trong và ngoài nhà trường với giáo dục ngoài xã hội, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, an toàn Xây dựng môi trường tốt nhất cho giáo dục phổ thông Môi trường đó bao gồm: gia đình, nhà trường và xã hội Ba môi trường này kết hợp hài hòa sẽ có tác động tốt nhất làm cho trẻ được quan tâm giáo dục ở mọi nơi, mọi lúc, chất lượng cuộc sống của tre sẽ được nâng cao hơn về thể lực, trí tuệ và nhân các, chuẩn bị cho các em bước vào học nghề
Môi trường gia đình: Cha mẹ hoặc người giám hộ có trách nhiệm nuôi
dưỡng, giáo dục chăm sóc, tạo điều kiện cho con em hoặc người được giám hộ được học tập, rèn luyện, tham gia các hoạt động của nhà trường Mọi người trong gia đình có trách nhiệm xây dựng gia đình văn hóa, tạo môi trường thuận lợi cho việc phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ của con em; người lớn tuổi có trách nhiệm giáo dục, làm gương cho con em, cùng nhà trường nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục
Môi trường nhà trường: Môi trường Nhà trường hết sức quan trọng, nhà
trường giữ vai trò chủ đạo trong việc phối hợp với gia đình và xã hội, tạo môi
Trang 35trường giáo dục, cung cấp kiến thức, kỹ năng và hình thành nhân cách Nhà trường
có trách nhiệm chủ động phối hợp với gia đình và xã hội để thực hiện mục tiêu, nguyên lý giáo dục
Môi trường xã hội: Môi trường xã hội ảnh hưởng rất lớn tới môi trường giáo
dục Sự kết hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội có tầm quan trọng đặc biệt đối với giáo dục phổ thông Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức nghề nghiệp, tổ chức kinh tế đơn vị vũ trang nhân dân và công dân
có trách nhiệm giúp nhà trường tổ chức các hoạt động giáo dục và nghiên cứu khoa học; tạo điều kiện cho nhà giáo và người học tham quan, thực tập, nghiên cứu khoa học; góp phần xây dựng phong trào học tập và môi trường giáo dục lành mạnh, an toàn, nhăn chặn những hoạt động có ảnh hưởng xấu đến thanh niên, thiếu niên và nhi đồng; tạo điều kiện để người học được vui chơi, hoạt động văn hóa, thể dục, thể thao lành mạnh; hỗ trợ về tài lực, vật lực cho sự nghiệp phát triển giáo dục theo khả năng của mình Ủy ban MTTQ Việt Nam, các tổ chức thành viên của MTTQ có trách nhiệm động viên toàn dân chăm lo cho sự nghiệp giáo dục Đoàn TNCS Hồ Chí Minh có trách nhiệm phối hợp với nhà trường giáo dục thanh niên, thiếu niên
và nhi đồng; vận động đoàn viên, thanh niên gương mẫu trong học tập, rèn luyện và tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục
Thứ ba, đa dạng hóa và đa phương hóa các nguồn huy động sự tham gia của cộng đồng trong tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp: Huy động các nguồn lực của cộng đồng xã hội để nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sự quản lý của nhà nước Đó là việc lôi cuốn, thu hút khích lệ toàn xã hội và mọi tầng lớp nhân dân tham gia giáo dục Các lực lượng xã hội tham gia vào giáo dục ở nhiều nội dung, nhiều lĩnh vực, nhiều hình thức phong phú đa dạng trong đó chú trọng hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Trang 36Như vậy, đa dạng hóa các nguồn lực đầu tư cho giáo dục, trong đó có tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp được thực hiện trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội với 3 nguồn lực chính: nhân lực, vật lực và tài lực
Đa phương hóa các nguồn lực đầu tư cho giáo dục đồng nghĩa với việc huy động sự tham gia của toàn dân đối với sự nghiệp giáo dục nhằm tập hợp được sức mạnh của cộng đồng, phát huy được những năng lực vốn có của từng thành viên trong cộng đồng để tạo môi trường đồng thuận vào sự nghiệp giáo dục
Việc đa dạng hóa và đa phương hóa các nguồn lực đầu tư cho giáo dục chính
là để phục vụ chủ trương đa dạng hóa mục tiêu đào tạo, đáp ứng nhu cầu sử dụng của nề kinh tế thị trường nói riêng và đời sống xã hội nói chung
Thứ tư, tiếp tục cụ thể hóa, thể chế hóa chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về huy động cộng đồng tham gia vào hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh Thể chế hóa chủ trương đối với hoạt động giáo dục vừa là nội dung, vừa là điều kiện, biện pháp thực hiện huy động các nguồn lực của cộng đồng cho giáo dục Để huy động các nguồn lực của cộng đồng xã hội cho giáo dục được thực hiện đúng hướng, đúng ý nghĩa và có tổ chức, cần phải thể chế hóa trách nhiệm, quyền lợi của các lực lượng xã hội, của nhân dân trong tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh THCS Đây cũng chính là việc cần thiết để thể hiện sự lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ, thể hiện tính định hướng, tính mục đích đối với sự tham gia của nhân dân vào sự nghiệp giáo dục, đồng thời
là cơ sở để tránh khuynh hướng sai lệch trong hoạt động huy động các nguồn lực của cộng đồng Do vậy, Nhà nước phải xây dựng và không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật đầy đủ, minh bạch để đảm bảo trách nhiệm quyền lợi tính công bằng dân chủ và công khai trong huy động sự tham gia của cộng đồng trong tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh THCS
1.4.4 Huy động các nguồn lực trong tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh THCS
Trang 37Nguồn lực là tổng thể vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên, hệ thống tài sản quốc gia, hệ thống chính trị, nguồn nhân lực, vốn và thị trường ở cả trong và nước ngoài có thể được khai thác nhằm phục vụ cho việc phát triển kinh tế của một vùng lãnh thổ nhất định
Nguồn lực được hiểu là tất cả những yếu tố và phương tiện mà hệ thống có quyền chi phối, điều khiển, sử dụng để thực hiện mục tiêu của mình Đối với hệ thống kinh tế xã hội có thể chia các nguồn lực ra các bộ phận khác nhau như nguồn nhân lực (con người), nguồn tài lực (nguồn tài chính), và nguồn vật lực (nguồn cơ
sở vật chất), thông tin vv…
Trong giáo dục, nguồn lực bao gồm: Nhân lực (cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên, các lực lượng xã hội tham gia công tác giáo dục); vật lực (cơ sở vật chất trang thiết bị kỹ thuật cho trường học…) và tài lực (nguồn lực ngân sách, nguồn hỗ trợ ngoài ngân sách trong nhà trường…) Ngoài ra còn có các nguồn lực khác không kém phần quan trọng như thông tin, văn hoá nhà trường… Theo đó, đề cập đến vấn
đề huy động sự tham gia của cộng đồng trong tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh THCS là đề cập đến các khía cạnh: Huy động nguồn nhân lực,
cơ sở vật chất, huy động nguồn tài chính…; trong các nguồn lực thì “nguồn nhân lực” là quan trọng nhất, đóng vai trò quyết định trong việc huy động sự tham gia của cộng đồng trong tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh THCS
1.4.5 Hình thức và biện pháp huy động cộng đồng
Hình thức huy động sự tham gia đóng góp các nguồn lực cho nhà trường được huy động dưới 2 hình thức chủ yếu:
- Đầu tư cơ bản bằng vật chất:
+ Đất, nhà làm trường học, lớp học, nhà ở cho giáo viên;
+ Tiền mặt hoặc vật liệu cho xây dựng;
+ Tiền mặt hoặc trang thiết bị, tài liệu, sách vở, phương tiện đồ dùng dạy ;
Trang 38+ Đóng góp tiền để chi lương cho giáo viên, công nhân viên trong nhà trường; + Góp tiền để tổ chức các hoạt động giáo dục của nhà trường, như tổ chức các hoạt động chuyên đề, tổ chức các hội thi, tổ chức các ngày hội, ngày lễ ; + Góp tiền xây dựng các quĩ hỗ trợ giáo dục, chăm lo đời sống giáo viên
- Đóng góp bằng sức lao động dịch vụ và chuyên môn:
+ Góp sức lao động trực tiếp trong xây dựng, bảo quản tu sửa trường lớp; + Góp sức lao động trực tiếp về y tế, chăm sóc sức khoẻ cho học sinh;
+ Tham gia trực tiếp vào việc đóng góp ý kiến xây dựng nhà trường như: xây dựng kế hoạch, nội dung chương trình, phương pháp giáo dục, quản lý, đánh giá kết quả giáo dục của nhà trường;
+ Giúp đỡ nhà trường trong việc tổ chức các hoạt động giáo dục nội và ngoại khóa ;
+ Mở các lớp Trung tâm giáo dục cộng đồng các xã, các lớp học tình thương, lớp học linh hoạt cho trẻ mồ côi, trẻ khuyết tật, trẻ lang thang đường phố, tạo điều kiện tốt nhất cho các em;
+ Tham gia xây dựng môi trường giáo dục toàn diện: Gia đình- Nhà trường-
Xã hội
1.4.6 Phương tiện huy động cộng đồng
Phương tiện huy động cộng đồng đó là hệ thống những nguyên tắc có thể gợi ý làm cơ sở cho việc huy động và khuyến khích các lực lượng xã hội, đồng thời làm cơ sở cho việc tổ chức tham gia của họ bằng một cơ chế hợp lý, đảm bảo tính liên tục và bền vững của sự tham gia của cộng đồng
Các Trường Trung học cơ sở gắn bó với cộng đồng xã Do đó mọi người trong cộng đồng xã quan tâm đến giáo dục, có nhu cầu, nguyện vọng lợi ích muốn chia sẻ trách nhiệm với Trường Trung học cơ sở đều là đối tượng huy động của Trường Trung học cơ sở Gồm các đối tượng và các nhóm đối tượng đó là:
Trang 39- Lãnh đạo Đảng, Chính quyền ở xã (phường), thôn, xóm, đường phố;
- Gia đình, cha mẹ học sinh, Hội cha mẹ học sinh ;
- Các cơ quan, ban ngành trước hết là các ngành có chức năng, có trách nhiệm đối với trường Trường Trung học cơ sở: như y tế, an ninh trật tự, Ban bảo vệ chăm sóc trẻ em Các tổ chức đoàn thể như Mặt trận tổ quốc, Hội Cựu chiến binh, Hội làm vườn và các tổ chức tôn giáo, tổ chức từ thiện
- Các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ, đơn vị quân đội, công
Trong trường hợp cụ thể là tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh THCS, chủ thể của huy động cộng đồng là nhà trường nói chung và đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý nhà trường nói riêng
1.4.7 Kết quả của huy động cộng đồng
Mỗi hoạt động hợp tác phối hợp đều phải đem lại kết quả của hoạt động đó Kết quả này với tư cách là tác nhân kích thích và điều chỉnh quá trình huy động sự hợp tác phối hợp của các đối tác của cộng đồng vào hoạt động giáo dục đang tiến hành và đồng thời cũng là xuất phát điểm của quá trình huy động cộng đồng tham gia phối hợp vào hoạt động giáo dục mới Kết quả huy động sự tham gia của cộng đồng vào các chương trình hay hoạt động giáo dục phải được theo dõi đánh giá thường xuyên, bởi lẽ kết quả này như một nỗ lực hợp tác phối hợp giữa nhà trường
Trang 40và cộng đồng Nếu không có sự theo dõi và đánh giá thường xuyên thì sẽ không duy trì được chương trình hay các hoạt động tiếp theo
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến huy động sự tham gia của cộng đồng trong tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh THCS
* Môi trường kinh tế - xã hội
Môi trường kinh tế - xã hội ảnh hưởng tới việc huy động sự tham gia của cộng đồng trong tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh THCS thể hiện ở chỗ:
Môi trường xã hội ổn định, kinh tế phát triển, thu nhập dân cư cao, đời sống người dân ngày càng đi lên sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc huy động sự tham gia của cộng đồng trong tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh THCS Các tổ chức, cá nhân có điều kiện để đóng góp nguồn lực con người vật chất, tài chính cho việc tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh THCS
Ngược lại, môi trường xã hội không ổn định, kinh tế kém phát triển thì việc huy động sự tham gia của cộng đồng trong tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh THCS là rất khó khăn Các tổ chức, cá nhân không yên tâm đầu tư vào Giáo dục hoặc bản thân họ cũng không nhận thức đầy đủ, không có điều kiện về kinh tế để đóng góp, đầu tư cho giáo dục Những điều kiện xã hội khác như: thành thị, nông thôn, dân tộc, các vấn đề giới cũng có ảnh hưởng nhất định đến việc huy động sự tham gia của cộng đồng trong tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh THCS
* Chủ trương, chính sách của Nhà nước, của địa phương
Các chủ trương, chính sách của Nhà nước hay mỗi địa phương (theo đặc thù từng địa phương) có ý nghĩa là tiền đề cho việc huy động sự tham gia của cộng