Xuất phát từ những yêu cầu nói trên, tôi chọn đề tài "Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho đoàn viên thanh niên Thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên dựa vào cộng đồng" để nghiên cứu với mon
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
NGUYỄN THAO GIANG
GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
CHO ĐOÀN VIÊN, THANH NIÊN THÀNH PHỐ TUY HÒA,
TỈNH PHÚ YÊN DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
NGUYỄN THAO GIANG
GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
CHO ĐOÀN VIÊN, THANH NIÊN THÀNH PHỐ TUY HÒA,
TỈNH PHÚ YÊN DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG
Chuyên ngành: Giáo dục và phát triển cộng đồng
Mã số: Thí điểm
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS Hoàng Thị Nho
Trang 3DANH MỤC VIẾT TẮT
1 Bộ Tài nguyên & Môi trường TN&MT
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tôi Các
số liệu khảo sát là khách quan, do bản thân trực tiếp thực hiện Kết quả nghiên cứu này không trùng với bất cứ công trình nào đã được công bố trước đó
Tôi chịu trách nhiệm với lời cam đoan của mình
Hà Nội, tháng 6 năm 2017
Tác giả Luận văn
Nguyễn Thao Giang
Trang 5Trân trọng cảm ơn Ban Thường vụ Thành Đoàn Tuy Hòa, Ban Chấp hành các Đoàn trực thuộc Thành Đoàn Tuy Hòa và các bạn đoàn viên, thanh niên trên địa bàn thành phố đã hỗ trợ, giúp đỡ để tác giả hoàn thành công trình nghiên cứu khoa học
Xin được bày tỏ lòng tri ân đến gia đình, người thân và bạn bè đã động viên, chia sẻ, khích lệ tác giả trong suốt thời gian học tập và hoàn thành Luận văn
Hà Nội, tháng 6 năm 2017
Tác giả Luận văn
Nguyễn Thao Giang
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 4
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6 Phạm vi nghiên cứu 4
7 Phương pháp nghiên cứu của đề tài 5
8 Những đóng góp của đề tài 6
9 Cấu trúc luận văn 6
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO ĐOÀN VIÊN, THANH NIÊN DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG 7
1.1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 7
1.1.1 Tác động của ô nhiễm môi trường 7
1.1.2 Phát triển bền vững 15
1.1.3 Vai trò cộng đồng trong công tác bảo vệ môi trường và phát triển bền vững 16
1.2 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN CỦA ĐỀ TÀI 19
1.2.1 Khái niệm ý thức 19
1.2.2 Khái niệm môi trường 20
1.2.3 Khái niệm ô nhiễm môi trường 22
1.2.4 Khái niệm bảo vệ môi trường 23
1.2.5 Khái niệm thanh niên 23
1.2.6 Khái niệm tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh 25
1.2.7 Khái niệm đoàn viên Đoàn TNCS Hồ Chí Minh 26
Trang 71.2.8 Khái niệm cộng đồng 26 1.3 GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO ĐOÀN VIÊN THANH NIÊN 28 1.3.1 Mục tiêu giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho đoàn viên thanh niên 28 1.3.2 Nội dung giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho đoàn viên thanh niên 30 1.3.3 Phương pháp giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho đoàn viên thanh niên 30 1.3.4 Kết quả giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho đoàn viên thanh niên 35 1.4 ĐẶC TRƯNG CỦA GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO ĐOÀN VIÊN THANH NIÊN DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG 36 1.4.1 Chủ thể tham gia vào giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho đoàn viên, thanh niên dựa vào cộng đồng 36 1.4.2 Nguồn lực tham gia vào giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho đoàn viên thanh niên 37 1.4.3 Phối hợp các lực lượng tham gia giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho đoàn viên thanh niên 38 1.4.4 Kết quả giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho đoàn viên thanh niên dựa vào cộng đồng 40 Tiểu kết chương 1: 42 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO ĐOÀN VIÊN THANH NIÊN TẠI THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN 43 2.1 KHÁI QUÁT VỀ TÌNH HÌNH ĐOÀN VIÊN, THANH NIÊN TẠI THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN 43
Trang 82.2 THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG CỦA THÀNH PHỐ TUY HÒA,
TỈNH PHÚ YÊN 44
2.2.1 Vấn đề ô nhiễm môi trường do rác thải 45
2.2.2 Vấn đề ô nhiễm môi trường biển ở Thành phố Tuy Hòa 46
2.2.3 Vấn đề ô nhiễm do hoạt động nông nghiệp 47
2.3 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO ĐOÀN VIÊN, THANH NIÊN TẠI THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN QUA KHẢO SÁT TRONG ĐOÀN VIÊN, THANH NIÊN 50
2.3.1 Giới thiệu về đối tượng khảo sát 50
2.3.2 Nhận thức của đoàn viên, thanh niên về việc bảo vệ môi trường 52
2.3.3 Kết quả nhận biết của đoàn viên, thanh niên về thực trạng môi trường tại địa phương 54
2.3.4 Kết quả đánh giá của đoàn viên, thanh niên về những giải pháp giúp quản lí rác thải tốt hơn 55
2.3.5 Ý kiến đề xuất của đoàn viên, thanh niên về những giải pháp để tăng cường chất lượng môi trường khu vực 57
2.4 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO ĐOÀN VIÊN, THANH NIÊN TẠI THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN QUA KHẢO SÁT TRONG CÁN BỘ ĐOÀN 58
2.4 1 Giới thiệu về đối tượng khảo sát 58
2.4.2 Nhận thức của cán bộ Đoàn thanh niên về bảo vệ môi trường 58
2.4.3 Đánh giá của cán bộ Đoàn về mức độ thực hiện các hoạt động bảo vệ môi trường 61
2.4.4 Đánh giá của cán bộ Đoàn thanh niên về mức độ cần thiết của hình thức tuyên truyền để nâng cao nhận thức thực hiện các hoạt động bảo vệ môi trường 63
Trang 92.4.5 Đánh giá của cán bộ Đoàn về tổ chức thực hiện các hoạt động nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho đoàn viên, thanh niên 65 2.4.6 Đánh giá của cán bộ Đoàn về mức độ khó khăn khi thực hiện các hoạt động nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho đoàn viên, thanh niên 67 2.4.7 Đánh giá của cán bộ Đoàn về mức độ phù hợp của các biện pháp khi tổ chức thực hiện các hoạt động nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho đoàn viên, thanh niên 71 2.5 Đánh giá những thành tựu đạt được và hạn chế trong công tác giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho đoàn viên, thanh niên tại Thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên 74 2.5.1 Thành tựu đạt được 74 2.5.2 Hạn chế 76 2.6 Bài học thực hiện việc nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho đoàn viên, thanh niên tại Thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên 77 Tiểu kết chương 2 78 CHƯƠNG 3: CÁC BIỆN PHÁP GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO ĐOÀN VIÊN THANH NIÊN TẠI THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG 79 3.1 CÁC NGUYÊN TẮC ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP NÂNG CAO Ý THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO ĐOÀN VIÊN THANH NIÊN TẠI TP TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG 79 3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 79 3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ và phù hợp với tình hình địa phương 79 3.1.3 Lựa chọn hoạt động xuất phát từ nhu cầu, mong muốn của cộng đồng 80
Trang 103.1.4 Phối hợp các lực lượng trong cộng đồng và huy động sự tham gia
tối đa của cộng đồng 80
3.2 CÁC BIỆN PHÁP GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO ĐOÀN VIÊN THANH NIÊN TẠI THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN 81
3.2.1 Nhóm biện pháp tuyên truyền 81
3.2.2 Nhóm biện pháp tổ chức các hoạt động giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho đoàn viên, thanh niên thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên dựa vào cộng đồng 84
3.3 KẾT QUẢ THỰC HIỆN MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO ĐOÀN VIÊN, THANH NIÊN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈN PHÚ YÊN DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG 88
3.3.1 Các hoạt động đã được tổ chức 88
3.3.2 Kết quả thực hiện các hoạt động giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho đoàn viên, thanh niên tại thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên 89
Tiểu kết chương 3 94
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
Trang 11DANH MỤC BẢNG
Bảng 1 Thống kê độ tuổi khảo sát trong đoàn viên, thanh niên 50Bảng 2 Thống kê địa chỉ điều tra trong đoàn viên, thanh niên 51Bảng 3 Thống kê địa chỉ sinh sống của đoàn viên, thanh niên 51Bảng 4 Thống kê kết quả đánh giá của đoàn viên, thanh niên về mức độ quan trọng của việc bảo vệ môi trường 52Bảng 5 Đánh giá sự quan tâm của đoàn viên, thanh niên về các hoạt động bảo
vệ môi trường đang diễn ra tại địa phương 53Bảng 6 Đánh giá của đoàn viên, thanh niên về mức độ ảnh hưởng của môi trường đến cộng đồng 54Bảng 7 Tổng hợp độ tuổi và năm công tác của cán bộ Đoàn 58Bảng 8 Đánh giá mức độ cần thiết của hình thức tuyên truyền để nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường cho đoàn viên, thanh niên 63Bảng 9 Đánh giá của cán bộ Đoàn về mức độ khó khăn khi thực hiện các hoạt động nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho đoàn viên, thanh niên tại địa phương 68Bảng 10 Đánh giá của cán bộ Đoàn về mức độ phù hợp của các biện pháp khi
tổ chức thực hiện các hoạt động nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho đoàn viên, thanh niên 71
Trang 12DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biều đồ 1 Về thực trạng nhận biết môi trường của đoàn viên, thanh niên ở địa phương 54Biểu đồ 2 Ý kiến đánh giá của đoàn viên, thanh niên về những giải pháp quản
lí rác thải tốt hơn 55Biểu đồ 3 Đánh giá của cán bộ Đoàn về mức độ ô nhiễm môi trường 59Biểu đồ 4 Đánh giá của cán bộ Đoàn về tầm quan trọng của việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho đoàn viên, thanh niên tại địa phương 60Biểu đồ 5 Đánh giá của cán bộ Đoàn về thực hiện hoạt động bảo vệ môi trường 61Biểu đồ 6 Đánh giá của cán bộ Đoàn về mức độ tổ chức các hoạt động giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho đoàn viên, thanh niên 61Biểu đồ 7 Đánh giá việc tổ chức các hoạt động phong trào nhằm nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho đoàn viên, thanh niên 66
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Môi trường có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự tồn tại và phát triển của đời sống con người, sinh vật và sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước, của dân tộc và nhân loại, sự biển đổi một số thành phần môi trường
sẽ gây tác động đáng kể đối với các hệ sinh thái trong tự nhiên Nếu môi trường sống bị hủy hoại thì loại người có nguy cơ bị hủy diệt, cuộc sống của con người luôn gắn bó mật thiết với môi trường Môi trường tạo không gian sinh sống cho con người, là nơi cung cấp nguồn tài nguyên cần thiết cho sự sống và hoạt động sản xuất của con người, là nơi chứa đựng, hấp thụ và trung hòa các chất thải ra từ quá trình sinh sống và sản xuất của con người
Môi trường không được bảo vệ sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sống của toàn cầu, chẳng hạn như nạn mất đất, tình trạng khan hiếm nước ngọt, nạn tuyệt chủng của các loài sinh vật, sự biến đổi của khí hậu, sự biến mất hay tuyệt chủng của nhiều loài
Với sự phát triển mạnh mẽ công nghiệp hóa, đô thị hóa, cùng với sự gia tăng dân số nhanh ở nhiều quốc gia đã thải ra môi trường một lượng lớn các chất thải độc hại Môi trường chúng ta sống đang bị ô nhiễm và ngày càng trầm trọng, nó xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng chủ yếu là do hoạt động của con người Ảnh hưởng của những tác hại mà con người gây ra cho môi trường không chỉ giới hạn trong phạm vi vùng, quốc gia mà còn ảnh hưởng đến các nước, các khu vực trên thế giới Các tổ chức quốc tế đã dự báo, hành tinh của chúng ta có thể sẽ phải gánh chịu những thảm họa môi trường hết sức nghiêm trọng trong thời gian tới nếu chúng ta không có thay đổi từ ý thức đến hành động để bảo vệ môi trường
Cùng với xu thế phát triển chung của giai đoạn phát triển công nghiệp hóa của đất nước, Thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên nói riêng đang bước vào thời
Trang 14kỳ thời kỳ hiện đại hóa đất nước với sự ra đời và phát triển của nhiều nhà máy,
xí nghiệp, khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh; đồng thời, dân số ngày càng gia tăng, nhu cầu của con người ngày càng phong phú nên việc khai thác tài nguyên
và phát thải chất thải ra môi trường ngày càng nhiều hơn Tình trạng nước biển
bị xâm ngập mặn vào đất liền, đất trống, đồi núi trọc và sự suy thoái các nguồn gen động thực vật đang có chiều hướng gia tăng Hiện nay lượng rác thải thải ra
từ các hộ gia đình không đúng nơi quy định của nông dân cũng là một nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Mà nguyên nhân chính đó là ý thức của các tập thể và cá nhân chưa cao, chưa đặt vấn đề bảo vệ môi trường lên vị trí hàng đầu, xem nhẹ tác hại của môi trường đến với đời sống con người và sự phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương
Bảo vệ môi trường gắn liền với phát triển bền vững và trở thành một nội dung quan trọng trong chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Bảo vệ môi trường là vấn đề mang tính sống còn của đất nước, là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển bền vững của xã hội, đồng thời nó còn ảnh hưởng trực tiếp đến sự sống, thể chất của giống nòi dân tộc, nó đòi hỏi phải có sự đồng lòng, đồng sức của mọi người và sự chung tay, quyết tâm của toàn xã hội Bảo vệ môi trường đã, đang và sẽ là vấn đề sống còn đối với mỗi con người, mỗi gia đình, mỗi cộng đồng dân cư; là việc phải làm thường xuyên, liên tục và là trách nhiệm của mọi công dân
Tuy nhiên, hiện nay, việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường trong lực lượng đoàn viên, thanh niên vẫn chưa được chú trọng đúng mức Thanh niên
là những người chủ của tương lai, đất nước nhưng chưa được trang bị những kiến thức và hành vi bảo vệ môi trường sẽ làm đất nước chậm phát triển và ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của toàn xã hội trong những năm tới Ý thức bảo vệ môi trường trong đoàn viên thanh niên các khối trường học, thanh
Trang 15niên sinh hoạt trên địa bàn dân cư, thanh niên công nhân lao động chưa được hình thành và chấp hành một cách triệt để
Xuất phát từ những yêu cầu nói trên, tôi chọn đề tài "Giáo dục ý thức
bảo vệ môi trường cho đoàn viên thanh niên Thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên dựa vào cộng đồng" để nghiên cứu với mong muốn đề xuất các biện
pháp hữu hiệu nhằm đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác tuyên truyền giáo dục ý thức bảo vệ môi trường trong đoàn viên thanh niên ngày một tốt hơn, góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường cải thiện điều kiện sống, góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế xã hội, ổn định chính trị, an ninh quốc phòng và thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta nói chung và ở Thành phố Tuy Hòa nói riêng
2 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho đoàn viên, thanh niên dựa vào các hoạt động xuất phát từ nhu cầu của cộng đồng để từ đó phát huy vai trò của người thanh niên Việt Nam xung kích năng động và sáng tạo trong việc tuyên truyền nâng cao ý thức bảo vệ môi trường đến toàn xã hội góp phần tích cực trong xây dựng môi trường bền vững của Thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên
3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Nâng cao ý thức bảo vệ môi trường trong đối tượng đoàn viên thanh niên đang sinh hoạt trên địa bàn Thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên
3.2 Đối tƣợng nghiên cứu
Cán bộ Đoàn, đoàn viên, thanh niên đang sinh sống trên địa bàn các phường, xã của Thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên
Trang 164 Giả thuyết khoa học
Hiện nay, việc tuyên truyền và giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho đoàn viên, thanh thiếu nhi còn mang tính hình thức, chưa mang lại tính hiệu quả cao Nếu có các biện pháp tuyên truyền giáo dục tác động đến sự tham gia tích cực và động cơ tốt từ những hoạt động xuất phát từ nhu cầu, mong muốn và gần gũi với cộng đồng sẽ nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của đoàn viên, thanh niên tại Thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích cơ sở lý luận về môi trường và công tác nâng cao ý thức bảo
vệ môi trường cho đoàn viên thanh niên tại Thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên
- Đánh giá ý thức và phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành
ý thức bảo vệ môi trường trong đoàn viên thanh niên trên địa bàn Thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên
- Khảo sát ý thức bảo vệ môi trường trong đoàn viên thanh niên tại Thành phố Tuy Hòa nhằm đánh giá cũng như đưa ra những biện pháp nhằm nâng cao ý thức bảo vệ môi trường trong đoàn viên thanh niên để từ đó phát huy vai trò của người thanh niên Việt Nam xung kích, năng động và sáng tạo trong việc tuyên truyền nâng cao ý thức bảo vệ môi trường đến toàn thể xã hội
- Từ những cơ sở lý luận chung và thực trạng môi trường ở Thành phố Tuy Hòa, đề án đề xuất những quan điểm, phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của đoàn viên thanh niên tại Thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên theo hướng tiếp cận dựa vào các hoạt động từ cộng đồng
6 Phạm vi nghiên cứu
Các nội dung nghiên cứu về việc nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của đoàn viên thanh niên trên địa bàn Tp Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên được thực hiện theo các nội dung sau:
Trang 17+ Về nội dung: Tập trung nghiên cứu các giải pháp nâng cao ý thức bảo
vệ môi trường của lực lượng đoàn viên, thanh niên trên địa bàn Thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên
+ Về số lượng: khảo sát 77 cán bộ, đoàn viên, thanh niên đang học sinh sống và công tác trên địa bàn thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên
+ Về không gian: được nghiên cứu tại Thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên + Về thời gian: từ tháng 9 năm 2016
7 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
- Nhóm phương pháp này dùng để thu thập, xử lý các tài liệu có liên quan, trên cơ sở đó xây dựng cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu
- Các phương pháp nghiên cứu lí luận được sử dụng bao gồm: phương pháp phân tích, tổng hợp lí luận; phương pháp giả thuyết, phương pháp chứng minh
7.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Xây dựng và sử dụng phiếu trưng cầu ý kiến để thu thập ý kiến của đoàn viên, thanh niên, hội viên, cán bộ Đoàn - Hội chuyên trách đang công tác tại Thành Đoàn Tuy Hòa, các đồng chí là Uỷ viên Ban Chấp hành Thành Đoàn Tuy Hòa và Uỷ viên Ủy ban Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam Thành phố Tuy Hòa về thực trạng nâng cao công tác tuyên truyền bảo vệ môi trường trong đoàn viên, thanh niên trên địa bàn Thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên
7.2.2 Phương pháp quan sát
Quan sát công tác tuyên truyền, giáo dục ý thức bảo vệ môi trường của đoàn viên, thanh niên trên địa bàn Thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên dưới các hình thức tổ chức hoạt động phong trào tại các cơ sở Đoàn trực thuộc Thành Đoàn Tuy Hòa
Quan sát các hoạt động liên quan đến công tác bảo vệ môi trường của đoàn viên, thanh niên tại Thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên
7.2.3 Phương pháp phỏng vấn
Trang 18Trò chuyện, phỏng vấn sâu để lấy ý kiến đoàn viên, thanh niên về công tác bảo vệ môi trường của đoàn viên, thanh niên trên địa bàn Thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên
7.3 Phương pháp chuyên gia
Tham khảo các ý kiến đánh giá, nhận xét của các chuyên gia có trình
độ về công tác bảo vệ môi trường để đánh giá kết quả nghiên cứu của đề tài
7.4 Nhóm phương pháp xử lý số liệu
Sử dụng các phương pháp nghiên cứu hỗ trợ nhằm xử lý những số liệu thu được từ thực trạng công tác nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của đoàn viên, thanh niên tại Thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên Trên cơ sở đó, đưa ra những nhận xét, đánh giá, lý giải nguyên nhân, đồng thời đề xuất các biện pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả của hoạt động bảo vệ môi trường của đoàn viên, thanh niên
8 Những đóng góp của đề tài
Chỉ ra thực trạng và những nguyên nhân bất cập trong việc nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của đoàn viên, thanh niên tại Thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên
Đề tài có ý nghĩa rất quan trọng trong việc phân tích, đánh giá thực trạng công tác tuyên truyền, giáo dục ý thức bảo vệ môi trường của đoàn viên, thanh niên tại Thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên để đề xuất những giải pháp góp phần nâng cao việc bảo vệ môi trường trên địa bàn Thành phố Tuy Hòa dựa vào cộng đồng
9 Cấu trúc luận văn
Chương 1: Lý luận về giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho đoàn viên, thanh niên dựa vào cộng đồng
Chương 2: Thực trạng giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho đoàn viên, thanh niên tại Thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên
Chương 3: Các biện pháp giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho Đoàn viên, thanh niên tại Thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên
Trang 19CHƯƠNG 1:
LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO ĐOÀN VIÊN, THANH NIÊN DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG
1.1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1.1 Tác động của ô nhiễm môi trường
Theo báo cáo mới nhất của Bộ Tài nguyên & Môi trường (TN&MT) năm 2016, môi trường nước ta đang chịu nhiều áp lực lớn từ các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội trong nước, sức ép cạnh tranh của quá trình hội nhập quốc tế cùng các tác động xuyên biên giới
Hàng năm, có hơn 2.000 dự án đầu tư thuộc đối tượng phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường (TĐMT) nếu không được đánh giá một cách đầy đủ, toàn diện và thực hiện các biện pháp phòng ngừa, kiểm soát hiệu quả thì sẽ là những nguy cơ rất lớn đến môi trường Các vấn đề môi trường theo dòng chảy sông Mê Công, sông Hồng, các sông xuyên biên giới ngày càng phức tạp Việc xây dựng các dự án thủy điện của một số quốc gia trên dòng chính sông Mê Công đã và đang có những tác động, ảnh hưởng lớn đến vùng đồng bằng sông Cửu Long Bên cạnh đó, trên cả nước hiện có 283 khu công nghiệp với hơn 550.000m3
nước thải/ngày đêm; 615 cụm công nghiệp (CCN) trong đó chỉ khoảng hơn 5% có hệ thống xử lý nước thải tập trung; các CCN còn lại, hoặc các cơ sở sản xuất tự xử lý nước thải hoặc xả trực tiếp ra môi trường Hơn 500.000 cơ sở sản xuất trong đó có nhiều loại hình sản xuất ô nhiễm môi trường, công nghệ sản xuất lạc hậu; hơn 13.500 cơ sở y tế hàng ngày phát sinh hơn 47 tấn chất thải nguy hại và 125.000 m3
nước thải y tế Cùng với đó, với 787 đô thị môi trường của chúng ta đang hứng chịu 3.000.000 m3 nước thải ngày/đêm nhưng hầu hết chưa được xử lý; lưu hành gần 43 triệu mô tô và trên 2 triệu ô tô tạo ra nguồn phát thải lớn đến môi trường không khí
Trang 20Cũng theo Bộ TN&MT, hàng năm, có 100.000 tấn hoá chất bảo vệ thực vật được sử dụng Trong đó, khoảng 80% lượng thuốc bảo vệ thực vật đang được sử dụng không đúng quy định; hiệu suất sử dụng chỉ đạt 25-60%; công tác thu gom, lưu giữ và xử lý bao bì chưa được quan tâm, nhiều nơi thải bỏ ngay tại đồng ruộng gây phát sinh mùi, khí thải Hơn 23 triệu tấn rác thải sinh hoạt, 7 triệu tấn chất thải rắn công nghiệp, hơn 630 nghìn tấn chất thải nguy hại; hiện có 458 bãi chôn lấp rác thải, trong đó có 337 bãi chôn lấp không hợp
vệ sinh; có hơn 100 lò đốt rác sinh hoạt công suất nhỏ, có nguy cơ phát sinh khí dioxin, furan
Hiện nay, chúng ta đang phải đối mặt với hàng loạt các vấn đề môi trường bức xúc trên phạm vi toàn cầu, bao gồm: sự biến đổi khí hậu (BĐKH), suy thoái đa dạng sinh học (ĐDSH), suy thoái tài nguyên nước ngọt, suy thoái tầng ôzôn, suy thoái đất và hoang mạc hóa, ô nhiễm các chất hữu cơ độc hại khó phân hủy…
Những vấn đề này có mối tương tác lẫn nhau và đều ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc sống con người cũng như sự phát triển của xã hội Trong đó, dù
ở mức độ quốc gia hay toàn cầu thì BĐKH luôn được xem là vấn đề môi trường nóng bỏng nhất và hơn thế nữa còn được coi là một vấn đề quan trọng tác động tới tiến trình phát triển bền vững hiện nay trên toàn thế giới
Sau cuộc tranh luận kéo dài hơn 30 năm, cho đến nay, các nhà khoa học đã có sự nhất trí cao và cho rằng trong những thập kỷ gần đây, những hoạt động phát triển kinh tế - xã hội với nhịp điệu ngày một cao trong nhiều lĩnh vực như năng lượng, công nghiệp, giao thông, nông - lâm nghiệp và sinh hoạt đã làm tăng nồng độ các khí gây hiệu ứng nhà kính (N2O, CH4, H2S và nhất là CO2) trong khí quyển, làm Trái đất nóng lên, làm biến đổi hệ thống khí hậu và ảnh hưởng tới môi trường toàn cầu
a Bức tranh chung toàn cầu:
Trang 21Theo dự đoán, nhiều thành phố của các quốc gia ven biển đang đứng trước nguy cơ bị nước biển nhấn chìm do mực nước biển dâng - hậu quả trực tiếp của sự tan băng ở Bắc và Nam cực Trong số 33 thành phố có quy mô dân
số 8 triệu người vào năm 2015, ít nhất 21 thành phố có nguy cơ cao bị nước biển nhấn chìm toàn bộ hoặc một phần và khoảng 332 triệu người sống ở vùng ven biển và đất trũng sẽ bị mất nhà cửa vì ngập lụt
Nước biển dâng còn kèm theo hiện tượng xâm nhập mặn vào sâu trong nội địa và sự nhiễm mặn của nước ngầm, tác động xấu tới sản xuất nông nghiệp và tài nguyên nước ngọt Theo dự đoán, đến năm 2080, sẽ có thêm khoảng 1,8 tỷ người phải đối mặt với sự khan hiếm nước, khoảng 600 triệu người sẽ phải đối mặt với nạn suy dinh dưỡng do nguy cơ năng suất trong sản xuất nông nghiệp giảm
Bên cạnh đó còn có khuynh hướng làm giảm chất lượng nước, sản lượng sinh học và số lượng các loài động, thực vật trong các hệ sinh thái nước ngọt, làm gia tăng bệnh tật, nhất là các bệnh mùa hè do vectơ truyền (IPCC 1998) Trong thời gian 20 - 25 năm trở lại đây, có thêm khoảng 30 bệnh mới xuất hiện Tỷ lệ bệnh nhân, tỷ lệ tử vong của nhiều bệnh truyền nhiễm gia tăng, trong đó sẽ có thêm khoảng 400 triệu người phải đối mặt với nguy cơ bị bệnh sốt rét
Theo Nicolas Stern (2007) - nguyên chuyên gia kinh tế hàng đầu của Ngân hàng Thế giới, thì trong vòng 10 năm tới, chi phí thiệt hại do BĐKH gây ra cho toàn thế giới ước tính khoảng 7.000 tỷ USD; nếu chúng ta không làm gì để ứng phó thì thiệt hại mỗi năm sẽ chiếm khoảng 5-20% GDP, còn nếu chúng ta có những ứng phó tích cực để ổn định khí nhà kính ở mức 550 ppm tới năm 2030 thì chi phí chỉ còn khoảng 1% GDP
Tuy nhiên, BĐKH, ở những mức độ nhất định và những khu vực nhất định cũng có những tác động tích cực đó là tạo cơ hội để thúc đẩy các nước
Trang 22đổi mới công nghệ, phát triển các công nghệ sạch, công nghệ thân thiện với môi trường và các hoạt động R&D nói chung có liên quan; Phát triển trồng rừng để hấp thu CO2 giảm phát thải khí nhà kính; Ở một số nước ôn đới, khi nhiệt độ tăng lên sẽ thuận lợi hơn để phát triển nông nghiệp; Năng lượng để sưởi ấm cũng được tiết kiệm hơn
b Tác động của BĐKH ở Việt Nam
Ở Việt Nam, trong thời gian qua, diễn biến của khí hậu cũng có những nét tương đồng với tình hình chung trên thế giới BĐKH tác động tới tất cả các vùng, miền, các lĩnh vực về tài nguyên, môi trường và kinh tế - xã hội, nhưng trong đó tài nguyên nước, ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn,
y tế và các vùng ven biển sẽ chịu tác động mạnh nhất
Tác động của BĐKH tới tài nguyên nước Việt Nam được xếp vào nhóm các quốc gia thiếu nước với tổng bình quân đầu người cả nước mặt và nước ngầm trên phạm vi lãnh thổ là 4.400 m3/người/năm (so với bình quân thế giới là 7.400 m3/người, năm) Trong khai thác, sử dụng tài nguyên nước, Việt Nam có nhiều yếu tố không bền vững
Sự suy thoái tài nguyên nước ngày một tăng về cả số lượng và chất lượng do nhu cầu về nước ngày một lớn, khai thác, sử dụng bừa bãi, thiếu quy hoạch và đặc biệt là sự suy giảm đến mức báo động của rừng đầu nguồn Dưới tác động của BĐKH, khi nhiệt độ trung bình tăng, độ bất thường của thời tiết, khí hậu và thiên tai gia tăng sẽ ảnh hưởng rất lớn tới tài nguyên nước ngọt ở các khía cạnh sau:
- Nhu cầu nước sinh hoạt cho con người, nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, năng lượng, giao thông… đều tăng Bên cạnh đó, lượng bốc hơi nước của các thủy vực (hồ ao, sông, suối…) cũng tăng Hậu quả dẫn đến là sự suy thoái tài nguyên nước cả về số lượng và chất lượng sẽ trở nên trầm trọng hơn
Trang 23- Những thay đổi về mưa, sẽ dẫn tới những thay đổi về dòng chảy của các con sông và cường độ các trận lũ, tần suất và đặc điểm của hạn hán, lượng nước ngầm Theo dự đoán, BĐKH sẽ làm giảm đáng kể lượng nước trong các con sông ở nhiều vùng trên thế giới, trong đó có Việt Nam
- Khi băng tuyết ở các cực và đỉnh núi cao tan sẽ làm tăng dòng chảy ở các sông và làm tăng lũ lụt Khi các băng trên núi cạn, lũ lụt sẽ giảm đi nhưng khi đó các dòng chảy cũng giảm dần, thậm chí cạn kiệt Nạn thiếu nước sẽ trầm trọng hơn Điều này rất đặc trưng cho các nước châu Á với nguồn nước sông ngòi phụ thuộc nhiều vào nước thượng nguồn
+ Tác động của BĐKH tới lĩnh vực nông nghiệp
Hiện nay, sản xuất nông nghiệp của Việt Nam còn phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết Khi nhiệt độ, tính biến động và dị thường của thời tiết và khí hậu tăng sẽ ảnh hưởng rất lớn tới sản xuất nông nghiệp, nhất là trồng trọt Sự bất thường của chu kỳ sinh khí hậu nông nghiệp không những dẫn tới sự tăng dịch bệnh, dịch hại, giảm sút năng suất mùa màng, mà còn có thể gây ra các rủi ro nghiêm trọng khác Trong thời gian qua, ở nhiều địa phương, mùa màng
đã bị mất trắng do thiên tai (lũ lụt và hạn hán)
+ Tác động của BĐKH tới tài nguyên ĐDSH rừng
Việt Nam có ĐDSH cao, có các hệ sinh thái (HST) đa dạng Tuy nhiên trong thời gian qua, do những nguyên nhân khác nhau, ĐDSH, các HST, đặc biệt là các HST rừng - HST có ĐDSH cao nhất bị suy thoái trầm trọng Diện tích rừng giảm rừng ngập mặn ven biển cũng bị suy thoái nghiêm trọng (giảm 80% diện tích) do bị chuyển đổi thành các ao đầm nuôi trồng thủy hải sản thiếu quy hoạch Trong những năm gần đây, rừng tuy có tăng lên về diện tích, nhưng tỷ lệ rừng nguyên sinh cũng vẫn chỉ khoảng 8% (so với 50% của các nước trong khu vực)
Trang 24Đây là một thách thức lớn đối với Việt Nam để ứng phó với BĐKH trong các hoạt động thực hiện mục tiêu năm 2010 của Công ước ĐDSH nhằm tăng cường hiệu quả bảo tồn và dịch vụ của các HST rừng trong giảm thiểu thiên tai, bảo vệ tài nguyên nước và giảm phát thải CO2
Nhiệt độ trung bình tăng sẽ làm thay đổi vùng phân bố và cấu trúc quần
xã sinh vật của nhiều HST Các loài nhiệt đới sẽ giảm đi trong các HST ven biển và có xu hướng chuyển dịch lên các đới và vĩ độ cao hơn trong các HST trên cạn
Nhiệt độ tăng, còn làm gia tăng khả năng cháy rừng, nhất là các khu rừng trên đất than bùn, vừa gây thiệt hại tài nguyên sinh vật, vừa tăng lượng phát thải khí nhà kính và làm gia tăng BĐKH
+ Tác động của BĐKH tới tài nguyên đất
Trong thời gian gần đây, diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp do sức ép dân số, đô thị hóa, công nghiệp hóa và bị chuyển đổi mục đích sử dụng Hiện tượng xói mòn, rửa trôi, hoang mạc hóa và ô nhiễm do hóa chất nông nghiệp ngày càng gia tăng
Dưới tác động của BĐKH, nhất là nước biển dâng làm mất đi nơi ở của
cư dân và phần đất màu mỡ nhất cho sản xuất nông nghiệp sẽ là thách thức lớn cho ngành nông nghiệp Thiên tai, bão, lũ gia tăng sẽ làm tăng hiện tượng xói mòn, rửa trôi, sạt lở bờ sông, bờ biển, bồi lắng lòng dẫn ảnh hưởng nghiêm trọng tới tài nguyên đất Hiện tượng thiếu nước và hạn hán sẽ dẫn tới hoang mạc hóa, đặc biệt là các tỉnh miền Trung
+ Tác động của BĐKH tới sức khỏe
Báo cáo gần đây nhất của Ủy ban liên quốc gia về BĐKH đã khẳng định, BĐKH gây ra tử vong và bệnh tật thông qua hậu quả của các dạng thiên tai như sóng nhiệt/nóng, bão, lũ lụt, hạn hán… Do nhiều bệnh sẽ gia tăng dưới tác động của sự thay đổi nhiệt độ và hoàn cảnh, nhất là các bệnh truyền
Trang 25qua vật trung gian như sốt rét (do muỗi truyền), sốt xuất huyết (muỗi), viêm não (muỗi) qua môi trường nước (các bệnh đường ruột), và các bệnh khác (suy dinh dưỡng, bệnh về phổi…) Những bệnh này đặc biệt ảnh hưởng lớn tới các vùng kém phát triển, đông dân và có tỷ lệ đói nghèo cao
Đặc biệt, ở Việt Nam, trong thời gian qua cũng xuất hiện một số bệnh mới ở người và động vật (tả, cúm gia cầm, bệnh tai xanh…) nhiều bệnh có diễn biến phức tạp và bất thường hơn (sốt xuất huyết) và gây ra những thiệt
hại đáng kể
+ Tác động của BĐKH tới vùng ven biển (VVB)
VVB cũng sẽ là nơi chịu tác động nặng nề nhất của thiên tai mà trước hết là bão, sóng thần, lũ lụt gây những tổn thất năng nề về nguời và tài sản Chỉ tính riêng năm 2006, thiệt hại do bão gây ra ở Việt Nam lên tới 1,2 tỷ USD
Nước biển dâng gây hiện tượng ngập lụt, mất nơi ở và diện tích sản xuất (nông nghiệp, thủy sản và làm muối), gây nhiễu loạn các HST truyền thống Hiện tượng xâm nhập mặn sẽ gia tăng, các HST đất ngập nước ven biển, nhất
là rừng ngập mặn, môi trường sống của các loài thủy hải sản, bức tường chắn sóng và giảm tác động của sóng, bão, nguồn sống hàng ngày của cộng đồng địa phương sẽ bị thu hẹp nhanh chóng Các cơ sở hạ tầng nhất là các cảng, khu công nghiệp, giao thông sẽ bị tác động mạnh, thậm chí phải cải tạo, nâng cấp hoặc di dời
Nước biển dâng và nhiệt độ tăng sẽ làm ảnh hưởng lớn tới các rạn san hô, HST có tính đa dạng cao và có ý nghĩa quan trọng đối với tự nhiên và đời sống con người, lá chắn hiệu quả chống xói mòn bờ biển và rừng ngập mặn San hô là các động vật rất nhạy cảm với các yếu tố sinh thái, nhất là nhiệt độ và chất lượng nước Nhiệt độ nước biển chỉ cần tăng một vài độ, san hô có thể chết hàng loạt Hiện nay đã có khoảng 30 quốc gia báo cáo có nguy cơ bị mất san hô
Trang 26+ Tác động của BĐKH tới an ninh môi trường/ an ninh quốc gia
BĐKH còn có thể ảnh hưởng tới an ninh môi trường nói riêng, an ninh quốc gia nói chung, tập trung ở những vấn đề sau:
- Sử dụng chung nguồn nước: Việt Nam có khoảng 2/3 tổng lượng nước là từ bên ngoài lãnh thổ chảy vào Việc sử dụng nước phía thượng nguồn, việc xây dựng các công trình thủy lợi, thủy điện của các quốc gia trên thượng nguồn các sông lớn (sông Hồng, sông Cửu Long) sẽ là một khó khăn rất lớn cho chúng ta trong sử dụng nguồn nước và bảo vệ môi trường BĐKH
sẽ làm suy thoái tài nguyên nước, trong khi nhu cầu dùng nước của các quốc gia đều tăng lên, làm tăng các bất đồng và xung đột có thể có trong sử dụng chung nguồn nước
- Tị nạn môi trường/ khí hậu (trong nước và quốc tế) do mất nơi ở hoặc do bệnh tật và nghèo đói Có những cảnh báo cho rằng, vấn đề tị nạn khí hậu không chỉ đơn thuần là vấn đề xã hội, kinh tế mà có thể còn là vấn
đề chính trị, chiến tranh
- An ninh sinh thái do sự nhiễu loạn của nhiều HST, sự xâm lấn của các sinh vật lạ và sinh vật biến đổi gen
+ Tác động của BĐKH tới cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng ở đây được hiểu là những công trình xây dựng thuộc tất
cả các lĩnh vực của đời sống và sản xuất như xây dựng, năng lượng, giao thông vận tải, công nghiệp, nông nghiệp, du lịch - dịch vụ Đặc trưng của những đối tượng này là thời gian tồn tại tương đối dài, có thể hàng thế kỷ và chịu tác động trực tiếp và liên tục của khí hậu, thời tiết, và hiện nay là BĐKH với xu hướng ngày càng gia tăng
BĐKH sẽ tác động tới tính tiện nghi, tính hữu dụng, sức chịu tải, độ bền, độ an toàn của các công trình được thiết kế
Trang 27Vì vậy, cần đánh giá tác động của BĐKH cho từng loại cơ sở hạ tầng trong từng địa phương cụ thể để có các giải pháp thích ứng phù hợp là điều quan trọng Từ đó, đưa ra các giải pháp để giảm thiểu ô nhiễm môi trường, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững
1.1.2 Phát triển bền vững
Khái niệm "phát triển bền vững" xuất hiện trong phong trào bảo vệ môi trường từ những năm đầu của thập niên 70 của thế kỷ 20 Năm 1987, trong Báo cáo "Tương lai chung của chúng ta" của Hội đồng thế giới về môi trường
và phát triển (WCED) của Liên Hợp Quốc, "phát triển bền vững" được định
nghĩa "là sự phát triển đáp ứng được những yêu cầu của hiện tại, nhưng
không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau"
Hội nghị thượng đỉnh trái đất về môi trường và phát triển tổ chức ở Rio
de Janeiro (Braxin) năm 1992 và Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển bền vững tổ chức ở Johannesburg (Cộng hoà Nam Phi) năm 2002 đã xác định
"phát triển bền vững" là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hoà giữa 3 mặt của sự phát triển Bao gồm:
- Phát triển kinh tế (quan trọng nhất là tăng trưởng kinh tế),
- Phát triển xã hội (quan trọng nhất là thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; xoá đói giảm nghèo và giải quyết việc làm)
- Bảo vệ môi trường (quan trọng nhất là xử lý, khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường; phòng chống cháy và chặt phá rừng; khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên)
Trong đó, tiêu chí để đánh giá sự phát triển bền vững là (1) sự tăng trưởng kinh tế ổn định; (2) thực hiện tốt tiến bộ và công bằng xã hội; (3) khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và nâng cao được chất lượng môi trường sống Như vậy bảo vệ môi trường là một trong ba yếu tố cấu thành của phát triển bền vững Vấn đề đặt ra đối với mọi quốc gia
Trang 28là không thể xem nhẹ, hoặc coi trọng bảo vệ môi trường, hay phát triển kinh
tế, phát triển xã hội, mà trọng quá trình hoạch định chính sách, đặt ra các quy định pháp luật, các quốc gia đều phải bảo đảm hài hòa việc phát triển bền vững cả ba yếu tố này Đây là một bài toán khó không chỉ đối với các nước kém phát triển mà cả đối với các nước phát triển và đang phát triển
Ở Việt Nam, quan điểm phát triển bền vững đã được khẳng định trong đường lối, chính sách của Đảng (như Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 25/6/1998 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước) và các văn bản pháp luật của Nhà nước (Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam) ban hành kèm theo Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg ngày 17/8/2004 của Thủ tướng Chính phủ, Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 đã được phê duyệt bởi Quyết định số 256/2003/QĐ-TTg ngày 02/12/2003 của Thủ tướng Chính phủ)
Căn cứ tại khoản 4, Điều 3 Luật bảo vệ môi trường quy định tại văn bản
số 55/2014/QH13 ngày 23/6/2014 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam ban hành thì, phát triển bền vững được hiểu “là phát triển đáp
ứng được nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường” [1]
1.1.3 Vai trò cộng đồng trong công tác bảo vệ môi trường và phát triển bền vững
Ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu (BĐKH) cùng với suy thoái tài nguyên là những thách thức lớn của nhân loại trong thế kỷ 21, làm thay đổi
Trang 29các hệ sinh thái tự nhiên, quá trình phát triển, đe dọa nghiêm trọng đối với
an ninh môi trường Trước thực trạng trên, nhiều bộ, ngành, địa phương đều bày tỏ lo ngại về môi trường đất nước và nhìn nhận những tồn tại trong công tác bảo vệ môi trường là những nội dung cần được ưu tiên trong quản
lý Nhà nước thời gian tới
Sự tham gia của cộng đồng vào công tác bảo vệ môi trường vừa là trách nhiệm, nghĩa vụ vừa là quyền lợi Đây cũng là một giải pháp cơ bản trong bảo
vệ môi trường và phát triển bền vững Thực tế cho thấy, sự tham gia của cộng đồng trong hoạt động bảo vệ môi trường, phát triển bền vững, ứng phó với biến đổi khí hậu là rất quan trọng
Để phòng ngừa, ứng phó với vấn đề trên, các quốc gia đã thảo luận, thống nhất đưa ra những quy định chung làm căn cứ để mỗi nước có nghĩa vụ chấp hành, tuân thủ Căn cứ vào luật pháp quốc tế và điều kiện thực tế về tự nhiên, kinh tế - xã hội, phong tục tập quán riêng… mỗi nước đã xây dựng, ban hành Luật và các văn bản hướng dẫn thi hành để điều chỉnh hành vi của mỗi cá nhân, tổ chức
Công tác nâng cao vai trò cộng đồng bảo vệ môi trường phục vụ phát triển bền vững đất nước đã được nhấn mạnh trong nhiều chính sách, chủ trương, đường lối, nghị quyết và các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường của Đảng và Nhà nước ta, chẳng hạn như:
- Huy động sự tham gia của các thành phần kinh tế, các tổ chức khoa
học, chính trị - xã hội - nghề nghiệp và các tổ chức phi chính phủ trong ứng
phó với biến đổi khí hậu; xây dựng cộng đồng thích ứng hiệu quả với biến đổi
khí hậu (Khoản 6) [2]
- Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường là những vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, có tầm ảnh hưởng lớn, quan hệ, tác động qua lại, cùng quyết định sự
Trang 30phát triển bền vững của đất nước; là cơ sở, tiền đề cho hoạch định đường lối, chính sách phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và an sinh xã hội Đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của cả
hệ thống chính trị; là trách nhiệm và nghĩa vụ của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và cộng đồng dân cư, trong đó Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự tham gia, giám sát của toàn xã hội Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường phải trên cơ sở phương thức quản lý tổng hợp và thống nhất, liên ngành, liên vùng Vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt, vừa bảo đảm lợi ích lâu dài, trong đó lợi ích lâu dài là cơ bản Vừa bảo đảm toàn diện, vừa phải có trọng tâm, trọng điểm; có bước đi phù hợp trong từng giai đoạn; dựa vào nội lực là chính, đồng thời phát huy hiệu quả nguồn lực hỗ trợ và kinh nghiệm quốc tế [3]
- Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị về bảo
vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước xác định, giải pháp quan trọng để bảo vệ môi trường đó là “Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức và trách nhiệm bảo vệ môi trường” Mới đây nhất, tại Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 3/6/2013 về Chủ động ứng phó với BĐKH, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường được Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI thông qua, đã nhấn mạnh nhóm giải pháp chính để bảo vệ môi trường là:
“Tăng cường, đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, hình thành ý thức chủ động ứng phó với BĐKH, sử dụng tiết kiệm tài nguyên
và bảo vệ môi trường”
- Theo khoản 1, Điều 6 Luật bảo vệ môi trường ban hành ngày 23/6/2014 thì những hoạt động bảo vệ môi trường được khuyến khích, cụ thể: [4]
Trang 31+ Truyền thông, giáo dục và vận động mọi người tham gia bảo vệ môi trường, giữ gìn vệ sinh môi trường, bảo vệ cảnh quan thiên nhiên và đa dạng sinh học
+ Hoạt động ứng phó với biến đổi khí hậu; phát triển, sử dụng năng lượng sạch, năng lượng tái tạo; giảm thiểu phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính, phá hủy tầng ô-dôn
+ Bảo vệ, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên
+ Giảm thiểu, thu gom, tái sử dụng và tái chế chất thải
+ Đăng ký cơ sở, sản phẩm thân thiện với môi trường; sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng sản phẩm thân thiện với môi trường
+ Nghiên cứu khoa học, chuyển giao, ứng dụng công nghệ xử lý, tái chế chất thải, công nghệ thân thiện với môi trường
+ Đầu tư xây dựng cơ sở sản xuất thiết bị, dụng cụ bảo vệ môi trường; cung cấp dịch vụ bảo vệ môi trường; thực hiện kiểm toán môi trường; tín dụng xanh; đầu tư xanh
+ Bảo tồn và phát triển nguồn gen bản địa; lai tạo, nhập nội các nguồn gen có giá trị kinh tế và có lợi cho môi trường
+ Xây dựng thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, khu dân cư thân thiện với môi trường
+ Phát triển các hình thức tự quản và tổ chức hoạt động dịch vụ giữ gìn
vệ sinh môi trường của cộng đồng dân cư
+ Hình thành nếp sống, thói quen giữ gìn vệ sinh môi trường, xóa bỏ hủ tục gây hại đến môi trường
+ Đóng góp kiến thức, công sức, tài chính cho hoạt động bảo vệ môi trường; thực hiện hợp tác công tư về bảo vệ môi trường
1.2 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1 Khái niệm ý thức
Trang 32Trong quá trình tiến hóa của sinh vật, mốc phân biệt rõ ràng nhất giữa con vật và con người đó là ý thức ý thức là một cấp độ phản ánh tâm lý đặc trưng cao cấp chỉ có ở người
Một quá trình nhận thức nào đó tạo ra trong não một hình ảnh tâm lý, như có ngôn ngữ, chính hình ảnh tâm lý đó được khách quan hóa và trở thành đối tượng để ta tiếp tục phản ánh, làm cho kết quả phản ánh sâu sắc hơn, chất lượng hơn, tinh vi hơn Quá trình phản ánh cấp hai như vậy được gọi là ý thức Vì thế, có thể hiểu ý thức là phản ánh của phản ánh
Nếu cảm giác, tri giác, tư duy mang lại cho con người những tri thức Trong thế giới khách quan thì ý thức là năng lực hiểu biết tri thức đó Vì vậy cũng có thể nói ý thức là tri thức của tri thức, là hiểu biết của hiểu biết
Như vậy, ý thức là hình thức phản ánh tâm lý cao nhất chỉ có ở người,
là quá trình phản ánh bằng ngôn ngữ những gì con người đã tiếp thu được trong quá trình quan hệ qua lại với thế giới khách quan [5]
1.2.2 Khái niệm môi trường
Môi trường theo nghĩa rộng là tất cả các yếu tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con người, như tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ, xã hội
Môi trường theo nghĩa hẹp không xét tới tài nguyên thiên nhiên mà chỉ bao gồm các yếu tố tự nhiên và xã hội trực tiếp liên quan tới chất lượng cuộc sống con người Ví dụ: Môi trường của học sinh gồm nhà trường với thầy giáo, bạn bè, nội quy của nhà trường, lớp học, sân chơi, phòng thí nghiệm, vườn trường, tổ chức xã hội như Đoàn, Đội với các điều lệ hay gia đình, họ tộc, làng xóm với những quy định không thành văn, chỉ truyền miệng nhưng vẫn được công nhận, thi hành và các cơ quan hành chính các cấp với luật pháp, nghị định, thông tư, quy định
Trang 33Tóm lại, môi trường là tất cả những gì có xung quanh ta, cho ta cơ sở
để sống và phát triển
Môi trường sống của con người theo chức năng được chia thành các loại:
- Môi trường tự nhiên bao gồm các yếu tố thiên nhiên như vật lý, hóa học, sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con người nhưng cũng ít nhiều chịu tác động của con người Đó là ánh sáng mặt trời, núi sông, biển cả, không khí, động thực vật, đất, nước Môi trường tự nhiên cho ta không khí để thở, đất để xây dựng nhà cửa, trồng trọt, chăn nuôi, cung cấp cho con người các loại tài nguyên khoáng sản cần cho sản xuất, tiêu thụ và là nơi chứa đựng, đồng hóa các chất thải, cung cấp cho ta cảnh quang đẹp để giải trí, làm cho cuộc sống con người thêm phong phú
- Môi trường xã hội là tổng thể các quan hệ giữa người và người Đó là những luật lệ, thể chế, cam kết, quy định, ước định ở các cấp khác nhau như: Liên hiệp quốc, Hiệp hội các nước, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan, làng
xã, họ tộc, gia đình, tổ nhóm, các tổ chức tôn giáo, tổ chức Đoàn thể Môi trường xã hội định hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sống của con người khác với các sinh vật khác
Ngoài ra, người ta còn phân biệt khái niệm môi trường nhân tạo, bao gồm tất cả các yếu tố do con người tạo nên, làm thành những tiện nghi trong cuộc sống như: ô tô, máy bay, nhà ở, công sở, các khu vực đô thị, công viên nhân tạo
Như vậy, theo khoản 1, điều 3 Luật bảo vệ môi trường ban hành ngày 23/6/2016 thì môi trường là bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên [6]
Trang 341.2.3 Khái niệm ô nhiễm môi trường
Các tác nhân gây ô nhiễm bao gồm chất thải có thể ở dạng rắn, lỏng hoặc khí và các dạng năng lượng như nhiệt độ, tiếng ồn Trong môi trường tự nhiên luôn có yếu tố này Tuy nhiên, môi trường chỉ gọi là ô nhiễm nếu nồng
độ các chất trên đạt đến mức có khả năng tác động xấu đến con người, sinh vật và vật liệu Hay nói cách khác, nồng độ các chất có thể gây ô nhiễm không theo tiêu chuẩn môi trường
Tiêu chuẩn môi trường là giới hạn cho phép của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, về hàm lượng của chất gây ô nhiễm trong chất thải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định làm căn cứ để quản lý và bảo vệ môi trường
Suy thoái môi trường là sự suy giảm về chất lượng và số lượng của thành phần môi trường, gây ảnh hưởng xấu đối với con người và sinh vật
Sự cố môi trường là tai biến hoặc rủi ro xảy ra trong quá trình hoạt động của con người hoặc biến đổi thất thường của tự nhiên gây ô nhiễm, suy thoái hoặc biến đổi môi trường nghiêm trọng
Chất gây ô nhiễm là chất hoặc yếu tố vật lý khi xuất hiện trong môi trường thì làm cho môi trường bị ô nhiễm
Chất thải là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác
Chất thải nguy hại là chất thải chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, dễ cháy,
dễ nổ, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm, gây ngộ độc hoặc đặc tính nguy hại khác
Như vậy, theo khoản 8, Điều 3 Luật bảo vệ môi trường ban hành ngày 23/6/2014 định nghĩa ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật [7]
Trang 351.2.4 Khái niệm bảo vệ môi trường
Bảo vệ môi trường là những hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp, cải thiện môi trường, đảm bảo cân bằng sinh thái, ngăn chặn, khắc phục các hậu quả xấu do con người và thiên nhiên gây ra cho môi trường, khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên
Bảo vệ môi trường là trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi cơ quan, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân Gắn kết hài hòa với phát triển kinh tế, an sinh
xã hội, bảo đảm quyền trẻ em, thúc đẩy giới và phát triển, bảo tồn đa dạng sinh học, ứng phó với biến đổi khí hậu để bảo đảm quyền mọi người được sống trong môi trường trong lành Bảo vệ môi trường phải phù hợp với quy luật, đặc điểm tự nhiên, văn hóa, lịch sử, trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Hoạt động bảo vệ môi trường phải được tiến hành thường xuyên và ưu tiên phòng ngừa ô nhiễm, sự cố, suy thoái môi trường
Như vậy, tại khoản 3, Điều 3 Luật bảo vệ môi trường quy định hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến môi trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm giữ môi trường trong lành [8]
1.2.5 Khái niệm thanh niên
Theo tâm lý học lứa tuổi, tuổi thanh niên là giai đoạn phát triển bắt đầu phát triển từ lúc kết thúc dậy thì và kết thúc khi bước vào tuổi người lớn
Vấn đề là sự phát dục của mỗi em khác nhau là hoàn toàn khác nhau: hơn nữa việc xác định chuẩn thế nào là người trưởng thành cũng rất khác nhau Vì vậy theo định nghĩa trên thì khó xác định được giới hạn về lứa tuổi thanh niên Trên thực tế người ta có thể đưa ra các chuẩn về mặt sinh lý, về mặt xã hội… để xác định lứa tuổi thanh niên
Trang 36Trong khái niệm này kết hợp cả hai giới hạn: giới hạn thứ nhất là giới hạn sinh lý, giới hạn thứ hai: giới hạn xã hội
Theo tâm lý học Mác-xít, nghiên cứu tuổi thanh niên phải kết hợp quan điểm tâm lý học xã hội với những quy luật bên trong của sự phát triển B.D Ananhiev: tồn tại sự không trùng nhau của sự trưởng thành của con người như là một cá thể (trưởng thành về chất), một nhân cách (trưởng thành công dân), một chủ thể nhận thức (trưởng thành trí tuệ), chủ thể lao động (năng lực lao động)
Ngày nay sự dậy thì của các em bắt đầu và kết thúc sớm hơn các thế hệ trước > 2 năm Tâm lý học lứa tuổi gắn tuổi thiếu niên với giai đoạn trước dậy thì và sau dậy thì, giai đoạn thanh niên với giai đoạn sau dậy thì Ngày nay tuổi thiếu niên được kết thúc sớm hơn, và như vậy tuổi thanh niên cũng bắt đầu sớm hơn Tuy nhiên, thời kỳ phát triển của lứa tuổi này không chỉ được quyết định bởi tuổi, mà trước hết bởi những điều kiện xã hội (vị trí trong xã hội, tri thức, kỹ năng, kỹ xảo…) Ở xã hội ngày nay, việc chưa lao động và học tập kéo dài, dẫn đến sự trưởng thành thực sự về mặt xã hội càng đến muộn Do đó có sự kéo dài của thời kỳ tuổi thanh niên và tính không xác định của các giới hạn lứa tuổi Tuổi thanh niên là một hiện tượng tâm lý xã hội
Giai đoạn tuổi thanh niên rất khó phân định rạch ròi cả về tuổi đời, về thể chất, hoàn cảnh xã hội và về phát triển tâm lí Có thể xác định tuổi thanh niên là thời kỳ từ 14,15 tuổi đến 25 tuổi Chia làm hai thời kỳ:
+ Từ 14,15 tuổi - 17,18 tuổi: giai đoạn bắt đầu tuổi thanh niên (thanh niên mới lớn, thanh niên học sinh);
+ Từ 17,18 tuổi - 25 tuổi (thanh niên trưởng thành): giai đoạn hai của tuổi thanh niên
Ở Việt Nam, có thể khái quát lứa tuổi từ 15 đến 25 thành 3 nhóm: thanh niên học sinh, thanh niên sinh viên và thanh niên lao động Thanh niên
là lực lượng to lớn trong xã hội, luôn chiếm tỷ lệ bình quân khoảng 1/3 dân
Trang 37số, dó đó tỷ lệ thanh niên có mặt trong các giai tầng của xã hội là rất lớn Song phải khẳng định rằng, thanh niên có vị trí, vai trò quan trọng trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, an ninh - quốc phòng của mỗi quốc gia
1.2.6 Khái niệm tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh
Theo Điều lệ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh khóa X, nhiệm kỳ 2012 - 2017, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh là tổ chức chính trị - xã hội của thanh niên Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đoàn bao gồm những thanh niên tiên tiến, phấn đấu vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh [9]
Được xây dựng, rèn luyện và trưởng thành qua các thời kỳ đấu tranh cách mạng, Đoàn đã tập hợp đông đảo thanh niên phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng, cống hiến xuất sắc cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Bước vào thời kỳ mới, Đoàn tiếp tục phát huy những truyền thống quý báu của dân tộc và bản chất tốt đẹp của mình, xây dựng thế hệ thanh niên Việt Nam giàu lòng yêu nước, tự cường dân tộc; kiên định lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; có đạo đức cách mạng, ý thức chấp hành pháp luật, sống có văn hóa, vì cộng đồng; có năng lực, bản lĩnh trong hội nhập quốc tế; có sức khỏe, tri thức, kỹ năng và tác phong công nghiệp trong lao động tập thể, trở thành những công dân tốt của đất nước; xung kích, sáng tạo làm chủ khoa học công nghệ tiên tiến, vươn lên ngang tầm thời đại Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh kế tục trung thành, xuất sắc sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh; thường xuyên bổ sung lực lượng trẻ cho Đảng; tổ chức động viên đoàn viên, thanh niên cả nước đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Trang 38Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh là đội dự bị tin cậy của Đảng Cộng sản Việt Nam, là lực lượng xung kích cách mạng, là trường học xã hội chủ nghĩa của thanh niên, đại diện chăm lo và bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng của tuổi trẻ; phụ trách Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh;
là lực lượng nòng cốt chính trị trong phong trào thanh niên và trong các tổ chức thanh niên Việt Nam
Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh là thành viên của hệ thống chính trị, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và Pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Đoàn phối hợp với các cơ quan nhà nước, Mặt trận tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể, tổ chức kinh tế, xã hội, các tập thể lao động và gia đình chăm lo giáo dục, đào tạo và bảo vệ thanh thiếu nhi; tổ chức cho đoàn viên, thanh niên tích cực tham gia vào việc quản lý nhà nước
và xã hội
Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh đoàn kết, phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác bình đẳng với các tổ chức thanh niên tiến bộ, thanh niên và nhân dân các nước trong cộng đồng quốc tế phấn đấu vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội, vì tương lai và hạnh phúc của tuổi trẻ
1.2.7 Khái niệm đoàn viên Đoàn TNCS Hồ Chí Minh
Theo Điều lệ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh khóa X, nhiệm kỳ 2012 - 2017,
Đoàn viên Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh là thanh niên Việt Nam tiên tiến, phấn đấu vì lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ
Chí Minh, có tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc; có lối sống lành mạnh,
cần kiệm, trung thực; tích cực, gương mẫu trong học tập, lao động, hoạt động
xã hội và bảo vệ Tổ Quốc, gắn bó mật thiết với thanh niên; chấp hành nghiêm
chỉnh pháp luật của Nhà nước và Điều lệ Đoàn [10]
Thanh niên Việt Nam tuổi từ 16 đến 30, tích cực học tập, lao động và bảo vệ Tổ quốc, được tìm hiểu về Đoàn và tán thành Điều lệ Đoàn, tự nguyện hoạt động trong một tổ chức cơ sở của Đoàn, có lý lịch rõ ràng đều được xét kết nạp vào Đoàn
1.2.8 Khái niệm cộng đồng
Trang 39Cộng đồng được khái niệm chung nhất là: "Một cơ thế sống/ cơ quan/
tổ chức nơi sinh sống và tương tác giữa cái này với cái khác" Trong khái niệm này, điều đáng chú ý, được nhấn mạnh: cộng đồng là "cơ thể sống", có
sự "tương tác" của các thành viên Tuy nhiên, các nhà khoa học, trong khái niệm này không chỉ cụ thể "cái này" với "cái khác" là cái gì, con gì Đó có thể
là các loại thực vật, cũng có thể là các loại động vật, cũng có thể là con người
- cộng đồng người
Cộng đồng người có tính đa dạng, tính phức tạp hơn nhiều so với các cộng đồng sinh vật khác Trong đời sống xã hội, khái niệm cộng đồng có nhiều tuyến nghĩa khác nhau đồng thời cộng đồng cũng là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau: xã hội học, dân tộc học, y học Khi nói tới cộng đồng người, người ta thường quy vào những "nhóm xã hội"
có cùng một hay nhiều đặc điểm chung nào đó, nhấn mạnh đến đặc điểm chung của những thành viên trong cộng đồng
Theo quan điểm Mác-xít, cộng đồng là mối quan hệ qua lại giữa các cá nhân, được quyết định bởi sự cộng đồng hóa lợi ích giống nhau của các thành viên về các điều kiện tồn tại và hoạt động của những người hợp thành cộng đồng đó, bao gồm các hoạt động sản xuất vật chất và các hoạt động khác của
họ, sự gần gũi các cán hân về tư tưởng, tín ngưỡng, hệ giá trị chuẩn mực cũng như các quan niệm chủ quan của họ về các mục tiêu và phương tiện hoạt động
Quan niệm về cộng đồng theo quan điểm Mác-xít là quan niệm rất rộng, có tính khái quát cáo, mang đặc thù của kinh tế - chính trị Dấu hiệu đặc trưng chung của nhóm người trong cồng đồng này chính là "điều kiện tồn tại
và hoạt động", là "lợi ích" chung, là "tư tưởng", "tín ngưỡng", "giá trị" chung Thực chất đó là cộng đồng mang tính giai cấp, ý thức hệ
Dấu hiệu/ đặc điểm để phân biệt cộng đồng này với cộng đồng khác có thể là bất cứ cái gì thuộc về con người và xã hội loài người: màu da, đức tin,
Trang 40tôn giáo, lứa tuổi, ngôn ngữ, nhu cầu, sở thích, nghề nghiệp nhưng cũng có thể là vị trí địa lý của khu vực (địa vực), nơi sinh sống của nhóm người nào
đó như làng, xã, quận huyện, quốc gia, châu lục Những dấu hiệu này chính
là những ranh giới để phân chia cộng đồng
Cộng đồng những người dân cùng sống chung trong một thôn, xóm, làng, xã, một quốc gia có thể là toàn thế giới, tức họ cùng chia sẻ với nhau mảnh đất sinh sống gọi là cộng đồng thể Có nhiều người, nhiều cộng đồng người khác, tuy không cùng sống chung một địa vực nào đó nhưng họ lại có chung những đặc điểm, sở thích, nhu cầu chung, riêng biệt nào đó thì loại cộng đồng đó được coi là cộng đồng tính
Vì mỗi người cùng một lúc có nhiều đặc điểm nên một người như các khái niệm ở trên có thể cùng một lúc thuộc nhiều cộng đồng khác nhau: tôi vừa là thành viên của cộng đồng phường, xã, cộng đồng người Việt Nam (sống trên đất Việt Nam) đồng thời là thành viên của cộng đồng những người
da vàng, cộng đồng yêu chuộng hòa bình, đấu tranh vì hòa bình
Nói tóm lại, trong đời sống xã hội, cộng đồng là danh từ chung chỉ một tập hợp người nhất định nào đó với hai dấu hiệu quan trọng: họ cùng tương tác (tác động qua lại) với nhau hoặc họ cùng chia sẻ với nhau (có chung với nhau) một hoặc một vài đặc điểm vật chất hay tinh thần nào đó [11]
1.3 GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO ĐOÀN VIÊN THANH NIÊN
1.3.1 Mục tiêu giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho đoàn viên thanh niên
Nâng cao nhận thức và trách nhiệm của tổ chức Đoàn - Hội, cán bộ Đoàn - Hội các cấp tích cực đi đầu trong công tác quản lý, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên; chủ động các biện pháp ứng phó với biến đổi khí hậu, thực hiện mục tiêu phát triển bền vững, thay đổi các hành vi,