BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI ĐẶNG THỊ HIỀN GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON THÀNH PHỐ TUY HÕA, TỈN
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
ĐẶNG THỊ HIỀN
GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON THÀNH PHỐ TUY HÕA,
TỈNH PHÖ YÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ: GIÁO DỤC HỌC
HÀ NỘI, NĂM 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
ĐẶNG THỊ HIỀN
GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON THÀNH PHỐ TUY HÕA,
TỈNH PHÖ YÊN
Chuyên ngành: GIÁO DỤC HỌC
Mã số: 61.14.01.01 LUẬN VĂN THẠC SĨ: GIÁO DỤC HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Từ Đức Văn
HÀ NỘI, NĂM 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Được học tập, nghiên cứu khoa học và viết luận văn tại trường Đại học
sư phạm Hà Nội là điều thật may mắn với em
Em xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu; Ban chủ nhiệm khoa cùng các thầy cô giáo khoa Tâm lý giáo dục trường Đại học sư phạm Hà Nội
Em xin bày tỏ lòng biết ơn PGS.TS Từ Đức Văn – Phó Trưởng Khoa
Tâm lý giáo dục - Giảng viên Trường ĐHSP Hà Nội - người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu, viết luận văn tốt nghiệp
Xin chân thành cảm ơn trường MN Sơn Ca, trường MN Anh Đào TP Tuy Hòa, Phú Yên cùng các đồng nghiệp đã hợp tác, tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn
Xin cảm ơn các bậc cha mẹ học sinh, các em học sinh, người thân, bạn bè những người đã luôn giúp đỡ, động viên, khích lệ tôi hoàn thành luận văn này
Một lần nữa xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 16 tháng 5 năm 2017
Tác giả
Đặng Thị Hiền
Trang 5MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4 Giả thuyết nghiên cứu 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 4
7 Phương pháp nghiên cứu 4
8 Những đóng góp của luận văn 5
9 Cấu trúc luận văn 6
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA CHO TRẺ MẪU GIÁO 7
1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 7
1.2 Những khái niệm công cụ 11
1.3 Vị trí, vai trò, mục tiêu giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non 17
1.4 Giáo dục kỷ năng sống cho trẻ mẫu giáo thông qua hoạt động ngoại khóa 21
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc giáo dục kỷ năng sống thông qua hoạt động ngoại khóa cho trẻ MN 32
Kết luận chương 1 34
Chương 2: THỰC TRẠNG GIÁO DỤC KỶ NĂNG SỐNG THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN Ở MỘT SỐ TRƯỜNG MN THÀNH PHỐ TUY HÕA, TỈNH PHÖ YÊN 36
2.1 Khái quát về giáo dục mầm non thành phố Tuy Hòa, Tỉnh Phú Yên 36
Trang 62.2.Tổ chức tiến hành khảo sát 45 2.3 Kết quả điều tra thực trạng 44
Kết luận chương 2 60
Chương 3: BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KỶ NĂNG SỐNG THÔNG QUA
HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA TẠI THÀNH PHỐ TUY HÕA
3.1 Một số nguyên tắc đề xuất biện pháp 623.2 Biện pháp nâng cao chất lượng GD KNS thông qua HĐNK 643.3 Thực nghiệm một số biện pháp giáo dục KNS cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua HĐNKk 78
Kết luận chương 3 94
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1:Nhận thức của GV và CBQL về vai trò của hoạt động ngoại khóa đối với giáo
dục kỷ năng sống cho trẻ 46
Bảng 2.2 Tầm quan trọng của HĐNK đối với giáo dục KNS 47
Bảng 2.3 Đánh giá các kỷ năng sống của trẻ đã được rèn luyện, hình thành 48
Bảng 2.4 Mức độ giáo dục các kĩ năng sống cho trẻ được thực hiện thông qua hoạt động ngoại khóa 49
Bảng 2.5 Mức độ và hiệu quả tổ chức các HĐNK ở các trường mầm non 50
Bảng 2.6: Các hình thức tổ chức HĐNK cho trẻ ở trường Mầm non 53
Bảng 2.7 Việc đầu tư CSVC cho HĐNK ở trường mầm non 55
Bảng 2.8 Công tác phối hợp các lực lượng tham gia giáo dục KNS cho trẻ MG………….56
Bảng 2.9 Thực trạng mức độ phát triển KNS của trẻ 5 – 6 tuổi 58
Bảng 3.1 So sánh mức độ phát triển kỹ năng sống cho trẻ 5 – 6 tuổi ở 2nhóm TN và ĐC trước thực nghiệm hình thành 84
Bảng 3.2 So sánh mức độ phát triển KNS cho trẻ 5 – 6 tuổi ở 2 nhóm TN và ĐC sau thực nghiệm hình thành 87
Bảng 3.3 So sánh mức độ phát triển KNS cho trẻ 5 – 6 tuổi ở 2 nhóm TN và ĐC trước và sau thực nghiệm hình thành 88
Bảng 3.4 Bảng kiểm định sự khác biệt về điểm trung bìnhcủa trẻ ở nhóm TN và ĐC sau thực nghiệm hình thành 90
Bảng 3.5 Bảng kiểm định sự khác biệt về điểm trung bình của trẻ ở nhóm TN trước và sau thực nghiệm hình thành 92
Bảng 3.6 Bảng kiểm định sự khác biệt về điểm trung bình của trẻ ở nhóm ĐC trước và sau thực nghiệm hình thành 93
Biểu đồ 3.1.So sánh mức độ phát triển KNS cho trẻ 5 – 6 tuổi ở 2 nhóm TN và ĐC trước thực nghiệm hình thành 86
Biểu đồ 3.2.Mức độ phát triển KNS cho trẻ 5 – 6 tuổi ở 2 nhóm TN và ĐC sau thực nghiệm hình thành 90
Biểu đồ 3.3 So sánh mức độ phát triển KNS cho trẻ 5 – 6 tuổiở nhóm TN trước và sau thực nghiệm hình thành 91
Trang 8Biểu đồ 3.4 So sánh mức độ phát triển KNS cho trẻ 5 – 6 tuổi ở 2 nhóm ĐC trước và sau thực nghiệm hình thành 92
Trang 9MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài
Vào đầu thập kỷ 90 các tổ chức của Liên Hiệp Quốc như tổ chức Y tế thế giới, Quỹ cứu trợ nhi đồng, Tổ chức giáo dục văn hóa và khoa học và các nhà giáo dục thế giới đã cùng tìm cách giáo dục để tạo cho trẻ năng lực tâm lý xã hội, nhằm ứng phó với những yêu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày Đó là kỹ năng sống Xã hội hiện nay đã và đang làm thay đổi cuộc sống của con người, nhiều vấn
đề phức tạp liên tục nảy sinh Bên cạnh những tác động tích cực, còn có những tác động tiêu cực, gây nguy hại cho con người, đặc biệt là trẻ em Nếu mỗi người, trong đó có trẻ em không có những kiến thức cần thiết để biết lựa chọn những giá trị sống tích cực, không có những năng lực để ứng phó, vượt qua những thách thức
mà hành động theo cảm tính thì rất dễ gặp trở ngại, rủi ro trong cuộc sống Do đó, việc hình thành kỹ năng sống cho mọi người nói chung và trẻ em nói riêng đang trở thành nhiệm vụ quan trọng của nhà trường và xã hội Giáo dục kỹ năng sống phải được đo bằng sự vận dụng những kỹ năng đó trong cuộc sống mỗi cá nhân để sống tích cực, sống hạnh phúc, sống có ý nghĩa Giáo dục kỹ năng sống nhằm giúp trẻ phát triển hài hòa, toàn diện về nhân cách Cung cấp cho mỗi trẻ những kiến thức cần thiết về kỹ năng sống để các em sống sao cho lành mạnh và có ý nghĩa Giúp các em hiểu, biến những kiến thức về kỹ năng sống được cung cấp thành hành động
cụ thể trong quá trình hoạt động thực tiễn của bản thân, với người khác, với xã hội, ứng phó trước nhiều tình huống, học cách giao tiếp, ứng xử với mọi người, giải quyết mâu thuẫn trong mối quan hệ và thể hiện bản thân một cách tích cực Theo UNESCO, 8 tuổi đã là quá trễ để giáo dục kỹ năng sống Vì đến độ tuổi này trẻ đã hình thành cho mình phần lớn các giá trị; trừ phi có sự thay đổi sâu sắc về trải nghiệm trong đời, nếu không thì khó mà lĩnh hội thêm giá trị sau độ tuổi này Trẻ
từ dưới 2 tuổi đã bắt đầu tiếp thu từ môi trường sống xung quanh, như giọng nói của người lớn khi trò chuyện với trẻ, cách thức tiếp xúc với trẻ, tất cả đều tác
Trang 10động đến sự phát triển của trẻ Vì vậy việc hình thành và phát triển kỹ năng sống cần được tiến hành ngay từ bậc học mầm non
Giáo dục “Kỹ năng sống” cho trẻ là giáo dục cách sống tích cực trong xã hội
hiện đại Giáo dục cho trẻ những kỹ năng mang tính cá nhân và xã hội nhằm giúp trẻ có thể chuyển kiến thức , thái độ , cảm nhận thành những khả năng thực thụ, giúp trẻ biết xử lý hành vi của mình trong các tình huống khác nhau của cuộc sống
Một cá nhân nếu có đầy đủ kiến thức trong cuộc sống, nhưng lại chưa có kỹ năng cuộc sống (Bao gồm nhiều kỹ năng) và biết sử dụng linh hoạt kỹ năng này thì không đảm bảo cá nhân đó có thể đưa ra các quyết định hợp lý, giao tiếp có hiệu quả và có mối quan hệ tốt với mọi người Kỹ năng sống chính là năng lực tâm lý xã hội để đáp ứng và đối phó những yêu cầu và thách thức trong cuộc sống hàng ngày
Một nghiên cứu gần đây về sự phát triển trí não của trẻ cho thấy khả năng giao tiếp, khả năng biết tự kiểm soát, thể hiện các cảm giác của mình, biết cách ứng
xử phù hợp và biết tự cách giải quyết các vấn đề cơ bản một cách tự lập rất quan trong đối với trẻ Chính vì vậy, việc đi sâu lồng ghép dạy kỹ năng sống cho trẻ phù hợp với từng độ tuổi từ lứa tuổi mầm non vô cùng cần thiết và đó cũng là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục MN
Kỹ năng sống của trẻ bao gồm rất nhiều kỹ năng: Kỹ năng giao tiếp ứng xử ,
kỹ năng vệ sinh, kỹ năng thích nghi với môi trường sống, kỹ năng hợp tác chia sẻ Dạy kỹ năng sống cho trẻ là truyền cho trẻ những kinh nghiệm sống của người lớn Nhằm giúp trẻ có những kỹ năng đương đầu với những khó khăn trong cuộc sống Trẻ biết vận dụng, biến những kiến thức của mình để giải quyết những khó khăn trong cuộc sống hằng ngày cho phù hợp
Muốn vậy, người lớn phải tạo cho trẻ có môi trường để trải nghiệm, thực hành Nhưng trên thực tế, trong xã hội hiện nay các gia đình thường chú trọng đến việc học kiến thức của trẻ mà không chú ý đến phát triển các kỹ năng cho trẻ Luôn bao bọc , nuông chiều, làm hộ trẻ khiến trẻ ỷ lại, ích kỷ, không quan tâm đến người khác và các kỹ năng trong cuộc sống rất hạn chế Khó khăn cho trẻ trong việc có tình huống bất ngờ xảy ra Bên cạnh đó ở các trường MN cũng quan tâm đến phát
Trang 11triển các lĩnh vực như nhận thức, thẩm mỹ, ngôn ngữ… mà chưa thật sự chú ý đến việc dạy và rèn luyện các kỹ năng sống cho trẻ nên khi trẻ chưa có những kỹ năng cần thiết để có thể thích ứng với những thay đổi đột ngột, những tình huống xảy ra đột ngột trong cuộc sống
Chính vì vậy, chúng tôi đã chọn vấn đề nghiên cứu:“Giáo dục kỹ năng sống
thông qua hoạt động ngoại khóa cho trẻ mẫu giáo lớn ở các trường MN thành Phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên” làm đề tài nghiên cứu luận văn của mình
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và thực trạng giáo dục kỹ năng sống cho trẻ ở các trường MN nhằm đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả, chất lượng giáo dục toàn diện cho trẻ ở các trường Mầm non thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên
3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình giáo dục trẻ mẫu giáo
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động ngoại khóa cho trẻ mẫu giáo lớn ở các trường MN Thành Phố Tuy Hòa
4 Giả thuyết nghiên cứu
Giáo dục cho trẻ mẫu giáo ở các trường MN Thành Phố Tuy Hòa đã được chú trọng tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế trong giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo Nếu đề xuất một số biện pháp giáo dục trẻ MG lớn thông qua hoạt động ngoại khóa thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho trẻ mẫu giáo các trường MN
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về giáo dục kỹ năng sống thông qua HĐNK cho trẻ MG ở trường MN
5.2 Khảo sát thực trạng giáo dục kỹ năng sống cho trẻ MG lớn ở các trường
MN Thành Phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên
Trang 125.3 Đề xuất một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ MG lớn thông qua HĐNK ở các trường mầm non
5.4 Thực nghiệm sư phạm
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
6.1 Giới hạn về nội dung
Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ MG có nhiều hình thức, con đường, nội dung tuy nhiên trong đề tài nghiên cứu chỉ giới hạn nghiên cứu một số kỹ năng: kỹ năng
tự tin và mạnh dạn, tự trọng, kỹ năng phối hợp với người khác, kỹ năng giao tiếp thông qua hoạt động ngoại khóa
6.2 Giới hạn về khách thể khảo sát
Khảo sát, lấy số liệu từ cán bộ quản lý, giáo viên ở các trường MN trên địa bàn Thành Phố Tuy Hòa Chúng tôi đã tiến hành điều tra, xin ý kiến của 20 CBQL,
80 giáo viên tại 2 trường MN của Thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên
6.3 Địa bàn và thời gian nghiên cứu
- Khảo sát 2 trường: MN Anh Đào, Sơn Ca Thành Phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên
- Thời gian khảo sát và tiến hành thực nghiệm: 9/2016-4/2017
-Địa bàn thực nghiệm: MN Anh Đào Thành phố Tuy Hòa, Phú Yên
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
- Tìm kiếm, đọc, phân tích và tổng hợp tài liệu phục vụ cho đề tài nghiên cứu như các sách giáo khoa, sách chuyên ngành, các tạp chí, trang web…
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Trang 13Trò chuyện, trao đổi với giáo viên mầm non nhằm tìm hiểu nhận thức, thái
độ của họ đối với việc giáo dục KNS cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua hoạt động ngoại khóa tại trường mầm non
7.2.3 Phương pháp điều tra bằng phiếu
Dùng phiếu điều tra ý kiến của giáo viên và CBQL ở các trường mầm non về nhận thức về GD KNS thông qua HĐNK và thực trạng sử dụng biện pháp giáo dục KNS cho trẻ MG lớn thông qua hoạt động ngoại khóa (xem phụ lục)
7.2.4 Phương pháp thực nghiệm
Kiểm chứng giả thuyết đặt ra và thử nghiệm các biện pháp đề xuất
+ Thực nghiệm phát hiện: Dùng để phát hiện mức độ biểu hiện KNS của trẻ
MG Lớn thông qua HĐNK
+ Thực nghiệm tác động: Dùng để tác động sư phạm nhằm giáo dục KNS của trẻ được nghiên cứu
7.3 Nhóm phương pháp thống kê toán học
Phương pháp thống kê toán học được sử dụng để xử lí kết quả nghiên cứu
8 Những đóng góp mới của luận văn:
- Góp phần làm sáng tỏ và sâu sắc thêm hệ thống lý luận về GD KNS thông qua HĐNK cho trẻ MG Xác định kỹ năng sống cần dạy cho trẻ MG, phân tích nội dung của từng KNS cần trang bị cho trẻ và các hình thức tổ chức HĐNK ở trường
Trang 14- Xây dựng 5 biện pháp GD KNS cho trẻ MG thông qua HĐNK Xác định
các điều kiện cần đảm bảo để thực hiện có hiệu quả các biện pháp đó trong quá trình rèn luyện kỹ năng sống cho trẻ MG Thành phố Tuy Hòa
- Xây dựng nội dung rèn luyện kỹ năng tổ chức HĐNK cho GV tại các trường MN; Bồi dưỡng kiến thức cho đôi ngũ GVMN; Xây dựng hình thức tổ chức HĐNK phong phú đa dạng; Tăng cường CSVC đầu tư cho HĐNK để giáo dục KNS cho trẻ
9 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, phụ lục, tài liệu tham khảo nội dung luận văn thể hiện trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận về giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động ngoại khóa cho trẻ MG ở trường MN
Chương 2: Thực trạng giáo dục kỹ năng sống ở các trường MN thành Phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên
Chương 3: Một số biện pháp về giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động ngoại khóa cho trẻ MG Lớn ở các trường MN của Thành phố Tuy Hòa và thực nghiệm sư phạm
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG THÔNG QUA
HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA CHO TRẺ MẪU GIÁO
1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Vấn đề giáo dục kỹ năng sống (KNS) trên thế giới [3,tr.33]
1.1.1.1 Giáo dục kỹ năng sống tại Lào
Từ năm 1997 – 2002, lần đầu tiên giáo dục KNS được thực hiện trong 5 trường trung học cơ sở thuộc một tỉnh, sau đó đã mở rộng ra 700 trường tiểu học và trung học thuộc 8 tỉnh Với những nội dung cơ bản như:
- Kỹ năng giao tiếp có hiệu quả, kỹ năng tư duy sáng tạo, kỹ năng giải quyết vấn đề… Trong khi thực hiện, một số bài học kinh nghiệm đã được chỉ rõ như: cần phải biên soạn, in ấn nhiều tài liệu hướng dẫn để phổ biến cho người dạy và người học Đồng thời cần tăng cường việc đào tạo giáo viên trực tiếp giáo dục kỹ năng sống ở các trường về nội dung và phương pháp tích cực hơn
1.1.1.2 Giáo dục kỹ năng sống tại Campuchia
Tại Campuchia người ta coi KNS là năng lực mà con người cần phải có để nâng caocác điều kiện sống có hiệu quả nhằm phát triển quốc gia, kỹ năng tìm việc
và kiếm tiền để nuôi sống bản thân và gia đình là những KNS quan trọng đối với thế hệ trẻ và người lớn Vì thế trong sự phân loại được chia thành 3 nhóm chủ yếu:
- Nhóm 1: Kỹ năng chung bao gồm
+ Những kỹ năng đơn giản trong đời sống gia đình như: kỹ năng phòng ngừa những bệnh lây lan qua đường tình dục, kỹ năng an toàn thực phẩm, kỹ năng hiểu biết về dinh dưỡng…
+ Kỹ năng quản lý gia đình và các phương pháp học tập; Kỹ năng nâng cao đời sống hàng ngày; Kỹ năng hiểu biết về các giá trị đạo đức, tự chủ…
- Nhóm 2: Kỹ năng tiền nghề nghiệp: Đó là những kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tính toán, tri thức về quyền và trách nhiệm của người chủ và người làm thuê,
kỹ năng giải quyết vần đề…
Trang 16- Nhóm 3: Các kỹ năng nghề nghiệp: Như trồng trọt, nuôi gia súc, sửa chữa
đồ điện, sử dụng máy tính và nói ngôn ngữ nước ngoài
Tại Campuchia KNS được đào tạo chính quy trong nhà trường và được coi như là những nhân tố chính trong chính sách giáo dục nhằm kết nối giáo dục với nhu cầu thị trường để phát triển kinh tế xã hội Sự kết nối này sẽ nâng cao tính hiệu quả nghề nghiệp của người học sau khi tốt nghiệp và tăng cường sự đầu tư của địa phương và quốc tế, đồng thời sẽ tạo ra nhu cầu tự học của người học
1.1.1.3 Giáo dục kỹ năng sống tại Malaysia
Ở Malaysia KNS được xem là môn kỹ năng của cuộc sống và môn này được dạy như một môn học ở trường tiểu học và THCS Mục tiêu của môn học này
ở trường tiểu học là cung cấp cho người học những kỹ năng thực tể cơ bản để họ có thể thực hiện các nhiệm vụ và có xu hướng những cá nhân có thể tự thực hiện, được xoá mù về công nghệ và kinh tế, là người có sự tự tin, sáng tạo, khả năng tương tác hiệu quả với người khác
1.1.1.4 Giáo dục kỹ năng sống tại Indonesia
Tại Indonesia KNS được quan niệm là những kỹ năng, kiến thức, thái độ giúp người học sống một cách độc lập Giáo dục KNS sẽ:
- Nâng cao cơ hội việc làm cho người học;
- Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực từ đó thúc đẩy việc thực hiện chính sách tự chủ của địa phương;
- Tạo ra chất lượng giáo dục cho người nghèo và người có hoàn cảnh đặc biệt;
1.1.1.5 Giáo dục kỹ năng sống tại Thái Lan
Tại đây họ quan niệm, KNS là thuộc tính hay năng lực tâm lý xã hội giúp cá nhân đương đầu với tất cả tình huống hàng ngày một cách hiệu quả và có thể đáp ứng với hoàn cảnh tương lai để có thể sống hạnh phúc Nói cách khác, KNS là khả năng của cá nhân có thể giải quyết những vấn đề trong đời sống hàng ngày để an toàn và hạnh phúc Và ít nhất cần hình thành cho người học 10 KNS cơ bản sau:
Trang 17- Ra quyết định; Giải quyết xung đột ; Sáng tạo ; Phân tích và đánh giá ; Giao tiếp ; Quan hệ liên nhân cách ; Làm chủ cảm xúc ; Làm chủ được những cú sốc ; Đồng cảm ; Thực hành
1.1.1.6 Giáo dục kỹ năng sống tại Ấn Độ
KNS được coi là khả năng giúp tăng cường sự lành mạnh về tinh thần và năng lực của con người Bao gồm những kỹ năng cơ bản như:
Giải quyết vấn đề ; Tư duy phê phán ; Tư duy sáng tạo ; Giao tiếp ; Quan hệ liên nhân cách ; Ra quyết định; Đàm phán ; Tự nhận thức ; Đối phó với stress và cảm xúc ; Từ chối ; Kiên định và hài hoà ;
1.1.1.7 Giáo dục Kỹ năng sống tại Nepal
KNS được coi như là một phương thức để ứng phó hay là những kỹ năng cần thiết để tồn tại Cách phân biệt kỹ năng sống cũng có những điểm khác biệt Chẳng hạn họ phân loại KNS thành:
- Kỹ năng tồn tại: là những kỹ năng cần có để con người có thể tồn tại
- Kỹ năng chung: Là những kỹ năng giúp con người tìm ra và giải quyết được những vấn đề của cuộc sống
- Kỹ năng dịch chuyển: là sự kết hợp của kỹ năng tồn tại kỹ năng chung và
kỹ năng nghề nghiệp Giúp con người nhanh chóng thích ứng với việc phải chuyển sang nghề nghiệp mới
1.1.1.8 Giáo dục kỹ năng sống tại Philipine
Với quan niệm coi kỹ năng sống là những năng lực thích nghi và tính tích cực của hành vi giúp cho cá nhân có thể ứng phó một cách hiệu quả với những yêu cầu, những thay đổi, những trải nghiệm và tình huống của đời sống hàng ngày và vì vậy những kỹ năng cần thiết khi giáo dục kỹ năng sống cho người học cần có là:
Tự nhận thức ; Đồng cảm ; Giao tiếp hiệu quả ; Quan hệ liên nhân cách ; Ra quyết định; Tư duy sáng tạo; Tư duy phê phán; Ứng phó ; Làm chủ cảm xúc ; Kinh doanh
Nói tóm lại, với quan niệm và cách phân loại có những nét khác nhau Nhưng tựu trung lại hầu hết các nước đều nhận thấy vai trò quan trọng của việc
Trang 18hình thành kỹ năng sống cho người học là giúp cho người học có năng lực thích nghi và ứng phó kịp thời với những biến đổi của xã hội Và những KNS cần giáo dục theo quan điểm của các nước ASIAN: kỷ năng tự nhận thức, kỷ năng ra quyết định, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng tư duy, kĩ năng sáng tạo, kĩ năng tồn tại…
1.1.2 Vấn đề giáo dục kỹ năng sống tại Việt Nam [3, tr.42]
Bắt đầu từ chương trình của UNICEF năm 1996 “Giáo dục kỹ năng sống để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường” Thuật ngữ kỹ năng sống được người Việt Nam biết đến Lúc đó quan niệm về kỹ năng sống được giới thiệu trong chương trình này chỉ bao gồm những
kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng xác định giá trị, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng đặt mục tiêu…nhằm vào những chủ đề giáo dục sức khỏe do các chuyên gia Úc tập huấn
Đến giai đoạn hai với chương trình “Giáo dục sống khỏe mạnh và kỹ năng sống” thì quan niệm về kỹ năng sống cơ bản đối với từng nhóm đối tượng được vận dụng đa dạng hơn Đó là những kỹ năng cần cho lĩnh vực bảo vệ sức khỏe, phòng tránh các tệ nạn xã hội dành cho nhóm đối tượng có nguy cơ cao để đương đầu với những thách thức của xã hội, vận dụng để giải quyết các vấn đề xã hội khác nhau trong tình huống khác nhau của từng loại đối tượng Sau hội thảo “Chất lượng giáo dục và kỹ năng sống” do UNESCO tài trợ được tổ chức năm 2003 thì khái niệm kỹ năng sống được hiểu với nội hàm đầy đủ và đa dạng Từ đó, những người làm công tác giáo dục Việt Nam đã hiểu đầy đủ hơn về kỹ năng sống và trách nhiệm phải giáo dục kỹ năng sống cho người học Có một số tác giả trong nước đã nghiên cứu, trình bày giáo dục kỹ năng sống thông qua các lứa tuổi như Nguyễn Thanh Bình
Từ những cơ sở đã nêu trên cho chúng ta thấy được quan niệm của Việt Nam
về giáo dục KNS cũng tương tự giống như các nước ASIAN là giáo dục những kỹ năng như: kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng xác định giá trị, kỹ năng xác định mục tiêu, kỹ năng ra quyết định… Và những kỹ năng này ở Viêt Nam mới chỉ thực hiện, tổ chức ở trong các hoạt động chính khóa của các trường
Trang 19mầm non, phổ thông mà chưa được tổ chức thông qua các hoạt động ngoại khóa cho nên đó là vấn đề cần nghiên cứu
1.2 Những khái niệm công cụ
1.2.1 Kỹ năng sống
1.2.1.1 Các khái niệm
* Khái niệm kỹ năng:
Các tác giả nghiên cứu về kỹ năng đã đưa ra những quan niệm khác nhau về
kỹ năng Trong các từ điển, kỹ năng được định nghĩa như sau:
- Kỹ năng là cách thức thực hiện hành động đã được chủ thể tiếp thu, được đảm bảo bằng tập hợp các tri thức và kỹ xảo đã được lĩnh hội” [34]
- Kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế [21]
- Kỹ năng là làm một cái gì đó, có được nhờ học tập, thử nghiệm
- Kỹ năng là khả năng vận dụng các tri thức khoa học thu thập được vào thực tiễn để có thể thực hiện tốt một việc gì đó
- Kỹ năng là cách thức cơ bản để chủ thể thực hiện hành động, thể hiện bởi tập hợp những kiến thức đã thu lượm được và những thói quen, kinh nghiệm [1]
Để hình thành kỹ năng các tác giả đã chỉ ra rằng: khi tiến hành một hoạt động nào đó Lúc đầu phải xác định mục đích của nó, sau đó chỉ ra và giúp người học hiểu được cách thức thực hiện hoạt động này, trình tự thực hiện các hoạt động
và cung cấp các biểu tượng về kỹ thuật hoàn thành chúng [5] Tri thức về mục đích của hoạt động, các khái niệm, các biểu tượng về các cách thức để đạt được mục tiêu cần được nắm vững trước khi thực hiện các hành động để hình thành kỹ năng Trong quá trình đó các khái niệm, biểu tượng sẽ được mở rộng hơn, trở nên sâu sắc hơn, hoàn thiện hơn Người có kỹ năng về hành động nào đó phải có tri thức về hành động đó, hành động theo đúng yêu cầu và đạt kết quả trong mọi điều kiện khác nhau Theo K.I Platonov và G.G.Golubev kỹ năng là năng lực của người thực hiện công việc có kết quả với một chất lượng cần thiết trong những điều kiện mới
và những khoảng thời gian tương ứng Bất kỳ một kỹ năng nào cũng bao hàm trong
Trang 20đó cả biểu tượng, khái niệm, vốn tri thức, sự tự kiểm tra, điều chỉnh quá trình hoạt động
- Tác giả Nguyễn Đức Hưởng đưa ra các chỉ báo đánh giá mức độ thuần thục, thành thạo của kỹ năng như sau:
+ Mức độ hiểu biết về hành động và các thao tác cấu thành hành động; + Tốc độ thực hiện hành động, thực hiện các thao tác cấu thành hành động; + Tính nhịp nhàng trong phối hợp các thao tác hành động;
+ Hiệu quả của hành động
Khi đánh giá kỹ năng cần phải sử dụng tổng hợp các chỉ báo trên Nếu chỉ sử dụng một chỉ báo đơn lẻ thì có thể dẫn đến nhầm lẫn (chẳng hạn như coi người có tri thức, hoặc người có hành động nhanh, người làm việc có hiệu quả là người có kỹ năng) [10]
Như vậy có thể nói, kỹ năng là khả năng vận dụng kiến thức vào trong thực tiễn để thực hiện có kết quả một hành động nào đó
* Khái niệm kỹ năng sống [20, tr.8]
Theo WHO (tổ chức Y tế thế giới), kỹ năng sống là những kỹ năng mang tính tâm lý xã hội và kỹ năng về giao tiếp được vận dụng trong những tình huống hàng ngày để tương tác một cách có hiệu quả với người khác và giải quyết một cách có hiệu quả những vấn đề, những tình huống của cuộc sống hàng ngày
Theo UNICEP (quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc), Kỹ năng sống là những hành vi cụ thể, thể hiện khả năng chuyển đổi kiến thức và thái độ thành hành động thích ứng trong cuộc sống Kỹ năng sống phải dựa trên nhận thức, thái độ và chuyển biến thành hành vi như một yêu cầu liên hoàn và có định hướng Giáo dục dựa trên kỹ năng sống cơ bản là sự thay đổi trong hành vi hay một sự phát triển hành vi nhằm tạo sự cân bằng giữa kiến thức, thái độ và hành vi
Theo UNESCO (tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên hợp quốc), thì kỹ năng sống là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày Như vậy, kỹ năng sống chính là những kỹ năng
Trang 21tâm lý- xã hội nhằm giúp cá nhân giải quyết một cách có hiệu quả những yêu cầu, thách thức của cuộc sống đặt ra và thích nghi với những yêu cầu, thách thức đó
*Khái niệm giáo dục kỷ năng sống:
- Quan điểm về giáo dục nhƣ sau: [17, tr.22]
Giáo dục (theo nghĩa rộng): Là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức,
có kế hoạch, có nội dung và bằng phương pháp khoa học của nhà giáo dục tới người được giáo dục trong các cơ sở giáo dục, nhằm hình thành nhân cách cho họ
Giáo dục (theo nghĩa hẹp) là quá trình hình thành cho người được giáo dục
lí tưởng, động cơ, tình cãm, niềm tin, những nét tính cách, những hành vi, thói quen
cư xử đúng đắn trong xã hội thông qua việc tổ chức cho họ các hoạt động và giao lưu
- Giáo dục kỹ năng sống:
Theo tác giả Nguyễn Thanh Bình giáo dục KNS là giáo dục cách sống tích cực trong xã hội hiện đại, là xây dựng những hành vi lành mạnh và thay đổi những hành vi, thói quen tiêu cực trên cơ sở giúp người học có cả kiến thức, giá trị, thái độ
và các kỹ năng thích hợp
Giáo dục KNS có mục tiêu chính là làm thay đổi hành vi của người học từ thói quen thụ động, có thể gây rủi ro, mang lại hậu quả tiêu cực, chuyển thành những hành vi mang tính xây dựng, tích cực và có hiệu quả để nâng cao chất lượng cuộc sống của cá nhân và góp phần phát triển bền vững cho xã hội
1.2.1.2 Phân loại kỹ năng sống: [3, tr.10]
Có nhiều cách phân loại kỹ năng sống
Theo tổ chức Y tế Thế giới (WHO) gồm ba nhóm kỹ năng:
- Nhóm kỹ năng nhận thức gồm các kỹ năng:
+ Tự nhận thức bản thân; Kỹ năng sáng tạo; Kỹ năng ra quyết định ; Kỹ năng giải quyết vấn đề ; Kỹ năng tư duy; Kỹ năng xác định giá trị; Kỹ năng tự đặt mục tiêu
- Nhóm kỹ năng liên quan đến cảm xúc gồm các kỹ năng:
+ Kỹ năng nhận biết và chịu trách nhiệm về cảm xúc của mình;
Trang 22+ Kỹ năng kiềm chế và kiểm soát được cảm xúc;
+ Kỹ năng tự giám sát- tự điều chỉnh cảm xúc của cá nhân
- Nhóm kỹ năng xã hội: Nhóm này gồm các kỹ năng: [20, tr.8]
+ Kỹ năng giao tiếp và truyền thông
+ Kỹ năng cảm thông
+ Kỹ năng thích ứng với cảm xúc của người khác
+ Kỹ năng chia sẻ, kỹ năng hợp tác,
+ Kỹ năng gây thiện cảm
Theo quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) có 3 nhóm sau đây:
- Nhóm kỹ năng tự nhận thức và sống với chính mình Nhóm này gồm: + Kỹ năng tự nhận thức và đánh giá bản thân,
+ Kỹ năng xây dựng mục tiêu cuộc sống,
+ Kỹ năng bảo vệ bản thân,
+ Kỹ năng kiên định,
+ Kỹ năng đương đầu với cảm xúc,
+ Kỹ năng đương đầu với căng thẳng…
- Nhóm kỹ năng nhận thức và sống với người khác Nhóm này có các kỹ năng:
+ Kỹ năng thiết lập quan hệ,
+ Kỹ năng hợp tác và làm việc nhóm
+ Kỹ năng thương lượng
+ Kỹ năng đứng vững trước những áp lực tiêu cực
- Nhóm kỹ năng ra quyết định và làm việc hiệu quả:
Trang 23- Nhóm kỹ năng chung: nhóm này gồm những kỹ năng cơ bản mà mỗi cá nhân đều có thể có để thích ứng với cuộc sống chung bao gồm các kỹ năng: kỹ năng nhận thức, kỹ năng liên quan đến cảm xúc và các kỹ năng cơ bản về xã hội
- Nhóm kỹ năng chuyên biệt Nhóm này gồm các kỹ năng được thể hiện trong các lĩnh vực cụ thể của đời sống xã hội như: Các kỹ năng về sức khỏe và dinh dưỡng, kỹ năng liên quan đến giới và giới tính, kỹ năng về các vấn đề xã hội như
ma túy, HIV- AIDS, các kỹ năng liên quan đến môi trường thiên nhiên, các vấn đề bạo lực, rủi ro, những kỹ năng liên quan đến cuộc sống gia đình, môi trường cộng đồng, hòa bình và giải quyết xung đột, phòng tránh buôn bán trẻ em và phụ nữ…
* Tổ chức ESCAP (Hội đồng kinh tế xã hội châu Á- Thái Bình Dương của Liên Hợp Quốc) Theo tổ chức này họ phân loại kỹ năng sống thành 3 dạng
- Kỹ năng sống để phát triển cá nhân,
- Kỹ năng sống để tạo mối quan hệ với người khác,
- Kỹ năng công nghệ theo đề nghị của các đại diện trẻ tại một hội nghị Họ nhấn mạnh đến kỹ năng công nghệ thông tin
Theo chúng tôi, các quan điểm trên trình bày theo cách tiếp cận khác nhau cho phù hợp với từng mục đích của các tổ chức, nhưng tất cả đều dựa trên 10 kỹ năng sống cơ bản như sau:
Ra quyết định ; Giải quyết vấn đề ; Suy nghĩ sáng tạo ; Suy nghĩ có phán đoán; Truyền thông hiệu quả ; Giao tiếp giữa người với người ; Ý thức về bản thân
; Khả năng thấu cảm ; Ứng phó với cảm xúc ; Ứng phó với stress
1.2.2 Hoạt động ngoại khóa
1.2.2.1 Hoạt động ngoại khóa
Hoạt động ngoại khóa là các hoạt động nằm ngoài chương trình học chính khóa
Hoạt động ngoại khóa là một hình thức giáo dục để gắn liền hơn nữa việc giáo dục của nhà trường với giáo dục của xã hội, của gia đình, việc học tập trong nhà trường với việc học tập và hành động trong thực tiễn Qua hoạt động ngoài nhà
Trang 24trường, các kiến thức sẽ được liên hệ với thực tiễn sinh động, sẽ được củng cố sâu sắc hơn
Hoạt động ngoại khóa là các việc làm, các biện pháp giáo dục muôn màu, muôn vẻ có tính chất giáo dưỡng nằm ngoài kế hoạch và chương trình chính khóa
HĐNK là một bộ phận quan trọng trong chương trình giáo dục mầm non Tham gia các HĐNK sẽ giúp trẻ khám phá bản thân, phát hiện ra những điều mới lạ của các hoạt động, các tình huống xảy ra trong xã hội, mở rộng vốn hiểu biết, giúp trẻ biết phối hợp, tự tin, tự lập từ đó hình thành ở trẻ những kỷ năng sống cần thiết hòa nhập tốt với cộng đồng và trưởng thành hơn trong cuộc sống sau này Ngoài ra, tham gia các hoạt động ngoại khóa giúp trẻ có thể làm quen thêm nhiều bạn mới, xây dựng tinh thần đồng đội, ý thức tập thể, tinh thần hợp tác… là những đức tính rất cần thiết trong cuộc sống, giúp trẻ vui vẻ khi được đến lớp, đến trường
1.2.2.2 Các loại hình hoạt động ngoại khóa
- Hoạt động văn hóa nghệ thuật
- Hoạt động thể dục thể thao
- Hoạt động tham quan dã ngoại
- Các trò chơi dân gian
Các hoạt động này thường được tổ chức dưới những hình thức hết sức đa dạng, phong phú, hấp dẫn, thu hút học sinh tham gia đông đảo
1.2.2.3 Đặc điểm của hoạt động ngoại khóa
HĐNK là một hình thức tổ chức dạy học mang những đặc điểm sau:
Hoạt động ngoại khóa được thực hiện ngoài giờ học chính khóa, nó không mang tính chất bắt buộc mà tùy thuộc vào hứng thú, sở thích, nguyện vọng của người học sinh trong khuôn khổ khả năng và điều kiện tổ chức có được của nhà trường
Hoạt động ngoại khóa có thể được tổ chức dưới nhiều dạng: tập thể lớp, tập thể nhóm theo năng khiếu, dạng học tập, dạng vui chơi, dạng thường kì, dạng đột xuất nhân những dịp kỉ niệm hay lễ hội
Hoạt động ngoại khóa có thể được tổ chức theo những hình thức như: tổ
Trang 25ngoại khóa, câu lạc bộ, tham quan, hội thảo, dạ hội nghệ thuật …
Nội dung, hình thức tổ chức hoạt động ngoại khóa rất phong phú, đa dạng bao gồm cả mặt văn hóa, khoa học - công nghệ, thể dục thể thao, nghệ thuật…dưới sự linh hoạt uyển chuyển bằng nhiều phương pháp phù hợp của các giáo viên bộ môn nhằm giúp học sinh mở rộng, đào sâu làm phong phú thêm những điều đã học trong các giờ học nội khóa của các môn học tương ứng
Để tiến hành các hoạt động ngoại khóa đạt hiệu quả tốt đẹp đòi hỏi phải có
sự tổ chức chặt chẽ, tỉ mỉ của giáo viên, sự giúp đỡ của nhà trường, của hội cha mẹ học sinh và các tổ chức ngoài xã hội Bên cạnh đó, giáo viên cần động viên được sự tham gia nhiệt tình của tập thể học sinh, của mỗi cá nhân học sinh Cần tạo dựng được những hạt nhân nòng cốt trong mỗi dạng hoạt động ngoại khóa
1.3 Vị trí, vai trò, mục tiêu giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non [6] 1.3.1 Vị trí, vai trò giáo dục mầm non [11, tr.45]
Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân có nhiệm vụ đặt nền móng cơ sở cho việc hình thành và phát triển nhân cách con người mới Việt Nam đáp ứng yêu cầu của thời kì đổi mới công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xu hướng phát triển của thời đại Các nghị quyết của Đảng về giáo dục mầm non đều đã xác định rõ vị trí của giáo dục mầm non trong chiến lược giáo dục và đào tạo con người và đã chỉ ra bước đi thích hợp với khả năng thực tế của đất nước “ Phát triển bậc học Mầm non phù hợp với điều kiện và yêu cầu của từng nơi Bảo đảm hầu hết trẻ 5 tuổi được học chương trình mẫu giáo lớn chuẩn bị vào lớp 1”, “xây dựng hoàn chỉnh và phát triển bậc học mầm non cho hầu hết trẻ em trong độ tuổi Phổ biến kiến thức nuôi dạy trẻ cho các gia đình” Nhận thức đúng đán được vị trí của giáo dục mầm non trong chiến lược phát triển con người sẽ giúp cho nền giáo dục nước ta phát triển tiến kịp các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới
Trang 261.3.2 Mục tiêu giáo dục MN
Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào lớp một
1.3.3 Đặc điểm tâm lý của trẻ lớp mẫu giáo lớn
1.3.3.1 Sự phát triển cảm giác, tri giác [14, tr.176]
Ở tuổi này sự phát triển về cảm giác và tri giác của trẻ phát triển mạnh mẽ
- Đặc điểm lĩnh hội chuẩn cảm giác của trẻ mẫu giáo: Lúc đầu trẻ lĩnh hội các biến dạng cơ bản của mỗi loại thuộc tính, sau đó trẻ học phân biệt các biến dạng của các chuẩn
- Sự phát triển hành động tri giác của trẻ mẫu giáo: Dần chuyển hành động định hướng bên ngoài thành hành động tri giác và tăng khả năng định hướng có mục đích, tính kế họach, có điều khiển trong quá trình tri giác
1.3.3.2 Đặc điểm phát triển trí nhớ của trẻ mẫu giáo lớn
- Các hình thức ghi nhớ và nhớ lại có chủ định bắt đầu xuất hiện ở mẫu giáo nhỡ và phát triển mạnh ở mẫu giáo lớn do hoạt động của trẻ ngày càng phức tạp và
do yêu cầu của người lớn đối với trẻ ngày càng cao
- Trí nhớ vận động; Trí nhớ hình ảnh; Trí nhớ từ ngữ logic; Trí nhớ cảm xúc
1.3.3.3 Đặc điểm phát triển tư duy
Ở trẻ lớp mẫu giáo lớn, loại tư duy chủ yếu là tư duy trực quan hình ảnh Khi giải quyết vấn đề đặt ra, trẻ hay suy nghĩ dựa vào tư duy trực quan hình ảnh Trẻ giải quyết các vấn đề dựa vào các hình ảnh cụ thể vẫn dễ dàng hơn khi bài toán đó được giao dưới hình thức các con số trừu tượng
1.3.3.4 Đặc điểm phát triển tưởng tượng
Trí tưởng tượng của trẻ mẫu giáo được phát triển mạnh mẽ Tuổi mẫu giáo là giai đoạn phát cảm về sự phát triển tưởng tượng Trẻ rất hay tưởng tượng Hình ảnh tưởng tượng của trẻ bay bổng, rực rỡ, giàu màu sắc xúc cảm và hay vi phạm hiện thực
Trang 27- Tưởng tượng của trẻ vẫn chủ yếu mang tính tái tạo, không chủ định Tưởng tượng tái tạo của trẻ mang tính có chủ định và tích cực hơn Tưởng tượng có chủ đích dần được hình thành khi trẻ tự xây dựng ý tưởng, lập kế họach và thực hiện ý tưởng ấy Trẻ có khả năng tưởng tượng thầm trong óc không cần chỗ dựa trực quan
ở bên ngoài Tưởng tượng sáng tạo dần được phát triển
1.3.3.5 Vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ mẫu giáo
Trò chơi là hoạt động chủ đạo của mẫu giáo Các đặc điểm của trò chơi (chủ yếu là trò chơi sắm vai có chủ đề) mang tính ký hiệu – tượng trưng, phải có sự tham gia bắt buộc của tưởng tượng, giàu tính cảm xúc, mang tính tự nguyện, mang tính tự lập, trong trò chơi, trẻ nhận cho mình một vai nào đó phù hợp với chủ đề chơi
Ở trẻ mẫu giáo lớn, chủ đề chơi của trẻ đa dạng hơn, phản ánh cuộc sống hiện thực xa hơn như “cửa hàng ăn, hiệu cắt tóc”, “bệnh viện” Thời gian chơi của trẻ kéo dài đến hàng giờ và có thể duy trì trong vài ngày Khi thực hiện các hành động chơi, trẻ ưu tiên cho việc sử dụng các kết quả của các hành động đó cho thành viên của trò chơi Các hành động chơi của trẻ được rút gọn, được khái quát hóa và mang tính ước lệ Nội dung chơi cơ bản của trẻ là tuân thủ các quy tắc hành vi xã hội và các mối quan hệ xã hội phù hợp với vai chơi Trẻ thường cãi nhau cái gì giống với thực tế, cái gì không
1.3.3.6 Đặc điểm giao tiếp của trẻ mẫu giáo lớn
- Đến cuối tuổi mẫu giáo, xuất hiện hình thức giao tiếp cấp cao với người lớn – giao tiếp nhân cách ngoài tình huống Trẻ tập trung vào thế giới con người chứ không phải thế giới đồ vật Trong các cuộc trò chuyện của trẻ, các chủ đề về cuộc sống, về công việc của người lớn và các mối quan hệ qua lại của họ chiếm ưu thế Nhờ sự hướng dẫn của người lớn, trẻ nắm được những chuẩn mực đạo đức, đánh giá những hành vi của mình và hành vi của mọi người xung quanh Xuất hiện
ở trẻ nhu cầu được hiểu biết và thông cảm lẫn nhau
Trang 28- Từ 4-6 tuổi trẻ mẫu giáo có giao tiếp công việc tình huống với bạn cùng tuổi Nhu cầu giao tiếp cơ bản của trẻ mẫu giáo là cải thiện sự hợp tác trong công việc và phối hợp các hành động của mình với bạn để đạt mục đích Đến năm thứ 5 của cuộc đời, trẻ thường hỏi về các thành tích của bạn, đòi hỏi mọi người công nhận các thành tích của bản thân, vạch ra sự thất bại của trẻ khác và thử giấu đi những thất bại của bản thân
- Ở trẻ mẫu giáo lớn hình thức giao tiếp công việc ngoài tính huống được phát triển Hoạt động chơi của trẻ đòi hỏi trẻ phải thống nhất với bạn và vạch ra từ trước kế họach của bản thân
- Các đặc điểm giao tiếp với các bạn được thể hiện rõ ràng trong các chủ đề trò chuyện của trẻ Trẻ mẫu giáo bé thường nói về những gì trẻ nhìn thấy, hay là về cái mà trẻ có Các chủ đề này được duy trì trong suốt tuổi mẫu giáo Trẻ mẫu giáo nhỡ thường cho bạn thấy là mình biết làm cái gì và làm được việc đó như thế nào Trẻ mẫu giáo lớn trẻ thường hay kể về bản thân, về cái gì trẻ thích và không thích, chúng chia sẻ với bạn các nhận thức, “kế hoạch cho tương lai”
1.3.3.7 Đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo lớn
- Các hình thức ngôn ngữ có kết cấu chặt chẽ được hình thành, tính biểu cảm của ngôn ngữ được phát triển Đứa trẻ nắm được quy luật của tiếng mẹ đẻ, học cách sắp xếp những ý nghĩ của mình một cách logic, chặt chẽ Sự lập luận trở thành phương pháp giải quyết các nhiệm vụ trí tuệ, ngôn ngữ trở thành công cụ của tư duy và phương tiện của nhận thức
- Chức năng điều khiển của ngôn ngữ được phát triển biểu hiện trong sự hiểu các tác phẩm văn học, sự thực hiện hướng dẫn và yêu cầu của người lớn Chức năng lập kế hoạch của ngôn ngữ được hình thành khi giải quyết các nhiệm vụ thực hành và nhiệm vụ trí tuệ
- Ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo trở thành hoạt động đặc biệt dưới các hình thức như: sự lắng nghe, đàm thoại, thảo luận và kể chuyện Hoàn thiện quá trình phát triển ngữ âm, xuất hiện những tiền đề nắm vững ngữ pháp
Trang 291.4 Giáo dục kĩ năng sống cho trẻ MG thông qua hoạt động ngoại khóa 1.4.1 Vị trí, vai trò của việc giáo dục kĩ năng sống cho trẻ MG
Rèn luyện kĩ năng sống cho trẻ là nhiệm vụ vô cùng quan trọng, ảnh hưởng đến quá trình hình thành và phát triển nhân cách sau này của các bé Chính vì vậy ngay từ giai đoạn mầm non trẻ cần được trang bị kỹ năng sống để định hướng phát triển cá nhân một cách tốt nhất
Rèn luyện kỹ năng sống sẽ giúp trẻ nhanh chóng hoà nhập và khẳng định vị trí của mình trong tập thể, mà xa hơn là một cộng đồng, xã hội Do đó, cho dù trẻ
có tài giỏi, thông minh đến đâu nhưng thiếu kỹ năng sống, bạn cũng không thể tiếp cận với môi trường xung quanh, hòa nhập cũng như khẳng định mình
Chính vì vậy, việc rèn luyện kỹ năng sống cho trẻ là điều rất cần thiết Việc hình thành các kỹ năng cơ bản trong học tập và sinh hoạt là yếu tố quyết định đến quá trình hình thành và phát triển nhân cách sau này của trẻ Khi xảy ra vấn đề nào
đó, nếu không được trang bị kỹ năng sống, trẻ sẽ không đủ kiến thức để xử lý các tình huống bất ngờ Vì thế, rèn luyện kỹ năng sống sẽ giúp trẻ sớm có ý thức làm chủ bản thân, sống tích cực và hướng đến những điều lành mạnh cho chính mình cũng như xã hội
Hiện nay, việc tổ chức các hoạt động ngoại khoá luôn được các trường học quan tâm, chú trọng để rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh Các buổi hoạt động ngoại khoá đóng vai trò rất quan trọng trong việc giáo dục trẻ, mang đến cho các
em một môi trường học tập năng động, tích cực Thông qua các hoạt động ngoại khoá, trẻ em sẽ được phát triển trí tưởng tượng, khả năng sáng tạo, đồng thời phát huy sự nhanh nhạy, khéo léo Ngoài ra, hoạt động ngoại khoá còn giúp trẻ sống hoà đồng, gắn bó, đồng thời phát triển tư duy và khả năng sử dụng ngôn ngữ một cách
Trang 30mắt nhìn thấy và trải nghiệm thực tế, từ đó tạo nên vốn sống, là nền tảng cho sự phát triển nhân cách của trẻ
Ngày nay đứa trẻ được tiếp xúc với xã hội rất sớm nên việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ thực sự rất cần thiết Việc hình thành các kỹ năng cơ bản trong học tập
và sinh hoạt không chỉ mang lại lợi ích về mặt sức khoẻ mà còn giúp các em sớm
có ý thức để làm chủ bản thân, sống tích cực và hướng đến những điều lành mạnh cho chính mình cũng như xã hội
1.4.2 Nguyên tắc giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo
- Đảm bảo tính khoa học, tính vừa sức và nguyên tắc đồng tâm phát triển từ dễ đến khó; đảm bảo tính liên thông giữa các độ tuổi, giữa nhà trẻ, mẫu giáo và cấp tiểu học; thống nhất giữa nội dung giáo dục với cuộc sống hiện thực, gắn với cuộc sống
và kinh nghiệm của trẻ, chuẩn bị cho trẻ từng bước hoà nhập vào cuộc sống
- Phù hợp với sự phát triển tâm sinh lý của trẻ em, hài hoà giữa nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục; giúp trẻ em phát triển cơ thể cân đối, khoẻ mạnh, nhanh nhẹn; cung cấp kỹ năng sống phù hợp với lứa tuổi; giúp trẻ em biết kính trọng, yêu mến, lễ phép với ông bà, cha mẹ, thầy giáo, cô giáo; yêu quý anh, chị, em, bạn bè; thật thà, mạnh dạn, tự tin và hồn nhiên, yêu thích cái đẹp; ham hiểu biết, thích đi học
1.4.3 Nội dung giáo dục KNS cho trẻ MG [7]
Trẻ mẫu giáo là lứa tuổi từ 3-6 tuổi, ở lứa tuổi này trẻ được chia thành 3 nhóm trẻ mẫu giáo bé (3-4 tuổi), trẻ mẫu giáo nhỡ (4-5 tuổi), trẻ mẫu giáo lớn (5-6 tuổi) Những nội dung giáo dục kỷ năng sống cho trẻ hiện nay là:
* Nhóm kỷ năng chăm sóc bản thân
- Kỹ năng hiểu biết và chăm sóc sức khỏe, dinh dưỡng
- Kỹ năng chăm sóc vệ sinh cá nhân
- Kỹ năng giữ an toàn cá nhân
- Kỹ năng nhận thức về bản thân
- Kỹ năng tự tin và mạnh dạn
Chấp nhận và cố gắng thực hiện công việc được giao; Hài lòng khi hoàn thành công việc; Chủ động và độc lập trong một số hoạt động đơn giản hằng ngày; Mạnh dạn bày tỏ ý kiến của bản thân
Trang 31*Nhóm kỷ năng thể hiện tình cảm, thẩm mỹ
- Kỹ năng cảm nhận và thể hiện cảm xúc
- Kỹ năng nhận thức về nghệ thuật
- Kỹ năng sáng tạo
* Nhóm kỹ năng quan hệ xã hội:
- Kỹ năng thiết lập mối quan hệ tích cực với bạn và người lớn
- Kỹ năng hợp tác với người khác
Biết lắng nghe ý kiến của bạn; Biết trao đổi ý kiến của mình với các bạn; Biết tìm cách để giải quyết mâu thuẫn; Chấp nhận sự phân công của nhóm; Sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ đơn giản cùng người khác
- Kỹ năng thích ứng trong quan hệ xã hội
- Kỹ năng tôn trọng người khác
* Nhóm kỹ năng giao tiếp
- Kỹ năng nghe hiểu lời nói
- Kỹ năng sử dụng lời nói
- Kỹ năng giao tiếp
Biết khởi đầu một cuộc trò chuyện bằng các cách khác nhau; Biết điều chỉnh giọng nói phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp; Chăm chú lắng nghe người khác và đáp lại bằng cử chỉ, nét mặt, ánh mắt phù hợp; Biết chờ đến lượt trong giao tiếp, trò chuyện, thảo luận; Biết hỏi lại hoặc có những biểu hiện qua cử chỉ, điệu bộ, nét mặt khi không hiểu người khác nói; Biết sử dụng một số từ: chào, tạm biệt, cảm ơn, xin lỗi, xin phép, thưa, vâng ạ phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp; Không nói tục, chửi bậy
* Kỷ năng nhận thức
- Kỹ năng nhận thức về môi trường xã hội
1.4.4 Phương pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo [15]
Giáo dục KNS không phải là nói cho trẻ biết thế nào là đúng, thế nào là sai Cũng không phải truyền cho trẻ những lời hay ý đẹp mà sáo rỗng Những cách thức như vậy sẽ thất bại hoàn toàn
Trang 32Phương pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non cần phải tạo điều kiện cho trẻ được trải nghiệm, tìm tòi, khám phá môi trường xung quanh dưới nhiều hình thức đa dạng, đáp ứng nhu cầu, hứng thú của trẻ theo phương châm “chơi mà học, học bằng chơi”
1.4.4.1 Phương pháp học qua trải nghiệm [31]
Theo ý kiến của các chuyên gia, kỹ năng sống của trẻ cần được thực hiện bằng cách trực tiếp cho trẻ trải nghiệm
Phương pháp học qua trải nghiệm là một phương pháp kết hợp chặt chẽ giữa
lý thuyết và thực tế trên nền tảng tư duy để trẻ có thể học và ứng dụng ngay hàng ngày Phương pháp học qua trải nghiệm là phương pháp có khả năng rút ngắn khoảng cách giữa lý thuyết và thực tiễn
* Trải nghiệm cụ thể
Tất cả chúng ta tham gia vào những trải nghiệm đầy phức tạp trong suốt quá trình làm việc Những trải nghiệm như vậy có thể tích cực hoặc tiêu cực về cảm xúc hoặc hành vi, và có thể xảy ra trong một sự việc đã được sắp đặt hay một cách ngẫu nhiên Đây là giai đoạn "nhảy bổ vào thực tế" của chu trình học tập
* Quan sát hoặc tự ngẫm
Tự ngẫm là quá trình xem lại kho dữ liệu đã trải nghiệm và những chi tiết
mà chúng có thể đem lại ý nghĩa cho chúng ta Tự ngẫm xảy ra khi chúng ta bắt đầu
cố gắng cảm nhận những trải nghiệm của chính chúng ta Nó là một quá trình của
sự ghi nhận và đánh giá một cách sâu sắc và có hệ thống những thứ xảy ra với chúng ta Nó hoàn hảo một cách tự nhiên và là một thành phần quan trọng của quá trình học tập Nếu bạn đã từng có kinh nghiệm tham gia vào một khoá đào tạo
và ai đó hỏi bạn những cái bạn đã học - điều có thể xảy ra là mọi người nói một số thứ theo cách "Ồ, khoá học không tốt lắm, nhưng tôi đã học được rất nhiều trong quán bar tối đó" Đây là một dấu hiệu để chỉ ra rằng áp dụng tự ngẫm giúp ta học tập như thế nào
Trang 33* Khái niệm hóa trừu tƣợng
Đây là một giai đoạn (cũng gọi là học thuyết) nơi mà chúng ta xây dựng cấu trúc những diễn giải cách vận động của thế giới Chúng ta phát triển các học thuyết, các quy luật để xác định kỳ vọng của chúng ta và các mối quan hệ nhân quả
Yêu cầu của một giai đoạn như vậy có thể được minh họa và kiểm chứng thông qua hầu hết các kinh nghiệm của chính ta Ví dụ như những người đang ở tuổi đến trường, họ phải chấp nhận những "quy tắc", ví dụ quy tắc số học Mọi người cho rằng rất khó để ghi nhớ và áp dụng một vài trong số các quy tắc đơn giản
và máy móc ("đảo tử số thành mẫu số rồi nhân”, "mượn của hàng trên và nhớ xuống hàng dưới” “âm nhân âm ra dương”,v.v ) Tại sao lại như vậy? Thường thì bởi vì họ không có khả năng tiếp thu các quy tắc đã đặt ra bằng một tập hợp các diễn giải quy tắc số học Họ đã bỏ qua giai đoạn này, và điều đó làm hạn chế việc học tập và sự phát triển của các kỹ năng hiệu quả
* Thử nghiệm chủ động
Đây là giai đoạn mà chúng ta thử áp dụng những cấu trúc diễn giải để giải thích thế giới thực Kiểm chứng sự vật trong thực tế giúp chúng ta xác nhận lại những dự báo và phỏng đoán với trải nghiệm của chúng ta Kết quả trải nghiệm cung cấp thông tin hồi đáp theo chu trình và vòng lặp lại tiếp tục bắt đầu Điều này có thể chỉ ra bằng một trò chơi loại suy rất đơn giản: Trải nghiệm cụ thể Chúng ta xem mọi người chơi một trò chơi mới
Tự ngẫm / Quan sát Chúng ta chú ý những điều xảy ra và ai làm điều đó Khái niệm trừu tượng
Chúng ta nhận ra các quy luật và mục đích của trò chơi Thử nghiệm chủ động Chúng ta chơi trò chơi Chúng ta có thể nhận thấy rằng chu trình học tập như trên là tương đối phù hợp với các cách thức học tập tự nhiên lâu nay như học đi xe đạp hoặc chơi một nhạc cụ Và đặc biệt đối với quá trình thử thách và cọ xát tài năng, cách thức học tập này sẽ đem lại hiệu quả thực sự nếu áp dụng
1.4.4.2 Phương pháp giáo dục bằng trò chơi [3, tr.86]
Trang 34Với trẻ mầm non thì vui chơi là hoạt động chủ đạo Thông qua trò chơi trẻ
có cơ hội thể hiện thái độ, hành vi của mình Đồng thời trẻ còn được rèn luyện cách ứng xử, giao tiếp, hình thành kỹ năng nhận xét đánh giá hành vi, nâng cao năng lực quan sát, tư duy Đồng thời dạy học thông qua trò chơi sẽ giúp trẻ hứng thú hơn
- Giới thiệu trò chơi: Có thể lồng trò chơi vào các câu chuyện cổ tích, chuyện vui để tạo sự háo hức, hứng thú Tuy nhiên cần ngắn gọn và hấp dẫn
- Hướng dẫn cách chơi, luật chơi: Tuỳ theo mỗi trò chơi mà giáo viên linh động hướng dẫn
- Trong quá trình chơi, giáo viên có thể chuyển hướng khác với dự kiến ban đầu, khéo léo linh động dẫn đắt Đừng quá nguyên tắc, cứng nhắc làm mất không khí vui tươi
- Giáo viên phải công bằng xử lý tình huống một cách khách quan, không thiên vị, không quá dễ dãi
- Tác phong giáo viên phải chuẩn mực, ngôn ngữ phải sư phạm không thô thiển, phong cách vui tươi, dí dỏm, duyên dáng
- Trò chơi hình phạt: Hãy quan niệm hình phạt là một trò chơi nhỏ, đừng nên bắt ép quá đáng mà nên khuyến khích động viên người bị phạt tham gia
Trang 35- Ngừng đúng lúc: Cần phải biết lúc nào ngừng trò chơi (do kinh nghiệm quan sát, kinh nghiệm chơi) Đảm bảo sức khỏe cho trẻ, tạo sự luyến tiếc cho lần chơi sau Đừng để trẻ nhàm chán, than mệt và ngán chơi
- Trước khi tổ chức thực hiện các trò chơi, giáo viên cần nắm lại đầy đủ tình hình các đối tượng dự chơi (những ai đau yếu, mệt mỏi, thiếu vắng …) nơi chơi (có
gì thay đổi đột xuất), dụng cụ chơi
- Khích lệ trẻ phát biểu và đóng góp càng nhiều ý kiến càng tốt
- Liệt kê tất cả các ý kiến lên bảng, không loại trừ một ý kiến nào trừ những
ý kiến trùng lắp
- Phân loại các ý kiến
- Tổng hợp các ý kiến
* Yêu cầu sƣ phạm
- Phương pháp động não có thể áp dụng để thực hiện bất kỳ vấn đề nào Và
nó đặc biệt phù hợp với những vấn đề quen thuộc trong cuộc sống và trẻ đã có nhiều kinh nghiệm
- Phương pháp này có thể dùng cho cả câu hỏi mở và câu hỏi đóng
- Giáo viên nên hướng dẫn trẻ cách trả lời những câu hỏi thật ngắn, có khi chỉ cần một từ
- Tất cả ý kiến của trẻ đều cần được giáo viên khích lệ, thừa nhận Đặc biệt, không nên phê phán các câu trả lời của trẻ Luôn khen ngợi trẻ
- Cuối giờ thảo luận cần nhấn mạnh kết quả có được là thành quả của cả nhóm hoặc của tất cả các thành viên trong nhóm
1.4.4.4 Phương pháp thảo luận nhóm nhỏ
Trang 36Phương pháp này nhằm giúp mọi trẻ tham gia một cách chủ động Tạo cơ hội cho trẻ có thể chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm, ý kiến để giải quyết một vấn đề Nhờ việc thảo luận trong nhóm nhỏ mà sự hiểu biết của trẻ trở nên sâu sắc và bền vững hơn Trẻ sẽ nhớ nhanh và lâu hơn do được giao lưu với những thành viên trong nhóm Không khí thảo luận trong nhóm khiến trẻ thoải mái, tự tin và học được cách lắng nghe hoặc trình bày ý kiến của bản thân một cách tốt hơn
* Cách tiến hành
- GV nêu chủ đề thảo luận, chia nhóm, giao câu hỏi, yêu cầu thảo luận cho nhóm, quy định thời gian thảo luận, phân công vị trí của mỗi nhóm để tiến hành thảo luận
- Các nhóm tiến hành thảo luận
- Đại diện từng nhóm trình bày kết quả thảo luận của cá nhóm Các nhóm lắng nghe, chất vấn, trao đổi, bổ sung ý kiến
- Giáo viên tổng kết các ý kiến
- Nội dung thảo luận của các nhóm có thể giống hoặc khác nhau
- Cần quy định rõ thời gian thảo luận và kết quả thảo luận cho các nhóm
Đóng vai là phương pháp tổ chức cho trẻ thực hành làm thử một số cách ứng
xử nào đó trong một tình huống giả định Đây là phương pháp giúp trẻ suy nghĩ sâu
Trang 37sắc về một vấn đề bằng cách tập trung vào một sự kiện cụ thể mà trẻ quan sát được Đồng thời tạo hứng thú cho trẻ và điều đặc biệt là trẻ có thể cảm nhận thấy những tác động của lời nói và việc làm của các nhân vật mà trẻ đóng vai, từ đó dẫn đến thay đổi thái độ hoặc hành vi của mình trước một tình huống bất kỳ
- Cả lớp nhận xét, thảo luận Thông thường thì thảo luận bắt đầu về cách ứng
xử của các nhân vật cụ thể hoặc tình huống trong vở diễn sau đó mở rộng phạm vi thảo luận sang những vấn đề khái quát hơn hay những vấn đề mà vở diễn chứng minh
* Yêu cầu sƣ phạm
- Tình huống đóng vai phải phù hợp với chủ để giáo dục, phù hợp với đặc điểm của người học, điều kiện và hoàn cảnh lớp học
- Tình huống nên để mở, không cho trước kịch bản hoặc lời thoại
- Phải dành thời gian phù hợp cho các nhóm chuẩn bị đóng vai
- Người đóng vai phải hiểu rõ vai của mình
- Giáo viên nên khích lệ để cả lớp cùng tham gia
- Nên có hoá trang và đạo cụ đơn giản để tăng tính hấp dẫn cho vai diễn
1.4.5 Hình thức giáo dục kỷ năng sống cho trẻ
Để hành động trở thành kĩ năng cần trải qua một quá trình Giáo dục KNS cho trẻ phải gắn với các việc làm, tình huống cụ thể: trẻ được quan sát người khác làm, trẻ được tự thực hiện để trải nghiệm Sự trải nghiệm nhiều lần sẽ giúp trẻ nhận thấy ý nghĩa thiết thực của việc làm, từ đó trẻ sẽ chủ động vận dụng các kĩ năng cần thiết vào từng tình huống cụ thể trong cuộc sống Hàng ngày, chúng ta có thể giáo dục KNS cho trẻ qua nhiều hình thức khác nhau:
Trang 38* Thông qua các môn học
Nội dung giáo dục KNS cho trẻ mẫu giáo được tổ chức lồng ghép trong tất
cả các môn học, các lĩnh vực phát triển cho trẻ Thông qua các hoạt động “học mà chơi, chơi mà học” cô giáo đều lồng ghép giáo dục, rèn luyện cho trẻ những kỷ năng sống cần thiết, phù hợp với nội dung, chương trình giáo dục mầm non nói chung và trẻ mẫu giáo nói riêng
* Thông qua hoạt động ngoại khóa
Ngoài việc giáo dục KNS cho trẻ thông qua các môn học, giáo viên còn tổ chức giáo dục KNS cho trẻ thông qua các hoạt động ngoại khóa như thông qua các hình thức sau:
+ Hoạt động văn hóa nghệ thuật
+ Hoạt động thể dục thể thao
+ Hoạt động tham quan dã ngoại
+ Các trò chơi dân gian …
Khi trẻ tham gia vào các hoạt động văn hóa nghệ thuật như biểu diễn văn nghệ vào các ngày hội ngày lễ, hay tham gia vào các cuộc thi bé khéo tay hay thi tạo hình tuổi thơ… Đây là những hoạt động được thực hiện ngoài chương trình học của trẻ và khi tham gia vào các hoạt động này những kỹ năng sống của trẻ được rèn luyện và giúp trẻ tự tin hơn trong cuộc sống Cụ thể như khi tham gia vào tập văn nghệ để biểu diễn trên sân khấu, để tập đều và đẹp yêu cầu trẻ phải tự tin, phải biết phối hợp tốt với các bạn và phải biết trao đổi ý kiến của mình để bạn hiểu và cùng phối hợp tốt thì khi hát mới đều, khi múa mới đều và đẹp
Thông qua hoạt động thể dục thể thao: hoạt động này yêu cầu trẻ phải biết luôn phối hợp với các bạn trong đội chơi, phải có ngôn ngữ mạch lạc, khả năng giao tiếp tốt để trao đổi với các bạn về cách chơi như thế nào để chiến thắng trong các trò chơi vận động trong các giờ thể dục thể thao ngoại khóa Cụ thể thông qua việc tổ chức ngày hội thể dục thể thao, tuần lễ thể dục thể thao, thông qua hoạt động này yêu cầu trẻ phải nhanh nhẹn, tự tin, mạnh dạn và phối hợp tốt với các bạn
Trang 39để chiến thắng trong các trò chơi có luật……Vì vậy mà những kỹ năng sống của trẻ được hình thành và rèn luyện
Một hình thức nữa đó là hình thức dã ngoại, tham quan Trong hoạt động này là một hoạt động mang tính tổng hợp vừa tham gia các hoạt động thể thao, văn nghệ, các trò chơi vận động, các trò chơi dân gian…nên trẻ phải có sức khỏe, có những kiến thức và cách xử lý nếu trẻ bị lạc đường… Ở lứa tuổi này trẻ luôn hiếu động nên dễ mất an toàn cho trẻ, bên cạnh đó hoạt động này phụ thuộc về mặt kinh
tế và số lượng giáo viên tham gia nên khó thực hiện Tuy nhiên, nếu trẻ tham gia vào hoạt động này trẻ sẽ trưởng thành rất nhiều về mặt nhận thức cũng như kỹ năng
vì khi tham gia hoạt động này trẻ được tiếp xúc trực tiếp với thế giới bên ngoài, được trãi nghiệm, củng cố và mở rộng những kiến thức mà cô giáo đã dạy trên lớp
và hình thành ở trẻ tính tự lập cao, biết phối hợp và tự bản thân xử lý tốt các tình huống xảy ra trong suốt quá trình đi dã ngoại, tham quan…
Ở lứa tuổi này tất cả những kiến thức và kỹ năng của trẻ được hình thành và rèn luyện đều thông qua các hoạt động vui chơi Việc tổ chức các hoạt động vui chơi trong đó có tổ chức những trò chơi dân gian để hình thành và rèn luyện những
kỹ năng sống cho trẻ là một việc cần nên làm Việc tổ chức các trò chơi dân gian giúp trẻ được thể hiện hiện bản thân mình trước tập thể và những trò chơi này mang tính tập thể cao như kéo co, tính nhanh nhạy trong trò chơi cướp cờ, tư duy trong trò chơi ô ăn quan…
Các hình thức này đa dạng, phong phú và yêu cầu trẻ phải có những kỷ năng
cơ sở ban đầu cần thiết (kỹ năng phối hợp, kỷ năng tự tin, kỹ năng giao tiếp….) mới có thể tham gia tốt được Khi tham gia các hoạt động này trẻ được tự do, thoải mái thể hiện bản thân mình hơn vì hoạt động này không bó buộc về mặt thời gian, không gian và cũng chính hoạt động này trẻ sẽ trưởng thành hơn, tự tin hơn và những kỹ năng sống của trẻ được rèn luyện thích nghi tốt với môi trường tự nhiên, môi trường xã hội
Trang 40* Thông qua giáo dục gia đình
Đây cũng là một hình thức quan trọng trong giáo dục KNS cho trẻ, đây là hình thức tiếp nối, rèn luyện những kỹ năng trẻ được học trên lớp và hình thức này góp phần cho việc giáo dục KNS cho trẻ thành công hơn
Như vậy, việc giáo dục kĩ năng sống cho trẻ ngay từ khi còn nhỏ là việc làm cần thiết và có ý nghĩa thiết thực Mỗi đứa trẻ có những yếu tố cá nhân khác nhau
và sự ảnh hưởng của các quan hệ xã hội cũng như hoàn cảnh sống, môi trường trải nghiệm khác nhau nên nhà giáo dục cần có những hình thức, biện pháp linh hoạt, hợp lý dựa trên quan điểm then chốt của giáo dục mầm non là “Lấy trẻ làm trung tâm” và tận dụng các điều kiện để tạo ra nhiều cơ hội cho đứa trẻ được tự trải nghiệm Với kĩ năng sống phong phú trẻ sẽ biết cách khai thác kiến thức từ cuộc sống xung quanh, tạo lập các mối quan hệ với tự nhiên và con người để sống an toàn, hòa bình và phát triển./
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc giáo dục kỷ năng sống thông qua hoạt động ngoại khóa cho trẻ MN
1.5.1 Yếu tố khách quan
1.5.1.1 Đặc điểm tâm lý của trẻ mầm non
Trẻ mầm non là lứa tuổi nhỏ nhất, tất cả các kỷ năng trong cuộc sống trẻ bất đầu học từ lứa tuổi này Tất cả những kiến thức trẻ thu nhận được đều thông qua việc chơi, trãi nghiệm thực tế trong cuộc sống và những kỷ năng trong cuộc sống được hình thành trong lứa tuổi này rất quan trọng, nếu những kỷ năng được hình thành trong lứa tuổi này khi đã trở thành thói quen sẽ đi theo đứa trẻ đến cuối cuộc đời
Với đặc điểm đặc thù của trẻ MN học thông qua việc chơi, chơi để mà học chính vì vậy việc học của trẻ phải thông qua các hoạt động vui chơi Trẻ em là lứa tuổi mà cơ thể chúng đang dần hoàn thiện, còn rất yếu ớt nên việc được tiếp xúc trực tiếp với môi trường thiên nhiên, môi trường xã hội giúp cơ thể của trẻ rèn luyện, hoàn thiện Vì vậy việc tổ chức các hoạt động bên ngoài môi trường trường học là việc nên làm và cần làm cho các cháu