1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giáo dục kỹ năng ứng phó với biến đổi khí hậu thông qua hoạt động ngoại khoá ở các trường tiểu học huyện đông hòa, tỉnh phú yên

153 529 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 153
Dung lượng 2,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vận dụng quan điểm dạy học tích hợp để giáo dục kĩ năng ứng phó với biến đổi khí hậu qua hoạt động ngoại khóa cho học sinh tiểu học.. Thực trạng thực hiện mục tiêu giáo dục kĩ năng ứng p

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀO ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

- -

ĐẶNG THIÊN HOÀNG

GIÁO DỤC KĨ NĂNG ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU QUA HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC

HUYỆN ĐÔNG HÒA, TỈNH PHÚ YÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀO ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS Hà Thế Truyền

HÀ NỘI – 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Em xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến PGS.TS Hà Thế

Truyền - người đã hướng dẫn, chỉ bảo tận tình cho em trong suốt quá trình nghiên

cứu và thực hiện luận văn này

Em xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo, Ban Chủ nhiệm Khoa Tâm

Lí - Giáo dục, Phòng Sau đại học, Trung tâm Thư viên - trường Đại học Sư phạm

Hà Nội đã tận tình giảng dạy, truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm cũng như cung cấp

những tài liệu quý báu cho chúng em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại

trường

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu, các thầy cô giáo và các em

học sinh trường Tiểu học Võ Nguyên Giáp, trường Tiểu học Phạm Văn Đồng, đã

tạo điều kiện thuận lợi để tôi thực hiện tốt nhiệm vụ của mình

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã chia sẻ

cùng tôi những khó khăn cũng như luôn động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình

học tập và thực hiện đề tài này

Trong quá trình thực hiện luận văn, mặc dù đã rất cố gắng và nỗ lực song đề

tài không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được sự góp ý, bổ sung của

các thầy cô và các bạn đồng nghiệp để đề tài thêm hoàn thiện hơn

Hà Nội, tháng 06 năm 2017

Đặng Thiên Hoàng

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản luận án này là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi Các số liệu và tài liệu được trích dẫn trong luận án là trung thực Kết quả nghiên cứu này không trùng với bất cứ công trình nào đã được công bố trước đó

Tôi chịu trách nhiệm với lời cam đoan của mình

Hà Nội, tháng 06 năm 2017

Tác giả luận án

Đặng Thiên Hoàng

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 1

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài: 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Khách thể và đối tượng 3

3.1 Khách thế nghiên cứu 3

3.2 Đối tượng nghiên cứu 3

4 Giả thuyết khoa học 3

5 Nhiêm vụ nghiên cứu 3

6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu của đề tài 4

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn đề tài 4

8 Phương pháp nghiên cứu 4

8.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận: 4

8.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: 5

8.3 Nhóm các phương pháp thống kê toán học: 5

9 Dự kiến cấu trúc của công trình nghiên cứu 5

NỘI DUNG 6

CHƯƠNG 1 6

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIÁO DỤC KĨ NĂNG ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU QUA HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA Ở TIỂU HỌC 6

1.1.CƠ SỞ LÍ LUẬN 6

1.1.1 Khái quát về biến đổi khí hậu 6

1.1.1.1 Biến đổi khí hậu là gì? 6

1.1.1.2 Nguyên nhân gây ra biến đổi khí hậu 7

1.1.1.3 Hậu quả của biến đổi khí hậu 8

1.1.1.4 Ứng phó với biến đổi khí hậu .10

Trang 6

1.1.2 Một số vấn đề về giáo dục kĩ năng ứng phó với biến đổi khí hậu qua hoạt

động ngoại khóa 12

1.1.2.1 Hoạt động ngoại khóa và việc giáo dục kĩ năng ứng phó với biến đổi khí hậu cho học sinh tiểu học .12

1.1.2.1.1 Hoạt động ngoại khóa là gì? 12

1.1.2.1.2 Đặc điểm của hoạt động ngoại khóa 13

1.1.2.2.1 Khái niệm về tích hợp và dạy học theo quan điểm tích hợp 14

1.1.2.2.2 Các chương trình giáo dục tích hợp 15

1.1.2.3 Hệ thống kĩ năng cần được giáo dục trong biến đổi khí hậu .17

1.1.2.3.1 Kĩ năng nhận biết biến đổi khí hậu 17

1.1.2.3.1.1 Nhận biết Áp thấp nhiệt đới, bão 17

1.1.2.3.1.2 Nhận biết Lũ lụt 18

1.1.2.3.1.3 Nhận biết động đất 20

1.1.2.3.1.4 Nhận biết Hỏa hoạn 21

1.1.2.3.1.5 Mưa giông, sấm sét 21

1.1.2.3.1.6 Nhận biết Đuối nước 22

1.1.2.3.2 Kĩ năng ứng phó với biến đổi khí hậu 23

1.1.2.3.2.1 Kĩ năng ứng phó áp thấp nhiệt đới, bão 23

1.1.2.3.2.3 Kĩ năng ứng phó động đất 24

1.1.2.3.2.4 Kĩ năng ứng phó hỏa hoạn 25

1.1.2.3.2.5 Kĩ năng ứng phó mưa giông, sấm sét 26

1.1.2.3.2.6 Kĩ năng ứng phó đuối nước 27

1.1.3 Nội dung giáo dục kĩ năng ứng phó với biến đổi khí hậu qua hoạt động ngoại khóa ở trường tiểu học 28

1.1.3.1 Khái niệm .28

1.1.3.2 Sự cần thiết phải giáo dục kĩ năng ứng phó với biến đổi khí hậu qua hoạt động cho học sinh tiểu học .29

1.1.3.3 Mu ̣c tiêu giáo du ̣c kĩ năng ứng phó với biến đổi khí hậu qua hoạt động ngoại khóa cho học sinh tiểu học .30

Trang 7

1.1.3.4 Các con đường giáo dục kĩ năng ứng phó với biến đổi khí hậu qua hoạt

động ngoại khóa cho học sinh tiểu học .31

1.1.3.5 Một số hình thức giáo dục kĩ năng ứng phó với biến đổi khí hậu qua hoạt động ngoại khóa cho học sinh tiểu học .33

1.1.3.6 Vận dụng quan điểm dạy học tích hợp để giáo dục kĩ năng ứng phó với biến đổi khí hậu qua hoạt động ngoại khóa cho học sinh tiểu học .35

1.1.4 Đặc điểm tâm sinh lí của ho ̣c sinh tiểu ho ̣c và viê ̣c giáo du ̣c kĩ năng ứng phó với biến đổi khí hậu qua hoa ̣t đô ̣ng ngoại khóa 37

1.1.5 Các tiêu chí và thang đánh giá 40

TIỂU KẾT CHƯƠNG I 42

CHƯƠNG 2 43

THỰC TRẠNG GIÁO DỤC KĨ NĂNG ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC HUYỆN ĐÔNG HÒA TỈNH PHÚ YÊN 43

2.1 Khái quát về quá trình điều tra 43

2.1.1 Mục đích điều tra 43

2.1.2 Đối tượng và địa bàn điều tra 43

2.1.3 Nội dung điều tra 43

2.1.4 Các phương pháp điều tra khảo sát 44

2.2 Kết quả điều tra 44

2.2.1 Nhận thức của giáo viên, học sinh tiểu học về biến đổi khí hậu và ứng phó với biến đổi khí hậu 44

2.2.1.1 Đối với giáo viên 44

2.2.1.2 Đối với học sinh 46

2.2.2 Thực trạng thực hiện mục tiêu giáo dục kĩ năng ứng phó với biến đổi khí hậu qua hoạt động ngoại khóa ở các trường tiểu học huyện Đông Hòa tỉnh Phú Yên 48

2.2.3 Thực trạng thực hiện các con đường giáo dục kĩ năng ứng phó với biến đổi khí hậu qua hoạt động ngoại khóa ở các trường tiểu học huyện Đông Hòa tỉnh Phú Yên 49

Trang 8

2.2.4 Thực trạng áp dụng các hình thức giáo dục kĩ năng ứng phó với biến đổi khí hậu qua hoạt động ngoại khóa ở các trường tiểu học huyện Đông Hòa tỉnh Phú Yên 50 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 56 CHƯƠNG 3 57

TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KĨ NĂNG ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA Ở CÁC

TRƯỜNG TIỂU HỌC HUYỆN ĐÔNG HÒA, TỈNH PHÚ YÊN 58 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 58 3.1 TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KĨ NĂNG ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA Ở TIỂU HỌC 58 3.1.1 Các nguyên tắc tổ chức giáo du ̣c kĩ năng ứng phó với biến đổi khí hậu qua hoạt động ngoại khóa ơ ̉ tiểu ho ̣c 58

3.1.1.1 Đảm bảo tính tự nguyện tham gia các hoạt động giáo dục ngoại khóa của học sinh .58 3.1.1.2 Đảm bảo tính vừa sức, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí và nhận thức của học sinh tiểu học .59 3.1.1.3 Đảm bảo tính thiết thực, tính hấp dẫn .59 3.1.1.4 Đảm bảo tính bổ trợ cho giáo dục chính khóa các môn học .59 3.1.1.5 Nội dung giáo dục kĩ năng ứng phó với biến đổi khí hậu phải gắn với tình hình thực tiễn của địa phương .60 3.1.1.6 Đảm bảo tính thống nhất của nội dung giáo dục ứng phó với biến đổi khí hậu .61

3.1.2 Khả năng tích hợp giáo dục kĩ năng ứng phó với biến đổi khí hậu qua hoạt động ngoại khóa trong dạy học một số môn học ở tiểu học 61

3.1.2.1.2 Khả năng tích hợp nội dung giáo dục kĩ năng ứng phó với biến đổi khí hậu qua hoạt động ngoại khóa môn Khoa học 63

3.1.2.2 Môn Lịch sử - Địa lí 66

3.1.2.2.1 Đặc điểm chung của phần Địa lí 66

Trang 9

3.1.2.2.2 Khả năng tích hợp nội dung giáo dục kĩ năng ứng phó với biến đổi khí

hậu qua hoạt động ngoại khóa phần Địa lí 67

3.1.2.3 Môn Tiếng Việt 69

3.1.2.3.1 Đặc điểm chung của môn học 69

3.1.2.3.2 Khả năng tích hợp nội dung giáo dục kĩ năng ứng phó với biến đổi khí hậu qua hoạt động ngoại khóa môn Tiếng Việt 71

3.1.3.1 Thiết kế một số hình thức tổ chức giáo dục kĩ năng ứng phó với biến đổi khí hậu qua hoạt động ngoại khóa ở tiểu học .80

3.1.3.1.1 Tham quan, tìm hiểu môi trường địa phương 80

3.1.3.1.1.1 Ý nghĩa của hình thức: 80

3.1.3.1.1.2 Kế hoạch minh họa: 81

3.1.3.1.2 Cuộc thi “Rung chuông vàng” 88

3.1.3.1.2.1 Ý nghĩa của hình thức: 88

3.1.3.1.2.2 Kế hoạch minh họa: 88

3.1.3.1.3 Trò chơi “Ô chữ kì diệu” 96

3.1.3.1.3.1 Ý nghĩa của hình thức: 96

3.1.3.1.3.2 Kế hoạch minh họa: 98

3.1.3.1.4 Làm báo tường 103

3.1.3.1.4.1 Ý nghĩa của hình thức: 103

3.1.3.1.4.2 Kế hoạch minh họa: 104

TIỂU KẾT CHƯƠNG III 121

3.2 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 109

3.2.1 Mục đích thực nghiệm 109

3.2.2 Nội dung và kế hoạch thực nghiệm 109

3.2.2.1 Đối tượng thực nghiệm 109

3.2.2.2 Nội dung và thời gian thực nghiệm 109

3.2.2.3 Phương pháp thực nghiệm 110

3.2.2.3.1 Phương pháp tiến hành 110

Trang 10

3.2.2.3.2 Phương pháp đánh giá 110

3.2.3 Kết quả thực nghiệm 111

3.2.3.1 Kết quả kiểm tra tri thức 111

3.2.3.1.1 Kết quả kiểm tra tri thức trước thực nghiệm 111

3.2.3.1.2 Kết quả kiểm tra tri thức sau thực nghiệm 112

3.2.3.1.3 Nhận xét chung về kết quả kiểm tra kiến thức trước và sau thực nghiệm 113

3.2.3.2 Kết quả kiểm tra thái độ 114

3.2.3.2.1 Kết quả kiểm tra thái độ trước thực nghiệm 114

3.2.3.2.2 Kết quả kiểm tra thái độ sau thực nghiệm 115

3.2.3.2.3 Nhận xét chung về kết quả kiểm tra thái độ trước và sau thực nghiệm 116

3.2.3.3 Kết quả kiểm tra kĩ năng, hành vi 117

3.2.3.3.1 Kết quả kiểm tra kĩ năng, hành vi trước thực nghiệm 117

3.2.3.3.2 Kết quả kiểm tra kĩ năng, hành vi sau thực nghiệm 118

3.2.3.3.3 Nhận xét chung về kết quả kiểm tra kĩ năng, hành vi trước và sau thực nghiệm 118

3.2.4 Kết luận chung về kết quả thực nghiệm 120

PHẦN KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 123

I Kết luận 123

II Một số kiến nghị 123

1 Đối với các cấp lãnh đạo, quản lí 124

2 Đối với các nhà nghiên cứu, các nhà sư phạm 124

3 Đối với giáo viên tiểu học 125

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1

PHẦN PHỤ LỤC 4

PHỤ LỤC 1: 4

PHỤ LỤC 2: 9

PHỤ LỤC 3: 11

Trang 11

MỤC LỤC BẢNG

Bảng 1 45

Bảng 2 46

Bảng 3 49

Bảng 4 51

Bảng 5 53

Bảng 6 54

Bảng 7: Khả năng tích hợp giáo dục kĩ năng ứng phó với biến đổi khí hậu 65

Bảng 8: Khả năng tích hợp giáo dục ứng phó với biến đổi khí hậu 69

Bảng 9: Khả năng tích hợp giáo dục ứng phó với biến đổi khí hậu 74

Bảng10: Kết quả kiểm tra tri thức trước thực nghiệm 112

Bảng 11: Kết quả kiểm tra tri thức sau thực nghiệm 113

Bảng 12: Kết quả kiểm tra thái độ trước thực nghiệm 115

Bảng 13: Kết quả kiểm tra thái độ sau thực nghiệm 116

Bảng 14: Kết quả kiểm tra kĩ năng, hành vi trước thực nghiệm 117

Bảng 15: Kết quả kiểm tra kĩ năng, hành vi sau thực nghiệm 118

Trang 12

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài:

Hiện nay khi cuộc sống của con người ngày càng phát triển, những hoạt động của con người tác động đến môi trường, đến khí hậu dẫn đến tình trạng biến đổi khí hậu toàn cầu Biến đổi khí hậu là vấn đề của cả thế giới, và đó là thách thức lớn đối với loại người Biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng và diễn biến phức tạp Việt Nam được đánh giá là một trong năm quốc gia bị ảnh hưởng nghiêm trọng của biến đổi khí hậu Trong những năm qua, nhiều nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam

đã phải chịu nhiều thiên tai như bão lớn, nắng nóng dữ dội, lũ lụt, hạn hán, sóng thần, bão từ, băng giá, nước biển dâng, Những vấn đề đó đã để lại những hậu quả nghiêm trọng ở mọi lĩnh vực như kinh tế, chính trị, xã hội, giáo dục, đặc biệt là sinh mạng con người

Nhận thức rõ tác động của biến đổi khí hậu, Chính phủ Việt Nam đã xây dựng và triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu Các Bộ, Ngành và địa phương đã và đang xây dựng kế hoạch hành động để ứng phó với những tác động cấp bách trước mắt và những tác động tiềm tàng lâu dài của biến đổi khí hậu; nhiều nghiên cứu đã được thực hiện ở các mức độ khác nhau: Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2012 – 2015 (Theo Quyết định số 1183/QĐ-TTg, ngày 30 tháng 8 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ); Viện Khoa học Khí tượng thủy văn và Môi trường (cơ quan trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường) chủ trì biên soạn “Thông báo quốc gia lần thứ nhất của Việt Nam cho Công ước Biến đổi khí hậu”, “Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu, kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho Việt Nam”, “Chương trình khoa học công nghệ quốc gia về biến đổi khí hậu”

Việc ứng phó với những biến đổi khí hậu và việc đưa Giáo dục ứng phó với biến đổi khí hậu vào giáo dục là một việc làm rất quan trọng, cần thiết và có ý nghĩa đặc biệt Ý thức được sự cấp bách của vấn đề, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa Kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu của ngành giai đoạn 2011 – 2015 và

Trang 13

phê duyệt Dự án “Đưa nội dung ứng phó với biến đổi khí hậu vào chương trình Giáo dục và Đào tạo giai đoạn 2011 – 2015” Tuy nhiên cho đến nay, những nghiên cứu, tài liệu tham khảo, chương trình giáo dục về vấn đề này vẫn còn ít và chưa được quan tâm, đầu tư thỏa đáng

Cũng giống như giáo du ̣c môi trường, giáo du ̣c về biến đổi khí hậu là lĩnh vực giáo du ̣c đa ngành, đa khoa vì vâ ̣y có thể đưa vào trường tiểu ho ̣c qua các con đường khác nhau, qua da ̣y ho ̣c các môn ho ̣c và qua các hoa ̣t đô ̣ng giáo du ̣c ngoài giờ lên lớp Viê ̣c đưa giáo du ̣c môi trường qua con đường da ̣y ho ̣c đã được triển khai rô ̣ng khắp trên phương diê ̣n lí luâ ̣n cũng như thực tiễn giáo du ̣c tiểu ho ̣c trong nhiều thâ ̣p kỉ nay Đó là viê ̣c giáo du ̣c môi trường được thực hiê ̣n bởi các tác giả xây dựng chương trình và sách giáo khoa các môn ho ̣c và viê ̣c tích hợp trong quá trình da ̣y ho ̣c các môn ho ̣c này bởi giáo viên Đây cũng có thể là mô ̣t hướng để áp

du ̣ng đưa giáo du ̣c biến đổi khí hâ ̣u vào trong chương trình tiểu ho ̣c Tuy nhiên, cho đến nay hướng này còn gă ̣p nhiều bất câ ̣p Viê ̣c tích hợp thêm các nô ̣i dung giáo

du ̣c mới vào các môn ho ̣c trong quá trình da ̣y ho ̣c trên thực tế đang gây quá tải cho các bài ho ̣c của các môn ho ̣c Ngoài ra, cách làm này cũng không mang la ̣i hiê ̣u quả giáo du ̣c môi trường cao, do tính thống nhất của lĩnh vực giáo du ̣c này không được đảm bảo qua viê ̣c tích hợp vào nhiều môn ho ̣c

Hơn nữa, việc tích hợp giáo dục môi trường nói chung, giáo dục ứng phó với biến đổi khí hậu nói riêng qua các môn học chỉ có ưu thế hơn trong việc cung cấp cho người học các kiến thức, kĩ năng cơ sở về môi trường, về biến đổi khí hậu, cách ứng phó với biến đổi khí hậu, Còn các hành vi, thái độ ứng phó với những vấn đề

cụ thể thì rất khó được thực hiện

Vâ ̣y, làm thế nào để viê ̣c giáo du ̣c kĩ năng ứng phó với biến đổi khí hâ ̣u có thể được tiến hành tốt trong nhà trường tiểu ho ̣c mà không gây quá tải cho các giờ

ho ̣c các môn ho ̣c? Cần tích hợp giáo du ̣c biến đổi khí hâ ̣u trong chương trình giáo

du ̣c tiểu ho ̣c như thế nào để vừa có thể thực hiê ̣n tốt lĩnh vực giáo du ̣c này cũng như thực hiê ̣n tốt chương trình giáo du ̣c các môn ho ̣c? Đây là những vấn đề còn được ít đề câ ̣p đến trong các công trình nghiên cứu

Trang 14

Xuất phát từ những lí do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Giáo dục kĩ năng ứng phó với biến đổi khí hậu qua hoạt động ngoại khóa ở các Trường Tiểu học huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên”

2 Mục đích nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu giáo dục kĩ năng ứng phó với biến đổi khí hâ ̣u qua hoạt động ngoại khóa nhằm góp phần nâng cao kết quả giáo dục ứng phó với biến đổi khí hậu và kết quả học tập các môn học ở trường tiểu học; đồng thời giáo dục cho các em các kiến thưc, kĩ năng nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu trong thực tế cuộc sống

3 Khách thể và đối tượng

3.1 Khách thế nghiên cứu

- Quá trình giáo dục ứng phó với biến đổi khí hậu qua hoạt động ngoại khóa ở trường tiểu học

3.2 Đối tượng nghiên cứu

- Giáo dục kĩ năng ứng phó với biến đổi khí hậu qua hoạt động ngoại khóa ở trường tiểu học

4 Giả thuyết khoa học

Nếu tổ chức giáo dục kĩ năng ứng phó với biến đổi khí hậu thông qua hoạt động ngoại khóa theo quan điểm tích hợp, đảm bảo nguyên tắc khoa học, nguyên tắc sư phạm hợp lí thì sẽ góp phần nâng cao kết quả giáo dục ở lĩnh vực này, đồng thời cũng góp phần củng cố kiến thức, kĩ năng của một số môn học khác Từ đó giúp học sinh hình thành những kĩ năng ứng phó với biến đổi khi hậu trong đời sống hằng ngày

5 Nhiêm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của biến đổi khí hậu và giáo dục kĩ năng ứng phó với biến đổi khí hậu qua hoạt động ngoại khóa

- Khảo sát, đánh giá thực trạng giáo dục kĩ năng ứng phó với biến đổi khí hậu qua

hoạt động ngoại khóa ở các trường tiểu học huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên

Trang 15

- Xây dựng nội dung giáo dục ứng phó với biến đổi khí hậu qua hoạt động ngoại khóa ở tiểu học theo quan điểm tích hợp Thực nghiệm để kiểm nghiệm tính khả thi của việc giáo dục ứng phó với biến đổi khí hậu qua hoạt động ngoại khóa ở trường tiểu học Qua đó đưa ra các biện pháp thực hiện

6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu của đề tài

- Nội dung nghiên cứu: Giáo dục kĩ năng ứng phó với biến đổi khí hậu qua hoạt động ngoại khóa theo quan điểm tích hợp các môn học: Khoa học, Lịch sử - Địa lí,

Tiếng Việt lớp 5 trường tiểu học

- Phạm vi điều tra: Giáo viên và học sinh các ở trường tiểu học huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên

- Phạm vi thực nghiệm: Một số trường tiểu học thuộc huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn đề tài

- Đề tài góp phần tổng hợp vấn đề lí luận về giáo dục ứng phó với biến đổi khí hậu qua các hoạt động ngoại khóa theo quan điểm tích hợp

- Khái quát được thực trạng giáo dục kĩ năng ứng phó với biến đổi khí hậu cho học sinh ở trường tiểu học hiện nay

- Xây dựng nội dung giáo dục kĩ năng ứng phó với biến đổi khí hậu thông qua hoạt động ngoại khóa cho học sinh tiểu học

- Tổ chức một số hoạt động giáo dục kĩ năng ứng phó với biến đổi khí hậu qua hoạt động ngoại khóa cho học sinh tiểu học

8 Phương pháp nghiên cứu

8.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận:

Trong quá trình nghiên cứu các nguồn tài liệu, các công trình nghiên cứu khoa học có liên quan đến đề tài như các luận văn, luận án, báo cáo khoa học, các bài báo, chúng tôi có sử dụng phối hợp các phương pháp phân tích - tổng hợp, khái quát hóa - hệ thống hóa, nhận xét, phê phán, tóm tắt và trích dẫn những vấn đề liên quan trực tiếp để giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Trang 16

8.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

- Phương pháp điều tra: Điều tra nhận thức của giáo viên về giáo dục kĩ

năng ứng phó với biến đổi khí hậu và về các hình thức đã sử dụng để giáo dục cho học sinh

- Phương pháp quan sát: Tiến hành quan sát các hoạt động giáo dục nói

chung và giáo dục kĩ năng ứng phó với biến đổi khí hậu nói riêng cho học sinh ở một số trường tiểu học

- Phương pháp đàm thoại: Trực tiếp gặp gỡ, trao đổi, trò chuyện với cán bộ,

giáo viên, học sinh nhằm tìm hiểu quan điểm, sự hiểu biết, thái độ, cách thức tiến hành cũng như những thuận lợi và khó khăn khi giáo dục kĩ năng ứng phó với biến đổi khí hậu trong các hoạt động ngoại khóa

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tiến hành thực nghiệm sư phạm tại

một số trường tiểu học ở các khu vực khác nhau nhằm đánh giá tính khả thi của việc giáo dục kĩ năng ứng phó với biến đổi khí hậu qua hoạt động ngoại khóa theo quan điểm tích hợp

8.3 Nhóm các phương pháp thống kê toán học:

Một số phương pháp thống kê toán học, lập bảng thống kê, lập biểu đồ, được sử dụng để phân tích về định lượng và định tính kết quả nghiên cứu Qua đó nhằm nâng cao tính thuyết phục và tính thực tế của đề tài

9 Dự kiến cấu trúc của công trình nghiên cứu

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được chia làm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc giáo dục kĩ năng ứng phó với

biến đổi khí hậu qua hoạt động ngoại khóa ở tiểu học

Chương 2: Thực trạng giáo dục kĩ năng ứng phó với biến đổi khí hậu ở các

trường tiểu học huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên

Chương 3: Tổ chức các hoạt động giáo dục kĩ năng ứng phó với biến đổi khí

hậu theo quan điểm tích hợp thông qua hoạt động ngoại khóa ở các trường tiểu học huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên Thực nghiệm sư phạm

Trang 17

NỘI DUNG CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIÁO DỤC KĨ NĂNG ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU QUA HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA Ở TIỂU HỌC 1.1.CƠ SỞ LÍ LUẬN

1.1.1 Khái quát về biến đổi khí hậu

1.1.1.1 Biến đổi khí hậu là gì?

Có rất nhiều các tổ chức trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã nghiên cứu và đưa ra khái niệm về biến đổi khí hậu, như:

"Biến đổi khí hậu Trái Đất là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển, thuỷ quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo" [26, tr.1]

“Biến đổi khí hậu là sự thay đổi của khí hậu diễn ra trong một thời gian dài,

có thể ấm lên hoặc lạnh đi, lượng mưa có thể tăng hoặc giảm, gió, các hiện tượng thời tiết… có thể mạnh lên hoặc yếu đi trong một khoảng thời gian dài” [7, tr.2]

Theo Công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC) thì:

“Biến đổi khí hậu là sự thay đổi của khí hậu do tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của hoạt động con người dẫn đến thay đổi thành phần khí quyển toàn cầu, được quan sát trên một chu kỳ thời gian dài”

“Biến đổi khí hậu là thuật ngữ dùng để chỉ những thay đổi của khí hậu vượt ra khỏi trạng thái trung bình đã được duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là một vài thập kỉ hoặc dài hơn” (Bộ Tài nguyên và Môi trường – 2008, Chương trình mục

tiêu Quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu, tr.6)

Nói một cách đơn giản, biến đổi khí hậu là sự thay đổi của khí hậu diễn ra trong

một khoảng thời gian dài, có thể là ấm hơn hoặc lạnh hơn, lượng mưa hoặc lượng tuyết trung bình hàng năm có thể tăng hoặc giảm,… [5, tr.7]

Trong quá khứ, khí hậu Trái Đất đã có rất nhiều thay đổi một cách tự nhiên Tuy

nhiên thuật ngữ “Biến đổi khí hậu” được dùng hiện nay chủ yếu muốn nói tới sự

nóng lên toàn cầu gây ra bởi các hoạt động của con người [5, tr.7]

Trang 18

Như vậy, Biến đổi khí hậu có thể được hiểu đầy đủ là sự thay đổi của khí hậu

đã được diễn ra trong một khoảng thời gian dài làm ảnh hưởng đến đa dạng sinh học trên Trái Đất và cuộc sống của con người mà nguyên nhân chủ yếu là do hoạt động của con người gây ra

1.1.1.2 Nguyên nhân gây ra biến đổi khí hậu

Có nhiều nguyên nhân gây ra biến đổi khí hậu, có thể tóm tắt một số nguyên

nhân chính sau [6, tr.34]:

* Nguyên nhân tự nhiên:

- Do sự trôi dạt của các lục địa: Thuyết kiến tạo mảng cho rằng lớp vỏ ngoài cùng của Trái Đất được cấu tạo từ các mảng rời, có khả năng di chuyển tương đối so với nhau trên lớp quyển mềm bên dưới Sự di chuyển các mảng này dẫn tới sự di chuyển vị trí của các lục địa Chính sự di chuyển của các lục địa đã dẫn đến sự thay đổi khí hậu của các vùng và các Châu lục

- Do hoạt động của núi lửa và sự va chạm của Trái Đất với các thiên thạch trong vũ trụ: Các nhà khoa học cho rằng sự va chạm của các thiên thạch với Trái Đất và sự phun trào của núi lửa sẽ gây nên những đám mây bụi khổng lồ bao quanh Trái Đất, ngăn cản các dòng bức xạ Mặt Trời khiến cho Trái Đất trở nên tối tăm và lạnh lẽo,

- Do sự dao động quỹ đạo của Trái Đất: Theo thuyết thiên văn học, khi quay quanh Mặt Trời trong thời gian dài hàng chục nghìn năm, quỹ đạo của Trái Đất sẽ có những thay đổi Chính sự thay đổi này dẫn tới sự thay đổi lượng ánh sáng Mặt Trời xuống bề mặt Trái Đất, ảnh hưởng đến khí hậu và làm thay đổi các mùa, sự phân bố bức xạ Mặt Trời theo vĩ độ,

- Do chu kì hoạt động của Mặt Trời: Chu kì hoạt động của Mặt Trời thể hiện thông qua sự xuất hiện các vệt đen Mặt Trời (sunspots), làm thay đổi cường độ bức xạ Mặt Trời Sự tăng năng lượng Mặt Trời làm Trái Đất nóng lên và sự giảm năng lượng Mặt Trời làm Trái Đất lạnh đi

* Nguyên nhân do con người:

Có thể thấy rằng các nguyên nhân tự nhiên đóng góp một phần rất nhỏ trong việc gây ra biến đổi khí hậu Theo kết quả nghiên cứu và công bố từ Ủy ban Liên

Trang 19

Chính Phủ về biến đổi khí hậu thì nguyên nhân chủ yếu là do hoạt động của con người làm gia tăng các chất khí nhà kính

Khí nhà kính là các chất khí trong khí quyển hấp thụ nhiệt do mặt đất phát ra

và tỏa nhiệt trở lại Trái Đất Các khí này vừa do quá trình tự nhiên lẫn con người sinh ra [9, tr.8] Các khí nhà kính chủ yếu bao gồm: hơi nước (H2O), cacbon đioxit (CO2), metan (CH4), các hợp chất halocacbon (CFC, HCFC và HFC), đinitơ oxit (N2O) và ozon trong tầng đối lưu (O3) Những khí này giống như một chiếc chăn

ấm có độ dày vừa đủ, giúp giữ ấm cho Trái Đất ở trong khoảng nhiệt độ thích hợp, khiến sự sống có thể phát triển và sinh sôi nảy nở Nếu không có những khí này, nhiệt từ Mặt Trời sẽ không được giữ lại và bề mặt Trái Đất sẽ trở nên lạnh hơn rất nhiều [5, tr.11]

Nhưng những nghiên cứu gần đây cho thấy việc phát thải một số khí nhà kính (chủ yếu là CO2 và CH4) quá nhiều là nguyên nhân chính gây nên biến đổi khí hậu Đặc biệt, từ khi cách mạng công nghiệp bùng nổ (1950), các hoạt động tạo ra khí nhà kính ngày càng gia tăng như: tăng cường khai thác và sử dụng các nhiên liệu hóa thạch như than đá, dầu mỏ, ; sản xuất xi măng; chặt phá rừng; chăn nuôi đại gia súc; sử dụng các hợp chất halocacbon trong công nghệ làm lạnh; sử dụng quá mức các loại phân bón hóa học và thuốc trừ sâu; [10, tr.39]

Như vậy, sự gia tăng nồng độ các khí nhà kính làm cho Trái Đất nóng lên là nguyên nhân chính dẫn đến biến đổi khí hậu toàn cầu Điều này là do ý thức và

hành động của con người như: chặt phá rừng bừa bãi, lãng phí năng lượng, khai

thác và sử dụng nhiên liệu không đúng cách, sử dụng quá nhiều các chất hóa học trong trồng trọt và chăn nuôi, dân số gia tăng,

1.1.1.3 Hậu quả của biến đổi khí hậu

Biến đổi khí hậu toàn cầu diễn ra ngày càng nghiêm trọng Biểu hiện rõ nhất

là sự nóng lên của Trái Đất, là băng tan, nước biển dâng cao; là các hiện tượng thời tiết bất thường như bão, lũ, sóng thần, động đất, hạn hán, giá rét kéo dài,… dẫn đến thiếu lương thực, thực phẩm, kinh tế suy thoái, xung đột và chiến tranh, mất đi sự

Trang 20

đa dạng sinh học, phá hủy hệ sinh thái và xuất hiện hàng loạt dịch bệnh trên người, gia súc, gia cầm…

Sự nóng lên của Trái Đất dẫn đến mực nước biển dâng cao Nếu khoảng thời gian 1962 - 2003, lượng nước biển trung bình toàn cầu tăng 1,8mm/năm, thì từ 1993

- 2003 mức tăng là 3,1mm/năm Dự báo đến cuối thế kỷ XXI, nhiệt độ trung bình sẽ tăng lên khoảng từ 2,00C - 4,50C và mực nước biển toàn cầu sẽ tăng từ 0,18m - 0,59m

Theo thống kê, số đợt không khí lạnh ảnh hưởng đến Việt Nam giảm rõ rệt trong vòng 2 thập kỷ qua Số cơn bão trên biển Đông ảnh hưởng đến nước ta cũng ngày càng ít đi nhưng ngược lại số cơn bão mạnh có chiều hướng tăng lên, mùa bão kết thúc muộn, quỹ đạo của bão trở nên dị thường và số cơn bão ảnh hưởng đến khu vực Nam Trung Bộ, Nam Bộ ngày càng tăng Bên cạnh đó, số ngày mưa phùn ở miền Bắc giảm một nửa Lượng mưa biến đổi không nhất quán giữa các vùng, hạn hán có xu hướng mở rộng, đặc biệt là ở khu vực Nam Trung Bộ dẫn đến gia tăng hiện tượng hoang mạc hóa

Hiện tượng El Nino và La Nina ảnh hưởng mạnh đến nước ta trong vài thập

kỷ gần đây, gây ra nhiều đợt nắng nóng, rét đậm rét hại kéo dài có tính kỷ lục Dự đoán vào cuối thế kỷ XXI, nhiệt độ trung bình ở nước ta tăng khoảng 30C và sẽ tăng

số đợt và số ngày nắng nóng trong năm; mực nước biển sẽ dâng cao lên 1m Điều này dẫn đến nhiều hiện tượng bất thường của thời tiết Đặc biệt là tình hình bão lũ

và hạn hán Nước biển dâng dẫn đến sự xâm thực của nước mặn vào nội địa, ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn nước ngầm, nước sinh hoạt cũng như nước và đất sản xuất nông - công nghiệp Nếu nước biển dâng lên 1m sẽ làm mất 12,2% diện tích đất là nơi cư trú của 23% dân số (17 triệu người) của nước ta Trong đó, khu vực ven biển miền Trung sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề của hiện tượng biến đổi khí hậu và dâng cao của nước biển Riêng đồng bằng sông Cửu Long, dự báo vào năm 2030, khoảng 45% diện tích của khu vực này sẽ bị nhiễm mặn cục bộ và gây thiệt hại mùa màng nghiêm trọng do lũ lụt và ngập úng Nếu không có kế hoạch đối phó, phần lớn

Trang 21

diện tích của đồng bằng sông Cửu Long sẽ ngập trắng nhiều thời gian trong năm và thiệt hại ước tính sẽ là 17 tỷ USD

Biến đổi khí hậu còn kéo theo sự thay đổi của thời tiết, ảnh hưởng trực tiếp đến cây trồng, sản xuất nông, lâm, công nghiệp và nuôi trồng, đánh bắt thủy - hải sản Đặc biệt là sự xuất hiện của dịch bệnh và khan hiếm về lương thực, nước ngọt

Dự báo, sẽ có khoảng 1,8 tỷ người trên thế giới sẽ gặp khó khăn về nước sạch và

600 triệu người bị suy dinh dưỡng vì thiếu lương thực do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu toàn cầu trong những năm tới [24]

1.1.1.4 Ứng phó với biến đổi khí hậu

Trong báo cáo “Biến đổi khí hậu năm 2001”, Ủy Ban Liên Chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) đã nêu ra 2 nhóm chiến lược trong ứng phó với biến đổi khí

Theo Tài liệu dạy và học về ứng phó với biến đổi khí hậu (Bộ Giáo dục và Đào tạo,

Live&Learn, Plan, AusAID) thì:

- “Giảm nhẹ biến đổi khí hậu là ngăn chặn sự nóng lên toàn cầu thông qua việc giảm cường độ hoặc mức độ phát thải khí nhà kính” [9, tr.68]

- “Thích ứng với biến đổi khí hậu là sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc con người đối với hoàn cảnh hoặc môi trường thay đổi, nhằm mục đích giảm khả năng

bị tổn thương do biến đổi khí hậu và tận dụng các cơ hội do nó mang lại” [9, tr.8]

Hạn chế, giảm thiểu sự phát thải các khí nhà kính nhằm góp phần giảm nhẹ biến đổi khí hậu là trách nhiệm của mỗi người, mỗi gia đình và cộng đồng Bản thân mỗi người cần nhận thức được trách nhiệm của mình và thực hiện trách nhiệm đó bằng những hành động, việc làm cụ thể trong cuộc sống hàng ngày Một số biện pháp và hành động cụ thể giúp giảm nhẹ tác động của biến đổi khí hậu như:

- Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả (tắt điện khi không sử dụng, );

Trang 22

- Sử dụng các nguồn năng lượng sạch, các thiết bị tiết kiệm điện (tận dụng năng lượng mặt trời, sử dụng đèn compact, );

- Thay đổi khẩu phần ăn hàng ngày (hạn chế ăn thịt, ăn nhiều rau xanh, );

- Tiết kiệm năng lượng giao thông giảm thiểu phát thải khí nhà kính (đi bộ, đi xe đạp hoặc các phương tiện công cộng như xe bus, );

- Tiết kiệm nước;

- Tiết kiệm giấy;

- Hạn chế sử dụng túi ni lông;

- Trồng cây xanh;

- Tìm hiểu và tham gia tích cực các hoạt động ứng phó với biến đổi khí hậu (chiến dịch Giờ Trái Đất, phong trào Hành trình xanh nhằm bảo vệ môi trường, tích cực tham gia tuyên truyền các vấn đề về biến đổi khí hậu,…);

Những hành động thích ứng với biến đổi khí hậu như: biết tự bảo vệ mình trước thiên tai; phòng ngừa các dịch bệnh; rèn luyện sức khỏe bảo vệ cơ thể; thay đổi một số thói quen sinh hoạt không hợp lí; Cụ thể các việc làm có thể giúp chúng ta thích ứng với biến đổi khí hậu:

- Cải tạo hệ thống thủy lợi

- Thay đổi lịch mùa vụ và các kĩ thuật canh tác

- Hạn chế tăng dân số

- Xây dựng và củng cố hệ thống đê biển

- Thay đổi các giống cây chịu hạn, chịu lụt

- Dạy bơi cho trẻ em và phụ nữ vùng lũ lụt

Như vậy, ứng phó với biến đổi khí hậu chính là những biện pháp, việc làm,

hành động cụ thể của chúng ta nhằm “giảm nhẹ” và “thích ứng” với những hiện

tượng bất thường của thời tiết gây ra Những biện pháp, việc làm, hành động cụ thể

đó không chỉ giúp chúng ta chống trọi, thích nghi được với các hiện tượng thời tiết cực đoan mà còn giúp hạn chế sự gia tăng nồng độ khí nhà kính, nguyên nhân chính

gây ra biến đổi khí hậu

Trang 23

1.1.2 Một số vấn đề về giáo dục kĩ năng ứng phó với biến đổi khí hậu qua hoạt động ngoại khóa

1.1.2.1 Hoạt động ngoại khóa và việc giáo dục kĩ năng ứng phó với biến đổi khí hậu cho học sinh tiểu học

1.1.2.1.1 Hoạt động ngoại khóa là gì?

Như chúng ta đã biết, ở tiểu học, quá trình dạy học được tổ chức theo hình thức nội

khóa (bài lên lớp) và ngoại khóa [14, tr.170] Vậy hoạt động ngoại khóa là gì?

Hoạt động ngoại khóa là một hình thức tổ chức học tập ngoài lớp, có tổ chức,

có kế hoạch, có phương hướng xác định; không bắt buộc trong chương trình, được tiến hành theo nguyên tắc tự nguyện dưới sự điều khiển, hướng dẫn của giáo viên nhằm bổ sung, củng cố, nâng cao những kiến thức, kĩ năng mà học sinh đã được học trong chương trình chính khóa [15, tr.23]

Vậy có thể hiểu, hoạt động ngoại khóa là sự tiếp nối hoạt động dạy - học các môn học được tổ chức vào thời gian ngoài giờ lên lớp, là con đường gắn lí thuyết với thực tiễn, tạo nên sự thống nhất giữa nhận thức với hành động của học sinh, là việc tổ chức giáo dục thông qua hoạt động thực tiễn của học sinh về khoa học - kĩ thuật, lao động công ích, hoạt động xã hội, hoạt động nhân đạo, văn hóa văn nghệ, thẩm mĩ, thể dục thể thao, vui chơi giải trí, để giúp các em hình thành và phát triển nhân cách (đạo đức, năng lực, sở trường, ) Như vậy, hoạt động ngoại khóa là một trong hai hoạt động giáo dục cơ bản, được thực hiện một cách có tổ chức, có mục đích theo kế hoạch của nhà trường; là hoạt động tiếp nối và thống nhất hữu cơ với hoạt động học tập trên lớp, nhằm góp phần hình thành và phát triển nhân cách học sinh theo mục tiêu đào tạo, đáp ứng những yêu cầu đa dạng của xã hội đối với thế hệ trẻ Hoạt động ngoại khóa do nhà trường tổ chức và quản lí với sự tham gia của các lực lượng xã hội Nó được tiến hành tiếp nối hoặc xen kẽ với hoạt động dạy

- học trong nhà trường hoặc trong phạm vi cộng đồng Hoạt động này diễn ra trong suốt năm học và cả thời gian nghỉ hè để khép kín quá trình giáo dục, làm cho quá trình này được thực hiện ở mọi nơi, mọi lúc

Trang 24

Với cách hiểu như trên, hoạt động ngoại khóa được xem là một hình thức tổ chức dạy học quan trọng, là một trong những con đường để thực hiện đổi mới phương

pháp dạy học theo định hướng: “phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học

sinh, phù hợp với đặc điểm từng lứa tuổi, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức đó vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” (Điều 24.2, Luật giáo dục)

1.1.2.1.2 Đặc điểm của hoạt động ngoại khóa

Hoạt động ngoại khóa được phân biệt với các hình thức tổ chức dạy học khác dựa trên những đặc điểm chủ yếu sau:

- Hoạt động ngoại khoá được thực hiện ngoài giờ lên lớp, không được quy định trong chương trình chính khoá Là hoạt động không mang tính bắt buộc mà tùy thuộc vào sự tự nguyện của mỗi cá nhân hay nhóm học sinh có cùng hứng thú, sở thích, mối quan tâm về một vấn đề nào đó của nội dung học tập, không phân biệt học sinh giỏi hay yếu kém

- Khi tổ chức hoạt động ngoại khoá, giáo viên có thể không trực tiếp tham gia hoạt động cùng học sinh, nhưng phải là người hướng dẫn, tổ chức, tư vấn, giám khảo cho các trò chơi và có thể trong nhiều trường hợp cần thiết còn là người chỉ đạo, điều khiển các hoạt động ngoài giờ học của học sinh

- Nội dung hoạt động ngoại khoá thường liên quan với nội dung được học tập trên lớp và phù hợp với hoàn cảnh của địa phương và đặc điểm của các em tham gia hoạt động

- Khi tổ chức hoạt động ngoại khoá, giáo viên không tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động ngoại khoá với các hình thức tương tự như một giờ học chính khoá (bằng điểm số hoặc bằng nhận xét), mà đánh giá dựa trên các yếu tố như sản phẩm của buổi hoạt động ngoại khóa hay tính tích cực, chủ động tham gia vào các hoạt động và tự lực sáng tạo của học sinh

1.1.2.2 Quan điểm dạy học tích hợp và việc giáo dục kĩ năng ứng phó với biến đổi khí hậu qua hoạt động ngoại khóa cho học sinh tiểu học

Trang 25

1.1.2.2.1 Khái niệm về tích hợp và dạy học theo quan điểm tích hợp

Có rất nhiều quan điểm khác nhau về thuật ngữ “tích hợp” Có ý kiến cho rằng: Tích hợp là tổ hợp (combination) hay phối hợp (coordination) các môn học

Có ý kiến khác lại cho rằng tích hợp chẳng qua là sự lắp ghép cơ giới, phép cộng đơn thuần giữa các môn học [25]

Theo từ điển Tiếng Việt: “Tích hợp là sự kết hợp những hoạt động, chương

trình hoặc các thành phần khác nhau thành một khối chức năng Tích hợp có nghĩa

là sự thống nhất, sự hòa hợp, sự kết hợp” Theo từ điển Giáo dục học: “Tích hợp là hành động liên kết các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch dạy học”

Hiểu một cách khái quát, tích hợp (integration): là sự liên kết các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một hay vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch dạy học [25]

Tích hợp chương trình (program integration): là sự liên kết, hợp nhất nội dung các môn học có nguồn tri thức khoa học và có những quy luật chung, gần gũi với nhau Tích hợp nhằm giảm bớt được những phần kiến thức trùng nhau, tạo điều kiện nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo Tích hợp không phải là phương pháp dùng để rút bớt môn học, nhằm giảm tải kiến thức Tích hợp cần được hiểu là một phương hướng nhằm phối hợp một cách tối ưu các quá trình học tập riêng rẽ, các môn học, các phân môn khác nhau theo những mô hình, hình thức, cấp độ khác nhau nhằm đáp ứng những mục tiêu, mục đích và yêu cầu khác nhau [25]

Trong dạy học, tích hợp là tổng hợp trong một đơn vị bài học, thậm chí là một tiết học hay một bài tập nhiều mảng kiến thức và kĩ năng liên quan đến nhau nhằm tăng cường hiệu quả giáo dục và tiết kiệm thời gian học Quan điểm dạy học tích hợp kiến thức đã được nhiều nhà giáo dục ở nước ta nghiên cứu và nhận thấy ý nghĩa thiết thực của nó trong giáo dục cũng như trong mọi mặt của xã hội hội nhập hiện nay

Xu hướng toàn cầu hóa đặt con người trước những vấn đề, thử thách phong phú và phức tạp hơn nên nền giáo dục cần có những điều chỉnh và thay đổi kịp thời

Trang 26

để đáp ứng được những yêu cầu của việc đào tạo con người trong xã hội mới Sự điều chỉnh và thay đổi ở đây không hiểu đơn giản chỉ là bổ sung thêm những kiến thức mới vào trong chương trình học Mà vấn đề ở đây là làm thế nào trang bị cho người học những kiến thức cơ bản, những kĩ năng và năng lực tư duy cần thiết để biết linh hoạt liên kết các tri thức, kĩ năng ấy vào việc giải quyết các tình huống cụ thể trong cuộc sống

Mặt khác, kiến thức mà học sinh tiếp thu trong quá trình học tập không phải

là những mảng kiến thức rời rạc, biệt lập mà có sự liên kết chặt chẽ với nhau, phát triển theo vòng xoáy trôn ốc Kiến thức ở lớp trước là tiền đề, là cơ sở để tiếp thu kiến thức ở lớp tiếp theo Do đó, việc tích hợp trong dạy học sẽ giúp học sinh biết cách liên hệ các mảng kiến thức và kĩ năng gần nhau, xem xét chúng ở nhiều khía cạnh để tìm ra lời giải cho vấn đề mới

Như vậy, có thể hiểu một cách đơn giản, dạy học tích hợp là quá trình dạy học trong đó giáo viên tổ chức hoạt động để học sinh huy động nội dung, kiến thức,

kĩ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm giải quyết các nhiệm vụ học tập, thông qua đó hình thành những kiến thức, kĩ năng mới từ đó phát triển năng lực cần

thiết [2, tr.5]

1.1.2.2.2 Các chương trình giáo dục tích hợp

Tích hợp là một trong những xu thế dạy học hiện đại đang được quan tâm nghiên cứu và áp dụng vào nhà trường ở nhiều nước trên thế giới và ở Việt Nam trong những năm gần đây Chương trình tích hợp là đề tài được bàn bạc

từ những năm đầu thế kỷ XX Hơn một trăm năm qua, các tác giả đã đưa ra ba loại

hoạt động tích hợp cơ bản là: tích hợp đa môn, tích hợp liên môn và tích hợp xuyên

môn

* Tích hợp đa môn (The Multidisciplinary Integration)

Cách tiếp cận tích hợp đa môn tập trung trước hết vào các môn học Các môn liên quan với nhau có chung một định hướng về nội dung và phương pháp dạy học nhưng mỗi môn lại có một chương trình riêng Tích hợp đa môn được thực hiện theo cách tổ chức các Chuẩn từ các môn học xoay quanh một chủ đề, đề tài, dự án,

Trang 27

tạo điều kiện cho người học vận dụng tổng hợp kiến thức của các môn học có liên quan [25]

* Tích hợp liên môn (Interdisciplinary Integration)

Theo cách tiếp cận tích hợp liên môn, giáo viên tổ chức chương trình học tập xoay quanh các nội dung học tập chung: các chủ đề, các khái niệm và kĩ năng liên ngành/môn Họ kết nối các nội dung học tập chung nằm trong các môn học để nhấn mạnh các khái niệm và kỹ năng liên môn Các môn học có thể nhận diện được, nhưng họ cho rằng ít quan trọng hơn so với cách tiếp cận tích hợp đa môn Tích hợp liên môn còn được hiểu như là phương án trong đó nhiều môn học liên quan được kết lại thành một môn học mới với một hệ thống những chủ đề nhất định xuyên suốt qua nhiều cấp lớp [25]

* Tích hợp xuyên môn (Transdisciplinary Integration)

Trong cách tiếp cận tích hợp xuyên môn, giáo viên tổ chức chương trình học tập xoay quanh các vấn đề và quan tâm của người học Học sinh phát triển các kĩ năng sống khi họ áp dụng các kĩ năng môn học và liên môn vào ngữ cảnh thực tế

của cuộc sống Hai con đường dẫn đến tích hợp xuyên môn: học tập theo dự án (project-based learning) và thương lượng chương trình học (negotiating the

curriculum) [25]

Như vậy, có thể hiểu một cách đơn giản và khái quát nhất về 3 cách tiếp cận

tích hợp đa môn, tích hợp liên môn, tích hợp xuyên môn như sau:

Tích hợp đa môn là cách tiếp cận tích hợp các môn học có liên quan với nhau (chung định hướng về nội dung và phương pháp dạy học) nhưng giữ nguyên tính chất độc lập của từng môn học đó, mỗi môn là một chương trình riêng Ví dụ: tích hợp 4 kỹ năng nghe, nói, đọc, viết và kiến thức văn hoá, xã hội, tự nhiên, tích hợp giữa phát triển năng lực sử dụng ngôn ngữ với phát triển nhân cách trong môn Tiếng Việt, trong đó vẫn đảm bảo tính chất riêng rẽ của các phân môn như Tập đọc, Chính tả, Luyện từ và câu, Tập làm văn

Còn cách tích hợp liên môn có thể hiểu là cách tiếp cận tích hợp các môn học

có liên quan thành một môn học mới với một hệ thống chủ đề xuyên suốt qua nhiều

Trang 28

cấp lớp Điều này hoàn toàn trái ngược với cách tiếp cận đa môn Đây cũng là cách tích hợp đã được vận dụng trong chương trình giáo dục tiểu học mới Ví dụ: tích hợp các yếu tố đại số, yếu tố thống kê vào mạch số học; tích hợp mạch số học, hình học, giải toán có lời văn trong môn Toán ở tiểu học hiện nay; hay tích hợp môn Sức khỏe với môn Tự nhiên - xã hội và Khoa học thành môn mới là Tự nhiên và Xã hội (lớp 1, 2, 3) và môn Khoa học (lớp 4, 5);

Cách tiếp cận tích hợp xuyên môn được hiểu là cách tích hợp trong đó giáo viên tổ chức chương trình học tập xoay quanh các vấn đề mà người học quan tâm, hứng thú Với cách tích hợp xuyên môn này, học sinh được phát triển các kĩ năng cần thiết khi vận dụng các kiến thức và kĩ năng học được của các môn học vào ngữ cảnh thực tế của cuộc sống Vậy có thể thấy, đây là phương thức tích hợp phù hợp với việc giáo dục nội dung ứng phó với biến đổi khí hậu thông qua các hoạt động ngoại khóa ở Tiểu học

1.1.2.3 Hệ thống kĩ năng cần được giáo dục trong biến đổi khí hậu

1.1.2.3.1 Kĩ năng nhận biết biến đổi khí hậu

Biến đổi khí hậu là một quá trình diễn ra từ từ, khó bị phát hiện, chúng ta có thể nhận biết qua số liệu đo đạc của các trạm quan trắc tại các quốc gia về nhiệt độ, lượng mưa, bức xạ, gió và các thông số khác

Nhận biết từ cuộc sống đời thường: mùa đông ngắn lại, mùa hạ kéo dài hơn; nóng bất thường vào mùa hè và rét đậm, rét hại vào mùa đông; bão lũ với cường độ lớn, kéo dài thất thường …Cần theo dõi thời tiết thường xuyên qua báo, đài, ti vi…để có những biện pháp phòng ngừa

1.1.2.3.1.1 Nhận biết Áp thấp nhiệt đới, bão

* Khái niệm

Áp thấp nhiệt đới và bão là một cơn gió xoáy có phạm vi rộng, có thể ảnh hưởng tới một vùng có bán kính từ 200–500 km.Chúng thường gây ra gió lớn và mưa rất to

Tốc độ gió được đo theo một bảng gọi là Bảng Beaufort Bảng này phân chia tốc độ gió của 7 bão, áp thấp nhiệt đới và nhiễu động nhiệt đới từ cấp 1 đến cấp 17 và

Trang 29

thành số kilomét/giờ Khi sức gió mạnh nhất ở vùng gần trung tâm của gió xoáy đạt tới cấp 6, cấp 7 (39 đến 61 km/giờ) thì được gọi là áp thấp nhiệt đới; khi sức gió mạnh nhất đạt từ cấp 8 trở lên (từ 62 km/giờ trở lên) thì được gọi là bão

* Nguyên nhân:

Nguyên nhân hình thành áp thấp nhiệt đới và bão rất phức tạp Cho tới nay, các nhà khoa học chưa khám phá hết những nguyên nhân hình thành của chúng Tuy nhiên,người ta cũng rút ra một số kết luận là những cơn áp thấp nhiệt đới và bão như vậy dễ hình thành trên vùng biển nhiệt đới, đặc biệt trong khoảng từ vĩ tuyến 5 đến vĩ tuyến 20, nơi mà nhiệt độ mặt nước biển không thấp hơn 27 độ C

Gió xoáy của áp thấp nhiệt đới hoặc bão thổi dồn vào tâm và xoáy ngược chiều kim đồng hồ

Trong cơn bão mạnh, ở chính vùng trung tâm gió rất yếu, trời quang, mây tạnh Vùng này thường có bán kính từ vài chục đến 100 km, được gọi là “mắt bão”

* Những thiệt hại chính do áp thấp nhiệt đới và bão gây ra

- Gây thương vong và làm ảnh hưởng đến sức khoẻ cộng đồng (chết người, bị thương, gây dịch bệnh…)

- Thiệt hại về vật chất: Hư hỏng công trình, ngưng trệ giao thông, gián đoạn thông tin liên lạc;

- Mất mùa và mất mát tài sản;

- Ô nhiểm môi trường;

- Thiếu lương thực và nước sạch cho sinh hoạt

* Nguyên nhân

- Những trận mưa lớn kéo dài có thể gây ra lũ, lụt

Trang 30

- Các công trình xây dựng như đường bộ, đường xe lửa và hệ thống thuỷ lợi cũng có thể ngăn cản dòng chảy tự nhiên, làm tăng ngập lụt

- Lũ lụt còn có thể xảy ra khi đê, đập, hồ hoặc kè bị vỡ

- Các trận bão lớn vó thể làm nước biển dâng lên, tiến sâu vào đất liền, gây ra ngập, lụt và nhiễm mặn

* Các loại lũ:

Có 3 loại lũ chính:

Lũ quét:

- Thường xảy ra trên các sông nhỏ hoặc ở miền núi

- Thường là kết quả của những trận mưa rất lớn ở những vùng có độ dốc cao, cây cối bị phá huỷ và đất không còn khả năng giữ nước

- Diễn ra trong một thời gian rất ngắn, dòng nước chảy với tốc độ cực lớn, có thể cuốn theo mọi thứ nơi dòng chảy đi qua

- Xuất hiện rất nhanh sau khi trời bắt đầu mưa và khó dự báo trước lũ quét sẽ xảy ra

- Thường do các trận mưa lớn ở đầu nguồn gây ra

- Có thể xuất hiện từ từ như ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long hoặc nhanh như ở các sông thuộc Trung Bộ

Lũ ven biển (nước biển dâng)

- Xuất hiện khi sóng biển dâng cao đột ngột kết hợp với triều cường, phá vỡ đê hoặc tràn qua đê biển vào đất liền và làm nước sông không chảy thoát ra biển được gây ra ngập lụt đột ngột

- Lũ ven biển thường xảy ra khi có áp thấp nhiệt đới hoặc bão vào gần bờ biển

Tác hại của lũ lụt

- Gây chết người hoặc bị thương

Trang 31

- Ảnh hưởng đến đời sống của doanh nghiệp (lũ lụt kéo dài có thể làm chậm trễ mùa

vụ mới, nguồn nước bị nhiễm bẩn, phát sinh dịch bệnh)

- Làm hư hỏng các công trình ( nhà cửa, bệnh viện, trạm y tế, trường học, đường giao thông, đường dây điện, đường dây điện thoại, hệ thống cung cấp nước sạch …)

- Gây xói lở hoặc bồi lắng, lấp đất, cát làm mất diện tích trồng trọt

1.1.2.3.1.3 Nhận biết động đất

* Khái niệm:

Động đất là sự rung động của mặt đất, được tạo ra bởi các dịch chuyển đột ngột của các khối địa chất trong lòng đất, các vụ nổ núi lửa, các vụ trượt lở đất, sụp đổ hang động…

* Nguyên nhân :

 Nội sinh: Do vận động kiến tạo của các mảng kiến tạo trong vỏ Trái đất, dẫn đến các hoạt động đứt gãy và/hoặc phun trào núi lửa ở các đới hút chìm Xem thêm: Cấu trúc Trái Đất

 Ngoại sinh: Thiên thạch va chạm vào Trái Đất, các vụ trượt lở đất đá với khối lượng lớn

 Nhân sinh: Hoạt động của con người gồm cả gây rung động không chủ ý, hay các kích động có chủ ý trong khảo sát hoặc trong khai thác hay xây dựng, đặc biệt là các vụ thử hạt nhân dưới lòng đất

* Dấu hiệu nhận biết

Đầu tiên là quan sát hành vi động vật như chó, mèo, cá, sóc, chuột xem chúng có những biểu hiện khác thường nào không Lý do là bởi, sự chuyển động của lớp đá dưới mặt đất trước trận động đất đã tạo ra sóng điện mà một số loài động vật có thể hiểu được Chúng có thể cảm thấy được những dư chấn yếu trước khi con người kịp cảm nhận

Thứ hai, chú ý đến lớp đất đá và mực nước sông, hồ ở gần khu vực Nếu thấy mực nước sông, hồ rút bớt bất thường hoặc tràn mà không có trận mưa lớn nào trong thời gian đó, thì đó là dấu hiệu của việc có sự biến động

Trang 32

Thứ ba, quan sát bầu trời, hướng gió Nếu bạn nhận thấy một sự điềm tĩnh bất thường trong bầu khí quyển, nó sẽ là dấu hiệu của việc biến đổi khí hậu lạ, rất

có thể, một trận động đất sắp diễn ra trong khu vực

Thứ tư, nhìn lên bầu trời, theo dõi luồng sáng bí ẩn, hay còn được biết dưới cái tên “ánh sáng động đất” Những luồng sáng này có nhiều hình dạng khác nhau

và xuất hiện trước hoặc trong các trận động đất

1.1.2.3.1.4 Nhận biết Hỏa hoạn

* Khái niệm:

Hỏa hoạn là hiểm họa do lửa gây ra Hỏa hoạn là thuật ngữ để chỉ một đám cháy lớn thiêu đốt phá hủy tài sản (cháy nhà và công trình xây dựng), đe dọa đến sức khỏe và cuộc sống của con người, sự sống động vật và thiêu đốt thảm thực vật (cháy rừng) Một trận hỏa hoạn có thể do tự nhiên gây ra bởi thiên tai (như núi lửa phun, sét đánh gây cháy rừng; động đất gây chập điện, nổ khí ga), hay do con người vô tình hay cố ý tạo ra (đốt cháy)

* Nguyên nhân:

 Cháy do nhiệt độ cao đủ sức đốt cháy một số chất như que diêm, dăm bào,

gỗ (750800), khi hàn hơi, hàn điện, …

 Cháy do tác dụng của hoá chất, do phản ứng hóa học: một vài chất nào đó khi tác dụng với nhau sẽ gây ra hiện tượng cháy

 Cháy do điện: khi chất cách điện bị hư hỏng, do quá tải hay ngắn mạch chập điện, dòng điện tăng cao gây nóng dây dẫn, do hồ quang điện sinh ra khi đóng cầu dao điện, khi cháy cầu chì, chạm mach, …

 Cháy do tia bức xạ: tia nắng mặt trời khi tiếp xúc với những hỗn hợp cháy, nắng rọi qua những tấm thủy tinh lồi có thể hội tụ sức nóng tạo thành nguồn

 Cháy do sét đánh, tia lửa sét

1.1.2.3.1.5 Mưa giông, sấm sét

* Khái niệm:

Giữa hai đám mây có hiện tượng phóng tia lửa điện và ta trông thấy một tia chớp Vài giây sau ta mới nghe thấy tiếng nổ, đó là "sấm" (vận tốc ánh sáng nhanh

Trang 33

hơn vận tốc của tiếng động nên ta trông thấy tia chớp trước) Đó là hiện tượng sét đánh

* Nguyên nhân

Do sét là sự phóng điện hay sự di chuyển cực nhanh của các điện tử ma sát vào không khí làm nó trở nên cực nóng có thể hình thành plasma và giãn nở, theo thuyết động học thì khi không khí bị giãn nở một cách quá nhanh và đột ngột xung quanh tia sét nó sẽ tạo ra một sóng chấn động lan rộng kèm theo tiếng động

Vì có rất nhiều sóng chấn động được tạo ra liên tiếp nhau khi sét hình thành do có rất nhiều tia sét trên cùng một đường đi nên nó không chỉ có một tiếng mà rền vang trong một khoảng thời gian tùy theo chiều dài của sét và khoảng cách đến người nghe nó Các đặc tính của sấm rất phức tạp tùy theo yếu tố hình học của sét như chiều dài, có bao nhiêu tua, độ vọng âm thanh từ mặt đất và có bao nhiêu tia sét trên cùng một đường đi

* Tác hại của sét đối với con người

Một tia sét có hiệu điện thế cực lớn gần 300 triệu vôn Bình thường với dòng điện trên 24 vôn đã có thể gây tổn hại cho sức khỏe bạn Với nguồn điện thế cực lớn kia bạn sẽ chết ngay lập tức Sét mang theo nguồn nhiệt năng cực lớn gây hoại tử ngay vùng da tiếp xúc với sét Có một số trường hợp sét chỉ đánh xượt qua nhưng nạn nhân có thể bị bỏng nặng và thần kinh bất ổn do chấn thương vùng não ( làm chết noron trong não)

Sét khi đánh trúng một vùng gần khu vực nhà bạn, điện áp hệ thống sẽ gây chập điện, hư hỏng đồ điện tử, công nghệ và nếu xui xẻo, bạn có thể bị sét đánh ngay trong nhà vì sét lan truyền

Sét cũng là nguyên nhân gây cháy nhà, cháy rừng cực kì nguy hiểm Một số phân xưởng, nhà ở bị sét đánh trúng và phát hỏa

1.1.2.3.1.6 Nhận biết Đuối nước

* Khái niệm

Ngay sau khi nạn nhân té ngã xuống nước, đầu bị ngập chìm dưới nước, nạn nhân có phản xạ ngừng thở và khoảng chứng 2 phút thì phải thở hít vào, nước sẽ

Trang 34

tràn ngập vào mũi, miệng; lúc này nạn nhân cố gắng thở sâu nhưng vô hiệu Từ đây xuất hiện trạng thái co các cơ thành từng cơn, bị nôn mửa ; tại miệng và mũi nạn nhân ứ đầy nước bọt và chất nôn, mất các phản xạ và sau từ 2 đến 4 phút sẽ dẫn đến

tử vong

* Nguyên nhân

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tai nạn đuối nước ở trẻ em, trong đó, nguyên nhân phổ biến dẫn tới những tai nạn đuối nước thương tâm là do thiếu sự giám sát của người lớn, chủ quan của bố mẹ để trẻ tự do vui chơi tại những khu vực nguy hiểm như sông, suối, ao, hồ

Tai nạn đuối nước cũng một phần là do trẻ không biết bơi, chưa được dạy kỹ năng đảm bảo an toàn và xử lý tình huống khi bơi và không có kỹ năng cứu đuối

Bên cạnh đó, cũng xảy ra trường hợp trẻ bị chết đuối do sự không an toàn của các môi trường sống xung quanh

Ngoài ra, phải kể đến một thực trạng: đó là khi các em cứu lẫn nhau, thì do chưa có kiến thức trong việc cấp cứu, sơ cứu người bị chết đuối, dẫn đến tình trạng

số lượng trẻ bị chết đuối tăng lên

1.1.2.3.2 Kĩ năng ứng phó với biến đổi khí hậu

1.1.2.3.2.1 Kĩ năng ứng phó áp thấp nhiệt đới, bão

* Trước khi có áp thấp nhiệt đới hoặc bão:

 Trồng cây chắn gió xung quanh nhà xưởng để tạo hàng rào bảo vệ chắn gió bão và ngăn không cho đất bị xói mòn

 Trước mùa bão phải chặt bỏ cành to, cây khô quanh nhà xưởng và trong khu vực để giảm nguy cơ cây gẫy, đổ vào nhà khi bão xảy ra

 Sơ tán các thiết bị, giấy tờ quan trọng đến vị trí an toàn

 Dự trữ lương thực, thực phẩm, chất đốt, nước sạch, thuốc men và các vật dụng cần thiết khác ở nơi an toàn và cao ráo trong mùa mưa bão

 Theo dõi tin bão trên đài phát thanh, truyền hình và loa truyền thanh công cộng

 Chuẩn bị nhiên liệu thay thế để có thể dùng khi bị cắt điện

Trang 35

 Chằng chống, gia cố nhà xưởng để có thể chịu được gió to

 Cất tất cả các đồ vật có thể bị gió bão thổi bay vào vị trí an toàn

 Bảo vệ nguồn nước khỏi bị ô nhiễm ( ví dụ: che đậy giếng nước, bể chứa…)

 Xác định vị trí an toàn có thể trú ẩn

* Trong khi có áp thấp nhiệt đới hặc bão

 Cắt điện tạm thời khi có mưa, gió lớn

 Yêu cầu mọi người ở trong các khu nhà kiên cố, không được đi ra ngoài

* Sau khi có áp thấp nhiệt đới hoặc bão

 Tiếp tục theo dõi thông tin bão trên đài, vô tuyến và loa truyền thanh

 Rà soát, tổng hợp những thiệt hại do bão gây ra

 Kịp thời sửa chữa, phục hồi hoạt động của các trang thiết bị hư hỏng

 Kiểm tra xem nguồn nước xem có bị xác súc vật chết, nước bẩn hoặc nước mặn làm nhiễm bẩn hay không

 Bảo vệ nguồn nước bằng cách che đậy giếng, bể chứa nước.v.v…

 Cắt hết nguồn điện để đảm bảo an toàn trong lũ lụt

 Di chuyển trang thiết bị, hang hóa tới nơi cao và an toàn,ví dụ như một toà nhà hai tầng hoặc một quả đồi

1.1.2.3.2.3 Kĩ năng ứng phó động đất

Theo Trung tâm Quản lý tình huống khẩn cấp Mỹ, trong trường hợp có động đất bạn nên áp dụng một số biện pháp để tự bảo vệ chính mình như sau:

* Nếu bạn ở trong phòng

Trang 36

 Tìm chỗ an toàn, chờ cho đến khi mặt đất ngừng rung chuyển Không sử dụng thang máy (vì thang máy có thể mất điện, người bị kẹt trong đó và thang cũng không thể chở nhiều người một lúc)

 Luôn lấy tay ôm lấy mặt, đầu, tránh xa cửa kính, gương, hay vật gì có thể đổ vào người

 Ở nguyên vị trí không chạy lung tung giữa các phòng, chờ đến khi mặt đất ngừng rung

 Áp dụng phương pháp "tam giác của sự sống"

* Nếu bạn ở ngoài trời

 Tránh xa các tòa nhà và đường dây dẫn điện Bạn nên tìm chỗ trống để đứng

an toàn

 Nếu đang đi ô tô - ngừng xe ngay lập tức ở vị trí cho phép và ở lại trong

xe Tránh đỗ xe ở dưới hoặc gần các tòa nhà, cây cối, các cây cầu bắc qua đường, đường dây điện Di chuyển cẩn trọng sau khi mặt đất ngừng rung chuyển Tránh các con đường, cầu, dốc bị động đất gây hư hại

 Nếu bị mắc kẹt dưới đống đổ nát, cố gắng giữ bình tĩnh Không di chuyển hoặc làm tung bụi lên mù mịt, che miệng bằng khăn tay hoặc một mảnh vải Gõ vào một đường ống hoặc mảnh tường để nhân viên cứu hộ có thể xác định vị trí bạn bị mắc kẹt Hô lớn chỉ là giải pháp cuối cùng Nếu bạn ở gần biển, hãy chạy đến nơi an toàn và chuẩn bị tinh thần đón nhận cơn sóng thần

1.1.2.3.2.4 Kĩ năng ứng phó hỏa hoạn

 Kỹ năng 1: Khi ngửi thấy mùi khét, khói hoặc trông thấy lửa cháy thì phải gọi ngay cho các chú lính cứu hỏa Số điện thoại các chú là 114

 Kỹ năng 2: Nếu bị kẹt trong đám cháy có người lớn bên cạnh, phải bình tĩnh làm theo sự chỉ dẫn của người lớn

 Kỹ năng 3: Chỉ những lối có thể thoát ra ngoài khi có hỏa hoạn Cố gắng thoát ra ngoài càng nhanh càng tốt tuyệt đối không chần chừ mang theo đồ đạc hoặc nán lại gọi điện cho cứu hỏa

Trang 37

 Kỹ năng 4: Nếu gia đình bạn sống trong tòa nhà cao tầng hoặc khu chung cư, hãy dạy rằng đừng bao giờ di chuyển xuống dưới đất bằng thang máy khi có hỏa hoạn vì khi đó thang máy có thể ngừng giữa chừng do ngắt điện Trường hợp ở gần tầng thượng hơn, hãy di chuyển lên tầng thượng thay vì di chuyển xuống dưới

 Kỹ năng 5: Nhớ rằng không những lửa mà khói và hơi độc cũng có thể dẫn đến tử vong Để tránh bị ngộp vì khói, hãy di chuyển ra ngoài bằng cách bò sát mặt đất, bịt khăn hoặc vải thấm nước lên miệng, mũi Hãy khoác thêm một chiếc áo được nhúng nước nếu có thể

 Kỹ năng 6: Khi tóc hoặc quần áo bị bén lửa phải dừng lại, nằm xuống và lăn người qua lại hoặc lăn tròn

 Kỹ năng 7: Nếu kẹt trong phòng không thể thoát ra ngoài, hãy lấy vải ướt bịt chặt các khe cửa rồi chui xuống gầm giường và nằm sát xuống sàn nhà Bởi gầm giường là nơi đầu tiên những người lính cứu hỏa để mắt đến khi tìm kiếm những người còn kẹt lại trong một vụ hỏa hoạn

1.1.2.3.2.5 Kĩ năng ứng phó mưa giông, sấm sét

 Khi có dông sét: không nên đứng dưới gốc cây, ống khói, đụn rơm, anten truyền hình, gần các vật kim loại, không chạm tay vào các vật ẩm ướt vì những vật này dẫn điện rất tốt Không nghe điện thoại vì điện thoại sẽ hút sóng làm ta có thể bị giật…

 Không đi dọc theo các bờ sông, bờ suối…

 Không trú mưa ở dưới cây cao, những công trình, nhà cửa trơ trọi giữa cánh đồng bởi lẽ sét thường có xu hướng đánh vào những điểm cao nhất trong khu vực đó, do đó trú mưa ở những chổ này rõ ràng không phải là một ý tưởng tốt

 Nếu như bạn ở giữa một vùng hoang vắng, không có nơi nào để trú, khi đó bạn sẽ trở thành “ điểm cao nhất”, nên nguy cơ bạn bị sét đánh sẽ tăng cao Trong những trường hợp như thế bạn không nên nằm xuống mặt đất Giải pháp tốt nhất là nên thu mình lại như tư thế của thai nhi trong bụng mẹ, đứng

Trang 38

thẳng trên những ngón chân, cố gắng thu hẹp diện tích tiếp xúc với mặt đất Một lời khuyên khác cho bạn là nên tạm thời tránh xa các vật dụng mang bên mình bằng kim loại như cuốc xẻng, phảng mác, cần câu, gậy…

 Nếu có sấm sét mà bạn lại ở gần một chiếc xe hơi thì bạn hãy núp vào đó vì toàn bộ thân xe là một bề mặt rộng, nó có thể làm tan các dòng điện và trở thành một chiếc khung bảo vệ

 Nếu gặp sấm sét khi đang ở một khu rừng, mọi người hãy tìm vị trí thấp dưới những cây nhỏ để trú ẩn, tránh đứng cạnh những cây cao, vì sét luôn có xu hướng tấn công vào những cây cao nhất

 Nếu đang ở một khoảng đất trống, bạn hãy tìm đến vị trí thấp, như thung lũng hoặc khe núi (nhưng hãy cảnh giác với lũ quét) Nếu bạn đang ở trên một chiếc thuyền, hãy tiến vào bờ càng nhanh càng tốt

 Nếu bạn thấy mái tóc mình dựng đứng có nghĩa là bạn rất dễ bị sét tấn công Lúc này bạn hãy ngồi xổm, dùng tay bịt tai lại để giảm tác hại đến thính lực

và gục đầu vào hai đầu gối

 Không được nằm duỗi thẳng trên mặt đất, vì bạn phải hạn chế tối đa sự tiếp xúc với mặt đất để giảm lượng điện tích truyền xuống đất qua cơ thể

 Nếu gặp nạn nhân bị sét đánh, hãy hỗ trợ họ ngay lập tức vì sau khi bị sét đánh, nạn nhân không còn mang điện tích và không hề nguy hại cho bạn

1.1.2.3.2.6 Kĩ năng ứng phó đuối nước

 Học bơi theo từng lớp có người quản lý hoặc do người lớn hướng dẫn Khi các em có thể bơi được 25m liên tục và tự làm nổi người ít nhất 5 phút mới được coi là biết bơi

 Khi đi bơi các em nhớ tuân theo các nguyên tắc an toàn sau:

+ Chỉ tắm, bơi khi được người lớn giám sát và cho phép

+ Chỉ bơi ở những nơi an toàn như: nước ngang đến ngực, không chảy xiết, không

có xoáy

+ Tuyệt đối tuân theo các bảng chỉ dẫn nguy hiểm

+ Chỉ bơi khi có người lớn biết bơi và cứu đuối đi kèm

Trang 39

+ Phải khởi động kỹ trước khi xuống nước

+ Lên bờ ngay khi trời tối, mưa, sấm chớp

 Làm hàng rào quanh ao, hố nước, rãnh nước quanh nhà, làm cổng cửa chắn (đặc biệt khi nhà ở gần sông hồ…)

 Luôn đậy giếng, bể, lu chứa nước…bằng các nấp đậy an toàn (cứng, trẻ dẫm lên không lọt)

 Những điều các em không nên làm:

+ Không bơi ở những nơi có biển báo nguy hiểm, nước chảy xiết, nước sâu

+ Không nhảy cấm đầu hoặc bơi thi ở những nơi không có chỉ dẫn

+ Chơi đùa gần sông, hồ, ao, mương, hố nước…và những nơi có biển báo nguy hiểm

+ Tự ý lái xuồng, thuyền, võ lãi…khi chưa xin phép người lớn

+ Không nhảy xuống nước khi vừa đi ngoài nắng về hoặc khi có nhiều mồ hôi + Không ăn uống khi đang bơi để tránh sặc nước

CÁC EM PHẢI LÀM GÌ KHI THẤY MÌNH HOẶC BẠN BỊ ĐUỐI NƯỚC ?

Nếu thấy mình bị đuối nước, ngay lập tức các em nhớ:

+ Kêu cứu thật to Bình tỉnh làm nổi người lên bằng cách hít một hơi dài, thả lỏng người

+ Bơi theo dòng nước để thoát khỏi chỗ xoáy, chỗ sâu và bơi vào bờ

1.1.3 Nội dung giáo dục kĩ năng ứng phó với biến đổi khí hậu qua hoạt động ngoại khóa ở trường tiểu học

1.1.3.1 Khái niệm

Kĩ năng là năng lực (khả năng) của chủ thể thực hiện thuần thục một hay một chuỗi hành động trên cơ sở hiểu biết (kiến thức hoặc kinh nghiệm) nhằm tạo ra kết quả mong đợi Phản xạ là phản ứng của cơ thể với môi trường Phản xạ mang tính thụ động Kỹ năng ngược lại là phản ứng có ý thức và hoàn toàn mang tính chủ động [26]

Trang 40

Ứng phó với biến đổi khí hậu: là một quá trình trong đó con người thích ứng và làm

giảm những tác động bất lợi của khí hậu gây ra và tận dụng cơ hội của nó mang lại [21, tr.21]

Giáo dục kĩ năng ứng phó với biến đổi khí hậu qua hoạt động ngoại khóa: là

quá trình giáo dục nhằm phát triển ở người học sự hiểu biết, thái độ quan tâm trước những vấn đề về môi trường nói chung và biến đổi khí hậu nói riêng, đặc biệt rèn luyện kĩ năng để tự mình và cùng tập thể đưa ra các giải pháp cụ thể nhằm giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu trước mắt cũng như lâu dài thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp [21, tr.22]

Như vậy, có thể hiểu một cách chung nhất, “giáo dục kĩ năng ứng phó với

biến đổi khí hậu qua hoạt động ngoại khóa” là một hoạt động giáo dục giúp người

học có được những kiến thức cơ bản nhất về biến đổi khí hậu cũng như những tác động của hiện tượng nóng lên toàn cầu và những hiện tượng thời tiết cực đoan có thể bất ngờ xảy ra, để từ đó có những kĩ năng, thái độ phù hợp giúp giảm nhẹ và thích ứng với biến đổi khí hậu trong thực tế cuộc sống

1.1.3.2 Sự cần thiết phải giáo dục kĩ năng ứng phó với biến đổi khí hậu qua hoạt động cho học sinh tiểu học

Như chúng ta đã biết, biến đổi khí hậu toàn cầu đang diễn ra ngày càng phức tạp và trầm trọng Những hiện tượng thời tiết bất thường đã và đang làm đảo lộn cuộc sống của con người Và Việt Nam được đánh giá là một trong những nước chịu ảnh hưởng nhiều nhất của biến đổi khí hậu, do có đường bờ biển dài trên 3260

km Đối tượng bị ảnh hưởng nhiều nhất của biến đổi khí hậu chính là trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật, người nghèo, người dân tộc thiểu số, phụ nữ Trong những đối tượng chịu ảnh hưởng nhiều nhất đó thì trẻ em là người chịu ảnh hưởng lớn nhất do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan như: chưa đủ sức khỏe, hạn chế về kiến thức, thiếu kinh nghiệm và khả năng kiểm soát cảm xúc,

Mặt khác, học sinh tiểu học nói riêng với đặc điểm tâm sinh lí đặc trưng là tò

mò, ưa khám phá, thích tiếp xúc với thiên nhiên, mong muốn tìm hiểu cuộc sống xung quanh mình, Hơn nữa, học sinh tiểu học là lứa tuổi dễ tiếp thu, hình thành

Ngày đăng: 28/06/2017, 10:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban chấp hành Trung ương (11/2004), Nghị quyết của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Số 41 – NQ/TW Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Vụ Khoa học Công nghệ (2013), Nhiệm vụ đánh giá hiện trạng nhận thức trong ngành giáo dục về biến đổi khí hậu và ứng phó với biến đổi khí hậu, Báo cáo cấp Bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhiệm vụ đánh giá hiện trạng nhận thức trong ngành giáo dục về biến đổi khí hậu và ứng phó với biến đổi khí hậu
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo, Vụ Khoa học Công nghệ
Năm: 2013
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo (10/2010), Quyết định về việc phê duyệt Dự án đưa các nội dung ứng phó với biến đổi khí hậu vào các chương trình giáo dục và đào tạo giai đoạn 2011-2015, Số 4619/QĐ-BGDĐT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định về việc phê duyệt Dự án đưa các nội dung ứng phó với biến đổi khí hậu vào các chương trình giáo dục và đào tạo giai đoạn 2011-2015
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2012), Sổ tay ABC về biến đổi khí hậu (Quyết định số 1612/QĐ-BGDĐT ngày 27/04/2012) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay ABC về biến đổi khí hậu
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2012
7. Bộ giáo dục và đào tạo (2012), Tài liệu bồi dưỡng giáo viên về biến đổi khí hậu và ứng phó với biến đổi khí hậu (Quyết định số 1612/QĐ-BGDĐT ngày 27/04/2012) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng giáo viên về biến đổi khí hậu và ứng phó với biến đổi khí hậu
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Năm: 2012
8. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2012), Tài liệu hướng dẫn dạy và học về giảm nhẹ rủi ro thiên tai và ứng phó với biến đổi khí hậu (Quyết định số 1612/QĐ- BGDĐT ngày 27/04/2012) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu hướng dẫn dạy và học về giảm nhẹ rủi ro thiên tai và ứng phó với biến đổi khí hậu
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2012
9. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2012), Tài liệu hướng dẫn dạy và học về ứng phó với biến đổi khí hậu (Quyết định số 1612/QĐ-BGDĐT ngày 27/04/2012) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu hướng dẫn dạy và học về ứng phó với biến đổi khí hậu
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2012
11. Trương Quang Học, Nguyễn Đức Ngữ (2009), Một số điều cần biết về biến đổi khí hậu, Hội bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam (VACNE), Liên hiệp Hội Khoa học kĩ thuật Việt Nam (VUSTA) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số điều cần biết về biến đổi khí hậu
Tác giả: Trương Quang Học, Nguyễn Đức Ngữ
Năm: 2009
12. Trương Quang Học (chủ biên) (2011), Tài liệu Đào tạo tập huấn viên về biến đổi khí hậu, NXB Khoa học và Kĩ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu Đào tạo tập huấn viên về biến đổi khí hậu
Tác giả: Trương Quang Học (chủ biên)
Nhà XB: NXB Khoa học và Kĩ thuật
Năm: 2011
13. Nguyễn Hữu Hợp (2012), Tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường tiểu học, NXB ĐHSPHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường tiểu học
Tác giả: Nguyễn Hữu Hợp
Nhà XB: NXB ĐHSPHN
Năm: 2012
15. Nguyễn Thị Thu Hường (2006), Giáo dục môi trường qua các hoạt động ngoại khóa môn Tự nhiên và xã hội lớp 3, Luận văn thạc sĩ Giáo dục học, ĐHSPHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục môi trường qua các hoạt động ngoại khóa môn Tự nhiên và xã hội lớp 3
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hường
Năm: 2006
18. Nguyễn Thị Thấn (1993), “Giáo dục môi trường thông qua các hoạt động ngoại khóa”, Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục, số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Giáo dục môi trường thông qua các hoạt động ngoại khóa”
Tác giả: Nguyễn Thị Thấn
Năm: 1993
19. Nguyễn Thị Thấn (1994), “Tích hợp nội dung giáo dục môi trường vào các môn học ở tiểu học”, Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục, số 11/ trang 20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tích hợp nội dung giáo dục môi trường vào các môn học ở tiểu học”
Tác giả: Nguyễn Thị Thấn
Năm: 1994
20. Nguyễn Thị Thấn (2009), Tích hợp giáo dục môi trường trong dạy học các môn học về Tự nhiên và Xã hội, NXB ĐHSPHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tích hợp giáo dục môi trường trong dạy học các môn học về Tự nhiên và Xã hội
Tác giả: Nguyễn Thị Thấn
Nhà XB: NXB ĐHSPHN
Năm: 2009
21. Nguyễn Thị Thấn (chủ biên) (2011), Phương pháp dạy học các môn học về Tự nhiên và xã hội, NXB ĐHSPHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học các môn học về Tự nhiên và xã hội
Tác giả: Nguyễn Thị Thấn (chủ biên)
Nhà XB: NXB ĐHSPHN
Năm: 2011
23. Bùi Vũ Thu Trang (2013), Tổ chức các cuộc thi nhằm giáo dục ứng phó với biến đổi khí hậu cho học sinh tiểu học, Luận văn thạc sĩ Giáo dục học, ĐHSPHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức các cuộc thi nhằm giáo dục ứng phó với biến đổi khí hậu cho học sinh tiểu học
Tác giả: Bùi Vũ Thu Trang
Năm: 2013
24. Nguyễn Thị Mai Trinh (2013), Giáo dục ứng phó với biến đổi khí hậu thông qua hình thức tổ chức các trò chơi cho học sinh tiểu học, Luận văn thạc sĩ Giáo dục học, ĐHSPHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục ứng phó với biến đổi khí hậu thông qua hình thức tổ chức các trò chơi cho học sinh tiểu học
Tác giả: Nguyễn Thị Mai Trinh
Năm: 2013
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (11/2012), Hội thảo khoa học Dạy học tích hợp – Dạy học phân hóa trong chương trình giáo dục phổ thông Khác
6. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2013), Sổ tay giáo dục ứng phó với biến đổi khí hậu (Dùng trong ngành giáo dục) Khác
10. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2013), Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, Tài liệu tuyên truyền nâng cao nhận thức và hướng dẫn tổ chức các hoạt động giáo dục ứng phó với biến đổi khí hậu cho Tổng phụ trách Đội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

1. Hình thành cho học sinh ý thức  quan tâm  đến biến đổi khí - Giáo dục kỹ năng ứng phó với biến đổi khí hậu thông qua hoạt động ngoại khoá ở các trường tiểu học huyện đông hòa, tỉnh phú yên
1. Hình thành cho học sinh ý thức quan tâm đến biến đổi khí (Trang 60)
Hình  thức  tổ  chức - Giáo dục kỹ năng ứng phó với biến đổi khí hậu thông qua hoạt động ngoại khoá ở các trường tiểu học huyện đông hòa, tỉnh phú yên
nh thức tổ chức (Trang 61)
Bảng 4  Bảng 4 cho thấy, trong trường tiểu học hiện nay giáo viên sử dụng rất nhiều - Giáo dục kỹ năng ứng phó với biến đổi khí hậu thông qua hoạt động ngoại khoá ở các trường tiểu học huyện đông hòa, tỉnh phú yên
Bảng 4 Bảng 4 cho thấy, trong trường tiểu học hiện nay giáo viên sử dụng rất nhiều (Trang 62)
Bảng 7: Khả năng tích hợp giáo dục kĩ năng ứng phó với biến đổi khí hậu trong - Giáo dục kỹ năng ứng phó với biến đổi khí hậu thông qua hoạt động ngoại khoá ở các trường tiểu học huyện đông hòa, tỉnh phú yên
Bảng 7 Khả năng tích hợp giáo dục kĩ năng ứng phó với biến đổi khí hậu trong (Trang 76)
Bảng 8: Khả năng tích hợp giáo dục ứng phó với biến đổi khí hậu trong phần - Giáo dục kỹ năng ứng phó với biến đổi khí hậu thông qua hoạt động ngoại khoá ở các trường tiểu học huyện đông hòa, tỉnh phú yên
Bảng 8 Khả năng tích hợp giáo dục ứng phó với biến đổi khí hậu trong phần (Trang 80)
Bảng 9: Khả năng tích hợp giáo dục ứng phó với biến đổi khí hậu - Giáo dục kỹ năng ứng phó với biến đổi khí hậu thông qua hoạt động ngoại khoá ở các trường tiểu học huyện đông hòa, tỉnh phú yên
Bảng 9 Khả năng tích hợp giáo dục ứng phó với biến đổi khí hậu (Trang 85)
Bảng 11: Kết quả kiểm tra tri thức sau thực nghiệm - Giáo dục kỹ năng ứng phó với biến đổi khí hậu thông qua hoạt động ngoại khoá ở các trường tiểu học huyện đông hòa, tỉnh phú yên
Bảng 11 Kết quả kiểm tra tri thức sau thực nghiệm (Trang 124)
Bảng 13: Kết quả kiểm tra thái độ sau thực nghiệm - Giáo dục kỹ năng ứng phó với biến đổi khí hậu thông qua hoạt động ngoại khoá ở các trường tiểu học huyện đông hòa, tỉnh phú yên
Bảng 13 Kết quả kiểm tra thái độ sau thực nghiệm (Trang 127)
Bảng 14: Kết quả kiểm tra kĩ năng, hành vi trước thực nghiệm - Giáo dục kỹ năng ứng phó với biến đổi khí hậu thông qua hoạt động ngoại khoá ở các trường tiểu học huyện đông hòa, tỉnh phú yên
Bảng 14 Kết quả kiểm tra kĩ năng, hành vi trước thực nghiệm (Trang 128)
Bảng 15: Kết quả kiểm tra kĩ năng, hành vi sau thực nghiệm - Giáo dục kỹ năng ứng phó với biến đổi khí hậu thông qua hoạt động ngoại khoá ở các trường tiểu học huyện đông hòa, tỉnh phú yên
Bảng 15 Kết quả kiểm tra kĩ năng, hành vi sau thực nghiệm (Trang 129)
Hình thức tổ chức - Giáo dục kỹ năng ứng phó với biến đổi khí hậu thông qua hoạt động ngoại khoá ở các trường tiểu học huyện đông hòa, tỉnh phú yên
Hình th ức tổ chức (Trang 142)
3. Hình thức tổ chức giáo dục qua hoạt động ngoại khóa phong phú, đa dạng. - Giáo dục kỹ năng ứng phó với biến đổi khí hậu thông qua hoạt động ngoại khoá ở các trường tiểu học huyện đông hòa, tỉnh phú yên
3. Hình thức tổ chức giáo dục qua hoạt động ngoại khóa phong phú, đa dạng (Trang 143)
14. Hình thức khác .................................................. - Giáo dục kỹ năng ứng phó với biến đổi khí hậu thông qua hoạt động ngoại khoá ở các trường tiểu học huyện đông hòa, tỉnh phú yên
14. Hình thức khác (Trang 143)
Hình thái - Giáo dục kỹ năng ứng phó với biến đổi khí hậu thông qua hoạt động ngoại khoá ở các trường tiểu học huyện đông hòa, tỉnh phú yên
Hình th ái (Trang 150)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w