BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI LƯU THỊ NGỌC HUYỀN PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG XÃ HỘI TRONG GIÁO DỤC SỨC KHỎE SINH SẢN VỊ THÀNH NIÊN CHO HỌC SINH LỚP 9 CỦA THÀNH PHỐ T
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
LƯU THỊ NGỌC HUYỀN
PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG XÃ HỘI TRONG GIÁO DỤC SỨC KHỎE SINH SẢN VỊ THÀNH NIÊN CHO HỌC SINH LỚP 9
CỦA THÀNH PHỐ TUY HÒATỈNH PHÚ YÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
HÀ NỘI - 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
LƯU THỊ NGỌC HUYỀN
PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG XÃ HỘI TRONG GIÁO DỤC SỨC KHỎE SINH SẢN VỊ THÀNH NIÊN CHO HỌC SINH LỚP 9
CỦA THÀNH PHỐ TUY HÒATỈNH PHÚ YÊN
Chuyên ngành: Giáo dục và phát triển cộng đồng
Mã số : Thí điểm
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS TRỊNH THÚY GIANG
HÀ NỘI - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu này là của riêng tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa hề được công bố trong bất
kỳ một công trình nào khác
Tác giả luận văn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Trịnh Thúy Giang, người đã
tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu để tôi có thể hoàn thành luận văn này
Tôi xin được trân trọng cảm ơn tới Ban Giám hiệu, các th y cô giáo trong Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, cùng toàn thể các th y cô giáo đã tham gia giảng
dạy lớp cao học Giáo dục và phát triển cộng đồng K25 - Khoa Tâm lí - Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Chúng tôi xin ghi nhớ sự tận tình giảng dạy của
các th y, cô đã trang bị cho chúng tôi những kiến thức mới quý báu, rất bổ ích phục
vụ cho công tác và cuộc sống, đồng thời đã hướng dẫn, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Xin chân thành cảm ơn Đảng bộ thành phố Tuy Hòa, Ban Giám hiệu, các
th y cô giáo, các em học sinh, phụ huynh học sinh, các lực lượng xã hội của thành phố Tuy Hòa, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã tận tình cung cấp tài liệu, đóng góp
ý kiến, động viên, tiếp thêm nghị lực để tôi hoàn thành bản luận văn này
Mặc dù tôi đã cố gắng rất nhiều trong việc nghiên cứu, song năng lực có hạn nên bản luận văn chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được sự góp ý của các th y cô giáo để luận văn được hoàn chỉnh hơn
Phú Yên, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Lưu Thị Ngọc Huyền
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLTQĐTD Bệnh lây truyền qua đường tình dục HĐNGLL Hoạt động ngoài giờ lên lớp
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
5 Giả thuyết khoa học 4
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 4
7 Phương pháp nghiên cứu 4
8 Dự kiến cấu trúc của luận văn 6
Chương 1: LÝ LUẬN VỀ PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG XÃ HỘI TRONG GIÁO DỤC SỨC KHỎE SINH SẢN VỊ THÀNH NIÊN CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 7
1.1.Tổng quan vấn đề nghiên cứu 7
1.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới 7
1.1.2 Các nghiên cứu ở Việt nam 8
1.2 Sức khỏe sinh sản vị thành niên 10
1.2.1 Khái niệm vị thành niên, sức khỏe sinh sản, sức khỏe sinh sản vị thành niên 10
1.2.2 Đặc điểm tâm- sinh lý tuổi vị thành niên 13
1.2.3 Tầm quan trọng của sức khỏe sinh sản vị thành niên 16
1.2.4 Đặc trưng của sức khỏe sinh sản vị thành niên 18
1.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe sinh sản vị thành niên 19
1.3 Giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh trung học cơ sở 22
1.3.1 Học sinh trung học cơ sở và tuổi vị thành niên 22
1.3.2 Nguyên tắc giáo dục giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh trung học cơ sở 22
1.3.3 Mục tiêu giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh trung học cơ sở 25
1.3.4 Nội dung giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh trung học cơ sở 26
Trang 71.3.5 Phương pháp giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh trung học cơ sở 29 1.3.6 Con đường giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh trong nhà trường trung học cơ sở 31
1.4 Phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh trnng học cơ sở 34
1.4.1 Khái niệm phối hợp 34
1.4.2 Các lực lượng xã hội trong giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh trung học cơ sở 34 1.4.3 Bản chất của sự phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh trung học cơ sở 38
1.4.4 Nguyên tắc phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh trung học cơ sở 39 1.4.5 Mục tiêu phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh trung học cơ sở 40 1.4.6 Nội dung phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh trung học cơ sở 41 1.4.7 Phương pháp phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh trung học cơ sở 44 1.4.8 Hình thức phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh trung học cơ sở 46 1.4.9 Kết quả của sự phối hợp phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh trung học cơ sở 47
Kết luận chương 1 48
Chương 2: THỰC TRẠNG PHỐI HƠP CÁC LỰC LƯỢNG XÃ HỘI
TRONG GIÁO DỤC SỨC KHỎE SINH SẢN VỊ THÀNH NIÊN
CHO HỌC SINH LỚP 9 THÀNH PHỐ TUY HÒA- TỈNH PHÚ YÊN
2.1 Khái quát về địa bàn và khách thể khảo sát 49
2.1.1 Đặc điểm kinh tế, văn hóa- xã hội và các lực lượng xã hội của thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên 49
Trang 82.1.2 Tình hình Giáo dục - Đào tạo thành phố Tuy Hoà, tỉnh Phú Yên 52 2.1.3 Đặc điểm học sinh lớp 9 thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên 55
2.2 Kết quả khảo sát thực trạng 57
2.2.1 Hiểu biết của học sinh THCS về các vấn đề liên quan đến SKSS vị thành niên 57
2.2.2 Giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh lớp 9 của các trường THCS thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên 65 2.2.3 Phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh lớp 9 thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên 69
2.3 Nguyên nhân của thực trạng 84Kết luận chương 2 86
Chương 3: BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHỐI HƠP CÁC
LỰC LƯỢNG XÃ HỘI TRONG GIÁO DỤC SỨC KHỎE SINH SẢN
VỊ THÀNH NIÊN CHO HỌC SINH LỚP 9 THÀNH PHỐ TUY HÒA
TỈNH PHÚ YÊN 87
3.1 Cơ sở đề xuất biện pháp 87
3.1.1 Căn cứ vào điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa- xã hội của thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên 87 3.1.2 Căn cứ vào đặc trưng của các lực lượng xã hội của thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên 88 3.1.3 Căn cứ vào mục tiêu phát triển xã hội của thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên 88 3.1.4 Căn cứ vào mục tiêu chiến lược phát triển giáo dục của thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên 89 3.1.5 Căn cứ vào mục tiêu giáo dục trung học cơ sở của thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên 90 3.1.6 Căn cứ vào thực trạng sức khỏe sinh sản vị thành niên của học sinh lớp
9 thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên 90
3.2 Các biện pháp nâng cao hiệu quả phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh lớp 9, thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên 91
Trang 93.2.1 Huy động các lực lượng xã hội của thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên tham gia vào giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh lớp 9 của
Thành phố 91
3.2.2 Xây dựng chương trình, kế hoạch phối hợp một cách thống nhất giữa các lực lượng xã hội của thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên về giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh lớp 9 của Thành phố 94
3.2.3 Bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng giáo dục sức khỏe sinh sản cho các lực lượng xã hội của thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên 97
3.2.4 Tổ chức phối hợp một cách đồng bộ và chặt chẽ giữa các lực lượng xã hội của thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên trong giáo dục kỹ năng sống và giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh lớp 9 của Thành phố 99
3.2.5 Thường xuyên tổng kết và đánh giá kết quả của sự phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh lớp 9 của thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên 102
3.3 Khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp phối hợp giữa các lực lượng xã hội của thành phố Tuy Hòa trong giáo dục SKSS VTN cho học sinh lớp 9 104
3.3.1 Khái quát chung về quá trình khảo nghiệm 104
3.3.2 Phân tích kết quảkhảo nghiệm 105
Kết luận chương 3 110
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 111
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 115 PHỤ LỤC
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Hiểu biết của học sinh về hệ sinh dục Nam – Nữ 57Bảng 2.2: Hiểu biết của học sinh về quá trình thụ thai 58Bảng 2.3: Cách hiểu của học sinh về quá trình thụ thai 59Bảng 2.4: Hiểu biết của học sinh về các biện pháp phòng tránh thai,
phá thai an toàn 60Bảng 2.5 Hiểu biết của học sinh về các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản
và lây lan qua đường tình dục 61Bảng 2.6: Hiểu biết của học sinh về cách phòng tránh các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản và lây lan qua đường tình dục 62Bảng 2.7: Thực trạng của VTN về nguồn cung cấp thông tin về SKSS 64Bảng 2.8: Thực trạng nội dung GDSKSS cho HS THCS 66Bảng 2.9: Thực trạng phương pháp, hình thức tổ chức GDSKSS cho HS lớp 9 của các trường THCS thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú yên 68Bảng 2.10: Nhận thức của các lực lượng xã hội thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên
về t m quan trọng của việc phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục
sức khỏe vị thành niên cho học sinh lớp 9 của thành phố 69Bảng 2.11: Mức độ tham gia của các ban ngành, đoàn thể Thành phố tham gia vào các hoạt động GDSKSS cho học sinh lớp 9 70Bảng 2.12: thực trạng nhận thức về mục tiêu phối hợp của các lực lượng xã hội thành phố Tuy Hòa trong GDSKSSVTN cho học sinh lớp 9 71Bảng 2.13: Thực trạng nội dung công tác PHGDSKSS 74Bảng 2.14: Thực trạng phương pháp PHGDSKSS của các lực lượng xã hội
của Thành phố Tuy Hòa (96 người) 76Bảng 2.15: Thực trạng hình thức phối hợp giữa các lực lượng xã hội của Thành phố Tuy hòa trong GDSKSS 78Bảng 2.16: Mức độ hiệu quả của sự phối hợp giữa các lực lượng xã hội trên địa bàn Thành phố Tuy Hòa nhằm GDSKSS cho HS lớp 9 (252 người) 79Bảng 3.1 Kết quả khảo nghiệm tính cấp thiết của các biện pháp 106Bảng 3.2 Kết quả khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp 108
Trang 11DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Thực trạng nguồn thông tin để HS THCS có hiểu biết về các vấn đề liên quan đến sức khỏe sính sản vị thành niên 64Biểu đồ 2.2: Thực trạng phối hợp để giáo dục các nội dung SKSS 73Biểu đồ 2.3: Mức độ hiệu quả của sự phối hợp giữa các lực lượng xã hội trên địa bàn thành phố Tuy Hòa trong việc giáo dục SKSS cho học sinh lớp 9 80Biểu đồ 2.4: Những yếu tố ảnh hưởng đến công tác PHGDSKSS 81
Trang 121
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ở mọi thời đại, vấn đề quan hệ giới tính, tình yêu, hôn nhân và gia đình luôn
là vấn đề hết sức quan trọng trong đời sống của mỗi con người
Có thể khẳng định rằng sức khỏe sinh sản là một mảng quan trọng của đời sống, có ảnh hưởng lớn đến hạnh phúc và sức khỏe của mỗi cá nhân và cộng đồng.Tất cả những vấn đề về sức khỏe trong thời kỳ VTN đều liên quan đến sự phát triển tự nhiên của thể chất và tinh th n, về giới tính, nó tác động một cách cực kỳ sâu sắc và mạnh mẽ tới sự phát triển của cá thể trong giai đoạn tiếp theo hình thành một con người hoàn thiện với các chức năng đ y đủ đặc biệt là các chức năng về tình dục, sinh sản và các lĩnh vực tâm sinh lý và có vai trò quan trọng trong việc duy trì và bảo tồn nòi giống
Việc tăng cường giáo dục sức khỏe sinh sản VTN để góp ph n nâng cao chất lượng cuộc sống, giống nòi và hành vi văn hóa trong quan hệ nam, nữ GDSKSS là nền tảng để nâng cao ý thức trách hiệm của con người khi bước vào tuổi trưởng thành, nó giúp cho thanh niên biết được rằng chỉ khi đôi thanh niên có đủ điều kiện
„‟nuôi dưỡng, giáo dục chăm lo việc học tập của con, đảm bảo sự phát triển lành mạnh của con về thể chất, trí tuệ, phẩm chất đạo đức‟ GDSKSS được thực hiện tốt
sẽ góp ph n hình thành cho thế hệ trẻ những hành vi văn hóa ứng xử tốt đẹp, làm cho con người xích lại g n nhau, là điều kiện để con người tìm thấy hạnh phúc, niềm vui trong cuộc sống.Vị thành niên cũng giống như những con bướm đang lớn
d n từ con nhộng Họ đang trải qua một thời kỳ chuyển tiếp đ y tiềm năng nhưng rất mỏng manh Vì vậy, họ c n được nuôi dưỡng, chăm sóc, được sống trong một môi trường an toàn và thuận lợi để có thể lớn lên và trưởng thành trong tương lai
Trong xu thế hội nhập cùng với sự phát triển kinh tế, văn hóa- xã hội, song song với việc thay đổi mạnh mẽ về tâm sinh lý thì nhận thức về mối quan hệ tình dục, tình yêu, hôn nhân và sinh sản của giới trẻ hiện nay cũng đang thay đổi Điều này đòi hỏi lớp trẻ phải có hiểu biết và được chuẩn bị kỹ càng trước khi đưa ra những quyết định có ảnh hưởng đến tương lai của bản thân
Trang 13ý muốn Trong báo cáo năm 2014 của Tổng cục Thống kê, mỗi năm nước ta có khoảng 1,2 đến 1,6 triệu ca nạo phá thai Nếu như tỉ lệ nạo phá thai ở tuổi vị thành niên chiếm 5 - 7% tổng số ca nạo phá thai trong các năm trước, thì đến nay, tỉ lệ đó
đã tăng lên 18 - 20% Việc nạo, phá thai khi các em đang còn ở độ tuổi còn khá trẻ, nhiều em đang độ tuổi THCS và THPT khiến cho người lớn, các bậc làm cha, làm
mẹ hết sức lo lắng Đây là một vấn đề đáng báo động của cộng đồng và xã hội Việt Nam hiện nay Việc nạo hút thai khi cơ thể đang trong quá trình phát triển và hoàn thiện về mặt chức năng khiến cho sức khỏe hiện tại của các em bị giảm sút, có thể nguy hiểm đếm tính mạng và nguy hại đến sức khỏe sinh sản trong tương lai của các em Như vậy, đứng trước tình hình đó, việc giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh nói chung và học sinh lớp 9 hiện nay là một trong những nhiệm vụ cấp bách và hết sức quan trọng không những của các nhà giáo dục, của ngành giáo dục mà còn
là nhiệm vụ của toàn xã hội
Xã hội hiện đại cũng xuất hiện những bệnh tật mới liên quan đến đường sinh sản hoặc những bệnh tật có từ trước ảnh hưởng đến sự sinh sản, thai nghén… Điều đáng nói là, một số bệnh tật ở người cha, người mẹ tương lai còn gây ảnh hưởng xấu đến thai nhi sau này nếu không được phát hiện và điều trị sớm Chính vì vậy, việc giáo dục SKSS cho học sinh ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường có vai trò hết sức quan trọng trong việc giúp các em tự phòng, tránh được những bệnh lây qua đường tình dục nhằm tạo nền tảng để các em có một sức khỏe sinh sản tốt, tạo lập cở sở vững chắc cho việc sinh ra những thế hệ khỏe mạnh, đảm bảo sự phát triển xã hội bền vững trong tương lai
Trang 143
Hiện tượng yêu sớm của học sinh THCS và học sinh lớp 9 của thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú yên hiện nay cũng đáng lo ngại vì nó có thể ảnh hưởng đến sức khỏe sinh sản của các em Đây cũng là vấn đề cộng đồng của tỉnh Phú yên mà các ban, ngành, các lực lượng xã hội c n phối hợp để có những biện pháp để cảnh báo,
ngăn chặn và giải quyết kịp thời vấn đề này
Với sự phân tích nêu trên, đề tài nghiên cứu được chọn là: “ Phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh lớp
9 của thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên”
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận của việc phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên và đánh giá thực trạng giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh lớp 9 của thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên, từ
đó đề xuất các biện pháp phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh lớp 9 của Thành phố, góp ph n nâng cao sức khỏe cộng đồng của Tỉnh
3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh lớp 9 của thành phố Tuy Hòa – Phú Yên
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh lớp 9 của thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Nghiên cứu lý luận về phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh Trung học cơ sở;
- Khảo sát và đánh giá thực trạng giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh lớp 9 của thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên;
- Đề xuất một số biện pháp phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh lớp 9 của thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên
Trang 154
5 Giả thuyết khoa học
Giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh lớp 9 của thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên chưa được các lực lượng xã hội quan tâm đúng mức Nếu có
sự phối hợp đồng bộ giữa các lực lượng xã hội trong việc tuyên truyền, phổ biến kiến thức về sức khỏe sinh sản vị thành niên và những biện pháp phòng tránh thai cũng như các bệnh lây qua đường tình dục cho học sinh lớp 9, thì sẽ nâng cao được hiệu quả giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh lớp 9 của Thành phố
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu thực trạng giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh lớp 9 của 05 trường THCS của Thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên, từ năm 2010 đến năm 2016
Đề tài khảo sát trên các đối tượng là cán bộ, giáo viên, phụ huyh và học sinh lớp 9 của 05 trường THCS của thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên; các cán bộ thuộc các phòng, ban chức năng thuộc khối cơ quan hành chính sự nghiệp, các tổ chức xã hội, các tổ chức chính trị- xã hội có liên quan đến việc giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh lớp 9 của Thành phố
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Trên cơ sở phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, hệ thống hóa các tài liệu, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến sức khỏe sinh sản, sức khỏe sinh sản vị thành niên, giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên , từ đó rút ra những kết luận khái quát, l m cơ sở lí luận cho đề tài nghiên cứu
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp quan sát sư phạm
Quan sát các hoạt động giáo dục, tuyên truyền của nhà trường THCS và
các lực lượng xã hội trong giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh lớp 9 của thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên, quan sát các biểu hiện về thái độ và hành vi của học sinh lớp 9 trong các mối quan hệ, đặc biệt là trong quan hệ với bạn khác giới, nhằm thu thập những thông tin c n thiết liên quan đến đề tài nghiên cứu
Trang 165
7.2.2 Phương pháp đàm thoại
Tiến hành trò chuyện với cán bộ, giáo viên, phụ huynh, học sinh,các cán bộ thuộc các phòng, ban chức năng thuộc khối cơ quan hành chính sự nghiệp, các tổ chức xã hội, các tổ chức chính trị- xã hội có liên quan đến việc giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên nhằm tìm hiểu những vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu
7.2.3 Phương pháp điều tra giáo dục
Xây dựng hệ thống bảng hỏi gồm các câu hỏi đóng và mở dành cho cán
bộ, giáo viên, phụ huynh, học sinh, các cánbộ thuộc các phòng, ban chức năng thuộc khối cơ quan hành chính sự nghiệp, các tổ chức xã hội, các tổ chức chính trị- xã hội về các vấn đề có liên quan đến việc giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên nhằm tìm hiểu những thông tin c n thiết cho đề tài nghiên cứu
7.2.4 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục
Nghiên cứu các kinh nghiệm trong việc phối hợp tuyên truyền, giáo dục sức khỏe sinh sản nói chung và sức khỏe sinh sản vị thành niên nói riêng của các lực lượng xã hội ở trong nước, nhằm thu thập những thông tin c n thiết cho đề tài nghiên cứu
7.2.5 Phương pháp chuyên gia
Xin ý kiến chuyên gia trong các lĩnh vực Y học, Tâm lý học, Giáo dục học,
Xã hội học để tìm hiểu, thu thập những thông tin về sức khỏe sinh sản vị thành niên,
về tuyên truyền, giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh và những thông tin c n thiết khác cho đề tài nghiên cứu
7.2.6 Phương pháp thử nghiệm
Tiến hành thử nghiệm biện biện pháp phối hợp các lực lương xã hội trong giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh lớp 9, thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên để khẳng định tính khả thi của các biện pháp đó
7.2.7 Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng các tham số trong thống kê toán học thông qua ph n mềm SPSS
để xử lý thông tin thu được, làm cơ sở rút ra những kết luận c n thiết cho đề tài nghiên cứu
Trang 176
8 Dự kiến cấu trúc của luận văn
Ngoài ph n Mở đ u, Kết luận và khuyến nghị, luận văn dự kiến cấu trúc gồm
3 chương:
Chương 1: Lý luận về phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục sức
khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh THCS
Chương 2: Thực trạng giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh lớp
9, thành phố Tuy Hòa, Tỉnh Phú Yên
Chương 3: Biện pháp phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục sức khỏe
sinh sản vị thành niên cho học sinh lớp 9 thành phố Tuy Hòa- Tỉnh Phú Yên và thử nghiệm sư phạm
Trang 187
Chương 1: LÝ LUẬN VỀ PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG XÃ HỘI
TRONG GIÁO DỤC SỨC KHỎE SINH SẢN VỊ THÀNH NIÊN
CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.1.Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới
Những năm g n đây vấn đề SKSS đã và đang thu hút được sự quan tâm của các nhà khoa học trên thế giới Đặc biệt, sau hội nghị về dân số và phát triển ICPD tại Cairo (Ai Cập) năm 1994 đã kêu gọi các nước đặt vấn đề ưu tiên hàng đ u là SKSS, đặc biệt là vấn đề SKSS vị thành niên Từ đó, SKSS được định hướng chỉ đạo của h u hết các nước, các chương trình dân số thế giới ICPD đã thống nhất chương trình hành động về dân số và phát triển trong 20 năm tới và đã cho ra đời một khái niệm mới về SKSS bao gồm tất cả các nội dung liên quan đến tình trạng sức khoẻ, quá trình sinh sản và chất lượng cuộc sống Sau hội nghị, hàng loạt các quốc gia trên thế giới l n lượt tổ chức nhiều hội nghị bàn về vấn đề SKSS, SKSS vị thành niên như: Hội nghị Thượng đỉnh phụ nữ quốc tế tại Bắc Kinh + 5 (1995), +10 (2000), +15 (2005), +20 (2010), Hội nghị Quốc tế về dân số và phát triển tại The Hague, Hà Lan (1999), Hội nghị dân số cấp cao uỷ ban kinh tế và xã hội Châu Á Thái Bình Dương (ESCAP) và Quỹ dân số Liên hiệp quốc (UNFNPA) tại băng Cốc ” [3] [26] [27]
Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề SKSS ở cách tiếp cận khác nhau, đối tượng quan tâm khác nhau, điển hình như công trình nghiên cứu của Tiến sỹ Nasit Sadik - giám đốc điều hành Quỹ Dân số Liên hiệp quốc đã đưa ra một thông điệp rất tích cực về SKSS: “Giới trẻ ngày nay có ý thức về SKSS hơn và
họ biết SKSS rất quan trọng Họ đều muốn xử xự một cách có trách nhiệm muốn bảo vệ sức khoẻ của chính mình và của cả người yêu, vì họ biết rằng đây là việc nên làm Ph n lớn trong số họ khao khát tìm hiểu, họ muốn có thông tin về tình dục, tình yêu, sức khoẻ tình dục Họ muốn biết làm thế nào để bản thân họ và người yêu không bị có thai ngoài ý muốn, tránh các bệnh LTQĐTD” [46]
Trang 198
Công trình nghiên cứu của Bhakta B Gubhajiu (2002) đã đề cập đến SKSS
vị thành niên ở Châu Á Brown và đồng sự (2001) điều tra về hành vi tình dục của
vị thành niên Châu Á [50] Các nghiên cứu và quan điểm của các nhà Dân số học trình bày ở Hội nghị Dân số Châu Á Thái Bình Dương l n thứ V tại Băng Cốc, Thái Lan tháng 2/2002 cho thấy các nhà dân số học chủ yếu đi sâu nghiên cứu khía cạnh nhân khẩu học, dịch vụ KHHGĐ, đồng thời bắt đ u quan tâm đến chính sách SKSS
vị thành niên, coi vấn đề SKSS vị thành niên là một bộ phận quan trọng hàng đ u của chính sách Dân số và Phát triển [50]
Như vậy, h u hết các nước trên thế giới đều quan tâm đến vấn đề SKSS, coi đây là vấn đề có tính chiến lược quốc gia c n quan tâm và có quan điểm xem GDSKSS là vấn đề lành mạnh Do đó, đã có nhiều nước đưa giáo dục SKSS vào Nhà trường theo từng chủ đề tự chọn như Thụy Điển, Đức, Tiệp, Ba Lan
1.1.2 Các nghiên cứu ở Việt nam
Do ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng phong kiến phương Đông, trong thời gian dài SKSS bị coi là vấn đề đáng xấu hổ, nên bị né tránh đề cập và nghiên cứu Điều này đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến dân số, chất lượng dân số và chất lượng cuộc sống nhân dân Cuối thế kỷ 19, đ u thế kỷ 20, Đảng và Nhà nước ta đã coi giáo dục dân số là công tác thuộc chiến lược con người, đặc biệt chú trọng đến bảo
vệ, CSSK bà mẹ trẻ em Do đó, vấn đề SKSS đã thu hút sự quan tâm của nhiều cá nhân, tổ chức, cơ quan, đơn vị Các công trình nghiên cứu về vấn đề này được thể hiện dưới dạng các đề án, đề tài nghiên cứu, luận văn tốt nghiệp, tài liệu
Dự án VIE/1998/P09, VIE/99/P09 với sự tham gia của nhiều giáo sư, tiến sỹ, nhà khoa học, nhiều ngành, nhiều cấp đã tập trung nghiên cứu SKSS một cách có hệ thống về vấn đề dân số và SKSS Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu sau :
Công trình nghiên cứu xây dựng chương trình thử nghiệm giáo dục dân số, SKSS trong trường phổ thông do Viện khoa học Giáo dục thực hiện, đã tập trung chủ yếu vào hai chủ điểm về tâm lý giáo dục và sinh học L n đ u tiên trong nhà trường phổ thông ở nước ta HS được học có hệ thống về “những điều bí ẩn” của chính mình và mối quan hệ với người khác giới, bằng cách dạy tích hợp vào các
Trang 209
môn học từ bậc tiểu học đến trung học với 5 chủ đề: Nhân khẩu học, môi trường, gia đình, giới và dinh dưỡng, trọng tâm là GDSKSS cho vị thành niên, coi đ u tư giải quyết vấn đề vấn đề về SKSS vị thành niên là một yêu c u quan trọng trong chiến lược phát triển đất nước Tuy nhiên, nội dung còn quá thiên về dân số phát triển, chưa coi SKSS như một mục tiêu ưu tiên trong chính sách quốc gia
Công trình nghiên cứu khoa học của Viện khoa học Giáo dục“Điều tra quan niệm về tình yêu, tình dục trong và ngoài hôn nhân, đời sống gia đình, KHHGĐ, giáo dục giới tính giai đoạn 1988 - 1991”; Tìm hiểu “Vị thành niên và biện pháp tránh thai” của Viện Nghiên cứu thanh niên năm 1998; Bộ tài liệu huấn luyện về SKSS vị thành niên, SKSS vị thành niên - vấn đề c n quan tâm của Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh năm 2000; cuốn tài liệu “Phương pháp giảng dạy các chủ đề nhạy cảm về SKSS” năm 2000 và bộ tài liệu tự học giành cho giáo viên “Giáo dục SKSS vị thành niên” năm 2001, “SKSSVTN - những vấn đề c n quan tâm” giành cho cán bộ đoàn, “Trò chuyện giới tính, tình yêu ” năm 2009, “tâm lý tuổi hoa” năm 2009 giành cho cán bộ Hội LHPN Việt Nam Các công trình nghiên cứu khoa học đã nghiên cứu nội dung chương trình giáo dục dân số mới cho HS phổ thông Nội dung chương trình nhấn mạnh tới SKSS vị thành niên; xây dựng các tài liệu hướng dẫn giảng dạy, tài liệu tham khảo và tài liệu trực quan; tập huấn giáo viên song vẫn chưa xây dựng được chương trình giáo dục SKSS phù hợp cho HS các trường THPT
Nhiều tác giả đã lựa chọn vấn đề GDSKSS làm Luận văn tốt nghiệp đại học, thạc sỹ, tiến sỹ, như: “Thực trạng và các biện pháp nâng cao nhận thức về SKSS cho học sinh các trường THPT các huyện miền núi Phú Thọ” (Luận văn tốt nghiệp thạc sỹ của tác giả Hoàng thị Lợi, năm 2000”; “Các biện pháp giáo dục KSS vị thành niên cho HS THPT thành phố Nam Định” (Luận văn tốt nghiệp thạc sỹ của tác giả Lê Thị Kim Hoa, năm 2003)
-Năm 2005, Nguyễn Thế Hùng, có công trình luận án tiến sĩ công trình nghiên cứu “ Biện pháp bồi dưỡng năng lực giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên đối với các bậc cha mẹ” Tác giả tập trung nghiên cứu, xác định những yếu tố
Trang 2110
ảnh hưởng đến việc bồi dưỡng năng lực giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho các bậc cha mẹ; xác định các biện pháp bồi dưỡng năng lực giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho các bậc cha mẹ; và đề xuất một số biện pháp giúp cho các
cơ quan, đoàn thể, các nhà khoa học, các nhà giáo dục tổ chức việc hỗ trợ cho các bậc cha mẹ tăng cường năng lực giáo dục con cái
1.2 Sức khỏe sinh sản vị thành niên
1.2.1 Khái niệm vị thành niên, sức khỏe sinh sản, sức khỏe sinh sản vị thành niên
1.2.1.1 Khái niệm vị thành niên
Tuổi VTN là một giai đoạn phát triển đặc biệt và mạnh mẽ trong đời của mỗi con người Khái niệm VTN được thừa nhận là giai đoạn chuyển tiếp giữa trẻ con và người lớn, giữa tuổi ấu thơ và tuổi trưởng thành
“VTN là một giai đoạn trong quá trình phát triển của con người với đặc điểm
lớn nhất là sự tăng trưởng nhanh chóng để đạt tới sự trưởng thành về cơ thể, sự tích lũy kiến thức, kinh nghiệm xã hội, định hình nhân cách để có thể nhận lãnh trách nhiệm xã hội đầy đủ” Giai đoạn này được hiểu một cách đơn giản là giai
đoạn “sau trẻ con và trước người lớn” của mỗi cá thể, được gọi là “thời kỳ VNT”
Thuật ngữ vị thành niên (Adolescent) được đưa ra vào năm 1904 theo đề xuất của nhà tâm lý học G Stanley Hal, nhằm để chỉ một thời kỳ quá độ từ trẻ con chuyển lên người lớn Nó cũng được quan niệm đồng nghĩa với tuổi đang lớn hoặc đang trưởng thành
Theo Từ điển tiếng Việt thì "Vị thành niên là những người chưa đến tuổi trưởng thành để chịu trách nhiệm về những hành động của mình" Trong các văn bản pháp luật hiện hành của Nhà nước Việt Nam (như Bộ Luật Dân sự, Bộ Luật Hình sự, Bộ Luật Lao động ) có dùng thuật ngữ "người chưa thành niên" và có qui định rõ hơn về độ tuổi và mức độ mà người chưa thành niên phải chịu trách nhiệm đối với từng hành vi của mình
Vị thành niên là một giai đoạn/một thời kỳ trong quá trình phát triển của con người, với đặc điểm lớn nhất là sự tăng trưởng nhanh chóng để đạt tới sự trưởng
Trang 2210 đến 14 tuổi), vị thành niên trung bình ( từ 15 đến 17 tuổi) và VTN muộn (từ 18 đến 19 tuổi) Căn cứ vào tình hình thực tế của Việt Nam, tuổi VTN được chia thành hai nhóm: nhóm từ 10 đến 14 tuổi và nhóm từ 15 đến 19 tuổi [16],[47],[49],[107]
Sự phân chia nh- trên cũng chỉ có tính chất tương đối Trong thực tế, sự phát triển thể lực, tâm sinh lý của vị thành niên có vị thành niên sớm hơn, có vị thành niên chậm hơn Vị thành niên nam phát triển thường muộn hơn vị thành niên nữ từ
2 đến 3 năm Phân chia như trên sẽ giúp cho việc lựa chọn các nội dung, hình thức giáo dục và các chương trình can thiệp về sức khỏe sinh sản phù hợp và hiệu quả hơn với các nhóm vị thành niên
Do mục đích nghiên cứu của đề tài, ở đây chúng tôi chỉ nghiên cứu nhóm VTN
là học sinh THCS (tập trung ở nhóm tuổi 14 - 15), chúng tôi dùng thuật ngữ “Vị thành niên” để chỉ nhóm đối tượng là học sinh THCS
1.2.1.2 Khái niệm sức khỏe sinh sản
Trước đây người ta cho rằng, “sức khoẻ sinh sản” chỉ là những vấn đề về tình trạng sức khoẻ và khả năng sinh sản của người phụ nữ, về “kế hoạch hoá gia đình” với việc thực hiện các biện pháp tránh thai và một số vấn đề liên quan tới việc thụ thai và sinh nở Tuy nhiên, ngày nay mọi người đều nhận thấy, nội dung của khái niệm “sức khoẻ sinh sản” rộng hơn nhiều Nó còn liên quan đến hoạt động tình dục, những quan niệm về lối sống, về thái độ và những cảm xúc yêu đương trong đời sống tình dục của cả nam và nữ, những vấn đề bệnh lí về mặt tình dục, hoạt động của các cơ quan sinh dục, về quá trình thụ thai và mang thai, về tri thức và nghệ thuật sinh nở, nuôi con để các cặp vợ chồng có những đứa trẻ khoẻ mạnh và thông minh SKSS là một khái niệm đã được tổ chức y tế thế giới (WHO) đưa ra từ những năm 1980 và đã được sử dụng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới là: “
Trang 2312
Sức khoẻ sinh sản là tình trạng khoẻ mạnh về thể chất, tinh th n và xã hội, của tất cả những gì liên quan ñến hoạt động và chức năng của bộ máy sinh sản chứ không phải chỉ là không có bệnh tật hoặc là ốm yếu”[9, tr 134
Ở Việt Nam, thuật ngữ này mới được đề cập rộng rãi trong những năm g n đây và đối với nhiều cụm từ SKSS, mặc dù đã được nghe nhắc đến, nội dung và ý nghĩa của nó vẫn chưa được hiểu một cách đ y đủ Trong đề tài nghiên của mình, chúng tôi chọn khái niệm SKSS đã được chấp nhận và được thống nhất trong phạm
vi toàn thế giới
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã đưa ra khái niệm chung nhất về sức khỏe
sinh sản vào năm 1994 là: Sức khỏe sinh sản là một trạng thái hoàn hảo về mặt thể
chất, tinh thần và xã hội, chứ không chỉ đơn thuần là không có bệnh tật trong mọi vấn đề liên quan đến hệ thống sinh sản và các chức năng cũng như quá trình sinh sản Như vậy, thực chất sức khỏe sinh sản chính là sự hoàn hảo về bộ máy sinh sản,
đi đôi với sự hài hòa giữa thể chất, tinh thần và xã hội [32]
Hội nghị quốc tế về phát triển dân số ICPD cũng đưa ra định nghĩa về sức khỏe sinh sản tương đồng với định nghĩa mà Tổ chức Y tế thế giới đã đưa ra Đồng thời cụ thể hóa những nội dung trong sức khỏe sinh sản [34] như sau:
Một là: hệ thống các cơ quan sinh dục nam và nữ không bị bệnh và thực hiện tốt chức năng của chúng
Hai là: chức năng tình dục của hệ thống các cơ quan sinh dục đảm bảo hài hòa về thể lực, tinh th n và xã hội trong hoạt động tình dục Hoạt động tình dục phải lành mạnh, thể hiện tình yêu, đảm bảo an toàn, không bị lây nhiễm các bệnh qua đường tình dục
Ba là: chức năng sinh sản của các cơ quan sinh dục đảm bảo sự hài hòa về thể lực, tinh th n và xã hội trong hoạt động sinh sản Mỗi đứa trẻ ra đời phải là kết quả của tình yêu và người mẹ phải đạt được độ chín muồi về thể chất và xã hội.Sức khỏe sinh sản hàm ý cho con người có thể có một cuộc sống tình dục an toàn, thỏa mãn, có quyền sinh sản và tự do quyết định sinh sản Khi bàn đến sức khỏe sinh sản cũng phải nói đến quyền của nam giới và nữ giới được cung cấp thông tin, tiếp cận các biện pháp an toàn tình dục có hiệu quả, đủ khả
Trang 2413
1.2.1.3 Khái niệm sức khỏe sinh sản vị thành niên
Sức khỏe sinh sản vị thành niên là một nội dung về SKSS liên quan, tương ứng với lứa tuổi VTN của các em, đó là một trạng thái hoàn hảo của vị thành niên
về thể chất, tinh th n và xã hội trong mọi khía cạnh liên quan đến bộ máy sinh sản cũng như quá trình và chức năng của nó chứ không phải chỉ có bệnh tật hay khuyết tật của bộ máy đó
Tất cả những vấn đề về sức khỏe trong thời kỳ vị thành niên đều liên quan đến
sự phát triển tự nhiên của thể chất và tinh th n, về giới tính, nó tác động một cách cực
kỳ sâu sắc và mạnh mẽ tới sự phát triển của cá thể trong giai đoạn tiếp theo hình thành một con người hoàn thiện với các chức năng đ y đủ đặc biệt là các chức năng
về tình dục, sinh sản và các lĩnh vực tâm sinh lý [5, tr.14]
Đối với VTN, người ta quan tâm đến các nội dung sau đây:
- Sự phát triển tâm, sinh lý tuổi dậy thì
- Tình bạn, tình yêu, hôn nhân
- Tình dục, tình dục an toàn, tình dục lành mạnh
- Phòng tránh thai, phá thai an toàn, phòng tránh xâm hại tình dục
- Phòng tránh các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản, bệnh lây truyền qua đường tình dục (kể cả HIV/AIDS)
- Quyền được chăm sóc SKSS
1.2.2 Đặc điểm tâm- sinh lý tuổi vị thành niên
Thời kỳ VTN là một thời kỳ đặc biệt quan trọng trong cuộc đời của mỗi cá nhân,
là giai đoạn chuyển tiếp từ tuổi ấu thơ sang tuổi trưởng thành (người lớn), đó là những năm tháng có nhiều thay đổi nhất về tâm sinh lý và hành vi, có tính chất quyết định trong việc hình thành và phát triển nhân cách của mỗi con người
Thời kỳ VTN, cơ thể của cả nam và nữ đều có những thay đổi nhanh chóng cả
về tâm lý, sinh lý và cơ thể Nhìn chung đặc điểm quan trọng nhất nổi lên là hiện tượng dậy thì Đó là thời kì đặc biệt có những biến đổi đột ngột, mạnh mẽ về tâm, sinh
lý, đánh dấu giai đoạn hình thành giới tính, đồng thời với sự phát triển hoàn thiện của
cơ thể, xuất hiện những biến đổi trong tâm tư, tình cảm, sự suy nghĩ của mỗi người
Trang 2514
Thời kỳ VTN là giai đoạn đang lớn, dậy thì và có sự trưởng thành về giới VTN trải qua những biến đổi sinh học cả bên trong và bên ngoài kéo theo những biến đổi về tâm lý và khả năng nhận thức đó là những biến đổi nhanh về vóc dáng cơ thể, tăng hoạt động của các tuyến nội tiết trong đó có buồng trứng và tinh hoàn, sự phát triển của não ở cả hai giới Trước hết là sự đột biến về chiều cao và hình dáng cơ thể
Do sự phát triển nhanh của các xương dài ở chân và tay nên chiều cao tăng nhanh ở tuổi VTN Mức độ tăng chiều cao có sự khác nhau giữa nam và nữ do thời kỳ dậy thì xảy ra ở độ tuổi khác nhau Sự đột biến về cân nặng, chiều cao và sự dậy thì thường đến sớm hơn ở các em gái
Do có sự đột biến về chiều cao và cân nặng nên thời kỳ này các em đã không còn giữ lại dáng vẻ trẻ con nữa Giữa các ph n của cơ thể như thân mình, chân tay, vai có tỷ lệ cân đối hơn, ở các em gái bắt đ u có sự tích mỡ ở ngực, hông, đằng sau vai tạo nên dáng vẻ mềm mại, nữ tính Các em trai có sự phát triển và tích tụ khối cơ làm cho thân thể trở nên cường tráng Đến cuối tuổi dậy thì các em đã trở thành những chàng trai và thiếu nữ với những vóc dáng, khả năng thể chất và sức mạnh khác nhau
Cùng với sự biến đổi chiều cao và cân nặng, cơ thể các em nam, nữ ở độ tuổi dậy thì còn có một số biến đổi như: lông mu bắt đ u xuất hiện ở cả hai giới Hệ lông bắt đ u phát triển chủ yếu là lông ngực, lông nách, lông tay chân và râu ria ở các
em nam Ở nữ, ngực chớm nở lúc 8 tuổi và tiếp tục phát triển cho tới 13 - 18 tuổi Các
cơ quan chửa đẻ phát triển mạnh đến mức hoàn chỉnh Trước hết là hai buồng trứng
và dạ con Buồng trứng tiết ra hoóc môn sinh dục chính của nữ là estrogen và progesteron Kinh nguyệt xuất hiện trong khoảng từ 9 - 18 tuổi Ở Việt Nam, trung bình tuổi có kinh bắt đ u vào khoảng 13 - 14 tuổi Ở các em nam, dương vật và tinh hoàn cũng phát triển mạnh và đạt mức hoàn chỉnh vào khoảng 14 - 18 tuổi Tinh hoàn tiết ra hoóc môn sinh dục chính của nam là testosteron L n xuất tinh đ u tiên thường vào khoảng 15 - 16 tuổi Các tuyến mồ hôi và chất nhờn trên da được khởi động tạo
ra mụn trứng cá và mùi đặc trưng cho từng cá nhân
Trang 2615
Như vậy, tuổi dậy thì là cái mốc đánh dấu sự trưởng thành về mặt sinh học trong cơ thể VTN Những thay đổi về cơ thể, hình dáng, đặc biệt là cơ quan sinh dục làm phân biệt rõ giới tính nam hay nữ và VTN bắt đ u có khả năng sinh sản nếu có sinh hoạt tình dục, SKSS của VTN lúc này đứng trước nhiều mối đe doạ Nếu không được hướng dẫn, chăm sóc một cách đúng đắn, hai nguy cơ ảnh hưởng lớn nhất đến SKSS của VTN là tình trạng có thai sớm và tình trạng nhiễm BLTQĐTD do các hành vi QHTD không được hướng dẫn hay kiểm soát
Cùng với những biến đổi về thể chất diễn ra ở tuổi dậy thì, đời sống tinh th n
và tình cảm của tuổi VTN cũng trải qua những biến đổi sâu sắc Các em có khả năng tự nhận thức và tự đánh giá cao Chúng thường có những cảm giác sâu sắc rằng mình không còn là trẻ con nữa và muốn được đối xử như người lớn, muốn thoát ra khỏi những “ràng buộc” của cha mẹ và gia đình Chúng muốn được độc lập trong suy nghĩ và hành động để thử sức mình nhằm đạt tới cái mà mình muốn để chứng tỏ rằng mình đã trưởng thành Ở giai đoạn này thường xảy ra những xung đột giữa VTN và cha mẹ vì họ vẫn coi các em là trẻ con Từ “khoảng cách” giữa hai thế hệ
về cách nghĩ cũng xa
Cũng trong giai đoạn này, ở VTN bắt đ u xuất hiện những cảm giác mới lạ, đó
là sự nhạy cảm về giới và cảm xúc giới tính Các em có xu hướng tìm đến đối tượng khác giới và thích được họ chú ý đến mình Điều này khiến các em rất có ý thức về cơ thể, về giới của mình và những rung cảm khi nghĩ tới người bạn khác giới Với bạn khác giới, hoặc cư xử rất thân mật nhưng đôi khi lại thận trọng Các em bắt đ u thích đọc sách viết về những mối tình say mê, xúc động, thích những bài hát, phim ảnh về tình yêu, quan tâm đến các nhân vật trong truyện, trong phim làm quen nhau ra sao, thích nhau như thế nào và tại sao lại hành động như vậy… và vô tình các em đã tự tạo nên những rung cảm yêu đương trong tưởng tượng, trong suy tư Có em trở nên sao nhãng trong học tập Những biến đổi đó có thể là những dấu hiệu bắt đ u trưởng thành của tâm hồn Nhưng trong một hoàn cảnh nào đó, mối quan hệ với bạn khác giới bỗng trở nên những cảm xúc giới tính mạnh mẽ khiến nhiều em ngộ nhận đó là tình yêu Tình yêu dường như là một mong muốn kỳ diệu trong giai đoạn này Một
số em yêu sớm và khi lý trí chưa đủ giúp các em làm chủ được những rung cảm, đôi
Trang 2716
khi quá mãnh liệt khiến các em có thể có những hành vi sai trái trong quan hệ với bạn khác giới, không thể từ chối quan hệ tình dục với người mình yêu Bởi vậy rất c n thiết phải giáo dục sức khỏe sinh sản cho lứa tuổi VTN, nhằm cung cấp cho thế
hệ trẻ những hiểu biết về giới tính, về cách ứng xử trong quan hệ với người khác giới biểu hiện trong tình bạn, tình yêu, tình dục, hôn nhân gia đình, về cách rèn luyện tự giáo dục những phẩm chất nhân cách phù hợp với giới tính bản thân, góp ph n nuôi dưỡng tình yêu chân chính, xây dựng gia đình hạnh phúc, xã hội lành mạnh, tốt đẹp… Nếu được xây dựng trên một nền tảng tốt và lành mạnh
về SKSS, các em sẽ d n hình thành những hành vi lành mạnh và có trách nhiệm đối với bản thân cũng như cộng đồng Ngược lại có thể dẫn đến những hậu quả khôn lường, những hành vi có vấn đề làm ảnh hưởng hoặc gây tổn hại đến cuộc sống của bản thân hoặc những người khác
1.2.3 Tầm quan trọng của sức khỏe sinh sản vị thành niên
Vị thành niên là lứa tuổi có nhiều phát triển, thay đổi, không chỉ về cơ thể sinh lý mà còn cả trong suy nghĩ, cảm xúc Khoảng thời gian này là sự chuyển giao mong manh, bước ra khỏi cái vẻ ngây ngô, vô tư của tuổi thơ, tích lũy hành trang để chuẩn bị đặt những bước chân đ u tiên vào đời Đây cũng chính là giai đoạn hình thành nên nhân cách, cá tính, quan điểm của một người trưởng thành, là giai đoạn tự tìm hiểu và khẳng định chính bản thân mình Chính vì thế, tất cả những kiến thức, những hiểu biết trong lứa tuổi này vô cùng quan trọng và có thể sẽ mang những ảnh hưởng lâu dài trong tương lai
Vị thành niên thường thiếu kiến thức về tình dục, tránh thai, thụ thai như thế nào, các dấu hiệu của thai nghén, các viêm nhiễm lây truyền qua đường tình dục Đặc biệt, các vị thành niên trẻ có thể không thú nhận có quan hệ và không nghĩ là sẽ có thai sau một l n quan hệ, do đó không có biện pháp phòng ngừa khi quan hệ tình dục
Vị thành niên c n được quan tâm đến những nhu c u phát triển về mọi mặt như: sức khỏe, sự phát triển tình cảm và hành vi, những biểu hiện xã hội, mối quan
hệ gia đình và xã hội, sự giáo dục của gia đình và xã hội và nhất là kỹ năng tự chăm sóc bản thân
Trang 2817
Những mối quan hệ này nếu không được gắn kết chặt chẽ sẽ khiến trẻ hạn chế tiếp cận với người lớn để giải đáp những thắc mắc của mình về sức khỏe sinh sản và sức khỏe tình dục Do vậy, trẻ vị thành niên c n một môi trường thuận lợi để
có thể biểu lộ nhu c u, những nỗi sợ hãi và những lúng túng trong giai đoạn giao thời này Môi trường đó có thể là dịch vụ y tế “thân thiện với vị thành niên” để đảm bảo rằng vị thành niên được tiếp cận với dịch vụ lúc c n thiết
Bên cạnh đó, sự hỗ trợ của của các phương tiện thông tin đại chúng để người lớn có cái nhìn toàn diện hơn về thanh thiếu niên, tổ chức cho thanh niên tham gia những hoạt động của cộng đồng nhằm xóa bỏ khoảng cách giữa thanh niên và người lớn, giáo dục cộng đồng hiểu về các nhu c u của thanh niên, những đóng góp tích cực của thanh niên với cộng đồng, và các phương pháp giúp đỡ vị thành niên tốt hơn, qua đó cung cấp cho vị thanh niên các kỹ năng c n thiết để có thể có đủ bản lĩnh vững bước vào đời
Trong lĩnh vực y tế, c n đ u tư và đảm bảo các dịch vụ chăm sóc sức khỏe trở nên thuận tiện, dễ tiếp cận và thoải mái với tất cả vị thành niên bằng cách quảng cáo các hình thức sẵn có dành cho thanh niên thông qua giáo dục, và các hoạt động ngoại tuyến, cũng như các chương trình công cộng, làm cho vị thành niên cảm thấy hài lòng về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đ u, nâng cao các dịch vụ y tế này
để bảo vệ quyền lợi của vị thành niên giúp cho các em nhận được sự hỗ trợ tốt nhất
và hiệu quả nhất Tổ chức các chương trình giao lưu, nói chuyện về các chủ đề liên quan với tuổi vị thành niên như sức khỏe sinh sản, quan hệ giới tính, quan hệ tình dục trước hôn nhân, các quan điểm về sống thử, các dấu hiệu của thai nghén và các bệnh lây truyền qua đường tình dục, các vấn đề về sức khỏe tâm th n, dinh dưỡng
và hoạt động thể chất
Xây dựng gia đình vững chắc để có thể hỗ trợ vị thành niên, trong đó cha mẹ đóng vai trò quan trọng nhất Cha mẹ c n có kỹ năng, tế nhị trong việc chăm sóc con cái cung cấp cho trẻ những nhận thức đúng đắn về các nhu c u trong giai đoạn phát triển giới tính bằng cách khuyến khích, động viên trẻ trao đổi với người lớn tất
Trang 291.2.4 Đặc trưng của sức khỏe sinh sản vị thành niên
Đây là lứa tuổi chuyển tiếp từ ấu thơ sang người lớn, là giai đoạn phát triển mạnh mẽ và phức tạp nhất của cuộc đời mỗi con người, biểu hiện của nó là xảy ra đồng thời những thay đổi bao gồm sự chín muồi về thể chất, sự biến đổi điều chỉnh tâm lý và các quan hệ xã hội, bước đ u hình thành nhân cách nên nảy sinh nhiều rắc rối về tâm lý hơn các lứa tuổi khác Vị thành niên phát triển qua các thời kỳ chuyển tiếp đ y tiềm năng nhưng cũng rất mỏng manh, vì vậy c n được nuôi dưỡng chăm sóc một môi trường an toàn và thân thiện để có thể lớn lên và trưởng thành Trẻ em bước vào tuổi vị thành niên bằng những dấu hiệu của tuổi dậy thì ( đó là l n đ u tiên
có kinh nguyệt đối với nữ và xuất tinh đối với nam Tuổi dậy thì còn phụ thuộc vào dân tộc ( châu Á sớm hơn châu Âu ), nơi sinh sống ( thành thị sớm hơn nông thôn ), mức sống ( hiện nay sớm hơn ngày trước )…Tuổi dậy thì là tuổi có khả năng sinh sản, nhưng cơ thể các em vẫn còn ở tuổi VTN, c n phải giúp các em vượt qua được các khủng hoảng của tuổi dậy thì mới trở thành người lớn thực sự
Sự phát triển phân chia giới tính dậy thì bắt đ u từ 12 - 14 tuổi Ở nữ sớm hơn nam 1 tuổi, nhưng thời gian kéo dài tuổi dậy thì thì lại có sự khác nhau, ở nam
là 3 năm, ở nữ thời gian này dài hơn có thể kéo dài đến 8 năm, trung bình là 5 năm
Ở lứa tuổi dậy thì thường hay tò mò muốn tìm hiểu những sinh hoạt tình dục của người lớn, và khi bắt đ u cảm nhận những kích thích tình dục thì hay tìm, sưu
t m những sách báo, hình ảnh khiêu dâm để đọc, xem và dùng đó làm công cụ để thỏa mãn những đòi hỏi sinh lý của tuổi dậy thì
Trang 3019
Sự phát triển cơ thể về mặt giới tính nhanh và khá đ y đủ có thể là ngòi nổ đưa đến việc xuất hiện các xung động tình dục Do tác động của sự hấp dẫn của người khác phái sẽ đưa đến tình trạng thủ dâm hoặc thực nghiệm hoạt động nữ với bạn trai Đây là thời kỳ phát triển mau lẹ về mặt nhận thức và bắt đ u hiểu các quan niệm trừu tượng, cũng là lúc mà vô số câu hỏi được đặt ra về các giá trị đạo đức, thẩm mỹ, xã hội Lúc này, ảnh hưởng của gia đình, môi trường xã hội rất quan trọng Những hoài nghi về việc làm của người lớn, sự phán xét của xã hội dễ làm tổn thương những giá trị đạo đức trong sáng mà trẻ đã được dạy dỗ
Bản ngã của trẻ đã mang một nét đặc trưng cá biệt và dễ đưa đến ứng xử bốc đồng, cũng như các “hành vi nổi loạn” cũng chính là lúc mà trẻ tự khẳng định mình với những người xung quanh
1.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe sinh sản vị thành niên
Trong xã hội hiện đại, với sự "nở rộ" của các loại văn hóa phẩm, mối quan
hệ rộng mở, lối sống phóng khoáng, tuổi trưởng thành được "trẻ hóa"… khiến trẻ vị thành niên đứng trước nhiều nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe sinh sản vị thành niên: quan hệ tình dục khi chưa đến tuổi trưởng thành, mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục, mang thai ngoài ý muốn và bị xâm hại tình dục [20]
Thứ nhất, quan hệ tình dục khi chưa đến tuổi trưởng thành:
Khi cơ thể các em chưa phát triển một cách hoàn thiện nếu QHTD sớm sẽ bị
suy sụp và chịu rất nhiều áp lực khác từ phía gia đình và xã hội.Trong đó, giới nữ dễ
bị tổn thương hơn do cơ thể phức tạp hơn nam giới và chức năng cũng như cơ quan sinh dục chưa phát triển hoàn thiện
QHTD khi chưa đến tuổi trưởng thành nguy hiểm nhất là các em có thể bị tổn thương vĩnh viễn cơ quan sinh sản, dẫn đến vô sinh Việc hưởng thụ sex sớm cũng dễ ảnh hưởng đến chất lượng đời sống tình dục của các em trong tương lai
Quan hệ tình dục khi tuổi đời còn quá trẻ còn có thể bị ảnh hưởng nghiêm trọng đến tâm lý, đặc biệt là rất dễ mắc các chứng bệnh tâm th n hoặc tr m cảm Nhiều người bị chứng lãnh cảm do những sang chấn tâm lý khi quan hệ tình dục
Trang 3120
sớm gây ra Thậm chí, một số trường hợp muốn tìm đến cái chết sau những khủng hoảng do quan hệ tình dục sớm
Thứ hai, mang thai ngoài ý muốn:Tuổi có thai của người phụ nữ sẽ ảnh
hưởng đến thai nghén cũng như sức khỏe của họ Người mẹ tuổi càng trẻ nếu có thai, hậu quả về thể chất càng nghiêm trọng, vì cơ thể lúc này chưa đến độ hoàn thiện và ổn định, hơn nữa các em chưa có ý thức để bảo vệ nên có thể sẽ thụ thai, sinh nở hoặc phá thai Những tai biến khi mang thai, nạo phá thai và sinh đẻ là những nguyên nhân đ u tiên dẫn đến tử vong bà mẹ ở tuổi vị thành niên
Con của những bà mẹ VTN h u hết là đẻ non, nhẹ cân và có thể tử vong khi sinh ra hoặc trong môt vài năm đ u của cuộc đời Trẻ có thể bị dị tật bẩm sinh, ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất và tinh th n của chúng sau này
Nhiều trường hợp mang thai ở tuổi VTN do áp lực của gia đình và dư luận xã hội nên dẫn đến cưới xin bắt buộc hoặc phá thai bất hợp pháp ở nơi không đảm bảo
an toàn ( bà đỡ đẻ vườn hay những cơ sở y tế tư nhân không có giấy phép hành nghề sản phụ khoa ) hoặc phá thai muộn
H u hết những cô gái mang thai sớm đều phải bỏ học, phải xa cách bạn
bè, th y cô giáo, cơ may tìm kiếm việc làm của các em đó sẽ ít hơn và phải phụ thuộc vào những người khác để sống và nuôi con Người mẹ trẻ cảm thấy mình
cô lập, tương lai của mình bị bán rẻ, mất giá trị trong con mắt của mọi người, làm tăng thêm cảm giác thất bại, lạc lõng Một số em vì những mặc cảm đó mà dẫn đến những hành động đáng tiếc như tự vẫn, bỏ nhà đi làm gái bán dâm hoặc trở thành kẻ giết người Nếu có tiến hành hôn nhân thì cả người con trai và con gái phải chấp nhận, nhưng sự kết hợp đó rồi cũng nhanh chóng kết thúc bằng sự tan vỡ Đứa con của những cặp vợ chồng này sẽ phải chịu đựng quá nhiều thiệt thòi và bà mẹ không có khả năng chăm sóc, thậm chí còn ghét bỏ nó và còn bị xã hội coi trẻ đó là bất hợp pháp
Ngoài ra, nữ tuổi VTN mang thai sớm, sẽ làm tăng tốc độ phát triển dân số; nhà nước chi trả trực tiếp trợ cấp về y tế, xã hội để giải quyết khó khăn cho mẹ và con Xã hội còn phải chi trả gián tiếp những hậu quả do học vấn kém hiệu quả của những lao động không lành nghề làm ra
Trang 3221
Có thể nói làm cha, mẹ ở tuổi VTN thật không đáng mong muốn vì nó sẽ gây những hậu quả không thể lường trước được cho bản thân các em, con của họ cũng như gia đình và xã hội
Thứ ba, mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục: Ở tuổi VTN, nếu có quan hệ tình dục sớm mà không có biện pháp để phòng tránh thì ngoài nguy cơ có thể gây ra mang thai sớm còn có thể bị nhiễm các bệnh lây truyền qua đường tình dục như: Bệnh lậu, giang mai, bệnh do trùng roi Trichomonas, bệnh do nấm, bệnh sùi mào gà đặc biệt là lây nhiễm HIV
Bệnh lây truyền qua đường tình dục gây ảnh hưởng lớn đến sức khỏe con người nhất là đối với phụ nữ và trẻ sơ sinh, ảnh hưởng lớn đến sức khỏe cộng đồng, kinh tế đất nước và nòi giống
Muốn phòng chống các bệnh lây truyền qua ĐTD có hiệu quả, nhất là ở các đối tượng thanh thiếu niên, học sinh, c n nâng cao kiến thức về giới tính, tình dục
và những hiểu biết về bệnh lây truyền qua đường tình dục để biết cách phòng cho chính mình và cho người khác
Thứ tư, bị xâm hại tình dục: Xâm hại tình dục là những hành vi trực tiếp hay gián tiếp tác động đến trẻ em nhằm thỏa mãn dục vọng, trục lợi, gây ảnh hưởng xấu cho trẻ em cả về thể chất lẫn tinh th n Với cơ thể đang phát triển có sức cuốn hút mạnh mẽ, sự quyến rũ, hấp dẫn người khác giới Trong khi thiếu kiến thức , ý thức phòng tránh, thiếu kỹ năng, kinh nghiệm sống, trong môi trường xã hội hiện nay
có những phức tạp, khuynh hướng “ thoáng mở” dễ dấn đến tình trạng vị thành niên trở thành đối tượng, nạn nhân của xâm hại, lạm dụng tình dục Có không ít
vị thành niên bị lừa gạt, dụ dỗ, sa ngã trước cám dỗ vật chất, tinh th n, khoái lạc nên bị xâm hại hoặc tự nguyện tham gia vào hoạt động xâm hại tình dục Việc trang bị kiến thức, kỹ năng phòng tránh xâm hại tình dục cho vị thành niên c n được chú trọng thực hiện
Trang 3322
1.3 Giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh trung học cơ sở
1.3.1 Học sinh trung học cơ sở và tuổi vị thành niên
Lứa tuổi học sinh trung học cơ sở được xác định là những em có độ tuổi từ
11, 12 tuổi đến 14,15 tuổi Đó là những em đang theo học từ lớp 6 đến lớp 9 ở trường trung học cơ sở
Lứa tuổi này còn gọi là lứa tuổi thiếu niên và nó có một vị trí đặc biệt trong thời kỳ phát triển của trẻ em Vị trí đặc biệt này được phản ánh bằng những tên gọi khác nhau như: “thời kì quá độ”, “tuổi khủng hoảng”, “tuổi bất trị”,… Những tên gọi đó nói lên tính phức tạp và t m quan trọng của lứa tuổi này trong quá trình phát triển của trẻ
Đây là thời kì chuyển từ thời thơ ấu sang tuổi trưởng thành, đây là giai đoạn chuyển tiếp nhưng là một giai đoạn khác biệt và quan trọng trong cuộc sống con người Giai đoạn này có rất nhiều thay đổi về tâm sinh lý, bước đ u hình thành nhân cách và là giai đoạn đánh dấu bước phát triển lớn từ phạm vi gia đình, họ bước đ u gia nhập vào xã hội cộng đồng, vào tập thể cùng nhóm tuổi và phát triển những kỹ năng Với những đặc điểm sinh lý riêng biệt, họ muốn khẳng định mình nên dễ thay đổi tính cách, hành vi ứng xử Sự thay đổi và phát triển này phụ thuộc rất nhiều vào các phong tục tập quán dân tộc của các nước mà trong từng nước, từng dân tộc lại
có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển
1.3.2 Nguyên tắc giáo dục giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh trung học cơ sở
Vấn đề GDSKSS cho VTN là vấn đề quan trọng, c n thiết, tuy nhiên cũng là một lĩnh vực phức tạp và tế nhị Vì vậy, ngoài việc phải đảm bảo những nguyên tắc chung như: tính khoa học, tính giáo dục, tính thực tiễn như các môn học khác, c n phải chú ý đến những nguyên tắc sau:
Nguyên tắc 1: Đảm bảo sự tin cậy trong GDSKSS
Sự tin cậy là điều kiện cơ bản để GDSKSS đạt hiệu quả cao Nếu như nhà giáo dục tạo được sự thân thiện, cởi mở g n gũi đối với VTN sẽ giúp cho các em thành thực bộc lộ những băn khoăn, thắc mắc, suy nghĩ mà bản thân đang gặp phải
Trang 3423
cũng như sẽ dễ tiếp nhận những lời khuyên hay sự giúp đỡ từ phía nhà giáo dục Bởi lẽ, nội dung GDSKSS là một lĩnh vực hết sức tế nhị Do vậy, nhà giáo dục phải tạo cho các em sự tin tưởng, g n gũi, dễ tiếp xúc và phải tạo được mối quan hệ bền vững, tốt đẹp đối với VTN, tránh dùng các biện pháp “cấm đoán” một cách thô bạo hay chế giễu các em khiến các em không thể chấp nhận được
Nguyên tắc 2: Đảm bảo tôn trọng sự thật và trong trắng trong GDSKSS
Tính khách quan, tôn trọng sự thật trong GDSKSS phải đi đôi với việc trình bày vấn đề mà trẻ yêu c u một cách trong sáng, giản dị, dễ hiểu Tránh cách nói mập mờ, khó hiểu cũng như trình bày sự thật một cách tục tĩu điều đó sẽ kích thích trí tò mò của trẻ Tùy thuộc sự phát triển tâm sinh lý của các em cũng như tùy theo tính chất đạo đức của vấn đề muốn trình bày mà có những giải thích c n thiết mở rộng phạm vi ảnh hưởng tích cự đối với VTN
Nguyên tắc 3: Đảm bảo chuẩn bị tích cực cho sự phát triển của VTN
Những tác động giáo dục phải là những tác động mang tính chất định hướng cho VTN Để có thể thực hiện tốt điều này những nhà giáo dục phải hiểu được những diễn biến tâm lý của VTN, những diễn biến trong tâm hồn trong sang của các
em bằng sự g n gũi, thân thiện và những biện pháp kín đáo tế nhị Không phải những kiến thức muốn trình bày cho các em trình bày vào thời điểm nào cũng mang lại hiệu quả cao, nhất là những kiến thức “tế nhị” của SKSS Do vậy, nhà giáo dục phải xác định thời gian, địa điểm thuận lợi cho việc cung cấp những thông tin giáo dục điêù đó có tác dụng khắc sâu những ấn tượng, những thông tin đ u tiên và sẽ góp ph n tích cực vào việc hình thành tính cách, hành vi đối xử tốt cho các em Góp
ph n ngăn chặn những ảnh hưởng tiêu cực của những nguồn tin sai lệch từ bên ngoài đang từng ngày tác động vào các em
Nguyên tắc 4: Đảm bảo phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của VTN, của lớp học, yêu cầu giáo dục đặc trưng thích hợp với đối tượng, phải phù hợp với phong tục tập quán của từng vùng, từng địa phương
Chúng ta biết rằng ở mỗi một giai đoạn phát triển của con người sự nhận thức sẽ khác nhau, do vậy mà khi giải thích về các vấn đề của SKSS cho VTN cũng
Trang 3524
phải phù hợp với lứa tuổi Ở mỗi môi trường khác nhau thì sự nhận thức cũng như trình độ của các em cũng khác nhau, những điều mà VTN thành niên ở thành phố hiểu nhưng điều đó không có nghĩa là các em ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa đã hiểu Do đó tùy thuộc vào đặc điểm của VTN ở từng vùng miền mà ta truyền tải kiến thức cũng như những kĩ năng cho phù hợp điều đó sẽ mang lại hiệu quả cao hơn Nhưng điều đó không có nghĩa là chúng ta “né tránh” trước những câu hỏi của các em vì cho rằng các em còn trẻ con, mà phải giải thích cho các em hiểu với những lời nói dễ hiểu, g n gũi Chúng ta cũng c n tìm những dịp phù hợp, thuận tiện để nói chuyện chứ không phải chờ các em hỏi mới nói vì đây là một vấn đề tế nhị, khó nói
Nguyên tắc 5: Đảm bảo việc phát huy vai trò và tính tự giáo dục của VTN dưới sự hướng dẫn của tổ chức thanh niên và sự chỉ đạo của người lớn
Giáo dục SKSS cho VTN chỉ đạt kết quả khi bản thân VTN thực sự tin rằng công việc của mình rất đúng đắn, c n thiết và tiến hành công việc đó một cách tự giác Với ý thức như vậy, người tiến hành giáo dục sẽ không gặp khó khăn khi tìm tòi những hình thức, biện pháp và lựa chọn những thời điểm thích hợp Trong mọi phương diện của giáo dục, chúng ta phát triển tri thức của VTN một cách tu n tự như đặt viên gạch nền tới viên gạch mái Trong giáo dục SKSS cũng vậy, VTN c n biết tu n tự từ vấn đề tình bạn, tình yêu, mang thai tới sự sinh đẻ, từ tình cảm giới tính cho đến sự giao hợp Tất cả những chuyện đó đều c n được biết đến như những hoạt động tự nhiên, tích cực của con người Chúng ta c n dẫn dắt những vấn
đề ấy tu n tự theo lứa tuổi và có thể cho các em nghe lại một cách thản nhiên và thoải mái khi có dịp Cũng giống như nhiều lĩnh vực giáo dục khác, giáo dục SKSS không đơn thu n chỉ là truyền đạt thông tin, kinh nghiệm sống mà còn là vấn đề bồi dưỡng nhân cách và xây dựng quan niệm sống con người Bởi vì đời sống sinh sản của con người khác với bản năng sinh sản của các động vật; khác ở sự nếm trải những tình cảm mang tính xã hội phong phú, tinh tế và ở trách nhiệm của cá nhân trước một cá nhân, với gia đình và xã hội VTN có thể can đảm thổ lộ nhiều chuyện lớn, còn riêng chuyện đó thì lại không Vì vậy, giáo dục SKSS cho VTN c n vận
Trang 3625
dụng đúng quy luật “thẩm thấu” Việc VTN được giáo dục về SKSS cũng giống như chúng được nhận vào cơ thể một lượng kháng sinh Từ đó, chúng có khả năng chống lại những tiêu cực về sau Nếu người lớn, th y cô trả lời qua quýt, giả dối, những ảnh hưởng tiêu cực sau này của xã hội sẽ tiêu hủy toàn bộ lời nói trước đó, ngay cả khi trong đó có cả ph n sự thật Một số người nghĩ rằng, những chuyện tâm tình của con người chỉ nên nói giữa những người g n gũi, thân thiết thôi, không nên trao đổi rộng rãi Chúng tôi cho rằng c n kết hợp cả hai hình thức Khi thảo luận ở một tập thể nào đó, những người trẻ tuổi thường thu được nhiều kinh nghiệm hơn Vấn đề SKSS vẫn có thể được trao đổi một cách cởi mở, tự nhiên Và chính trong phạm vi một tập thể nào đó giúp các em sẽ tìm được nhiều lời khuyên bổ ích hơn
1.3.3 Mục tiêu giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh trung học cơ sở
Cung cấp thông tin và giáo dục về sức khỏe sinh sản để giúp VTN tự khám phá những tính cách, các tiêu chuẩn và những chọn lựa của riêng mình, đồng thời cũng nâng cao kiến thức và hiểu biết của các em về các vấn đề SKSS Ở h u hết các nước, VTN hiếm khi trao đổi với cha mẹ mình hoặc những người lớn tuổi hơn về các chủ đề tình dục (VD: giao hợp, tình dục, hiện tượng có kinh và “mộng tinh” ) H u hết thông tin về những chủ đề này thường từ bạn bè đồng lứa là những người ít có kinh nghiệm hiểu biết hoặc hiểu sai như họ, hoặc từ các phương tiện truyền thông không chính thức với xu hướng đại diện cho những hình mẫu rập khuôn hay quá khích về tình dục và giới tính Do vậy, các em c n được trang bị và cung cấp đ y đủ những thông tin
về SKSS để từ đó các em xây dựng được những quan niệm đúng đắn về vai trò và trách nhiệm của người đàn ông và người phụ nữ trong tương lai và vì cuộc sống hạnh phúc cũng như trách nhiệm đối với gia đình của chính bản thân mình
Cùng với suy nghĩ và nền văn hóa của nước ta mà vấn đề tình dục, SKSS được coi là vấn đề “phòng the” ít được tuyên truyền và phổ biến kiến thức cho VTN, và không được thiết kế giáo dục một cách chi tiết bài bản, không phù hợp với kinh nghiệm của VTN về QHTD, ít khi động chạm đến các chủ đề như các biện pháp tránh thai, BLTQĐTD, HIV/AIDS, bạo lực và lạm dụng tình dục đã dẫn đến những hậu quả đáng tiếc
Trang 3726
Nhận thức được t m quan trọng của việc GDSKSS VTN, hệ thống giáo dục hiện nay không chỉ dạy về tri thức mà còn chú ý đến việc xây dựng kĩ năng sống cho VTN Mục đích của GDSKSS VTN là nhằm cung cấp kiến thức và sự hiểu biết
về các vấn đề dân số, SKSS cho VTN, đồng thời hình thành và phát triển thái độ và hành vi giúp học sinh có được những quyết định có trách nhiệm liên quan đến lĩnh vực này cho cuộc sống hiện tại cũng như trong tương lai
Theo chương trình hành động của ICPD mục tiêu cơ bản của GDSKSS VTN là: “Giải quyết những vấn đề SKSS và tình dục của VTN, bao gồm: mang thai ngoài
ý muốn, nạo phá thai không an toàn và các BLTQĐTD kể cả HIV/AIDS thông qua việc nâng cao trách nhiệm về lối sống tình dục và sinh sản lành mạnh cùng với việc cung cấp các dịch vụ, tư vấn thích hợp cho lứa tuổi này” [15]
1.3.4 Nội dung giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh trung học cơ sở
Để các em có nhận thức đúng, chủ động tháo gỡ những khó khăn thường gặp
về SKSS trong lứa tuổi VTN, khi tiến hành giáo dục c n phải nắm vững những nội dung cụ thể và c n nhấn mạnh, chuyển tải các thông điệp, định hướng thái độ, hành
vi cho các em Căn cứ vào đặc điểm tâm sinh lí của VTN, nội dung giáo dục SKSS
bao gồm:
- Giáo dục tình bạn và tình bạn khác giới
Ở lứa tuổi VTN, tình bạn thường phát triển mạnh mẽ và đóng vai trò quan trọng trong quá trình vươn lên làm người lớn Trong quan hệ bạn bè, VTN có thể bộc lộ, khám phá, tự kiểm tra và đánh giá bản thân mình bằng cách so sánh mình với những người khác, đồng thời dựa vào chính mình để tự hiểu mình và tự giáo dục và tự hoàn thiện mình Các em có nhiều nhóm bạn khác nhau thích dành nhiều thời gian để trò chuyện, vui chơi, học tập Tuy nhiên, kết bạn không chỉ để cho vui
mà còn để quan tâm, giúp đỡ, sẻ chia lúc vui, lúc buồn, lúc thuận lợi cũng như lúc khó khăn Cũng c n nhớ rằng, ở tuổi VTN, tình bạn có thể cuốn hút tới mức làm cho các em có thể xao nhãng việc học hành
Trang 3827
Bước vào giai đoạn cuối của lứa tuổi học sinh THCS thì tình bạn khác giới của các em mang một sắc thái khác so với giai đoạn đ u của lứa tuổi học sinh THCS Sự hấp dẫn lôi cuốn về ngoại hình, những rung động xúc cảm giữa nam và
nữ ở tuổi VTN là điều tự nhiên, trong sáng và c n tôn trọng Nhưng để giữ gìn được tình cảm trong sáng của tình bạn khác giới phụ thuộc vào nhiều cách ứng xử có trách nhiệm của cả hai bên Xây dựng được tình bạn khác giới tốt đẹp sẽ làm cho cuộc sống tinh th n thêm phong phú và ý nghĩa
- Giáo dụctình yêu và tình dục
Tình yêu đôi lứa là một loại tình cảm đặc biệt, là biểu hiện cao nhất của tình người, thúc đẩy hai người khác giới đi đến hòa nhập về tâm hồn và cả cuộc đời Ở lứa tuổi VTN các em đã bắt đ u để ý đến nhau và có những rung động, xuất hiện tình cảm mang màu sắc giới tính Các em thường bị nh m lẫn giữa tình bạn khác giới với tình yêu, các em chưa hiều tình yêu đích thực nghĩa là như thế nào? Do vậy, VTN bị chi phối nhiều thời gian, ảnh hưởng nhiều đến học tập, thi đua, phấn đấu Ở tuổi này, các em chưa suy nghĩ chín chắn, chưa biết làm thế nào để xây dựng một tình yêu trong sáng, đôi khi có những suy nghĩ lệch lạc như: yêu là phải hết mình, yêu là phải có QHTD, có QHTD thì mới giữ được người yêu và có như vậy mới thể hiện được tình yêu Với lối suy nghĩ đó đã dẫn đến những hậu quả đáng tiếc như: có thai ngoài ý muốn, nạo phá thai không an toàn ảnh hưởng đến sức khỏe, học tập, tinh th n cũng như tương lai tươi sáng của các em
VTN chưa nên có QHTD vì cơ thể các em chưa phát triển một cách hoàn chỉnh, chưa trưởng thành về mặt tâm lý, chưa đủ điều kiện cũng như kinh nghiệm,
kỹ năng sống để phòng tránh được những hậu quả đáng tiếc xảy ra Tình dục an toàn, có trách nhiệm sẽ phòng ngừa có thai ngoài ý muốn, BLTQĐTD, HIV/AIDS VTN muốn có cuộc sống tốt đẹp, hãy lập thân, lập nghiệp, chưa nên QHTD và QHTD không an toàn ở tuổi VTN
- Giáo dục phòng tránh mang thai, phá thai ở tuổi VTN
Ở tuổi VTN tuy rằng về mặt thể chất các em phát triển chưa hoàn chỉnh, nhưng các em đã có khả năng sinh sản Do đó, c n phải cung cấp cho các em những
Trang 39Mang thai, phá thai ở tuổi VTN đều ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất, tinh
th nvà xã hội của cả bạn nam và bạn nữ
Sử dụng bao cao su đúng cách trong QHTD sẽ giúp VTN tránh mang thai ngoài ý muốn, BLTQĐTD và cả HIV/AIDS
Bên cạnh việc cung cấp kiến thức cũng phải định hướng đúng đắn cho các
em những hành vi, thái độ tích cực sau:
Sau khi QHTD không được bảo vệ c n đến ngay trung tâm y tế chăm sóc SKSS VTN, cơ sở y tế tin cậy để xét nghiệm và phá thai an toàn
Khi có dấu hiệu mang thai c n chia sẻ với cha mẹ, người thân để được hỗ trợ
Ngoài những kiến thức cơ bản trên c n cung cấp cho VTN trong việc chăm sóc SKSS, cùng c n giúp cho VTN hiểu được rằng thiều hiểu biết, tiêm chích, truyền máu không an toàn, QHTD sớm và không an toàn là nguyên nhân đưa các
Trang 40về mọi mặt như: sức khỏe, tâm lí, kiến thức, kinh tế sẽ ảnh hưởng đến sự tiến bộ của bản thân, hạnh phúc lứa đôi, sự phát triển của gia đình và tương lai con cái
- Giáo dục nâng cao hiểu biết về quyền chăm sóc SKSS
Quyền chăm sóc SKSS được thể hiện:
VTN có quyền được biết đ y đủ thông tin về SKSS, sức khỏe tình dục
một cách thường xuyên, liên tục dưới mọi hình thức, trước khi trở thành người lớn
Các em có quyền được tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc SKSS thuận tiện, phù hợp Các cán bộ chuyên môn, dịch vụ c n tạo mọi điều kiện để các em có thể thực hiện được quyền của mình
Các em c n được sự giúp đỡ, an ủi khi các em bị vi phạm quyền
VTN c n được giúp đỡ để có nhận thức đúng và thực hiện quyền sinh sản đi đôi với nghĩa vụ và trách nhiệm với gia đình, cộng đồng và xã hội một cách tốt nhất
1.3.5 Phương pháp giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh trung học cơ sở
Là một bộ phận của giáo dục nhân cách, giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên sử dụng các nhóm phương pháp giáo dục nhân cách cũng như các phương pháp dạy học thông thường trong quá trình giáo dục Việc lựa chọn các phương pháp giáo dục sức khỏe sinh sản VTN sử phụ thuộc vào lứa tuổi, mức
độ phát triển trí tuệ, phát triển tâm lý của đối tượng được giáo dục và phụ thuộc vào nội dung c n giáo dục
Dưới đây là những phương pháp thường được thực hiện trong giáo dục sức khỏe sinh sản cho vị thành niên: