1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn đánh giá trình độ thể lực chuyên môn cho nữ vận động viên vật tự do lứa tuổi 14 – 15 của thành phố hà nội

87 558 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 883,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu lựa chọn các test đánh giá trình độ thể lực của nữ vận động viên Vật tự do lứa tuổi 14 – 15 của thành phố Hà Nội.. Chính vì lý do này, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: " Nghiê

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

VŨ THỊ MAI

NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG TIÊU CHUẨN ĐÁNH GIÁ TRÌNH ĐỘ THỂ LỰC CHUYÊN MÔN CHO NỮ VẬN ĐỘNG VIÊN VẬT TỰ DO LỨA TUỔI 14-15

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Tác giả đề tài

Vũ Thị Mai

Trang 4

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Kết quả phỏng vấn các chỉ tiêu đánh giá trình độ thể lực của nữ VĐV Vật tự do lứa tuổi 14-15 42 Bảng 2.2 Hệ số tương quan của các chỉ tiêu lựa chọn với thành tích thi đấu của nữ VĐV Vật tự do lứa tuổi 14-15 46 Bảng 2.3 Độ tin cậy của các test đánh giá trình độ thể lực ở nữ VĐV Vật tự

do lứa tuổi 14 (n = 15) 48 Bảng 2.4 Độ tin cậy của các test đánh giá trình độ thể lực ở nữ VĐV Vật tự

do lứa tuổi 15 (n = 15) 49 Bảng 3.1 Kết quả kiểm tra trình độ thể lực của nữ VĐV Vật tự do lứa tuổi

14 – 15 53 Bảng 3.2 Tiêu chuẩn phân loại trình độ thể lực của nữ VĐV Vật tự do lứa tuổi 14 55 Bảng 3.3 Tiêu chuẩn phân loại trình độ thể lực của nữ VĐV Vật tự do lứa tuổi 15 57 Bảng 3.4 Bảng điểm tổng hợp đánh giá trình độ tập luyện của nữ VĐV Vật

tự do lứa tuổi 14 59 Bảng 4.5 Bảng điểm tổng hợp đánh giá trình độ tập luyện của nữ VĐV Vật

tự do lứa tuổi 15 61 Bảng 3.6 Bảng điểm tổng hợp đánh giá trình độ tập luyện 64 Bảng 3.7 Kiểm nghiệm các tiêu chuẩn đánh giá trình độ thể lực của nữ VĐV Vật tự do lứa tuổi 14 66 Bảng 3.8 Kiểm nghiệm các tiêu chuẩn đánh giá trình độ thể lực của nữ VĐV Vật tự do lứa tuổi 15 67

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

PHẦN MỞ ĐẦU 1

Chương 1: Tổng quát các vấn đề nghiên cứu 9

1.1 Tổng quan về trình độ tập luyện 9

1.1.1 Các khái niệm về trình độ tập luyện 9

1.1.2 Nghiên cứu về cơ sở sinh học của trình độ tập luyện 14

1.1.3 Nghiên cứu về kiểm tra, đánh giá trình độ tập luyện 15

1.2 Cơ sở lý luận về đánh giá TĐTLTL của VĐV Vật tự do 20

1.2.1 Phát triển sức mạnh tốc độ và tốc độ 20

1.2.2 Phát triển sức bền 21

1.3 Tố chất thể lực và quy luật phát triển cơ thể thanh thiếu niên 33

1.3.1 Các tố chất thể lực của VĐV Vật tự do: 33

1.3.2 Quy luật phát triển cơ thể thanh thiếu niên 34

CHƯƠNG 2: NGHIÊN CỨU LỰA CHỌN CÁC TEST ĐÁNH GIÁ TRÌNH ĐỘ THỂ LỰC CỦA NỮ VẬN ĐỘNG VIÊN VẬT TỰ DO LỨA TUỔI 14 – 15 THÀNH PHỐ HÀ NỘI 39

2.1 Nghiên cứu lựa chọn các test đánh giá trình độ thể lực của nữ vận động viên Vật tự do lứa tuổi 14 – 15 của thành phố Hà Nội 39

2.2 Thực trạng sử dụng các chỉ tiêu đánh giá trình độ thể lực của nữ VĐV Vật tự do lứa tuổi 14 – 15 ở nước ta 40

2.3 Xác định tính thông báo của các chỉ tiêu đánh giá trình độ thể lực của nữ VĐV Vật tự do lứa tuổi 14 – 15 45

2.4 Đánh giá độ tin cậy của các test đánh giá trình độ thể lực của nữ VĐV Vật tự do lứa tuổi 14-15 47

Trang 6

CHƯƠNG 3: XÂY DỰNG TIÊU CHUẨN ĐÁNH GIÁ TRÌNH ĐỘ THỂ LỰC CHO NỮ VẬN ĐỘNG VIÊN VẬT TỰ DO LỨA TUỔI 14 – 15 CỦA THÀNH PHỐ HÀ NỘI 52 3.1 So sánh trình độ thể lực của nữ VĐV Vật tự do lứa tuổi 14-15 Thành phố Hà Nội 53 3.2 Xây dựng tiêu chuẩn phân loại trình độ thể lực cho nữ VĐV Vật

tự do lứa tuổi 14 - 15 55 3.3 Xây dựng bảng điểm tổng hợp đánh giá trình độ thể lực của nữ VĐV Vật tự do lứa tuổi 14-15 58

3.3.1 Xây dựng bảng điểm tổng hợp đánh giá trình độ thể lực của nữ VĐV Vật tự do lứa tuổi 14-15 58 3.3.2 Xây dựng bảng điểm tổng hợp đánh giá trình độ thể lực của nữ

VĐV Vật tự do lứa tuổi 14-15 63

3.3.3 Kiểm nghiệm tiêu chuẩn đánh giá trình độ thể lực của VĐV Vật

tự do lứa tuổi 14-15 đã xây dựng trong thực tiễn 66

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 68 TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

Trang 7

có huy chương ở một số môn Hiện nay, nước ta có hệ thống tổ chức đào tạo VĐV tài năng trẻ và 3 trung tâm HLTTQG Hàng năm Uỷ ban TDTT triệu tập, tập huấn khoảng 800 - 900 VĐV các đội tuyển thể thao và 600 - 700 VĐV trẻ, tham gia nhiều cuộc thi đấu trong và ngoài nước

Kế thừa những thành tựu tốt đẹp nêu trên, ta vẫn phải nỗ lực nâng cao thành tích thi đấu thể thao trên đấu trường khu vực và quốc tế trong những năm tới, vì những lý do sau đây:

Phải nỗ lực thực hiện Nghị quyết, chỉ thị của Đảng và Luật thể dục, thể thao về thể thao thành tích cao:

Chỉ thị 17/CT-TW của Ban Bí thư và Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX nêu rõ: “Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ VĐV thể thao thành tích cao, đưa thể thao Việt Nam lên trình độ chung trong khu vực Đông Nam Á và

có vị trí cao trong nhiều bộ môn”

Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X có đoạn viết: “Có chính sách và cơ chế phù hợp để phát hiện, bồi dưỡng và phát triển tài năng, đưa thể thao nước ta đạt vị trí cao của khu vực, từng bước tiếp cận với Châu lục và thế giới ở những bộ môn Việt Nam có ưu thế”

Điều 31 trong Luật thể dục, thể thao viết: “Nhà nước có chính sách phát triển thể thao TTC, đầu tư tập trung xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại; Đào tạo bồi dưỡng VĐV, HLV đạt trình độ quốc gia, quốc tế…”

Trang 8

Tuy những năm qua đạt được nhiều thành tích đáng khích lệ, nhưng thể thao TTC của nước ta vẫn bộc lộ nhiều mặt yếu kém cần sớm được khắc phục

Trong chỉ thị 17/CT-TW có đoạn viết: “Thể thao TTC đã có bước phát triển, đạt được mục tiêu đề ra nhưng chưa vững chắc, còn thiếu nhiều HLV giỏi; Cơ chế chính sách đào tạo tài năng thể thao chưa đáp ứng được yêu cầu; Việc ứng dụng khoa học công nghệ còn hạn chế chưa tạo bước đột phá trong thể thao TTC”

Thể thao TTC ở nước ta cần phải tích cực đổi mới để theo kịp xu thế phát triển của quốc tế trong những năm gần đây:

Xu thế mới của quốc tế biểu hiện ở những vấn đề sau đây:

Trình độ thể thao TTC tăng trưởng rõ rệt do các quốc gia đều gia tăng tranh chấp huy chương trong Đại hội thể thao Olympic

Tần số các cuộc thi đấu tăng rõ làm thay đổi quan điểm huấn luyện cũ Hàm lượng khoa học công nghệ gia tăng, trở thành nhân tố quan trọng

để nâng cao thành tích thể thao

Thể thao TTC ảnh hưởng ngày càng lớn tới chuyên nghiệp hóa và kinh doanh TDTT

Nhiều quốc gia có sự điều chỉnh lớn về thể thao TTC như cơ cấu đầu

tư, lựa chọn môn thể thao trọng điểm, sự tập trung cao độ đào tạo VĐV… Những lý do trên khiến nước ta phải sớm có chiến lược phát triển thể thao TTC, trong đó phải xác định đúng các VĐV, môn thể thao trọng điểm Với thành tích đã qua và tiềm lực còn lớn, chắc chắn môn Vật tự do vẫn được lựa chọn là môn thể thao trọng điểm trong tương lai Để tiếp tục nâng cao thành tích của môn Vật tự do, phải chú trọng nâng cao chất lượng và hiệu quả huấn luyện Thế giới thừa nhận, chất lượng và hiệu quả HLTT được phản ánh qua TĐTL của VĐV Vì vậy, TĐTL của VĐV Vật tự do trình độ cao đã được

Trang 9

nghiên cứu ít nhiều ở nước ta trong những năm gần đây Tuy nhiên, TĐTL của VĐV Vật tự do trẻ vẫn chưa được nghiên cứu, đặc biệt đối với VĐV 14 -

15 tuổi, bắt đầu bước vào giai đoạn huấn luyện chuyên môn hóa ban đầu TĐTL ở VĐV Vật tự do trẻ rất cần được nghiên cứu, mặc dù các thành phần cấu thành TĐTL rất rộng, chỉ có thể nghiên cứu sâu từng bước cho từng độ

tuổi Chính vì lý do này, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: " Nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn đánh giá trình độ thể lực chuyên môn cho nữ vận động viên Vật tự do lứa tuổi 14-15 của thành phố Hà Nội "

2 Mục đích nghiên cứu :

Trên cơ nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc đánh giá trình

độ tập luyện trong thể thao nói chung và Vật tự do nói riêng, đề tài xác định các chỉ tiêu và xây dựng các tiêu chuẩn đánh giá trình độ tập luyện thể lực cho nữ vận động viên Vật tự do lứa tuổi 14-15, làm cơ sở cho công tác tuyển chọn, dự báo thành tích và điều khiển quá trình đào tạo nữ vận động viên Vật tự do lứa tuổi 14-15

3 Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu:

- Đối tượng chủ thể: Tiêu chuẩn đánh giá trình độ thể lực của nữ VĐV Vật tự do lứa tuổi 14 – 15 thành phố Hà Nội

3.2 Khách thể nghiên cứu:

- Đối tượng khách thể: Nữ VĐV Vật tự do lứa tuổi 14 – 15 của thành phố Hà Nội

4 Giả thuyết khoa học: Nếu lựa chọn được các tiêu chuẩn đánh giá

chính xác trình độ thê lực chuyên môn cho nữ vận động viên vật tự do lứa tuổi 14 – 15 sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc tuyển chọn, dự báo thành tích

và điều chỉnh quá trình huấn luyện cho nữ vận động viên Vật tự do lứa tuổi 14

– 15

Trang 10

5 Nhiệm vụ nghiên cứu :

Để đạt mục đích trên, đề tài đưa ra các mục tiêu sau :

5.1 Nhiệm vụ 1 : Lựa chọn các test đánh giá trình độ thể lực chuyên

môn cho nữ vận động viên Vật tự do lứa tuổi 14-15 của thành phố Hà Nội

- Tổng hợp các test đánh giá trình độ thể lực chuyên môn cho nữ vận động viên Vật tự do lứa tuổi 14-15 qua tài liệu và thực tế

- Phỏng vấn các nhà chuyên môn để lựa chọn các test đánh giá trình độ thể lực chuyên môn cho nữ vận động viên Vật tự do lứa tuổi 14-15 của thành phố Hà Nội

- Xác định độ tin cậy và tính thông báo của các test đánh giá trình độ thể lực chuyên môn cho nữ vận động viên Vật tự do lứa tuổi 14-15 của thành phố Hà Nội

5.1 Nhiệm vụ 2 :: Xây dựng và kiểm nghiệm hiệu quả các tiêu chuẩn

đánh giá trình độ thể lực chuyên môn cho nữ vận động viên Vật tự do lứa tuổi 14-15 của thành phố Hà Nội

- Xây dựng tiêu chuẩn phân loại cho các chỉ tiêu đánh giá trình độ thể lực chuyên môn cho nữ vận động viên Vật tự do lứa tuổi 14-15 của thành phố Hà Nội

- Xây dựng thang điểm cho các chỉ tiêu đánh giá trình độ thể lực chuyên môn cho nữ vận động viên Vật tự do lứa tuổi 14-15 của thành phố Hà Nội

- Xây dựng bảng điểm tổng hợp cho các chỉ tiêu đánh giá trình độ thể lực chuyên môn cho nữ vận động viên Vật tự do lứa tuổi 14-15 của thành phố

Hà Nội

- Ứng dụng các tiêu chuẩn vào đánh giá trình độ thể lực chuyên môn cho nữ vận động viên Vật tự do lứa tuổi 14-15 của thành phố Hà Nội

Trang 11

- Xác định độ chính xác của các tiêu chuẩn đánh giá trình độ thể lực chuyên môn cho nữ vận động viên Vật tự do lứa tuổi 14-15 của thành phố

Hà Nội

6 Phạm vi nghiên cứu:

- Số lượng nghiên cứu: Đề tài tiến hành nghiên cứu trên 30 VĐV Vật

tự do lứa tuổi 14-15 của thành phố Hà Nội

- Phạm vi không gian nghiên cứu: Các câu lạc bộ Vật thuộc khu vực Hà Nội

- Phạm vi thời gian nghiên cứu: Từ 9/2011 đến 10/2013

7 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết mục tiêu nghiên cứu nêu trên, trong quá trình nghiên cứu

đề tài dự kiến sẽ sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

7.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu có liên quan

Việc sử dụng phương pháp này nhằm tìm ra những cơ sở lý luận cho việc giải quyết các nhiệm vụ của đề tài Các tài liệu chuyên môn có liên quan được lấy từ các nguồn tài liệu khác nhau Đây là sự tiếp nối, bổ sung các luận cứ khoa học, tìm hiểu và phát hiện những vấn đề liên quan đến công tác đánh giá trình độ thể lực cho VĐV Vật tự do nữ lứa tuổi 14 - 15, phù hợp với thực tiễn Đặc biệt, việc sử dụng phương pháp nghiên cứu này cũng nhằm bổ sung những vấn đề sư phạm liên quan đến xây dựng tiêu chuẩn đánh giá thể lực cho nữ VĐV Vật tự do lứa tuổi 14 – 15 của của thành phố Hà Nội Ngoài ra cũng thông qua các nguồn tài liệu, đề tài đã xác định được hệ phương pháp, lựa chọn được các tiêu chuẩn phục vụ công tác kiểm tra thể lực cho đối tượng nghiên cứu

7.2 Phương pháp phỏng vấn - toạ đàm

Trang 12

Chúng tôi sử dụng phương pháp này nhằm tiếp thu những ý kiến của các nhà chuyên môn đang giảng dạy, huấn luyện, quản lý môn vật ở nước ta hiện nay bằng hình thức phiếu hỏi và hình thức trao đổi mạn đàm

Đối tượng phỏng vấn của đề tài là các HLV, giáo viên, các nhà quản

lý chuyên môn vật trong cả nước Những vấn đề mà đề tài quan tâm khi sử dụng phương pháp này là: Các hình thức nhằm lựa chọn test đánh giá thể lực cho nữ VĐV Vật tự do lứa tuổi 14 – 15 của của thành phố Hà Nội Đây là những căn cứ khoa học để lựa chọn và sắp xếp các tiêu chuẩn mang tính chất đại diện cho từng tố chất thể lực

7.3 Phương pháp quan sát sư phạm

Đề tài sử dụng phương pháp quan sát sư phạm để thu thập những thông tin cần thiết từ đối tượng nghiên cứu, phát hiện các vấn đề nghiên cứu liên quan đến đề tài, đánh giá được thực trạng việc sử dụng các test đánh giá thể lực của VĐV ở các đơn vị huấn luyện Từ đó tổng hợp và tiến hành phỏng vấn để lựa chọn test đánh giá trình độ thể lực cho nữ VĐV Vật tự do lứa tuổi

14 - 15

7.4 Phương pháp kiểm tra sư phạm

Phương pháp này được sử dụng để kiểm tra trình độ thể lực cho nữ VĐV Vật tự do lứa tuổi 14 – 15 của thành phố Hà Nội, trên cơ sở đó phân loại chúng theo các tiêu chuẩn mà đề tài mới xây dựng, sau đó so sánh với trình độ thi đấu của đối tượng này để thấy sự tương thích giữa hai khả năng, trình độ thể lực và trình độ thi đấu của các VĐV Đây là một trong những cơ

sở để đi tới kết luận về độ chuẩn xác của các tiêu chuẩn mà đề tài mới xây dựng

7.5 Phương pháp toán học thống kê:

Trang 13

Là phương pháp được chúng tôi sử dụng trong quá trình xử lý các số liệu đã thu thập được trong nghiên cứu Các tham số đặc trưng mà chúng tôi quan tâm là:

d x

Trong đó : 1 và 6 là hằng số

d = dx-dy : sự khác biệt của từng cặp biến số

về thứ bậc x và y

n : Số lượng đối tượng quan trắc

5/ Công thức so sánh giá trị trung bình

2

2 2 1

2 1

2 1

n n

x x t

Trang 14

Trong đó: x là sai số của số trung bình

8 Những đóng góp mới của đề tài:

- Xác định được tiêu chí đánh giá thể lực chuyên môn cho nữ vận động viên Vật tự do lứa tuổi 14-15 của của thành phố Hà Nội

- Xây dựng được tiêu chuẩn đánh giá thể lực chuyên môn cho nữ vận động viên Vật tự do lứa tuổi 14-15 của của thành phố Hà Nội

- Đánh giá được thực trạng thể lực chuyên môn cho nữ vận động viên Vật tự do lứa tuổi 14-15 của của thành phố Hà Nội

- Xác định được độ chuẩn xác của các tiêu chí đánh giá thể lực chuyên môn cho nữ vận động viên Vật tự do lứa tuổi 14-15 của của thành phố Hà Nội

9 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận và kiến nghị

Phần nội dung gồm 3 chương

Chương 1: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu

Chương 2: : Nghiên cứu lựa chọn các test đánh giá trình độ thể lực của nữ vận

động viên vật tự do lứa tuổi 14 – 15 thành phố Hà Nội

Chương 3: xây dựng tiêu chuẩn đánh giá trình độ thể lực cho nữ vận động viên vật tự do lứa tuổi 14 – 15 của thành phố Hà Nội

Trang 15

CHƯƠNG 1: TỔNG QUÁT CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan về trình độ tập luyện

1.1.1 Các khái niệm về trình độ tập luyện

Từ những năm 60 - 70 của thế kỷ trước đến nay rất nhiều nhà khoa học

đã nghiên cứu, đưa ra các định nghĩa về HLTT và TĐTL trong HLTT Một số nhà khoa học nước ta đã tham khảo các tài liệu nước ngoài, chủ yếu của Liên

Xô, CHDC Đức (cũ), Trung Quốc để biên soạn hoặc dịch sách dùng để giảng dạy cho các trường đại học thể dục thể thao về “Lý luận và phương pháp thể dục thể thao”, “Học thuyết huấn luyện”, trong đó có đề cập tới TĐTL, Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn và cộng sự (1993); D.Harre do Trương Anh Tuấn, Bùi Thế Hiển dịch (1996) Khái niệm về HLTT và TĐTL còn có thể tìm thấy trong một số từ điển TDTT của nước ngoài và các cuốn sách chuyên khảo khác, từ điển TDTT Trung Quốc (1983); Nguyễn Thế Truyền và cộng

sự (2003); Trịnh Hùng Thanh (1999)

Phân tích các tài liệu khoa học và thực tiễn cho thấy đánh giá TĐTL của VĐV vô cùng quan trọng, vì nó đánh giá khả năng thích ứng và mức độ thích nghi của VĐV với LVĐ tác động trực tiếp vào cơ thể VĐV thông qua các bài tập mà HLV đề ra trong từng buổi tập của chu kỳ huấn luyện dài hạn TĐTL càng cao thì VĐV có khả năng thực hiện các nhiệm vụ buổi tập càng khó, vì vậy TĐTL còn thể hiện tiềm năng của VĐV để có thể đạt được những thành tích thể thao cao trong từng môn thể thao nhất định và năng lực này thể hiện cụ thể ở mức độ chuẩn bị về kỹ thuật, chiến thuật, thể lực và tâm lý Qua đánh giá TĐTL của VĐV, HLV thấy được những mặt mạnh và những tố chất bẩm sinh tốt để phát huy chúng trong quá trình tập luyện và thi đấu, đồng thời khắc phục, hạn chế những mặt yếu kém của VĐV và qua những ưu, khuyết điểm đó của VĐV, HLV có phương hướng xây dựng hệ

Trang 16

thống bài tập huấn luyện cho các giai đoạn tiếp theo phù hợp với trình độ của từng VĐV

Trong quá trình HLTT, VĐV phải được huấn luyện theo một hệ thống bài tập đã được xây dựng trước và trình độ của VĐV sẽ được nâng lên nhờ khả năng thích ứng với LVĐ ngày càng cao mà HLV đề ra trong mỗi buổi tập

kế tiếp Khái niệm TĐTL được hiểu như sau: “TĐTL là sự thay đổi thích ứng sinh học (hình thái, chức năng) của cơ thể, chúng biểu hiện mức độ nâng cao năng lực và tiềm năng của hệ thống chức năng các cơ quan trong cơ thể và mức độ phát triển toàn diện, trước hết là yếu tố kỹ thuật chiến thuật thể lực và

Theo D.Harre (1996), HLTT là một quá trình sư phạm nhằm hoàn thiện thể thao, được tiến hành dựa trên cơ sở các tri thức khoa học Quá trình này tác động một cách hệ thống vào khả năng chức phận về tâm - sinh lý và trạng thái sẵn sàng đạt thành tích, nhằm mục đích dẫn dắt VĐV tới các thành tích thể thao cao và cao nhất và qua sự đấu tranh một cách tích cực, chủ động với các yêu cầu đặt ra trong tập luyện, nhân cách VĐV được phát triển…Cũng theo D.Harre (1996), TĐTL của VĐV thể hiện ở sự nâng cao năng lực thể thao nhờ ảnh hưởng của LVĐ tập luyện, thi đấu và các biện pháp bổ trợ khác Các yếu tố của năng lực thể thao bao gồm các năng lực thể chất, năng lực phối hợp vận động, năng lực trí tuệ, kỹ thuật kỹ xảo và chiến thuật cũng như

Trang 17

các phẩm chất tâm lý… Năng lực thể thao cao nhất mà VĐV đạt được trong từng thời kỳ thi đấu phù hợp với trình độ huấn luyện của họ được gọi là trạng thái thi đấu (L.P.Matvêép) Tóm lại, theo D.Harre (1996), TĐTL thể hiện ở năng lực thể thao, trạng thái sung sức thể thao

Tác giả Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn và cộng sự (1993), HLTT là hình thức cơ bản của đào tạo VĐV, là quá trình đào tạo VĐV có hệ thống mà chủ yếu bằng các phương pháp bài tập Về thực chất, đó cũng là một quá trình

sư phạm có tổ chức chặt chẽ, giúp thành tích thể thao của VĐV không ngừng phát triển Tiếp theo, các tác giả đưa ra khái niệm liên quan đến HLTT là trình

độ đào tạo và TĐTL, chỉ tất cả các mặt đào tạo làm cho VĐV đạt được những thành tích thể thao kế tiếp (gồm thể lực, kỹ thuật, chiến thuật, tâm lý…)

Theo “Từ điển TDTT Trung Quốc” (1983), TĐTL là mức độ, năng lực thích ứng với hoạt động nhờ quá trình huấn luyện hệ thống Do ảnh hưởng của LVĐ tập luyện, làm thay đổi tính thích nghi sinh học của cơ thể, nâng cao năng lực hoạt động của các cơ quan bên trong cơ thể, cải thiện hoạt động của

hệ thống thần kinh, điều chỉnh mọi hoạt động của chúng Trong hoạt động vận động, mức độ thích ứng biểu hiện ở sự phát triển tổng hợp về tố chất thể lực,

kỹ - chiến thuật, trí lực và tâm lý TĐTL càng cao, năng lực thể thao càng cao, thành tích thể thao càng tốt Đánh giá và giám định TĐTL cần phải thông qua

tổ chức chuyên môn, bằng những tư liệu, số liệu khoa học chuyên môn TĐTL là thước đo hiệu quả huấn luyện Giám định TĐTL sẽ giúp khắc phục tình trạng huấn luyện mù quáng không có tính khoa học, điều chỉnh LVĐ và tính tích cực trong huấn luyện

Khi đánh giá TĐTL của VĐV cấp cao, nhất định phải định lượng được những thành tố tiềm năng bên trong cơ thể, đó là các chỉ tiêu y sinh gồm hình thái, sinh lý, sinh hoá, sinh cơ đồng thời xác định những thành tố biểu hiện bên ngoài gồm các chỉ số sư phạm về thể lực chung, thể lực chuyên môn, kỹ-

Trang 18

chiến thuật và phẩm chất tâm lý của từng VĐV vào những thời điểm sung mãn nhất trước các cuộc thi đấu quan trọng

Xuất phát từ quan điểm cho rằng thuộc tính về tính liên tục và tính kế thừa của quy trình đào tạo VĐV nhiều năm, việc đánh giá TĐTL của VĐV các cấp theo độ tuổi, giới tính và môn thể thao chuyên sâu rất có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn trong tuyển chọn và đào tạo VĐV

Trước đây chưa có điều kiện về trang thiết bị nghiên cứu cần thiết, nhất

là trong các lĩnh vực khoa học cơ bản như y sinh, tâm lý, sinh cơ v.v Hiện nay có những thiết bị với công nghệ hiện đại ở trong và ngoài ngành TDTT đảm bảo nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa chuẩn hơn, chính xác hơn, kịp thời hơn ngay trên sân tập, bể bơi hay phòng tập Điều đó hỗ trợ HLV đánh giá, điều chỉnh LVĐ tập luyện một cách hợp lý và giúp công tác nghiên cứu toàn diện hơn đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của HLTT hiện đại Trong thể thao đỉnh cao hiện nay đòi hỏi mỗi VĐV phải có khả năng thích ứng với những yêu cầu rất cao về mọi mặt như kỹ-chiến thuật, thể lực và tâm lý do vậy từng VĐV phải luôn cố gắng và nỗ lực rèn luyện, phát triển và nâng cao các tố chất của mình

Xét về góc độ sư phạm: TĐTL của VĐV Vật tự do là thước đo khả năng hoàn thiện về kỹ - chiến thuật và mức độ phát triển ngày càng cao của các tố chất thể lực như sức nhanh, sức mạnh, sức bền, tố chất mềm dẻo, khéo léo và những biến đổi thích ứng về sinh học phù hợp với đặc thù của môn Vật

tự do

Theo Nguyễn Thế Truyền và cộng sự, TĐTL là một phức hợp gồm nhiều thành tố y-sinh, tâm lý, kỹ-chiến thuật, thể lực, ngày càng được nâng cao nhờ ảnh hưởng trực tiếp lâu dài của LVĐ tập luyện và thi đấu cũng như các liệu pháp hỗ trợ ngoại sinh khác Khái niệm về quá trình biến đổi lâu dài của TĐTL luôn gắn liền với các phạm trù “phát triển” và “thích nghi” Tác

Trang 19

giả phân tích, sự phát triển TĐTL nhờ tác động lâu dài của LVĐ tạo nên những biến đổi về chức năng và cấu trúc trong các cơ quan và các hệ thống cơ thể Tuy nhiên mọi quá trình phát triển đều tịnh tiến thường gắn với các yếu

tố có tính chu kỳ Do đó quá trình phát triển TĐTL được thực hiện không theo đường vòng, không theo đường thẳng mà dường như theo đường xoáy chôn

ốc bao gồm các yếu tố đối lập nhau, nghĩa là vừa có tính chu kỳ, vừa có dạng tuyến tính trong quá trình phát triển TĐTL Tác giả còn phân tích về sự phát triển TĐTL theo chu kỳ của những thích nghi, theo các căn cứ lý thuyết sau đây:

H Selye (1936), chia những chấn động stress căng thẳng, kể cả LVĐ tập luyện và thi đấu với thời gian tác động tương đối lâu dài sẽ gây nên những phản ứng định hình 3 giai đoạn: Giai đoạn lo lắng hồi hộp ban đầu, giai đoạn

đề kháng, giai đoạn kiệt sức Selye giải thích giai đoạn 3 do cạn kiệt nguồn năng lượng thích ứng Ý tưởng của H.Seley được các chuyên gia khác phát triển, chia quá trình thích ứng thành 3 mức độ chức năng các nguồn dự trữ sinh học: Thứ nhất, chuyển từ trạng thái tĩnh sang trạng thái hoạt động bình thường với phản ứng đồng hóa chiếm ưu thế; Thứ hai, dự trữ sinh học có được nhờ cả đồng hóa và dị hóa; Thứ ba, dự trữ sinh học diễn ra dưới dạng phản ứng stress cao độ

Những công trình nghiên cứu hiện nay xem xét những biến đổi trong cơ thể thích ứng theo 4 giai đọan: Giai đoạn “cấp báo”, có đặc điểm hệ thống cơ

thể vượt quá mức tối đa, tiêu hao dự trữ, nảy sinh phản ứng stress nghiêm

trọng; Giai đoạn “quá độ”, quá trình đổi mới về hình thái và chức năng cơ thể diễn ra tích cực, hoạt hóa tiềm năng di truyền của cơ thể, TĐTL đang phát triển; Giai đoạn “ổn dịnh”, phản ứng của cơ thể dần giảm đi, những biến đổi

cơ thể ở mức độ nhất định, hoạt động tiết kiệm và ổn định; Giai đoạn “trơ ỳ”,

Trang 20

không nhất thiết xuất hiện, nhưng nếu có, có thể làm rối loạn quá trình thích

ứng với LVĐ, dẫn đến các tình huống gây cấn stress

R.S.Suzdalnixki và V.A.Levando cũng chia quá trình thích ứng miễn dịch thành 4 giai đoạn: Giai đoạn động viên, giai đoạn phục hồi, giai đoạn suy

giảm hồi phục, giai đoạn phục hồi dần dần trạng thái miễn dịch và hormon

sau khi sử dụng LVĐ tập luyện

Cuối cùng, Nguyễn Thế Truyền và cộng sự đưa ra ý kiến tổng quát về

sự phát triển TĐTL theo chu kỳ thích nghi: Tính chất giai đoạn của quá trình thích nghi một lần nữa chứng minh rằng sự phát triển TĐTL là một quá trình

có tính chất chu kỳ và giai đoạn vì vậy không thể thích ứng liên tục để phát triển TĐTL Như vậy, khi định nghĩa và lý giải về sự phát triển TĐTL, Nguyễn Thế Truyền nhấn mạnh quá trình thích nghi của cơ thể đối với LVĐ theo những chu kỳ, giai đoạn biến đổi sinh học (trong đó có biến đổi tâm lý)

Tudor O.Bompa và Michael C.Carrera (2005), đã viết trong “Chu kỳ huấn luyện thể thao” như sau: “Thời gian của từng giai đoạn phụ thuộc chủ yếu vào lịch thi đấu cũng như phụ thuộc vào thời gian cần thiết để nâng cao

kỹ năng (Skills) và để phát triển ưu thế về khả năng vận động sinh học (dominant biomotor abilities) Trong giai đoạn chuẩn bị thì nhiệm vụ đầu tiên của HLV là phát triển cơ sở sinh lý của VĐV, trong giai đoạn thi đấu thì cần phải tập trung và hoàn thiện theo yêu cầu chuyên môn của thi đấu”

Như vậy các tác giả rất chú trọng tới tính chất chu kỳ và giai đoạn của quá trình thích ứng với LVĐ O.Bompa và Carrera coi nâng cao TĐTL để đạt thành tích thể thao tốt nhờ nâng cao kỹ năng và nhờ phát triển ưu thế về khả năng vận động sinh học

1.1.2 Nghiên cứu về cơ sở sinh học của trình độ tập luyện

Khi nghiên cứu về TĐTL của VĐV một môn thể thao bất kỳ, trước tiên phải nghiên cứu sâu về cơ sở sinh học của nó Nhiều nhà khoa học đã nghiên

Trang 21

cứu cơ sở sinh học của tố chất thể lực, một trong những yếu tố cấu thành của TĐTL Gần đây Hội y học của Uỷ ban Olympic quốc tế, Liên hiệp Hội y học thể thao quốc tế đã cho xuất bản “Bách khoa toàn thư y học thể thao”, trong

đó có “Sức bền thể thao” quyển 2 (2004) do Haward G.Knuttgen chủ biên và

“Sức mạnh và sức mạnh tốc độ” quyển 3 (2004) do PAAVO V.Komi chủ biên Trong các cuốn sách này, các tác giả đã đề cập sâu về cơ sở sinh học của sức bền, sức mạnh và sức mạnh tốc độ trong huấn luyện nâng cao thành tích thể thao nói chung và dẫn chứng ở một số môn thể thao như điền kinh, bơi lội, bóng đá, bóng rổ, tennis, bơi thuyền, vật, Judo… Tuy nhiên, các tác giả vẫn chưa nghiên cứu về cơ sở sinh học trong huấn luyện thể lực của VĐV Vật tự

do Những cuốn sách gần đây về huấn luyện sức mạnh, Tudor O.Bompa và Michael C.Carrera (2005); Lâm Quang Thành và Bùi Trọng Toại, cũng chưa

đề cập tới môn Vật tự do

1.1.3 Nghiên cứu về kiểm tra, đánh giá trình độ tập luyện

Nhiều nhà khoa học trong ngoài nước đã nghiên cứu về phương pháp kiểm tra TĐTL, nội dung, tiêu chuẩn đánh giá TĐTL

Nghiên cứu phương pháp đánh giá về sinh hóa - sinh lý và tâm lý:

Các phương pháp xét nghiệm về sinh hóa, Nguyễn Thế Truyền, Lê Quý Phượng, Vũ Ánh Minh (2003)

Men LDH khử hydro của axit lactic

Testosterone trong thể thao

Cortisol trong thể thao

Các phương pháp kiểm tra sinh lý, Lưu Quang Hiệp (2005); Lê Quý Phượng, Ngô Đức Nhuận (2003); Trịnh Hùng Thanh (1999)

Các phương pháp kiểm tra ở trạng thái nghỉ

Các phương pháp kiểm tra ở trạng thái hoạt động định lượng

Các phương pháp kiểm tra khả năng hoạt động thể lực tối đa

Trang 22

Các phương pháp kiểm tra xác định ngưỡng yếm khí trong vận động

Các phương pháp kiểm tra tâm lý, Phạm Ngọc Viễn, Nguyễn Thị Tuyết (2003)

Loại hình thần kinh

Thời gian phản xạ

Đánh giá khả năng trí tuệ

Khả năng xử lý thông tin

Đánh giá khả năng chú ý

Nghiên cứu phương pháp đánh giá về hình thái và sinh cơ trong thể thao:

Phương pháp đo lường đánh giá hình thái cơ thể, Nguyễn Kim Minh (1994)

Đo lường đánh giá tính chất động lực học trong vận cơ theo phương pháp Isokinetic, Dương Nghiệp Chí (2004)

Đo lường đánh giá xung lực tấn công của VĐV võ với hệ thống vô tuyến SM102, Dương Nghiệp Chí và cộng sự (2004)

Đo lường tính chất động học trong kỹ thuật chuyển động bằng công nghệ Video, Dương Nghiệp Chí và cộng sự (2004)

Nghiên cứu phương pháp kiểm tra sư phạm ở một số môn thể thao:

Môn điền kinh, Nguyễn Đại Dương (2006)

Môn bơi lội, Chung Tấn Phong (2000)

Môn thể dục, Lê Văn Lẫm, Nguyễn Xuân Sinh, Nguyễn Kim Xuân (2004)

Các môn võ vật và Judo, Nguyễn Thế Truyền và cộng sự (2004)

Môn bóng đá, Trần Quốc Tuấn và cộng sự (2004)

Môn bóng bàn, Nguyễn Danh Thái và cộng sự (2004)

Môn bóng chuyền, Nguyễn Thành Lâm (2004)

Trang 23

Môn bóng rổ, Lê Nguyệt Nga, Đặng Hà Việt (2004)

Nghiên cứu nội dung, tiêu chuẩn đánh giá TĐTL ở một số môn thể thao:

VĐV chạy cự ly ngắn trẻ, Đàm Quốc Chính (2000)

VĐV bơi lội 9-12 tuổi, Chung Tấn Phong (2004)

Nữ VĐV TDDC 6-8 tuổi, Nguyễn Xuân Sinh, Nguyễn Kim Xuân (2004) VĐV bóng đá nam quốc gia, Phạm Quang (2004)

VĐV bóng bàn nam 12 - 15 tuổi, Nguyễn Tiên Tiến (2004)

Thể lực và kỹ thuật của VĐV Vật tự do đội tuyển quốc gia, Nguyễn Thế Truyền và cộng sự (2004)

Các công trình nghiên cứu trên, đánh giá TĐTL đều là đánh giá định lượng Căn cứ tài liệu của Tổng cục TDTT Trung Quốc (2005) về “Xu thế phát triển phương pháp nghiên cứu khoa học TDTT thế kỷ 21”, thế giới chú trọng nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng: “Phân tích định tính và phân tích định lượng hỗ trợ cho nhau giúp chính xác hóa bản chất sự vật và quy luật của quá trình biến đổi” Vì: “Theo sự phát triển của khoa học - công nghệ, nhận thấy, nâng cao thành tích của môn thể thao bất kỳ, nếu chỉ dựa vào

mô thức định lượng đơn giản là không đủ, cần thay đổi triệt để, hướng tới xu thế tất yếu phải phối hợp định tính và định lượng”

Các luận án tiến sĩ GDH của nước ta về TĐTL và về các môn võ-vật có giá trị khoa học ứng dụng tốt, nhưng số lượng hạn chế

Các luận án tiến sĩ GDH về TĐTL bao gồm các luận án sau đây:

“Nghiên cứu tiêu chuẩn đánh giá TĐTL của VĐV bơi trẻ từ 9-12 tuổi trong giai đoạn huấn luyện ban đầu” (2000) của tác giả Chung Tấn Phong

“Nghiên cứu tiêu chuẩn đánh giá TĐTL của nữ VĐV thể dục trẻ ở giai đoạn huấn luyện ban đầu” (2001) của tác giả Nguyễn Kim Xuân

“Nghiên cứu đánh giá TĐTL của VĐV bóng bàn nam 12-15 tuổi” (2001) của tác giả Nguyễn Tiên Tiến

Trang 24

Các nội dung đánh giá về tố chất thể lực được các tác giả đưa ra bao gồm:

16 test và bài tập đối với VĐV thể dục

5 test đánh giá thể lực chung và 4 test đánh giá thể lực chuyên môn đối với VĐV bơi lội

13 test đánh giá thể lực của VĐV bóng bàn 12 - 13 tuổi và 15 test đánh giá thể lực của VĐV bóng bàn 14 - 15 tuổi

Phương pháp lập test là công cụ để nghiên cứu về tố chất thể lực Các tác giả đều xác định mối quan hệ giữa các test thể lực với thành tích thi đấu Riêng độ tin cậy của 16 test và bài tập đối với VĐV thể dục không được xác định Khi nghiên cứu về tố chất thể lực, các tác giả chỉ phân loại tố chất thể lực chung và tố chất thể lực chuyên môn, chưa phân loại chi tiết như tốc độ, sức mạnh, sức bền ngoài ra cũng chưa nghiên cứu về sinh lý, phản ánh sự biến đổi bên trong cơ thể khi thực hiện bài tập thể lực Chính vì vậy trong phần tổng quan, các tác giả không cần tổng hợp một số vấn đề về cơ chế sinh

lý của tố chất thể lực

Bên cạnh đó còn có các công trình võ - vật nghiên cứu về thể lực:

“Nghiên cứu các bài tập phát triển sức bền đối với VĐV nam 15 - 17 tuổi” (dẫn chứng ở môn karate-do), Nguyễn Đương Bắc (2006)

“Nghiên cứu các bài tập phát triển sức mạnh đối với VĐV nam 15 - 17 tuổi” (dẫn chứng ở môn vật tự do), Ngô Ích Quân (2006)

Xin tổng hợp một số vấn đề có liên quan như sau:

Tác giả Ngô Ích Quân đánh giá sức mạnh của VĐV vật tự do thông qua

15 test sư phạm thuộc 4 nhóm yếu tố sức mạnh thành phần Trên cơ sở đó tiến hành đánh giá phân loại

Tác giả Nguyễn Đương Bắc đánh giá sức bền của VĐV Karate-do qua

8 test sư phạm; 2 test tâm lý (sự chú ý và ý chí); 2 test y sinh (công năng tim,

VO2max xác định gián tiếp) Trên cơ sở này, tiến hành đánh giá phân loại

Trang 25

Khi nghiên cứu về sức mạnh và sức bền của VĐV nhóm môn võ - vật, các tác giả sử dụng phương pháp lập test sư phạm, chưa có điều kiện ứng dụng các thiết bị thực nghiệm sinh lý và sinh cơ trong vận động

Các tác giả nghiên cứu theo độ tuổi, không đủ số lượng VĐV để nghiên cứu theo độ tuổi, theo hạng cân VĐV ở mỗi độ tuổi nghiên cứu gồm một số hạng cân theo quy định trong thi đấu, tuy nhiên, các tác giả nêu rõ chỉ giới các hạng cân hoặc chỉ số thể trọng trung bình của VĐV từng lứa tuổi

Các công trình về các môn võ - vật đã giải quyết nhiều vấn đề rộng, phức tạp, tạo tiền đề tốt để nghiên cứu về TĐTL của VĐV Vật tự do trẻ Tuy nhiên, một số vấn đề hạn chế của các luận án không dễ khắc phục

Sau khi nghiên cứu tổng quan về TĐTL, tôi có một số nhận xét sau: Các nhà khoa học diễn giải khác nhau về TĐTL, nhưng thống nhất về bản chất của TĐTL:

TĐTL chính là năng lực thể thao, là thước đo hiệu quả của quá trình HLTT TĐTL cao thì năng lực thể thao cao, thành tích thể thao tốt

TĐTL phản ánh quá trình thích ứng của cơ thể với tác động của LVĐ tập luyện và thi đấu, có tính chu kỳ, giai đoạn

Nhìn tổng hợp, TĐTL được nâng cao nhờ quá trình huấn luyện Cụ thể TĐTL gồm các thành phần cấu thành: Chức năng sinh lý - giải phẫu của cơ thể, tâm lý, kỹ - chiến thuật, tố chất thể lực, nhân cách, trí lực Như vậy các thành phần cấu thành TĐTL rất rộng, khó nghiên cứu đầy đủ

Nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu về cơ sở sinh học (sinh lý, sinh cơ) của TĐTL, nhưng còn thiếu đối với môn Vật tự do

Nhiều nhà khoa học nước ta đã nghiên cứu phương pháp đánh giá TĐTL, nội dung và tiêu chuẩn đánh giá TĐTL ở một số môn thể thao Nhưng các công trình nghiên cứu về vấn đề này trên VĐV Vật tự do trẻ, đặc biệt ở giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu từ 14 - 15 tuổi còn chưa có

Trang 26

1.2 Cơ sở lý luận về đánh giá TĐTLTL của VĐV Vật tự do

Tố chất thể lực là một loại năng lực hoạt động vận động của con người, chỉ năng lực sức mạnh, sức nhanh, sức bền, linh hoạt, mềm dẻo và năng lực khác biểu hiện trong vận động, lao động và đời sống Thể lực trong một số trường hợp có thể hiểu theo nghĩa rộng, ngoài năng lực hoạt động vận động của thân thể người, còn bao hàm một số kết cấu hình thái, kết cấu thành phần cấu tạo cơ thể của con người, theo “Từ điển TDTT Trung Quốc” (1983)

Tố chất thể lực của con người được nhiều nhà khoa học nghiên cứu như: Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn (1993); D.Harre (1996); Trịnh Hùng Thanh (1999); Lê Quý Phượng, Đặng Quốc Bảo (2002); Lâm Quang Thành, Bùi Trọng Toại (2002); Howard G.Knuttgen (2004); PAAVO V.Komi (2004);

Zhang Ying Po (2004); Roy J.Shephard (2004); Lưu Quang Hiệp (2005);

bộ và cường độ, số lượng đơn vị, tiết diện của cơ bắp…), kỹ năng động tác (hiệu quả vận động…), tâm lý (động cơ…) Sức mạnh tốc độ là nền tảng của phát triển của các môn tốc độ Tập sức mạnh không ảnh hưởng xấu tới sức

Trang 27

nhanh, sức bền, mềm dẻo, Lâm Quang Thành, Bùi Trọng Toại (2003).Tác giả cho rằng, tùy theo các loại kỹ năng, yêu cầu về nguồn cung cấp năng lượng và các tố chất chủ đạo của môn thể thao, vai trò của sức mạnh sẽ khác nhau Với môn công suất thì sức mạnh giữ vai trò chủ đạo Các tác giả đề cập tới huấn luyện sức mạnh với rất nhiều môn thể thao khác nhau nhưng chưa đề cập sâu tới huấn luyện sức mạnh cho VĐV Vật tự do

Liên quan tới sức mạnh tốc độ là tố chất tốc độ Các nhà khoa học nhất trí cho rằng, tốc độ là năng lực vận động (hoặc hoạt động) nhanh của cơ thể hoặc bộ phận cơ thể Tốc độ có 3 hình thức biểu hiện: Tốc độ phản ứng, tốc

độ động tác và tốc độ di chuyển vị trí Tố chất tốc độ của VĐV Vật tự do cũng như nhiều môn thể thao khác là biểu hiện tổng hợp của cả 3 hình thức này Tố chất tốc độ phụ thuộc vào những yếu tố chính như: Quá trình hưng phấn của hệ thần kinh, cơ chế phản xạ thần kinh và đàn tính của cơ bắp, sinh học và quá trình cung cấp năng lượng, năng lực thả lỏng cơ bắp, cảm giác tốc

độ và năng lực tập trung chú ý, định hình động lực về hàng rào tốc độ Nhìn chung lý luận phát triển tốc độ đều dựa trên các yếu tố ảnh hưởng tới tốc độ

và sức mạnh tốc độ

1.2.2 Phát triển sức bền

VĐV Vật tự do thi đấu mỗi ngày nhiều trận nếu càng vào sâu, mỗi trận

3 hiệp, mỗi hiệp 2 phút, vì vậy, sức bền đối với VĐV Vật tự do rất quan trọng Theo các nhà khoa học, sức bền là năng lực của cơ thể có thể duy trì chất lượng động tác hoặc tải với cường độ nhất định trong thời gian dài Có 2 loại sức bền: Sức bền mạnh và sức bền tốc độ Các nhân tố chính ảnh hưởng tới sức bền bao gồm: Mức độ chịu đựng về tâm lý, năng lượng duy trì hoạt động của cơ quan vận động, dự trữ năng lượng vật chất, năng lượng trao đổi

oxy và trao đổi chất, trình độ kỹ thuật, mức độ tiết kiệm công năng… Sự mệt

mỏi xuất hiện do hoạt động trong thời gian dài là nhân tố chủ yếu làm suy

Trang 28

giảm năng lực làm việc của cơ thể, suy giảm hiệu quả vận động Lý luận phát triển sức bền trong thể thao cũng như trong môn Vật tự do nhằm khai thác các nhân tố ảnh hưởng tới sức bền thông qua xử lý quan hệ về sự mệt mỏi do tác động của LVĐ và hồi phục Qua nghiên cứu ở môn võ thuật cổ truyền (trường

quyền) nhận thấy hàm lượng axit lactic trong máu sau khi thực hiện bài tập là

1,56 ± 0,34 (mg%), chứng tỏ sự trao đổi năng lượng chủ yếu nhờ quá trình đường phân yếm khí, ta thường gọi là sức bền yếm khí, Trịnh Hùng Thanh (1999) Tuy nhiên sức bền của VĐV Vật tự do chưa được nghiên cứu như VĐV của nhiều môn thể thao khác (điền kinh, bơi lội, đấu kiếm, vật, Judo, các môn bóng…) Sau đây chỉ tổng hợp một số tư liệu về sức bền và sự mệt mỏi có liên quan tới sức bền ưa khí và sức bền yếm khí của VĐV Vật tự do

Mệt mỏi và vị trí phát sinh mệt mỏi:

Sự mệt mỏi cấp tính và mãn tính, Simomson (1971), Green (1987), MacLaren (1989), thường xuyên gây cản trở các VĐV sức bền Sự mệt mỏi bao hàm nhiều phương diện, sinh lý, tâm lý, có lúc là bệnh lý Vị trí phát sinh mệt mỏi là cục bộ (chỉ giới hạn ở các nhóm cơ nhất định), nhưng cũng có thể

có tính toàn thân (ảnh hưởng tới toàn bộ cơ thể)

Mệt mỏi mang tính chất sinh lý:

Mệt mỏi mang tính sinh lý được định nghĩa là hiện tượng suy giảm năng lực vận động trong quá trình vận động nhất định hoặc lặp đi lặp lại cùng một vận động trong thời gian khác nhau như tần số bước chạy của VĐV giảm dần, hoặc khi cơ bắp thực hiện động tác co cơ đẳng trương tối đa lặp đi lặp lại

có hiện tượng lực cơ giảm sút Khi mệt mỏi thường xuất hiện tín hiệu phá vỡ trạng thái cân bằng trong cơ thể, những tín hiệu này thường có liên quan với nhau Chẳng hạn, với cường độ vận động nào đó, hệ thống tuần hoàn hô hấp

sẽ xuất hiện một loạt thay đổi như tần số nhịp tim và hô hấp sẽ tăng nhanh, lượng thông khí phổi mỗi phút tăng, tần suất trao đổi dưỡng khí (respiratory

Trang 29

gas change ratio) tăng cao Tuy nhiên phạm vi biến động của các chỉ tiêu sinh

lý, sinh hoá này tồn tại sự khác biệt ở từng cá thể, hơn nữa mối liên hệ giữa trạng thái mệt mỏi của chủ quan VĐV và các chỉ tiêu đánh giá khách quan thường là có hạn Đối với nhiều người, giữa mức độ mệt mỏi có thể chịu đựng theo chủ quan và mức độ mệt mỏi có thể chịu đựng được về mặt khách quan

có sự chênh lệch tương đối lớn, tuy nhiên, thuật thôi miên và sự cổ vũ của khán giả khi thi đấu có thể rút ngắn khoảng cách chênh lệch này

Nguyên nhân trực tiếp của mệt mỏi có thể do trung khu (tức là các xung động thần kinh tới cơ vận động yếu, dẫn đến khả năng huy động cơ quan

vận động suy giảm, trương lực cơ yếu), cũng có thể do ngoại vi (nguồn axit

phosphoric cần thiết tiêu hao cho cơ bắp vận động không được bổ sung kịp

thời khiến cơ bắp không thể duy trì hoạt động bình thường) Ngoài ra còn một

số nhân tố phá huỷ trạng thái cân bằng trong cơ thể thường gặp như: Sự tích

tụ của các tạp chất trao đổi (axit lactic, Ion hydro, phosphate và ammonia), sự

cân bằng Ion tại màng tế bào bị phá huỷ, mất nước hoặc nhiệt lượng tích lũy

quá nhiều kéo theo sự suy kiệt tuần hoàn, Simonson (1971), Dawson (1986)

Mệt mỏi kéo theo cơ chế co cơ:

Trong tình huống thông thường, cơ bắp co duỗi do những xung động thần kinh phát ra trung khu vận động của lớp vỏ đại não hoặc tiểu não chỉ huy Các xung động thần kinh do trung khu phát ra, đầu tiên qua nơron thần kinh có liên quan tại đại não và tuỷ sống, truyền qua các dây thần kinh cho tới

tận điểm tiếp xúc giữa dây thần kinh và cơ bắp, giải phóng ra Ion Ca tồn tại

trong huyết tương cơ, từ đó khởi động sự co của các sợi cơ Trong quá trình

kích thích phân tử actin và myosin hình thành mối liên hệ bắc cầu, Ion Ca

chính là một nhân tố quan trọng, quá trình này do ATP phân giải cung cấp năng lượng

Trang 30

Về mặt lý luận, sự mệt mỏi có thể phát sinh từ bất cứ một công đoạn nào trong quá trình sản sinh xung động thần kinh Với đại não, gần như không

có khả năng co bóp huyết quản, vì thế buộc phải dựa vào tim để duy trì huyết

áp thích hợp Ngoài ra, tổ chức vỏ đại não chỉ có thể dựa trên quá trình trao đổi đường cung cấp năng lượng, vì thế ở tình huống vận động với cường độ lớn trong một quãng thời gian cơ bắp co rút hoặc có hiện tượng chuột rút, tỷ

lệ đường huyết giảm dần, rất có khả năng gây ra trạng thái phán đoán nhầm, động tác phối hợp đồng đội giảm, biểu hiện sự mệt mỏi trung khu Nếu các

VĐV bóng đá trong thời gian thi đấu được bổ sung một lượng nhỏ glucose hoặc saccharose, biểu hiện của toàn đội sẽ có phần nâng cao Tính hài hoà

của động tác là một biểu hiện của mệt mỏi trung khu, song cũng có thể là phản ứng của tình trạng thiếu máu não Ngoài ra, một số nhân tố khác làm tăng sự kém linh hoạt động tác của VĐV: Chẳng hạn để cảm nhận mức giảm sút của cơ gân, đồng thời duy trì cường độ vận động nhất định, VĐV buộc phải sử dụng các nhóm cơ mới mà bình thường ít sử dụng trong huấn luyện, Joy I.Shephard (2004)

Sự mệt mỏi thần kinh có thể biểu hiện qua suy giảm của tần số phát ra xung động thần kinh tới cơ quan vận động (fast-twitch motor units), cũng có thể biểu hiện qua thay đổi hình thức vận động của VĐV sau khi mệt mỏi Qua ghi xung điện tại cơ vận động khi xuất hiện mệt mỏi, trong điện cơ đồ thành phần bước sóng thấp tăng cho thấy trong nhóm cơ cùng phối hợp một số sợ

cơ chưa bị mệt mỏi đang được huy động Như thế, giải thích về tình trạng suy giảm tốc độ xung động bình quân, có một số điểm đáng chú ý sau: (1) Về mặt chủ quan không muốn tiếp tục vận động (VĐV "mệt mỏi" dưới sự tác động của thuật thôi miên hoặc sự cổ vũ của khán giả, đỉnh điểm của lực co cơ sẽ tiếp tục tăng); (2) Năng lực đồng bộ hoá của xung động phát ra tại bộ phận vận động suy giảm; (3) Sợi cơ của VĐV có tần số xung động thần kinh thấp,

Trang 31

ngưỡng hưng phấn cao; (4) Đặc tính điện cơ đồ của tế bào cơ và màng tế bào truyền dẫn kích thích bị thay đổi; (5) Khi thời gian co cơ kéo dài (a prolonged force transient) và tần số thả lỏng cơ chậm, thần kinh cảm giác phát ra tín hiệu phản hồi tới trung khu nhằm duy trì trạng thái chức năng tốt nhất của cơ bắp Hiện nay, chưa có số liệu chứng minh, bản thân xung động thần kinh đi theo đường truyền của các sợi thần kinh hoặc đường truyền thần kinh cơ sẽ chịu ảnh hưởng bất lợi của tình trạng mệt mỏi trong vận động sức bền Cho dù là trực tiếp hay qua thần kinh vận động tiến hành kích thích tới bộ phận cơ bắp

bị mệt mỏi, thì trương lực cơ sản sinh đều như nhau, Joy I.Shephard (2004)

Trong cơ bắp, đôi lúc năng lực làm việc của bơm Ca cũng bị giảm sút,

trong khi nó rất cần thiết cho sự hồi phục chức năng hệ thống huyết tương cơ

hay điểm tiếp xúc giữa thần kinh và cơ vận động Sự tích tụ Ion hydro gây ức chế mang tính cạnh tranh với quá trình kết hợp Ion Ca và troponin, vì thế không thể nào kích hoạt vai trò cầu nối của actin, đồng thời hạn chế tác dụng của men ATP vai trò hấp thụ và giải phóng Ion Ca trong huyết tương cơ

Ngoài ra, dù mang tính cục bộ hay toàn thân thì mệt mỏi do vận động đều gây

ra hiện tượng đào thải Ion K tại màng tế bào cơ vận động ra ngoài Sự đào thải

Ion K làm giảm tốc độ truyền dẫn xung động thần kinh trên màng tế bào cơ,

gây bất lợi cho quá trình truyền dẫn xung động thần kinh qua các tiểu quản

ngang và giải phóng Ion Ca trong các sợi cơ, Thomas W.Rowland (2004)

Năng lượng cung cấp không đủ:

Trong các phần trên đã đề cập các nhân tố như: Cung cấp oxy không đủ; Carbon dioxide, Ion hydro hoặc acid lactic tích tụ làm giảm hoạt tính men phân giải đường; Acid phosphoric tích tụ gây ra hiệu ứng ức chế, Dawson,

(1986), hoặc vật chất năng lượng trong các sợi cơ vận động bị cạn kiệt, đều ảnh hưởng đến tái tổng hợp ATP, làm hạn chế quá trình cung cấp năng lượng cần thiết cho cơ vận động Nhưng điều khiến người ta kinh ngạc là sự cạn kiệt

Trang 32

CP, ATP tại cục bộ cơ vận động và sự phát sinh mệt mỏi hầu như không có mối quan hệ với nhau, Thomas W.Rowland (2004).

Với cường độ hấp thụ oxy tối đa 100%, VĐV có thể duy trì vận động

trong vài phút, nhưng với những môn vận động trong thời gian dài như maraton , nếu cường độ vận động bình quân vượt quá 75% cường độ hấp thụ

oxy tối đa thì VĐV sẽ phát sinh mệt mỏi Joy, I.Shephard (2004) Lý giải

trường hợp này do cung ứng máu không đủ cho cơ vận động là không thống

nhất Khi cường độ vận động vượt quá 75% cường độ hấp thụ oxy tối đa, lượng máu cung ứng cho một số sợi cơ không đủ cung cấp lượng oxy cần thiết

cho quá trình trao đổi chất ưa khí Với các môn thể thao cường độ lớn có tính chu kỳ và co đẳng trường, do cơ co làm tăng áp lực trong cơ sẽ gây ảnh hưởng rõ đến quá trình cung ứng máu tại cục bộ cơ vận động Biện pháp khả

dĩ nhất để giải quyết vấn đề này là giảm áp lực trong cơ (chẳng hạn, trong đua

xe, sử dụng vận tốc thấp hoặc áp dụng các phương pháp huấn luyện thích hợp

để tăng cường sức mạnh của cơ bắp) Sử dụng biện pháp này giúp VĐV vận

động với cường độ vượt 75% lượng hấp thụ oxy tối đa mà không sinh mệt

mỏi Các nghiên cứu tương tự cho thấy, sau khi thực hiện 50 lần co bóp liên tục, lực co cơ đỉnh điểm giảm kéo theo tần số giảm rõ rệt

Trong tình huống thông thường, việc tích tụ carbon dioxide không gây

ảnh hưởng quá lớn sự mệt mỏi toàn thân hay cục bộ, song khi vận động với thời gian dài ở môi trường đặc biệt (chẳng hạn vận động dưới nước), tình huống sẽ khác

Trạng thái cân bằng nội môi bị phá huỷ:

Khi vận động với thời gian rất dài, trạng thái cân bằng nội môi bị rối loạn, liên quan đến hệ thống tuần hoàn, thận hoặc nội tiết Đôi khi, xuất hiện hiện tượng tăng hoặc giảm bất thường nhiệt độ cơ thể, nghiêm trọng hơn còn

Trang 33

gây rối loạn nội môi cục bộ, nhất là khi một nhóm cơ nhất định thực hiện co

cơ đẳng trương hoặc đẳng trường cường độ lớn, lặp đi lặp lại

Vấn đề chung của hệ thống tuần hoàn xuất phát từ lưu lượng máu về tim giảm Việc giảm lưu lượng máu về tim liên quan nhiều nhân tố, như: (1) Dung lượng huyết quản ngoại vi (tĩnh mạch chủ) mở rộng; (2) Ra mồ hôi nhiều (làm hao tổn dịch thể, cao có thể đạt mức 2 l/h); (3) Dịch thể xâm nhập vào cơ quan vận động (sau khi vận động toàn lực 30 phút, dịch thể xâm nhập

cơ quan vận động có thể làm tổng dung lượng máu giảm 20%); (4) Hệ thống điều tiết thần kinh nội tiết bị mệt mỏi Hậu quả chính của hiện tượng suy giảm lưu lượng máu về tim là huyết áp và lượng máu qua tim giảm, nhịp tim tăng,

dù vận động với cường độ bất kỳ, Thomas W.Rowland (2004)

Sự phát sinh vấn đề tuần hoàn cục bộ là do cơ bắp co bóp mạnh gây ảnh hưởng đến tuần hoàn máu Khi một nhóm cơ nhất định co bóp mạnh vượt quá 15% lực co cơ chủ động tối đa, lượng huyết dịch vận chuyển tới cơ sẽ suy giảm Khi lực co cơ đạt mức 70% lực co cơ chủ động tối đa, vòng tuần hoàn huyết dịch tại cơ bắp đó gần như đóng kín Khi tay vận động tại vị trí cao hơn đầu (chẳng hạn leo núi hoặc phát bóng trong bóng chuyền), do áp lực co bóp của tim giảm, tình trạng càng xấu hơn Trong tình huống này, tim cần đẩy máu tới những vị trí cao hơn bình thường, vì thế áp lực máu vận chuyển tới tay sẽ càng giảm thấp, tuy nhiên lực co cơ và tình trạng chèn ép huyết quản cục bộ sẽ không đổi theo sự thay đổi vị trí của cánh tay, Joy I.Shephard (2004)

Trong điều kiện nhiệt độ cao nếu VĐV thi đấu lặp đi lặp lại, trạng thái mất cân bằng của hệ tuần hoàn có thể kéo dài vài tuần Ở đây liên quan tới

tình trạng thiếu hụt Na và các nguyên tố vi lượng khác, theo nó là tình trạng

mất nước và suy giảm dung lượng huyết tương, Joy I.Shephard (2004)

Trang 34

Đôi khi thấy trong các môn thể thao cự ly dài, như thi đấu maraton và

siêu maraton (ultramarathon), có một số báo cáo về tình trạng suy giảm chức năng thận, kéo theo hiện tượng sốt cao bất thường Nguyên nhân căn bản của vấn đề này do trong quá trình vận động để đáp ứng đủ lượng máu cần thiết cho các bộ phận thiết yếu, dòng máu trong cơ thể buộc phải phân bố lại, khiến giảm thiểu lưu lượng máu tới thận Sự tái phân bố này có thể gây tổn thương khác, như mất cân bằng quá lâu chức năng thận sẽ rất dễ gây ra tổn thương ở thận, phản ứng viêm nhiễm quá độ , Joy I.Shephard (2004)

Hệ tuần hoàn mất cân bằng liên quan với trạng thái nhiệt độ trung tâm

cơ thể tăng cao quá độ Nhiệt độ trung tâm cơ thể cao làm máu tập trung tới

da, đồng thời giảm bớt lượng máu cung cấp cho não và cơ vận động, làm tăng cảm giác mệt mỏi và trạng thái mất cân bằng chức năng tuần hoàn, Thomas W.Rowland (2004)

Vận động với thời gian dài lặp đi lặp lại trong môi trường nóng bức sẽ dần dần tích tụ sự mệt mỏi mãn tính Sự mệt mỏi này liên quan tới tình trạng mất cân bằng nước và chất điện giải Bổ sung kịp thời, ngắt quãng trong quá trình vận động có thể giảm nhẹ và phòng tránh tình trạng nói trên

Nhiệt độ cơ thể quá thấp cũng gây mệt mỏi Trong môi trường lạnh giá, giảm thiểu tuần hoàn máu tới tứ chi, tính kết dính của cơ bắp tăng, khiến chúng hoạt động phí lực, suy giảm năng lực cảm nhận của các cơ quan cảm giác ngoại vi khiến động tác vận động lóng ngóng hơn

Mệt mỏi về tâm lý:

Sự mệt mỏi về tâm lý tuy rất khó kiểm tra định lượng nhưng thực tế vẫn tồn tại, đặc biệt với các VĐV qua kỳ huấn luyện cường độ lớn gần như vào trạng thái "huấn luyện quá độ"

Cảm giác mệt mỏi có thể xuất hiện đột ngột, nhưng phần lớn tình huống sinh ra mệt mỏi kéo dài và tăng tiến Sự xuất hiện cảm giác mệt mỏi

Trang 35

điển hình chịu ảnh hưởng của môi trường hoặc tình cảm nhiều hơn là ảnh hưởng của sinh lý Phân tích báo cáo chủ quan của VĐV Kinsman (1973) cho thấy, cảm giác mệt mỏi có 3 tình huống cơ bản là:

Mệt mỏi có tính phản xạ (projected fatigue): Cảm giác thường được

nhắc đến là chân tay mềm nhũn, cơ bắp run rẩy hoặc đau nhức; Tim đập rất mạnh, thở gấp, miệng lưỡi khô đắng, tâm trạng lo âu

Tâm trạng chán ghét nhiệm vụ (task aversion): Biểu hiện thường gặp là

ra mồ hôi nhiều, khó chịu, mong muốn được tham gia các hoạt động ngoài huấn luyện và thi đấu

Động cơ giảm (poor motivation): Biểu hiện là động cơ yếu, thiếu sức

sống và tính quyết đoán)

VĐV thường xuyên phải qua huấn luyện triền miên đơn điệu, đồng thời phải tuân theo hàng loạt hạn chế của HLV quy định, cũng như thiếu các hoạt động xã hội, khiến cho VĐV sinh ra tâm trạng chán nản và chống đối Mặc dù quá trình huấn luyện yêu cầu không ngừng nâng cao, nhưng khi thành tích của VĐV dần nâng cao mà tính khích lệ lại suy giảm, thì VĐV rất dễ rơi vào tâm trạng thất vọng Trong tình huống này, VĐV khó được khích lệ trở lại, đồng thời khó phát huy tối đa tiềm lực của bản thân Bên cạnh đó, do tính cảnh giác của VĐV suy giảm còn làm tăng chấn thương và sự cố vận động Khác với sự mệt mỏi của cơ thể, VĐV mệt mỏi về tâm lý cần đến không phải là nghỉ ngơi

mà là sự thay đổi Môi trường không vui vẻ hoặc không quen thuộc (chẳng hạn, khi thi đấu ở nước ngoài, ở độ cao hay nhiệt độ môi trường không thích ứng, nghỉ trong một khách sạn không thoải mái, mâu thuẫn với HLV, hoặc liên tiếp thất bại trong thi đấu) sẽ càng làm tâm lý của VĐV nặng nề thêm Điều này không do cơ chế sinh lý trực tiếp gây ra mà do tâm trạng chán ghét nhiệm vụ mà VĐV phải gánh vác gây ra

Trang 36

Huấn luyện ngắn ngày, vận động với cường độ nhất định không ảnh hưởng rõ tới năng lực nhận thức của VĐV Nhưng có thể khẳng định, khi đối diện với những điều kiện tương tự, VĐV có trình độ huấn luyện thấp rất dễ phát sinh mệt mỏi tâm lý, nhưng với VĐV trình độ huấn luyện cao, họ sẽ cố phát huy năng lực thích ứng mạnh do đó không gây mệt mỏi về sinh lý

Sự mệt mỏi từ góc độ y học:

Mệt mỏi do vận động gây ra trạng thái chức năng cơ thể dần dần mất cân bằng Những tổn thương liên quan gồm hiện tượng cứng cơ hoặc đau nhức cơ trong vòng vài ngày sau khi thi đấu với cường độ cao, cũng bao gồm

cả những chấn thương cơ gân mãn tính, gẫy xương do mệt mỏi, cũng như rối loạn chức năng miễn dịch Ức chế miễn dịch khiến VĐV tăng khả năng mắc các bệnh truyền nhiễm, hơn nữa từ lý luận, miễn dịch bị ức chế làm tăng nguy

cơ mắc các chứng u bướu

Vi tế bào cơ bắp bị tổn thương xét từ góc độ loại hình là các á tế bào Hiện nay, vẫn chưa rõ là, nếu vẫn tồn tại cơ chế tác dụng phụ tải, thì những tổn thương này đạt tới mức độ nào? Chúng ta cũng không rõ bao nhiêu phần

những tổn thương này do sự thiếu oxy gây nên, bao nhiêu phần do nồng độ

oxy hoạt tính tại cục bộ cơ bắp vận động gia tăng gây nên? Hellsten (1996);

Jackson (1996) Tính thẩm thấu của màng tế bào gia tăng có những biểu hiện

sau: (1) Sự cân bằng Ion thay đổi (Ion K trong cơ bắp vận động thẩm thấu ra

dịch ngoài tế bào, huyết tương cũng như các cơ quan không vận động khác);

(2) Các enzym tồn tại trong tế bào bị giải phóng vào huyết tương, như: Lactic

dehydrogenase (LDH) và creatine kinase (CK); (3) Trong nước tiểu xuất hiện

phân tử protein, Poormans (1985); Rogers (1985); Amstrong (1986)

Khi chức năng miễn dịch bị rối loạn, có thể xuất hiện một số hiện

tượng như: Suy giảm nồng độ glutamine trong máu và nồng độ acid amino

cần thiết cho sự tăng trưởng một số tế bào, Newsholme (1991), kích tố tiền

Trang 37

liệt tuyến (prostaglandin) gây ức chế với tế bào sát thương tự nhiên (tế bào NK), cũng như trạng thái tình cảm ảnh hưởng trực tiếp tới hệ miễn dịch

Sự ảnh hưởng của nhân tố trung khu và nhân tố ngoại vi tới sức bền: Các môn thể thao sức bền điển hình (chạy dài) chủ yếu chịu ảnh hưởng của các nhân tố trung khu, hay của các nhân tố ngoại vi? Đây là vấn

đề từng gây ra nhiều tranh luận Bất kể là các nhà sinh lý học hay các HLV muốn nâng cao thành tích thể thao đều rất quan tâm đến mức độ quan trọng của các nhân tố trung khu và các nhân tố ngoại vi, vì cần căn cứ vào đó để xác định trọng điểm của nghiên cứu và huấn luyện, phải chú trọng tăng cường chức năng của hệ thống tuần hoàn, hô hấp, hay tăng cường năng lực trao đổi chất của tế bào và á tế bào, Joy I.Shephard (2004)

Trong trường hợp có tham gia của phần lớn cơ bắp VĐV, lý thuyết hệ

số chuyển vận sẽ cung cấp những thông tin tin cậy để giải quyết ảnh hưởng của nhân tố trung khu trong vận động Trong khi làm thế nào để giải quyết ảnh hưởng của các nhân tố ngoại vi, có nhiều ý kiến nhưng lại bị phủ định Giả thiết, một VĐV sức bền có trọng lượng cơ vận động là 20kg, đỉnh điểm huyết lưu tại cơ bắp là 25 l/min, vậy giá trị bình quân huyết lưu tại chân của VĐV đó vào khoảng 800 ml/min Có đầy đủ lý do tin rằng, nếu tim có thể cung cấp càng nhiều lưu lượng máu cho cơ thể thì lưu lượng máu trong cơ bắp có thể đạt mức gấp 3 ~ 4 lần giá trị bình quân nói trên Các môn thể thao

ít vận dụng đến cơ bắp thì tác động của các nhân tố ngoại vi càng rõ Trong môn đua xe đạp, cơ tứ đầu đùi phải gánh vác phần lớn công việc Người chưa qua huấn luyện khi đạp xe hoặc vận động trên thiết bị xe đạp điện thường cho rằng: Nhân tố hạn chế năng lực vận động của họ không phải do chức năng tim mạch không bắt kịp nhịp vận động nên sinh ra mất sức, rối loạn tinh thần, hoạt động kém hài hoà vv mà do mệt mỏi cơ tứ đầu đùi gây nên Còn người

đã qua huấn luyện, do cơ bắp khỏe mạnh nên không dễ xuất hiện tình trạng cơ

Trang 38

bắp mệt mỏi Lấy VĐV đua xe lăn làm ví dụ, vận động chỉ dựa trên sức mạnh

của đôi tay và cơ bắp vùng vai, nhưng thể tích oxy hấp thụ tối đa vẫn có thể tương đương thể tích oxy hấp thụ tối đa của người bình thường khi chạy bục

Những môn thể thao dựa trên một nhóm cơ bắp cục bộ yêu cầu có kỹ xảo vận động nhất định, chẳng hạn, một VĐV đua xe đạp có kinh nghiệm khi thi đấu ngoài sử dụng cơ tứ đầu đùi, còn tận dụng đai bàn đạp và động tác dịch chuyển trọng tâm sang hai bên để huy động nhiều hơn các nhóm cơ khác cùng tham gia vận động, nhờ đó phòng tránh hữu hiệu trạng thái mệt mỏi ở cơ tứ đầu đùi, Joy I.Shephard (2004)

Ở môn thể thao có cường độ vận động lực lớn, thể tích cơ bắp tham gia vận động rất nhỏ, cơ bắp nhanh chóng đạt sức mạnh lớn nhất Lúc này tuần hoàn máu cục bộ hoàn toàn bị đứt đoạn, nhân tố ngoại vi sẽ là nhân tố ảnh hưởng chính Với môn cần sự tham gia của đại bộ phận cơ bắp, khi khảo sát nhân tố quyết định lượng máu đẩy ra khỏi tim cho thấy không dễ tách bạch giới hạn giữa tác động của các nhân tố trung khu và các nhân tố ngoại vi Các nhân tố quyết định lượng máu đẩy khỏi tim gồm: Tiền phụ tải của tâm thất, khả năng co bóp của cơ tim, phản ứng biến thời của tim (the chronotropic response) cũng như hậu phụ tải của tâm thất Tiền phụ tải phản ánh tình trạng máu hồi tim qua tĩnh mạch Trong ví dụ VĐV đua xe lăn, do đặc điểm một bộ phận cơ thể bị tàn phế, cơ bắp tại bộ phận đó không thể co bóp để đẩy máu đi, khiến huyết dịch tích tụ tại bộ phận tàn phế, giảm thiểu tiền phụ tải cho tâm thất co bóp Qua ví dụ này thấy, nhân tố ngoại vi (cơ bắp co bóp) sẽ sản sinh tác dụng với nhân tố trung khu (chức năng hệ thống tim mạch) Trong quá trình vận động, do thần kinh giao cảm hứng phấn làm tăng cường khả năng co bóp của cơ tim, lượng máu đẩy ra khỏi tim tăng nhanh, tính biến thời của nhịp tim tăng có khả năng lớn do thần kinh giao cảm -  thực hiện Tuy nhiên, một

số nhà nghiên cứu cho rằng, phản ứng ngoại vi của cục bộ tứ chi do huấn

Trang 39

luyện gây ra có thể kéo theo tác dụng điều tiết quan trọng với các phản ứng nói trên của tim mạch Khi nhóm cơ vận động mạnh giảm đi, những kích thích ngoại vi của cơ quan truyền cảm giác vận động (ergoreceptor) hoặc giả trung khu phát lệnh tới cơ vận động sẽ yếu đi, những xung động phát đi từ não bộ, trung khu huyết quản cũng giảm theo Cuối cùng, huyết áp toàn thân tăng cao do vận động gây nên ảnh hưởng lớn tới mức độ hậu phụ tải (trở lực

mà huyết quản co bóp gặp phải) Những ảnh hưởng này phải dựa trên lực co bóp của cơ vận động sinh ra lớn hay nhỏ (tương đương tỷ lệ phần trăm của lực tự co bóp tối đa), và sức mạnh của cơ bắp cục bộ đó Phân tích một cách tổng hợp, nếu phân định quá tuyệt đối nhân tố hạn chế trung khu và ngoại vi,

và tính linh hoạt, biến hoá nhanh các kỹ thuật đánh Song song với nó là sức mạnh tốc độ, sức bền chuyên môn của VĐV Vật tự do phải đạt trình độ cao

đủ sức duy trì các hiệp thi đấu căng thẳng trong mỗi trận đấu Không những thế, mỗi ngày VĐV phải thi đấu nhiều trận mới vào tới trận chung kết

Các tố chất thể lực gồm sức nhanh, sức mạnh, sức bền, mềm dẻo, khéo léo và phối hợp vận động được hình thành, phát triển qua tập luyện, có quan

hệ chặt chẽ với kỹ năng vận động và mức độ phát triển của các cơ quan nội tạng cơ thể Do ảnh hưởng của tập luyện nên các tố chất thể lực ngày càng nâng cao để thích nghi với LVĐ lớn tác động lên cơ thể trong mỗi chu kỳ huấn luyện

Trang 40

Trong Vật tự do, sức nhanh thể hiện ở tốc độ phản ứng của kỹ thuật và

di chuyển tránh né các kỹ thuật đánh của đối phương Tình huống thi đấu diễn

ra rất nhanh, biến hoá, đòi hỏi VĐV phải có khả năng phán đoán nhanh nhạy, phương án và chiến thuật hợp lý Tố chất tốc độ và sức mạnh tốc độ trong môn Vật tự do vô cùng quan trọng, quyết định thành tích thi đấu của VĐV Sức mạnh tốc độ là biểu hiện đặc trưng của môn Vật tự do, tại những thời điểm quyết định VĐV phải có kỹ thuật đánh nhanh mạnh nhằm kết thúc trận đấu hoặc đưa đối phương vào thế bị động Kỹ thuật được tính điểm khi VĐV thực hiện kỹ thuật đó chuẩn, có sức mạnh nhất định để đối phương mất thăng bằng Nếu một kỹ thuật đánh chuẩn nhưng chưa đủ mạnh sẽ không ghi được điểm Trong quá trình huấn luyện, phải chú trọng nhiều đến sức mạnh tốc độ và có bài tập thích hợp để nâng cao khả năng sức mạnh tốc độ cho VĐV

Sức bền chuyên môn của VĐV Vật tự do vô cùng quan trọng, phải rèn luyện thường xuyên để thích ứng được với hoạt động thi đấu căng thẳng và kéo dài Một trận thi đấu Vật tự do được tiến hành trong 2 đến 3 hiệp Trong một hiệp thi đấu VĐV có thể thực hiện hàng chục kỹ thuật, nên sức bền VĐV kém không thể đạt hiệu suất thi đấu cao ở những hiệp đấu cuối

1.3.2 Quy luật phát triển cơ thể thanh thiếu niên

Quy luật phát triển cơ thể người từ 0 đến 18 tuổi và các vấn đề có liên quan đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu, Đào Ngọc Phong, Nguyễn Văn Tường (2004)…

Các quy luật về sự phát triển tâm sinh lý và thể lực

Tuổi càng nhỏ thì phát triển càng mạnh

Các thông số hay được sử dụng trong đánh giá thể lực là chiều cao, vòng ngực, cân nặng, trong đó chiều cao và vòng ngực là thông số bền vững

Ngày đăng: 28/06/2017, 10:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
7. Dương Nghiệp Chí (2007), “Thuật ngữ thể dục thể thao và nội hàm”, Tạp chí khoa học thể thao, Viện Khoa học TDTT, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuật ngữ thể dục thể thao và nội hàm
Tác giả: Dương Nghiệp Chí
Năm: 2007
8. Dương Nghiệp Chí (1987), “Phương pháp lập test đánh giá khả năng tập luyện trong thể thao”, Bản tin KHKT TDTT, Viện Khoa học TDTT, (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp lập test đánh giá khả năng tập luyện trong thể thao
Tác giả: Dương Nghiệp Chí
Năm: 1987
28. Nhiệm Bảo Liên (2/1999), “Kiểm tra sức khỏe, vấn đề các cầu thủ bóng đá cần quan tâm”, Tạp chí Tiyu Wenhua, (Tài liệu dịch) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm tra sức khỏe, vấn đề các cầu thủ bóng đá cần quan tâm
31. G.Macximenco (1980), “Tố chất thể lực và thành tích” Bản tin KHKT TDTT, Viện Khoa học TDTT, (6), tr 20-23, (Tài liệu dịch) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tố chất thể lực và thành tích
Tác giả: G.Macximenco
Năm: 1980
32. Phan Hồng Minh, Nguyễn Kim Minh, Lê Quý Phượng (1996), “Tuyển chọn VĐV thể thao”, Thông tin KHKT TDTT, Viện Khoa học TDTT, (5+6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển chọn VĐV thể thao
Tác giả: Phan Hồng Minh, Nguyễn Kim Minh, Lê Quý Phượng
Năm: 1996
34. Nguyễn Kim Minh (2002), “Hệ thống test đánh giá tình trạng thể chất con người khối cộng đồng Châu Âu”, Thông tin khoa học kỹ thuật TDTT, (2), tr 18-22. (Tài liệu dịch) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống test đánh giá tình trạng thể chất con người khối cộng đồng Châu Âu
Tác giả: Nguyễn Kim Minh
Năm: 2002
43. Nguyễn Văn Phú, Lê Quý Phượng (2000), “Đánh giá chức năng hệ tim mạch của VĐV đội dự tuyển bóng đá quốc gia U19 thông qua chỉ số công năng tim”. Báo cáo khoa học, Trung tâm y học thể thao Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá chức năng hệ tim mạch của VĐV đội dự tuyển bóng đá quốc gia U19 thông qua chỉ số công năng tim
Tác giả: Nguyễn Văn Phú, Lê Quý Phượng
Năm: 2000
48. Vũ Thành Sơn (1994), “Xây dựng nội dung tuyển chọn VĐV bóng bàn”, Tuyển tập nghiên cứu KHTDTT, Nxb TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng nội dung tuyển chọn VĐV bóng bàn
Tác giả: Vũ Thành Sơn
Nhà XB: Nxb TDTT
Năm: 1994
60. Uỷ ban TDTT (1997), “Một số vấn đề tuyển chọn và dự báo năng khiếu của các VĐV trẻ”, Bản tin KHKT TDTT, (3), Viện Khoa học TDTT, tr 11-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề tuyển chọn và dự báo năng khiếu của các VĐV trẻ
Tác giả: Uỷ ban TDTT
Năm: 1997
61. Uỷ ban TDTT (1981), “Những con đường tìm kiếm và tuyển chọn tài năng”, Bản tin KHKT TDTT, (5), Viện Khoa học TDTT, tr 19- 21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những con đường tìm kiếm và tuyển chọn tài năng
Tác giả: Uỷ ban TDTT
Năm: 1981
62. Uỷ Ban TDTT (1982), “Những nguyên tắc của một quan điểm hiện đại về hệ thống đào tạo trong thể thao và đường lối nâng cao thể thao”, Bản tin KHKT TDTT, (12), Viện Khoa học TDTT, tr 12-21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nguyên tắc của một quan điểm hiện đại về hệ thống đào tạo trong thể thao và đường lối nâng cao thể thao
Tác giả: Uỷ Ban TDTT
Năm: 1982
1. Nguyễn Hữu An (2001), Nghiên cứu một số test sư phạm trong tuyển chọn VĐV Taekwondo trẻ lứa tuổi 12-14, Luận văn cao học, Bắc Ninh Khác
2. Nguyễn Đương Bắc (2006), Nghiên cứu các bài tập phát triển sức bền đối với VĐV nam 15 - 17 tuổi, (dẫn chứng ở môn karate-do), Luận án tiến sỹ giáo dục học, Hà Nội Khác
3. Lương Duyên Bình (2004), Vật lý đại cương, Nxb giáo dục, Hà Nội Khác
4. Lê Bửu, Nguyễn Thế Truyền, (1991): Lý luận và phương pháp thể thao trẻ, Sở TDTT TP.HCM Khác
5. Dương Nghiệp Chí và cộng sự (2004), Đo lường thể thao, Nxb TDTT, Hà Nội Khác
6. Dương Nghiệp Chí, Nguyễn Danh Thái (2003), Công nghệ đào tạo VĐV trình độ cao, Nxb TDTT, Hà Nội Khác
9. Nguyễn Ngọc Cừ, Dương Nghiệp Chí (2002), Huấn luyện thể thao với trao đổi chất và chuyển hóa năng lượng trong cơ thể, tài liệu dùng cho cao học và nghiên cứu sinh Khác
10. Đàm Quốc Chính (2000), Nghiên cứu khả năng phù hợp tập luyện (dưới góc độ sư phạm) nhằm góp phần nâng cao hiệu quả tuyển chọn và dự báo thành tích của VĐV trẻ chạy 100m ở Việt Nam, Luận án tiến sỹ giáo dục học, Hà Nội Khác
12. Nguyễn Văn Chung, Vũ Xuân Long (1999), Giáo trình Taekwondo, Nxb TDTT, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w