Điều 20, Luật Thể dục, Thể thao đã ghi: “GDTC là môn học chính khoá thuộc chương trình giáo dục nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản cho người học thông qua các bài tập và tr
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
-
MA THỊ NGẦN
NGHIÊN CỨU THIẾT KẾ CÁC MÔN THỂ THAO TỰ CHỌN
CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC VIỆT BẮC
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI, NĂM 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI -
MA THỊ NGẦN
NGHIÊN CỨU THIẾT KẾ CÁC MÔN THỂ THAO TỰ CHỌN
CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC VIỆT BẮC
Chuyên ngành: Giáo dục thể chất
Mã số: 60.14.01.03
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS Phạm Viết Vượng
HÀ NỘI, NĂM 2017
Trang 3i
CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào
Hà Nội, tháng 6 năm 2017
Tác giả luận văn
Ma Thị Ngần
Trang 4ii
LỜI CẢM ƠN
Với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Việt Bắc, Ban chủ nhiệm khoa Khoa học cơ bản, Bộ môn Giáo dục thể chất, các thầy giáo, cô giáo trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã giảng dạy và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS.Phạm Viết Vượng, người trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn Mặc dù đã cố gắng rất nhiều, song luận văn không thể trách khỏi những thiếu sót, kính mong được các thầy giáo, cô giáo, các bạn đồng nghiệp chỉ bảo để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 6 năm 2017
Tác giả luận văn
Ma Thị Ngần
Trang 6iv
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SÔ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Xây dựng chương trình giáo dục bằng phương pháp tiếp cận mục tiêu 19 Bảng 2.1 Các ngành và chuyên ngành được đào tạo tại ĐH Việt Bắc 28 Bảng 2.2 Đội ngũ giảng viên Bộ môn GDTC của Trường Đại học Việt Bắc 30 Bảng 2.3 Thực trạng cơ sở vật chất của Bộ môn GDTC Trường Đại học Việt Bắc 31 Bảng 2.4 Chương trình môn học GDTC của trường ĐH Việt Bắc 32 Bảng 2.5 Kết quả phỏng vấn cán bộ quản lý, giảng viên về thực trạng chương trình môn học GDTC của Trường Đại học Việt Bắc(n = 25) 36 Bảng 2 6 Kết quả phỏng vấn nhận thức của SV về công tác giảng dạy môn
GDTC của Trường Đại học Việt Bắc (n=250) 37
Bảng 2.7 Kết quả phỏng vấn về tập luyện ngoại khóa của sinh viên Trường Đại học Việt Bắc 39 Bảng 2.8.Thực trạng kết quả học tập môn GDTC của sinh viên Trường Đại học Việt Bắc ( n = 400; 200 SV nam và 200 SV nữ) 41 Bảng 2.9 Thực trạng thể lực của sinh viên Trường Đại học Việt Bắc 42 Bảng 2.10 Tổng hợp kết quả kiểm tra đánh giá năng lực rèn luyện thân thể của sinh viên Đại học Việt Bắc 43 Bảng 3 1 Kết quả phỏng vấn CBGV và SV về sự cần thiết, số lượng môn thể thao tự chọn và các yêu cầu khi xây dựng chương trình phần tự chọn môn GDTC cho SV Trường Đại học Việt Bắc 47 Bảng 3.2 Khảo sát ý kiến của SV về việc lựa chọn các môn thể thao tự chọn đưa vào chương trình môn học GDTC cho phù hợp với SV Trường Đại học Việt Bắc (n=500) 50
Trang 7v
Bảng 3.3 Khảo sát ý kiến của GV trong bộ môn GDTC về việc lựa chọn các môn thể thao tự chọn đưa vào chương trình môn học GDTC phù hợp với SV Trường Đại học Việt Bắc (n=7) 51 Bảng 3.4 Kế hoạch học tập chương trình phần tự chọn 55 Bảng 3.5: Nội dung giảng dạy môn Cầu lông 58 Bảng 3.6 Phân phối chương trình phần tự chọn môn GDTC cho SV trường Đại học Việt Bắc 60 Bảng 3.7 Kết quả đánh giá của cán bộ quản lý và GV bộ môn GDTC về
chương trình phần tự chọn môn GDTC cho SV trường Đại học Việt Bắc
(CBQL: n=25; GV: n=8) 61 Bảng 3.8 Kết quả khảo sát SV về năng khiếu, sở thích, và phong trào thể thao của địa phương về môn cầu lông (n=300) 64 Bảng 3.9 Tổng hợp kết quả để lựa chọn nhóm SV thực nghiệm và nhóm SV đối chứng 65 Bảng 3.10 Tiến trình thực nghiệm của nhóm thực nghiệm ở nội dung môn Cầu lông tự chọn 67 Bảng 3.11 Kết quả học tập môn GDTC trước thực nghiệm của SV hai nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm 68 Bảng 3.12 Kết quả học tập kỹ thuật môn Cầu lôngcủa SV nhóm TN và ĐC sau thực nghiệm 69 Bảng 3.13 Đánh giá kết quả học tập môn GDTC sau thực nghiệm của 2 nhóm thực nghiệm và đối chứng 70 Bảng 3.14 So sánh kết quả học tập của nhóm TN và nhóm ĐC thông qua số
SV giỏi và yếu kém 71 Bảng 3.15 Kết quả phỏng vấn CBGV, SV sau khi dạy và học chương trình phần tự chọn môn GDTC cho SV Trường Đại học Việt Bắc 72
Trang 8vi
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iii
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SÔ ĐỒ, BIỂU ĐỒ iv
MỤC LỤC vi
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 4
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 4
3.1 Đối tượng nghiên cứu 4
3.2 Khách thể nghiên cứu 5
4 Giả thuyết khoa học 5
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 5
7 Phương pháp nghiên cứu 5
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết 6
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn 6
7.2.1 Phương pháp quan sát sư phạm 6
7.2.2 Phương pháp khảo sát 6
7.2.3.Phương pháp phỏng vấn trực tiếp 6
7.2.4 Phương pháp bảng hỏi 6
7.2.5 Phương pháp kiểm tra sư phạm 7
7.2.6 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 7
7.3 Nhóm phương pháp hỗ trợ 7
8 Những đóng góp mới của đề tài 9
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THIẾT KẾ CHƯƠNG TRÌNH THỂ THAO TỰ CHỌN TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC 10
Trang 9vii
1.1 Quan điểm của Đảng, Nhà nước về thể dục thể thao và giáo dục thể chất
trong nhà trường 10
1.2 Tổng quan các nghiên cứu về giáo dục thể chất trong trường đại học 12
1.3 Chương trình giáo dục thể chất ở các trường đại học 13
1.4 Lý thuyết về thiết kế chương trình giáo dục 15
1.4.1 Chương trình giáo dục 15
1.4.2 Các phương pháp tiếp cận xây dựng chương trình giáo dục 17
1.4.3 Quy trình thiết kế chương trình giáo dục 21
1.5 Phát triển chương trình giáo dục 22
1.6 Thiết kế chương trình môn học tự chọn 24
1.6.1 Chương trình môn học tự chọn 24
1.6.2 Mục tiêu xây dựng chương trình môn học tự chọn 25
1.6.3 Quy trình xây dựng chương trình môn học tự chọn 25
1.6.4 Cấu trúc chương trình môn học tự chọn 25
Kết luận chương 1 26
Chương 2: THỰC TRẠNG CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC THỂ CHẤT Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC VIỆT BẮC 28
2.1 Giới thiệu về Trường Đại học Việt Bắc 28
2.2 Thực trạng chương trình, kế hoạch giảng dạy môn học Giáo dục thể chất tại Trường Đại học Việt Bắc 30
2.2.1 Nhiệm vụ và tổ chức của Bộ môn Giáo dục thể chất 30
2.2.2 Thực trạng đội ngũ giảng viên giáo dục thể chất tại Trường Đại học Việt Bắc 30
2.2.3 Thực trạng về cơ sở vật chất của Trường Đại học Việt Bắc 31
2.2.4 Chương trình đào tạo môn học Giáo dục thể chất của Trường Đại học Việt Bắc 32
2.2.5 Thực trạng kết quả học tập môn GDTC của SV Trường Đại học Việt Bắc 41
Kết luận chương 2 45
Trang 10viii
Chương 3: THIẾT KẾ VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CÁC MÔN THỂ THAO
TỰ CHỌN ĐỂ ĐƯA VÀO GIẢNG DẠY Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC VIỆT BẮC
47
3.1 Thiết kế các môn thể thao tự chọn cho sinh viên trường Đại học Việt Bắc 47
3.1.1 Lựa chọn các môn thể thao tự chọn 47
3.1.2 Đánh giá việc đáp ứng giảng dạy 4 môn thể thao tự chọn của Trường Đại học Việt Bắc 52
3.2 Thiết kế chương trình thể thao tự chọn cho sinh viên Trường Đại học Việt Bắc 53
3.2.1 Mục tiêu chung của chương trình tự chọn 53
3.2.2 Mục tiêu cụ thể của chương trình tự chọn 54
3.2.3 Thời lượng của chương trình 55
3.2.4 Nội dung và phân bổ thời gian của chương trình phần tự chọn 55
3.2.5 Hình thức thực hiện chương trình tự chọn 59
3.2.6 Yêu cầu kiểm tra, đánh giá kết quả học tập 59
3.2.7 Hướng dẫn thực hiện chương trình tự chọn 59
3.3 Đánh giá của chuyên gia đối với chương trình phần tự chọn 61
3.4 Thực nghiệm chương trình phần tự chọn môn GDTC 62
3.4.1 Mục đích đánh giá thực nghiệm 62
3.4.2 Lựa chọn môn thể thao để tiến hành thực nghiệm 63
3.4.3 Lựa chọn đối tượng tham gia thực nghiệm 63
3.4.4 Tiến trình tiến hành thực nghiệm 66
3.4.5.Kết quả kiểm tra trước thực nghiệm 68
Kết luận chương 3 74
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 75
KẾT LUẬN 75
KIẾN NGHỊ 75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 11Điều 20, Luật Thể dục, Thể thao đã ghi: “GDTC là môn học chính khoá thuộc chương trình giáo dục nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản cho người học thông qua các bài tập và trò chơi vận động, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện; Hoạt động thể thao trong nhà trường là hoạt động tự nguyện của người học được tổ chức theo phương thức ngoại khoá phù hợp với sở thích, giới tính, lứa tuổi và sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người học thực hiện quyền vui chơi, giải trí, phát triển năng khiếu thể thao” cho HS,
SV những chủ nhân tương lai của đất nước [23]
Chương trình GDTC trong các trường đại học quy định điểm thi các môn học không tính vào điểm trung bình chung của khoá học và không sử dụng
để xếp loại tốt nghiệp, nhưng là điều kiện để được công nhận tốt nghiệp Sinh viên phải có kết quả thi ở mức đạt và được cấp chứng chỉ môn học thì mới đủ điều kiện để tốt nghiệp khoá học
Chương trình giáo dục thể chất đối với các trường đại học không chuyên thể dục thể thao được Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định gồm hai phần: phần thứ nhất là các môn học bắt buộc, phần thứ hai là các môn học tự chọn (hay học phần tự chọn) do các trường tự xây dựng
Hiện nay các trường đại học xây dựng các môn thể thao tự chọn dựa trên các yếu tố sau đây:
- Một là, điều kiện cơ sở vật chất sẵn có của nhà trường Trường nào có sân bóng đá tốt thì chọn môn Bóng đá làm một môn thể thao tự chọn; có sân
Trang 122
tennis tốt thì chọn môn Tennis làm một môn tự chọn; có sân bóng chuyền tốt thì chọn môn Bóng chuyền làm một môn tự chọn v.v… Còn trường nào không có các điều kiện như trên thì chọn các môn dễ thực hiện như chạy, nhảy cao, nhảy
xa, đá cầu, cầu lông v.v…
- Hai là, có giảng viên được đào tạo các môn chuyên sâu thì chọn các môn đó làm môn tự chọn Thí dụ: một trường có 6 thầy được đào tạo chuyên sâu, một thầy chuyên môn là Bóng đá, 2 thầy chuyên môn về võ Teakwondo, 1 thầy chuyên môn về Bóng chuyền, một thầy chuyên môn về Cầu lông, thì trường này chọn 4 môn thể thao tự chọn là: Võ Teakwondo, Bóng chuyền, Bóng
đá và Cầu lông
- Ba là, dựa trên phong trào thể dục thể thao nổi bật của trường và của địa phương Thí dụ: một trường đại học hay ở địa phương có phong trào chơi bóng chuyền, thì môn bóng chuyền được lựa chọn làm học phần tự chọn
- Đôi khi việc lựa chọn môn thể thao còn dựa trên sở thích của một số người, đặc biệt là lãnh đạo nhà trường và các khoa chuyên môn
- Thậm chí một số trường không có học phần nào để sinh viên lựa chọn
mà ấn định sẵn một số môn cho sinh viên học
Qua khảo sát cách xây dựng các học phần tự chọn của một số trường đại học, chúng tôi nhận thấy:
- Vẫn tồn tại một thực tế là nhà trường dạy cái gì mà nhà trường đang
có, chứ không dạy cái gì mà sinh viên đang cần, điều này trái với quan điểm dạy học lấy sinh viên làm trung tâm
- Các môn học tự chọn không dựa trên sở thích, năng khiếu và đặc điểm tâm, sinh lý của sinh viên, vì vậy không thể phát hiện được năng khiếu và không phát huy được sở trường của sinh viên
- Các học phần tự chọn của các trường cũng chưa chú ý đến đặc điểm
về vùng miền, dân tộc, kinh tế, văn hóa, xã hội mà sau khi tốt nghiệp sinh viên
sẽ về làm việc
Trang 133
Mục đích việc xây dựng các học phần tự chọn trong chương trình giáo dục thể chất là tạo điều kiện cho sinh viên được học môn thể thao ưa thích và có năng khiếu, theo đúng sở trường của mình để phát triển tiềm năng sẵn có Sinh viên được học các học phần tự chọn sẽ đam mê hơn, tích cực hơn và vì thế có thể nâng cao được kết quả học tập môn học và nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường, giúp các em phát huy được thế mạnh, để có thể tham gia tích cực vào các phong trào thể dục thể thao của cơ quan, doanh nghiệp và địa phương sau tốt nghiệp
Đối với nhiều trường đại học ở nước ngoài, môn học GDTC không đưa vào chương trình giảng dạy chính khóa, mà chủ yếu được tổ chức thông qua các hoạt động ngoại khoá, mỗi sinh viên được chơi những môn thể thao ưa thích và
có năng khiếu, nên có hiệu quả rất cao
Hiện nay một số trường đại học đã thiết kế chương trình môn học tự chọn như sau:
- Trường Đại học dân lập Hải Phòng: cầu lông, bóng đá, bóng chuyền, bóng rổ [8]
- Đặc biệt là trường Đại học FPT chỉ chọn một môn thể thao trong học phần tự chọn là môn Võ (Vovinam) và Trường rất tự hào là một Võ đường lớn nhất Việt Nam với hơn 5.000 võ sinh[6]
- Trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp, Đại học Thái Nguyên: Không
có học phần tự chọn mà thay vào đó là 2 môn thể thao bắt buộc là Bóng đá và Bóng chuyền[7]
- Trường Đại học KHXH&NV - Đại học Quốc gia HCM: Chương trình đào tạo môn học GDTC gồm 5 tín chỉ, kết cấu thành 3 học phần tự chọn (không
có học phần bắt buộc) gồm 7 môn thể thao (Taekwondo, Bóng bàn, Bơi, Bóng
rổ, Cầu lông, Bóng chuyền, Bóng đá)[8]
- Trường Đại học Thuỷ lợi: Chương trình môn học GDTC được chia thành 2 học phần: Học phần 1 (2 TC) là học phần bắt buộc theo Quy định của
Trang 144
BGD&ĐT; Học phần 2 (2 TC) là học phần tự chọn gồm các môn thể thao: Bơi (bắt buộc), Bóng chuyền, Bóng đá, Bóng rổ, Cầu lông, Điền kinh, Cờ vua, Cờ tướng[4]
- Đại học Nha Trang: Chương trình môn học GDTC 3 TC, được chia làm 2 học phần gồm: Học phần 1 (1 TC) là học phần bắt buộc; Học phần 2 (2 TC) học phần tự chọn, gồm các môn thể thao: Bơi lội, Bóng chuyền, Bóng đá, Cầu lông, Võ thuật[5]
Trường Đại học Việt Bắc trong những năm qua đã được lãnh đạo quan tâm đến công tác TDTT và giảng dạy môn học GDTC cho SV Tuy nhiên, do nhà trường mới thành lập được 5 năm, cho nên các học phần xây dựng chưa thật phù hợp với vùng miền và chưa đáp ứng được nhu cầu, nguyện vọng của SV vì vậy cần được nghiên cứu điều chỉnh
Xuất phát từ những lý do trên, là giảng viên của của trường Đại học Việt Bắc, với mong muốn góp phần hoàn thiện chương trình giảng dạymôn học
Giáo dục thể chất của nhà trường, tôi chọn đề tài :"Nghiên cứu thiết kế các
môn thể thao tự chọn cho sinh viên Trường Đại học Việt Bắc” làm luận văn
cao học
2 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở khảo sát thực trạng giảng dạy học phần tự chọn trong chương trình giảng dạy môn học giáo dục thể chất của một số trường đại học và Trường Đại học Việt Bắc, thực trạng cơ sở vật chất phục vụ cho thể dục, thể thao và đặc điểm tâm, sinh lý của sinh viên Đề tài nghiên cứu thiết kế các môn thể thao tự chọn để đưa vào giảng dạy tại Trường Đại học Việt Bắc, nhằm góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả môn học giáo dục thể chất và chất lượng đào tạo của nhà trường nói chung
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Thiết kế chương trình thể thao tự chọn ở trường Đại học Việt Bắc
Trang 155
3.2 Khách thể nghiên cứu
Chương trình giáo dục thể chất ở các trường đại học
4 Giả thuyết khoa học
Giả thuyết rằng các môn thể thao đang được giảng dạy tại Trường Đại học Việt Bắc chưa đáp ứng được hết và phù hợp với đặc điểm tâm, sinh lý sinh viên, kết quả học tập chưa cao và tác dụng đối với thực tế cuộc sống sau khi tốt nghiệp chưa tốt Nếu lựa chọn và thiết kế được các môn thể thao tự chọn phù hợp với với đặc thù của sinh viên và điều kiện cơ sở vật chất của Trường Đại học Việt Bắc thì sẽ nâng cao chất lượng môn học giáo dục thể chất trong Nhà trường
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ 1: Nghiên cứu cơ sở lý thuyết về thiết kế chương trình thể
thao tự chọn
Nhiệm vụ 2: Khảo sát thực trạng chương trình, kế hoạch giảng dạy môn
học giáo dục thể chất và thực trạng hứng thú học tập các môn thể thao của sinh viên Trường Đại học Việt Bắc
Nhiệm vụ 3: Lựa chọn thiết kế các môn thể thao tự chọn và đánh giá
hiệu quả của các môn thể thao tự chọn đối với sinh viên Trường Đại học Việt Bắc
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Đề tài nghiên cứu thiết kế các môn thể thao tự chọn cho Trường Đại học Việt Bắc
- Khảo sát thực trạng giảng dạy các môn học GDTC ở một số trường đại học ở miền Bắc trong những năm gần đây
7 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu đề tài đã sử dụng các nhóm phương pháp nghiên cứu sau đây:
Trang 166
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Đề tài sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa lý thuyết với mục đích xây dựng cơ sở lý thuyết về thiết kế chương trình các môn học tự chọn cho chương trình Giáo dục thể chất ở các trường đại học
Các tài liệu được nghiên cứu bao gồm có: các chủ trương của Đảng và Nhà nước về TDTT, các văn bản pháp quy của Bộ Giáo dục và Đào tạo về giáo dục thể chất trong các trường đại học, cao đẳng, các công trình nghiên cứu về tâm lý, sinh lý học, y học… và các tài liệu khác liên quan tới giáo dục thể chất
và thể dục thể thao
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp quan sát sư phạm
Quan sát các hoạt động dạy và học của giảng viên và sinh viên trong giờ học chính khoá và các hoạt động TDTT ngoài giờ học
7.2.2 Phương pháp khảo sát
Khảo sát trang thiết bị đồ dùng dạy học, dụng cụ, sân bãi tập luyện, nhằm thu thập thông tin thực hiện đề tài
7.2.3.Phương pháp phỏng vấn trực tiếp
Phỏng vấn các chuyên gia, các nhà quản lý, giảng viên về sự cần thiết
và các yêu cầu của việc xây dựng nội dung chương trình đào tạo nói chung và xây dựng chương trình môn học tự chọn GDTC nói riêng để đáp ứng mục tiêu đào tạo mà nhà trường
Phỏng vấn một số SV K2, K3, K4 của Trường Đại học Việt Bắc về chương trình môn học GDTC hiện hành, điều kiện tập luyện và nhu cầu của SV
Trang 177
7.2.5 Phương pháp kiểm tra sư phạm
Sử dụng phương pháp kiểm tra các chỉ số của cơ thể, nhằm đánh giá hình thái, chức năng, trình độ phát triển thể lực và kết quả học tập của sinh viên thuộc nhóm nghiên cứu
7.2.6 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Phương pháp thực nghiệm sư phạm được sử dụng để kiểm chứng hiệu quả của các biện pháp đề xuất giữa nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng Cụ thể:
- Nhóm thực nghiệm là nhóm SV học theo học phần tự chọn mới
- Nhóm đối chứng là nhóm SV học theo học phần bắt buộc cũ
7.3 Nhóm phương pháp hỗ trợ
Đề tài sử dụng các công thức thống kê trong các tài liệu [36] [4] để xử
lý các số liệu và thông tin thu nhận được trong quá trình nghiên cứu
Các công thức được đề tài sử dụng là:
Giá trị số trung bình:
n
x x
n: là số đối tợng quan sát Σ: là kí hiệu tổng cộng
Trang 188
+ Nếu Cv ≤ 10% số liệu đám đông tương đối đồng đều
- Kiểm tra tính đại diện của số trung bình:
ε = 𝑡0,05 𝛿
𝑋̅.√𝑛
Kết quả:
ε≤ 0,05 là số trung bình đại diện được cho số trung bình tổng thể
ε> 0,05 là số trung bình không đại diện được cho số trung bình tổng thể
-Công thức tính tỷ lệ %: Tỷ lệ %
- Công thức tính nhịp độ tăng trưởng:
) (
5
V V W
Trong đó: V1: Thành tích trước thực nghiệm
V2: Thành tích sau thực nghiệm
- Chỉ số (t) Student so sánh hai giá trị trung bình quan sát:
Với hai mẫu độc lập
𝑡 = |𝑋̅1−𝑋̅2|
√ 𝛿12
𝑛1 +
𝛿22𝑛2
Với n≥ 30
Trong đó: t: là chỉ số t-student
n1, n2: số cá thể được quan sát của hai tập hợp mẫu tương ứng
Với 2 mẫu có liên quan t = 𝑿̅𝒅
𝜹𝒅√𝒏 Trong đó: d là giá trị gia tăng
Trang 19+ Nếu S (+, -) >S bảng thì sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê
+ Nếu S (+, -) ≤ S bảng thì sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
+ Đề tài sử dụng phần mềm Excel đã được xây dựng trên máy tính
8 Những đóng góp mới của đề tài
- Thiết kế chương trình các môn thể thao tự chọn để nâng cao chất lượng giáo dục thể chất nói riêng và chất lượng đào tạo ở Trường Đại học Việt Bắc
- Chương trình này có thể áp dụng cho các trường đại học không chuyên thể thao khác
Trang 2010
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THIẾT KẾ CHƯƠNG TRÌNH THỂ THAO
TỰ CHỌN TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC
1.1 Quan điểm của Đảng, Nhà nước về thể dục thể thao và giáo dục thể chất trong nhà trường
Ngay từ khi nước ta mới giành được độc lập, cùng với chủ trương diệt giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm, Bác Hồ đã kêu gọi toàn dân tập thể dục
Bác viết: "Giữ gìn dân chủ xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khỏe mới thành công, mỗi một người dân yếu ớt là làm cho cả nước yếu ớt một phần, mỗi người dân mạnh khỏe tức là góp phần cho cả nước mạnh khỏe Vậy, rèn luyện tập thể dục, bồi bổ sức khỏe là bổn phận của mỗi người dân yêu nước" [22]
Tư tưởng của Bác đã đặt nền móng cho sự nghiệp TDTT nước nhà, Đảng
và Nhà nước coi phát triển TDTT là một công tác cách mạng, vừa là nhu cầu, vừa là quyền lợi, vừa là nghĩa vụ của quần chúng, một sự nghiệp của toàn dân,
do dân và vì dân Mục tiêu của TDTT là bảo vệ và tăng cường sức khỏe của nhân dân, góp phần cải tạo nòi giống Việt Nam làm cho dân cường, nước thịnh
Ngay từ Đại hội VI Đảng đã có chủ trương: “Mở rộng và nâng cao chất lượng phong trào TDTT quần chúng, từng bước đưa việc rèn luyện thân thể thành thói quen hàng ngày của đông đảo nhân dân, trước hết là thế hệ trẻ Nâng cao chất lượng GDTC trong trường học đáp ứng sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” [1]
Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ghi: “Nhà trường và xã hội có trách nhiệm chăm lo tới sự phát triển thể chất cho thế hệ trẻ Việt Nam được phát triển toàn diện, nhằm góp phần đẩy mạnh quá trình cải tạo nòi giống và sự phát triển của đất nước” [15]
Pháp lệnh TDTT, Điều 14 đã khẳng định: “Giáo dục thể chất trong trường học là chế độ giáo dục bắt buộc nhằm tăng cường sức khỏe, phát triển
Trang 2111
thể chất, góp phần hình thành và bồi dưỡng nhân cách, đáp ứng yêu cầu giáo dục toàn diện cho người học” Điều 16 cũng đã nêu rõ: “Nhà trường có trách nhiệm thực hiện chương trình GDTC cho người học Tổ chức hoạt động Thể thao ngoại khoá, xây dựng cơ sở vật chất cần thiết đáp ứng việc giảng dạy và hoạt động Thể dục thể thể thao trong nhà trường” [24]
Luật Thể dục thể thao ra đời đã thể chế hóa nhiều chủ trương của Đảng và Nhà nước đã tạo ra môi trường pháp lý, tăng cường kỷ cương, xây dựng một xã hội văn minh trong lĩnh vực thể dục thể thao [23]
Chủ trương của Đảng ta về TDTT trong thời kỳ đổi mới là: “xây dựng chiến lược quốc gia về nâng cao sức khỏe, tầm vóc con người Việt Nam, tăng tuổi thọ và cải thiện chất lượng giống nòi Tăng cường thể lực của thanh niên Phát triển mạnh thể dục, thể thao, kết hợp thể thao phong trào và thể thao thành tích cao, dân tộc và hiện đại Có chính sách và cơ chế phù hợp để bồi dưỡng và phát triển tài năng, đưa thể thao nước ta đạt vị trí cao ở khu vực, từng bước tiếp cận với châu lục và thế giới ở những bộ môn Việt Nam có ưu thế”
Chiến lược phát triển TDTT Việt Nam đến năm 2020 có mục tiêu tổng
quát là: “Xây dựng và phát triển nền thể dục, thể thao nước nhà để nâng cao sức khỏe nhân dân, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và tăng tuổi thọ của người Việt Nam theo tinh thần vì sự nghiệp dân cường, nước thịnh, hội nhập và phát triển”
Trang 2212
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quy chế về công tác GDTC trong nhà
trường, trong đó đã khẳng định: "GDTC được thực hiện trong hệ thống nhà trường từ mầm non đến đại học, góp phần đào tạo những công dân phát triển toàn diện GDTC là một bộ phận hữu cơ của mục tiêu giáo dục và đào tạo, nhằm giúp con người phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức" [17]
1.2 Tổng quan các nghiên cứu về giáo dục thể chất trong trường đại học
Nhận thức được tầm quan trọng của TDTT và GDTC, cũng như việc thiết
kế và thực hiện chương trình thể thao tự chọn trong các trường đại học, cho đến nay đã có nhiều tác giả đã nghiên cứu, đề cập tới các khía cạnh khác nhau cả trên bình diện lý thuyết, lẫn thực tế
Ta có thể kể đến các tác giả tiêu biểu như Nguyễn Khắc Viện, Nguyễn Trọng Thanh, Lê Văn Lẫm, Dương Nghiệp Chí, Vũ Đức Thu, Phạm Ngọc Viễn,
Hồ Đắc Sơn, Lê Anh Thơ và nhiều nhà khoa học khác đã đóng góp xây dựng cơ
sở lý luận cho công tác thể dục thể thao và giáo dục thể chất trong nhà trường
Các kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học cũng đã thúc đẩy phong trào thể dục thể thao, chăm lo sức khỏe, tạo dựng cuộc sống tinh thần cho nhân dân Đặc biệt là công tác giáo dục thể chất trong trường học góp phần đào tạo nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao, phục vụ cho sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Trong những năm qua đã có nhiều giáo trình đã được xuất bản dùng làm tài liệu cho giảng viên giảng dạy và cho sinh viên học tập như:
Hoàng Hà, Trần Nam Giao, Nguyễn Thị Lệ Hằng, Phạm Kim Điền
(2010), Tài liệu giảng dạy Giáo dục thể chất, [1];
Phan Thanh Mỹ - Nguyễn Minh Mẫn (2010), Tài liệu giảng dạy Giáo dục thể chất, [2];
Dương Văn Hiền – Nguyễn Chí Cường – Phạm Cho – Cao Hồng Châu –
Nguyễn Hữu Quí (2010), Tài liệu giảng dạy Giáo dục thể chất;
Trang 23Lương Thị Hà (2010), Nghiên cứu biện pháp đổi mới tổ chức hoạt động đào tạo nhằm nâng cao hiệu quả môn học GDTC cho sinh viên trường Đại học
sư phạm Hà Nội
Nguyễn Thị Toàn (2010), Nghiên cứu thực trạng và đề xuất định hướng đổi mới chương trình đào tạo bậc đại học cho học viên hệ vừa làm vừa học chuyên ngành sư phạm TDTT - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Nguyễn Việt Hòa (2010), Nghiên cứu đổi mới chương trình môn học giáo dục thể chất của trường Đại học Ngoại Ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội theo hướng sinh viên tự chọn
Các kết quả nghiên cứu này đã có những đóng góp tích cực vào việc xây dựng nội dung chương trình nhằm nâng cao chất lượng giáo dục thể chất trong nhà trường nói chung và cho việc xây dựng các học phần tự chọn nói riêng
1.3 Chương trình giáo dục thể chất ở các trường đại học
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành chương trình GDTC trong các trường đại học: “nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng về rèn luyện thể lực của sinh viên, giáo dục đạo đức xã hội chủ nghĩa, cung cấp cho sinh viên những kiến thức lý luận cơ bản về nội dung và phương pháp tập luyện TDTT, góp phần duy
trì và củng cố sức khỏe của sinh viên” [4]
Nội dung chương trình gồm 2 phần: lý luận và thực hành Tổng thời gian
là 150 tiết, gồm 5 học phần và được chia thành 2 giai đoạn cụ thể như sau:
Giai đoạn 1 Gồm 3 học phần (mỗi học phần gồm 1 đơn vị học trình – 30
tiết)
Trang 24+ Phần thực hành: 22 tiết và 4 tiết kiểm tra
Giai đoạn 2: Gồm 2 học phần (mỗi học phần gồm 1 đơn vị học trình – 30
tiết) Đây là các học phần tự chọn của mỗi trường
Mỗi sinh viên được lựa chọn 1 trong 6 môn thể thao để học, đó là: Bóng chuyền, Bóng đá, Bóng rổ, Bóng ném, Bóng bàn và Cầu lông Mỗi trường căn
cứ vào nguyện vọng của sinh viên để tổ chức giảng dạy theo 6 chương trình tương ứng với 6 môn thể thao tự chọn của sinh viên
Nội dung chương trình của mỗi môn thể thao nói trên đều gồm 2 phần: lý thuyết và thực hành, được tiến hành trong 2 học phần, mỗi học phần 30 tiết
Chương trình này có mục tiêu giúp sinh viên phấn đấu đạt các tiêu chuẩn rèn luyện thân thể (theo Quyết định số 53/2008/QĐ-BGDĐT) gồm 6 tiêu chí đánh giá:
Trang 25Việc thực hiện cấp chứng chỉ môn học GDTC đã tạo cho sinh viên ý thức
chủ động, tích cực học tập và rèn luyện thể lực Tuy nhiên: "Việc dạy và học thể dục ở nhiều trường mới chỉ dừng ở hình thức, chủ yếu cho có điểm số đánh giá
mà chưa chú trọng thực chất" [24]
Trong thực tế, việc giáo dục thể chất và tập luyện TDTT của sinh viên
còn gặp nhiều khó khăn, "cả quy mô và chất lượng người tập để nâng cao thành tích thể thao trong học sinh, sinh viên còn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển thể thao học đường" [24]
Chương trình các môn học tự chọn chưa được xây dựng trên một cơ sở khoa học vững chắc cần được tiếp tục nghiên cứu, từ đó đề xuất biện pháp để khắc phục
1.4 Lý thuyết về thiết kế chương trình giáo dục
1.4.1 Chương trình giáo dục
Từ trước đến nay đã có nhiều quan niệm khác nhau về chương trình giáo dục như:
- Chương trình giáo dục là những gì được giảng dạy trong nhà trường
- Chương trình giáo dục là tập hợp của các môn học
- Chương trình giáo dục là trình tự các môn học
- Chương trình giáo dục là nội dung giáo dục
- Chương trình giáo dục là những gì diễn ra trong nhà trường, bao gồm các hoạt động nội khóa, ngoại khoá
- Chương trình giáo dục là chương trình của một khoá học
Trang 2616
Với các quan niệm này, các tác giả đều nhấn mạnh đến nội dung các môn học cần phải dạy và học trong nhà trường, định nghĩa này chưa phản ánh được
sự phát triển của thực tiễn giáo dục ngày nay
Hiện nay quan niệm về chương trình giáo dục đã mở rộng, bao quát hơn,
đó là một phức hợp bao gồm hai thành phần chính: mục tiêu giáo dục và phương thức giáo dục Mục tiêu giáo dục là dự kiến các kết quả mà người học
sẽ đạt được sau quá trình học tập, còn phương thức giáo dục là con đường và điều kiện để mục tiêu đó trở thành hiện thực
Giáo dục hiện đại luôn xem chương trình giáo dục như là một tập hợp các mục tiêu và các giá trị có thể được hình thành ở người học thông qua các hoạt động được kế hoạch hoá và tổ chức trong nhà trường, gắn liền với yêu cầu của cuộc sống xã hội
Mức độ đạt các mục tiêu thể hiện tính hiệu quả của chương trình giáo dục
và mục đích thiết kế chương trình cũng là nhằm nâng cao chất lượng giáo dục
Có thể xem các định nghĩa sau đây bao quát được những ý tưởng đó:
K.Frey định nghĩa: Chương trình giáo dục là sự trình bày có hệ thống việc dạy - học được dự kiến trong một khoảng thời gian xác định với các yếu tố nhằm chuẩn bị, thực hiện và đánh giá một cách tối ưu quá trình giáo dục
Nguyễn Hữu Chí cho rằng: Chương trình giáo dục là sự trình bày có hệ thống một kế hoạch tổng thể các hoạt động giáo dục trong một thời gian xác định, trong đó nêu lên các mục tiêu học tập mà người học cần đạt được, đồng thời xác định rõ phạm vi, mức độ nội dung học tập, các phương tiện, phương pháp, cách thức tổ chức học tập, cách đánh giá kết quả học tập v.v nhằm đạt được các mục tiêu học tập đề ra
Theo điều 6 Luật Giáo dục: ”Chương trình giáo dục thể hiện mục tiêu giáo dục; quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục, cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học ở mỗi lớp, mỗi cấp học hoặc trình độ đào tạo”
Trang 2717
Từ đây, ta có thể đưa ra một định nghĩa ngắn gọn và đầy đủ hơn như sau:
Chương trình giáo dục là bản thiết kế tổng thể cho một hoạt động giáo dục, bao gồm mục tiêu, nội dung, phương thức tổ chức và cách đánh giá kết quả giáo dục, được sắp xếp theo một trình tự, với thời gian biểu chặt chẽ
Chương trình giáo dục bao gồm các bộ phận cấu thành như sau:
- Đối tượng tuyển sinh
- Thời gian giáo dục
- Nội dung giáo dục (kiến thức và kỹ năng)
- Cách thức tổ chức các hoạt động giáo dục
- Tài liệu học tập
- Phương tiện giáo dục
- Điều kiện tốt nghiệp
- Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của người học
- Hướng dẫn thực hiện chương trình
1.4.2 Các phương pháp tiếp cận xây dựng chương trình giáo dục
Trong lịch sử giáo dục có nhiều cách tiếp cận xây dựng chương trình giáo dục, trong đó có ba cách tiếp cận cơ bản sau đây:
Tiếp cận nội dung:
Quan niệm cho rằng giáo dục là quá trình truyền đạt kiến thức cho người
học, do vậy chương trình giáo dục là bản phác thảo nội dung giáo dục, với hệ thống các môn học được sắp xếp theo trình tự, qua đó người dạy và người học
biết mình phải dạy và phải học những gì
Cách tiếp cận này đã tồn tại một thời gian dài và tỏ ra có nhiều nhược điểm, người dạy, người học chỉ chú trọng đến nội dung kiến thức (lấy nội dung làm trung tâm), phương pháp dạy học chủ yếu là truyền đạt và lĩnh hội kiến thức
Tuy nhiên trong thời đại bùng nổ thông tin, cứ 5 đến 7 năm khối lượng thông tin lại tăng gấp đôi, với thời gian đào tạo gần như cố định (thậm chí còn
Trang 28Tiếp cận mục tiêu:
Một quan niệm tiến bộ hơn cho rằng giáo dục là quá trình chuẩn bị nguồn
nhân lực theo mục tiêu đào tạo đã xác định, do vậy, chương trình giáo dục là bản kế hoạch phản ánh nội dung và phương thức giáo dục nhằm đạt được mục tiêu đã xác định
Cách tiếp cận này là một bước tiến lớn trong tư duy giáo dục, đó tạo ra một quy trình công nghệ hướng vào mục tiêu, tuy nhiên nó chưa đặt quá trình đào tạo trong trạng thái phát triển nên việc tổ chức đào tạo chưa thích ứng trước những thay đổi của xã hội
Cách tiếp cận mục tiêu, giúp xác định hệ thống kiến thức, kỹ năng cần rèn luyện cho người học, phương pháp đào tạo, nguồn học liệu, cũng như phương thức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập (đối chiếu với mục tiêu đào tạo) Mục tiêu đào tạo chính là mục tiêu đầu ra thể hiện qua những thay đổi về hành
vi người học từ lúc vào trường tới lúc ra trường và tham gia vào thị trường lao động
Theo cách tiếp cận này, nội dung, kiến thức, kỹ năng vẫn được coi trọng, song kiến thức, kỹ năng chỉ là yếu tố giúp đạt tới mục tiêu đào tạo đã được xác định từ trước Có thể biểu diễn bằng sơ đồ sau:
Trang 29Tuy nhiên cách tiếp cận này cũng có những nhược điểm:
- Giáo dục không đơn thuần là công cụ để tạo ra những sản phẩm theo một “khuôn mẫu” cố định
- Giáo dục không chỉ là quá trình rèn luyện người học theo mục tiêu mà còn là quá trình phát triển con người, phát huy tối đa tiềm năng sẵn có để tự hoàn thiện, thích nghi với cuộc sống luôn biến động
- Giáo dục con người không thể xem là tương đồng với khái niệm “công nghệ” cứng nhắc Người học trải nghiệm một chương trình giáo dục theo những con đường riêng, tùy theo năng lực nhận thức, các hoạt động ưu tiên của bản thân Cùng một tác nhân không thể tạo ra sự giống nhau ở những con người khác nhau
Mục tiêu đầu ra (Learning outcome)
Quy trình đào tạo Phương pháp dạy học
Kiểm tra, đánh giá kết quả đào tạo Nội dung đào tạo
(Kiếnthứckỹnăng)
Trang 3020
Mặc dù còn nhiều ý kiến bàn cãi song cách tiếp cận mục tiêu trong thiết
kế chương trình, nội dung đào tạo, tổ chức thực hiện sẽ còn phát huy tác dụng trong tương lai
Như vậy chương trình giáo dục là một quá trình, còn giáo dục là sự phát
triển Giáo dục là sự phát triển với ý nghĩa:
- Giáo dục làm phát triển con người, phát triển mọi tiềm năng sẵn có, kinh nghiệm đã trải nghiệm để họ có thể làm chủ được bản thân, đương đầu với thử thách một cách chủ động, sáng tạo
- Giáo dục là một quá trình tiếp diễn thường xuyên, suốt đời, do vậy mục đích giáo dục cần chú trọng đến sự phát triển năng lực hoạt động của người học hơn là truyền thụ nội dung kiến thức đó được xác định từ trước
Theo Kelly, theo cách tiếp cận giáo dục là quá trình nhờ đó mà mỗi người được phát triển một cách tối đa Pan Hirst (1965) cho rằng giáo dục phải phát triển tư duy logic, năng lực sáng tạo, phát triển tri thức hơn là tiếp thu kiến thức đơn thuần
Whitehead (1932) cũng từng nói giáo dục là nghệ thuật sử dụng kiến thức hơn là nắm được kiến thức
Theo J White (1995) con người không thể học tất cả những gì đang có, chương trình giáo dục phải giúp người học “có thể đương đầu với những đòi hỏi của nghề nghiệp không ngừng thay đổi, với một thế giới biến động khôn lường”
Trang 3121
Tất cả những điều đó đòi hỏi phải thiết kế chương trình giáo dục như một quá trình bao gồm các hoạt động cần thực hiện giúp người học phát triển tối đa năng lực tiềm ẩn để đáp ứng các mục tiêu
Theo cách tiếp cận này người thiết kế phải chú trọng đến khía cạnh nhân văn của chương trình giáo dục Chú ý tới đối tượng đào tạo, nhu cầu, hứng thú của họ phải được xem là điểm xuất phát của việc xây dựng chương trình
Theo Kelly, chương trình giáo dục chỉ thực sự có tính giáo dục nếu nội dung của nó bao gồm những cái mà người học coi trọng và kiên trì theo đuổi từ
đó phát triển mọi năng lực tiềm ẩn của bản thân
Từ cách tiếp cận này, hình thành lý thuyết “dạy học lấy người học làm trung tâm” Các bài giảng được tổ chức dưới dạng các hoạt động thông qua việc giải quyết các tình huống, tạo cơ hội cho người học được thử sức trước những thách thức khác nhau Vai trò của người thầy (teacher) chuyển thành vai trò người hướng dẫn (instructor) người học được rèn luyện phương pháp tự học, phát hiện và giải quyết vấn đề, biến quá trình đào tạo thành tự đào tạo
Và như vậy, thiết kế chương trình giáo dục tự chọn nằm trong xu hướng phát triển này
1.4.3 Quy trình thiết kế chương trình giáo dục
Thiết kế chương trình giáo dục là một hoạt động vừa mang tính khoa học vừa mang tính thực tiễn do các nhà khoa học thực hiện theo một quy trình gồm các bước sau đây:
• Khảo sát nhu cầu về nguồn nhân lực xã hội theo từng ngành, nghề, lĩnh vực đào tạo
• Xác định mục tiêu đào tạo phát triển năng lực cho người học trên các lĩnh vực chuyên ngành đào tạo
• Phân tích các chương trình đã có, chỉ ra những ưu điểm để kế thừa và những thiếu sót cần khắc phục trong chương trình mới
Trang 32• Lựa chọn phương pháp, quy trình đào tạo
• Thử nghiệm chương trình mới thiết kế trên các đối tượng sinh viên nhằm khẳng định tính khoa học và tính khả thi của chương trình vừa thiết kế
• Thẩm định chương trình bằng phương pháp hội đồng
• Công bố triển khai thực hiện chương trình trong các trường đại học chuyên ngành
1.5 Phát triển chương trình giáo dục
Quan niệm trên phản ảnh các cách tiếp cận khác nhau khi xây dựng chương trình giáo dục, trong giai đoạn hiện nay cách tiếp cận phát triển đang được công nhận rộng rãi trên toàn thế giới
Phát triển chương trình giáo dục là một quá trình cập nhật liên tục những thành tựu khoa học mới nhằm không ngừng hoàn thiện chất lượng giáo dục
Theo cách tiếp cận này chương trình giáo dục không phải chỉ được thiết
kế một lần và dùng cho mãi mãi, mà được phát triển, bổ sung, hoàn thiện tùy theo sự thay đổi của trình độ phát triển của xã hội và thời đại Nói cách khác, khi nhu cầu xã hội thay đổi thì mục tiêu đào tạo thay đổi và chương trình giáo dục cũng phải phát triển và hoàn thiện
Chương trình giáo dục luôn được phát triển vì các lý do sau đây:
- Để cải thiện nội dung kiến thức thông qua việc sửa đổi, khắc phục thiếu sót và cập nhật những kiến thức mới
- Làm cho giáo dục phù hợp hơn với yêu cầu phát triển đất nước và xu thế hội nhập quốc tế
- Đáp ứng nhu cầu của người học và yêu cầu của người sử dụng nhân lực
Trang 3323
- Đáp ứng yêu cầu đánh giá hiệu quả trong và hiệu quả ngoài của giáo dục
- Đáp ứng nhu cầu, hứng thú của người học
Phát triển chương trình là một quá trình liên tục, có độ mềm dẻo cao, tạo điều kiện cho giảng viên điều chỉnh nội dung và phương pháp dạy học cho phù hợp với hoàn cảnh cụ thể
Nhu cầu đổi mới và khuyến khích áp dụng những sáng kiến bắt nguồn từ những nhận thức từ những ý tưởng giáo dục mới được đề xuất Sau khi chương trình được phát triển sẽ được phổ biến đến từng trường học và giảng viên để thực hiện
Lý luận dạy học hiện đại tổng kết được 10 tiên đề về phát triển chương trình, các nhà giáo dục cần lưu ý:
• Chương trình là sản phẩm của thời đại Xã hội phát triển chương trình cũng phát triển
• Thay đổi chương trình là điều cần thiết và không thể tránh khỏi
• Các thay đổi trong chương trình ở giai đoạn đầu có thể tồn tại và đan xen với những thay đổi ở giai đoạn sau
• Thay đổi chương trình xảy ra chỉ khi mục tiêu giáo dục thay đổi
• Xây dựng chương trình là một hoạt động hợp tác
• Xây dựng chương trình là một quá trình chọn lựa giữa nhiều khả năng thay thế
• Xây dựng chương trình là một hoạt động không bao giờ kết thúc
• Xây dựng chương trình sẽ hiệu quả hơn nếu như đó là một quá trình toàn diện, chứ không phải là quá trình phiến diện từng phần
• Xây dựng chương trình sẽ hiệu quả hơn khi nó tuân theo một quá trình
có tính hệ thống
• Xây dựng chương trình bắt đầu từ chương trình hiện hành
Trang 3424
Nếu xem “Phát triển chương trình giáo dục” là một quá trình liên tục nó
sẽ bao gồm các công việc sau đây:
1 Phân tích nhu cầu (Need analysis) xã hội và nhu cầu học tập của sinh viên
2 Xác định mục đích đào tạo và mục tiêu của ngành nghề và môn học (Defining aims and objectives)
3 Thiết kế (curriculum design) chương trình môn học
4 Thực thi (Implementation) trong thực tiễn nhà trường
5 Đánh giá (Evaluation) kết quả học tập của sinh viên và mục tiêu đào tạo của nhà trường
Năm yếu tố nêu trên được bố trí thành 1 vòng tròn khép kín, biểu diễn sự phát triển chương trình giáo dục như một quá trình diễn ra liên tục
Sơ đồ 1.2 Phát triển chương trình giáo dục 1.6 Thiết kế chương trình môn học tự chọn
Mục tiêu đầu ra (Learning outcome)
Mục tiêu đầu ra (Learning outcome)
Mục tiêu đầu ra (Learning outcome)
Mục tiêu đầu ra (Learning outcome) Mục tiêu đầu ra
(Learning outcome)
Trang 3525
1.6.2.Mục tiêu xây dựng chương trình môn học tự chọn
- Cung cấp cho sinh viên thông tin về mục đích, nội dung môn học và yêu cầu học tập môn học, đáp ứng các yêu cầu tự chọn của sinh viên
- Đáp ứng yêu cầu của phương thức đào tạo theo tín chỉ và là cơ sở để thực hiện đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập
- Tạo ra một công cụ để kiểm tra việc giảng dạy của giảng viên và việc học tập của sinh viên
- Đẩy mạnh khâu tự học, tự nghiên cứu, nâng cao tính chủ động, sáng tạo của sinh viên
- Từng bước nâng cao chất lượng dạy - học ở đại học theo hướng lấy học sinh làm trung tâm
1.6.3 Quy trình xây dựng chương trình môn học tự chọn
- Xác định nhu cầu, hứng thú các môn học tự chọn của sinh viên
- Xác định mục tiêu môn học hay còn gọi là chuẩn đầu ra về kiến thức, kỹ
năng và thái độ
- Xác định mối quan hệ giữa môn học đang xây dựng với các môn khác trong chuỗi các môn học của chương trình tổng thể nhằm xác định các môn tiên quyết, các môn học song hành, cũng như các môn tiếp theo, các môn học tự chọn
- Xác định sự tương quan giữa các chuẩn đầu ra của môn học và chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo tổng thể, giúp ta phát hiện những yếu tố bất thường của chương trình đào tạo
- Xác định các phương pháp giảng dạy môn học, các phương pháp đánh giá để bảo đảm thực hiện được các chuẩn đầu ra đã nêu của môn học
1.6.4 Cấu trúc chương trình môn học tự chọn
Cấu trúc của chương trình môn học tự chọn gồm các nội dung sau đây:
- Tên môn học
Trang 3626
- Các môn tiên quyết, các môn học song hành
- Mục tiêu cụ thể mà môn học cần đạt được
- Chuẩn đầu ra sinh viên cần phải đạt được sau khi học môn này
- Nội dung môn học gồm các phần, chương, bài của môn học được trình bày với
3 yếu tố thông tin nội dung kiến thức phương pháp học tập, chuẩn đầu ra
- Yêu cầu và cách đánh giá kết quả học môn học
- Tài liệu tham khảo chính và các tài liệu khác phục vụ cho học môn học
Kết luận chương 1
Giáo dục và đào tạo được Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm, được cụ thể hoá bằng pháp luật (Luật Giáo dục), bằng các chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo thông qua các thông tư, các nghị định, các quy định và các quyết định Đây là những hành lang pháp lý cho các cơ sở giáo dục hoạt động và phát triển
Giáo dục thể chất và các hoạt động TDTT đóng một vai trò rất to lớn trong giáo dục toàn diện nhân cách nói chung và đào tạo nhân lực ở các trường đại học nói riêng Vì vậy, các trường đại học phải tham gia xây dựng chương trình giáo dục thể chất đáp ứng với yêu cầu của Luật Giáo dục nhằm đào tạo ra những lớp SV đáp ứng cho nhu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước
Môn học giáo dục thể chất có những đặc điểm riêng so với các môn học khác Do vậy việc xây dựng chương trình môn học Giáo dục thể chất phải dựa vào những quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, dựa vào đặc điểm tâm sinh lý của sinh viên Việt Nam và thậm chí phải chú ý đến đặc điểm vùng miền của sinh viên
Thiết kế các môn học tự chọn có vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả giảng dạy môn học GDTCphải dựa trên lý luận chung về thiết
kế chương trình Nội dung, phương pháp, hình thức dạy học tự chọn cần được
Trang 3727
nghiên cứu phù hợp với đặc điểm tâm, sinh lý sinh viên, đặc điểm đào tạo các lĩnh vực nghề nghiệp, mục đính cuối cùng là góp phần nâng cao hiệu quả công tác GDTC trong nhà trường và đào tạo nguồn nhân lực cho xã hội
Trang 3828
Chương 2 THỰC TRẠNG CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC THỂ CHẤT
Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC VIỆT BẮC 2.1 Giới thiệu về Trường Đại học Việt Bắc
Trường Đại học Việt Bắc là trường đại học đào tạo đa cấp học, đa ngành,
đa lĩnh vực, đào tạo nguồn nhân lực khoa học công nghệ chất lượng cao, thực hiện nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ trong các lĩnh vực kinh tế,
kỹ thuật, công nghệ đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập khu vực và quốc tế
Trường Đại học Việt Bắc là một trường đại học tư thục, hoạt động không
vì lợi nhuận được thành lập năm 2011 theo Quyết định số 1341/QĐ–TTg, ngày 05/8/2011 của Thủ tướng Chính phủ
Trường Đại học Việt Bắc được quy hoạch xây dựng trên một diện tích 40
ha, nằm ngay Trung tâm Thành phố Thái Nguyên với cơ sở vật chất hiện tại có đầy đủ các lớp học, phòng thí nghiệm, thực hành, thực tập cho hơn cho việc đào tạo khoảng 5000 sinh viên
Hiện nay, Trường Đại học Việt Bắc đang đào tạo 14 chuyên ngành thuộc
NGÀNH VÀ CHUYÊN NGÀNH
ĐÀO TẠO
Thờ
i gian đào tạo
2 Ngành Kỹ thuật điện, điện tử:
- Tự động hoá
- Thiết bị điện
- Hệ thống điện
4 năm
Trang 3929
tô)
- Cơ khí giao thông
- Cơ khí luyện kim - cán
6 Ngành Quản trị kinh doanh
- Quản trị kinh doanh tổng hợp
- Quản trị doanh nghiệp công nghiệp -Quản lý kinh tế
4 năm
Về tổ chức, Trường có 6 khoa chuyên môn, 5 phòng và 3 trung tâm Cụ thể:
- Khối phòng, ban, trung tâm:
1 Phòng Đào tạo - Khoa học - Hợp tác quốc tê
2 Phòng Công tác Học sinh sinh viên
3 Phòng Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục
4 Phòng Kế hoạch - Tài chính
5 Phòng Tổng hợp
6 Trung tâm Đào tạo theo nhu cầu xã hội
7 Trung tâm Đào tạo và Hợp tác quốc tế
8 Trung tâm Ngoại ngữ - Tin học
- Các khoa:
1 Khoa Cơ bản
2 Khoa Cơ khí
3 Khoa Điện - Điện tử
5 Khoa Công nghệ thông tin
Trang 4030
6 Khoa Kinh tế
Trường Đại học Việt Bắc có đội ngũ giảng viên gồm 179 người, trong đó
có 2 GS, 11 PGS, 8 TS và 90 Ths
Quy mô sinh viên của Trường có 1050 SV
2.2 Thực trạng chương trình và kế hoạch giảng dạy môn học Giáo dục thể chất tại Trường Đại học Việt Bắc
2.2.1 Nhiệm vụ và tổ chức của Bộ môn Giáo dục thể chất
Bộ môn Giáo dục thể chất thuộc khoa Giáo dục thể chất và Quốc phòng
có nhiệm vụ giảng dạy môn học Giáo dục thể chất cho sinh viên các ngành theo đúng các quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, tổ chức các hoạt động thể dục thể thao trong nhà trường nhằm thúc đẩy phong trào tập luyện TDTT, rèn luyện sức khoẻ và tăng cường giao lưu cho cán bộ giảng viên và sinh viên trong nhà trường, tổ chức huấn luyện các đội tuyển tham gia thi đấu các giải trong và ngoài khu vực tỉnh Thái Nguyên
2.2.2 Thực trạng đội ngũ giảng viên giáo dục thể chất tại Trường Đại học Việt Bắc
Trường Đại học Việt Bắc hiện tại có 8 giảng viên với nhiệm vụ cơ bản là giảng dạy môn học GDTC cho SV các khoa trong trường, đồng thời tổ chức các phong trào Thể dục, thể thao cho cán bộ, SV trong toàn trường, thi đấu, giao lưu với các trường trong và ngoài khu vực tỉnh Thái Nguyên
Bảng 2.2 Đội ngũ giảng viên Bộ môn GDTC của Trường Đại học Việt Bắc
TT Chuyên
nghành
Số lượng
< 10 Năm
> 10 Năm