Hình tượng Đông thiên tam hữuba người bạn mùa đông tùng, trúc, mai là hình tượng nổi bật trong thơ Nguyễn Trãi đồng thời là hình tượng nổi bật trong văn học trung đại Việt Nam.Nghiên cứ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ MINH SINH
HÌNH TƯỢNG ĐÔNG THIÊN TAM HỮU
TRONG THƠ NGUYỄN TRÃI
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam trung đại
Mã số: 60220121
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Lã Nhâm Thìn
HÀ NỘI - 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các tài liệu được sử dụng trong luận văn
là trung thực, có nguồn gốc và xuất xứ rõ ràng Những kết quả nghiên cứu của luận văn chưa được công bố trong bất
kỳ công trình nào
Tác giả luận văn
Nguyễn Thi Minh Sinh
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình viết luận văn này, em đã được sự giúp đỡ chân thành của nhiều thầy cô, bạn bè Em xin gửi lòng biết ơn sâu sắc nhất đến:
- Phòng Sau đại học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
- Ban Chủ nhiệm khoa Ngữ văn Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
- Các thầy cô giáo tổ Văn học Việt Nam trung đại, khoa Ngữ văn Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Với lòng kính trọng, khâm phục và sự biết ơn sâu sắc, em xin cảm ơn GS.TS Lã Nhâm Thìn, người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành luận văn
Xin một lần nữa được cảm ơn gia đình, đồng nghiệp, bạn bè đã động viên và tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm luận văn
Hà Nội, tháng 06 năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Minh Sinh
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Mục đích, ý nghĩa của đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 7
4 Phương pháp nghiên cứu 8
5 Cấu trúc luận văn 9
NỘI DUNG 10
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 10
1.1 Giới thuyết khái niệm Hình tượng Đông thiên tam hữu 10
1.1.1 Hình tượng và biểu tượng 10
1.1.2 Nguồn gốc, vị trí,mối quan hệ, ý nghĩa giữa tùng, trúc,mai 13
1.2 Cơ sở xã hội - mĩ học của hình tượng Đông thiên tam hữu 15
1.2.1 Cơ sở xã hội 15
1.2.2 Cơ sở mĩ học 19
1.3 Khái quát hình tượng Đông thiên tam hữu trong văn học trung đại Việt Nam 21
1.3.1 Hình tượng Đông thiên tam hữu trong Văn học trung đại từ thế X đến thế kỉ XVII 21
1.3.2 Hình tượng Đông thiên tam hữu trong văn học trung đại từ thế kỉ XVIII đến hết thế kỉ XIX 33
Chương 2: HÌNH TƯỢNG ĐÔNG THIÊN TAM HỮU NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG 38
2.1 Hình tượng Đông thiên tam hữu gắn với sự thể hiện tài năng ở Nguyễn Trãi 39
2.2 Hình tượng Đông thiên tam hữu với nhân cách, phẩm chất, bản lĩnh của Nguyễn Trãi 42
Trang 52.2.1.Nhân cách thanh cao, trong sáng, không màng danh lợi 42
2.2.2 Phẩm chất, bản lĩnh cứng cỏi, kiên trinh 45
2.3 Hình tượng Đông thiên tam hữu với tình yêu thiên nhiên của Nguyễn Trãi 51
2.3.1 Chủ động tìm đến vẻ đẹp của thiên nhiên, giao hòa với thiên nhiên 51
2.3.2 Ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên 57
Chương 3: HÌNH TƯỢNG ĐÔNG THIÊN TAM HỮU NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT 65
3.1 Những thủ pháp nghệ thuật xây dựng hình tượng Đông thiên tam hữu 65
3.1.1 Bút pháp ước lệ, tượng trưng 65
3.1.2 Thủ pháp so sánh, nhân hóa 74
3.2 Sử dụng điển cố, thi liệu Hán học 76
3.3 Không gian trong hình tượng Đông thiên tam hữu 81
3.4 Thời gian trong hình tượng Đông thiên tam hữu 88
KẾT LUẬN 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97 PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC VIẾT TẮT
VHTĐ : Văn học trung đại NXB : Nhà xuất bản VHVN : Văn học Việt Nam
TCN : Trước công nguyên
Trang 7đỗ Thái học sinh đời Long Khánh thứ 2 nhà Trần Ông ngoại của Nguyễn Trãi
là Trần Nguyên Đán đã từng đỗ tiến sĩ và từng làm quan Tư đồ (quyền ngang
tể tưởng) cuối triều Trần Bản thân Nguyễn Trãi đã từng đỗ Thái học sinh vào năm 20 tuổi Với sự thừa hưởng truyền thống tốt đẹp của gia đình và bằng tài năng của mình, Nguyễn Trãi có thể sẵn sàng gánh vác những trọng trách lớn lao của dân tộc Cuộc đời ông có lúc ở đỉnh cao của chiến thắng vinh quang ,
có lúc lại đã trải qua những thăng trầm sóng gió Ông đã có những năm tháng nếm mật nằm gai để tìm phương kế cứu đất nước Nguyễn Trãi đã tìm đến Lê
Lợi dâng “Bình Ngô sách”rồi gắn bó với cuộc khởi nghĩa Lam Sơn cho đến
ngày toàn thắng Ông đã từng được ban họ vua, phong chức Nhập nội hành khiển kiêm Lại bộ Thượng thư, được giao soạn thảo nhiều chế, chiếu, thư…để bang giao với nhà Minh Nguyễn Trãi là nhà văn hóa xuất sắc của Việt Nam trên các tư cách anh hùng dân tộc, nhà văn,nhà tư tưởng, nhà ngoại giao, nhà
sử học, nhà địa lí học v.v…Về hoạt động xã hội, ông được xem là bậc khai quốc công thần đắc lực trong việc xây dựng vương triều Lê Ngoài ra Nguyễn Trãi còn là tác giả kiệt xuất của Văn học Việt Nam với những đóng góp hết sức to lớn Có thể nói sự nghiệp văn chương của Nguyễn Trãi rất phong phú,đa dạng trong đó sáng tác thơ giữ vị trí hết sức quan trọng Đã có rất nhiều những lời đánh giá, ngợi ca những đóng góp của Nguyễn Trãi Một
trong số những ý kiến đánh giá đó là ý kiến của vua Lê Nhân Tông “Nguyễn Trãi là người trung thành đã giúp đức Thái Tổ dẹp loạn tặc, giúp đức Thái
Trang 8Tông sửa sang thái bình Văn chương và đức nghiệp của Nguyễn Trãi, các danh tướng của bản triều không ai sánh bằng”.[21,15], lời ngợi ca của Nguyễn Mộng Tuân: “Làm hay cho nước mấy ai - Từ chương văn bá không người đứng trên”
Nguyễn Trãi có sự nghiệp văn chương hết sức đồ sộ, phong phú về thể
loại, bao gồm: Bình Ngô đại cáo, Ức Trai thi tập, Quân trung từ mệnh tập, Nam sơn thực lục, Văn bia Vĩnh Lăng, Phú núi Chí – Linh Chỉ đáng tiếc sau
thảm án Lệ Chi Viên sinh mệnh của những tác phẩm ấy đã bị mai một
nhiều.Trong số ấy, Quốc âm thi tập và Ức Trai thi tập là hai tập thơ lớn bằng
chữ Hán và chữ Nôm của Nguyễn Trãi Đây có thể xem là hai tập thơ có ý nghĩa và giá trị vô cùng lớn lao trong toàn bộ sự nghiệp văn chương của ông
Trong Ức Trai thi tập và Quốc âm thi tập, Nguyễn Trãi đã có nhiều bài thơ viết về thiên nhiên Hình tượng Đông thiên tam hữu(ba người bạn mùa
đông tùng, trúc, mai) là hình tượng nổi bật trong thơ Nguyễn Trãi đồng thời là hình tượng nổi bật trong văn học trung đại Việt Nam.Nghiên cứu hình tượng
Đông thiên tam hữu không những ta hiểu sâu sắc hơn về thơ văn Nguyễn
Trãi mà còn hiểu nhiều hơn về con người Nguyễn Trãi, đồng thời hiểu thêm
về quan điểm mĩ học, Văn học Việt Nam trung đại
1.2 Ý nghĩa thực tiễn
Tìm hiểu Hình tượng Đông thiên tam hữu sẽ đem lại kết quả thiết thực
cho việc nghiên cứu giảng dạy
Nhắc tới tác giả Nguyễn Trãi trong chương trình Ngữ văn ở trường Phổ thông có lẽ không học sinh nào không biết Ông là tác giả lớn được nhiều giáo viên Ngữ văn trong trường phổ thông yêu mến, họ đã dành thời gian nghiên cứu nhiều tác phẩm của ông để phân tích, thẩm bình cho học sinh Bản dịch
bài thơ “Côn Sơn Ca”được giới thiệu trong chương trình Ngữ văn7- tập1 từ
lâu đã được nhiều em học sinh ghi nhớ, học thuộc Và cũng đã có một thời bài
Trang 9thơ “Tùng” được đưa vào trong sách giáo khoa Là người đã từng giảng dạy
bộ môn Ngữ văn nhiều năm, bản thân tôi thấy“Tùng”thực sự là một bài thơ
hay, sâu sắc về nội dung, hấp dẫn về nghệ thuật, xứng đáng được học giảng trong nhà trường Với luận văn này, chúng tôi mong rằng sẽ trau dồi thêm vốn hiểu biết, đóng góp thêm những ý kiến giúp cho việc giảng dạy tác phẩm văn học trung đại trong nhà trường sẽ trở nên gần gũi, dễ hiểu hơn
Việc nghiên cứu và triển khai đề tài Hình tượng Đông thiên tam hữu
trong thơ Nguyễn Trãi sẽ góp phần cung cấp cho giáo viên tư liệu trong quá trình giảng dạy về Nguyễn Trãi tại trường phổ thông Thông qua đề tài này, người viết mong muốn sẽ đem lại những hiểu biết cơ bản về ba hình tượng tùng, trúc, mai trong thơ Ức Trai Và cũng mong rằng qua hình tượng tùng, trúc, mai trong thơ Nguyễn Trãi sẽ có tác dụng giáo dục, bồi đắp cho các em học sinh những tình cảm, phẩm chất đạo đức tốt đẹp của dân tộc Việt Nam ta
2 Lịch sử vấn đề
Những hướng nghiên cứu sau có liên quan tới đề tài
2.1 Nghiên cứu về thiên nhiên trong thơ Nguyễn Trãi
Khi nghiên cứu về thiên nhiên trong thơ Nguyễn Trãi, có những ý kiến
đề cập tới hình tượng Đông thiên tam hữu với tùng, trúc,mai hoặc những nội
dung có liên quan đến đề tài
Có thể nói trải qua hơn sáu thế kỉ tiếp nhận, nghiên cứu và phát huy những giá trị mà Nguyễn Trãi để lại, các thế hệ đã nối tiếp nhau hoàn chỉnh chân dung người anh hùng Nguyễn Trãi trên mọi phương diện từ Văn học đến Chính trị, Ngoại giao… Đã có rất nhiều những bài nghiên cứu về thiên nhiên trong thơ Nguyễn Trãi Qua các bài đánh giá, nghiên cứu, thiên nhiên trong thơ Nguyễn Trãi được nhìn từ nhiều góc độ, phương diện khác nhau Mai Trân
trong bài viết “ Tình yêu thiên nhiên trong thơ Nguyễn Trãi” đã nhận ra “ năng lực rung cảm dạt dào lạ thường của Nguyễn Trãi trước thiên nhiên”, Nguyễn
Trang 10Thiên Thụ trong Thiên nhiên trong thơ Nguyễn Trãi thì lại tìm thấy thiên nhiên
là “nguồn mỹ cảm”“ là người bạn của thi nhân”“ Tiên sinh coi thiên nhiên như người bạn chung tình,coi cỏ cây hoa lá là bằng hữu, là con cháu,là kẻ chân tay Cao Hữu Lạng có bài viết Thơ Nguyễn Trãi- Mùa xuân và hoa đã phát hiện ra: “Mùa xuân và hoa trong thơ Nguyễn Trãi đơn giản và chất phác chừng ấy mà vẫn đượm vẻ đầm ấm,duyên dáng, thân quen”[21, 53].Tác giả Côn Giang trong bài“ Hoa trong thơ Nguyễn Trãi” nghiên cứu về cây cỏ, muông thú trong Quốc âm thi tập Ông cho rằng: “ Quốc âm thi tập gồm 254 bài thơ lần đầu tiên được ghi bằng chữ Nôm có đề tài viết về loại hoa, cây cỏ muông thú Duy chỉ có có hoa cũng đã có hàng chục loài được ca tụng…Thấy mai nở, ông lại ca ngợi cốt cách thanh cao và sức chịu đựng phi thường của cây thân mảnh khảnh, khẳng khiu trước giá lạnh mùa đông”[9,50]
Đặng Thanh Lê trong bài viết Nguyễn Trãi và đề tài thiên nhiên trong dòng Văn học yêu nước Việt Nam đã khái quát như sau: “ Bức tranh thiên nhiên trong Ức Trai thi tập và Quốc âm thi tập cũng chính là một trong những bóng dáng đẹp đẽ, phản ánh một con người, một cốt cách, một tài năng làm sáng tỏ nhiều vấn đề cơ bản trong thân thế, sự nghiệp, tâm hồn người anh hùng dân tộc, nhà đại thi hào dân tộc [21, 686] Tác giả
Ni.nhiculintrong bài tham luận tại hội nghị khoa học toàn quốc về Nguyễn
Trãi, họp tại Hà Nội, tháng 10 năm 1980có bài Đất nước và thiên nhiên trong thơ Nôm Nguyễn Trãi cũng đã đánh giá lớn về Nguyễn Trãi: “ Sự nghiệp văn học và khoa học phong phú của Nguyễn Trãi là năng lực bằng chứng cụ thể của đỉnh cao văn học Việt Nam đã đạt được ở nửa đầu thế kỉ XV, là điều chứng minh rõ rệt tính chất độc đáo và bản sắc dân tộc của nền văn hóa ấy”
[ 21,685] Trong thơ Nguyễn Trãi, hình ảnh thiên nhiên thực sự có ý
nghĩa lớn lao: “Theo quan niệm của Nho giáo, cái mẫu mực thuộc về quá khứ
và cái trong sạch chủ yếu lại ở trong thiên nhiên, các nhà nho theo quan niệm
Trang 11xuất xứ của Nho giáo, gặp thời thịnh thì ra làm việc phò vua giúp nước, gặp thời loạn thì lui về ở ẩn, lấy thiên nhiên để di dưỡng tinh thần”
Không chỉ nghiên cứu thiên nhiên trong thơ Nguyễn Trãi mà bước đầu các nhà nghiên cứu còn so sánh thơ thiên nhiên trong thơ Nguyễn Trãi với thơ thiên nhiên trong văn thơ Lý- Trần, thiên nhiên trong thơ Nguyễn Trãi với thiên nhiên trong thơ của các nhà thơ khác…
Qua các bài nghiên cứu ta đều nhận thấy rằng Nguyễn Trãi chan chứa lòng yêu thiên nhiên đất nước Tất cả những cảnh đẹp của non sông như cây
cỏ, chùa chiền, sản vật …đều được hiện lên trong thơ ông một cách sống động, hấp dẫn Đứng trước vẻ đẹp của quê hương, đất nước, Nguyễn Trãi không chỉ có cái nhìn của một nhà thơ mà còn có cái nhìn của một nhà chính trị, một nhà quân sự, nhà văn hóa tài ba và lỗi lạc
2.2 Nghiên cứu sáng tác của Nguyễn Trãi đề cập tới hình tượng Đông thiên tam hữu
Hiện lên trong thơ Nguyễn Trãi là một bức tranh thiên nhiên sống động, rực rỡ sắc màu, đó là hoa cỏ, núi sông, chùa chiền…song nổi bật hơn cả vẫn là những vần thơ dành cho hình tượng của những loài cây Cả thơ chữ Hán và chữ Nôm của Nguyễn Trãi có rất nhiều bài viết về tùng, trúc, mai Và cũng đã có những bài nghiên cứu, thẩm bình về ba hình tượng này Trong quá trình nghiên cứu luận văn, chúng tôi nhận thấy có những tác giả như Giáo sư
Lê Trí Viễn và PGS.TS Đoàn Thu Vân viết về bài “Tùng” của Ức Trai
Trong bài viết ấy, hai tác giả đã đưa ra những căn cứ hợp lí để hiểu được sự ra đời của bài thơ, đồng thời qua sự giảng giải, thẩm bình từng lớp từ ngữ, nhịp điệu,hình ảnh, vẻ đẹp của hình tượng cây tùng đã dần hiện lên với nhiều tầng
nghĩa khác nhau: “Mượn cây tùng làm biểu tượng,bằng lối thơ tả cảnh ngụ tình, tác giả muốn tâm sự về mình, chủ yếu là nói lên lí tưởng sống và tấm lòng thiết tha với dân, với nước” [21, 551]
Trang 12Giáo sư Bùi Văn Nguyên trong cuốn Giảng văn- Tập 1(1982) có
bài:Thơ quốc âm Đông thiên tam hữu (tùng, trúc, mai) Đây là tổng hợp
những bài giảng, phân tích về cả ba hình tượng tùng, trúc, mai trong thơ Nguyễn Trãi
Giáo sư Trần Đình Sử có bài Tùng -Một bài thơ tâm huyết của Nguyễn Trãi đã nhìn nhận:“ tùng là bài thơ ngôn chí giữa một đời thế sự Tiếng thơ tùng khác hẳn với tiếng sang sảng của Đại cáo bình Ngô”.[21, 563]
Cũng giống như Lê Trí Viễn và Đoàn Thị Thu Vân,Trần Đình Sử bộc lộ
sự băn khoăn, nuối tiếc khi bài thơ “Tùng” không được đưa vào soạn giảng
chính thức trong nhà trường Đồng thời Giáo sư cũng lần lượt giúp chúng ta nhận ra từng vẻ đẹp của hình tượng cây tùng: bài thơ đâu chỉ mang lớp nghĩa
bề mặt là miêu tả đặc điểm về hình dáng, cách sống và tác dụng của tùng trong cuộc sống mà cả bài thơ còn toát lên một niềm tin mãnh liệt không gì lay chuyển được của Nguyễn Trãi vào chính giá trị phẩm chất của mình: “ Vào những năm kháng chiến hào hùng của dân tộc , khi muôn người như một xông lên như nước vỡ bờ, người ta dễ dàng hiểu được đại cáo, chứ đâu dễ thông cảm được với bài tùng? Đó là một điều cần phải thể tất cho người đi trước Nhưng bài Tùng này, thiết nghĩ vẫn nên cho học sinh được học hẳn hoi để suy nghĩ về cách làm người, cách xây dựng niềm tin vào cuộc sống”[21,563]
Với GS.TS Lã Nhâm Thìn, trong các cuốn Thơ Nôm Đường luật, Bình giảng thơ Nôm Đường luật, Phân tích tác phẩm văn học trung đại theo thể loại đều có bài phân tích về hình ảnh cây tùng Qua lời bình chú của mình,
Giáo sư đã thật cặn kẽ khi giới thiệu với chúng ta hệ thống đề tài những bài
viết về tùng, vị trí của tùng trong Đông thiên tam hữu, đồng thời còn chỉ rõ nét khác biệt của vẻ đẹp hình tượng cây tùng so với các tác giả khác: “Nếu tác giả Nguyễn Trãi chỉ viết về tùng với những nội dung trên thì chúng ta chỉ
Trang 13thấy cái chung mà chưa thấy cái hay, cái đẹp riêng trong tư tưởng và tâm hồn nhà thơ Cây tùng thơ Nguyễn Trãi sở dĩ không lẫn giữa “rừng tùng” văn học Việt Nam chính là vì thi sĩ đã hóa thân, hóa hồn cho nó”.[29,61]
Cuốn Nguyễn Trãi - Nhà văn và tác phẩm trong nhà trường có phân tích bài thơ Tùng (NXB Giáo dục 1999) để giúp các em học sinh bước đầu nhận được vẻ đẹp về phương diện ngôn từ và từng lớp nội dung của bài thơ
Khi viết về ba người bạn mùa đông, thơ vịnh tùng thường được người đọc nhớ và thuộc hơn cả Những tác giả không có thơ về cả “ ba người bạn” thì vẫn chọn tùng làm đề tài ngâm vịnh Và cũng chính vì vậy mà trong số những bài phân tích, bình chú thì số lượng dành cho tùng vẫn nhiều hơn.Tuy nhiên vẫn còn một số bài phân tích về hình ảnh trúc và mai Cũng trong cuốn
Giảng văn, trong phần “ Thơ quốc âm Nguyễn Trãi”, tác giả Bùi văn Nguyên
không chỉ bình giảng về bài tùng mà còn dành cho hai bài viết về trúc và mai
nữa Gần đây tác giả Mai Thị Thuận có đề tài Hình ảnh Hoa mai trong thơ Nguyễn Trãi.(Báo cáo khoa học, khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Hà
Nội, tháng 04/2008) Trong báo cáo, người viết đã giúp chúng ta có cái nhìn
hệ thống, bao quát và sâu hơn về hình ảnh hoa mai trong thơ Nguyễn Trãi Thông qua hình tượng hoa mai chúng ta hiểu hơn được tài năng, nhân cách và bản lĩnh của Ức Trai
Như vậy, đã có khá nhiều những bài nghiên cứu, phân tích ba hình tượng tùng, trúc, mai trong thơ Nguyễn Trãi, song chưa có một công trình nào
đi sâu tìm hiểu, so sánh, đối chiếu cả ba hình tượng này Kế thừa và phát huy thành quả của những người đi trước, trong luận văn này chúng tôi sẽ đi sâu nghiên cứu ba hình tượng tùng, trúc, mai trong thơ Ức Trai
3 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Trong luận văn này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu những bài, câu thơ
trong Ức Trai thi tập, Quốc âm thi tập trực tiếp có hình tượng Đông thiên tam
Trang 14hữu( tùng, trúc,mai) Bên cạnh đó chúng tôi có ý thức mở rộng, so sánh hình
tượng tùng, trúc, mai trong thơ Nguyễn Trãi với các tác giả khác để tìm những điểm tương đồng và khác biệt
Tuy nhiên cũng cần lưu ý là trong 254 bài thuộc Quốc âm thi tập có
khoảng 30 bài trùng với thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm mà đến nay vẫn chưa phân định được rõ ràng là của tác giả nào, trong quá trình chờ kết quả nghiên cứu, thẩm định chúng tôi vẫn khảo sát tất cả những bài thơ trong Quốc âm thi tập
Bên cạnh đó chúng tôi còn tham khảo thêm một số văn bản thơ văn
Nguyễn Trãi khác: Nguyễn Trãi toàn tập (in lần thứ hai) Nxb Khoa học xã
hội, Hà Nội 1976
3.2.2 Phạm vi khoa học:
Để hoàn thành luận văn, chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát, hệ thống hóa,
phân tích hình tượng Đông thiên tam hữu trong Ức Trai thi tập và Quốc âm thi tập
Hình tượng Đông thiên tam hữu nhìn từ phương diện nội dung
Hình tượng Đông thiên tam hữu nhìn từ phương diện nghệ thuật
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng những phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
4.1 Phương pháp thống kê, khảo sát, hệ thống hóa
Phương pháp này nhằm hệ thống hóa những câu thơ, những bài thơ có hình
tượng Đông thiên tam hữu theo những nội dung nghiên cứu của luận văn:
Trang 154.2 Phương pháp phân tích tổng hợp
Trong quá trình thực hiện luận văn, người viết sử dụng phương pháp phân
tích để làm rõ những vẫn đề về nội dung và nghệ thuật của hình tượng Đông thiên tam hữu từ những câu thơ, bài thơ đến những chùm thơ Phương pháp tổng hợp
được sử dụng để rút ra những vấn đề chung từ những phân tích cụ thể
4.3 Phương pháp so sánh:
Phương pháp so sánh được vận dụng để so sánh hình tượng Đông thiên tam hữu với hình tượng cây, hoa khác(với cúc, liễu, đào…) trong thơ Nguyễn Trãi hoặc so sánh hình tượng Đông thiên tam hữu ở thi phẩm của Ức Trai với hình tượng Đông thiên tam hữu trong sáng tác của các tác giả khác
tượng của hình tượng Đông thiên tam hữu
5 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo luận văn gồm ba chương Chương 1: Những vấn đề chung liên quan đến đề tài
Chương 2: Hình tượng Đông thiên tam hữu nhìn từ phương diện nội dung Chương 3: Hình tượng Đông thiên tam hữu nhìn từ phương diện nghệ thuật
Trang 16NỘI DUNG
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 Giới thuyết khái niệm Hình tƣợng Đông thiên tam hữu
1.1.1 Hình tượng và biểu tượng
Trước hết chúng ta nên phân biệt rõ từng thuật ngữ hình tượng và biểu tượng
Theo Từ điển thuật ngữ văn học “ Hình tượng nghệ thuật chính là các khách thể đời sống được nghệ sỹ tái hiện lại một cách sáng tạo trong những tác phẩm nghệ thuật Giá trị trực quan độc lập là đặc điểm quan trọng của hình tượng nghệ thuật Bằng chất liệu cụ thể nó có thể làm cho người ta ngắm nghía, thưởng ngoạn, tưởng tượng Đó có thể là một đồ vật, một phong cảnh thiên nhiên hoặc một sự kiện xã hội được cảm nhận” [10,147]
Tuy nhiên mỗi tác phẩm đều có hệ thống hình tượng riêng Thông qua
hệ thống hình tượng người đọc dễ dàng nhận ra phong cách tác giả, thậm chí nét riêng của từng thời đại
Đã có khá nhiều quan điểm khác nhau về thuật ngữ biểu tượng Việc cắt nghĩa và giải nghĩa khái niệm biểu tượng không phải là việc dễ dàng Biểu tượng được nhìn dưới quan điểm triết học, biểu tượng dưới quan điểm tâm lí
học,biểu tượng dưới quan điểm văn hóa…Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “ Biểu tượng là một khái niệm chỉ một giai đoạn, một hình thức của nhận thức cao hơn cảm giác, cho ta hình ảnh của sự vật còn giữ lại trong đầu óc sau khi tác động vào sự vật vào giác quan đã chấm dứt[8, 23]
Để phân biệt biểu tượng và hình tượng, người ta cũng có rất nhiều căn
cứ.Trước hết biểu tượng( Symbole) và hình tượng( Image) đều có giá trị
nhận thức cảm tính và chủ quan trong việc phản ánh hiện thực khách quan và phương tiện diễn đạt là ngôn ngữ Giữa biểu tượng và hình tượng cũng có sự
Trang 17phân biệt đáng kể Điều khác biệt cơ bản giữa biểu tượng và hình tượng chính
là ở chỗ dù luôn có xu hướng mở rộng về nghĩa nhưng biểu tượng nghệ thuật bao giờ cũng hướng về tính cố định của nghĩa Bất cứ biểu tượng nghệ thuật nào cho dù có phong phú về nghĩa bao nhiêu thì cũng có một nghĩa cố định, ít nhất là trong một giai đoạn thời gian nhất định Trong khi đó hình tượng nghệ thuật chứa đựng cái mới, cái bất ngờ, nó phá hủy làm biến đổi quan niệm cố định về thực tại Những khái quát nghệ thuật lớn thường không phải ngay lập tức được người đọc, người xem thừa nhận Thêm nữa , không phải hình tượng nào cũng trở thành biểu tượng Chỉ những hình tượng thực sự điển hình được công chúng thừa nhận, thể hiện một ý nghĩa sâu sắc nào đó mới trở thành biểu tượng
Trong cuốn Thơ Nôm Đường luật, GS,TS Lã Nhâm Thìn đã phân chia hình tượng nghệ thuật thành hai hệ thống: “Hệ thống hình tượng nghệ thuật được tạo nên bởi những ước lệ có sẵn trong quan niệm, trong sách vở và hệ thống hình được tạo nên từ chính bản thân đời sống” [27,126]
Ở nhóm hệ thống hình tượng thứ nhất, Nguyễn Trãi thường dùng các biểu tượng thiên nhiên như tùng, cúc, trúc, mai… Nhóm biểu tượng này không phải sáng tạo riêng của Nguyễn Trãi bởi trước ông, nhiều thi nhân khác
đã sử dụng Với Nguyễn Trãi, giá trị của những hình tượng này không phải ở chỗ sáng tạo mà ở chỗ vận dụng chúng Đặc biệt là qua ngòi bút của Nguyễn Trãi hình tượng ba người bạn mùa đông như tùng, trúc, mai đã mang lại hiệu quả thẩm mĩ độc đáo Tùng được xem là bậc đại phu có sức chống đỡ cao, sức chịu đựng lớn, có khả năng sinh sản vật dụng quý: thuốc trường sinh, làm
rường cột cho nước nhà Giáo sư Trần Đình Sử nhận xét “Đây không phải là cây tùng ẩn dật, lánh đời, cô ngạo mà là cây tùng bất cứ tình huống nào cũng hướng về đời, gắn bó và hữu ích cho đời.” [ 23, 560].Trúc cũng là hình tượng
biểu tượng cho người quân tử bởi phẩm chất cao khiết Mai được xưng tụng
Trang 18vì tiết tháo trung thực, khảng khái Nguyễn Trãi luôn chú ý đến cái đẹp của sự
tu dưỡng, rèn luyện ở người quân tử
Càng thủa già,càng cốt cách Một phen giá, một tinh thần
(Mai thi) Tùng, trúc, mai là những hình tượng nghệ thuật mang nhiều tầng ý nghĩa không chỉ trong thơ Nguyễn Trãi mà cả trong văn học trung đại Việt Nam
Lí giải về việc nên hiểu tùng, trúc, mai là hình tượng hay biểu tượng,
trong chuyên luận Thơ Nôm Đường luật, nhà nghiên cứu Lã Nhâm Thìn đã nói rõ rằng: Trong Quốc âm thi tập, mặc dù tác giả không dùng thuật ngữ
biểu tượng mà xem chúng như những hình tượng nghệ thuật có tính tượng
trưng:“ Trong thơ Nôm Đường luật có nhiều hình tượng nghệ thuật biểu đạt những quan niệm Nho giáo về con người và xã hội Phần lớn đó là những hình tượng có sẵn -trong sách vở hoặc trong quan niệm truyền thống được dùng như là những ước lệ tượng trưng có tính chất cố định”[27,126]
Như vậy có những lúc tùng, trúc, mai được xem là biểu tượng, có lúc lại được gọi là hình tượng Nếu được gọi là biểu tượng, tùng, trúc, mai sẽ mang tính khái quát cao, nếu được xem là hình tượng thì đó là những hình tượng có sẵn trong sách vở hoặc trong quan niệm truyền thống được dùng như
là những ước lệ tượng trưng có tính chất cố định Vậy việc dùng thuật ngữ nào có lẽ chúng ta nên lựa chọn cho thật phù hợp Với luận văn này, thay vì
việc dùng thuật ngữ biểu tượng, người viết xin được dùng thuật ngữ hình tượng để nói về ba người bạn mùa đông Bởi lẽ bên cạnh việc nâng lên thành
biểu tượng, hình tượng còn mang ý nghĩa cụ thể, cảm tính Ví dụ hình tượng tùng bên cạnh nghĩa biểu tượng để nói về người quân tử còn là loài cây được cảm nhận từ vẻ đẹp thiên nhiên
Trang 191.1.2 Nguồn gốc, vị trí,mối quan hệ, ý nghĩa giữa tùng, trúc,mai
Trước hết xin được nói về hình tượng tùng Đây là loại cây thường mọc trên núi cao, khô cằn, thiếu nguồn dinh dưỡng Cây tùng mang sức sống bền bỉ, mọc trên những mỏm núi chênh vênh, chịu nhiều sương gió, bão tuyết mà vẫn không chết, không đổ.Trong tuyết sương lạnh lẽo, khốc liệt, cây tùng vẫn xanh tươi, đứng vững trước những thử thách của thời gian Phẩm chất của tùng tương đồng với phẩm chất của người quân tử, của đấng trượng phu giữ vững khí tiết, bất chấp mọi gian khổ trước những biến cố dữ dội của cuộc đời
Người xưa vẽ và treo tranh tùng trong cảnh sơn thuỷ hữu tình, hạc mây bảng lảng như muốn thể hiện khát vọng không ngừng của con người vươn tới các đích của Chân - Thiện - Mỹ.Trong tâm linh của người Á đông, tùng là cầu nối với thần linh Khổng Tử cho rằng trồng tùng trên các đền thờ sẽ rất linh thiêng Có lẽ không có một loài cây nào trên thế giới lại được coi trọng, tôn vinh đến nhường vậy và là nguồn đề tài vô tận cho thơ ca, nhạc, họa Gạt sang bên những cái có màu sắc tôn giáo, tùng là biểu tượng cao đẹp, hoàn chỉnh của người quân tử Bởi vậy người ta còn hay đặt tên cho con cháu là Tùng là Bách (Bách cùng họ với tùng, xưa nay được trồng trong dinh quan ngự sử) để gửi gắm những hoài bão vào hậu thế Tùng mãi mãi tươi xanh cho xuân - hạ - thu - đông và trong lòng người, cho đời thêm hương sắc
Trúc là loại cây có thể sống nơi khô cằn, quanh năm xanh tốt, đốt ngay thẳng từ bé Đốt cháy thân cây đi nhưng đốt than của nó vẫn thẳng chứ không cong gẫy.Trúc là biểu tượng của mẫu người quân tử, bởi cây này tuy cứng mà vẫn mềm mại, đổ mà không gẫy, rỗng ruột như tinh thần an nhiên tự tại Cũng như một người quân tử, hoa trúc chết đứng chứ không rũ xuống như loài hoa khác
Hoa mai tượng trưng cho sự thanh khiết Hoa mai mang sức sống mãnh liệt, nó chịu qua gió tuyết mùa đông Mỗi dịp xuân về, hoa mai nở bung năm
Trang 20cánh, báo hiệu một mùa mới, một năm mới đã đến Trong phong thuỷ, hoa mai biểu tượng cho sự cao thượng, hiển vinh Hoa mai đơm bông, nở lộc đón xuân
về đem lại giầu sang, tấn lộc tấn tài.Tuy có thân và cành gầy guộc, có hoa mỏng manh, và mang hương thơm dịu dàng, thanh khiết, nhưng ở bên trong mai là cả một sự kiêu dũng Chính sự kiêu dũng này đã giúp hoa mai vượt qua được mùa gió sương hàn của mùa đông để đơm hoa kết nụ khi xuân về Các nhà Nho xem
mai là tấm gương cho về sự hoà hợp giữa chữ nhân và dũng
Như vậy loại tùng và trúc ít vàng lá về mùa đông, còn mai thì tuy lá rụng nhưng cứ đến độ lập xuân thì hoa mai nở trước tất cả các loài hoa, nở ngay giữa lúc đất trời còn giá lạnh Tùng được gọi là đại phu tùng, ý nói sức chống đỡ cao, làm giường, làm cột được ví như vị đại phu quan trọng Trúc còn được gọi là trúc quân tử ,ý nói người có phẩm chất tốt đẹp Còn mai được gọi là ngự sử mai, tức người trung trực như chức ngự sử, có chức năng thanh tra, can gián vua quan Mai còn được gọi là bách hoa khôi, tức ra hoa đầu tiên giống như người đỗ đầu, ưu tú nhất
Tùng và thông tuy khác nhau nhưng đều thuộc họ tùng bách, là họ có lá xanh bốn mùa, dễ sống kể cả nơi đất khô cằn và sống lâu hàng trăm năm, có loại đến hàng nghìn năm Gỗ tùng hoặc thông rất rắn, có tinh dầu thơm ngát,
có tùng hương rắn như hổ phách, có tùng khuẩn bám vào dễ lâu ngày biến thành phục linh …Trúc và tre cũng khác nhau tuy là một họ ở ta có mấy chục
họ được ghi vào trúc phả, có loại to gọi là mai và hoa như hoa lau dùng làm chổi gọi là chổi bông mai, lại có loại trúc rất là nhỏ cao dưới một mét, lá nhỏ
li ti như cây kim, loại trúc này ở Côn Sơn cũng có Mai và mơ cũng khác nhau và có nhiều loại Mai và mơ khác nhau ở chỗ thân mai xù xì , cành mai khúc khuỷu, còn thân mơ thì trơn tru Mai có loại hoa trắng, hoa vàng, hoa hồng Các loại hoa trắng lá mọc sau hoa, còn loại hoa hồng lại không có quả, hoa thơm dịu Về mùa đông giá lạnh, cành mai tưởng như khô cứng , nứt nẻ bất thần chớm xuân là chồi nổi vút lên rất khỏe và hoa tung lên rất nhanh
Trang 21Như vậy tùng, trúc và mai là ba loài cây luôn đứng liền kề bên nhau
trong giá rét mùa đông, cho nên chúng được gọi là “Đông thiên tam hữu” Khái niệm “Đông thiên tam hữu”có thể rút từ ý sau đây trong thiên Quý thị ở sách Luận ngữ“ Ba người bạn có ích gồm ba loại, bạn có hại gồm ba loại: loại bạn ngay thẳng là một, rộng lượng là hai, hiểu biết rộng là ba, tức là loại
có ích ; còn loại bạn dễ lật lọng là một, mềm yếu là hai , hay nịnh hót là ba, túc là loại có hại (Ích giả tam hữu , tổn giả tam hữu: hữu trực, hữu lượng, hữu đa văn, ích hỹ; Hữu tiện ích, hữu tiện nhu, hữu tiện nịnh, tổn hỹ.[22,309]
Về sau các nhân sỹ biểu thị “ba người bạn có ích”(ích tam hữu) bằng
nhiều hình tượng khác nhau, trong đó có hình tượng tùng, trúc, mai mà sách
Nguyệt lệnh quảng nghĩa gọi là ba người bạn mùa đông( Đông thiên tam hữu, hoặc Đông hàn tam hữu)
Tại sao tùng, trúc, mai lại được chọn làm ba người bạn mùa đông? Theo quy luật của tự nhiên sinh vật thường nảy nở, tốt tươi từ khoảng xuân hè rồi dần dần tàn lụi từ thu đông ( xuân sinh, hạ trưởng, thu thu, đông tàn) tức là mùa xuân thì nảy nở, mùa hạ thì lớn lên, mùa thu thì co rút lại, mùa đông thì dấu mình đi, tức là không chết hẳn, nhưng ẩn đi, rồi để mùa xuân lại nảy nở…)
Như vậy tùng, trúc, mai xứng đáng là ba người bạn sống kiên cường giữa mùa đông giá lạnh, mùa khốc liệt nhất trong năm bởi chúng có rất nhiều nét tương đồng
1.2 Cơ sở xã hội - mĩ học của hình tƣợng Đông thiên tam hữu
Trang 22trượng phu là người đàn ông có khí phách, ý chí theo quan niệm của xã hội phong kiến ngày xưa Người ta thường coi những trượng phu là người có khí phách kiên cường làm được những việc lớn trong xã hội, nhất là trong việc xây dựng đất nước:
Ghé vai gánh vác sơn hà Sao cho tỏ mặt mới là trượng phu Thế nào là trượng phu hay đại trượng phu ? Từ ngữ “Trượng phu” hay
“đại trượng phu” bao hàm một ý nghĩa rất rộng, có liên quan tới đời sống vật
“Phú quí bất năng dâm” nghĩa là giàu sang mà không dâm loạn… Người
giàu có, lắm tiền bạc, thế lực lớn, thường chẳng biết giữ phép tắc, không chịu kiểm soát hành vi của mình, hoá thành dâm loạn, coi thường phép tắc Tuy nhiên, nếu ai ở trong hoàn cảnh giàu sang, mà không có hành vi dâm loạn, biết giữ mình cho quy củ, chất phác thật thà, thì người ấy không vi phạm luật pháp của thế gian, chẳng phạm tới luật pháp cõi trời… đó là phú quý bất năng dâm
“Bần tiện bất năng di” có nghĩa là nghèo hèn mà vẫn giữ lòng không
đổi Người ta khi nghèo khó thì mất cả chí khí, chẳng từ một thủ đoạn nào, cốt sao mánh lới cho tinh khôn; đối với người giàu thì nịnh hót, kẻ nghèo thì khinh khi, làm những hành vi ti tiện Tuy nhiên, những ai nếu nghèo nhưng chí nguyện của người ấy không đổi, người ấy xử sự với đời như một chính nhân quân tử, quang minh lỗi lạc, giữ đúng nhân cách tuyệt vời, đầy đủ chí khí, không chịu đi vào chốn bùn nhơ Đó là bần tiện bất năng di
Trang 23“Uy vũ bất năng khuất” nghĩa là uy vũ không khuất phục được Uy vũ
tức là dùng thế lực, quyền năng Không chịu cúi đầu tùng phục trước bất cứ một thế lực nào, một quyền lực nào, ngược lại luôn thẳng thắn, kiên trinh người đó là đại trượng phu
Hình tượng con người mang lí tưởng thẩm mĩ của Nho giáo là hình
tượng kẻ sĩ, người quân tử có khả năng “nội thánh, ngoại vương”( bản thân có
đức độ, phẩm chất của bậc thánh nhân, đối với quốc gia thiên hạ thì có thể thi
hành đường lối chính sự của bậc vương giả) Sách Luận ngữ viết: “Quân tử nói chung là người có đức, có tài, do đó mà có cương vị bề trên trong làng, trong nước, dẫn dắt số đông coi như người kém tài mọn ở bên dưới gọi là tiểu
là những người bẩm thụ được tinh hoa sông núi, chung đúc được phẩm hạnh của đất trời, đảm trách và thực hiện được những nghĩa vụ và bổn phận mà đất trời đặt lên vai Kẻ sĩ nhận thức được những trách nhiệm nặng nề mà đất trời giao phó và tình nguyện đảm trách sứ mệnh làm sáng tỏ Đạo của trời đất Đó chính là điều tạo nên giá trị của kẻ sĩ trong thang bậc tứ dân Kẻ sĩ là người
tự ý thức được phẩm giá cao quý và trọng trách xã hội to lớn nhưng cũng phải biết đạo xuất xử, biết khi nào nên ra giúp vua, giúp nước, khi nào nên lui về ở
ẩn Kẻ sĩ ý thức rõ thiên chức làm sáng đạo thánh hiền của mình nên khi chưa gặp bậc minh quân, phải thời hôn quân thì kẻ sĩ phải bảo vệ đạo thánh hiền, biết vui vẻ, ung dung ẩn danh, náu mình nơi thôn dã Tuy nhiên, vấn đề xuất hay xử của kẻ sĩ không chỉ với tài đức của quân vương mà còn gắn với hiện
Trang 24trạng chủ thể hành động và quyết định, đó là cá nhân kẻ sĩ Khi người quân tử chưa làm tròn chức phận được đất trời giao phó thì đương nhiên không thể dấu mình, không thể ở ẩn Nhưng, khi trách nhiệm xã hội của kẻ sĩ đã hoàn thành, đất nước thái bình, thì kẻ sĩ được quyền lui về với những thú vui tao nhã riêng tư
Như vậy, có thể nói, hình tượng kẻ sĩ quân tử là hình tượng mang tính trung tâm và được xây dựng là những con người vừa có tài, vừa có đức Nhà nho cũng lại là những người quân tử, bên cạnh tài năng, họ rất tự hào về nhân cách cao khiết, cứng cỏi không chìm nổi theo thế gian
Người quân tử thường mượn những hình tượng cao lớn, kì vĩ trong thiên nhiên để tỏ rõ cái chí của mình Tùng, trúc, mai chính là những loài cây biết vượt qua cái giá lạnh, khắc nghiệt của thời tiết để trở nên bản lĩnh, cứng cỏi và chính những loài cây ấy mới thể hiện được cái chí của người quân tử Giữa cuộc đời đầy hiểm nguy họ có cái bất biến để ứng phó với mọi cái vạn biến giống như bông cúc vàng ưu trội trong tiết thu, như cây mai thanh khiết, như cây tùng cây bách hiên ngang giữa đời
Nguyễn Trãi là một nho sĩ nên tư tưởng, quan điểm của Nguyễn Trãi là
tư tưởng, quan điểm của Nho giáo Nguyễn Trãi tin ở thiên mệnh, ảnh hưởng lớn từ tư tưởng nhân nghĩa, thấm nhuần triết lí của Khổng giáo về đạo trung dung, Nguyễn Trãi hiểu thấu cả tam cương ngũ thường Ông hiểu rằng đã là người quân tử là luôn phải hướng đến bổn phận với gia đình và Tổ quốc Người quân tử phải có bản lĩnh, ý chí sắt đá Và phẩm chất, bản lĩnh ấy chỉ có những hình tượng lớn lao, cao cả như cây tùng, cây bách mới gửi gắm được Tuy nhiên Nguyễn Trãi cũng ảnh hưởng lớn từ tư tưởng Lão Trang, Nguyễn
Trãi chủ trương “thanh tĩnh vô vi”, lánh mình khỏi những đua chen của cuộc sống để tìm về với suối, với rừng, về với tùng, trúc, mai…Trong Quốc âm thi tập có những bài thực sự là Trang Có thể nói tư tưởng Trang Tử đôi khi khá
đậm trong thơ Nguyễn Trãi
Trang 251.2.2 Cơ sở mĩ học
Văn học trung đại Việt Nam có rất nhiều những ảnh hưởng quan niệm
về cái đẹp của thời trung đại Cái đẹp khuôn mẫu của tiền nhân là một quan
điểm rất được coi trọng Xuất phát từ quan niệm thời gian là chu kì, tuần hoàn, lịch sử lặp lại nên người xưa coi trọng quá khứ, coi trọng cái đẹp của tiền nhân Về thẩm mĩ, người ta coi trọng vẻ đẹp trong quá khứ, coi quá khứ
là chuẩn mực, là hoàn mĩ Đó là một lý tưởng không thể nào đạt tới, là “thế kỷ vàng” của nhân loại tầm mắt của họ nói chung không hướng về tương lai mà
luôn quay đầu nhìn về quá khứ , điều này dẫn đến tâm lý sùng cổ và cũng vì
thế hình thành quan niệm “thuật nhi bất tác” Trong sáng tác, họ thường coi
trọng, đề cao việc sử dụng những điển tích, điển cố, những thi liệu Hán học,
đề cao khuôn mẫu của tiền nhân Đường- thi ; Hán- phú; Tống- từ; Minh Thanh- tiểu thuyết
Trong cả hai tập thơ Ức Trai thi tập và Quốc âm thi tập, chúng ta thấy
Nguyễn Trãi đã ảnh hưởng từ cơ sở mĩ học này Chẳng hạn miêu tả vẻ đẹp của hoa mai, rất nhiều lần ông nhắc đến:
“Cách song ngỡ khác hồn Cô Dịch
Đáy nước ngờ là mặt Thái Chân”
( Mai thi )
“Cách song mai tỉnh hồn Cô Dịch
Kề nước cầm đưa tiếng Cửu Cao”
(Mạn thuật- Bài 35)
Hồn cô Dịch: Sách Trang Tử thiên“Tiêu diêu du” nói đến thần nhân
núi Cô Dịch da trắng như tuyết, yểu điệu như xử nữ, tượng trưng cho cái đẹp trong trắng Ở đây Nguyễn Trãi ví cái cốt cách thanh khiết của cây mai như cái tinh thần trong trắng của thần nữ núi Cô Dịch ( núi Cô Dịch ở Sơn Tây- Trung Quốc)
Trang 26Thơ ca trung đại thường được sáng tác theo khuôn mẫu đã được định sẵn Các tác giả trung đại khi sáng tác họ quan niệm văn chương phải cao quý
về mục đích, cách thức và biện pháp thể hiện Vì vậy cho nên thơ ca trung đại
thường mang đậm tính cao cả, tao nhã.“ Nói cao nhã mĩ lệ là nói đến sự cao
quý, thanh nhã, biểu lộ quan niệm về văn chương, về công việc sáng tác và cả người sáng tác.[6, 63].Cái đẹp là cái cao cả, tao nhã Do đó khi sáng tác, các
nhà thơ trung đại thường hướng tới những cái cao cả, tao nhã hơn là cái bình
dị, dân dã Quan niệm thế giới theo chiều dọc có trên có dưới, xã hội có đẳng cấp sang- hèn nên văn chương hướng tới cái cao cả, tao nhã Họ hướng tới vẻ
đẹp của thiên nhiên, vũ trụ vẻ đẹp của chí, của đạo (Quan niệm “Thi dĩ ngôn chí, văn dĩ tải đạo”) Vì vậy viết về thiên nhiên phải là phong hoa tuyết
nguyệt, sơn thủy hữu tình Đúng như hai câu thơ của Hồ Chí Minh:
Thơ xưa chuộng cảnh thiên nhiên đẹp Mây gió trăng hoa tuyết núi sông”
(Cảm tưởng khi đọc “Thiên gia thi”)
Do quan niệm cái đẹp là cái tao nhã nên trong hai tập thơ của Nguyễn Trãi xuất hiện nhiều những bài thơ viết về vẻ đẹp cao cả, tao nhã :
Chè mai đêm nguyệt dậy xem bóng Miễn là phỏng đạo tiên nho
(Ngôn chí thi - Bài 3)
Gió nhặt đưa qua trúc ổ Mây tuôn phủ rợp thư phòng
(Thuật hứng- Bài 51)
Những câu thơ trên mang đến một bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp với
những đường nét nhẹ nhàng, thanh thoát, màu sắc hài hòa êm dịu Khung cảnh thiên nhiên thơ mộng, trang nhã, cảnh vật lung linh dưới ánh trăng Dưới ánh sáng của vầng trăng, hoa mai như đang hé bên khe cửa Gió đang đưa qua ổ trúc,làn mây bồng bềnh phủ khắp gian phòng
Trang 27Hoặc câu thơ
“Ngắm xem mai hay tuyết đến Say thưởng nguyệt lệ thu qua”
(Bảo kính cảnh giới - Bài 168) Cũng vẽ nên một bức tranh thiên nhiên hết sức cao cả, tao nhã, với vẻ đẹp của vầng trăng, của hoa mai, của những bông tuyết
Người xưa quan niệm cái đẹp là sự hài hòa, đăng đối với nhau Ít chú ý đến cái riêng của cá tính mà thường chỉ có cái chung nên hướng tới những đối xứng song hành
Giậu cúc thu vàng nảy lác Sân mai tuyết bạc che đều
(Bảo kính cảnh giới- Bài 37)
Ở đây ta bắt gặp một bức tranh mùa xuân hết sức hài hòa Tác giả đã dùng những tính từ chỉ màu sắc mang tính tạo hình cao: tuyết, bạc tạo cho hoa mai một sự trang trọng, cao quý Nước ta không có tuyết, tuyết ở đây là do màu hoa mai trắng ngần tạo thành Hoa mai nhiều đến rợp cả mái nhà tưởng như tuyết mùa đông rơi rắc phủ kín cả không gian trước mặt
Rõ ràng những cơ sở mĩ học trên đã ảnh hưởng Nguyễn Trãi khi xây
dựng hình tượng Đông thiên tam hữu
1.3 Khái quát hình tƣợng Đông thiên tam hữu trong văn học trung
đại Việt Nam
1.3.1 Hình tượng Đông thiên tam hữu trong Văn học trung đại từ thế X đến thế kỉ XVII
Trong quá trình viết luận văn,theo khảo sát của chúng tôi văn học trung đại Việt Nam có rất nhiều các tác phẩm viết về tùng, trúc, mai Dưới đây là bảng khảo sát, có lẽ là chưa được đầy đủ song cũng cho thấy số lượng viết về
ba người bạn mùa đông cũng thật phong phú, đa dạng
Trang 28STT Tác giả Tác phẩm
1 Mãn Giác Thiền sư Có bệnh bảo mọi người
2 Tuệ Trung Thượng sĩ Giản để tùng
3 Trần Quang Khải Bến đò Lưu Gia
6 Nguyễn Trung Ngạn Tặng nhà sư Khắc Sơn đất Hứa
8 Trần Nguyên Đán Lăng Kính họa vần thơ “ Hoàng mai
tức sự” của nhà vua
9 Nguyễn Phi Khanh Ở trong xóm
12 Tác giả thời Hồng Đức Hồng Đức Quốc âm thi tập
13 Nguyễn Bỉnh khiêm Bạch Vân quốc ngữ thi tập
14 Phùng Khắc Khoan Vịnh nộn mai
20 Cao Bá Quát Bài ca cái roi song, Tài mai
21` Nguyễn Đình chiểu Chưa rõ tên bài
22 Sương Nguyệt Anh Cây mai, Thưởng bạch mai đề cảm
Để thuận tiện cho việc khảo sát, người viết chia tách hình tượng tùng, trúc,mai thành hai giai đoạn khác nhau( Từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XVII; Từ thế kỉ XVIII đến hết thế kỉ XIX)
Trang 29Trước hết xin được nói về hình ảnh tùng, trúc, mai từ thế kỉ X đến thế
kỉ XVII Thời kì này có khá nhiều tác giả viết về ba người bạn mùa đông như:
Tuệ Trung Thượng sĩ, Chu Văn An, Nguyễn Phi Khanh…Họ mượn ba hình
ảnh tùng, trúc, mai không chỉ để ca ngợi vẻ đẹp thiên nhiên mà còn gửi gắm
nhiều nội dung phong phú khác nhau Bài thơ đầu tiên là bài Giản để tùng (Cây tùng dưới đáy khe) của Tuệ Trung( 1230- 1291) Ông là một nhà
văn hoá lớn Ông tên thật là Trần Tung một người phẩm chất thanh cao, sùng
đạo Phật Sách An Nam chí lược(Lê Tắc)cho biết Trần Tung là vị tướng tài,
cuối đời ông đi tu, nổi danh một người uyên thâm về đạo Phật, được Trần Thánh Tông rất khâm phục
Tối ái thanh tùng chủng kỷ niên, Hưu ta địa thế sở cư thiên
Đống lương vị dụng nhân hưu quái
Dã thảo nhàn hoa, mãn mục tiền!
Có người xem bài thơ là một sự tỏ bày chua chát về nhân tình, thời thế đổi thay những lương tài của đất nước hết thời sử dụng về ẩn dật hoa thơm
cũng như cỏ dại,“phượng công sánh vai cùng gà đàn chim cuốc” Tuy nhiên
đối chiếu với phẩm hạnh và cuộc đời Tuệ Trung thì cách hiểu bài thơ như bản dịch và lời bình của Ngô Văn Phú dễ được chấp nhận hơn :
Mấy năm trồng tỉa một chòm thông, Chẳng thở than vì đất vắng không!
Rường cột chưa dùng, đời chẳng lạ
Mảng vui cỏ nội với hoa đồng!
“…Thơ viết về thông mà nói về người, về bản chất của một lối sống Sự thanh cao nhuần thấm đến từng chữ, từng lời!” “Sự thanh cao” mà Ngô Văn
Phú nói ở đây ám chỉ việc người không than thở cho những mất mát chênh
lệch về vị trí, chức tước, luôn vui vẻ hoà đồng “mảng vui với cỏ nội hoa đồng”.Hình tượng tùng ở đây có thể thay bằng một chữ Hoà (hoà đồng)
Trang 30Không phải là chữ Dũng mà là chữ Hoà , một phẩm chất quan trọng của bậc
hào kiệt thời k đầu xây dựng nhà nước phong kiến tập quyền
Trong thơ Chu Văn An và Nguyễn Phi Khanh đời Trần, hình ảnh cây
tùng hiện lên là hình ảnh của quê hương buồn vắng, quạnh hiu:
Thấp thoáng tùng thu bóng xế chiều,
Cỏ non phủ đá biếc màu rêu
Gió vờn non thẳm thêm buồn bã, Mây lắng trời xa để tịch liêu
Bên suối hoa tàn mưa lất phất, Ngoài đồng chim lặng núi đìu hiu
Ngập ngừng mấy độ dời chân bước, Xanh ngát cỏ xuân sắc diễm kiều
(Trông về Thái Lăng)
Tùng quân ba dãy đó Năm cuối nhắc gì quê Thu sắc nâng bầu ngắm Trời chiều chống gậy đi Mây cao trăng mới hé Trời rộng nhạn bay về Bỗng nghe chiều chuông gióng Gọi trẻ cài phên tre
(Ở trong xóm- Nguyễn Phi Khanh)
Trong thơ Chu Văn An, tùng hiện lên không phải ở cái dáng vững chãi,
uy nghi mà tùng được đặt trong không gian buổi chiều mùa thu với những cảnh vật: cỏ non đã biếc màu, gió vờn trên non, mây lắng xuống…tất cả đều gợi lên một khung cảnh buồn vắng, tịch liêu Hình ảnh con người vẫn xuất
hiện, nhưng dường như có sự “ ngập ngừng mấy độ dời chân bước” Có cái gì
như băn khoăn, phân vân trong bước chân ấy, liệu đó có phải là nỗi niềm tha
Trang 31hương? Trong thơ Nguyễn Phi Khanh hình ảnh tùng gắn với cuộc sống thong
thả, yên bình Tùng đánh thức trong lòng nhà thơ nỗi niềm tha hương
Khác với các tác giả trên, Vũ Mộng Nguyên trong bài thơ “ Bồn tùng”viết:
Vốn xưa tấc gốc ở sơn lâm Nương náu trong bồn dưới bóng râm Trước cửa cằn còi vừa mấy thước Bên hiên nảy nở muôn nghìn tầm
( Bản dịch) Bài thơ đưa ta trở lại nơi hang sơn cùng cốc là nơi gốc gác cây tùng thường sống xưa kia, nơi ấy là thế giới tự nhiên hùng vĩ với một không gian núi rừng đại ngàn Thế mà nay tùng phải gửi mình vào trong bồn với không gian chật hẹp, bé nhỏ.Tuy phải sống ở trong bồn nhỏ bé, chật hẹp lại chịu dưới không gian của bóng râm Thế nhưng những cành tùng như đã muốn khát khao vượt khỏi sự ràng buộc Bài thơ thể hiện một ý chí, hoài bão của người quân tử không chịu giam hãm trong vòng đời quẩn quanh, chật hẹp mà khát khao muốn vùng vẫy, muốn thoát khỏi sự trói buộc, tù túng để thể hiện ý chí
hoài bão lớn lao được “chọc trời rợp suối”“ ngoắc mù vin mây” của nhà thơ
Trong Hồng Đức quốc âm thi tập chỉ có duy nhất một bài thơ nói về
Kì viên giống lạ nào so kịp
Dữ lĩnh danh thơm dễ sánh cung Ngượng thấy tam công đeo chức trọng Đại phu há những chịu Tần phong
(Tùng thụ)
Trang 32Phải có tán vươn cao, tỏa rộng trên hư không thì tùng mới có sức vượt
“qua mấy trăm thu thủa bão bùng” Và cũng phải kinh qua tiết trời giá lạnh,
sương tuyết, cây mới khẳng định được bản lĩnh, tài năng và từ đó mới được
dùng vào những công việc có ích “tài cao dưỡng để miếu dường dùng”
Bài Phú Tùng bách hậu điêu của Đặng Tuyên đời Lê có đoạn mở đoạn:
“Kìa xem loài vật Cuối xuân sang hạ, xinh đẹp tốt tươi, Muôn vật đều như vậy, khó phân biệt dở hay ! Kịp khi
Cuối năm gió rét,muôn vật tơi bời Sau mới rõ:
Chất tùng rắn chắc, mà phân biệt việc đời …”
Rõ ràng bài phú một lần nữa cho mọi người thấy sự khác biệt mà không
hề dị biệt của tùng so với các loài cây khác Theo lẽ thường, khi cuối xuân sang hạ mọi thức đều mơn mởn, xinh tươi Nhưng lúc sương sa giá lạnh mới hay muôn vật lại không còn như nhau nữa Lúc khắc nghiệt ấy, muôn vật như
rũ ra, tàn phai, héo úa thì cũng là khi tùng lại càng trở nên rắn chắc, vững vàng, ngạo nghễ hơn bao giờ hết
Trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm nhiều lần xuất hiện hình tượng tùng:
Tùng dài mười trượng cao lồng lộng Trăm loài cỏ cây thua hùng dũng
Tùng vượt lên trăm loài cỏ cây không chỉ bằng dáng trực oai phong, bốn mùa xanh lá mà hơn tất cả, càng giá rét tùng càng cứng cáp uy nghi :
Qua mấy trăm thu thủa bão bùng Tuyết cũng chẳng kinh sương tuyết bén
Nhờ có những phẩm chất tốt đẹp, tùng đã trở thành hình tượng nghệ thuật nhằm khẳng định những phẩm chất cao đẹp của con người Đó là ý chí rèn luyện qua những thử thách gay go khốc liệt để có được phẩm chất kiên
Trang 33cường cứng cáp trong cuộc sống, trong sự nghiệp cao cả giúp đời Tùng tượng trưng cho cốt cách của đại trượng phu
Nếu đại phu tùng bản lĩnh sắt đá, thì trúc lại có vẻ đẹp riêng Các tác giả trung đại thời kì này cũng viết về trúc, tuy không nhiều, song đã khắc họa được vẻ đẹp thanh tao của trúc:
“Lòng không chẳng vả phô niềm tục Khí cứng hằng thin một tiết thanh Kham chi thế gọi là quân tử Sương tuyết nào hề bén mình”
(Trúc quân tử)
Cây trúc có đặc điểm ruột rỗng, thân thẳng, cũng từ đây mà người ta
liên tưởng đến cái đức của người quân tử lúc nào cũng ngay thẳng, trong sạch
“Kì viên dưỡng dục nẻo sơ đông Dạn mặt đầu cành thủa gió rung Giá chẳng xâm, hay tiết cứng Trăng những tỏ biết lòng không Đài Vương tử vắng nhàn xoang phượng Chầm cát pha thanh dễ hóa rồng
Thiên hạ tri âm hay có mấy Mai thì ngự sử đại thu tùng”
(Cây trúc) Trúc vượt qua cái giá lạnh của mùa đông, chịu qua cái khắc nghiệt của
những “thủa gió rung”, càng giá lạnh càng hay tiết cứng Trúc hóa rồng cũng
là kết quả của quá trình tu dưỡng, chịu đựng gian khổ, là phần thưởng cho những người biết vượt qua gian khổ để chiến thắng Như thế các tác giả trung đại vịnh trúc cũng là để thể hiện chí hướng, hoài bão của mình
Trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, có đến 16 lần nói về trúc Hình ảnh trúc ở thơ Tuyết Giang phu tử có nhiều nét giống với Nguyễn Trãi thủa trước Đọc thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm ta thấy, trúc gắn bó với ông trong cuộc sống hàng ngày:
Trang 34“Măng trúc còn tươi bếp mới sôi”
“Sôi măng trúc đắng, thèm thay thịt
Không những thế trúc mai còn gợi hứng cho câu thơ của ông thêm nồng
“Trúc mai làm bạn hứng thơ nồng”
Trúc với ông còn là bạn bè tâm giao, không hề cách biệt
“Cửa trúc vỗ tay cười khúc khích”
Như thế các tác giả trung đại vịnh trúc cũng là để thể hiện cuộc sống, chí hướng, hoài bão của mình
Bên cạnh hình ảnh tùng, trúc, văn học trung đại thế kỉ X đến XVII cũng có nhiều bài thơ viết về mai Có lẽ, nụ mai nở sớm nhất trong thơ ca Việt Nam lại là đóa hoa nở muộn Ấy là cành mai cuối mùa của một đại sư thuộc phái Vô Ngôn Thông: đại sư Mãn Giác Nguyên văn được chép trong
"Thiền Uyển Tập Anh" như sau:
Xuân khứ bách hoa lạc Xuân đáo bách hoa khai
Sự trục nhãn tiền quá Lão tòng đầu thượng lai Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận Đình tiền tạc dạ nhất chi mai Tạm dịch:
Xuân đi trăm hoa rụng Xuân về trăm hoa tươi Trước mắt việc rời đuổi Trên đầu già đến rồi Chớ bảo xuân tàn hoa rụng cả Đêm qua sân trước một nhành mai
Trang 35Bài kệ dùng hình tượng mai để nói đến sự huyền diệu của việc tu hành
Bốn câu đầu khái quát quy luật của khách quan và quy luật của đời người Hai câu kết làm bừng sáng bài thơ: bậc tu hành khi giác ngộ đạo thì có thể vượt qua khỏi vòng luân hồi của thế giới, chẳng khác nào nhành mai vẫn nở khi
muôn hoa đã rụng vào buổi xuân tàn Hoa mai được xem là “bách hoa khôi”,
hoa nở đầu tiên trong trăm hoa, hoa mai nở báo hiệu mùa xuân về Xuân đi muôn vật đều tàn úa chỉ còn lại một nhành mai nở trước sân, đó phải chăng là sức sống, là vẻ đẹp vượt lên trên thời gian? Nhành mai vừa là một hình ảnh ước lệ tượng trưng thể hiện triết lí Thiền lại vừa là hình ảnh thật của cuộc sống trần thế
Ở trong thơ Huyền Quang (1254-1334), một thiền sư khác sống sau đại
sư Mãn Giác hơn hai thế kỷ, là vị tổ thứ 3 của phái Trúc Lâm Yên Tử, từng
tôn mai lên ngôi vị Ngự sử đài- chức quan giữ trọng trách giám sát và can
gián vua chúa:
Ngự sử mai hai hàng chầu chắp Trượng phu tùng mấy rặng phò quanh
Ngoài ra ông có bài thơ có bài “Mai hoa”
“Dục hướng thương thương vấn sở tòng Lẫm nhiên cô trĩ tuyết sơn trung
Chiết lai bất vị hà thanh nhãn Nguyện tá xuân tư ủy bệnh ông”
Trang 36Cái hay của bài thơ là cả bài không nói đến chữ mai nào cả mà hình ảnh cây mai vẫn cứ hiện lên Câu thơ thứ bộc lộ sự ngạc nhiên của vị Thiền sư
về sự kì lạ của hoa mai, đến câu thơ thứ hai nhà thơ đã ca ngợi phẩm chất của nó: với trời xanh bao la, với đầy tuyết trắng, mai vẫn đứng một mình giữa núi non trơ trọi Tuyết càng giá lạnh càng tô đậm hơn sự mạnh mẽ cứng cỏi của hoa mai
Vua Trần Nhân Tông( 1258- 1308) cũng dành tình cảm của mình cho loài hoa mai mà mình yêu thích, ông có hai bài thơ về cây mai: Mai và Tảo mai
Thiết đảm, thạch can lăng hiểu tuyết
Tố quần, luyện thế bội đông phong Nhân gian kiệm tố Hán Văn Đế Thiên hạ anh hùng Đường Thái Tông Dịch:
Gan lì sắt đá nhờ sương tuyết Mộc mạc khăn xiêm đón gió đông Như Hán Văn xưa danh tiết
Thái Tông Đường nọ tiếng anh hùng
( Mai- Đào Phương Bình dịch)
Nếu như với Mãn Giác Thiền Sư, mượn nhành mai để làm một phương tiện nghệ thuật thể hiện tư tưởng, triết lí tôn giáo, nếu Huyền Quang khắc họa vẻ đẹp cây mai ở vai trò vị trí của nó thì Trần Nhân Tông lại có một sự tưởng tượng rất khác lạ về vẻ đẹp của cây mai Dưới con mắt của đấng minh quân, cây mai hiện lên vẫn mang vẻ đẹp riêng: mặc dù có gió đông về, hoa mai vẫn vững vàng, kiên trinh, sắt đá trước mọi sương tuyết Qua gió đông, cái hình dáng, màu sắc mảnh dẻ ấy trở nên đậm đà khó phai, dẻo dai cứng cáp hơn
Trang 37Ở bài thơ “Tảo mai”, ông viết:
Ngũ xuất viên ba kim niễn tu San hô trầm ảnh hải lân phù
Cá tam đông bạch chi tiền diện
Tả nhất biện hương xuân thượng đầu Cam lộ lưu phương si điệp tinh
Dạ quang như thủy khát cầm sầu Hằng Nga nhược thức hoa giai xứ Quế lãnh thiềm hàn chỉ ma hưu
(Tảo mai I)
Ngũ nhật kinh hàn lãn xuất môn Đông phong tiễn dĩ đái cô côn Ảnh hoàng thủy diện băng sơ bạn Hoa áp chi đầu noãn vị phân Thúy vũ ca trầm sơn điếm nguyệt Họa long xuy thấp Ngọc Quan Vân Nhất chi mê nhập cố nhân mộng Giác hậu bất kham trì tặng quân
(Tảo mai II)
Hoa mai sớm
Năm cánh hoa tròn vàng nhị phô Nổi nênh vẩy cá chìm san hô Đông ba tháng trái cành khoe trắng Xuân một làn thơm nhánh nhẹ đưa Đêm ngỡ nước trong, chim cháy cổ Sương lừng hương ngát , bướm tan mơ Hằng nga như biết đây hoa đẹp
Quế lạnh cung thiêm há mến chưa?
(Hoa mai sớm I)
Trang 38Năm ngày ngại rét ngại ra cửa Gốc lẻ nào ngờ đã gió xuân Mặt nước băng tan cây bóng ngả Đầu cành hoa trĩu ấm chưa phân Trăng chìm xóm núi lời ca bổng Mây ướt quan hà , tiếng sáo ngân Lạc tới chiêm bao hòa một nhánh Muốn đem tặng bạn khó vô ngần
(Hoa mai sớm I- Trần Lê Văn dịch)
Dưới con mắt của nhà vua, hình ảnh hoa mai hiện lên với vẻ đẹp của màu sắc và hương thơm Những cánh hoa mai ẩn hiện, nổi chìm trong sương tuyết mùa đông, phô những cánh tươi đẹp làm sáng rực một vùng Những cánh hoa ấy khi nổi lên thì giống như vảy cá lăn tăn, khi chìm thì lấp ló như san hô trắng trong lớp nước sâu Màu trắng của hoa tựa như những làn nước trong đánh thức dậy những cơn khát của loài chim, hương thơm của hoa đánh thức giấc mơ của những chú bướm Quả thật đây là một sự tưởng tượng đến tuyệt vời Và trong thực tế chắc khó có nhành hoa mai nào nở suốt ba tháng ngày đông tháng giá, song có một nhành mai vẫn nở trong mắt của nhà vua Hiện tượng nở rồi tàn, đến rồi đi của hoa mai không thoát ra ngoài khỏi thế giới vô thường Đây có thể xem là một bài thơ Thiền đặc sắc, đó là lời chỉ dẫn cho các đệ tử về cõi vô thường của vạn vật để từ đó biết hạn chế những dục vọng trong cuộc đời
Hồng Đức quốc âm thi tập là một tập thơ nổi tiếng gồm tập hợp những
bài thơ của nhiều tác giả Có thể thấy các thi nhân trong tập thơ này đã dành nhiều ưu ái cho cây mai, cả tập thơ có những sáu bài nói về mai Trong sáu bài thơ ấy, các tác giả đã làm nổi bật lên vẻ đẹp của mai, từ vẻ đẹp hình dáng :
Trang 39“Nước kia leo lẻo đã vô tình Mai hiện thưa thưa hết tấc xanh”
(Thủy trung mai- Bóng mai trong nước)
“Hoa lớn xưa nên thủa dốc sương Chẳng tàn chẳng cũ hãy phong quang
Kề hiên nhác ngỡ tiên Cô Dịch Thoáng bóng ngờ là chúa Thọ dương
(Họa mai- Hoa mai vẽ) đến khẳng định phẩm chất trong sạch, thanh cao
“Nhà truyền thanh bạch dăng từng khối”
Chẳng những thế cây mai còn mang bản lĩnh sắt đá, cứng cỏi của người quân tử
“Tiết cứng trượng phu thông ấy bạn”
(Mai thụ)
“Xuân thêm cốt cách hương càng bội Tuyết giúp tinh thần ngọc hãy còn”
(Lão mai) Tùng, trúc,mai trong văn học trung đại từ thế kỉ X đến thế kỉ XVII vừa
có những điểm tương đồng, song dưới con mắt của các tác giả chúng lại hiện lên với những vẻ đẹp khác nhau Ba hình tượng ấy vừa mang vẻ đẹp thiên nhiên,vẻ đẹp và vẻ đẹp của người quân tử
1.3.2 Hình tượng Đông thiên tam hữu trong văn học trung đại từ thế
kỉ XVIII đến hết thế kỉ XIX
Tuy số lượng bài có ít hơn, song trong hai thế kỉ, hình tượng tùng, trúc, mai vẫn giữ được vị trí quan trọng Các tác giả vẫn dành cho ba hình tượng này những tình cảm ưu ái nhất Một số nhà thơ tiêu biểu trong thời kì này viết về
Đông thiên tam hữu đó là Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến…
Trang 40Vẻ đẹp của cây tùng được Cao Bá Quát khẳng định:
Ở đỉnh núi Nguyệt Hằng, Trên đó có cây tùng cây bách chết một nửa Nhưng vẫn cùng nhau đứng trơ trơ giữa trời giá rét”
(Đằng tiên ca - Bài ca cái roi song) Đoạn thơ đưa chúng ta trở lại với nơi núi non hùng vĩ, uy nghiêm, nơi vốn tùng bách ngự ở đó Thiên nhiên khắc nghiệt đã làm cho thân tùng “chết một nửa”, nhưng hình như cây tùng vẫn kiên gan, hiên ngang bám trụ lấy mặt đất giữa trời giá rét Hình ảnh cây tùng, cây bách như hai người bạn tri kỉ vượt lên trên những khó khăn chính là biểu tượng cho phẩm chất người quân tử
Hình ảnh trúc hiện lên trong thơ Nguyễn Khuyến lại mang một vẻ đẹp khác
“Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu”
(Thu vịnh)
Hình ảnh trúc trong bài thơ“Thu vịnh” của Nguyễn Khuyến gợi lên
không gian khoáng đạt, cao rộng của mùa thu, cần trúc với dáng mảnh mai, thanh thoát làm bức tranh mùa thu nhẹ nhàng, hấp dẫn Trúc gắn với bức tranh mùa thu bình yên
Văn học trung đại thế kỉ VXIII đến hết thế kỉ XIX cũng có nhiều bài viết về mai
Khi nói tới hình tượng hoa mai, ta không thế không nhắc đến hai câu thơ rất nổi tiếng tương truyền của Cao Bá Quát (?):
Thập tải luân giao cầu cổ kiếm Nhất sinh đê thủ bái mai hoa
(Mười năm xuôi ngược giao du quyết tìm thanh kiếm cổ,
Suốt một đời chỉ biết cúi đầu vái trước hoa mai)
Hai câu thơ thể hiện một tấm lòng ưu ái, kính trọng, yêu mến hoa mai