BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI NGUYỄN XUÂN THUYẾT NGHIÊN CỨU BIỆN PHÁP NÂNG CAO TÍNH TỰ GIÁC, TÍCH CỰC TRONG GIỜ HỌC GIÁO DỤC THỂ CHẤT CHO SINH VIÊN HỌC VIỆN AN NI
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
NGUYỄN XUÂN THUYẾT
NGHIÊN CỨU BIỆN PHÁP NÂNG CAO TÍNH TỰ GIÁC, TÍCH CỰC TRONG
GIỜ HỌC GIÁO DỤC THỂ CHẤT CHO SINH VIÊN
HỌC VIỆN AN NINH NHÂN DÂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
NGUYỄN XUÂN THUYẾT
NGHIÊN CỨU BIỆN PHÁP NÂNG CAO TÍNH TỰ GIÁC, TÍCH CỰC TRONG GIỜ HỌC GIÁO DỤC THỂ CHẤT CHO SINH VIÊN HỌC VIỆN
AN NINH NHÂN DÂN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số
liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố
trong bất kỳ công trình nào
Tác giả luận văn
Nguyễn Xuân Thuyết
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 4CT - Chỉ thị
ĐC - Đối chứng ĐH- CĐ - Đại học – Cao đẳng GD-ĐT - Giáo dục – Đào tạo
GDTC - Giáo dục thể chất
HVAN - Học viện an ninh nhân dân
NCKH - Nghiên cứu khoa học
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
1 Bảng 2.1 Kết quả phỏng vấn các tiêu chí đánh giá tính tự giác, tích của
sinh viên HVAN trong giờ học GDTC
2 Bảng 2.2 Kết quả phỏng vấn về biểu hiện ở xúc cảm học tập của sinh
viên HVAN với môn học GDTC
3 Bảng 2.3 Kết quả phỏng vấn về biểu hiện chú ý của sinh viên HVAN
trong giờ học GDTC
4 Bảng 2.4 Kết quả phỏng vấn về biểu hiện sự nỗ lực ý chí của sinh viên
HVAN trong giờ học GDTC
5 Bảng 2.5 Kết quả phỏng vấn về biểu hiện bằng hành vi của sinh viên
HVAN với môn học GDTC
6 Bảng 2.6 Kết quả học tập môn GDTC của sinh viên HVAN
7 Bảng 2.7 Kết quả kiểm tra thể lực chung của sinh viên HVAN
8 Bảng 2.8 Kết quả phỏng vấn sinh viên về nguyên nhân ảnh hưởng đến
tính tự giác tích cực của sinh viên HVAN
9 Bảng 2.9 Kết quả phỏng vấn giáo viên về nguyên nhân ảnh hưởng đến
tính tự giác tích cực của sinh viên HVAN
10 Bảng 3.1
Kết quả phỏng vấn xác định nguyên tắc lựa chọn biện pháp nâng cao tính tự giác, tích cực trong giờ học GDTC của sinh viên HVAN
11 Bảng 3.2 Kết quả phỏng vấn lựa chọn biện pháp nâng cao tính tự giác,
tích cực trong giờ học GDTC của sinh viên HVAN
12 Bảng 3.3 Phân phối chương trình (Dành cho sinh viên hệ chính quy
HVAN)
13 Bảng 3.4 So sánh tiêu chí về xúc cảm, chú ý, ý chí và hành vi của sinh
viên đối với môn học GDTC của Nhóm thực nghiệm và
Trang 6Nhóm đối chứng, trước thực nghiệm
14 Bảng 3.5 So sánh kết quả học tập môn học GDTC của Nhóm thực
nghiệm và Nhóm đối chứng, trước thực nghiệm
17 Bảng 3.6
So sánh tiêu chí về xúc cảm, chú ý, ý chí và hành vi của sinh viên đối với môn học GDTC của Nhóm thực nghiệm và Nhóm đối chứng, sau thực nghiệm
Bảng 3.7 So sánh kết quả học tập môn học GDTC của Nhóm thực
nghiệm và Nhóm đối chứng ở thời điểm sau thực nghiệm
Bảng 3.8 Kết quả kiểm tra thể lực của 2 nhóm đối chứng và thực
nghiệm
Bảng 3.9
Đối chiếu và so sánh nhịp tăng trưởng về tiêu chí về xúc cảm, chú ý, ý chí và hành vi của sinh viên đối với môn học GDTC của Nhóm thực nghiệm và Nhóm đối chứng, trước và sau thực nghiệm
Bảng 3.10
Đối chiếu và so sánh nhịp tăng trưởng về kết quả học tập môn học GDTC của Nhóm thực nghiệm và Nhóm đối chứng, trước và sau thực nghiệm
Bảng 3.11
Đối chiếu và so sánh nhịp tăng trưởng về trình độ thể lực của Nhóm thực nghiệm và Nhóm đối chứng, trước và sau thực nghiệm
Biểu đồ 3.1
Nhịp tăng trưởng về tiêu chí về xúc cảm, chú ý, ý chí và hành vi của sinh viên đối với môn học GDTC của Nhóm thực nghiệm và Nhóm đối chứng
Biểu đồ 3.2 Nhịp tăng trưởng kết quả học tập môn GDTC của
Nhóm thực nghiệm và Nhóm đối chứng, sau thực nghiệm
Biểu đồ 3.3 Nhịp tăng trưởng thể lực của các nam sinh viên của
Nhóm thực nghiệm và Nhóm đối chứng, sau thực nghiệm
Biểu đồ 3.4 Nhịp tăng trưởng thể lực của các nữ sinh viên của
Nhóm thực nghiệm và Nhóm đối chứng, sau thực nghiệm
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Giáo dục thể chất (GDTC) trong trường Đại học là một mặt giáo dục quan trọng không thể thiếu trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo, góp phần thực hiện mục tiêu: Nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân lực, đào tạo nhân tài cho đất nước, cũng như để mỗi công dân, nhất là thế hệ trẻ có điều kiện phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức để đáp ứng nhu cầu đổi mới của sự nghiệp phát triển kinh tế
xã hội của đất nước
Từ trước đến nay, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn coi trọng công tác GDTC và hoạt động Thể dục thể thao (TDTT) trong trường học các cấp Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1992 quy định: “Việc dạy và học thể dục là bắt buộc trong nhà trường” Chỉ thị 36 CT của Ban bí thư Trung ương Đảng về công tác TDTT trong giai đoạn mới đã nêu: “Thực hiện Giáo dục thể chất trong tất cả các trường học, làm cho việc tập luyện thể dục thể thao trở thành nếp sống hàng ngày của hầu hết học sinh, SV Thực hiện các nhiệm
vụ xây dựng con người và thế hệ trẻ thiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc, có trình độ làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo và có sức khoẻ Cần coi trọng nâng cao chất lượng Giáo
dục thể chất trong trường học ”
Trong một số năm gần đây, việc đổi mới hình thức tổ chức, quản lý, phương pháp dạy và học môn GDTC nói riêng đã đạt được những kết quả đáng khích lệ Tuy nhiên, căn cứ vào điều kiện thực tiễn của nhà trường về yếu tố cơ sở vật chất, nguồn nhân lực và một số điều kiện khách quan khác, hiệu quả của các giờ học chính khoá đối với môn học GDTC vẫn còn nhiều hạn chế Mặc dù GDTC từ lâu đã trở thành môn học chính thức, bắt buộc trong chương trình các cấp học, ngành học, nhưng cho đến nay vẫn còn bị coi nhẹ Chương trình môn học chưa thực sự hợp lý, chưa phù hợp và đáp ứng
Trang 8được yêu cầu của tuổi trẻ học đường, cơ sở vật chất, dụng cụ và sân bãi còn nghèo nàn và thiếu thốn, sân bãi tập luyện chật hẹp và ngay sát các lớp học ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng giờ học thể dục, đội ngũ cán bộ giáo viên có nơi vẫn còn thiếu về số lượng và yếu về chất lượng; một bộ phận không nhỏ học sinh có ý thức rèn luyện TDTT chưa cao, chưa thực sự tự giác tích cực trong các giờ học thể dục
Học viện An ninh nhân dân cũng nằm trong tình trạng chung đó Công tác GDTC đôi khi vẫn còn mang tính hình thức, việc đầu tư trang thiết bị cơ
sở vật chất chưa tạo được điều kiện thuận lợi cho việc nâng cao chất lượng dạy học thể hiện ở các thiết bị, dụng cụ tập luyện, nhà tập, sân bãi còn thiếu Quy trình quản lý, chỉ đạo, tổ chức các hình thức luyện tập chưa hợp lý, phương pháp dạy học còn đơn điệu thiếu sinh động chưa gây hứng thú học tập cho học sinh, nhiều học sinh coi giờ học thể dục như giờ vui chơi nên không chú tâm luyện tập Kết quả khảo sát trong các giờ học GDTC cho thấy vẫn còn nhiều học sinh có thể lực chung rất hạn chế làm ảnh hưởng tới kết quả học tập của các em
Trong thời gian qua, đã có một số tác giả nghiên cứu, đề cập tới những khía cạnh khác nhau của công tác GDTC trong trường học như: Phạm Đình Bẩm, Đỗ Hữu Trường (2005), Đồng Văn Triệu (2006), Nguyễn Viết Kiên (2010), Nguyễn Thị Nhung (2011), Vũ Văn Thanh (2011) Tuy nhiên các tác giả mới chỉ đề cập đến các vấn đề phát huy tính tích cực của SV trong giảng dạy môn Bắn súng, phát huy tính tích cực của SV trong giảng dạy môn lý luận, ứng dụng phương pháp dạy học phát huy tính tích cực của người học trong giảng dạy thực hành môn Thể Dục cho học sinh trường THPT, Tuy nhiên chưa có tác giả nào đề cập đến việc nâng cao hiệu quả tính tự giác, tích cực của SV Học viện An ninh nhân dân
Xuất phát từ những lý do trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “ Nghiên cứu biện pháp nâng cao tính tự giác, tích cực trong giờ học giáo dục thể chất cho sinh viên Học viện An ninh nhân dân”
Trang 93 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được mục đích nghiên cứu, đề tài xác định các nhiệm vụ cụ thể
sau:
Nhiệm vụ 1: Thực trạng tính tự giác, tích cực trong giờ học GDTC của
sinh viên Học viện An ninh nhân dân
Nhiệm vụ 2: Lựa chọn và ứng dụng biện pháp nâng cao tích tự giác,
tích trong giờ học GDTC cho sinh viên Học viện An ninh nhân dân
4 Khách thể và Đối tượng nghiên cứu:
4.1 Khách thể nghiên cứu
Giảng viên GDTC, sinh viên Học viện An ninh nhân dân,…
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp nâng cao tính tự giác, tích cực trong giờ học giáo dục thể chất cho sinh viên Học viện An ninh nhân dân
5 Phạm vi nghiên cứu
Tính tự giác, tích cực trong giờ học giáo dục thể chất cho sinh viên Học viện An ninh nhân dân
6 Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tôi đã sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau:
6.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu
Đây là phương pháp được sử dụng trong suốt quá trình nghiên cứu Trong phạm vi của đề tài phương pháp này giúp chúng tôi tìm hiểu vấn đề liên quan tới tính tự giác, tích cực cũng như các yếu tố ảnh hưởng tới tính tự
Trang 10giác, tích cực khi học môn GDTC Qua đó phân tích và lựa chọn các biện pháp nhằm nâng cao tính tự giác, tích cực cho học sinh trong giờ học GDTC Phân tích và tổng hợp các tài liệu có liên quan còn là cơ sở để giúp chúng tôi lựa chọn các phương pháp nghiên cứu và bàn luận kết quả nghiên cứu Trong
đề tài chúng tôi đã tiến hành tham khảo tài liệu bao gồm các văn kiện của Đảng và Nhà nước về TDTT, các chỉ thị, thông tư, các chế độ, chính sách đối với TDTT, các hồ sơ lưu trữ về TDTT và một số luận văn cao học
6.2 Phương pháp phỏng vấn, tọa đàm
Sử dụng phương pháp này nhằm thu thập các tư liệu nghiên cứu thông qua phỏng vấn gián tiếp bằng phiếu hỏi các khách thể nghiên cứu Các lĩnh vực mà đề tài quan tâm là: Làm thế nào để nâng cao tính tự giác tích cực trong giờ học thể dục? Chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn hai đối tượng: các giáo viên TDTT, các cán bộ có liên quan trực tiếp đến phong trào TDTT trong và ngoài nhà Học viện (tổng số là 30 người); sinh viên Học viện An ninh nhân dân trực tiếp học môn GDTC
6.3 Phương pháp quan sát sư phạm
Tổ chức quan sát sư phạm ngay tại học viện, thông qua phương pháp quan sát sư phạm để đánh giá tính tự giác, tích cực, hăng hái, hay thụ động, thờ ơ của sinh viên Học viện An ninh nhân dân trong giờ học chính khoá Kết quả của phương pháp này được coi là những cơ sở thực tiễn để đề xuất, lựa chọn các biện pháp phù hợp
6.4 Phương pháp kiểm tra sư phạm
Phương pháp này được sử dụng trong giai đoạn nghiên cứu ban đầu và giai đoạn thực nghiệm sư phạm để kiểm tra đánh giá tính tự giác, tích cực trong giờ học GDTC, kết quả thi kết thúc học phần và thể lực chung của đối tượng nghiên cứu bao gồm:
- Các tiêu chí đánh giá tính tự giác, tích cực trong giờ học GDTC cụ thể:
+ Biểu hiện ở xúc cảm học tập
Trang 11+ Biểu hiện chú ý trong giờ học
- Mục đích: Đánh giá tố chất sức nhanh của sinh viên
- Dụng cụ đo: Đồng hồ bấm giây chính xác đến 1% giây, cờ phát lệnh
Trước khi vào kiểm tra, phổ biến cho sinh viên biết cách thực hiện bài kiểm tra, phân công giáo viên ở các vị trí kiểm tra Hướng dẫn sinh viên khởi động chung và khởi động chuyên môn thật kỹ để tránh xảy ra chấn thương và khi đó mới phát huy được tốc độ cao nhất Mỗi đợt kiểm tra hai người ở hai đường chạy , mỗi người kiểm tra một lần
- Phương pháp tiến hành: Từ vạch xuất phát với tư thế xuất phát thấp, khi có cờ lệnh xuất phát, sinh viên nhanh chóng rời vạch xuất phát chạy nhanh về phía trước, qua vạch đích
Khi đến đích, người kiểm tra bấm đồng hồ và ghi thể tích của người đó Qua mỗi lần kiểm tra , đồng hồ trả về số 0
Trang 12Mỗi sinh viên thực hiện 3 lần, lấy thành tích cao nhất
- Cách xác định thành tích: Đo từ vạch của ván dậm nhẩy đến điểm rơi gần nhất của cơ thể
c Test co tay xà đơn :
- Mục đích: Đánh giá sức mạnh của tay cùng với sự kết hợp của toàn thân
- Phương pháp tiến hành: Người thực hiện ở tư thế treo tay trên xà đơn, 2 bàn tay nắm xà(CÓ thể tay úp hoặc ngửa) sau đó thực hiện kéo xà, sao cho khi co tay, cằm cao ngang bằng tay xà thì được tính là một lần kéo và cứ như vậy thực hiện kéo cho đến khi không thực hiện được nữa thì thôi
- Thành tích được tính bằng số lần kéo xà cuối cùng đúng yêu cầu
Mỗi sinh viên thực hiện 1 lần
d Test chạy 1500m (nam) và 800m(nữ):
- Mục đích : Nhằm đánh giá sức bền của sinh viên Đồng thời đánh giá năng lực làm việc của hệ thống hô hấp, tim mạch
- Cách tiến hành: sinh viên được kiểm tra dung hết sức chạy hết cự ly qui định Thành tích là thời gian được tính từ khi bắt đầu chạy đến khi về đích Thành tích tính dựa trên tiêu chuẩn:” chiến sĩ công an khỏe”
- Dụng cụ đo: Đồng hồ điện tử
6.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Để khẳng định tính khoa học và hiệu quả của các biện pháp đề ra chúng tôi đã tiến hành thực nghiệm sư phạm trên hai nhóm: Nhóm thực nghiệm và
Trang 13nhóm đối chứng Đối tượng thực nghiệm là sinh viên Học viện An ninh nhân dân
Hai nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng được chia một cách ngẫu nhiên Chương trình thực nghiệm được kéo dài trong gần 1 học kỳ
Trong thời gian thực nghiệm chúng tôi luôn tuân thủ những điều kiện
cơ bản cần thiết như nhau giữa hai nhóm như:
- Đối tượng thực nghiệm có cùng dấu hiệu nhận biết về Lứa tuổi, hình thái, chức năng cơ thể và đặc biệt là trình độ vận động
- Điều kiện thực nghiệm tương đối đồng nhất, giống nhau Như sân tập, dụng cụ, giáo viên giảng dạy, phương pháp tập luyện, thời gian luyện tập Chỉ có một điều kiện khác nhau giữa hai nhóm, trong đó nhóm đối chứng vẫn tiến hành lên lớp như bình thường, còn nhóm thực nghiệm được áp dụng các biện pháp nâng cao tính tự giác, tích cực do chúng tôi đưa ra
6.6 Phương pháp thống kê toán học
Để xử lý được các số liệu sẽ thu thập được trong quá trình nghiên cứu
Đề tài dự kiến sẽ tiến hành sử dụng các công thức tính số trung bình cộng, phương sai, độ lệch chuẩn, hệ số biến sai, công thức tính tQS, tĐC và công thức
tính nhịp độ tăng trưởng
7 Tổ chức nghiên cứu
7.1 Thời gian nghiên cứu
Giai đoạn 1: Từ 10/2016 đến 11/2016: Đọc tài liệu tham khảo, xác định
hướng và lựa chọn tên đề tài, xây dựng đề cương và kế hoạch nghiên cứu, bảo vệ đề cương nghiên cứu
Giai đoạn 2: Từ 12/2016 đến 02/2017: Hoàn thiện cơ sở lý luận của đề
tài, đánh giá thực trạng tính tự giác, tích cực trong giờ học GDTC của sinh viên Học viện An ninh nhân dân; lựa chọn được các biện pháp nâng cao tính
tự giác, tích cực trong giờ học GDTC cho sinh viên Học viện An ninh nhân dân
Trang 14Giai đoạn 3: Từ 02/2017 đến 06/2017: Xử lý xong số liệu nghiên cứu,
hoàn thiện đề tài và báo cáo tóm tắt, bảo vệ thành công trước hội đồng khoa học
7.2 Địa điểm nghiên cứu:
- Học viện An ninh nhân dân
- Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
8 Những đóng góp mới của đề tài:
Đánh giá được thực trạng tính tự giác, tích cực trong giờ học GDTC của sinh viên Học viện An ninh nhân dân
Lựa chọn được các biện pháp nâng cao tính tự giác, tích cực trong giờ học GDTC cho sinh viên Học viện An ninh nhân dân
Trang 15CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC THỂ CHẤT TRONG TRƯỜNG HỌC
1.1.1 Quan điểm đường lối của Đảng và nhà nước về Giáo dục thể chất
Trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, cũng như trong sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước ta hiện nay, thực hiện tư tưởng chỉ đạo của Hồ Chủ tịch, Đảng và nhà nước ta không ngừng tạo điều kiện để biến học thuyết phát triển con người toàn diện thành hiện thực
Chỉ thị 36 CT/TW ngày 24/03/1994 của Ban bí thư Trung ương Đảng (khoá VII) giao trách nhiệm cho Bộ Giáo dục & Đào tạo và Tổng cục TDTT thường xuyên phối hợp chỉ đạo tổng kết công tác GDTC Cải tiến chương trình giảng dạy, tiêu chuẩn RLTT, đào tạo giáo viên TDTT cho trường học các cấp, tạo điều kiện cần thiết về cơ sở vật chất để thực hiện chế độ GDTC bắt buộc ở tất cả các trường học, làm cho việc tập luyện TDTT trở thành nếp sống hằng ngày của hầu hết học sinh - sinh viên, qua đó phát hiện và tuyển chọn được nhiều tài năng thể thao cho đất nước [6]
Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam Năm 1992 tại điều
41 quy định: "Nhà nước thống nhất quản lý sự nghiệp phát triển TDTT, quy định chế độ GDTC bắt buộc trong trường học, khuyến khích và giúp đỡ phát triển các hình thức tổ chức TDTT tự nguyện của nhân dân, tạo điều kiện cần thiết để không ngừng mở rộng các hoạt động thể thao chuyên nghiệp, bồi dưỡng các tài năng thể thao"
Luật Giáo dục được Quốc hội khoá IX, nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩaViệt Nam thông qua ngày 02/12/1998 và Pháp lệnh TDTT được Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua tháng 09/2000 quy định: Nhà nước coi trọng TDTT trường học, nhằm phát triển và hoàn thiện thể chất cho tầng lớp thanh thiếu niên và nhi đồng GDTC là nội dung giáo dục bắt buộc đối với SV được thực hiện theo hệ thống giáo dục quốc dân từ mầm non đến đại học TDTT
Trang 16trường học bao gồm việc tiến hành chương trình GDTC bắt buộc và tổ chức hoạt động TDTT ngoại khoá cho người học Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện cho học sinh, sinh viên được tập luyện TDTT phù hợp với đặc điểm lứa tuổi và điều kiện từng nơi GDTC là một bộ phận quan trọng để thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện, góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa [12]
Văn kiện Đại hội VIII của Đảng đã chỉ rõ: Giáo dục - Đào tạo cùng với khoa học công nghệ phải thực sự trở thành quốc sách hàng đầu, chuẩn bị tốt
hành trang cho thế hệ trẻ đi vào thế kỷ XXI Đồng thời khẳng định “Sự cường tráng về thể chất là nhu cầu của bản thân con người, là vốn quý để tạo ra tài sản, trí tuệ và vật chất cho xã hội, chăm lo cho con người về thể chất là trách nhiệm của toàn xã hội của các cấp, các ngành, các đoàn thể ” [10]
Văn kiện Đại hội IX của Đảng Cộng Sản Việt Nam đã khẳng định mục tiêu tổng quát của chiến lược phát triển kinh tế xã hội từ năm 2000 đến 2010
là “ Đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của nhân dân ” [11]
Chỉ thị 17/CT-TW ngày 23/10/2002 của Ban bí thư Trung ương Đảng
nêu rõ " Đẩy mạnh hoạt động TDTT ở trường học, đảm bảo mỗi trường học đều có giáo viên TDTT, tăng cường đầu tư của nhà nước trong lĩnh vực TDTT" [8]
Để tạo điều kiện thuận cho sự phát triển sự nghiệp thể thao nước nhà, Thủ tướng chính phủ đã ban hành chỉ thị 133/TTG về việc xây dựng quy
hoạch ngành TDTT, trong đó ghi rõ: "Ngành TDTT phải xây dựng định hướng có tính chất chiến lược, trong đó quy định các môn thể thao và các hoạt động mang tính phổ cập đối với mọi đối tượng, lứa tuổi, tạo thành phong trào tập luyện rộng rãi của quần chúng, khỏe để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc"
[7]
Trang 17Bộ Giáo dục và đào tào đã kịp thời có những chỉ thị, quyết định chỉ đạo thực hiện công tác giáo dục thể chất trong trường học, như việc ban hành Quy chế Giáo dục thể chất và Y tế trường học trong nhà trường các cấp Theo quyết định số: 14/2001 ngày 03 tháng 5 năm 2001, Bộ tiếp tục khẳng định vị trí vai trò Giáo dục thể chất là hoạt động giáo dục bắt buộc nhằm giáo dục, bảo vệ và tăng cường sức khoẻ, phát triển thể chất góp phần hình thành và bồi dưỡng nhân cách đáp ứng yêu cầu giáo dục toàn diện cho học sinh, sinh viên
Gần đây Bộ Giáo dục và Đào tạo - Uỷ ban thể dục thể thao thống nhất ban hành Thông tưliên tịch số 34/2005/TTLT-BGD& ĐT-UBTDTT ngày 29/12/2005, hướng dẫn phối hợp quản lý và chỉ đạo công tác thể dục thể thao
trường học giai đoạn 2006 - 2010, xác định "Thể thao trường học là một bộ phận đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao sức khoẻ và thể lực, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, ý chí, giáo dục nhân cách cho học sinh, SV góp phần đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, phát triển TDTT trường học theo hướng đổi mới và nâng cao chất lượng giờ học GDTC nội khoá, đa dạng hoá các hình thức hoạt động ngoại khoá, đồng thời tổ chức chặt chẽ việc kiểm tra tiêu chuẩn rèn luyện thân thể đối với người học "
Luật Thể dục, thể thao được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2006 mục 2 điều 20 quy định Giáo dục thể chất là môn học chính khoá thuộc chương trình giáo dục nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản cho người học thông qua các bài tập và trò chơi vận động, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện [15]
1.1.2 Giáo dục con người toàn diện theo quan điểm Hồ Chí Minh
Chủ tịch Hồ Chí Minh là một danh nhân văn hóa thế giới và được thế giới công nhận danh hiệu anh hùng giải phóng dân tộc Suốt đời Bác đã hy sinh vì độc lập dân tộc, lãnh đạo tài tình cuộc cách mạng giải phóng dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ thành công Bác là người trung thành với học thuyết Mác – Lênin Trong chỉ đạo công tác cách mạng
Trang 18và lãnh đạo sự nghiệp giải phóng dân tộc Bác cũng rất quan tâm đến công tác TDTT, coi đó là mục tiêu quan trọng trong sự nghiệp giáo dục cộng sản Chủ nghĩa cho thanh niên
Tháng 3 năm 1941, trong chương trình cứu nước của mặt trận Việt
Minh, Bác Hồ đã nêu rõ: “Khuyến khích và giúp đỡ nền TDTT quốc dân, làm cho nòi giống thêm khỏe mạnh” và ngay sau khi giành chính quyền tháng 8
năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quan tâm đến việc chăm lo sức khỏe của nhân dân Trong lời kêu gọi toàn dân tập GDTC tháng 3 năm 1946 Người
khẳng định vị trí của sức khoẻ trong chế độ mới: "Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khoẻ mới thành công Mỗi người dân yếu ớt, tức là làm cho cả nước yếu ớt, mỗi người dân khoẻ mạnh tức là làm cả nước mạnh khoẻ" Và vì thế "luyện tập thể dục, bồi bổ sức khoẻ là bổn phận của mỗi người dân yêu nước" [16]
Trong thư gửi Hội nghị Cán bộ thể dục thể thao toàn Miền Bắc ngày 31
tháng 03 năm 1960 Bác đã dạy: "Muốn lao động sản xuất tốt, công tác và học tập tốt, thì cần có sức khoẻ Muốn có sức khoẻ thì nên thường xuyên luyện thể dục thể thao Vì vậy, chúng ta nên phát triển phong trào thể dục thể thao rộng khắp" Đồng thời Bác còn căn dặn: "Cán bộ thể dục thể thao phải học tập chính trị, nghiên cứu nghiệp vụ và hăng hái công tác" nhằm phục vụ sức khoẻ nhân dân Về vị trí của TDTT trong xã hội, Người khẳng định: "…là một trong những công tác cách mạng khác" [16]
Tư tưởng bao trùm của Bác Hồ trong việc đặt nền tảng xây dựng nền TDTT mới của nước ta là: Sự khẳng định có tính chất cách mạng của công tác TDTT là nhu cầu khách quan của một xã hội phát triển, là nghĩa vụ của mỗi người dân yêu nước Mục tiêu cao đẹp của TDTT là bảo vệ tăng cường sức khỏe của nhân dân, góp phần cải tạo nòi giống, làm cho dân cường nước thịnh Những ý tưởng đó được xuyên suốt trong các văn kiện, bài viết của Bác
Trang 191.1.3 Giáo dục thể chất là một mặt của mục tiêu giáo dục toàn diện
Giáo dục thể chất là một bộ phận quan trọng của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa nhằm đào tạo thế hệ trẻ phát triển toàn diện, có tri thức, có đạo đức
và hoàn thiện thể chất Trong các trường Đại học - Cao đẳng và Trung học chuyên nghiệp, giáo dục thể chất cho học sinh - sinh viên được coi là một mặt giáo dục, vừa là nhiệm vụ quan trọng, góp phần bồi dưỡng thế hệ trẻ trở thành những con người phát triển toàn diện, có sức khỏe dồi dào, có thể chất cường tráng, có dũng khí kiên cường để kế tục sự nghiệp của Đảng
và nhân dân một cách đắc lực Cùng với các mặt hoạt động khác, quá trình giáo dục thể chất giúp cho học sinh – sinh viên hoàn thiện nhân cách
và các phẩm chất khác, nhằm đáp ứng đòi hỏi của cuộc sống và nghiệp vụ chuyên môn
Các Mác và Ăng ghen đã chứng minh sự phát triển của giáo dục phụ thuộc vào điều kiện sống vật chất, khám phá ra bản chất xã hội, bản chất giai cấp, đồng thời còn chỉ ra rằng trong xã hội chủ nghĩa cộng sản tương lai con người phát triển toàn diện là một tất yếu khách quan, bởi vì đó là nhu cầu của
xã hội Nhấn mạnh vấn đề này Mác đã viết: “ kết hợp lao động sản xuất với trí dục và thể dục ” Đó không những là biện pháp để tăng thêm sức sản xuất
của xã hội, mà còn là biện pháp duy nhất để đào tạo con người toàn diện [5]
Lênin tiếp tục đi sâu và phát triển sáng tạo học thuyết về giáo dục toàn
diện Người nhấn mạnh “ thanh niên đặc biệt cần sự yêu đời và sảng khoái, cần có thể thao lành mạnh, thể dục, bơi lội, tham quan, các bài tập thể lực, những hứng thú phong phú về tinh thần: học tập, phân tích, nghiên cứu và cố gắng phối hợp tất cả các hoạt động ấy với nhau” [5]
1.2 TÌNH HÌNH GIÁO DỤC THỂ CHẤT TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC – CAO ĐẲNG
Giáo dục và đào tạo là một vấn đề hết sức quan trọng trong đời sống chính trị của mỗi nước, là biểu hiện trình độ phát triển của mỗi nước Vì vậy,
Trang 20ngay từ khi giành được chính quyền, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ “một dân tộc dốt
là một dân tộc yếu” Do đó xác định Giáo dục và đào tạo là một nhiệm vụ quan trọng của cách mạng Việt Nam Bắt đầu từ Nghị quyết của Đại hội lần thứ IV của Đảng (1979) đã ra quyết định số 14 - NQTƯ về cải cách giáo dục với tư tưởng: Xem giáo dục là bộ phận quan trọng của cuộc cách mạng tư tưởng; thực thi nhiệm vụ chăm sóc và giáo dục thế hệ trẻ từ nhỏ đến lúc trưởng thành; thực hiện tốt nguyên lý giáo dục học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội Tư tưởng chỉ đạo trên được phát triển bổ sung, hoàn thiện cho phù hợp với yêu cầu thực tế qua các kỳ Đại hội VII, VIII, IX, X của Đảng cộng sản Việt Nam
Giáo dục thể chất là một trong những nhiệm vụ cơ bản của sự nghiệp đào tạo nguồn lực lao động có trí tuệ, năng lực phẩm chất chính trị, đạo đức, sức khỏe của mọi thời đại Đất nước ta đang tiến hành Công nghiệp hóa - hiện đại hoá nhằm mục tiêu mà Đảng - Nhà nước đã định hướng trở thành một
quốc gia "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh" sánh
vai ngang hàng với các nước trong khu vực và thế giới Ngay sau khi cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, Bác Hồ đã đề cập ngay sự cần thiết sức
khoẻ của nhân dân ta trong lời kêu gọi toàn dân tập thể dục "Việc gì cũng cần
có sức khoẻ mới thành công" [16] Tư duy chiến lược đó đã được thể hiện
trong các Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc và trong nhiều Chỉ thị của Ban chấp hành TW Đảng, Chính phủ trong suốt quá trình xây dựng và phát triển
sự nghiệp giáo dục - đào tạo ở nước ta Bước vào thời kỳ phát triển mới trên con đường đẩy mạnh Công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (1996) đã quyết định thì tư duy chiến lược trở thành vấn đề rất lớn lao bởi thể chất cường tráng của nguồn lực lao động là tiền đề để lao động phát triển kinh tế - xã hội, là tài sản của mỗi con người để
có cuộc sống ấm no, hạnh phúc [10] Tại nghị quyết TW2 khoá VIII Ban chấp hành TW Đảng nhận định về GD - ĐT trong những năm qua đã có chuyển biến tiến bộ cả về quy mô lẫn chất lượng, đào tạo ra một đội ngũ cán bộ có
Trang 21chính trị đạo đức, có kiến thức khoa học công nghệ, có năng lực đáp ứng yêu cầu xây dựng đất nước trong thời kỳ đổi mới Tuy nhiên một trong những tồn tại, yếu kém đã được Đảng chỉ ra là sức khoẻ và thể lực hầu hết trong thanh niên ta còn yếu kém so với yêu cầu của lao động trong thời kỳ công nghiệp
hoá, thấp nhiều so với thanh niên lao động ở một số nước trong khu vực
Bước vào thế kỷ 21, Đại hội Đảng IX (2001) quyết định chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 -2005 và định hướng đến 2025 càng đòi nguồn lực con người phải có chất lượng cao ngang tầm thời đại Công nghiệp hoá nền kinh tế của thời đại xã hội văn minh lại càng không thể coi nhẹ vấn đề sức khoẻ và thể trạng con người Điều đó càng làm sâu sắc về quan điểm của Đảng là "đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển: Đầu tư giáo dục thể chất là đầu tư đào tạo toàn diện thế hệ con người mới có chất lượng cao của nền công nghiệp hiện đại trong mối quan hệ cạnh tranh với các nền kinh tế ở khu vực và thế giới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X (2006) tiếp tục khẳng định nhân tố con người lao động có kiến thức khoa học công nghệ, phẩm chất chính trị, nhân cách đậm đà bản sắc dân tộc và sự phát triển thể chất cường tráng Con người vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển với chất lượng đào tạo toàn diện mà Đảng - nhà nước đã xác định là nhiệm vụ trung tâm của
sự nghiệp đổi mới [11]
Như vậy giáo dục thể chất đối với học sinh, sinh viên bao giờ cũng là mối quan tâm sâu sắc của Đảng, Nhà nước Bộ GD - ĐT đã đặt vấn đề GDTC
là một mặt không thể thiếu được trong chương trình đào tào đội ngũ cán bộ khoa học, cán bộ quản lý về kinh tế xã hội, quốc phòng, an ninh, để phục vụ nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế, xã hội của đất nước Bộ GD - ĐT đã coi trọng công tác GDTC cho học sinh, sinh viên và tổ chức triển khai các quy hoạch, kế hoạch để đảm bảo các trường học có chương trình giảng dạy thống nhất, có đội ngũ cán bộ giảng viên, thầy giáo được đào tạo chuyên ngành, có
cơ sở vật chất sân bãi phục vụ việc học tập TDTT và thi đấu thể thao không
Trang 22chỉ trong hệ thống toàn quốc mà còn tham gia thi đấu quốc tế góp phần nâng cao tình đoàn kết, hợp tác, hữu nghị, hoà bình với các SV quốc tế
1.3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ CỦA GIÁO DỤC THỂ CHẤT TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC VÀ CAO ĐẲNG
1.3.1 Mục đích
Góp phần thực hiện mục tiêu đào tạo đội ngũ cán bộ KHKT, quản lý kinh tế và văn hóa xã hội, phát triển hài hòa, có thể chất cường tráng, đáp ứng yêu cầu chuyên môn, nghề nghiệp và có khả năng tiếp cận với thực tiễn lao động, sản xuất… của nền kinh tế thị trường
GDTC là một loại hình giáo dục, nên nó là một quá trình giáo dục có tổ chức, có mục đích, có kế hoạch để truyền thụ những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo
về TDTT Điều đó có nghĩa là, GDTC cũng như các loại hình giáo dục khác, là quá trình sư phạm với đầy đủ đặc điểm của nguyên tắc sư phạm, có vai trò chủ đạo, tổ chức hoạt động của nhà sư phạm phù hợp với học sinh GDTC bao gồm hai mặt tương đối độc lập: Dạy học động tác (giáo dục kỹ năng, kỹ xảo) và giáo dục tố chất thể lực (giáo dưỡng thể chất) Trong hệ thống giáo dục nói chung đặc trưng của GDTC được gắn liền với giáo dục trí dục, đức dục, mỹ dục và giáo dục lao động
Việc tiến hành GDTC nhằm giữ gìn sức khoẻ và phát triển thể lực, tiếp thu những kiến thức và kỹ năng vận động cơ bản, còn có tác dụng chuẩn bị tốt
về mặt tâm lý và tinh thần của người cán bộ tương lai Đồng thời giúp họ hiểu biết phương pháp khoa học để tiếp tục rèn luyện thân thể, củng cố sức khoẻ, góp phần tổ chức xây dựng phong trào TDTT trong nhà trường
Trang 23học tập và rèn luyện thân thể, chuẩn bị sẵn sàng phục vụ sản xuất và bảo vệ Tổ quốc
- Cung cấp cho SV những kiến thức lý luận cơ bản về nội dung và phương pháp luyện tập TDTT, kỹ năng vận động, kỹ thuật cơ bản một số môn thể thao thích hợp Trên cơ sở đó bồi dưỡng khả năng sử dụng các phương tiện để tự rèn luyện, tham gia tích cực vào việc tuyên truyền và tổ các hoạt động TDTT của nhà trường và xã hội
- Góp phần duy trì và củng cố sức khỏe của SV, phát triển cơ thể một cách hài hòa, xây dựng thói quen lành mạnh và khắc phục những thói quen xấu (nghiện rượu, hút thuốc lá), rèn luyện thân thể đạt những chỉ tiêu thể lực quy định cho từng đối tượng và năm học trên cơ sở tiêu chuẩn rèn luyện thân thể theo lứa tuổi
1.3.3 Hình thức giảng dạy
Nội dung chương trình GDTC trong các trường Đại học và Cao đẳng được tiến hành trong cả quá trình học tập của học sinh - sinh viên trong nhà trường bằng các hình thức:
- Giờ học TDTT chính khoá: Là hình thức cơ bản nhất của GDTC được tiến hành trong kế hoạch học tập của nhà trường Đào tạo cơ bản về thể chất, thể thao cho SV là nhiệm vụ cần thiết, trước hết chương trình phải có cấu trúc nội dung thích hợp để phát triển các tố chất thể lực và phối hợp vận động cho
SV Đồng thời, giúp các em có trình độ nhất định để tiếp thu được các kỹ thuật động tác GDTC theo chương trình
Với mục tiêu chính của việc đào tạo cơ bản về thể chất và thể thao
trong trường học là: "Xúc tiến quá trình đào tạo năng lực đạt thành tích trong thể chất và thể thao của học sinh, phát triển các tố chất thể lực, phát triển năng lực tâm lý, tạo ý thức tập luyện TDTT thường xuyên, giáo dục được đức tính cơ bản và lòng nhân đạo cho học sinh"
Do vậy, giờ học chính khoá môn học GDTC mang tính hành chính pháp quy, quy định đối với SV và cán bộ giảng dạy Đó là, giờ học theo
Trang 24chương trình có quy định thời gian và quy cách đánh giá chất lượng, được bố trí theo kế hoạch và có sự kiểm tra giám sát của Nhà nước Giờ học chính khoá đã được Luật Giáo dục cũng như Luật GDTC thể thao quy định bắt buộc
- Giờ học ngoại khoá - tự tập luyện TDTT: Là quá trình tập luyện của một bộ phận học sinh - sinh viên có nhu cầu và ham thích trong thời gian nhàn rỗi Với mục đích phát triển năng lực thể chất một cách toàn diện, đồng thời nâng cao thành tích thể thao của học sinh - sinh viên Giờ học ngoại khóa
có tác dụng củng cố và hoàn thiện các bài học chính khoá và được tiến hành vào giờ tự học của học sinh - sinh viên dưới sự hướng dẫn của giáo viên TDTT hay hướng dẫn viên TDTT Ngoài ra còn các hoạt động thể thao quần chúng ngoài giờ học bao gồm: Luyện tập trong các câu lạc bộ, các đội tuyển của từng môn thể thao, các bài tập GDTC vệ sinh chống mệt mỏi hàng ngày, cũng như giờ tự luyện tập của học sinh - sinh viên, phong trào tự rèn luyện thể lực [3]
Hoạt động ngoại khoá còn có tác dụng động viên lôi kéo nhiều người tham gia tập luyện các môn thể thao yêu thích và rèn luyện thể lực Phong trào rèn luyện thân thể vì ngày mai lập nghiệp và phong trào rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại do ngành TDTT và Bộ GD – ĐT phát động có sức thu hút đông đảo học sinh - sinh viên tập luyện GDTC thể thao ngoài giờ học
1.4 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÍNH TỰ GIÁC TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH TRONG GIÁO DỤC THỂ CHẤT
1.4.1 Bản chất của quá trình dạy học
Theo tác giả Phạm Viết Vượng: “Bản chất của quá trình dạy học là quá trình nhận thức và thực hành của học sinh do giáo viên tổ chức và hướng dẫn nhằm giúp học sinh nắm vững hệ thống kiến thức, hình thành và phát triển năng lực thực hành sáng tạo” [31]
Trang 25Đề tài nhận định: “Bản chất của quá trình dạy học là quá trình tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của người học một cách có nề nếp” Do đó,
quá trình giảng dạy GDTC cũng phải tuân theo quy luật của hoạt động nhận thức, đảm bảo sự cân đối, thống nhất giữa yếu tố trực quan và trừu tượng, giữa lý luận và thực hành Khi xác định mục tiêu của giáo án, cần đặc biệt quan tâm đến mục tiêu hình thành kiến thức và kỹ năng cho người học Trong việc lựa chọn phương pháp và hình thức tổ chức giảng dạy, cần tăng cường sử dụng phương pháp, hình thức tổ chức nhằm kích thích được sự chủ động, tự
giác, tích cực của học sinh, biến quá trình “được học” thành quá trình “tự học”
1.4.1.1 Dạy học là một quá trình hai chiều
Dạy - học là hoạt động được diễn ra dưới sự lãnh đạo, tổ chức và điều khiển của giáo viên Người học tự giác, tích cực, tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động học tập của mình nhằm thực hiện những nhiệm vụ đề ra Hoạt động dạy và học có tác động qua lại lẫn nhau Nếu thiếu một trong hai hoạt động đó, thì việc dạy- học không diễn ra Người học chủ động tự giác, tích cực sẽ là động lực để nâng cao hiệu quả học tập
Giáo viên cần tổ chức, điều khiển hoạt động học tập của học sinh một cách khoa học để đạt tới mục tiêu dạy học Khi người học chủ động, tự giác, tích cực tham gia học tập sẽ giúp họ phát triển năng lực tư duy, sáng tạo, nghiên cứu tìm tòi cách thức, phương pháp học tập, tự kiểm tra, tự đánh giá hoạt động học tập của mình
1.4.1.2 Mục tiêu dạy học
“Quá trình dạy học có ba mục tiêu gắn bó chặt chẽ, có mối quan hệ biện chứng với nhau Mỗi mục tiêu vừa là tiền đề vừa là hệ quả của các mục tiêu khác - từ đó, tạo nên một vòng tròn khép kín để thực hiện mục đích giáo dục tổng thể” [13, 17] Mục tiêu của quá trình dạy học là giúp học sinh nắm
vững hệ thống kiến thức khoa học, cách thức luyện tập để hình thành hệ thống
kĩ năng, kĩ xảo - qua đó, hình thành thái độ tích cực đối với cuộc sống
Trang 261.4.1.3 Tính quy luật của quá trình dạy học
Quy luật dạy học là logic tất yếu trong sự phát triển của quá trình dạy học Quá trình dạy học dẫn đến sự phát triển trí tuệ và hình thành nhân cách
Nó là sự thống nhất biện chứng giữa hoạt động dạy và hoạt động học; giữa mục đích, nội dung và phương pháp dạy học Nắm vững quy luật dạy học, có biện pháp và phương pháp hợp lý sẽ khơi dậy được tính tự giác, tích cực của người học
1.4.2 Quan điểm dạy học theo hướng phát huy tính tự giác, tích cực của người học
Lúc sinh thời, Bác Hồ đã từng là một thầy giáo, các bài giảng của
Người được biên soạn không theo lối “bày sẵn kiến thức”, mà được cấu trúc
theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh Bác nhấn mạnh vai trò tự học
của học sinh và còn nói rõ hơn “lấy tự học làm cốt, dùng chỉ đạo và thảo luận trợ giúp vào” [17] Để khắc phục lối dạy thụ động, truyền thụ một chiều, cần
tổ chức dạy học bằng phương pháp thảo luận, tăng cường đối thoại thầy trò và tập thể, nhóm học sinh
Quán triệt và thực hiện tư tưởng của Bác về đổi mới phương pháp dạy học, Đảng và Nhà nước ta luôn định hướng đổi mới trong công tác giáo dục
và đề cao mục tiêu: “Nâng cao chất lượng giáo dục, góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước là nhiệm vụ trọng tâm của ngành GD&ĐT” Trong những thập kỷ qua, Nhà trường các cấp đã thực hiện nhiều
chủ trương, biện pháp cải tiến việc dạy-học Một trong những định hướng
quan trọng của việc đổi mới giáo dục trên thế giới và ở nước ta là “Dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của người học” Từ năm 1960 ngành giáo
dục Việt Nam đã quan tâm đến vấn đề phát huy tính tự giác, tích cực của
người học, vào thời điểm đó đã có khẩu hiệu: “Biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo”
Năm 1980, trong cuộc cải cách giáo dục lần thứ hai- phát huy tính tự giác, tích cực là một trong những phương hướng cải cách- mục tiêu giáo dục
Trang 27là nhằm đào tạo những người lao động sáng tạo, làm chủ đất nước Từ đó, các nhà trường đã tổ chức dạy và học theo hướng tổ chức cho học sinh tự hoạt động, tự chiếm lĩnh các tri thức mới, nhưng vẫn truyền thụ theo phương pháp một chiều- dẫn đến sự thụ động của người học, hàn lâm lý thuyết mà mơ hồ
Một số nhà lãnh đạo cao cấp của nước ta như nguyên Thủ tướng Phạm Văn Đồng, nguyên Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười … rất coi trọng công tác đổi mới giáo dục Bàn về vấn đề tự học, nguyên
Tổng Bí thư Đỗ Mười đã nói: “Tự học, tự đào tạo là con đường phát triển suốt đời của mỗi người, là truyền thống quý báu của người Việt Nam Chất lượng giáo dục được nâng cao khi biến được quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục Quy mô giáo dục được mở rộng khi có phong trào toàn dân tự học”
[18]
Dạy học phát huy tính tự giác, tích cực người học đã được nhiều nhà khoa học Việt Nam quan tâm nghiên cứu như: Nguyễn Ngọc Bảo; Lê Khánh Bằng; Đặng Vũ Hoạt; Nguyễn Kỳ; Vũ Văn Tảo; Nguyễn Cảnh Toàn; Các tác giả đều quan niệm giáo dục tính tự giác, tích cực cho học sinh trong học tập, rèn luyện có ý nghĩa lớn lao, có tầm ảnh hưởng quan trọng tới việc hình thành nhân cách con người Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
Nguyễn Ngọc Bảo là người quan tâm sâu sắc đến vấn đề tính tích cực nhận thức Ông đã phát triển lý thuyết về tính tích cực và khái quát chúng ở
nhiều góc độ khác nhau Ông đưa vấn đề “tính tự lực” vào thực tiễn cải cách
giáo dục Việt Nam, góp phần thúc đẩy tiến trình đổi mới nội dung, phương pháp dạy học theo hướng hoạt động hoá, tích cực hoá người học Tính tích cực
Trang 28nhận thức là một phẩm chất quan trọng của nhân cách, là hạt nhân của tính tự lực - bản chất nó là sự sẵn sàng tâm lý cho sự tự học - đó cũng là điều kiện đảm bảo sự thành công trong học tập nói riêng và trong cuộc sống nói chung
Quan điểm dạy học phát huy tính tự giác, tích cực người học, hầu hết
đều nhấn mạnh: “ Phát huy tính tích cực của học sinh” và “ Dạy học lấy học sinh làm trung tâm”; vai trò chủ thể của người học được phát huy Tuy nhiên “ Dạy học lấy học sinh làm trung tâm” là một tư tưởng, một quan điểm được
quan tâm ở nhiều nước Nó chi phối tất cả các yếu tố của quá trình dạy học (mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, tổ chức, đánh giá) chứ không
riêng về phương pháp dạy học “Các phương pháp dạy học tích cực có chung một đặc điểm: dạy học thông qua tổ chức các hoạt động của học sinh, dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học, tăng cường học tập cá thể phối hợp với học tập hợp tác và kết hợp với đánh giá của thầy và tự đánh giá của trò Bản chất của các phương pháp dạy học tích cực là cách dạy hướng tới việc học chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động” [24]
Tóm lại:
Việc tìm ra những biện pháp hữu hiệu, nhằm nâng cao tính tự giác, tích cực của học sinh trong giờ học GDTC là một vấn đề thiết thực Khi xây dựng các biện pháp cần kế thừa và phát huy các kết quả của các thế hệ đi trước, đồng thời phối hợp lồng ghép một cách khoa học với điều kiện đặc trưng của từng
trường và năng lực của người học
1.4.3 Về tính tự giác, tích cực trong Giáo dục thể chất trường học
1.4.3.1 Khái niệm về tính tự giác, tích cực
Theo quan điểm triết học: “Tính tự giác, tích cực là sự tự vận động của vật chất Sự vận động này, biến đổi này có thể nhận thấy ngay ở mức độ tốt nhất của sự vật, giúp cho sự vật thoát khỏi trạng thái nằm im”
Tính tự giác, tích cực là sự phát triển, biến đổi các trạng thái bên trong, dưới ảnh hưởng của tác động vật chất bên ngoài Đa số các tác giả đều quan
Trang 29niệm: “Tính tự giác, tích cực là sự kết hợp các yếu tố bên trong và các yếu tố bên ngoài, yếu tố bên trong giữ vai trò quyết định”
Thuật ngữ “tính tự giác, tích cực” bao hàm:
- Trạng thái hoạt động của chủ thể với môi trường
- Tính chủ động của chủ thể, trong hoạt động sống và quan hệ xã hội Qua nghiên cứu một số quan điểm về tính tự giác, tích cực, đề tài nhận
định: “Tự giác, tích cực là hình thức biểu hiện năng lực của con người, hiểu
rõ và thể hiện hoạt động của mình phù hợp với các quy luật khách quan Tức
là hành động không tùy tiện, vô lối mà nó có mục đích rõ rệt”
Tự giác, tích cực là mức độ thể hiện hoạt động của con người trong
công việc, mức độ này dao động rất rộng từ sự “tự giác” đến „tích cực” Tính
“tự giác, tích cực” chỉ đạt hiệu quả cao, khi cả hai cùng thống nhất trong hoạt động
1.4.3.2 Khái niệm tính tự giác, tích cực trong môn học Giáo dục thể chất
Học tập môn GDTC là học kỹ năng thực hành trên cơ sở những tri thức khoa học - bắt chước, tìm tòi cách giải quyết nhiệm vụ vận động Từ đó, dẫn tới, sự sáng tạo, tìm ra cách giải quyết mới độc đáo và hữu hiệu hơn để hoàn thành nhiệm vụ vận động một cách tốt nhất
Tác giả Nguyễn Toán và Phạm Danh Tốn đưa ra khái niệm về tính tự
giác, tích cực học tập môn GDTC như sau: “Tính tích cực học tập môn Thể dục là hoạt động tự giác, gắng sức nhằm hoàn thành những nhiệm vụ học tập, rèn luyện Tính tự lập là hình thức cao nhất của tính tích cực, biểu hiện qua hoạt động hăng hái để tự giải quyết các nhiệm vụ do kích thích nội tâm của từng người tạo nên” [26]
Tính tự giác, tích cực vận động trong giờ học Thể dục còn được thể hiện ở lượng vận động, thái độ hợp tác giúp đỡ trong nhóm tập, trong lớp của học sinh
Trang 301.4.3.3 Vai trò của tính tự giác, tích cực trong giờ học Giáo dục thể chất
GDTC trường học là một bộ phận quan trọng của hệ thống giáo dục quốc dân Môn GDTC có một vị trí và vai trò đặc biệt trong việc bảo vệ và nâng cao sức khỏe, thể lực của học sinh, chuẩn bị cho lớp người lao động tương lai, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Tính tự giác, tích cực có vai trò to lớn đối với công tác GDTC trường học Nó hình thành cho học sinh những nhận thức sâu sắc về tác dụng của môn học, tạo nên hứng thú bền vững, làm cho học sinh xác định đúng động
cơ Cho nên, sẽ nảy sinh nhu cầu đối với hoạt động TDTT, giúp cho người học có thói quen gắng sức để hoàn thành nhiệm vụ học tập và rèn luyện Từ
đó, tạo cho người học thói quen chủ động, hăng hái giải quyết các nhiệm vụ học tập, tự nguyện tham gia các hoạt động TDTT ngoại khóa và các hoạt động khác của Nhà trường
GDTC là một môn học có tác động không những đến thể lực mà còn cả các tác động đến trí lực của học sinh Do đó, khi giảng dạy môn GDTC cũng phải tuân thủ theo các phương pháp dạy học nói chung, song nó cũng mang một sắc thái đặc thù riêng Mọi hoạt động của quá trình dạy học đều tác động đến thể chất và tinh thần của học sinh Chính vì vậy, tính tự giác, tích cực của
học sinh trong giờ học GDTC có vai trò nâng cao hiệu quả giờ học
Tính tự giác, tích cực trong trong giờ học GDTC có ý nghĩa giúp hình thành ở người tập sự tư duy sâu sắc, hứng thú bền vững và có nhu cầu đối với hoạt động thể thao, đồng thời tạo nên sự tích cực phù hợp
Trong giờ học GDTC, áp dụng phương pháp phát huy tính tích cực người học, lấy người học làm trung tâm (tự học tập, tự tìm tòi, tự sáng tạo ) Giáo viên đóng vai trò cố vấn, tổ chức, hướng dẫn, hỗ trợ các hoạt động học tập cho người học Nếu người học tự giác, tích cực, chủ động trong khâu chuẩn bị dụng cụ trước, trong và sau giờ học, có thói quen tự tập luyện động
Trang 31tác ở nhà thì hiệu quả của giờ học sẽ đạt rất cao Sự chủ động, tự nguyện của một học sinh tích cực sẽ có ảnh hưởng tốt đến các học sinh khác trong nhóm, trong lớp, đồng thời sẽ tạo nên sự cộng hưởng tích cực
Tính tự giác, tích cực không những giúp học sinh có thói quen, nhu cầu được tập luyện, mà còn hình thành động cơ và hứng thú bền vững với hoạt động TDTT ở các em
Tính tự giác, tích cực giúp các em không chỉ hoàn thành nhiệm vụ vận động ngay trên lớp, mà còn tạo ra sự gắng sức thi đua của các em trong tập luyện, tạo nên không khí tập luyện sôi nổi, giúp đỡ lẫn nhau trong học tập - từ
đó hình thành và phát triển nhóm tự học hỏi, nhóm tự tập luyện Đây cũng là một động lực quan trọng để tạo nên những thành tích cao trong học tập và những kỳ tích trong Thể thao học đường
Tính tự giác, tích cực của học sinh trong giờ học GDTC có ý nghĩa quyết định hiệu quả tập luyện Nhờ tính tự giác, tích cực học sinh có thể đạt được nhiều tiến bộ trong học tập, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo vận động Do vậy, hình thành và phát huy tính tự giác, tích cực của học sinh trong giờ học là một nhiệm vụ quan trọng, chủ yếu của giáo viên giảng dạy môn GDTC
1.5 NHỮNG YÊU CẦU TÂM LÝ CỦA HOẠT ĐỘNG SƯ PHẠM GDTC
1.5.1 Đặc điểm chung về hoạt động sư phạm trong lĩnh vực Giáo dục thể chất
Hoạt động GDTC học sinh, thực chất là một quá trình dạy học, huấn luyện Nó tồn tại như một thể thống nhất bao gồm nhiều thành phần như: Điều tra sức khoẻ, thể chất học sinh, xác lập mục đích, nhiệm vụ nội dung, phương pháp, phương tiện giảng dạy, huấn luyện và đánh giá kết quả GDTC học sinh Thầy giáo với hoạt động giảng dạy huấn luyện, trò với hoạt động học tập và tập luyện Quá trình này diễn ra trong môi trường kinh tế xã hội và khoa học công nghệ của đất nước Mục đích của hoạt động sư phạm trên lĩnh vực GDTC
Trang 32- Giảng dạy, học tập để trang bị kiến thức, hiểu biết kỹ năng có liên quan đến bảo vệ tăng cường sức khoẻ và hoàn thiện thể chất
- Giáo dục làm phát triển ý thức tự chăm lo sức khoẻ hoàn thiện thể chất bản thân, cũng như phát triển năng lực hoạt động thể lực và nhân cách học sinh nói chung trong quá trình GDTC và đời sống cá nhân
- Góp phần chăm lo sức khoẻ thể chất, tinh thần và xã hội cho học sinh, sinh viên Như vậy GDTC là một mặt giáo dục tương đối độc lập và mang tính đặc thù chuyên môn nhất định Chính mục đích nhiệm vụ sư phạm trên đây đặt ra những yêu cầu đối với giáo viên và học sinh trong quá trình GDTC
1.5.2 Những yêu cầu tâm lý đối với giáo viên và học sinh trong quá trình Giáo dục thể chất
1.5.2.1 Đối với giáo viên:
Theo kết quả nghiên cứu của N.V Kuzmina cho thấy hoạt động sư phạm GDTC của người giáo viên chính là sự giải quyết liên tục các nghiệp vụ
sư phạm trong quá trình GDTC bằng các hành vi, hành động như: Cảm giác tri giác về đối tượng hoạt động, cử chỉ bề ngoài của học sinh để truyền đạt thông tin Tư duy tình trạng công việc nảy sinh và kiến lập tái tạo điều kiện bổ sung để khắc phục Thị phạm hướng dẫn học sinh tập luyện Trong đó tư duy chuẩn xác tình huống sư phạm để qua đó lựa chọn biện pháp hợp lý đạt tới mục đích về GDTC của mình là rất cần thiết
Do đó một trong những yêu cầu quan trọng của người giáo viên là thường xuyên biến đổi tình huống giảng dạy giáo dục, huấn luyện Trước hết
là để lôi cuốn sự chú ý cũng như thiết lập quan hệ đúng đắn của học sinh đối với nhiệm vụ học tập, tập luyện sau nữa là để xây dựng mối quan hệ giữa thầy giáo với học sinh và giữa học sinh với nhau để thực thi nhiệm vụ sư phạm có hiệu quả
Những mối quan hệ đó theo quan điểm GDTC hiện đại là bí quyết thành công của mọi hoạt động giảng dạy và giáo dục Khả năng tư duy và lựa chọn phương thức, biện pháp và phương pháp phù hợp với giảng dạy, giáo
Trang 33dục, huấn luyện là yếu tố tài năng sư phạm GDTC, vì nhờ khả năng đó mà giáo viên GDTC thúc đẩy được sự phát ttriển về trí tuệ, thể chất và sức khoẻ của học sinh cũng như động viên nỗ lực ý chí, huy động được nguồn dự trữ cảm xúc của họ trong hoàn cảnh bất lợi
GDTC phải tuân thủ triệt để các nguyên lý:
- Thống nhất giữa hoạt động tâm lý và hoạt động thể lực; Giáo dục theo lứa tuổi và theo thời kỳ đột biến phát triển sinh học của cơ thể, cũng như nguyên lý giáo dục cá biệt và chuyên môn hoá sâu Vì vậy, lao động sư phạm của người giáo viên GDTC đòi hỏi cao ý thức kiến lập chương trình kế hoạch hoạt động, quản lý, giám sát thực thi, cũng như đánh giá kết quả, qua đó nhận thông tin ngược từ phía học sinh để điều chỉnh hoạt động sư phạm của mình
Hoạt động sư phạm của giáo viên GDTC được thể hiện theo 3 giai đoạn:
- Giai đoạn chuẩn bị cho công việc bao gồm việc xác định mục đích, nhiệm vụ, nội dung và phương pháp biện pháp chính của công tác giảng dạy giáo dục huấn luyện Đặc biệt trong giai đoạn chuẩn bị lập kế hoạch này yêu cầu người giáo viên tư duy dự báo các trạng huống sư phạm sẽ xẩy ra một cách chuẩn xác, qua đó suy nghĩ những biện pháp tình huống để đảm bảo hoạt động có chất lượng và hiệu quả
- Hoạt động ở giai đoạn chuẩn bị càng tỉ mỷ cụ thể bao nhiêu sẽ đem lại
sự chủ động trong công việc bấy nhiêu Về khía cạnh tâm lý nó sẽ làm giảm bớt xúc động căng thẳng khi có trạng huống gây cấn khó khăn xảy ra
- Giai đoạn thực thi kế hoạch: Hoạt động sư phạm trong giai đoạn này
là hoạt động cơ bản chủ yếu nhất để biến các dự kiến thành hiện thực Đó là các hoạt động sư phạm, điều khiển học sinh học tập, tập luyện, kiểm tra hoạt động học tập của học sinh; Tự điều chỉnh tâm lý để khắc phục các trở ngại khó khăn do trạng huống sư phạm gây nên, cũng như hoạt động điều chỉnh uốn nắn tình huống buổi học sát với mục đích nhiệm vụ đã đề ra Về khía cạnh tâm lý ở giai đoạn thực thi nhiệm vụ sư phạm, người giáo viên phải trải
Trang 34qua nhiều căng thẳng tâm lý do nhiều nguyên nhân Nhưng nguyên nhân chủ yếu vẫn là sự không hài lòng về mối quan hệ của học sinh đối với nhiệm vụ học tập, tập luyện cũng như điều kiện dụng cụ sân bãi kém chất lượng
- Giai đoạn hoạt động đánh giá tổng kết điều chỉnh sau khi thực thi kế hoạch giảng dạy, giáo dục, huấn luyện Hoạt động sư phạm ở giai đoạn này có liên quan tới việc đánh giá kết quả đã đạt được, tìm nguyên nhân khách quan, chủ quan có liên quan tới sự thành công và không thành công của kế hoạch hoạt động Trong giai đoạn này đòi hỏi mức độ tư duy phân tích sâu sắc của người giáo viên về diễn biến các buổi học tập vùa diễn ra, về các yếu tố chi phối tới kết quả học tập và tập luyện của học sinh cũng như hiệu quả GDTC Điều quan trong hơn là tư duy biện pháp điều chỉnh về lượng vận động, hình thức tổ chức buổi học, buổi tập để khắc phục các thiếu sót vừa qua
Tóm lại, hoạt động sư phạm của người giáo viên GDTC là loại hình lao động chuyên nghiệp phức tạp Hoạt động lao động sư phạm GDTC đòi hỏi cao về khả năng tư duy xác định tình huống sư phạm đúng đắn và tìm biện pháp sư phạm xử lý tình huống hợp lý Mặt khác, đó là loại hình hoạt động đòi hỏi cao ý thức quản lý điều hành rất chặt chẽ và thường xuyên trong quá trình hoạt động
1.5.2.2 Những yêu cầu tâm lý của người học sinh trong hoạt động rèn luyện sức khoẻ thể chất
Học sinh trong giờ học thể dục, thể thao đóng vai trò chủ thể hoạt động
về cả mặt sinh học lẫn mặt nhân cách xã hội Do đó, họ cần có nhận thức vai trò, ý nghĩa của tính tích cực vận động và tư duy trong tiếp thu kiến thức cũng như trong thực hiện bài tập Nếu thiếu các yếu tố đó sẽ không thể có một kết quả GDTC nào cả Bởi lẽ nguyên tắc của GDTC là tăng dần cường độ tập luyện phù hợp với trình độ sức khoẻ thể và đủ mức để tạo khả năng thích nghi mới của cơ quan chức phận cơ thể, qua đó tạo được năng lực hoạt động thể lực và tâm lý ở mức độ cao hơn Mặt khác, kỹ thuật của các môn thể thao cũng như bài tập thể chất tương đối phức tạp, khó làm, khó nhớ Nếu thiếu tập
Trang 35trung chú ý, thiếu nỗ lực ý chí vượt qua mệt mỏi hoặc nguy hiểm, học sinh sẽ gặp nhiều khó khăn trong thực hiện nhiệm vụ học tập, tập luyện của mình
Xuất phát từ các đặc điểm tâm lý trên của giáo viên và học sinh trong lĩnh vực GDTC cũng như quan điểm thống nhất biện chứng giữa hoạt động giảng dạy và học tập trong giáo dục, các chuyên gia tâm lý học TDTT đã đề xuất hệ thống tác động tâm lý trong thực hiện nhiệm vụ sư phạm GDTC sau đây:
- Cần phải xây dựng ý thức và kỹ năng tập trung chú ý bao gồm chú ý tập trung, ổn định cũng như luân chuyển chú ý cho học sinh trong khi tiếp thu
sự truyền thụ của giáo viên
- Phải quan tâm đến việc nâng cao hoạt tính của các quá trình tâm lý tham gia vào các động tác và bài tập thể chất bằng biện pháp dùng ảnh hưởng
và bài tập tâm lý trong quá trình GDTC Sự tinh tế trong cảm giác, cảm thụ, tri giác về vận động, cùng với tính linh hoạt trong hình dung biểu tượng… sẽ đảm bảo tốt cho tiếp thu động tác vận động cũng như kiến thức về luyện tập TDTT của người học
- Trong giảng dạy và GDTC, giáo viên cần sử dụng rộng rãi các biện pháp tâm lý nhằm kích thích sự nỗ lực ý chí, tạo điều kiện cho học sinh bộc lộ hết khả năng sẵn có của bản thân và biến các khả năng đó thành hiện thực một cách có hiệu quả
- Cần hình thành ở người tập hứng thú thể thao và tích cực hoạt động một cách bền vững và sâu sắc, qua đó nâng cao khả năng thực hiện các lượng vận động cao dần trong tập luyện
- Trong quá trình giảng dạy kỹ thuật động tác TDTT và GDTC, giáo viên phải đồng thời bồi dưỡng nhận thức thẩm mỹ, tác phong đạo đức, tri thức khoa học về con người và môi trường sống, cũng như lối sống khoẻ mạnh cho học sinh Vì đó là các yếu tố chi phối lớn đến hiệu quả GDTC
Trang 36Đảm bảo sự thống nhất giữa hoạt động giảng dạy giáo dục của giáo viên và hoạt động học tập rèn luyện của học sinh ở mọi nơi và mọi lúc của quy trình GDTC và huấn luyên thể thao [31]
1.6 MỘT SỐ CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN
Nâng cao tính tự giác, tích cực của học sinh trong học tập là nhiệm vụ trọng tâm của sự nghiệp giáo dục- vấn đề này đã được nhiều nền giáo dục trên thế giới quan tâm Có nhiều công trình nghiên cứu của nhiều tác giả ở trong
và ngoài nước về tính tự giác, tích cực của học sinh trong học tập, cụ thể:
1.6.1 Trên Thế giới
Từ những năm 469 - 399 trước công nguyên, triết gia Xôcrat- Hy Lạp
đã quan niệm: “Con ngưòi luôn luôn phải suy nghĩ để tìm tòi mục đích, ý nghĩa thiết thực của cuộc sống tự lực, tự cường”
Nhà giáo dục, nhà văn hóa lớn Khổng Tử- Trung Quốc (551-479) đã quan tâm đến việc dạy học làm sao phải phát huy được tính tự giác, tích cực
của học trò Ông yêu cầu học trò cần cố gắng tự suy nghĩ trong học tập: “Học
mà không suy nghĩ thì uổng công vô ích, suy nghĩ mà không học thì nguy hiểm”
Ở Liên Xô (cũ) các nhà lý luận dạy học Xô Viết hết sức quan tâm và chỉ ra nhiều phương hướng, biện pháp thích hợp cho từng bậc học Đối với bậc Trung học cơ sở và Trung học phổ thông, có nhiều công trình nghiên cứu như: NV-Xukharep, IP-KhaLaMôp, IU-Kbabanski Ở các trường ĐH và CĐ
có các công trình nghiên cứu của SI-Ballasep, SI-Ackhanghenxki Các công trình này đã đặt ra và giải quyết một loạt vấn đề về độc lập học tập, nghiên cứu con đường tìm tòi sáng tạo của người học như thế nào là tối ưu? Trong đó
nổi bật là công trình của RA-Nhizamop, ông đã nêu tư tưởng: “Trong quá trình dạy học, thầy và trò là hai chủ thể tích cực, tính tích cực thể hiện trong hành động dạy, hành động học và đề ra phương hướng để giúp người học phát huy được cao độ tính tích cực nhận thức”
Tại Anh và Mỹ, trong thế kỷ XX, nhiều nhà sư phạm có ý tưởng sáng tạo và đạt được các thành quả về phương pháp dạy học mới Tiêu biểu phải kể
Trang 37đếnlà các công trình nghiên cứu của: Jdawey, Crogen-Jdawey kêu gọi -
“Dành tự do cho người học” và cần chú ý đến các nhu cầu của họ Ông đưa ra câu châm ngôn giáo dục nổi tiếng sau - “Học bằng hành động” (Learning by
doing)- ý tưởng này đã đặt nền móng cho dạy học phát huy tính tự giác, tích cực nhận thức của học sinh ở thời kỳ đó
Ở Pháp, trong thế kỷ 20, hàng loạt các nhà lý luận dạy học đã dấy lên
phong trào:“Giáo dục mới” Cụ thể Angela-Medici tổng kết trong cuốn
“Phương pháp giáo dục mới”, hay “Phương pháp tích cực” - đồng thời khẳng
định phương pháp này có thể áp dụng cho mọi bậc học Theo Angela-Medici,
“Phương pháp tích cực, học sinh sẽ được hỗ trợ để thu lượm tri thức bằng quan sát và cố gắng cá nhân, giáo viên gợi sự chú ý của học sinh, khuyến khích thúc đẩy hoạt động của học sinh xuất sắc và của cả lớp”
Theo quan điểm của các nhà lý luận dạy học hiện đại, lấy học sinh làm trung tâm không có nghĩa là hạ thấp vai trò của giáo viên Vì bất cứ học sinh nào cũng không vượt qúa tầm của thầy Nghiên cứu về việc ứng dụng các phương pháp dạy học phát huy tính tích cực của người học trong lĩnh vực TDTT cũng có nhiều học giả quan tâm Nổi bật là các công trình nghiên cứu của Muler (Đức), Henry (Mỹ), Nhiếp Lâm Hồ (Trung Quốc) Các tác giả đều khẳng định, tính hiệu quả của việc ứng dụng phương pháp dạy học phát huy tính tích cực của học sinh, vào việc dạy học GDTC và huấn luyện TT
Trang 38sáng tạo của học sinh Vì đó là phẩm chất rất cơ bản mà giáo dục muốn hình thành”
Tiếp đó, hàng loạt các công trình nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Bảo (1995), Trần Kiều (1997), Nguyễn Kế Hào (1996), Trần Bá Hoành (1997), Nguyễn Kỳ (1997), Nguyễn Văn Đạo (2001) Các tác giả đã nghiên cứu từ nhiều góc độ và đối tượng khác nhau, đều khẳng định tính ưu việt, của phương pháp dạy học phát huy tính tự giác, tích cực nhận thức của người học
Tiêu biểu trong lĩnh vực GDTC, có kết quả nghiên cứu của tác giả
Nguyễn Kim Thục và Hồ Đắc Sơn, năm 2006 với đề tài: “Định hướng đổi mới phương pháp thực hiện chương trình môn học GDTC, nhằm tích cực hóa người học ở các trường THCS quận Cầu Giấy, Hà Nội” Đây là một trong những
công trình nghiên cứu lý luận và ứng dụng phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập môn Thể dục của học sinh THCS, ở một quận nội thành Hà Nội [23]
Ngoài ra còn có nhiều công trình nghiên cứu của bộ môn lý luận chuyên ngành GDTC như: Đỗ Hữu Trường (2005); Đồng Văn Triệu (2006); Trần Thanh Tùng (2007); Phan Thanh Tin (2009); Nguyễn Song Tuấn Hải (2010); Nguyễn Thị Thương (2011); Kết quả nghiên cứu của các công trình này là xây dựng hệ thống các chỉ tiêu, tiêu chuẩn và hệ thống các bài tập phát triển tố chất thể lực chung cho học sinh Các công trình nghiên cứu của các tác giả trên, dù ở lĩnh vực này hay lĩnh vực khác, song kết quả nghiên cứu cũng đã xác định được cơ sở lý luận, thực tiễn, cơ sở khoa học, và đưa ra được những luận điểm trong lĩnh vực vận dụng phương pháp dạy học phát huy tính tự giác, tích cực học tập vào giảng dạy môn GDTC trong nhà trường
các cấp
Trang 39CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TÍNH TỰ GIÁC, TÍCH CỰC TRONG GIỜ HỌC GDTC CỦA SINH VIÊN HỌC VIÊN AN NINH NHÂN DÂN
2.1 Lựa chọn các tiêu chí đánh giá tính tự giác, tích cực trong giờ
học GDTC của sinh viên Học viện An ninh nhân dân
2.1.1 Biểu hiện của tính tự giác, tích cực trong môn học Giáo dục thể chất
- Biểu hiện ở xúc cảm học tập: Thể hiện ở niềm vui, sự sốt sắng, tinh
thần hăng hái tham gia tập luyện, thích phát biểu ý kiến của mình trước vấn
đề đã nêu ra, hay thắc mắc, đòi hỏi phải giải thích cặn kẽ những vấn đề được nêu lên chưa đủ rõ
- Biểu hiện chú ý: Chú ý cao độ trong học tập, lắng nghe, theo dõi mọi
hành động của giáo viên
- Biểu hiện sự nỗ lực ý chí: Được thể hiện với sự kiên trì, nhẫn nại,
vượt khó khăn khi giải quyết nhiệm vụ nhận thức, kiên trì hoàn thành các bài tập vận động, quyết tâm, nỗ lực ý chí vươn lên trong học tập
- Biểu hiện bằng hành vi: Hăng hái tham gia vào mọi hình thức của
hoạt động học tập, khẩn trương trong hành động và thao tác tư duy
- Biểu hiện ở kết quả lĩnh hội: Thực hiện nhanh, đúng, tái hiện được khi
cần, vận dụng kiến thức, kĩ năng vào các tình huống khác nhau
Đặc biệt tính tự giác, tích cực của học sinh trong học tập còn có mối liên hệ nhân quả với các phẩm chất nhân cách như: Tính tự giác, tính độc lập
tư duy, tính chủ động, tính sáng tạo Nó còn phụ thuộc vào hứng thú, nhu cầu, động cơ, năng lực, ý chí, sức khỏe, môi trường học tập
Người học không những tự giác, tích cực trong hoạt động, mà còn phải rèn luyện cho bản thân khả năng tự đánh giá Tự học, tự nghiên cứu, tự hợp tác gắn liền với tự kiểm tra, tự đánh giá kết quả thu được so với mục tiêu ban đầu Quá trình tự mình nghiên cứu, tự mình thực hiện có thể là chưa chính xác Nhưng, sau khi nhận được sự góp ý của thầy và của các bạn, học sinh tự đánh giá kết quả của mình, tự rút kinh nghiệm, bổ sung, điều chỉnh những
Trang 40thiếu sót của bản thân
Trong hoạt động GDTC trường học, tính tự giác, tích cực trong quá trình tập luyện là yếu tố cơ bản, quyết định trực tiếp đến hiệu quả học tập Bản chất hoạt động học Thể dục có tính chất đặc trưng so với các môn học khác Đó là quá trình sử dụng phương tiện, gồm các bài tập TDTT, tác động lên cơ thể người học nhằm phát triển năng lực thể chất, hoàn thiện nhân cách người học Với các môn học khác, thì việc sử dụng các phương tiện là những kiến thức của xã hội loài người nhằm phát triển tri thức, hoàn thiện nhân cách người học Chính vì vậy, bản thân người học không tự giác, tích cực và không
có định hướng hoạt động của mình thì mọi sự tổ chức, điều khiển đều trở nên
vô nghĩa, kém hiệu quả
Hoạt động tập luyện trong thời gian chính khóa để thực hiện kĩ thuật của bài tập rất hạn hẹp, điều đó, đòi hỏi mỗi cá thể đều phải nỗ lực cố gắng Thể hiện chính ở sự định hướng, tìm tòi, phát triển tư duy sáng tạo của học sinh trong thời gian học nội khoá và hoạt động ngoại khóa Việc nắm bắt tốt tri thức, kỹ năng cơ bản sẽ là tiền đề để điều khiển quá trình tự tập luyện Đồng thời, việc rèn luyện thường xuyên tại nhà những kiến thức, những kỹ thuật động tác đã được học, cũng sẽ là điều kiện cần để học sinh tiếp thu những kỹ thuật mới được nhanh hơn Qua việc tự đánh giá và thông qua xem xét, kiểm tra của thầy, đánh giá của bạn, học sinh sẽ tự cảm thấy mình đã làm được những gì, chưa làm được gì và cần phải cố gắng hơn nữa
2.1.2 Tiêu chí đánh giá tính tự giác, tích cực của sinh viên Học viện
An ninh nhân dân trong giờ học GDTC
Để xác địch được các tiêu chí đánh giá tính tự giác, tích cực của SV Học viện An ninh nhân dân trong giờ học GDTC Đề tài căn cứ vào các biểu hiện của tính tự giác tích cực và đưa ra các tiêu chí cụ thể sau:
- Biểu hiện ở xúc cảm học tập:
+ Tiêu chí 1: Thái độ đối với môn học
+ Tiêu chí 2: Tâm trạng đối với kết quả môn học