1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Biện pháp giáo dục ý thức bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hoá vũng rô cho cộng đồng huyện đông hòa, tỉnh phú yên

109 340 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 1,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổ chức các hoạt động tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về việc bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa Vũng Rô .... Việc làm trên chứng tỏ, dù trong hoàn

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

NGUYỄN VĂN TUẤN

BIỆN PHÁP GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA VŨNG RÔ CHO CỘNG ĐỒNG HUYỆN ĐÔNG HÕA, TỈNH PHÚ YÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

HÀ NỘI, NĂM 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

NGUYỄN VĂN TUẤN

BIỆN PHÁP GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA VŨNG RÔ CHO CỘNG ĐỒNG HUYỆN ĐÔNG HÕA, TỈNH PHÚ YÊN

Chuyên ngành: Giáo dục và phát triển cộng đồng

Mã ngành: Thí điểm

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Tuyết Mai

HÀ NỘI, NĂM 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản luận văn này là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi Các số liệu và tài liệu được trích dẫn trong luận văn là trung thực Kết quả nghiên cứu này không trùng với bất cứ công trình nào đã được công bố trước đó

Tôi chịu trách nhiệm với lời cam đoan của mình

Phú Yên, ngày tháng 6 năm 2017

Tác giả luận văn

Nguyễn Văn Tuấn

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên tôi xin chân thành cảm ơn đến Trường Đại học Sư phạm

Hà Nội, Khoa sau Đại học, Khoa Tâm lý – Giáo dục và các thầy cô đã truyền dạy những kiến thức, cũng như động viên giúp đỡ trong thời gian tôi học tập

và nguyên cứu tại trường

Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Thị Tuyết Mai

người trực tiếp hướng dẫn, dành nhiều thời gian và công sức giúp tôi hoàn thành Luận văn này

Xin chân thành cảm ơn lãnh đạo UBND huyện Đông Hoà, Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Đông Hòa đã tạo điều kiện và cung cấp số liệu phục

vụ trong quá trình nguyên cứu và viết Luận văn

Mặc dù, đã có nhiều cố gắng và cẩn thận trong việc lựa chọn nội dung cũng như soạn thảo và trình bày nội dung Tuy nhiên không tránh khỏi những thiếu sót, tôi mong nhận được góp ý quý báu để Luận văn được hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Phú Yên, ngày tháng 6 năm 2017

Tác giả luận văn

Nguyễn Văn Tuấn

Trang 5

7 VH&TT Văn hóa và Thông tin

8 VH,TT&DL Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích nguyên cứu 3

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 4

4 Giả thuyết khoa học 4

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 4

7 Phương pháp nghiên cứu 5

8 Cấu trúc luận văn 6

Chương 1: LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA CHO CỘNG ĐỒNG 7

1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 7

1.1.1 Một số nghiên cứu ngoài nước 7

1.1.2 Một số nghiên cứu trong nước 8

1.2 Một số khái niệm có liên quan 9

1.2.1 Khái niệm di sản văn hóa 9

1.2.2 Khái niệm di tích lịch sử - văn hóa 11

1.2.3 Khái niệm bảo tồn, phát huy, cộng đồng 13

1.2 Bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa cho cộng đồng 17

1.2.1 Phân loại di tích, phân cấp di tích 17

1.2.2 Vai trò, ý nghĩa, giá trị của di tích lịch sử- văn hóa 19

1.2.3 Bảo tồn giá trị di tích lịch sử - văn hóa 21

1.2.4 Phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa 22

1.3 Giáo dục ý thức bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa 23

1.3.1 Ý thức bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa 23

1.3.2 Nội dung, hình thức giáo dục ý thức bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa 23

1.3.3 Phương pháp giáo dục ý thức bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa 25

Trang 7

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới việc giáo dục ý thức bảo tồn và phát huy các

giá trị di tích lịch sử - văn hóa 26

1.4.1 Các yếu tố chủ quan 26

1.4.2 Các yếu tố khách quan 27

Tiểu kết chương 1 28

Chương 2: THỰC TRẠNG GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO TỒN VÀ

PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA VŨNG RÔ CHO CỘNG ĐỒNG Ở HUYỆN ĐÔNG HÕA, TỈNH PHÚ YÊN 29

2.1 Vài nét về huyện Đông Hòa và Di tích lịch sử – văn hóa Vũng Rô 29

2.1.1 Tổng quan về huyện Đông Hòa 29

2.1.2 Tổng quan về di tích lịch sử - văn hóa Vũng Rô 34

2.2 Tổ chức nghiên cứu thực trạng 39

2.2.1 Mục đích nghiên cứu thực trạng 39

2.2.2 Nội dung nghiên cứu thực trạng 40

2.2.3 Phương pháp nghiên cứu thực trạng 40

2.2.4 Khách thể khảo sát: 40

2.3 Thực trạng công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa Vũng Rô 41

2.3.1 Thành tựu 41

2.3.2 Hạn chế 46

2.3.3 Nguyên nhân hạn chế 46

2.4 Nhận thức của khách thể nghiên cứu về bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa Vũng Rô 49

2.4.1 Nhận thức của các cấp chính quyền đối với việc bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa Vũng Rô 50

2.4.2 Nhận thức của người dân xã Hòa Xuân Nam (nơi có di tích LSVH Vũng Rô) đối với việc bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa Vũng Rô 53

2.5 Thực trạng giáo dục ý thức bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa Vũng Rô cho cộng đồng huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên 55

Trang 8

2.5.1 Nội dung giáo dục ý thức bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa Vũng Rô 55 2.5.2 Phương pháp giáo dục ý thức bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử

- văn hóa Vũng Rô 57

2.6 Các yếu tố ảnh hưởng tới việc giáo dục ý thức bảo tồn và phát huy các giá trị di tích lịch sử - văn hóa Vũng Rô 62 Tiểu kết chương 2 65

Chương 3: BIỆN PHÁP GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA VŨNG RÔ CHO CỘNG ĐỒNG HUYỆN ĐÔNG HÕA, TỈNH PHÚ YÊN 66

3.1 Một số định hướng cụ thể cho việc bảo tồn và phát huy di tích lịch sử - văn hóa Vũng Rô 66 3.2 Một số biện pháp giáo dục ý thức bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch

sử - văn hóa Vũng Rô 70

3.2.1 Tăng cường đổi mới công tác quản lý Nhà nước đối với bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa ở huyện Đông Hòa 70 3.2.2 Tổ chức các hoạt động tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về việc bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa Vũng Rô 71 3.2.3 Xây dựng đội ngũ tình nguyện viên và tập huấn cho các tình nguyện viên về nội dung, hình thức, phương pháp tuyên truyền cho cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa Vũng Rô 74 3.2.4 Huy động các nguồn lực từ cộng đồng để gắn kết chặt chẽ di tích lịch

sử - văn hóa Vũng Rô với phát triển du lịch ở huyện Đông Hòa 76

3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 79 3.4 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 80 Tiểu kết chương 3 84

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 85 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88 PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC BẢNG Bảng 2.1 Ý kiến của khách thể nghiên cứu về mức độ quan tâm tới công tác

bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa Vũng Rô 43

Bảng 2.2 Ý kiến của 36 cán bộ các cơ quan chức năng, các tổ chức chính trị - xã hội huyện Đông Hòa về mức độ quan trọng của công tác bảo tồn 50

và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa Vũng Rô 50

Bảng 2.3 Ý kiến của khách thể nghiên cứu về mức độ tham gia bảo tồn 51

và phát huy giá trị lịch sử - văn hóa Vũng Rô 51

Bảng 2.4 Ý kiến của người dân về mức độ tham gia bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa Vũng Rô 53

Bảng 2.5 Ý kiến của khách thể nghiên cứu về phương pháp giáo dục ý thức bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa Vũng Rô 59

Bảng 3.1 Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đối với việc bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa Vũng Rô 68

Bảng 3.2 Đánh giá của khách thể nghiên cứu là cán bộ quản lý, nhà quản lý về tính cấn thiết của các biện pháp 81

Bảng 3.3 Đánh giá của khách thể nghiên cứu là cán bộ quản lý, nhà quản lý về tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất 82

Biểu đồ 3.1 Mức độ cần thiết của các giải pháp 82

Biểu đồ 3.2 Mức độ khả thi của các biện pháp 83

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Lý luận và thực tiễn đã chứng minh rằng, bất kỳ dân tộc nào cũng có quá trình lịch sử phát triển riêng của mình, đồng thời sản sinh ra giá trị văn hóa dân tộc và chính giá trị văn hóa đó đã làm nên diện mạo, cốt cách riêng của mỗi dân tộc để tạo nên sự phong phú đa dạng của nền văn hóa chung của nhân loại Thực tế ngày càng khẳng định vai trò to lớn của di tích lịch sử dân tộc đối với quá trình phát triển của xã hội Một quốc gia không thể phát triển bền vững nếu thiếu một nền tảng văn hóa nội sinh, nếu các giá trị di tích lịch

sử bị mai một hoặc không được giữ gìn, phát huy đúng đắn và có hiệu quả

Trải qua hàng ngàn năm, những giá trị di tích lịch sử Việt Nam vẫn hiện diện như muôn trùng con sóng cuộn chảy trong dòng sông văn hoá truyền thống của dân tộc

Sau khi giành được độc lập, Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời Ngày 23/11/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành sắc lệnh số 65/SL – Sắc lệnh đầu tiên của Nhà nước ta về bảo tồn di tích trên đất nước Việt Nam Để quán triệt tư tưởng chỉ đạo của Hồ Chí Minh về vấn đề nêu trên, nhằm nêu cao ý thức trách nhiệm của người đang làm công việc bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa, trong đó có các di tích Đồng thời, động viên các tầng lớp xã hội tham gia tích cực vào sự nghiệp bảo vệ các di sản văn hóa, chính vì thế từ năm 2005 Chỉnh phủ Việt Nam đã lấy ngày 23/11 làm ngày di sản văn hóa Việt Nam Việc làm trên chứng tỏ, dù trong hoàn cảnh nào hay giai đoạn nào của lịch sử cách mạng Việt Nam thì việc bảo tồn và phát huy giá trị di tích vẫn luôn được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm và coi đó là tài sản

vô giá, là những chứng tích vật chất phản ánh sâu sắc nhất quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước hào hùng của dân tộc ta và cũng là sự thể hiện rõ rệt nhất bản sắc cộng đồng của dân tộc Việt Nam

Trang 11

Với tầm quan trọng của các di tích văn hóa, trong đó có các di tích lịch

sử - văn hóa, việc giữ gìn và phát huy giá trị của chúng không chỉ cần sự quan tâm ở tầm vĩ mô, mà còn sự quan tâm của các cơ quan hữu quan ở tầm vi mô

và kể cả sự góp sức của các tầng lớp nhân dân

Thực tế cho thấy trong những năm qua, đặc biệt là trong quá trình đất nước ta đổi mới và hội nhập quốc tế, việc bảo tồn và phát huy giá trị của các di tích đã đạt được những thành tựu đáng kể Tuy nhiên, bên cạnh

đó vẫn còn nhiều vấn đề cần được các ngành và các cấp hữu quan từ trung ương đến địa phương cần chú trọng hơn nữa, trong đó có vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị di tích LS – VH Vũng Rô ở huyện Đông Hòa mà tôi quan tâm nghiên cứu

Huyện Đông Hòa được thành lập theo nghị định số 62/2005/NĐ-CP, ngày 16/5/2005 của Chính Phủ Tuy rằng, đây là 01 huyện mới thành lập, nhưng nơi đây có nhiều di sản vật thể như: di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh cấp Quốc gia và cấp tỉnh, cụ thể 03 di tích cấp Quốc gia: Di tích danh lam thắng cảnh Núi Đá Bia, di tích danh lam thắng cảnh Bãi Môn – Mũi Đại Lãnh, di tích lịch sử - văn hóa Vũng Rô; 06 di tích cấp tỉnh: Di tích lịch

sử Núi Hiềm, di tích lịch sử Núi Quéo, di tích lịch sử những trận đánh tiêu biểu ở Đèo Cả, di tích lịch sử Mộ Nguyễn Hữu Dực, di tích lịch sử Mộ và Nhà thờ Lương Văn Khoa, di tích lịch sử Lăng Phú Lạc và một số di tích đang đề nghị xếp hạng Trong đó di tích lịch sử - văn hóa Vũng Rô là một di sản hết sức quan trọng, nơi đây gắn liền với huyền thoại tàu không số, chính nơi đây đã tiếp nhận vũ khí để chi viện cho chiến trường Quân khu V và Tây nguyên trong lịch sử chống giặc ngoại xâm giữ hòa bình cho đất nước, vì thế năm 1997 đã được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và

Du lịch) công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa cấp Quốc gia theo Quyết định

Trang 12

sử, văn hóa, các di di tích còn là nguồn tài nguyên quý giá để huyện Đông Hòa khai thác, phát triển du lịch, góp phần thúc đẩy kinh tế ở huyện nhà

Các di tích là tài sản vô giá của quốc gia nói chung và của huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên nói riêng Tuy nhiên, nếu không nhận thức đầy đủ việc bảo tồn và phát huy giá trị của di tích thì nguồn tài nguyên này chỉ là thứ khô cứng, lãng phí, nhưng nếu ngược lại khai thác quá mức, không có khoa học thì sẽ có ngày bị tàn phá, cạn kiệt Chính vì vậy làm thế nào để di tích sống mãi với thời gian và giá trị của nó phát huy một cách có hiệu quả thì đó mới

là vấn đề cần các ngành, các cấp, đặt biệt là các nhà quản lý văn hóa hiện nay

ở địa phương cần phải đặc biệt quan tâm

Kế thừa di sản quá khứ là quy luật phát triển tất yếu của văn hoá Muốn

kế thừa và phát huy di tích lịch sử thì trước hết cần phải nghiên cứu, tiếp cận mọi phương diện lý luận về di tích lịch sử dân tộc Đó là một đòi hỏi bức xúc

về phương diện lý luận Nhận thức tầm quan trọng cũng như tính cấp bách

của vấn đề nêu trên, tôi chọn đề tài: Biện pháp giáo dục ý thức bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa Vũng Rô cho cộng đồng huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên với hy vọng góp phần bảo tồn và phát huy hơn nữa

giá trị các di tích lịch sử - văn hóa ở huyện Đông Hòa trong thời kỳ hiện đại

hóa đất nước và hội nhập quốc tế

2 Mục đích nguyên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực trạng ý thức bảo tồn và phát huy giá trị di tích LS - VH Vũng Rô của cộng đồng ở huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên; đề xuất các biện pháp giáo dục ý thức cho họ để góp phần vào việc bảo tồn và phát huy hơn nữa giá trị của di tích LS - VH Vũng Rô trong bối cảnh hiện nay

Trang 13

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Ý thức bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa của cộng đồng

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp giáo dục ý thức bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa Vũng Rô cho cộng đồng

4 Giả thuyết khoa học

Công tác bảo tồn và phát huy các giá trị di tích LS - VH trên địa bàn huyện Đông Hòa đã đạt được những kết quả nhất định Tuy nhiên, cũng còn những tồn tại cần được khắc phục Nếu đề xuất được những biện pháp như: tuyên tuyền nâng cao nhận thức của mọi tầng lớp nhân dân và các cấp chính quyền trên địa bàn huyện về trách nhiệm bảo vệ, gìn giữ và phát huy các giá trị của di tích LS - VH; vận động mọi người tự nguyện, tự giác tham gia bằng những hành động thiết thực để bảo vệ, giới thiệu về giá trị của các di tích đó thì sẽ góp phần phát huy hơn nữa giá trị của di tích lịch LS - VH Vũng Rô

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về giáo dục ý thức bảo tồn và

phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa

5.2 Đánh giá thực trạng ý thức bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch

sử - văn hóa Vũng Rô của cộng đồng huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên

5.3 Đề xuất một số biện pháp nhằm giáo dục ý thức bảo tồn và phát

huy giá trị di tích LS - VH Vũng Rô cho cộng đồng ở huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

6.1 Về khách thể và địa bàn khảo sát

- Khách thể khảo sát:

Gồm 83 người, trong đó có: 36 cán bộ Phòng Văn hóa và Thông tin, Phòng Giáo dục và Đào tạo, cán bộ các cơ quan chức năng, các tổ chức chính

Trang 14

- Địa bàn khảo sát: xã Hòa Xuân Nam, huyện Đông Hòa (nơi có di tích lịch sử - văn hóa Vũng Rô)

6.2 Về thời gian

Nghiên cứu việc bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa Vũng Rô của cộng đồng huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên từ năm 2014 đến năm 2016

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Luận văn dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử để nghiên cứu ý thức bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa Vũng Rô cho cộng đồng huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.1 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: lập phiếu điều tra để trưng cầu ý kiến người dân, cán bộ quản lý văn hóa, cán bộ các cơ quan chức năng,

tổ chức chính trị xã hội về công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa và các biện pháp quản lý tương ứng

7.2.2 Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn trực tiếp người dân, cán bộ quản lý văn hóa của huyện, xã về vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa

7.2.3 Phương pháp quan sát: Đến trực tiếp di tích lịch sử - văn hóa Vũng Rô để quan sát về thực trạng của di tích, ý thức của người dân về việc bảo tồn và phát huy giá trị của di tích

7.2.4 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Tổng kết những thành quả của hoạt động thực tiễn trong quá khứ để rút ra những bài học cần thiết

7.3 Nhóm phương pháp xử lý thông tin: Sử dụng phương pháp toán thống kê để xử lý số liệu điều tra, từ kết quả định lượng, đưa ra những kết luận định tính nhằm nâng cao độ tin cậy của kết quả nghiên cứu

Trang 15

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn chia làm 3 chương:

Chương 1 Lý luận về giáo dục ý thức bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa cho cộng đồng

Chương 2 Thực trạng giáo dục ý thức bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa Vũng Rô cho cộng đồng ở huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên

Chương 3 Biện pháp giáo dục ý thức bảo tồn và phát huy giá trị di tích

lịch sử - văn hóa Vũng Rô cho cộng đồng huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên

Trang 16

Chương 1

LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA CHO CỘNG ĐỒNG

1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Một số nghiên cứu ngoài nước

Vào thời gian nửa sau thế kỷ XX, các tổ chức quốc tế như tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hiệp quốc (UNESCO), chương trình phát triển của Liên hiệp quốc (UNDP) đều nỗ lực nghiên cứu đánh giá tiềm năng quá khứ của nhân loại, đặc biệt là về di sản văn hoá UNESCO chia di sản văn

hoá thành hai loại: di sản “văn hóa vật thể” và di sản “văn hoá phi vật thể”

Feredico Mayor (nguyên tổng giám đốc tổ chức UNESCO) hình dung

di sản văn hóa như “hệ thống các giá trị”, những nhân tố hình thành nên bản

sắc văn hoá dân tộc

Người Nhật quan niệm giá trị văn hoá như một thứ tài sản “tài sản văn hoá” và họ chia di sản văn hoá thành hai loại: tài sản văn hoá “hữu hình” và tài sản văn hoá “vô hình” Các thuật ngữ vật thể, phi vật thể, vô hình, hữu

hình giờ đây được sử dụng rộng rãi trên thế giới khi nói về di sản văn hoá

Trong Hội nghị quốc tế “Bảo vệ di sản văn hoá vật thể và phi vật thể: Hướng đến Phương pháp tiếp cận tổng thể” tổ chức tại Nara, Nhật Bản từ 19

đến 23/10/2004, đã ra tuyên bố Yamato về phương pháp tiếp cận tổng thể trong bảo vệ di sản văn hoá vật thể và phi vật thể đã được thông qua Với bản

Tuyên bố này, các quan niệm về di sản văn hóa đã được nhân loại định nghĩa cụ thể trên phương diện lý luận theo Công ước và Quy chế của UNESCO Đây là những quan niệm cụ thể nhằm giúp nhận diện một cách đúng đắn khoa học về di sản văn hóa vật thể và phi vật thể trên thế giới

Trang 17

1.1.2 Một số nghiên cứu trong nước

Ở nước ta, nghiên cứu về di sản văn hóa trước tiên phải kể đến công trình Việt Nam Văn hoá sử cương của học giả Đào Duy Anh từ năm 1938 với quan điểm: “Ta muốn trở thành một nước cường thịnh về vật chất, vừa về tinh thần thì phải giữ văn hoá cũ (di sản) làm thể (gốc, nền tảng); mà lấy văn hoá mới làm dụng nghĩa là phải khéo điều hòa tinh tuý của văn hoá phương Đông với những điều sở trường về khoa học của văn hoá phương Tây [1, tr.371]

Năm 1997, GS,TS Hoàng Vinh hoàn thành cuốn sách “Một số vấn đề

về bảo tồn và phát triển di sản văn hoá dân tộc” Trên cơ sở những quan niệm

di sản văn hóa của quốc tế và Việt Nam, tác giả đã đưa ra một hệ thống lý luận về di sản văn hóa, đồng thời bước đầu vận dụng nghiên cứu di sản văn hóa nước ta Từ cơ sở lý luận và thực tiễn, tác giả đã đưa ra các nhóm giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc

Năm 2002, Luật Di sản văn hoá và văn bản hướng dẫn thi hành được coi là văn bản pháp quy về di sản văn hóa Trong sách Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể do Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch phát hành năm 2007, GS.TS Ngô Đức Thịnh (nguyên Viện trưởng viện Văn hoá dân gian) đã bàn đến Văn hóa phi vật thể: Bảo tồn và phát huy Trưởng Ban Di sản phi vật thể Văn phòng UNESCO Pari - Ông Rieks Smeets đã nghiên cứu về: Bối cảnh, nhận thức và quá trình xây dựng Công ước về bảo vệ Di sản văn hóa phi vật thể

Công trình “Một con đường tiếp cận di sản văn hóa” do Bộ Văn hóa -

Thông tin ấn hành, Hà Nội năm 2006, đã tập hợp nhiều bài nghiên cứu về lý luận di sản văn hóa cũng như thực tiễn, có thể làm tư liệu nghiên cứu tốt cho

đề tài Trong đó tiêu biểu nhất là các bài: Khảo cổ học với công tác bảo vệ và phát huy di sản văn hóa (Vũ Quốc Hiền), Bảo tồn di tích, nhân tố quan trọng của phát triển bền vững (Lê Thành Vinh)

Trang 18

Năm 2007, trong tư cách một nhà nghiên cứu có nhiều năm quan tâm

đến di sản văn hóa, PGS,TS Nguyễn Chí Bền viết bài nghiên cứu “Bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể ở nước ta hiện nay” đăng trên báo Văn hóa Bài báo

bàn sâu về cách thức bảo tồn văn hóa phi vật thể hiện nay

Riêng nói đến di tích LSVH Vũng Rô được nhắc đến với những công

trình nghiên cứu và những bài báo như: Kỷ yếu hội thảo khoa học sự kiện tàu không số Vũng Rô (2006) của UBND tỉnh Phú Yên, Sự kiện Vũng Rô, bước ngoặt của đường Hồ Chí Minh trên Biển Đông (2013) của tác giả Hồng

Chuyên, Kỷ niệm 50 năm ngày bến Vũng Rô đón chuyến hàng đầu tiên của

tàu không số (2014) của 02 tác giả Nhạn Sơn – Doãn Công, Tìm về huyền

thoại tàu không số Vũng Rô (2016) của Anh Quân, Tàu không số trên bến Vũng Rô của Tô Phương, Di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh tiêu biểu ở Phú Yên (2016) của Nguyễn Danh Hạnh…

Nhìn chung, những công trình nghiên cứu cũng như những bài viết về

Di tích Vũng Rô chỉ dừng lại ở việc miêu tả hay chỉ giới thiệu về cảnh đẹp và các chiến công gắn liền với sự kiện tàu không số vận chuyển vũ khí để chi viện cho chiến trường Quân khu V và Tây nguyên trong lịch sử chống giặc ngoại xâm giữ hòa bình cho đất nước Theo tìm hiểu của tôi, hiện tại chưa có một công trình nào nghiên cứu về “Biện pháp giáo dục ý thức bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa Vũng Rô cho cộng đồng huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên”

1.2 Một số khái niệm có liên quan

1.2.1 Khái niệm di sản văn hóa

Di sản văn hóa theo nghĩa tiếng việt là tài sản do thế hệ trước để lại cho thế hệ sau Theo nghĩa hán việt Di là di truyền, để lại; sản là của cải Trong

tiếng anh từ heritage cũng có nghĩa là tài sản kế thừa, di sản Thuật ngữ di

sản trong quan điểm của nhân học, văn hóa học là một khái niệm tiến triển,

Trang 19

nó có thể thay đổi theo không gian và thời gian, đây cũng là cơ hội để các nhà nghiên cứu có thể dựa vào từng góc độ nghiên cứu, mục đích nghiên cứu để đưa ra những khái niệm về di sản khác nhau phù hợp với thời gian

và không gian

Từ góc độ quản lý, khái niệm di sản văn hóa trong Luật di sản văn hóa

của Việt Nam ban hành năm 2002 được quy định như sau: di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam [05, tr.13]

Đến năm 2009, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Di sản văn hóa (Luật số 08/2009/L- CTN ngày 29/6/2009) được ban hành, khái niệm Di sản văn hóa phi vật thể đã được sửa đổi như sau:“Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan; có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng; không ngừng được tái tạo và được lưu truyền

từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn

và các hình thức khác”

Riêng về khái niệm “Di sản văn hóa vật thể” không có sửa đổi, điều

đó có nghĩa là, cho đến nay, trong lĩnh vực quản lý DSVH chỉ sử dụng khái niệm trong trong điều 4 của Luật DSVH ban hành năm 2002, cụ thể như sau: “Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia”

Từ nội dung trên, có thể nói, định nghĩa về DSVH trong Luật DSVH (2002) cũng như Luật DSVH (2009) mang tính chuyên ngành, phù hợp với thực tiễn của công tác bảo tồn, phát huy giá trị của DSVH Việt Nam cũng như

sự phát triển của chuyên ngành DSVH trên thế giới

Trang 20

Tuy nhiên, cách phân chia DSVH ra 02 loại, gồm: Di sản văn hóa vật thể và Di sản văn hóa phi vật thể như trên cũng chỉ mang tính tương đối mà

thôi, vì bản thân mỗi di sản mang cả hai giá trị: vật thể và phi vật thể, chúng gắn kết chặt chẽ với nhau để tạo nên giá trị cho chính di sản đó Có thể nói, giá trị văn hóa phi vật thể là linh hồn, là cốt lõi, là biểu hiện tinh thần của vật thể, còn giá trị vật thể lại là cái hiện hữu, chứa đựng yếu tố tinh thần Vì vậy, một di sản văn hóa không thể thiếu một trong hai yếu tố đó

1.2.2 Khái niệm di tích lịch sử - văn hóa

Trước hết, về khái niệm “Di tích”, cho đến nay, đã có nhiều quan điểm, nhiều cách nhìn nhận khác nhau Quan điểm hay khái niệm sơ khai nhất của

con người thì di tích là dấu tích, dấu vết còn lại Theo hiến chương Venice năm 1964 tại Italia quy định: di tích lịch sử - văn hóa bao gồm những công trình xây dựng lẻ loi, những khu di tích ở đô thị hay ở nông thôn, là bằng chứng của nền văn minh riêng biệt, của một sự tiến hóa có ý nghĩa hay là một biến cố về lịch sử Đây được xem là khái niệm đầu tiên hoàn thiện nhất về di

tích lịch sử - văn hóa được nhiều quốc gia trên thế giới biết đến

Đến năm1984 Việt Nam đã ban hành “Pháp lệnh bảo vệ và sử dụng di

tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh”, khái niệm di tích lịch sử - văn hóa được hiểu như sau: Di tích lịch sử - văn hóa là những công trình xây dựng, địa điểm, đồ vật, tài liệu và các tác phẩm có giá trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật, văn hóa, liên quan đến sự kiện lịch sử, quá trình phát triển văn hóa xã hội

Theo giáo trình Bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa (nhà xuất bản đại học

Văn hóa Hà Nội năm 1993) định nghĩa: “Di tích lịch sử - văn hóa là những không gian vật chất cụ thể, khách quan, trong đó chứa đựng các giá trị điển hình lịch sử, do tập thể hoặc cá nhân con người hoạt động sáng tạo ra trong lịch sử để lại” [09, tr 17]

Trang 21

Từ các định nghĩa trên có thể nhận ra một số đặc điểm của di tích lịch

sử - văn hóa Việt Nam như sau:

- Di tích lịch sử văn hóa là những nơi ẩn dấu một bộ phận giá trị văn hóa khảo cổ

- Di tích lịch sử - văn hóa là những địa điểm, khung cảnh ghi dấu về dân tộc học

- Là nơi diễn ra sự kiện chính trị quan trọng có ý nghĩa thúc đẩy lịch sử đất nước, lịch sử địa phương phát triển

- Là nơi ghi dấu những chiến công chống giặc ngoại xâm, hay là nơi ghi dấu giá trị lưu niệm về nhân vật lịch sử, anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa, khoa học,…

- Những công trình kiến trúc nghệ thuật có giá trị toàn quốc và khu vực

- Những danh lam thắng cảnh do thiên nhiên bài trí và do con người tạo nên cũng được xem là di tích lịch sử - văn hóa

Như vậy, quan điểm về di tích lịch sử - văn hóa khác nhau theo thời gian, không gian và tùy thuộc vào quan điểm nghiên cứu của các nhà khoa học; mục đích sử dụng, bảo vệ của mỗi quốc gia Tuy nhiên, cho dù một khái niệm di tích ra đời trong thời gian, không gian và quan điểm nào thì di tích cũng là một sản phẩm của lịch sử, đã được lịch sử khẳng định là thành quả lao động sáng tạo văn hóa vật chất của ông cha ta để lại, nó là một minh chứng không thể phủ nhận của lịch sử, nó tồn tại trong không gian với hiện trạng muôn hình muôn vẻ, mà khi đã mất đi không thể nào lấy lại được, nếu tạo ra

di tích đó là đánh lừa cảm giác đối với khách tham quan Chính vì lẽ đó, công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích luôn được Nhà nước Việt Nam quan tâm đặc biệt, bởi vì gìn giữ di tích là giữ gìn tài sản vô giá cho nhiều thế hệ mai sau, không những thế di tích lịch sử - văn hóa còn là nguồn lực to lớn để phát triển du lịch, là điều kiện để giao lưu, phát triển nền văn hóa nước ta thêm phong phú đa dạng, phù hợp với xu hướng toàn cầu hóa hiện nay

Trang 22

1.2.3 Khái niệm bảo tồn, phát huy, cộng đồng

- Bảo tồn: là bảo vệ và giữ gìn sự tồn tại của sự vật hiện tượng theo

dạng hình thức vốn có của nó Bảo tồn là giữ lại, không để mất đi, không để

bị thay đổi, biến hóa Đối tượng bảo tồn (tức là các giá trị di sản văn hóa vật thể và phi vật thể) cần thỏa mãn hai điều kiện:

+ Một là, nó phải được coi là tinh hoa, là một giá trị đích thực được thừa nhận minh bạch, không có gì phải hồ nghi hay bàn cãi

+ Hai là, nó phải hàm chứa khả năng, chí ít là tiềm năng, đứng vững lâu dài với thời gian, là cái giá trị của nhiều thời (tức là có giá trị lâu dài) trước những biến đổi tất yếu về đời sống vật chất và tinh thần của con người, nhất là trong bối cảnh nền kinh tế thị trường và quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra cực kỳ sôi động

Bảo tồn nguyên vẹn (bảo tồn trong dạng “tĩnh”)

Bảo tồn nguyên vẹn văn hóa vật thể ở dạng “tĩnh” là vận dụng thành quả khoa học kỹ thuật công nghệ cao, hiện đại đảm bảo giữ nguyên trạng hiện vật như sự vốn có về kích thước, vị trí, đường nét màu sắc, kiểu dáng Khi cần phục nguyên các di sản văn hóa vật thể cần sử dụng hiệu quả các phương tiện

kỹ thuật như: đồ họa kỹ thuật vi tính công nghệ 3D theo không gian ba chiều; chụp ảnh; băng hình video; xác định trọng lượng, thành phần chất liệu của di

sản văn hóa vật thể Sau khi tiến hành bảo tồn nguyên vẹn, phải so sánh đối chiếu số liệu với nguyên mẫu đã được lưu giữ chi tiết để không làm biến dạng

di sản văn hóa vật thể

Bảo tồn văn hóa phi vật thể ở dạng “tĩnh” là tiến hành điều tra sưu tầm, thu thập các dạng thức văn hóa phi vật thể như nó hiện có theo quy trình khoa học nghiêm túc chặt chẽ, “giữ” chúng trong sách vở, các ghi chép, mô tả bằng

băng hình (video), băng tiếng (audio), ảnh.v.v Tất cả các hiện tượng văn

hóa phi vật thể này có thể lưu giữ trong các kho lưu trữ, các viện bảo tàng

Trang 23

Bảo tồn trên cơ sở kế thừa (bảo tồn trong dạng “động”)

Bảo tồn “động”, tức là bảo tồn các hiện tượng văn hóa trên cơ sở kế thừa Các di sản văn hóa vật thể sẽ được bảo tồn trên tinh thần giữ gìn những nét cơ bản của di tích, cố gắng phục chế lại nguyên trạng di sản văn hóa vật thể bằng nhiều kỹ thuật công nghệ hiện đại Đối với các di sản văn hóa phi vật thể, bảo tồn “động” trên cơ sở kế thừa là bảo tồn các hiện tượng văn hóa đó ngay chính trong đời sống cộng đồng Bởi lẽ, cộng đồng không những là môi trường sản sinh ra các hiện tượng văn hóa phi vật thể mà còn là nơi tốt nhất

để giữ gìn, bảo vệ, làm giàu và phát huy văn hóa phi vật thể trong đời sống xã hội theo thời gian Các hiện tượng văn hóa phi vật thể tồn tại trong ký ức cộng đồng, nương náu trong tiếng nói, trong các hình thức diễn xướng, trong các nghi lễ, nghi thức, quy ước dân gian

Văn hóa phi vật thể luôn tiềm ẩn trong tâm thức và trí nhớ của con

người mà chúng ta thường mệnh danh họ là những nghệ nhân hay là những

Báu vật nhân văn sống Do đó bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa phi vật

thể còn đồng nghĩa với việc bảo vệ những Báu vật nhân văn sống Đó là việc

xã hội thừa nhận các tài năng dân gian, tôn vinh họ trong cộng đồng, tạo điều kiện tốt nhất để trong hoàn cảnh có thể, để họ sống lâu, sống khỏe mạnh, phát huy được khả năng của họ trong quá trình bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống Cần phải phục hồi các giá trị văn hóa phi vật thể một cách khách quan, sáng suốt, tin cậy, chứ không thể chủ quan tùy tiện Tất cả những giá trị văn hóa phi vật thể phải được kiểm chứng qua nhiều phương pháp nghiên cứu có tính chất chuyên môn cao, có giá trị thực chứng, thuyết phục thông qua các dự án điều tra, sưu tầm bảo quản, biên dịch và xuất bản các dấu tích di sản văn hóa phi vật thể

Bảo tồn theo quan điểm phục hồi nguyên dạng di sản văn hóa phi vật

thể chính là mong muốn “lý tưởng” nhất, hoàn hảo nhất Nếu không thể bảo

Trang 24

tồn nguyên dạng thì phải bảo tồn theo hiện dạng đang có Bởi theo quy luật

của thời gian thì các DSVH phi vật thể ngày càng có xu hướng xa dần nguyên

gốc Do vậy, nếu không thể khôi phục được nguyên gốc thì bảo tồn hiện dạng

là điều cần phải thực hiện và có ý nghĩa khả thi nhất

- Phát huy: Cùng với việc bảo tồn di tích, phát huy giá trị của di tích là

hết sức quan trọng để di tích “sống” và phát huy hết giá trị của nó Bản thân

từ phát huy (promotion: sự đẩy mạnh, sự xúc tiến, quảng cáo, ) đã nói lên vai trò tích cực của nó trong việc phát huy giá trị của di tích

Trong giáo trình bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa cùa Trường đại học văn hóa – Hà Nội, khái niệm phát huy di tích lịch sử - văn hóa được hiểu như

sau: “Phát huy giá trị của di tích là quá trình khai thác các giá trị di tích phục vụ xã hội hiện tại và tương lai, góp phần phát triển kinh tế và nâng cao đời sống văn hóa xã hội” [10, tr 184]

Như vậy, nội dung của định nghĩa trên cũng đã đề cập đến mục đích của việc phát huy hết giá trị một cách rõ ràng Thực tế cho thấy, quá trình phát huy giá trị của di tích sẽ thuận lợi hơn nếu di tích lịch sử - văn hóa đó đã

có nhiều công chúng biết tới, lúc đó, việc tuyên truyền, quảng bá di tích trở nên dễ dàng hơn so với một di tích chưa có ai biết tới Với di tích chưa được nhiều người biết tới, hoạt động phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa là sử dụng các hình thức tuyên truyền, quảng bá cho đông đảo công chúng những thông tin về giá trị của di tích Tuy nhiên, mục đích cuối cùng của công tác phát huy giá trị của di tích là làm cách nào để người dân cũng như du khách trong và ngoài nước hiểu hết giá trị của di tích về các mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, kinh tế, thẩm mỹ, Theo đó, di tích nào được phát huy giá trị một cách hiệu quả sẽ đồng nghĩa với việc những người làm công tác bảo tồn và phát huy giá trị của di tích đó không những sẽ giúp người dân cũng như du khách được thụ hưởng trọn vẹn các giá trị của di tích, mà còn tạo ra nguồn lực kinh tế không nhỏ cho quốc gia nói chung và địa phương nói riêng

Trang 25

Như vậy, có thể hiểu, "Phát huy" trước hết là sử dụng giá trị tinh thần

của di tích trong công tác tuyên truyền, giáo dục tư tưởng tình cảm; đồng thời, khái niệm "phát huy" cũng đã bao hàm cả các hoạt động khai thác, tuy nhiên, nếu sử dụng từ "khai thác" thay cho "phát huy" di tích thì sẽ bị hiểu là quá thiên về tính hiệu quả kinh tế trong sử dụng

Rõ ràng, việc dùng từ “phát huy” mà không dùng từ “khai thác” đã nói lên tinh thần tôn trọng di tích, xem di tích là một thực thể sống của quá khứ nên cần nâng niu, bảo vệ nó một cách “trân trọng” nhất, để di tích phát huy hết giá trị vốn có của nó

Thực tế cho thấy, bảo tồn và phát huy là hai hoạt động mang tính tương

hỗ, chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Bảo tồn là để phát huy những giá trị của di tích, nhằm tạo ra những lợi ích về chính trị, về văn hóa – xã hội

và khả năng tăng trưởng kinh tế, có điều kiện vật chất và kỹ thuật để bảo tồn

di tích tốt hơn Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là cần tạo sự cân bằng giữa bảo tồn và phát huy di tích

- Cộng đồng (community): được khái niệm chung nhất là một cơ thể

sống/cơ quan/tổ chức nơi sinh sống và tương tác giữa cái này với cái khác Trong khái niệm này điều đáng chú ý, được nhấn mạnh: cộng đồng là “cơ thể sống”, có sự “tương tác” của các thành viên Tuy nhiên, theo các nhà khoa học, trong khái niệm này không chỉ cụ thể “cái này” với “cái khác” là cái gì, con gì Đó có thể là các loài thực vật, cũng có thể là các loài động vật, cũng

có thể là con người – cộng đồng người

Cộng đồng người có tính đa dạng, phức tạp hơn nhiều so với cộng đồng sinh vật khác Trong đời sống xã hội, khái niệm cộng đồng có nhiều tuyến nghĩa khác nhau; đồng thời cộng đồng cũng là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau: xã hội học, dân tộc học, y học

Trang 26

Theo quan điểm Mác –Xít, cộng đồng là mối quan hệ qua lại giữa các

cá nhân, được quyết định bởi sự cộng đồng hóa lợi ích giống nhau của các thành viên về các điều kiện tồn tại và hoạt động của của những người hợp thành cộng đồng đó, bao gồm hoạt động sản xuất vật chất và các hoạt động khác nhau của họ, sự gần gủi các cá nhân về tư tưởng, tín ngưỡng, hệ giá trị chuẩn mực cũng như các quan điểm chủ quan của họ về mục tiêu và phương tiện hoạt động

Quan niệm về cộng đồng theo quan điểm của Mác-Xít là quan niệm rất rộng có tính khái quát cao, mang đặt thù kinh tế - chính trị Dấu hiệu đặc trưng của nhóm người trong cộng đồng này chính là “Điều kiện tồn tại và hoạt động”, là “lợi ích” chung, là “tư tưởng”, “tín ngưỡng”, “giá trị” chung Thực chất là cộng đồng mang tính giai cấp, ý thức hệ

Xuất phát từ tiếng La-tinh, “cộng đồng”–communis có nghĩa là

“chung/công cộng/ được chia sẻ với mọi người hoặc nhiều người” Nhưng

đặc điểm/ dấu hiệu chung của cộng đồng này chính là đặc điểm để phân biệt

nó với một cộng đồng khác

Cộng đồng những người dân cùng sống chung trong một thôn, xóm, làng, xã, một quốc gia có thể là toàn thế giới, tức họ cùng chia sẻ với nhau mảnh đất chung sống gọi là cộng đồng thể Có nhiều người, nhiều cộng đồng khác, tuy không sống chung ở địa vực nào đó nhưng họ lại có chung những đặc điểm sở thích, nhu cầu chung, riêng biệt nào đó thì loại cộng đồng đó được gọi là cộng đồng tính

1.2 Bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa cho cộng đồng

1.2.1 Phân loại di tích, phân cấp di tích

- Phân loại di tích: Mỗi di tích đều chứa đựng trong đó những thông

điệp lịch sử, văn hóa, nghệ thuật khác nhau mà đôi khi các loại hình sử liệu không có hoặc không thể có được Do đó để bảo vệ và phát huy tác dụng di

Trang 27

tích một cách có hiệu quả nhất người ta phân loại di tích thành các dạng như

sau: Theo điều 13 của Nghị định số: 92/2002/NĐ-CP, ngày 11 tháng 11 năm

2002 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật di sản văn hóa, các di tích được phân ra 4 loại hình:

+ Di tích lịch sử (di tích lưu niệm sự kiện, di tích lưu niệm danh nhân) + Di tích kiến trúc nghệ thuật

+ Di tích khảo cổ

+ Danh lam thắng cảnh

Trong đó các từ ngữ trên được hiểu như sau:

+ Di tích lịch sử là : là những công trình xây dựng, địa điểm ghi dấu các sự kiện, các mốc lịch sử quan trọng của dân tộc hoặc gắn với các anh hùng dân tộc, danh nhân, nhà hoạt động chính trị, văn hóa, nghệ thuật, khoa học nổi tiếng có ảnh hưởng quan trọng đối với tiến trình lịch sử của dân tộc hoặc của một địa phương

+ Di tích kiến trúc nghệ thuật: là các công trình kiến trúc nghệ thuật,

hoặc tổng thể kiến trúc đô thị và đô thị có giá trị tiêu biểu trong các giai đoạn phát triển nghệ thuật kiến trúc của dân tộc

+ Di tích khảo cổ: là các địa điểm khảo cổ có giá trị nổi bật đánh dấu

các giai đoạn phát triển của các nền văn hóa khảo cổ

+ Danh lam thắng cảnh: là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm mỹ, khoa học

- Phân cấp di tích: Ngoài cách phân loại trên, trong Luật Di sản văn

hóa, di tích còn được chia ra 03 cấp độ sau đây:

+ Di tích quốc gia đặc biệt: là di tích có giá trị đặc biệt tiêu biểu của

quốc gia

Theo quy định của Luật DSVH, Thủ tướng Chính phủ quyết định xếp hạng loại di tích này, đồng thời, quyết định việc đề nghị Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên hợp quốc UNESCO, xem xét đưa di tích tiêu

Trang 28

biểu của Việt Nam vào Danh mục di sản thế giới

+ Di tích quốc gia: là di tích có giá trị tiêu biểu của quốc gia

Loại di tích này do Bộ văn hóa Thể thao và Du lịch quyết định xếp hạng, trong đó có một số di tích tiêu biểu như: chùa Bái Đính của tỉnh Ninh Bình, ruộng bậc thang Hoàng Su phi ở Hà Giang, căn cứ rừng Sác

ở huyện Cần Giờ - TPHCM, chùa Phước Điền An Giang, thác Cam Ly ở Lâm Đồng v.v…

+ Di tích cấp tỉnh: là di tích có giá trị tiêu biểu của địa phương Đối với

loại di tích này, Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định xếp hạng

Việc phân loại di tích như trên, đã bao hàm được toàn bộ tài sản văn hóa vật chất của di tích và nó có tầm quan trọng đặc biệt trong hoạt động bảo tồn di tích Việc phân loại di tích đúng đắn, khoa học sẽ là cơ sở để đưa ra phương hướng phù hợp và khả thi cho việc bảo tồn và phát huy giá trị của di tích Để thực hiện được công việc đó, điều quan trọng là phải xác định được giá trị ban đầu của di tích, nội dung lịch sử chứa đựng trong di tích Từ đó, quan tâm đến việc xếp hạng cho di tích để có kế hoạch tu bổ, quảng bá và phát huy tốt giá trị quý giá của di tích đó Mặt khác, việc phân loại di tích còn cho thấy tính đa dạng, phong phú về nội dung và giá trị của các loại hình di tích trong hệ thống di tích ở Việt Nam

1.2.2 Vai trò, ý nghĩa, giá trị của di tích lịch sử- văn hóa

1.2.2.1 Vai trò của di tích lịch sử - văn hóa

Di tích lịch sử văn hóa là một bộ phận của di sản văn hóa dân tộc, là kết quả của quá trình hoạt động sáng tạo của con người qua nhiều thế hệ, các sản phẩm của quá trình này bao giờ cũng mang trong mình những giá trị vật chất

và tinh thần phong phú, những chuẩn mực và cách ứng xử giao tiếp văn hóa,

xã hội Đây là nơi giáo dục truyền thống yêu nước cho các thế hệ

Trang 29

Di tích lịch sử văn hóa với những vai trò quan trọng, chứa đựng trong

đó những giá trị văn hóa của dân tộc, góp phần hoàn thiện con người, thúc đẩy sự phát triển của xã hội Qua đó trau dồi đạo đức, lối sống, niềm tự hào dân tộc, lòng yêu nước, yêu lao động, lòng biết ơn để từ đó sáng tạo ra những giá trị văn hóa mới, có sức đề kháng trước những sản phẩm văn hóa độc hại, lối sống không lành mạnh, tạo ra một xã hội phát triển bền vững

1.2.2.2 Ý nghĩa của di tích lịch sử - văn hóa

Di tích lịch sử văn hóa là tài sản vô cùng quý giá của đất nước, là chất liệu gắn kết cộng đồng dân tộc, là cơ sở để sáng tạo những giá trị tinh thần mới và giao lưu văn hoá Trong những năm qua, Đảng, Nhà nước và nhân dân

ta đã có nhiều hoạt động nhằm bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá của cha ông, góp phần to lớn vào việc bảo vệ và xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

Di tích đã góp phần tô điểm, làm sáng thêm truyền thống yêu nước, đồng thời thể hiện tinh thần yêu chuộng hòa bình tự do của người dân Việt Nam Ngày nay, việc phát huy giá trị của các di tích lịch sử - văn hóa có vai trò quan trọng trong việc giáo dục thế hệ trẻ về truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, truyền thống đấu tranh cách mạng, những giá trị nhân văn sâu sắc Đến với những di tích lịch sử văn hóa, mỗi người đều mang trong lòng biết ơn sâu sắc đối với các thế hệ đi trước - những người đã anh dũng, kiên cường chiến đấu, hi sinh để giữ gìn độc lập của đất nước Chính điều đó tạo nên tính chất lâu bền cho mỗi di tích và lan truyền rộng rãi cho nhiều thế hệ sau

1.2.2.3 Giá trị của di tích lịch sử - văn hóa

Hệ thống di tích lịch sử văn hóa là tài sản vô giá, là minh chứng cho sự hình thành và phát triển của quê hương, mỗi di tích đều hàm chứa trong đó những giá trị lịch sử, văn hóa và thẩm mỹ Mỗi di tích còn là minh chứng cho

mồ hôi, nước mắt, trí tuệ và cả máu thịt của biết bao thế hệ cha ông chúng ta

Trang 30

đã đổ xuống trong sự nghiệp giành giữ, đấu tranh chống giặc ngoại xâm, xây dựng và bảo vệ quê hương đất nước

Các di tích lịch sử không chỉ hàm chứa trong đó những giá trị lịch sử

mà còn mang lại giá trị thẩm mỹ, nghệ thuật mà bao đời nay các thế hệ ông cha ta đã xây dựng nên và gìn giữ qua bao thế kỷ Đến với các di tích có kiến trúc nghệ thuật độc đáo, công phu được tạo nên bằng những bàn tay tài hoa của các nghệ nhân điêu khắc là minh chứng cho một quá trình lịch

sử góp phần làm giàu thêm cho kho tàng di sản văn hóa của dân tộc, là nguồn sử liệu hỗ trợ cho công việc nghiên cứu và giáo dục truyền thống văn hóa về sau Vì vậy các di tích lịch sử - văn hóa đều có giá trị về mặt lịch

sử, thẩm mỹ, nghệ thuật

1.2.3 Bảo tồn giá trị di tích lịch sử - văn hóa

Bảo tồn giá trị di tích lịch sử là bảo vệ sự tồn tại của sự vật hiện tượng theo dạng thức vốn có của nó Bảo tồn giá trị của di tích là không để di tích

đó bị mai một, “không để bị thay đổi, biến hóa hay biến thái” Như vậy, trong nội hàm của thuật ngữ này, không có khái niệm “cải biến”, “nâng cao” hoặc “phát triển” Hơn nữa, khi nói đối tượng giữ gìn “phải được nhìn

là tinh hoa”, có nghĩa chúng ta đã khẳng định giá trị đích thực và khả năng tồn tại theo thời gian, dưới nhiều thể trạng và hình thức khác nhau của đối tượng được bảo tồn

Di tích lịch sử - văn hóa do hoạt động lịch sử để lại, chúng đã tồn tại khách quan, cụ thể Hoạt động bảo tồn cần xoay quanh đối tượng khách quan

cụ thể đó Vấn đề đặt ra là không cần phải xác định đối tượng, mà chỉ cần lựa đối tượng đó, dấu tích lịch sử còn lại, cái nào xứng đáng được công nhận là di tích vĩnh viễn tồn tại lâu dài cùng lịch sử

Sự tiến bộ của xã hội ngày nay, đã nhận thức rõ ràng di tích lịch sử - văn hóa là do trí tuệ, năng lực sáng tạo của nhiều tầng lớp lao động tạo ra, vì vậy phải đem di tích lịch sử văn hóa về với quần chúng trong lao động sáng

Trang 31

tạo; Mặc khác di tích tích lịch sử, di tích lịch sử - văn hóa là nơi kết tinh những giá trị văn hóa tâm linh rất lớn vì thế không thể bảo tồn di sản như xưa, đóng cửa im lìm Bảo tồn di tích tiến bộ xã hội cùng với giữ gìn sao cho nguyên gốc di tích tồn tại lâu dài, còn phải khai thác, sử dụng khả năng phong phú của di tích, phục vụ nghiên cứu phát triển khoa học, phục vụ tham quan thưởng ngoạn của mọi tầng lớp lao động trong nước và quốc tế

1.2.4 Phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa

Cùng với việc bảo tồn di tích, phát huy giá trị của di tích là hết sức quan trọng, để di tích “sống” và phát huy hết giá trị của nó Bản thân từ phát huy (promotion: sự đẩy mạnh, sự xúc tiến, quảng cáo, ) đã nói lên vai trò tích cực của nó trong việc phát huy giá trị của di tích

Phát huy có nghĩa là làm cho cái hay, cái tốt tỏa tác dụng và tiếp tục nảy nở thêm Nói một cách đơn giản phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa chính là việc khai thác, sử dụng một cách có hiệu quả Công việc này xuất phát từ nhu cầu thực tế, con người mong muốn di tích lịch sử - văn hóa của họ phải được nhiều người cùng biết đến hoặc đem về những lợi ích kinh tế Phát huy giá trị di tích lịch sử là một hoạt động có tính liên ngành, có tiêu chí chung, mục đích là phục vụ cho sự tiến bộ của xã hội, cho việc phát triển du lịch bền vững và góp phần quan trọng trong việc giáo dục truyền thống yêu nước, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc đồng thời là nhịp cầu nối với bạn bè năm châu Cách thức phát huy của mỗi di tích, mỗi thời điểm có khác nhau, điều đó tùy thuộc vào văn hóa của mỗi vùng, vào nhận thức của từng người Nhưng tất thảy các hoạt động này đều phải dựa vào giá trị sẵn có của di tích, làm tôn vinh vẻ đẹp và phát triển các giá trị văn hóa đó Hình thức chủ đạo của phát huy giá trị di tích là quảng bá hình ảnh của di tích trên mọi phương diện nhằm khai thác, thu hút khách đến tham quan, đầu tư Từ đó giúp việc phục hồi tối đa các giá trị văn hóa truyền thống, tạo cơ hội giao lưu giữa các nền văn hóa khác nhau góp phần hiểu biết lẫn nhau và tăng cường mối quan

hệ quốc tế vì hòa bình, vì sự phát triển của xã hội

Trang 32

1.3 Giáo dục ý thức bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa

1.3.1 Ý thức bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa

Luật Di sản văn hóa đã khơi dậy niềm tự hào dân tộc về ý thức bảo tồn

và phát huy các giá trị di tích lịch sử văn hóa qua công tác điều tra nghiên cứu các sự kiện lịch sử, lưu truyền; sưu tầm tư liệu hiện vật có giá trị lịch sử cách mạng, các công trình, địa điểm liên quan các sự kiện lịch sử có giá trị để lập

hồ sơ xếp hạng di tích

Bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa là hoạt động cực kỳ

có ý nghĩa trong việc giáo dục truyền thống yêu nước, tinh thần đấu tranh cách mạng của các thế hệ đi trước để thế hệ hôm nay và mai sau noi theo trên

cơ sở có niềm tự hào để phát huy Minh chứng cho tính chính nghĩa, vì mục đích cao cả của con người Việt Nam trong đấu tranh cách mạng nhằm thức tỉnh lương tri của người yêu hòa bình và tiến bộ trên thế giới đồng cảm một cách sâu sắc với sự nghiệp cách mạng của đất nước ta thời kỳ đã qua và công cuộc xây dựng phát triển đất nước ta sau chiến tranh

Luật di sản văn hóa là văn bản pháp lý của Nhà nước góp phần quan trọng trong việc bảo tồn di sản văn hóa – lịch sử của dân tộc được lưu truyền

từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước ta Luật di sản văn hóa cụ thể hóa chính sách bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc

1.3.2 Nội dung, hình thức giáo dục ý thức bảo tồn và phát huy giá trị

Trang 33

Trung ương 5 (khóa VIII), “về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”; các cấp ủy Đảng, chính quyền, các tổ chức

chính trị - xã hội ở huyện Đông Hòa đã xác định việc giữ gìn bảo tồn di sản văn hóa là một nội dung quan trọng

Nhận thức rõ tầm quan trọng của việc bảo tồn và phát huy giá trị về di tích lịch sử - văn hóa, huyện Đông Hòa đã tuyên truyền cho cán bộ và nhân dân hiểu rõ về vai trò của di sản văn hoá trong sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Từ đó giúp người dân nâng cao ý thức, tích cực thực hiện có hiệu quả Luật di sản văn hóa số 28/2001/QH10 ngày 29 tháng 6 năm 2001 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2002; Nghị định Số: 92/2002/NĐ-CP, ngày 11 tháng 11 năm 2002 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật di sản văn hóa; Luật số 32/2009/QH12 ngày 18 tháng 6 năm 2009 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2010; Nghị định số: 98/2010/NĐ-CP, ngày 21 tháng 9 năm 2010 của Chính Phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật di sản văn hóa; Thông tư số: 18/2012/TT-BVHTTDL, ngày 28 tháng 12 năm 2012 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, quy định chi tiết về bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích; Nghị quyết số 33-NQ/TW, ngày 09/6/2014 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước; đồng thời vận dụng linh hoạt các Nghị định của Chính phủ, các chương trình hành động của Tỉnh ủy, Huyện ủy để phù hợp với hoạt động bảo tồn, phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa ở địa phương

1.3.2.2 Hình thức giáo dục ý thức bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa

- Mở các lớp tuyên truyền, tập huấn cho nhân dân để người dân thấy được họ vừa là người bảo vệ vừa là người được hưởng lợi từ việc bảo vệ, phát

Trang 34

huy các di tích lịch sử - văn hóa Để từ đó, người dân có ý thức và những hành động thiết thực nhất trong việc giữ gìn các di sản

- Trong công tác tuyên truyền cần chú trọng tới đối tượng thanh thiếu niên Trước tiên, cần triển khai hiệu quả khẩu hiệu: "Di sản nằm trong tay thế

hệ trẻ" cho mọi người, bắt đầu từ thanh thiếu niên và học sinh trong các trường học thông qua những hoạt động ngoại khóa, những chương trình lồng ghép trong các môn học, dần dần đưa những giá trị cốt lõi, hồn dân tộc của các di tích lịch sử - văn hóa đến từng học sinh

- Chủ động phối hợp với ban ngành liên quan, cơ quan thông tin đại chúng thực hiện các chương trình về bảo vệ, phát huy di tích lịch sử - văn hóa Tuyên truyền bằng hình thức trực quan, như: panô, băng rôn, khẩu hiệu ủng hộ về việc bảo tồn và phát huy giá trị các di tích ở những nơi công cộng nhằm thu hút sự chú ý của mọi người Bằng những phương thức trên, vừa giới thiệu, vừa tôn vinh di sản văn hóa, nâng cao ý thức trách nhiệm của nhân dân, khách du lịch vào việc bảo vệ và phát huy giá trị của di sản văn hóa ở huyện Đông Hòa

1.3.3 Phương pháp giáo dục ý thức bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa

Di sản văn hóa không chỉ được coi là tài sản có giá trị giáo dục truyền thống, giáo dục nhân cách, mà còn là một nguồn lực to lớn góp phần phát triển kinh tế – xã hội của đất nước Di sản văn hóa là một lĩnh vực được quan tâm đặc biệt, huy động được nhiều sự đóng góp của nhân dân trong việc bảo tồn, phát huy giá trị Hiện nay, vấn đề bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc đang là vấn đề bức thiết

Trong khi cuộc sống xã hội ngày càng sôi động, thì không gian dành cho các loại hình văn hóa truyền thống ngày càng thu hẹp hoặc bị thay đổi hiện nay một số người không hiểu hết giá trị của các di sản văn hóa, mà có xu hướng ưa chuộng những hình thức nghệ thuật mới, hiện đại, ít quan tâm tìm

Trang 35

hiểu cái hay, cái đẹp của nghệ thuật dân tộc Vì vậy, việc bảo tồn và phát huy được các giá trị của di sản văn hóa đã có lúc trở thành nguy cơ tiềm ẩn trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc

Thực tiễn đã chứng minh không ai có thể giữ gìn di sản văn hóa tốt hơn, hiệu quả hơn chính chủ nhân của các loại hình di sản văn hóa ấy Di sản văn hóa không thể đứng ngoài sinh hoạt của cộng đồng dân cư, hoặc đứng ngoài không gian văn hóa của nó Ðể có thể duy trì sức sống cho di sản văn hóa vốn đã được nhân loại tôn vinh, thì trước hết, các di sản văn hóa ấy phải được bảo tồn như nó vốn có, phải được "sống", được tôn vinh, được người dân thừa nhận ngay trong chính đời sống của cộng đồng Cho nên, cần ứng xử với di sản văn hóa bằng lòng tự hào dân tộc, bằng hiểu biết và niềm đam mê cái đẹp, bằng cái cảm thụ sự tinh túy của các di sản văn hóa

Muốn có được điều ấy, đòi hỏi ngành văn hóa, ngành giáo dục và các ngành có liên quan cần phối hợp:

- Xây dựng và ban hành văn bản chỉ đạo, hướng dẫn về giáo dục về tầm quan trọng của di tích lịch sử - văn hóa

- Tổ chức học tập ở các bảo tàng, di tích, thư viện, danh lam thắng cảnh; đồng thời lồng ghép vào các môn học về nội dung nhằm tăng cường giáo dục thẩm mỹ, giáo dục sự hiểu biết các tri thức văn hóa nói chung và di sản văn hóa dân tộc nói riêng Từ đó khơi dậy và nhân lên niềm đam mê, ý thức bảo vệ di sản cho mọi người, làm cho mọi người hiểu biết về di sản, từ

đó có tình cảm, niềm tự hào về các giá trị truyền thống của dân tộc, đất nước

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới việc giáo dục ý thức bảo tồn và phát huy các giá trị di tích lịch sử - văn hóa

1.4.1 Các yếu tố chủ quan

- Công tác tuyên truyền về di tích chưa được chú trọng, thông tin về di

tích còn hạn chế Hoạt động tổ chức giới thiệu tại di tích chưa được làm một

Trang 36

cách khoa học, bài bản, chưa có sự kết hợp chặt chẽ giữa các ngành, các cấp trong tổ chức khai thác du lịch và dịch vụ tại di tích

- Công tác xã hội hóa hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di tích còn

thiếu định hướng, thiếu những chính sách, chế tài cụ thể để khuyến khích, kêu gọi sự đóng góp của các tổ chức, cá nhân Các nguồn lực do dân đóng góp chưa được qui tụ dưới sự quản lý của cơ quan nhà nước một cách chặt chẽ nên không được định hướng để sử dụng một cách có hiệu quả nhất

- Nhận thức của các cấp, các ngành, toàn xã hội về vai trò, ý nghĩa của

di tích đã được nâng cao nhưng chưa sâu sắc, toàn diện và chưa được cụ thể hóa bằng các biện pháp, kế hoạch, chương trình

1.4.2 Các yếu tố khách quan

Do sự khắc nghiệt của thời tiết, đặc biệt là sự biến đổi khí hậu đã gây ra

những tác hại nghiêm trọng cho di tích lịch sử - văn hóa, khiến cho di tích lịch sử - văn hóa ở đây bị giảm tuổi thọ, bị hư hỏng, thiệt hại hoặc biến dạng,

làm giảm giá trị của di sản

Nhận thức và sự tham gia của cộng đồng vào quá trình bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa chưa thực sự đồng đều, vững chắc và có lợi cho sự nghiệp bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa Có thể nói, tại địa phương có di tích lịch sử - văn hóa, nhận thức của cộng đồng với việc bảo vệ di sản chưa cao Người dân địa phương hướng sự quan tâm vào việc khai thác di sản là chính, việc bảo vệ di tích chủ yếu vẫn là những biện pháp hành chính của các cơ quan quản lý Có thể nói, người dân ở các di tích quan tâm đến việc được hưởng lợi gì từ các di tích hơn là trách nhiệm và nghĩa vụ của mình đối với việc bảo vệ di sản thế giới là gì?

Trang 37

Tiểu kết chương 1

Các di tích lịch sử - văn hóa là một bộ phận quan trọng của di sản văn hóa, do vậy, việc giáo dục ý thức bảo tồn và phát huy giá trị của chúng là việc làm vô cùng cần thiết Trên cơ sở tìm hiểu các quan điểm khác nhau của các nhà nghiên cứu về các vấn đề lý luận có liên quan, chương 1 đã làm sáng tỏ một số khái niệm nghiên cứu như: di sản văn hóa, di tích lịch sử - văn hóa, bảo tồn, phát huy, cộng đồng đồng thời, chỉ ra được mối quan hệ giữa bảo tồn và phát huy giá trị của di tích lịch sử - văn hóa

Cũng trong chương 1, các vấn đề lý luận về phân loại di sản văn hóa nói chung, phân loại và phân cấp di tích lịch sử - văn hóa nói riêng đã được đề cập Theo đó, cách phân loại và phân cấp di tích là những cơ sở để tìm ra các biện pháp bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa phù hợp Kết quả của việc tìm hiểu các khái niệm liên quan đến di tích lịch sử - văn hóa cũng như các cách phân loại và phân cấp di tích ở chương 1 là cơ sở, để tác giả luận văn đi sâu nghiên cứu di tích lịch sử văn hóa Vũng Rô

Di tích lịch sử - văn hóa Vũng Rô đã được nhà nước công nhận là di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia từ năm 1997 Vì vậy, các vấn đề liên quan đến di tích, đặc biệt là vấn đề thực trạng của việc giáo dục ý thức bảo tồn và phát huy giá trị của di tích lịch sử văn hóa Vũng Rô cho cộng đồng huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên là những vần đề cần được quan tâm nghiên cứu

Trang 38

Chương 2 THỰC TRẠNG GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA VŨNG RÔ CHOCỘNG ĐỒNG Ở HUYỆN ĐÔNG HÕA, TỈNH PHÚ YÊN

2.1 Vài nét về huyện Đông Hòa và Di tích lịch sử – văn hóa Vũng

Đông Hòa có địa hình đa dạng, bao gồm: đồng bằng, núi rừng và biển Diện tích đất sản xuất nông nghiệp chiếm 25,30%; đất lâm nghiệp chiếm 45,03%; đất chuyên dùng chiếm 9,14%; đất ở chiếm 3,50% đất tự nhiên Đây

là cơ sở để tập trung phát triển kinh tế nông – lâm – ngư nghiệp, nhằm ổn định đời sống nhân dân, tạo điều kiện cho phát triển các ngành kinh tế khác

Đông Hòa có vị trí đặc biệt, là vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Phú Yên – Bắc Khánh Hòa; được xác định là vùng kinh tế động lực của tỉnh Phú Yên trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và quy hoạch đến năm

2020 Có hệ thống giao thông phát triển Ngoài tuyến Quốc lộ 1A và tuyến đường sắt Bắc – Nam chạy ngang qua, trên địa bàn huyện còn có Quốc lộ

29 từ Vũng Rô đi Đắc Lắc; đường nối từ Quốc lộ 1A (địa phận thôn Phú

Trang 39

Khê) đi khu công nghiệp Hòa Tâm; có cảng biển Vũng Rô cùng với những tuyến đường giao thông liên huyện; liên xã, thôn, khu phố được nhựa hóa

và bê-tông hóa, đáp ứng nhu cầu đi lại của nhân dân; có sân bay Tuy Hòa nằm giáp ranh huyện giúp cho việc đi lại, vận chuyển, trao đổi hàng hóa thuận lợi, dễ dàng

Biển và bờ biển Đông Hòa có nguồn tài nguyên phong phú, hệ sinh thái

đa dạng với nhiều cảnh quan thiên nhiên kỳ thú như: Đá Bia, mũi Điện, mũi Nạy, hòn Nưa, hòn Khô, bãi Môn, bãi Tiên

Đông Hòa là mảnh đất giàu tiềm năng văn hóa Văn hóa vật thể có các công trình kiến trúc: đình, chùa, lăng, miếu…; Văn hóa phi vật thể có các thể loại tự sự dân gian, diễn xướng dân gian, lễ hội dân gian, lễ hội tôn giáo; các phong tục, tín ngưỡng theo vòng đời người và vòng cây trồng… Đông Hòa cũng là vùng đất “địa linh nhân kiệt” Người dân Đông Hòa xem núi Đá Bia

là núi thiêng, thế núi Đá Bia được người dân ghi nhận:

Bi Sơn bút thế, Nựu đảnh quy hình

Hoặc:

Bi Sơn sanh thánh chúa

Đà thủy xuất hiền thần (Nguồn từ dư địa chí Đông Hòa) 2.1.1.2 Đặc điểm kinh tế

Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 11,55% Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng giảm dần tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp, thương mại, dịch vụ Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được đầu tư xây dựng, đời sống nhân dân, bộ mặt nông thôn được đổi mới Thu nhập bình quân trong năm

2016 là 26,495 triệu đồng/người/năm

Trang 40

Vùng ven biển: Tập trung khai thác tốt tiềm năng, lợi thế về nuôi trồng; khai thác, đánh bắt thuỷ sản và phát triển kinh tế biển; phát triển một số ngành công nghiệp có giá trị tăng cao như phân bón và nước giải khác các loại; một

số ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, giải quyết việc làm cho nhiều lao động như: chế biến nhân hạt điều, chế biến cá, hàng thủ công mỹ nghệ… đã kịp thời bàn giao 134 ha (giai đoạn 1) cho nhà đầu tư tổ chức lễ động thổ dự

án Nhà máy lọc hoá dầu Vũng Rô

Vùng đồng bằng: Triển khai trồng cây công nghiệp, đa dạng hoá cây trồng, vật nuôi, đầu tư hệ thống công trình thuỷ lợi, vận dụng khoa học kỹ thuật để thâm canh phát triển vùng sản xuất lúa với giống mới có năng suất, chất lượng cao Thực hiện giao đất, giao rừng cho các thành phần kinh tế và

hộ gia đình phát triển sản xuất, khai thác đất màu, đồi núi ở xã Hoà Xuân Tây, Hoà Tân Đông phát triển trang trại, gia trại, hoạt động các cơ sở sản xuất kinh doanh trong cụm công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp Bàn Nham Nam; quy hoạch cụm công nghiệp Nam Bình 1 – Hoà Xuân Tây

Công nghiệp và xây dựng: Giá trị sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp – xây dựng tăng trưởng bình quân đạt 15,37%/năm; mặt hàng công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp chủ yếu là phân bón, nước giải khác các loại, nhân hạt điều, mây tre lá, hàng hải sản sơ chế Bằng vốn đầu tư qua bộ, ngành, vốn trong nhân dân vốn đầu tư nước ngoài đã xây dựng kết cấu hạ tầng khu kinh tế Nam Phú Yên, các dự án khu hành chính trung tâm huyện, chương trình xây dựng nông thôn mới, hệ thống đê kè, khu tái định cư, khu dân cư nông thôn, cầu Bến Lớn, trường học

Dịch vụ - du lịch: Giá trị sản xuất thương mại – dịch vụ tăng trưởng bình quân đạt 17,9%/năm Thương mại nội địa phát triển khá, tổng mức bán

lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ xã hội đạt 3.780 tỷ đồng Hệ thống hạ tầng thương mại được tăng cường đầu tư Một số chợ được đầu tư xây dựng và

Ngày đăng: 28/06/2017, 09:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Văn Bính (2010), Văn hóa Việt Nam trên con đường đổi mới những thời cơ và thách thức, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Việt Nam trên con đường đổi mới những thời cơ và thách thức
Tác giả: Trần Văn Bính
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2010
2. Nguyễn Chí Bền (2007), “Bảo tồn DSVH phi vật thể ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Cộng sản, (7/127) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn DSVH phi vật thể ở nước ta hiện nay”, "Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Nguyễn Chí Bền
Năm: 2007
3. Nguyễn Chí Bền, Lâm Văn Biền, Nguyễn Minh San (2009), Hỏi – đáp về văn hóa Việt Nam..... – NxbVăn hóa dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi – đáp về văn hóa Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Chí Bền, Lâm Văn Biền, Nguyễn Minh San
Nhà XB: NxbVăn hóa dân tộc
Năm: 2009
8. Nguyễn Đăng Duy (1993), Bảo tồn di tích lịch sử -Văn hóa, Nxb Văn hóa – Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn di tích lịch sử -Văn hóa
Tác giả: Nguyễn Đăng Duy
Nhà XB: Nxb Văn hóa – Thông tin
Năm: 1993
9. Nguyễn Đăng Duy, Trịnh Minh Đức (1993), Bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa, Nxb Trường đại học văn hóa Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa
Tác giả: Nguyễn Đăng Duy, Trịnh Minh Đức
Nhà XB: Nxb Trường đại học văn hóa Hà Nội
Năm: 1993
10. Trịnh Minh Đức, Phạm Thu Hương (2007), Bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa
Tác giả: Trịnh Minh Đức, Phạm Thu Hương
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2007
11. Phạm Duy Đức (Chủ biên) (2010), Phát triển văn hóa Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển văn hóa Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020
Tác giả: Phạm Duy Đức (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2010
13. Nguyễn Quốc Hùng (2003), “Giữ gìn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể tại các di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh”, Tạp chí di sản, số 04 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giữ gìn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể tại các di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh”, "Tạp chí di sản
Tác giả: Nguyễn Quốc Hùng
Năm: 2003
14. Nguyễn Thế Hùng (2007), “Phát huy giá trị di tích phục vụ sự nghiệp bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước”, tạp chí văn hóa, số 20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy giá trị di tích phục vụ sự nghiệp bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước”, "tạp chí văn hóa
Tác giả: Nguyễn Thế Hùng
Năm: 2007
15. Hoàng Đạo Kính (2002), Di sản văn hoá bảo tồn và trùng tu, Nxb Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di sản văn hoá bảo tồn và trùng tu
Tác giả: Hoàng Đạo Kính
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2002
16. Phạm Quang Nghị (2003), “Di sản văn hóa nhân tố quan trọng góp phần bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước”, Tạp chí di sản, số 04 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di sản văn hóa nhân tố quan trọng góp phần bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước”, "Tạp chí di sản
Tác giả: Phạm Quang Nghị
Năm: 2003
20. Trần Ngọc Thêm (1996 – 2006), Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, in lần thứ 04, Nxb tổng hợp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, in lần thứ 04
Nhà XB: Nxb tổng hợp
21. Ngô Đức Thịnh (2010), Bảo tồn, làm giàu và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn, làm giàu và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập
Tác giả: Ngô Đức Thịnh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2010
22. Lưu trần Tiêu (2002), Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa Việt Nam, Nxb Văn hóa nghệ thuật Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa Việt Nam
Tác giả: Lưu trần Tiêu
Nhà XB: Nxb Văn hóa nghệ thuật Việt Nam
Năm: 2002
23. Lưu Trần Tiêu (2007), “Con đường tiếp cận di sản văn hóa”, Tạp chí Khoa học xã hội, (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con đường tiếp cận di sản văn hóa”, "Tạp chí Khoa học xã hội
Tác giả: Lưu Trần Tiêu
Năm: 2007
24. Anh Tuân ( 2006), “Vài suy nghĩ về việc bảo tồn vững chắc và phát huy bền vững giá trị di sản tại nước ta hiện nay”, Tạp chí di sản, số 4(17), tr 05 – 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài suy nghĩ về việc bảo tồn vững chắc và phát huy bền vững giá trị di sản tại nước ta hiện nay”, "Tạp chí di sản
26. Hoàng Văn Vinh (1997), Một số vấn đề bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc, Nxb Văn hóa dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc
Tác giả: Hoàng Văn Vinh
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 1997
4. Chính phủ (2002), Nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật di sản văn hóa Khác
5. Chính Phủ (2010), Nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật di sản văn hóa Khác
6. BCH Trung ương Đảng khóa XI (2014), Nghị quyết về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Ý kiến của khách thể nghiên cứu về mức độ quan tâm tới công  tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử -  văn hóa Vũng Rô - Biện pháp giáo dục ý thức bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử   văn hoá vũng rô cho cộng đồng huyện đông hòa, tỉnh phú yên
Bảng 2.1. Ý kiến của khách thể nghiên cứu về mức độ quan tâm tới công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa Vũng Rô (Trang 52)
Bảng 2.2. Ý kiến của 36 cán bộ các cơ quan chức năng, các tổ chức chính  trị - xã hội huyện Đông Hòa về mức độ quan trọng của công tác bảo tồn - Biện pháp giáo dục ý thức bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử   văn hoá vũng rô cho cộng đồng huyện đông hòa, tỉnh phú yên
Bảng 2.2. Ý kiến của 36 cán bộ các cơ quan chức năng, các tổ chức chính trị - xã hội huyện Đông Hòa về mức độ quan trọng của công tác bảo tồn (Trang 59)
Bảng 2.3. Ý kiến của khách thể nghiên cứu về mức độ tham gia bảo tồn - Biện pháp giáo dục ý thức bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử   văn hoá vũng rô cho cộng đồng huyện đông hòa, tỉnh phú yên
Bảng 2.3. Ý kiến của khách thể nghiên cứu về mức độ tham gia bảo tồn (Trang 60)
Bảng 2.5. Ý kiến của khách thể nghiên cứu về phương pháp giáo dục ý  thức bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử -  văn hóa Vũng Rô - Biện pháp giáo dục ý thức bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử   văn hoá vũng rô cho cộng đồng huyện đông hòa, tỉnh phú yên
Bảng 2.5. Ý kiến của khách thể nghiên cứu về phương pháp giáo dục ý thức bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa Vũng Rô (Trang 68)
Bảng 3.1. Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đối với việc bảo tồn - Biện pháp giáo dục ý thức bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử   văn hoá vũng rô cho cộng đồng huyện đông hòa, tỉnh phú yên
Bảng 3.1. Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đối với việc bảo tồn (Trang 77)
Bảng 3.2. Đánh giá của khách thể nghiên cứu là cán bộ quản lý, nhà quản - Biện pháp giáo dục ý thức bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử   văn hoá vũng rô cho cộng đồng huyện đông hòa, tỉnh phú yên
Bảng 3.2. Đánh giá của khách thể nghiên cứu là cán bộ quản lý, nhà quản (Trang 90)
Bảng 3.3. Đánh giá của khách thể nghiên cứu là cán bộ quản lý, nhà quản - Biện pháp giáo dục ý thức bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử   văn hoá vũng rô cho cộng đồng huyện đông hòa, tỉnh phú yên
Bảng 3.3. Đánh giá của khách thể nghiên cứu là cán bộ quản lý, nhà quản (Trang 91)
Hình 1. Bằng di tích lịch sử - văn hóa cấp Quốc gia Vũng Rô - Biện pháp giáo dục ý thức bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử   văn hoá vũng rô cho cộng đồng huyện đông hòa, tỉnh phú yên
Hình 1. Bằng di tích lịch sử - văn hóa cấp Quốc gia Vũng Rô (Trang 101)
Hình 2. Vẻ đẹp hoang sơ của biển Vũng Rô  (Ảnh: Văn Tuấn sưu tầm từ Internet) - Biện pháp giáo dục ý thức bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử   văn hoá vũng rô cho cộng đồng huyện đông hòa, tỉnh phú yên
Hình 2. Vẻ đẹp hoang sơ của biển Vũng Rô (Ảnh: Văn Tuấn sưu tầm từ Internet) (Trang 101)
Hình 3. Tổ chức Lễ kỷ niệm 50 năm bến Vũng Rô  tiếp nhận chuyến hàng đầu tiền của tàu không số - Biện pháp giáo dục ý thức bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử   văn hoá vũng rô cho cộng đồng huyện đông hòa, tỉnh phú yên
Hình 3. Tổ chức Lễ kỷ niệm 50 năm bến Vũng Rô tiếp nhận chuyến hàng đầu tiền của tàu không số (Trang 102)
Hình 4.  Đoàn đại biểu học bổng “Sức sống biển đảo” - Biện pháp giáo dục ý thức bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử   văn hoá vũng rô cho cộng đồng huyện đông hòa, tỉnh phú yên
Hình 4. Đoàn đại biểu học bổng “Sức sống biển đảo” (Trang 102)
Hình 6. Tỉnh đoàn Phú Yên tổ chức dâng hương tại  Khu tưởng niệm di tích tàu không số (Ảnh: Văn Tuấn - 2016) - Biện pháp giáo dục ý thức bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử   văn hoá vũng rô cho cộng đồng huyện đông hòa, tỉnh phú yên
Hình 6. Tỉnh đoàn Phú Yên tổ chức dâng hương tại Khu tưởng niệm di tích tàu không số (Ảnh: Văn Tuấn - 2016) (Trang 103)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w