1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Văn hóa công sở tại các trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,

128 294 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 1,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA TRỊNH HUYỀN MAI VĂN HÓA CÔNG SỞ TẠI CÁC TRƯỜNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC THUỘC CÁC BỘ LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

TRỊNH HUYỀN MAI

VĂN HÓA CÔNG SỞ TẠI CÁC TRƯỜNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC THUỘC CÁC BỘ

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

Chuyên ngành: Quản lý công

Mã số : 60 34 04 03

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN THỊ THU VÂN

HÀ NỘI, NĂM 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Thị Thu Vân Các nội dung trong đề tài có

sự phân tích, tìm hiểu, nghiên cứu tương đối chi tiết, công phu Số liệu điều tra, khảo sát đều được tiến hành cẩn thận, nghiêm túc và phản ánh trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

TRỊNH HUYỀN MAI

Trang 3

Lời cảm ơn của tác giả

Với tình cảm trân trọng nhất, tác giả luận văn xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành, sâu sắc tới Phó Giáo s- Tiến sĩ Nguyễn Thị Thu Vân vì sự tận tình h-ớng dẫn, giúp đỡ tác giả trong quá trình thực hiện luận văn

Tác giả xin tỏ lòng biết ơn đối với Ban Giám đốc, các Thầy giáo, Cô giáo của Học viện Hành chính Quốc gia đã tận tình, chu đáo trong quá trình giảng dạy và truyền đạt kiến thức Xin cám ơn toàn thể cán bộ, nhân viên của Học viện Hành chính Quốc gia đã tạo những điều kiện thuận lợi nhất cho tác giả trong thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành ch-ơng trình cao học

Xin chân thành cảm ơn quý vị lãnh đạo các cơ quan hữu trách, đồng nghiệp, bạn bè cùng học và gia đình đã động viên, quan tâm giúp đỡ, tạo mọi điều kiện cho tác giả hoàn thành ch-ơng trình học tập và hoàn thành bản luận văn này

Xin chân thành cảm ơn các Thầy , Cô phản biện đã có những nhận xét xác

đáng, quý báu giúp cho tác giả có điều kiện hoàn thiện tốt hơn những nội dung của luận văn trong t-ơng lai

Kính mong nhận đ-ợc sự góp ý của các Thầy giáo, Cô giáo của đồng nghiệp và của các bạn cùng học lớp Cao học HC20B1 - Học viện Hành chính Quốc gia để luận văn ngày càng hữu ích hơn

Xin trân trọng cảm ơn !

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài 2

3 Tình hình nghiên cứu của đề tài 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 4

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn 5

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 5

7 Kết cấu của luận văn 6

CHƯƠNG I CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ VĂN HÓA CÔNG SỞ TẠI CÁC TRƯỜNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC 7

1.1 Những vấn đề chung về văn hóa công sở 7

1.2 Khái quát về trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức 15

1.3 Văn hóa công sở tại các trường đào tạo, bồi dưỡng 18

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa công sở 24

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VĂN HÓA CÔNG SỞ TẠI CÁC TRƯỜNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC THUỘC CÁC BỘ 35

2.1 Giới thiệu chung về các trường đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức thuộc Bộ 35

2.2 Thực trạng về văn hóa công sở tại trường đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức thuộc các bộ 47

2.3 Đánh giá chung về văn hóa công sở tại các trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức trực thuộc bộ 68

Tiểu kết Chương 2 75

Trang 5

CHƯƠNG 3 GIÁI PHÁP XÂY DỰNG VĂN HÓA CÔNG SỞ TẠI CÁC TRƯỜNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC

THUỘC BỘ 76

3.1 Quan điểm, căn cứ xây dựng văn hóa công sở tại các trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức thuộc bộ 76 3.2 Một số giải pháp cơ bản hoàn thiện văn hóa công sở tại các trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức thuộc bộ 80

KẾT LUẬN 96 TÀI LIỆU THAM KHẢO 98 PHỤ LỤC I ĐỀ XUẤT XÂY DỰNG MÔ HÌNH VĂN HÓA GIAO TIẾP CHO CÁN BỘ, GIẢNG VIÊN 103 PHỤ LỤC II: PHIẾU ĐIỀU TRA KHẢO SÁT 110 BIỂU TỔNG HỢP KẾT QUẢ KHẢO SÁT TẠI CÁC TRƯỜNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CBCC THUỘC CÁC BỘ 115

Trang 6

Văn hóa Thể thao và Du lịch : VHTTDL

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Các trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức thuộc bộ (không

bao gồm Bộ Công an và Bộ Quốc phòng) 40Bảng 2.3 Bảng thống kê những văn bản do một số Bộ ban hành có quy định

về văn hóa công sở 49Bảng 2.5 Nhận xét của học viên về trang phục của cán bộ, giảng viên khi

giảng dạy tại các trường ĐTBD CBCC thuộc các bộ 56Bảng 2.6 Nhận xét về thái độ, phong cách ứng xử giữa cán bộ, giảng viên với

nhautrong công sở 59Bảng 2.7 Nhận xét của học viên về thái độ, phong cách ứng xử của cán bộ,

giảng viên đối với người học 60Bảng 2.8 Nhận xét của viên chức, giảng viên và học viên về biển tên của các

cơ sở đào tạo, bồi dưỡng CBCC thuộc bộ 62Bảng 2.9 :Diện tích đất và công trình của trường ĐTBD CBCC các bộ 63Bảng 2.10: Nhận xét về phương tiện phục vụ giảng dạy cho giảng viên tại các

trường ĐTBD CBCC thuộc các bộ 66Bảng 2.11 : Số lượng thiết bị các cơ sở ĐTBD CBCC các bộ 66

Trang 8

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 1.1: Các giai đoạn học tập kỹ năng giao tiếp 107

Sơ đồ 2.2: Các bước rèn luyện kỹ năng giao tiếp 108

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Văn hóa công sở có vai trò rất quan trọng trong tổ chức, hoạt động của các cơ quan, tổ chức hành chính nhà nước Xây dựng văn hóa công sở góp phần giúp cán bộ, công chức nhận thức đúng về chức trách, nhiệm vụ của mình đối với xã hội, đối với nhân dân; hình thành thái độ, lòng yêu nghề, niềm tự hào về nghề nghiệp, từ đó có ý thức làm việc tốt, tận tụy với công việc, có hành vi ứng xử, giao tiếp đúng mực với nhân dân, với đồng nghiệp Văn hóa công sở cũng là yếu tố quan trọng góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước, giúp cho hoạt động quản lý của cơ quan được thông suốt, phân công, phân nhiệm vụ rõ ràng, trụ sở, cảnh quan môi trường làm việc văn minh, hiện đại

Xây dựng và thực hiện văn hóa công sở là một trong những nội dung quan trọng của cải cách hành chính, cải cách công vụ, công chức Trên cơ sở Quyết định số 129/2007/QĐ-TTg ngày 02 tháng 8 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế Văn hóa công sở tại các cơ quan hành chính nhà nước, từng cơ quan cần xây dựng và thực hiện văn hóa công sở tại cơ quan mình phù hợp với chức năng, nhiệm vụ cũng như giá trị văn hóa riêng

Trong hệ thống cơ quan nhà nước, trường Đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức có chức năng, nhiệm vụ, vị trí, vai trò riêng, là nơi đào tạo, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, kỹ năng quản lý nhà nước và chuyên môn nghiệp

vụ thuộc lĩnh vực chuyên môn phục vụ yêu cầu phát triển và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức Vì vậy đòi hỏi cần đảm bảo tính chuẩn mực cao trong xây dựng và thực hiện văn hóa công sở Đây là vấn đề còn bỏ ngỏ trong các nghiên cứu về văn hóa công sở hiện nay Thực tế cho thấy các trường ĐTBD CBCC chưa xây dựng được chuẩn mực văn hóa công sở thống

Trang 10

nhất, có nơi thực hiện chưa nghiêm các quy định chung về văn hóa công sở Nhận thức về văn hóa công vụ của một bộ phận cán bộ, giảng viên còn chưa đầy đủ, chưa thấy rõ được mối liên hệ giữa xây dựng và nâng cao văn hóa công sở với hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cơ quan Phương thức, lề lối làm việc của các cơ sở đào tạo chưa có sự chuyển biến, thay đổi mang tính căn bản Việc xây dựng, bài trí công sở vẫn còn nhiều bất cập cả về quy hoạch, kiến trúc, quy mô đầu tư, công năng sử dụng, chất lượng quản lý sử dụng Vì lý do

trên, tôi chọn Đề tài “Văn hóa công sở tại các trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức thuộc các bộ” để nghiên cứu trong luận văn thạc sỹ của mình

Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn cho thấy, cần phải có nghiên cứu toàn diện hơn về văn hóa công sở tại các trường đào tạo, bồi dưỡng thuộc các bộ, tìm hiểu nội dung, đặc điểm của văn hóa công sở, xác định rõ vai trò của văn hóa công sở trong cách tiếp cận nhiều chiều cạnh, chỉ ra những nhân tố tác động đến văn hóa công sở, nêu bật những giá trị văn hóa công sở tích cực, những yếu tố không phù hợp, để xuất những giải pháp nhằm phát triển, hoàn thiện văn hóa công sở, xây dựng nền công vụ tại các trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức “chuyên nghiệp, trách nhiệm, năng động, minh bạch, hiệu quả”

Cho đến nay, đã có nhiều bài viết và một số công trình khoa học nghiên cứu dưới góc độ khác nhau liên quan đến vấn đề trên Đây là vấn đề mới, cần được nghiên cứu chuyên sâu về cơ sở lý luận cũng như đánh giá thực trạng quá trình triển khai, từ đó đưa ra các giải pháp để thực hiện có hiệu quả văn hóa công sở tại các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức thuộc Bộ

2 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài

2.1 Mục đích nghiên cứu:

Luận văn hướng tới làm rõ cơ sở khoa học; khảo sát, đánh giá khách quan thực trạng việc xây dựng và thực hiện văn hóa công sở tại các trường

Trang 11

đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức thuộc các Bộ để đề xuất phương hướng

và giải pháp nhằm xây dựng văn hóa công sở tại các trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức thuộc các bộ trong thời gian tới

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

Để đạt được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ sau:

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về văn hóa công sở tại các trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức thuộc các bộ thông qua việc làm rõ khái niệm, đặc điểm, nội dung và các cơ sở pháp lý của văn hóa công sở

- Đánh giá thực trạng, phân tích những ưu điểm, những hạn chế trong thực hiện văn hóa công sở tại các trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức thuộc các bộ

- Xác định các phương hướng và đề xuất hệ thống giải pháp cơ bản nhằm xây dựng văn hóa công sở trong các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức thuộc các bộ

3 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Văn hóa công sở là vấn đề được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu trong những năm gần đây như:

- Đề tài khoa học “ Văn hóa công vụ ở Việt Nam hiện nay” của Học viện

Hành chính Quốc gia do TS Huỳnh Văn Thới làm chủ nhiệm (năm 2015);

- Sách “Văn hóa công vụ ở Việt Nam, thực trạng và những vấn đề đặt ra” do TS Huỳnh Văn Thới (chủ biên);

- Đề án “Văn hóa công sở” do Bộ Nội vụ xây dựng (năm 2016);

- Đề tài khoa học cấp bộ "Trọng điểm văn hóa ứng xử của Công an nhân dân (CAND) Việt Nam" do GS.TS Trần Đại Quang làm chủ nhiệm

(năm 2015);

- Trịnh Thanh Hà , “Xây dựng văn hóa ứng xử công vụ của giảng viên

cơ quan hành chính nhà nước Việt Nam hiện nay”, luận án tiến sĩ Quản lý

Hành chính công, Học viện Hành chính, năm 2009;

Trang 12

- Đào Thị Ái Thi, “Kỹ năng giao tiếp của đội ngũ công chức hành chính trong tiến trình cải cách nền hành chính nhà nước Việt Nam”; luận án

tiến sĩ Quản lý Hành chính công, Học viện Hành chính, năm 2008;

- Nguyễn Thị Quế Hương, “Tổ chức thực thi có hiệu quả quy chế vănhóa công sở tại các cơ quan hành chính nhà nước”; luận văn thạc sĩ Quản

lý Hành chính công, Học viện Hành chính, năm 2009

Các công trình khoa học trên đã tiếp cận vấn đề xây dựng văn hóa công

sở tại các cơ quan hành chính trên nhiều góc độ khác nhau Tuy vậy, vẫn chưa

có công trình khoa học nào nghiên cứu trực tiếp đến vấn đề văn hóa công sở tại các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức thuộc các Bộ

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Văn hóa công sở tại các trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức thuộc các Bộ

4.2 Phạm vi nghiên cứu:

+ Về nội dung: nghiên cứu văn hóa công sở trong các trường đào tạo,

bồi dưỡng cán bộ, công chức thuộc các Bộ dựa trên các nội dung quy định trong Quy chế văn hóa công sở tại các cơ quan hành chính nhà nước (Ban hành kèm theo Quyết định số 129/2007/QĐ-TTg ngày 02 tháng 8 năm 2017 của Thủ tướng Chính phủ)

+ Về không gian: Luận văn nghiên cứu việc xây dựng văn hóa công sở

tại các trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức thuộc các Bộ, bao gồm

bộ và cơ quan ngang bộ, không bao gồm Bộ Quốc phòng và Bộ Công an

+ Về thời gian: nghiên cứu thực trạng công tác xây dựng văn hóa công

sở tại các trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức trực thuộc các Bộ trong 5 năm trở lại đây

Trang 13

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

5.1 Phương pháp luận:

Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa và đường lối chủ trương của Đảng, chính sách pháp của Nhà nước, trong việc xây dựng văn hóa công sở tại các trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức thuộc Bộ

5.2 Phương pháp nghiên cứu:

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu đặc thù của khoa học quản lý hành chính nhà nước như:

+ Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp: Sử dụng trong nghiên cứu tại chỗ để rà soát các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về văn hóa công sở, các văn bản chính thức và báo cáo của các bộ ngành ở Trung ương về lĩnh vực này; các tài liệu đã nghiên cứu về đề tài này

+ Phương pháp khảo sát trường hợp điển hình: Sử dụng trong chọn lựa một số trường ĐTBD CBCC điển hình nghiên cứu sâu, mô tả, nhận xét và tìm hiểu nguyên nhân

+ Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác như thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh và dự báo để chọn lọc những tri thức khoa học cũng như kinh nghiệm thực tiễn về văn hóa công sở tại các cơ quan hành chính nói chung và của các đơn vị sự nghiệp với đặc thù giảng dạy thuộc các bộ

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa về mặt lý luận:

Luận văn tổng quan, bổ sung, làm rõ cơ sở khoa học về văn hóa công

sở tại các trường đào tạo bồi dưỡng thuộc Bộ

6.2 Ý nghĩa về mặt thực tiễn:

- Luận văn góp phần làm sáng tỏ thực trạng về văn hóa công sở và việc xây dựng văn hóa công sở tại các trường đào tạo bồi dưỡng CBCC thuộc các Bộ

Trang 14

- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý trong xây dựng chuẩn mực VHCS, cho việc nghiên cứu, giảng dạy về văn hóa công sở trong trường đào tạo bồi dưỡng nói riêng và đơn vị sự nghiệp nói chung

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các từ viết tắt, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 03 chương, gồm có

Chương 1: Cơ sở khoa học về văn hóa công sở tại các trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức thuộc các Bộ

Chương 2: Thực trạng văn hóa công sở tại các trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức thuộc các Bộ

Chương 3: Phương hướng, giải pháp xây dựng văn hóa công sở tại các trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức thuộc các Bộ

Trang 15

CHƯƠNG I

CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ VĂN HÓA CÔNG SỞ TẠI CÁC

TRƯỜNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC

1.1 Những vấn đề chung về văn hóa công sở

1.1.1 Khái niệm văn hóa

Văn hóa là một khái niệm có nội hàm rất rộng lớn, liên quan đến mọi mặt của cuộc sống con người và do vậy có rất nhiều cách hiểu và có nhiều định nghĩa về văn hóa

Ở phương Đông, khái niệm văn hóa đã xuất hiện rất sớm Tác phẩm Chu Dịch, quẻ Bí đã có từ văn và hóa: Xem dáng vẻ con người, lấy đó mà giáo hóa thiên hạ (Quan hồ nhân văn dĩ hóa thành thiên hạ) Lưu Hướng thời Tây Hán (năm 77-6 trước công nguyên) xem văn hóa như một phương thức giáo hóa con ngưởi - văn trị giáo hóa Nghĩa văn hóa ở đây được dùng đối lập với vũ lực (phàm dấy việc võ là vì không phục tùng, dùng văn hóa mà không sửa đổi, sau đó mới thêm chém giết)

Ở phương Tây, để chỉ đối tượng được nghiên cứu, người Pháp, người Anh có từ culture, người Đức có từ kultur, người Nga có từ kultura Những chữ này có chung gốc La tinh là cultus animi là trồng trọt tinh thần Cultus là văn hóa tương ứng với ý nghĩa trồng trọt, thích ứng với tự nhiên và giáo dục

cá thể, cộng đồng để họ không còn là con vật tự nhiên, mà họ có những phẩm chất tốt đẹp.[34, tr.18]

Ngày nay, văn hóa thường được hiểu là văn học, mỹ thuật, nghệ thuật như thơ ca, sân khấu, phim ảnh, v.v Văn hóa còn được hiểu là cách sống bao gồm phong cách ăn mặc, ăn uống, cư xử và cả đức tin, tri thức …

Có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa, mỗi định nghĩa phản ánh một cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau Văn hóa được đề cập đến trong

Trang 16

nhiều lĩnh vực nghiên cứu và trong mỗi lĩnh vực nghiên cứu đó định nghĩa về văn hóa khác nhau Vào năm 2002, trong Tuyên bố chung của UNESCO về tính đa dạng của văn hóa, khái niệm văn hóa đã được định nghĩa như sau:

“Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin.” [35]

Ông F Mayor, nguyên Tổng giám đốc UNESCO đưa ra một khái niệm

về văn hóa vừa mang tính khái quát, vừa mang tính đặc thù: “Văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống

và lao động.”[36, tr.798]

Chủ tịch Hồ Chí Minh định nghĩa về văn hóa rất sâu sắc: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa.”[34, tr.21]

Nguyên Thủ tướng Phạm Văn Đồng viết: “Nói tới văn hóa là nói tới một lĩnh vực vô cùng phong phú và rộng lớn, bao gồm tất cả những gì không phải là thiên nhiên mà có liên quan đến con người trong suốt quá trình tồn tại, phát triển, quá trình con người làm nên lịch sử cốt lõi của sức sống dân tộc là văn hóa với nghĩa bao quát và cao đẹp nhất của nó, bao gồm cả hệ thống giá trị: Tư tưởng và tình cảm, đạo đức với phẩm chất, trí tuệ và tài năng, sự nhạy cảm và sự tiếp thu cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ tài sản

và bản lĩnh của cộng đồng dân tộc, sức đề kháng và sức chiến đấu để bảo vệ mình và không ngừng lớn mạnh.”[34, tr.21]

Từ các định nghĩa nêu trên, chúng ta có thể đưa ra một số nội dung cơ bản của văn hóa và vai trò của văn hóa như sau:

Trang 17

Văn hóa là nơi thể hiện rõ nhất tinh thần dân tộc, bản sắc dân tộc, đồng thời cũng là nơi thể hiện ý thức và phương thức tiếp nhận những giá trị của các dân tộc khác theo tinh thần cùng tham dự và cùng chia sẻ Văn hóa thuộc

về nét riêng của con người và xét từ góc độ của quá trình tiến hóa, của nền văn minh mà con người đã và đang xây dựng thì văn hóa có thể được xem là một thành tựu của nhân loại Có những giá trị văn hóa tồn tại lâu dài theo thời gian, làm nên bản sắc, đặc trưng riêng của mỗi quốc gia, dân tộc, tổ chức; tuy nhiên cũng có những giá trị văn hóa thay đổi theo sự thay đổi của hệ thống chính trị, nền kinh tế - xã hội, các mối quan hệ giữa con người với con người Văn hóa không phải là một lĩnh vực riêng biệt, văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra và là chìa khóa của sự phát triển Văn hóa được xem là nhân tố quan trọng hình thành thói quen, cách suy nghĩ, phong cách và diện mạo của một con người hay một nhóm người, rộng hơn là của một vùng, một dân tộc nhất định

Tóm lại, văn hóa trong luận văn này được hiểu là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người, một cộng đồng người tạo dựng nên, nhằm mục đích đáp ứng và thoả mãn những nhu cầu của con người và các cộng đồng người nhất định

1.1.2 Khái niệm công sở

Khái niệm “công sở” thường được sử dụng khá phổ biến trong những năm gần đây.Từ điển Pratique du Francais năm 1987 đưa ra khái niệm:“Công sở(service public) là một tập hợp có tổ chức, có phương tiện và người được Nhà nước bổ nhiệm và bổ trợ để thực hiện nhiệm vụ của mình” Từ điển Petit Larousee năm 1992 quan niệm: “Công sở (service public) là tổ chức (cơ cấu)

có chức năng đảm nhiệm lợi ích công”; hay “công sở (établissement public) là một pháp nhân công quyền có quyền tự về tài chính, nói chung là chịu trách nhiệm đảm bảo một dịch vụ công”;và “công sở là phương thức quản lý các dịch vụ công: Đó là một dịch vụ công được pháp nhân hóa.”

Trang 18

Theo Gustave Peiser - nhà luật học Cộng hòa Pháp thì thuật ngữ công

sở và công sở tự quản là một khái niệm dùng chỉ các pháp nhân công: “Công

sở là pháp nhân công quyền, chịu trách nhiệm tiến hành một trong các hoạt động của các đơn vị hành chính địa phương, thay mặt cho Nhà nước, cho tỉnh, cho công xã nhưng chịu sự kiểm tra các cấp đó.”[4, tr 66]

Các nhà nghiên cứu ở Việt Nam cho rằng, công sở là một khái niệm thuộc phạm trù khoa học tổ chức và hành chính học

- “Công sở là trụ sở, nơi làm việc của các cơ quan nhà nước nói chung.”

- “Công sở, xét về nội dung, là hoạt động thỏa mãn một yêu cầu lợi ích chung, do vậy cần được sự bảo vệ kiểm tra của bộ máy hành chính nhà nước mới đảm bảo thỏa mãn nhu cầu này; xét về mặt hình thức tổ chức, là một tập hợp có tổ chức, có phương tiện vật chất và người được Nhà nước hỗ trợ thực hiện nhiệm vụ của mình.”

- “Công sở là những cơ quan nhà nước hoạt động nhân danh pháp nhân công pháp để thỏa mãn các nhu cầu của nhân dân.”

Hiểu theo nghĩa toàn diện, công sở gồm những đặc điểm cơ bản sau:

- Công sở chỉ gắn với Nhà nước và chỉ do Nhà nước thành lập và quản

lý theo ý chí của Nhà nước, được điều chỉnh bởi những quy phạm pháp luật Quy chế hoạt động của công sở tuân thủ theo pháp luật của Nhà nước Thẩm quyền, chức năng nhiệm vụ của từng công sở do cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định;

- Công sở là một pháp nhân cụ thể có liên quan đến hoạt động công quyền hay dịch vụ công, nói cách khác công sở có tính đặc thù gắn liền với chức năng, nhiệm vụ được phân giao theo ngành, lĩnh vực hay lãnh thổ, được Nhà nước bảo đảm về mọi phương tiện để hoạt động đạt kết quả;

- Công sở có tài sản độc lập, sử dụng ngân sách nhà nước theo kế hoạch,

có trụ sở hoặc các văn phòng đại diện trong phạm vi lãnh thổ; được tổ chức theo các quy định của pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế khác;

Trang 19

- Công sở có tên gọi riêng và được khắc vào con dấu quy định, có quy chế công vụ, thực hiện đúng các bổn phận theo quy định, phải chịu trách nhiệm pháp lý trước cơ quan tài phán hành chính có thẩm quyền;

- Công sở có trụ sở giao dịch đặt tại các địa điểm trung tâm thuận tiện cho đi lại, giao tiếp và thực hiện các mối quan hệ bên trong và bên ngoài [4,

tr 67-68]

Có nhiều loại công sở:

- Công sở hành chính do Nhà nước, các bộ, các ủy ban nhân dân lập ra

để làm chức năng tham mưu, hay phục vụ cho sự lãnh đạo, quản lý của các nhà chức trách, nó hoàn toàn tuân theo luật công;

- Công sở sự nghiệp là một pháp nhân công quyền do nhà nước lập ra

có tính tự quản; đó là công sở hành chính được pháp nhân hoá Nó là một thực thể đặc thù, nằm trong bộ máy hành chính và tuân theo luật công;

- Công sở công ích là tổ chức của công quyền hay của tư nhân do

tư nhân lập ra để làm những dịch vụ công cộng, nếu là tư nhân thì cũng được nhà nước công nhận là công ích và tuân theo luật công;

Với định nghĩa và các đặc trưng của công sở trên đây, không thể hiểu công sở, theo nghĩa hẹp, là trụ sở của các cơ quan hành chính nhà nước Tuy nhiên, trụ sở là một phần, một bộ phận trong phương tiện vật chất mà xét về hình thức tổ chức thì phương tiện vật chất là một mặt, một yếu tố cấu thành của công sở

Vì vậy, có thể quan niệm công sở là nơi làm việc của các cơ quan hành chính nhà nước nói chung, được thành lập theo ý chí của nhà nước nhằm thực hiện chức năng quản lý nhà nước và phục vụ xã hội

1.1.3 Khái niệm văn hóa công sở

Văn hóa công sở được xây dựng trên nền tảng những quan niệm về giá trị của văn hóa nói chung và giá trị cơ bản của hoạt động công vụ

Trang 20

Hiện nay, các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều quan điểm khác nhau

về nội dung văn hóa công sở trong các cơ quan hành chính nhà nước

Theo PGS TS Trịnh Đức Thảo: “Văn hóa công sở tại các cơ quan hành chính nhà nước là tổng hợp các quy phạm pháp luật về trang phục, giao tiếp và ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức khi thi hành nhiệm vụ và bài trí văn hóa công sở tại cơ quan hành chính nhà nước do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm bảo đảm tính trang nghiêm và hiệu quả hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước; đồng thời, xây dựng phong cách ứng xử chuẩn mực của cán bộ, công chức, viên chức trong hoạt dộng công vụ hướng tới mục tiêu xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có phẩm chất đạo đức tốt, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.” [26, tr.11]

Theo TS Nguyễn Thị Thu Vân: “Nói đến văn hóa công sở tức là nói đến văn hóa của tổ chức đặc thù, có giới hạn không gian là cơ quan nhà nước

và đối tượng thực hành văn hóa công sở là cán bộ, công chức Văn hóa công

sở được hiểu là hệ thống các giá trị, quy tắc giao tiếp ứng xử, chuẩn mực đạo đức của cán bộ, công chức, các phương thức, cách thức quản lý gắn với việc tìm kiếm các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động công sở, những đặc trưng riêng trong hoạt động công vụ của cơ quan nhà nước nói chung và tại một công sở nói riêng.” [13, tr.28]

Theo TS Trần Thị Thanh Thủy quan niệm văn hóa công sở trong các

cơ quan hành chính nhà nước: “Văn hóa tổ chức là một sự pha trộn riêng biệt của các giá trị, niềm tin, trông đợi và chuẩn mực, tạo nên một dấu ấn riêng biệt, giúp phân biệt tổ chức này với tổ chức khác.” [27, tr.12]

Trong mỗi quốc gia dân tộc, văn hóa công sở là một phận của văn hóa dân tộc đó Những yếu tố tác động làm thay đổi các mặt đời sống văn hóa dân tộc Việt Nam cũng sẽ là những yếu tố làm thay đổi văn hóa công sở

“Văn hóa công sở” được các nhà nghiên cứu giải thích từ góc độ rộng hẹp khác nhau Có ý kiến cho rằng văn hóa công sở đồng nghĩa với văn hóa

Trang 21

giao tiếp ứng xử trong công sở “Văn hóa công sở được hiểu là những quy tắc, các chuẩn mực ứng xử của cán bộ, công chức nhà nước với nhau và với đối tượng giao tiếp là công dân, nhằm phát huy tối đa năng lực của những người tham gia giao tiếp để đạt hiệu quả cao nhất trong công sở.”

Văn hoá ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức trong thực thi công

vụ gồm: Ứng xử đối với công vụ được giao; Ứng xử trong quan hệ giữa cấp trên với cấp dưới; Ứng xử với đồng nghiệp; Ứng xử trong tiếp xúc giải quyết công việc của nhân dân, doanh nghiệp, tổ chức; Ứng xử với môi trường, với

đồ vật trong công sở; Ứng xử với chính mình (tự ứng xử) [28]

Theo nghĩa rộng, có thể hiểu văn hoá công sở là toàn bộ các hoạt động sáng tạo và các giá trị vật chất và tinh thần được hình thành, duy trì, kế thừa

và phát huy trong quá trình tổ chức và hoạt động của các công sở Theo đó, văn hoá công sở hành chính bao gồm tổng thể các đặc trưng về tư tưởng, lối sống, đạo đức, tác phong, tri thức, xúc cảm, phương thức ứng xử trong các quan hệ của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức khi công sở thực hiện vai trò, chức năng, thẩm quyền của nó Văn hoá công sở còn bao gồm hệ thống các giá trị, chuẩn mực, truyền thống, niềm tin

Tiếp cận văn hoá công sở theo nghĩa rộng trên đây cho phép làm rõ đầy

đủ mục tiêu, ý nghĩa sâu xa của công cuộc cải cách hành chính và vai trò của văn hoá công sở đối với cải cách tổ chức và hoạt động của bộ máy hành chính Cải cách hành chính, đổi mới vai trò, chức năng của bộ máy hành chính nhà nước phải hướng tới mục tiêu văn hoá, xây dựng một đời sống văn hoá công sở mới, thấm nhuần truyền thống văn hoá dân tộc, đậm đà tính nhân văn, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hoá công sở của các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới Văn hoá công sở là kết quả của cải cách hành chính, đồng thời là động lực của quá trình cải cách này Văn hoá công sở phải trở thành động lực của cải cách hành chính, của đổi mới phong cách, lề lối

Trang 22

làm việc của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong các quan hệ, đặc biệt

là quan hệ với nhân dân và doanh nghiệp

Theo Edgar Henry Schein (sinh 1928, giáo sư người Mỹ), văn hóa tổ chức bao gồm nhiều lớp tương ứng với nhiều thành phần của một thể thống nhất:

• Lớp bề mặt: những quá trình và cấu trúc hữu hình (cách ăn mặc, bảng

hiệu, khẩu hiệu, lễ hội, tập quán, thói quen…)

• Lớp tiếp theo: hệ thống giá trị được tuyên bố (các chiến lược, mục tiêu,

triết lý, giá trị cốt lõi, các bộ quy tắc ứng xử thành văn, các cam kết, quy định )

• Lớp sâu nhất: những quan niệm chung (những niềm tin, nhận thức, suy

nghĩ và tình cảm có tính vô thức, mặc nhiên và ngầm định)

Tóm lại, văn hóa công sở được hiểu là hệ thống các giá trị tinh thần và vật chất được hình thành trong quá trình xây dựng và phát triển công vụ, có khả năng lưu truyền và có tác động tới tâm lý, hành vi và được cán bộ, công chức, viên chức thừa nhận, tuân thủ và phát huy trong hoạt động thực thi công vụ

Các giá trị của văn hóa công vụ không phải bất biến mà luôn có sự thay đổi, được bổ sung qua từng giai đoạn, giai đoạn này có những điểm mới hơn giai đoạn trước và chúng cứ thế phát triển dần lên hoặc ngược lại nó cũng có thể mất dần giá trị nếu không được duy trì đúng đắn, thường xuyên

Phân tích về khái niệm văn hóa công sở nêu trên, có thể rút ra một số yếu

tố thuộc nội hàm văn hóa công sở, đó là:

- Văn hóa công sở bao gồm văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể;

- Là sản phẩm của con người trong hoạt động công vụ nhằm đáp ứng nhu cầu của cá nhân, tổ chức và xã hội;

- Là hệ thống các giá trị được chấp nhận;

- Văn hóa công sở có thể được học hỏi và lưu truyền qua các thế hệ, có thể bị lai tạp

Trang 23

Văn hóa công sở có những đặc điểm cụ thể như sau:

- Phản ánh tầm nhìn, sứ mệnh, các mục tiêu chính của công sở;

- Ưu tiên các hình thức ra quyết định tập thể hay cá nhân;

- Mức độ tuân thủ các quy định, các kế hoạch;

- Tính chất mối quan hệ của lãnh đạo đối với nhân viên;

- Sự định hướng vì nhóm hay vì cá nhân, về sự ổn định hoặc thay đổi;

- Các phương thức phối hợp công việc;

- Phong cách quản lý, phương thức đánh giá cán bộ, công chức, viên chức 1.2 Khái quát về trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức 1.2.1 Vị trí pháp lý của trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức

Vị trí pháp lý của các trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ở Việt Nam được quy định tại Điều 49 Luật Giáo dục năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định về trường của cơ quan xã hội, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, lực lượng vũ trang nhân dân như sau:

“1 Trường của cơ quan nhà nước, của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội có nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức Trường của lực lượng vũ trang nhân dân có nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp và công nhân quốc phòng; bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý nhà nước về nhiệm vụ và kiến thức quốc phòng, an ninh

2 Trường của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị -

xã hội, lực lượng vũ trang nhân dân là cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân theo quy định tại Điều 36 và Điều 42 của Luật này nếu đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật giáo dục và Điều lệ nhà trường ở mỗi cấp học và trình độ đào tạo, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép hoạt động giáo dục và thực hiện chương trình giáo dục để cấp văn bằng, chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân

Trang 24

3 Chính phủ quy định cụ thể về trường của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, lực lượng vũ trang nhân dân"

Quy định trên được cụ thể hóa tại Nghị định số 125/2011/NĐ-CP ngày 30/12/2011 của Chính phủ quy định về vị trí, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức và hoạt động đối với trường của cơ quan xã hội, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, lực lượng vũ trang nhân dân

Trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức bao gồm các học viện, trường, trung tâm thuộc, trực thuộc: Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Chính phủ; Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Kiểm toán Nhà nước, cơ quan Trung ương của tổ chức chính trị - xã hội; Tỉnh ủy, Thành ủy và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Huyện ủy, Quận ủy, Thành ủy, Thị ủy và Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, cán bộ, công chức; các học viện, trường, trung tâm thuộc các cấp quản lý của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an có nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng, công nhân viên công an nhân dân và bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý nhà nước về nhiệm

vụ, kiến thức quốc phòng, an ninh

Các trường này khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép hoạt động giáo dục và thực hiện chương trình giáo dục để cấp văn bằng, chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân thì thực hiện theo các quy định của pháp luật về giáo dục đối với chương trình giáo dục tương ứng

Các cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục thường xuyên khi được thực hiện nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng, công nhân viên công an nhân dân thì tuân thủ các quy định có liên quan của Nghị định này

Trang 25

Các trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức được phân loại như sau:

- Trường đào tạo, bồi dưỡng của tổ chức chính trị: là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Chính phủ; Tỉnh ủy, Thành ủy và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Huyện

ủy, Quận ủy, Thành ủy, Thị ủy và Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

- Trường đào tạo, bồi dưỡng của cơ quan nhà nước: là đơn vị sự nghiệp công lập thuộc, trực thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Tòa án nhân dân tối cao; Kiểm toán Nhà nước

- Trường đào tạo, bồi dưỡng của tổ chức chính trị - xã hội: là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc cơ quan Trung ương của tổ chức chính trị - xã hội

- Trường đào tạo, bồi dưỡng của lực lượng vũ trang nhân dân: là tổ chức vũ trang thuộc, trực thuộc các cấp quản lý của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an

1.2.2 Nhiệm vụ, quyền hạn của trường đào tạo, bồi dưỡng

Trường đào tạo, bồi dưỡng có nhiệm vụ và quyền hạn chung sau:

- Tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động khác theo mục tiêu, chương trình đào tạo, bồi dưỡng do cấp có thẩm quyền giao; cấp văn bằng, chứng chỉ theo quy định

- Tổ chức nghiên cứu khoa học; tổng kết thực tiễn, nghiên cứu, phát triển lý luận làm cơ sở khoa học phục vụ công tác hoạch định đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước; tham gia giải quyết những vấn đề về kinh tế

- xã hội, quốc phòng - an ninh của địa phương và đất nước

- Thực hiện quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật

- Các nhiệm vụ và quyền hạn khác do người đứng đầu cơ quan cấp trên trực tiếp hoặc Thủ trưởng cơ quan chủ quản (đối với lực lượng vũ trang) của trường quy định theo quy định của pháp luật

Trang 26

Người đứng đầu cơ quan cấp trên trực tiếp hoặc Thủ trưởng cơ quan chủ quản (đối với lực lượng vũ trang) trường đào tạo, bồi dưỡng quy định cụ

thể nhiệm vụ, quyền hạn của trường đào tạo, bồi dưỡng

Vị trí pháp lý, nhiệm vụ, quyền hạn của các trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức được quy định tại hệ thống văn bản có chứa đựng các quy phạm của Đảng và Nhà nước có tính áp dụng chung, trong khi đó sự ra đời của một trường ĐTBD gắn liền với các văn bản cá biệt, áp dụng cho một trường cụ thể

1.3 Văn hóa công sở tại các trường đào tạo, bồi dưỡng

1.3.1 Khái niệm văn hóa công sở tại các trường đào tạo, bồi dưỡng

Đơn vị sự nghiệp công lập có chức năng, nhiệm vụ chung là cung cấp dịch vụ công, khác với cơ quan hành chính nhà nước có chức năng nhiệm vụ chủ yếu là quản lý, điều hành các lĩnh vực đời sống xã hội, được sử dụng quyền lực nhà nước thực thi chức năng, nhiệm vụ trong phạm vi thẩm quyền

do pháp luật quy định Vì vậy văn hóa công sở tại các đơn vị sự nghiệp công lập có những điểm chung của văn hóa công sở, đồng thời có những điểm riêng, khác biệt với văn hóa công sở tại các cơ quan hành chính nhà nước

Có thể thấy mỗi trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức có đặc điểm riêng, đó là tổ chức hành chính sự nghiệp - sư phạm có chức năng nhiệm

vụ chính là đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, với những cơ cấu, chuẩn mực, quy tắc hoạt động, những giá trị, điểm mạnh và điểm yếu riêng do những con người cụ thể thuộc mọi thế hệ trong quá trình hình thành và phát triển nhà trường tạo lập nên

Văn hoá công sở tại các trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức

là hệ thống niềm tin, giá trị, chuẩn mực, thói quen và truyền thống hình thành trong quá trình phát triển của nhà trường, được các thành viên trong nhà trường thừa nhận, làm theo và được thể hiện trong các hình thái vật chất và

Trang 27

tinh thần, từ đó tạo nên bản sắc riêng cho tổ chức sư phạm có chức năng nhiệm vụ chính là đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức

1.3.2 Đặc điểm của văn hóa công sở tại các trường đào tạo, bồi dưỡng

Văn hóa công sở tại tại các trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức có những đặc điểm của văn hóa công sở nói chung, đồng thời có những điểm đặc thù sau đây:

- Chủ thể thực hiện văn hóa công sở tại các trường đào tạo, bồi dưỡng

là giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục, nhân viên hỗ trợ, phục vụ của nhà trường (sau đây gọi chung là cán bộ, giảng viên), chịu sự điều chỉnh bởi Luật Cán bộ, Công chức năm 2008 (đối với Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng nhà trường), Luật Viên chức năm 2010 (đối với cán bộ, giảng viên) và các văn bản pháp luật có liên quan

- Văn hóa công sở tại các trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chứcbao gồm tập hợp các giá trị cơ bản, chuẩn mực đạo đức, phương tiện và các mẫu hành viquy định cách thức mà cán bộ quản lý giáo dục, giảng viên và học viên của nhà trường (là cán bộ, công chức, viên chức) tương tác với nhau

và đầu tư năng lực vào công việc của mình và vào việc thực hiện nhiệm vụ của nhà trường nói chung

Hệ thống các giá trị tạo nên niềm tin, xác định động cơ, thái độ làm việc của các thành viên, tạo nên bầu không khí, môi trường của nhà trường Mục tiêu, phương hướng hoạt động của trường đào tạo, bồi dưỡngtạo nên giá trị cho nó Trong xu hướng chuyển từ nền hành chính “cai trị” sang nền hành chính “phục vụ” hiện nay ở Nhà nước Việt Nam dân chủ, nhà nước “của dân,

do dân và vì dân”, học viên là cán bộ, công chức, viên chức chính là “khách hàng” của Nhà trường

- Văn hóa công sở tại các trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức được biểu hiện thông qua nhận thức, hành vi và thái độ của các thành viên

Trang 28

trong nhà trường đối với học viên, đồng nghiệp, các bên liên quan (cấp trên, cấp dưới, chính quyền địa phương, các cơ quan cử cán bộ, công chức, viên chức đi đào tạo, bồi dưỡng tại nhà trường, các trường bạn…); các vấn đề liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của nhà trường như quan niệm về chất lượng đào tạo, bồi dưỡng, quan niệm về hợp tác và cạnh tranh cũng như các vấn

đề thuộc về truyền thống, giá trị riêng của mỗi nhà trường

- Trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức là nơi tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức Vì vậy trường phải là nơi mẫu mực trong hệ thống cơ quan nhà nước trong xây dựng và thực hiện văn hóa công

sở Học viên đến nhà trường học tập về kiến thức, kỹ năng hành chính và quản lý nhà nước nói chung và về xây dựng, thực hiện văn hóa công sở nói riêng không chỉ thông qua bài giảng của giảng viên mà còn thông qua việc xây dựng, thực hiện văn hóa công sở của chính nhà trường

Khi bước vào một nhà trường, người ta cảm nhận được bầu không khí đặc trưng của nhà trường qua hàng loạt các dấu hiệu, biểu hiện dễ thấy hoặc ngầm định khó thấy

Mỗi nhà trường đều tự mình biểu lộ ra bên ngoài một hình ảnh tốt đẹp hoặc tầm thường nào đó Hình ảnh này được tạo nên bởi người dạy, người học, người quản lý nhà trường, được chuyển tải và phản ánh bởi đồng nghiệp trong địa phương cũng như cộng đồng xã hội xung quanh, bởi cơ quan quản

lý và các cơ quan cử cán bộ, công chức, viên chức đi đào tạo, bồi dưỡng

1.3.3 Vai trò của văn hóa công sở tại các trường đào tạo, bồi dưỡng

Với xu thế phát triển như hiện nay, văn hóa công sở ngày càng “định vị” được vai trò của mình đối với sự phát triển của công sở, thể hiện qua một

số vai trò cơ bản sau:

Thứ nhất, văn hóa công sở góp phần tạo nên nề nếp làm việc khoa học,

có kỷ cương, dân chủ, đoàn kết, phục vụ sứ mạng chung là đào tạo bồi dưỡng

Trang 29

cán bộ, công chức, viên chức có phẩm chất, có năng lực trong thực thi công

vụ Môi trường văn hóa công sở tốt đẹp sẽ tạo được niềm tin của cán bộ, giảng viên, học viên với nhà trường, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của công sở

Thứ hai, tính tự giác của cán bộ giảng viên trong công việc sẽ đưa công

sở này phát triển vượt hơn lên so với công sở khác

Thứ ba, văn hóa công sở cũng có sự kế thừa và tiếp thu có chọn lọc

những tính văn hóa từ bên trong và bên ngoài công sở, từ quá khứ đến tương lai cho nên trong một chừng mực nào đó sẽ giúp công sở tạo nên những chuẩn mực, phá tính cục bộ, sự đối lập có tính bản thể của các thành viên Việc hướng các cán bộ, giảng viên đến một giá trị chung, tôn trọng những nguyên tắc, quy tắc và chuẩn mực văn hóa của công sở, đó chính là làm cho cán bộ, giảng viên hoàn thiện mình

Thứ tư, mỗi kiểu văn hóa có vai trò khác nhau đối với tiến trình phát

triển của công sở Kiểu văn hóa quyền lực giúp công sở có khả năng vận động nhanh, tạo nên tính bền vững trong khi theo đuổi mục tiêu của mình Kiểu văn hóa vai trò giúp công sở phát huy hết năng lực của cán bộ, giảng viên, khuyến khích họ hăng say với công việc từ đó nhanh chóng đạt được mục tiêu của công sở

1.3.4 Các yếu tố cấu thành văn hóa công sở tại các trường đào tạo, bồi dưỡng

Trên cơ sở những nội dung của văn hóa công sở nói chung và đặc thù

về thực hiện chức năng, nhiệm vụ của các trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, những yếu tố chủ yếu của văn hóa công sở tại các trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức gồm:

1.3.4.1 Hệ thống các giá trị

Hệ thống các giá trị tạo nên niềm tin, xác định động cơ, thái độ làm việc của các thành viên, tạo nên bầu không khí, môi trường của tổ chức Mục

Trang 30

tiêu, phương hướng hoạt động của công sở tạo nên giá trị cho nó Các giá trị cần được xây dựng và phát huy trong công sở là: coi trọng rèn luyện các phẩm chất đạo đức của cán bộ, giảng viên; tinh thần vì lợi ích chung, vì lợi ích của nhân dân; tôn trọng và phát huy dân chủ, công khai, minh bạch các hoạt động công sở và các thủ tục hành chính Các giá trị định hướng hành vi của cán bộ, giảng viên trong công sở được thể hiện ở việc xây dựng và thực

hiện đúng các khẩu hiệu, phương châm hành động, mục tiêu của tổ chức

1.3.4.2 Đạo đức của cán bộ, giảng viên

Đạo đức có vị thế quan trọng trong đời sống của con người Nó điều chỉnh các quan hệ của con người với thế giới xung quanh bằng cách ngăn cấm hoặc cho phép một cái gì đó, tán thành hoặc chỉ trích một cái gì đó

Đạo đức của cán bộ, giảng viên được đánh giá qua hành vi, thái độ, lối sống, phong cách làm việc của họ thể hiện trong mối quan hệ giữa cán bộ, giảng viên với học viên, giữa cấp trên và cấp dưới, giữa các đồng nghiệp với nhau

Xây dựng chuẩn mực đạo đức cán bộ, giảng viên là cơ sở để cán bộ, giảng viên trong trường ĐTBD nỗ lực tự rèn luyện phù hợp với nghề dạy học được xã hội tôn vinh, đồng thời là một trong những cơ sở để đánh giá, xếp loại và giám sát nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ, giảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất và lương tâm nghề nghiệp trong sáng, có tính tích cực học tập, không ngừng nâng cao chuyên môn nghiệp vụ và phương pháp

sư phạm, có lối sống và cách ứng xử chuẩn mực, thực sự là tấm gương cho người học noi theo

1.3.4.3 Xây dựng và thực hiện các quy định

Hoạt động công vụ, hoạt động giảng dạy là hoạt động có tổ chức, có tính thứ bậc Vì vậy nhà trường cần xây dựng hệ thống quy định, thủ tục, quy trình, cách thức tổ chức hoạt động

Mọi cá nhân hay khoa, phòng, ban chỉ thực hiện công việc trong phạm

vi quyền hạn của mình theo pháp luật và quy chế hoạt động của cán bộ, giảng

Trang 31

viên Xuất phát từ đặc điểm trên mà yếu tố tạo nên văn hóa công sở chính là tính tuân thủ pháp luật, thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền trong thực thi nhiệm vụ

1.3.4.4 Giao tiếp, ứng xử của cán bộ, giảng viên trong công sở

Giao tiếp trong công sở là quá trình trao đổi thông tin, suy nghĩ và bày

tỏ tình cảm giữa các thành viên trong trường với nhau hoặc giữa giảng viên, người lao động trong tổ chức và học viên nhằm thỏa mãn nhu cầu nhất định trong quản lý hành chính Thông qua giao tiếp, các chủ thể có được các thông tin cần thiết để quyết định công việc của mình

Các chuẩn mực ứng xử, thái độ của các thành viên trong nhà trường: đối với học viên, đồng nghiệp, các bên liên quan (cấp trên, cấp dưới, chính quyền địa phương, các cơ quan, tổ chức cử cán bộ, công chức, viên chức đi đào tạo, bồi dưỡng tại nhà trường, các trường bạn…) phải thể hiện được tính

uy nghiêm, phù hợp với các chuẩn mực xã hội, lối sống, phong cách hướng đến sự hoàn thiện của chân, thiện, mỹ

Có thể nói, hình thức và thái độ của những giảng viênkhi tiếp xúc với học viên sẽ có ảnh hưởng rất lớn tới tâm lý và cách cư xử của học viên, đồng thời, cũng là biểu hiện của văn hóa công sở Tính chuẩn mực trong giao tiếp, ứng xử thể hiện ở cách giảng dạy, cách xưng hô, cách nghe, cách nói, cử chỉ, nét mặt, ánh mắt, nụ cười, ở tác phong, trang phục, các nghi thức giao tiếp (chào hỏi, bắt tay, trang phục, tiếp khách ) Điều này cần phải cảm nhận rõ ngay từ khi bắt đầu bước chân vào công sở, từ thái độ, cách giao tiếp, ứng xử ở nhân viên bảo vệ, lễ tân cho đến giảng viên trực tiếp giảng dạy và người lãnh đạo Vì vậy, cán bộ, giảng viên trong công sở cần phải giao tiếp có văn hóa đặc biệt là đối với học viên

1.3.4.5 Phương pháp, cách thức lãnh đạo quản lý, bầu không khí làm việc

Yếu tố văn hóa công sở luôn gắn với việc tìm kiếm và áp dụng phương pháp, cách thức quản lý trong cơ quan, áp dụng các phong cách tổ chức điều

Trang 32

hành nhằm đem lại hiệu quả cao nhất, loại bỏ những điều kiện lao động, cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động lạc hậu, thiếu hiệu quả Đồng thời, đặc trưng của văn hóa công sở còn thể hiện ở việc thực hiện chúng trở thành thói quen, được mọi thành viên trong cơ quan thực hiện một cách tự giác và nhất quán

Bầu không khí tâm lý và sự hòa hợp tinh thần nơi công sở tạo nên sức mạnh tinh thần, đảm bảo thành quả công việc Bầu không khí tâm lý là tính chất của các mối quan hệ qua lại giữa mọi người, tâm trạng chủ đạo trong tập thể, cũng như mức độ thỏa mãn của giảng viên, người lao động về công việc thực hiện Thông thường trong công sở, các khoa, phòng ban gồm những người hợp tâm lý nhau thì dễ tạo ra các tập thể đoàn kết, thực hiện nhiệm vụ với hiệu quả cao nhất

Môi trường văn hóa công sở đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành văn hóa công sở Do đó, cần tạo ra một môi trường làm việc thật lành mạnh, mọi thành viên trong tổ chức phải thật sự đoàn kết gắn bó với nhau, cùng hướng đến mục tiêu chung của tổ chức

1.3.4.6 Thiết kế và bài trí tại các trường đào tạo bồi dưỡng

Trụ sở, giảng đường là một yếu tố không thể thiếu đối với các hoạt động giảng dạy, đó là nơi làm việc của giảng viên, nơi tiến hành các hoạt động giảng dạy Dưới góc độ văn hóa, trụ sở, giảng đường của các trường đào tạo bồi dưỡng phải thể hiện được đúng với tầm quan trọng, mục đích, tác dụng của nó từ hình dáng uy nghiêm bên ngoài như việc treo quốc kỳ, gắn biển tên cơ quan, các phòng ban đến sự ngăn nắp, gọn gàng, sự khoa học trong bài trí, sắp xếp nội thất bên trong Trụ sở phải là nơi dễ nhận thấy, tiện lợi cho việc đi lại, học tập của học viên Vị trí tọa lạc của nó phải tạo ra một khung cảnh để thể hiện được sự tôn nghiêm của trụ sở

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa công sở

Văn hóa công sở trong các cơ quan hành chính nói chung và các đơn vị

sự nghiệp thuộc bộ như các trường đào tạo, bồi dưỡng chịu sự tác động của

Trang 33

nhiều nhân tố, từ các nhân tố khách quan như điều kiện phát triển kinh tế - xã hội; các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc tới các nhân tố chủ quan như trình độ nhận thức của đội ngũ CBCC, vị thế hay “thương hiệu” của cơ quan, mức độ hiện đại hóa công sở… Việc xem xét, nghiên cứu làm rõ nội dung của các nhân tố trên là rất cần thiết để có thể phát huy các tác động tích cực, hạn chế những tác động tiêu cực, góp phần xây dựng và nâng cao văn hóa công sở trong các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng

1.4.1 Yếu tố khách quan

1.4.1.1 Tác động của truyền thống văn hóa

Truyền thống văn hóa được coi là gien di truyền văn hóa của mỗi dân tộc khi được hình thành thì truyền thống đó mang tính bền vững và có chức năng định hướng, đánh giá, điều chỉnh hành vi của cá nhân, cộng đồng Mỗi cán bộ, giảng viên trong bộ máy nhà nước đều xuất thân từ các thành phần khác nhau trong xã hội, điều đương nhiên là họ sẽ mang những nét đặc trưng của nền văn hóa xã hội vào trong công sở, nơi mà họ đang làm việc Do đó, truyền thống văn hóa làng xã sẽ có những tác động ảnh hưởng nhất định đến việc hình thành văn hóa công sở Văn hóa giữa các vùng miền cũng có sự khác biệt rõ rệt Miền Bắc, miền Trung quanh năm phải đối đầu với thiên tai: Lụt lội, hạn hán, bão tố, ẩm thấp, dịch bệnh … cuộc sống của người dân lúc nào cũng phải tính toán, chắt chiu, dành dụm Còn miền Nam do điều kiện thiên nhiên ưu đãi, mưa thuận gió hòa nên con người cũng trở nên phóng khoáng trong sinh hoạt hàng ngày Con người là sản phẩm của hoàn cảnh, vì thế, môi trường tự nhiên ấy cũng góp phần hình thành tâm lý, tình cảm, nhận thức (lý trí) của con người Việt Nam

Sự khác biệt ấy cũng ảnh hưởng đến việc thực thi công vụ Về thủ tục pháp lý, giấy phép và các vấn đề liên quan tới cơ quan chức năng, ở đâu cũng

có những điểm tích cực, tiêu cực riêng nhưng ở miền Nam thường thì làm

Trang 34

đúng luật, tìm đúng người và đóng tiền đúng quy định thì sẽ làm được suôn

sẻ Trong khi ở miền Bắc, do sự phức tạp của bộ máy quản lý, cộng với một

số nguyên nhân khác, mà những vấn đề này đôi khi đòi hỏi phải có mối quan

hệ tốt thì khó đến mấy cũng làm được Quy định về pháp lý ở hai miền cũng

có những điểm khác nhau đòi hỏi chúng ta phải tìm hiểu trước Ví dụ vấn đề treo “biển quảng cáo” ở Thành phố Hồ Chí Minh rất hạn chế, nhất là ở những quận trung tâm và trong tương lai sẽ bị cấm Trong khi đó, ở Hà Nội, nếu bạn

có mối quan hệ tốt, có thể treo “biển quảng cáo” ở những vị trí “không tưởng” Ở Thành phố Hồ Chí Minh vốn nhiều sự kiện lớn nhỏ, người tham gia thường trông đợi một cái gì đó “hay hay, lạ lạ” làm động lực thúc đẩy họ đến tham gia Ngay cả ở các sự kiện như: Hội nghị khách hàng, họp báo, những điểm nhấn ấn tượng luôn gây cho họ sự thích thú và nhớ lâu Chính vì thế có nhiều công ty sẵn sàng chi thêm nhiều tiền cho các màn “giải trí” này Còn ở Hà Nội và các tỉnh phía Bắc, các sự kiện thu hút người tham gia, thường phải gắn kèm những lợi ích cụ thể nào đó, ví dụ được nhận quà, được thử miễn phí, mua sản phẩm giá rẻ… sẽ có cơ hội thu hút người tham gia nhiều hơn Người miền Bắc cũng ít thích mua vé, đặt chỗ trước để tham gia

sự kiện,vì họ thường e ngại biết đâu lúc đó bận việc, trời mưa lại không đi được trong khi ở miền Nam người ta thường đổ xô mua vé, đặt chỗ trước vì

sợ mất phần văn hóa, tập quán cũng là điều quan trọng cần lưu ý khi bạn tổ chức sự kiện ở hai miền Ví dụ người miền Nam có xu hướng thích các trò đỏ đen, trông đợi vào vận may, cho nên các tiết mục thẻ cào, bốc thăm, quay số… thường gây hứng thú cho họ Còn người miền Bắc thì chuộng sự chắc chắn, cứ đến tham dự mà cầm chắc có quà mang về là hấp dẫn Trong các tiết mục hoạt náo, trò chơi, người Nam thường cởi mở và hưởng ứng nhiều hơn trong khi người Bắc khá trầm và có xu hướng thu mình lại Vai trò của người dẫn chương trình lúc này rất quan trọng trong việc khuyến khích người tham

dự tham gia vào việc làm nóng chương trình

Trang 35

Những khác biệt trên đây chỉ là những tiểu tiết nhưng lại khá quan trọng giúp nhà tổ chức sự kiện có chính sách thu hút khách phù hợp Còn rất nhiều những điểm khác biệt khác mà đi vào từng sự kiện cụ thể chúng ta mới thấy được Đầu tư vào việc lắng nghe, tìm hiểu để cung cấp một dịch vụ tổ chức sự kiện phù hợp với mỗimiền chính là một nhiệm vụ khó khăn nhưng không kém phần thú vị cho bất kỳ nhà tổ chức sự kiện nào muốn mở rộng tầm hoạt động của mình trong cả nước

Bên cạnh đó, quá trình hình thành của văn hóa tổ chức chịu ảnh hưởng của một số yếu tố như văn hóa dân tộc, văn hóa vùng, văn hóa ngành nghề Văn hóa công sở Việt Nam trước nhất chịu sự ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa dân tộc - văn hóa của một nền nông nghiệp lúa nước, hay văn hóa làng (Nguyễn Văn Thâm, 2003; Trần Thị Thanh Hà, 2001) Văn hóa công sở của Việt Nam được tận hưởng một loạt khía cạnh tích cực của “Văn hóa làng” như chú trọng sự cân bằng, tế nhị, kín đáo và tinh thần đùm bọc Chính kiểu văn hóa nêu trên, là một phần cơ sở cho kỹ thuật hành chính như bỏ phiếu kín tín nhiệm Khía cạnh tiêu cực có thể có của “Văn hóa làng” đối với việc hình

thành và phát triển văn hóa công sở Có thể kể ra một vài ví dụ: Thứ nhất, sự

thiên về xúc cảm hơn là lý trí, sự mềm dẽo, linh hoạt trong ứng xử hàng ngày

có thể dẫn đến cách hành động không nguyên tắc, tùy tiện; thái độ tế nhị, kín đáo, không lộ liễu có thể là lý do sự phổ biến của các tin đồn, bình luận không

chính thức Thứ hai, việc coi trọng tình nghĩa quá mức có thể dẫn đến sự thiếu

dứt khoát và vi phạm nguyên tắc trong xử lý công việc, nhất là liên quan đến công tác cán bộ; đồng thời là cách giao tiếp thân mật, xuồng xã (xưng hô kiểu chú - mày, chú - anh; ông - tôi) và thích gặp gỡ những nơi không chính thức (trong phòng làm việc thì bàn chuyện bia, ra ngoài quán bia thì bàn công việc); trang phục thì tùy tiện phóng túng Những yếu tố này làm cho quá trình chuẩn mực hóa hành vi trong giao tiếp công vụ trở nên khó khăn hơn rất

Trang 36

nhiều Theo Nguyễn Văn Thâm (2003) thì các thủ tục, phương pháp quản lý đúng bài bản không được đánh giá cao

Trong quá trình hình thành và phát triển của mỗi dân tộc, mỗi người, mỗi nghề nghiệp lại có những đặc thù khác nhau và thể hiện khác nhau

mà thành đa dạng ứng xử Mỗi vùng địa lý, mỗi quốc gia, mỗi nước lại hình thành cái riêng trong cái chung của con người Chẳng hạn, người phương Tây chú trọng đến tính cách, hành vi giao tiếp Còn người phương Đông chú trọng đến nội tâm và ý thức giao tiếp tất cả đều có cái hay và cái chưa hay vì thế phải rèn luyện năng lực mới có được văn hóa giao tiếp và phải nỗ lực mới thành giao tiếp có văn hóa

Văn hóa các tổ chức Nhật Bản, kể cả tổ chức hành chính thường đề cao tinh thần đồng đội, ở đó, vai trò, ảnh hưởng và tiếng nói của nhóm quan trọng hơn cá nhân; trong khi yếu tố tự quản cá nhân, sự tự tin và ảnh hưởng cá nhân lại được chú trọng hơn văn hóa của nhiều tổ chức ở Mỹ Văn hóa vùng Nam Á thì đặc thù ở sự né tránh những đối mặt căng thẳng, tránh đưa ra những lời chỉ trích mạnh, tâm sự và bình luận chỉ chấp nhận trong nhóm bạn

bè thân thiết; và “thể diện” là vấn đề cực kỳ quan trọng cho nên người ta né tránh các tình huống có thể làm ai đó “mất mặt” Tuy nhiên, việc hiểu biết, học hỏi và tiếp thu kinh nghiệm nước ngoài trong lĩnh vực hoàn thiện văn hóa công sở cần tính đến những sáng kiến thành công ở khu vực, hoặc tổ chức này nhưng có thể thất bại ở một tổ chức, hay khu vực khác

1.4.1.2 Tác động của du nhập văn hóa nước ngoài

Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, chúng ta chống áp đặt mô hình văn hóa và lối sống nước ngoài vào nước ta Nhưng đồng thời, chúng ta cũng chống xu hướng kỳ thị, chối bỏ văn hóa nước ngoài Xu thế toàn cầu hóa đem lại thời cơ để chúng ta có thể lựa chọn, chủ động tiếp nhận những giá trị tiến

bộ của thời đại để làm giàu cho nền văn hóa dân tộc, đồng thời chúng ta cũng

Trang 37

cần chống lại những tác động tiêu cực do xu thế toàn cầu hóa đưa lại Việc

mở cửa không thể tạo ra tiêu cực mà trái lại chính là nhằm tạo điều kiện cho nước ta thu hút những tinh hoa văn hóa thế giới, tranh thủ kỹ thuật phương Tây Nhưng đối với những người thiếu bản lĩnh và tư duy độc lập thì việc mở cửa lại là cơ hội để thâm nhập lối sống phương Tây và những loại văn hóa độc hại Trong lĩnh vực văn hóa, sự tác động của xu thế toàn cầu hóa cũng tác động vào nước ta mạnh mẽ theo cả hai chiều thuận - nghịch khác nhau, đem đến những mặt tích cực, cũng như mặt tiêu cực đối với nền văn hóa dân tộc Những mặt tích cực của nó thể hiện ở việc góp phần nâng cao trình độ tư duy khoa học của xã hội công nghiệp, thể hiện ở việc phổ biến các giá trị văn hóa cùng các hoạt động và loại hình văn hóa mới phục vụ cho việc nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân Đồng thời, mặt trái của nó là truyền bá lối sống tiêu thụ và hưởng lạc, làm xuất hiện nhiều tệ nạn xã hội như: Nạn ma túy, mại dâm, cờ bạc, bạo lực xã hội, thậm chí làm nảy sinh sự bất ổn định trong lĩnh vực tôn giáo và dân tộc Điều này cũng làm ảnh hưởng đến việc xác định hệ thống giá trị, niềm tin của văn hóa công sở

1.4.1.3 Tác động của môi trường pháp luật

Có thể nói hoạt động quản lý của các tổ chức nhà nước phải được tiến hành theo pháp luật và bằng pháp luật, không thể giải quyết tùy tiện Vì vậy, văn hóa tổ chức hành chính nhà nước mang tính pháp trị, các hoạt động đều dựa trên cơ sở pháp luật, thông qua những thủ tục, chính sách và quy trình chuẩn Theo pháp luật thì bản thân bộ máy nhà nước và giảng viên nhà nước cũng phải tuân thủ theo pháp luật Qua cách thức thành lập hay địa vị pháp lý, cho đến tổ chức và hoạt động của các trường đào tạo, bồi dưỡng cũng được xác định dựa trên cơ sở các văn bản luật (Hiến pháp, luật, văn bản dưới luật) Bằng pháp luật có nghĩa bộ máy hành chính nhà nước sử dụng công cụ pháp luật

để quản lý xã hội Quản lý theo pháp luật và bằng pháp luật đòi hỏi sự minh bạch, công khai hóa các thể chế, chính sách, các thủ tục, quy trình làm việc

Trang 38

Việc thực hiện tốt quy chế văn hóa công sở, về bản chất là việc sử dụng pháp luật để tác động vào văn hóa công sở Pháp luật có giá trị riêng của

nó nhưng pháp luật cũng tạo ra các giá trị, chuẩn mực cho văn hóa công sở Vai trò của pháp luật là thúc đẩy quá trình hình thành, củng cố, phổ biến các giá trị, chuẩn mực của văn hóa công sở, phát huy tác dụng một cách rộng rãi

và thống nhất trong hệ thống công sở Pháp luật chính là cầu nối cho việc tiếp nhận, chuyển hóa các tinh hoa văn hóa công sở của nước ngoài vào Việt Nam

Vì vậy, khi bàn về vai trò của quy chế văn hóa công sở nghĩa là vai trò của nó đối với đời sống công sở

Văn hóa truyền thống của Việt Nam đề cao tính cộng đồng, cái cá nhân

là cái thuộc về cộng đồng Giá trị này cũng được đưa vào và biểu hiện trong nhiều tổ chức Việt Nam Ví dụ, sáng ra đến cơ quan, mọi người thường ngồi cùng nhau ít phút bên ấm trà chuyện trò về thế sự, hỏi thăm nhau rồi mới vào việc Ai không tham gia cảm thấy không phải và dường như sẽ có khó khăn khi hòa nhập, chia sẻ trong công việc Trái lại, văn hóa công sở các nước phương Tây với thang giá trị đặc trưng là tính kỷ luật, pháp lý, tính chuyên môn cao Người ta rất ít quan tâm đến mối quan hệ riêng tư ngoài công sở của giảng viên, trừ phi là những mối quan hệ đó ảnh hưởng trực tiếp tới công vụ Giảng viên được tôn trọng nếu tuân thủ nghiêm kỷ luật, được đánh giá cao nếu giỏi chuyên môn

1.4.1.4 Điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia

Điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia ảnh hưởng, tác động đến việc hình thành, xây dựng các giá trị văn hóa, trong đó có văn hóa công sở Kinh tế phát triển hay đi xuống đều ảnh hưởng đến vấn đề xây dựng văn hóa công sở từ việc xây dựng, hoạch định chính sách, xác định các giá trị chuẩn mực cho đến các nguồn lực dành cho tổ chức công sở văn minh, hiện đại, trang bị phương tiện, điều kiện làm việc của CBGV… Ở quốc gia có trình

Trang 39

độ kinh tế - xã hội phát triển sẽ có điều kiện dành nhiều nguồn lực hơn cho việc xây dựng văn hóa công sở Việc đầu tư các nguồn lực cũng đặt ra yêu cầu phải tăng cường công tác quản lý, thực hiện các biện pháp tổ chức, điều hành công sở linh hoạt, thúc đẩy sự hòa hợp giữa giảng viên với tư cách là người lao động với cơ quan, đơn vị; nâng cao hiệu suất, chất lượng hoạt động của các trường đào tạo bồi duõng góp phần đáp ứng tốt hơn những đòi hỏi ngày càng cao của xã hội và người dân

Hiện nay, Việt Nam đang trong giai đoạn đẩy mạnh thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển nền kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Kinh tế thị trường đã tác động, đặt ra những yêu cầu mới đối với việc xây dựng văn hóa nói chung và văn hóa công

sở nói riêng Phát triển kinh tế thị trường luôn đặt vấn đề hiệu quả lên hàng đầu, đòi hỏi các cơ sở đào tạo bồi dưỡng phải không ngừng cải tiến lề lối làm việc, đội ngũ giảng viên phải có năng lực, trình độ, có trách nhiệm với công việc, tận tụy giảng dạy tốt Tuy nhiên, nền kinh tế thị trường cũng có những mặt trái, nếu không có biện pháp khắc phục hiệu quả sẽ là điều kiện, môi trường làm nảy sinh những biểu hiện tiêu cực, phi văn hóa trong đội ngũ giảng viên như trù dập, tham nhũng, kèn cựa, bè phái gây mất đoàn kết gây

ra nhiều khó khăn và thách thức cho việc xây dựng văn hóa công sở văn minh, hiện đại

1.4.2 Yếu tố chủ quan

1.4.2.1 Trình độ, năng lực nhận thức của đội ngũ cán bộ, giảng viên

Trình độ, năng lực nhận thức của các cán bộ, giảng viên được biểu hiện qua mức độ nắm vững kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ, chức trách, quyền

và nghĩa vụ của bản thân; hệ thống các quy tắc xử sự với cấp trên, đồng nghiệp và với nhân dân… Trình độ, năng lực nhận thức còn biểu hiện thông qua mức độ tự giác thực hiện các quy chế, quy định làm việc của cơ quan, các

Trang 40

quy tắc, chuẩn mực ứng xử Nếu cán bộ, giảng viên nhận thức rõ và có ý thức tuân thủ, bảo vệ và duy trì những quy định đó trong hoạt động thực thi công

vụ thì văn hóa công sở sẽ không ngừng được nâng cao Vì vậy, để góp phần xây dựng văn hóa công sở, một giải pháp rất quan trọng là tăng cường công tác giáo dục cho cán bộ, giảng viên về chức năng, nhiệm vụ, định hướng hoạt động của cơ quan, tổ chức; chức trách, quyền và nghĩa vụ của bản thân; hệ thống các quy tắc xử sự thể hiện qua thái độ, hành vi ứng xử… để CBGV nắm vững và tự giác thực hiện

Ngoài ra, văn hóa công sở của cơ quan, tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào khả năng nhận thức, năng lực tổ chức, điều hành hoạt động công sở của cán

bộ giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý Nếu người lãnh đạo nhận thức rõ sự cần thiết, tầm quan trọng của việc xây dựng văn hóa công sở, có sự quan tâm và

nỗ lực cần thiết cho việc xây dựng và phát triển văn hóa công sở trong cơ quan, đơn vị mình, đồng thời có năng lực tổ chức, điều hành hoạt động công

sở bảo đảm sự đoàn kết, dân chủ, rõ ràng, minh bạch và hiệu quả trong mọi hoạt động… thì văn hóa công sở sẽ không ngừng được tăng cường và đảm bảo thực hiện Ngược lại, nếu người lãnh đạo quan liêu, cửa quyền, tổ chức điều hành mất dân chủ, không được cấp dưới ủng hộ, gây mất đoàn kết trong

cơ quan thì không thể phát huy tác dụng của văn hóa công sở, làm ảnh hưởng tới kết quả thực hiện nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị Do đó, cần đề cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong việc xây dựng, nâng cao văn hóa công sở trong các cơ quan hành chính hiện nay

1.4.2.2 Vị thế, “thương hiệu” của các trường đào tạo, bồi dưỡng

Vị thế của các trường đào tạo, bồi dưỡng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc tạo dựng uy tín của cơ quan, tạo nên niềm tin, niềm tự hào của chính CBGV đối với trường mình Vị thế của một cơ quan luôn được quyết định bởi kết quả thực hiện vai trò, chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị

Ngày đăng: 28/06/2017, 09:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1.Cẩm nang quy chế văn hóa công sở và cải cách hành chính nhànước, Nxb Văn hóa - Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang quy chế văn hóa công sở và cải cách hành chính nhànước
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin
2. Châu Thị Thanh Hà, Văn hóa công sở trong các cơ quan hành chính nhà nước Việt Nam hiện nay, Luận văn cao học, năm 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa công sở trong các cơ quan hành chính nhà nước Việt Nam hiện nay
3. Đào Thị Ái Thi, Kỹ năng giao tiếp của công chức trong tiến trình cải cách hành chính nhà nước, Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội, năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ năng giao tiếp của công chức trong tiến trình cải cách hành chính nhà nước
Nhà XB: Nxb Chính trị - Hành chính
4. Đinh Ngọc Hiện chủ biên, Thuật ngữ hành chính, Nxb Viện nghiên cứu khoa học, Hà Nội, năm 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuật ngữ hành chính
Nhà XB: Nxb Viện nghiên cứu khoa học
5. Kết quả Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI Đảng cộng sản Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật
6. Lê Nhƣ Hoa, Quản lý văn hóa nơi công sở, Nxb Lao động,Hà Nội, năm 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý văn hóa nơi công sở
Nhà XB: Nxb Lao động
7. Luật Cán bộ, công chức số 22/2008/QH12 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2010) của Quốc Hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Cán bộ, công chức số 22/2008/QH12
8. Lưu Kiếm Thanh, Nghi thức nhà nước, Nxb Thống kê, Hà Nội, năm 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghi thức nhà nước
Nhà XB: Nxb Thống kê
9. Mai Hữu Khuê chủ biên, Kỹ năng giao tiếp trong hành chính, Nxb Lao Động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ năng giao tiếp trong hành chính
Nhà XB: Nxb Lao Động
10. Nguyễn Duy Việt (2005), Văn minh công sở, Dân trí, ngày 31/3/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn minh công sở
Tác giả: Nguyễn Duy Việt
Năm: 2005
11. Nguyễn Khoa Điềm, Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
12. Nguyễn Thị Thanh Tâm, Thực hiện Quy chế văn hóa công sở trong tực thi công vụ, Luận văn cao học, năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hiện Quy chế văn hóa công sở trong tực thi công vụ
13. Nguyễn Thị Thu Vân, Văn hóa công sở và giải pháp xây dựng văn hóa công sở, Tạp chí Quản lý nhà nước, Học viện hành chính, số 149, tháng 6/ 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa công sở và giải pháp xây dựng văn hóa công sở
14. Nguyễn Thu Linh - Hà Hoa Lý, Văn hóa tổ chức lý thuyết, thực trạng và giải pháp phát triển văn hóa tổ chức ở Việt Nam, Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, năm 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa tổ chức lý thuyết, thực trạng và giải pháp phát triển văn hóa tổ chức ở Việt Nam
Nhà XB: Nxb Văn hóa – Thông tin
15. Nguyễn Văn Thâm, Tổ chức điều hành hoạt động của các công sở, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức điều hành hoạt động của các công sở
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
16. Nguyễn Văn Thâm, Kỹ thuật tổ chức công sở, Nxb Giáo dục, Hà Nội, năm 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật tổ chức công sở
Nhà XB: Nxb Giáo dục
17. Quangbinhtre. Com/index.php, sự khác biệt giữa hai miền Nam – Bắc trong tổ chức sự kiện, ngày 14/02/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: sự khác biệt giữa hai miền Nam – Bắc trong tổ chức sự kiện
34. Trần Quốc Vƣợng chủ biên, Cơ sở Văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo dục , H.1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở Văn hóa Việt Nam
Nhà XB: Nxb Giáo dục
36. Từ điển Bách Khoa Việt Nam, Nxb Từ điển Bách Khoa Hà Nội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Bách Khoa Việt Nam
Nhà XB: Nxb Từ điển Bách Khoa Hà Nội
37. Vũ Gia Hiền,Văn hóa giao tiếp trong quản lý hành chính công, Nxb Lao động, Hà Nội, năm 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa giao tiếp trong quản lý hành chính công
Nhà XB: Nxb Lao động

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Các trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức thuộc bộ - Văn hóa công sở tại các trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
Bảng 2.1 Các trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức thuộc bộ (Trang 48)
Bảng 2.2 : Số lƣợng và cơ cấu cán bộ giảng viên tại một số cơ sở - Văn hóa công sở tại các trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
Bảng 2.2 Số lƣợng và cơ cấu cán bộ giảng viên tại một số cơ sở (Trang 53)
Bảng 2.3. Bảng thống kê những văn bản do một số Bộ ban hành có - Văn hóa công sở tại các trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
Bảng 2.3. Bảng thống kê những văn bản do một số Bộ ban hành có (Trang 57)
Bảng 2.4. Nhận xét của giảng viên về quy chế, quy định trong trường - Văn hóa công sở tại các trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
Bảng 2.4. Nhận xét của giảng viên về quy chế, quy định trong trường (Trang 62)
Bảng 2.5. Nhận xét của học viên về trang phục của cán bộ, giảng viên  khi giảng dạy tại các trường ĐTBD CBCC thuộc các bộ - Văn hóa công sở tại các trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
Bảng 2.5. Nhận xét của học viên về trang phục của cán bộ, giảng viên khi giảng dạy tại các trường ĐTBD CBCC thuộc các bộ (Trang 64)
Bảng 2.7. Nhận xét của học viên về thái độ, phong cách ứng xử của - Văn hóa công sở tại các trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
Bảng 2.7. Nhận xét của học viên về thái độ, phong cách ứng xử của (Trang 68)
Bảng 2.9 :Diện tích đất và công trình của trường ĐTBD CBCC các bộ - Văn hóa công sở tại các trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
Bảng 2.9 Diện tích đất và công trình của trường ĐTBD CBCC các bộ (Trang 71)
Bảng 2.11 : Số lƣợng thiết bị các cơ sởĐTBD CBCC các bộ - Văn hóa công sở tại các trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
Bảng 2.11 Số lƣợng thiết bị các cơ sởĐTBD CBCC các bộ (Trang 74)
Bảng 2.10: Nhận xét về phương tiện phục vụ giảng dạy cho giảng viên - Văn hóa công sở tại các trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
Bảng 2.10 Nhận xét về phương tiện phục vụ giảng dạy cho giảng viên (Trang 74)
Sơ đồ 1.1: Các giai đoạn học tập kỹ năng giao tiếp - Văn hóa công sở tại các trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
Sơ đồ 1.1 Các giai đoạn học tập kỹ năng giao tiếp (Trang 115)
Sơ đồ 2.2: Các bước rèn luyện kỹ năng giao tiếp - Văn hóa công sở tại các trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
Sơ đồ 2.2 Các bước rèn luyện kỹ năng giao tiếp (Trang 116)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w