1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thể chế quản lý nhà nước đối với tài sản công trong các doanh nghiệp

108 349 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ …………/………… ……/…… HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA LƯƠNG QÚI THĂNG THỂ CHẾ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI TÀI SẢN CÔNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC – THỰC TIỄN

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ …………/………… ……/……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

LƯƠNG QÚI THĂNG

THỂ CHẾ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI TÀI SẢN CÔNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC – THỰC TIỄN

TẠI BỘ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ …………/………… ……/……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

LƯƠNG QÚI THĂNG

THỂ CHẾ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI TÀI SẢN CÔNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC – THỰC TIỄN

TẠI BỘ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

Chuyên ngành: Quản lý công

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Người cam đoan

Lương Qúi Thăng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, tôi xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc đến người hướng dẫn khoa

học Ts Bùi Thị Thanh Thúy đã tận tình hướng dẫn và đóng góp nhiều ý

kiến khoa học trong quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn này

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc Học viện Hành chính Quốc gia, Khoa Sau đại học cùng toàn thể các thầy, cô giáo đã nhiệt tình giảng dạy và tạo điều kiện cho tôi hoàn thành nhiệm vụ học tập của mình

Tôi xin trân trọng cảm ơn Bộ Thông tin và Truyền thông, Cục Công sản

Bộ Tài chính, đã cung cấp số liệu giúp tôi hoàn thành luận văn của mình

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới tất các thầy giáo,

cô giáo, gia đình, bạn bè và đồng nghiệp Sự động viên giúp đỡ của thầy, cô giáo, gia đình, bạn bè và đồng nghiệp là nguồn động viên quý báu cho tôi hoàn thành luận văn này!

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Học viên

Lương Qúi Thăng

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỂ CHẾ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI TÀI SẢN CÔNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 9 1.1 Khái niệm doanh nghiệp nhà nước và tài sản công trong các doanh nghiệp nhà nước 9

1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp nhà nước 91.1.2 Khái niệm tài sản công trong các doanh nghiệp nhà nước 13

1.2 Những vấn đề chung về thể chế quản lý nhà nước đối với tài sản công trong các doanh nghiệp nhà nước 16

1.2.1 Khái niệm thể chế quản lý nhà nước đối với tài sản công trong các doanh nghiệp nhà nước 161.2.2 Các yếu tố cấu thành thể chế quản lý nhà nước đối với tài sản công trong các doanh nghiệp nhà nước 22

1.3 Thể chể quản lý nhà nước đối với tài sản công trong các doanh nghiệp nhà nước ở một số quốc gia trên thế giới và giá trị tham khảo đối với Việt Nam 32

1.3.1 Kinh nghiệp một số quốc gia trên thế giới 321.3.2 Giá trị tham khảo đối với Việt Nam 36

Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN THỂ QUẢN

LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI TÀI SẢN CÔNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC – THỰC TIỄN BỘ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG 39 2.1 Khái quát chung về Bộ Thông tin và Truyền thông và doanh nghiệp nhà nước tại Bộ Thông tin và Truyền thông 39

2.1.1 Khái quát chung về Bộ Thông tin và Truyền thông 39

Trang 6

2.1.2 Thực trạng doanh nghiệp nhà nước và tài sản công trong các doanh

nghiệp nhà nước tại Bộ Thông tin và Truyền thông 40

2.2 Thực trạng bộ máy quản lý nhà nước và hệ thống văn bản pháp luật quản lý nhà nước đối với tài sản công trong các doanh nghiệp nhà nước tại Bộ Thông tin và Truyền thông 50

2.2.1 Thực trạng bộ máy quản lý nhà nước đối với tài sản công trong các doanh nghiệp nhà nước tại Bộ Thông tin và Truyền thông 50

2.2.2 Thực trạng hệ thống văn bản pháp luật quản lý nhà nước đối với tài sản công trong các doanh nghiệp nhà nước tại Bộ Thông tin và Truyền thông 55

2.3 Giải pháp hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước đối với tài sản công trong các doanh nghiệp nhà nước – từ thực tiễn Bộ Thông tin và Truyền thông 71

2.3.1 Giải pháp chung 71

2.3.2 Giải pháp cụ thể đối với Bộ Thông tin và Truyền thông 82

KẾT LUẬN 86

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88

Trang 8

DANH MỤC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ

Bảng:

Bảng 2.1: Tình hình sản xuất kinh doanh của VTC 44Bảng 2.2: Một số chỉ tiêu đánh giá tình hình hoạt động kinh doanh của VTC 45Bảng 2.3: Tình hình sản xuất kinh doanh của TCT Bưu điện Việt Nam 46Bảng 2.4: Một số chỉ tiêu đánh giá tình hình hoạt động của Tổng công ty Bưu điện Việt Nam 47Bảng 2.5: Một số chỉ tiêu tài chính của Tập đoàn Bưu chính Viễn Thông 48Việt Nam 48Bảng 2.6: Bảng đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của VNPT 49Bảng 2.7 Tổng hợp so sánh giá đất tương ứng với tiền thuê đất nhà nước thu

về khi cho VNPT Hải Phòng thuê theo khung giá thành phố Hải Phòng quy định và theo giá thị trường năm giai đoạn 2013 - 2015 61Bảng 2.8 Tổng hợp so sánh giá đất tương ứng với tiền thuê đất nhà nước thu

về khi cho VNPT Đà Nẵng thuê theo khung giá thành phố Đà Nẵng quy định

và theo giá thị trường năm 2015 63

Biểu đồ:

Biểu đồ 2.1: Tiền thuê đất Tập đoàn VNPT nộp vào ngân sách nhà nước trong giai đoạn 2013- 2015 59Biểu đồ 2.2: Thực trạng sử dụng đất của Tập đoàn VNPT năm 2015 65

Sơ đồ:

Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức Cục quản lý công sản – Bộ Tài chính 51

Trang 9

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam đang trên con đường phát triển và hội nhập mạnh mẽ, sâu rộng vào nền kinh tế quốc tế Doanh nghiệp Việt Nam hiện đang phải đối mặt, cạnh tranh bình đẳng với các tập đoàn kinh tế đa quốc gia hùng mạnh trên thế giới, đặc biệt là sau khi gia nhập tổ chức thương mại quốc tế WTO và bắt đầu với Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) Đây vừa là cơ hội, vừa

là thách thức đối với các doanh nghiệp của Việt Nam Trong hệ thống các

doanh nghiệp, hoạt động của DNNN ở Việt Nam trong thời gian qua cho thấy,

mô hình này đã đạt được những kết quả nhất định, là công cụ điều tiết vĩ mô hiệu quả của Nhà nước Về cơ bản, các DNNN đã nắm giữ những ngành, lĩnh vực then chốt trong nền kinh tế, quy mô vốn liên tục tăng, khẳng định vai trò

cụ thể của mình trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội đất nước Các DNNN không chỉ mang lại lợi ích kinh tế lớn cho đất nước; góp phần quan trọng vào tăng trưởng và phát triển kinh tế, đẩy nhanh tốc độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đóng góp không nhỏ vào nguồn thuế, tạo nguồn thu ngoại tệ và nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước, hạn chế nhập siêu, tạo nên sức mạnh cho nền kinh tế mà còn góp phần giải quyết việc làm cho người lao động, nâng cao mức sống cho nhân dân, đảm bảo an sinh xã hội, quốc phòng, an ninh

Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực, các DNNN ở Việt Nam có không ít tiêu cực, làm dấy lên hoài nghi về vai trò thực tế của nó, không chỉ về hiệu quả kinh tế mà các tập đoàn kinh tế nhà nước gặp phải không ít khó khăn, thách thức và nhiều vấn đề nảy sinh như:

Một là, mục tiêu, hiệu quả hoạt động của các DNNN chưa tương xứng với nguồn lực nhà nước đầu tư Nhiều tập đoàn kinh tế thay vì phải tập trung vào

Trang 10

2

ngành nghề chính, thực hiện các nhiệm vụ kinh tế và chính trị trọng yếu của kinh tế nhà nước, lại mở rộng quy mô đầu tư ngoài ngành trong khi thực tế nă lực tài chính lại hạn chế Chẳng hạn, một số tập đoàn thiếu vốn cho ngành chính nhưng vẫn mở rộng sang các ngành nghề rủi ro khác như tài chính, ngân hàng, bất động sản, từ đó, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hiệu quả kinh tế - xã hội của quốc gia

Hai là, công tác giám sát, kiểm soát hoạt động các DNNN còn nhiều hạn chế dẫn đến không phát hiện kịp thời để có biện pháp ngăn chặn, giảm thiểu tổn thất trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh Đặc biệt là kiểm soát việc quản lý sử dụng tài sản công trong các DNNN hiện nay thiếu những thiết chế hữu hiệu và hành lang pháp lý điều chỉnh một cách toàn diện, kịp thời Sự tăng trưởng của nền kinh tế đòi hỏi phải huy động tối đa mọi nguồn lực, trong đó tài sản công được coi là một nguồn lực quan trọng và cần thiết, nhất là trong điều kiện đất nước ta đang tập trung phát triển nền kinh tế nhanh

và bền vững Do vậy nếu không đặt vấn đề quản lý tài sản công một cách có hiệu quả thì cũng có nghĩa chúng ta đang sử dụng nguồn lực to lớn của quốc gia một cách lãng phí và cũng là khe hở cho nạn tham nhũng, biển thủ tài sản công Trong thời kỳ bao cấp, công tác quản lý tài sản công thiếu chặt chẽ, đất đai, nhà xưởng, tài sản còn bị sử dụng lãng phí, thất thoát… đã làm giảm nội lực của nền kinh tế Cùng với sự chuyển đổi nền kinh tế và xu thế hội nhập đòi hỏi phải thay đổi cơ chế chính sách về quản lý tài sản công, đặc biệt

là quản lý tài sản trong các doanh nghiệp nhà nước

Chính vì lý do trên việc nghiên cứu quản lý tài sản công, đặc biệt là xây dựng thể chế để hoàn thiện vấn đề quản lý tài sản trong các DNNN là một vấn

đề cấp thiết dưới góc độ lý luận và thực tiễn Vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài:

“Thể chế quản lý nhà nước đối với tài sản công trong các doanh nghiệp nhà nước – thực tiễn tại Bộ Thông tin và Truyền thông”

Trang 11

3

2 Tình hình nghiên cứu

Thể chế quản lý nhà nước và thể chế quản lý nhà nước đối với tài sản

công trong các doanh nghiệp nhà nước là vấn đề được sự quan tâm của nhiều

nhà nghiên cứu, nhiều nhà quản lý Có thể kể một số công trình nghiên cứu có những liên quan nhất định đến nội dung của đề tài như sau:

Nhóm công trình nghiên cứu về DNNN và tài sản công trong các DNNN:

Ngô Quang Minh (2001), Kinh tế nhà nước và quá trình đổi mới DNNN ,

Nxb Chính trị Quốc gia Cuốn sách đã làm rõ một số nội dung sau: Quan

niệm và quá trình hình thành DNNN ở Việt Nam; Quá trình đổi mới và thực trạng DNNN ở nước ta; Mục tiêu, quan điểm và phương hướng tiếp tục đổi mới DNNN

Phan Đức Hiếu (2003), Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế TW, Cải

cách doanh nghiệp nhà nước, Nxb Tài chính Sách tập trung nghiên cứu các

mô hình đổi mới hoạt động của DNNN như sắp xếp lại, cổ phần hóa DNNN;Chuyển DNNN thành CTCP, Công ty TNHH một thành viên;Giao, bán, khoán kinh doanh, cho thuê doanh nghiệp nhà nước

PGS.TS Nguyễn Văn Thạ (2004), Một số vấn đề về sở hữu ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia Cuốn sách đề cập đến lý luận và thực tiễn

trong việc nhận thức vấn đề sở hữu ở Việt Nam, thực trạng sở hữu doanh nghiệp nhà nước và đất đai ở Việt Nam

PGS.TS Lê Hồng Hạnh chủ biên (2004), Cổ phần hóa DNNN- những

vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia ấn hành Trong cuốn sách

này, tác giả đã đề cập đến các khía cạnh đa dạng của DNNN như: DNNN ở các quốc gia và xu thế cải cách DNNN; Những vấn đề lý luận và thực tiễn về DNNN ở Việt Nam; Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về CPH DNNN và hoàn thiện nền tảng pháp lý cho CPH DNNN

Trang 12

4

Đề tài nghiên cứu khoa học của TS Trang Thị Tuyết tại Học viện Hành

chính Quốc gia: Một số giải pháp hoàn thiện QLNN đối với doanh nghiệp ở

Việt Nam (2004), đã làm rõ cơ sở lý luận về QLNN đối với doanh nghiệp Đề

tài trình bày chi tiết về thực trạng QLNN đối với DNNN, nêu rõ những tồn tại, khó khăn và đưa ra nhiều giải pháp hoàn thiện QLNN đối với DNNN

Ths Nguyễn Văn Tuấn, Quản lý tài sản công ở nước ta hiện nay: thực trạng và giải pháp, Tạp chí Lý luận chính trị và Truyền thông số tháng

- Một số luận án tiến sĩ cũng có đề cập đến vấn đề này như Luận án

tiến sĩ quản lý công “Thể chế quản lý nhà nước đối với giáo dục sau đại học ở Việt Nam hiện nay” của Lê Như Phong, năm 2017; Luận án kinh tế: “Hoàn thiện thể chế quản lý công chức ở Việt Nam trong điều kiện phát triển và hội nhập quốc tế” của Trần Anh Tuấn, Đại học Kinh tế Quốc dân năm 2007

và Luận án quản lý hành chính công của Bùi Thị Ngọc Hiền: “ Nâng cao năng lực thể chế hành chính nhà nước để thích ứng với kinh tế thị trường và yêu cầu hội nhập quốc tế ở nước ta hiện nay” ( 2014)

Ngoài ra, có thể kể đến một số công trình có nghiên cứu về vấn đề này

như: “Xây dựng thể chế hỗ trợ thị trường”, Người dịch: Vũ Hoàng Linh,

Ngân hàng Thế giới Báo cáo phát triển thế giới 2002, Nxb Chính trị Quốc

gia, Hà Nội, 2003; “20 năm đổi mới và sự hình thành thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN", Nguyễn Cúc, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2005; “Vấn

đề điều chỉnh chức năng và thể chế của nhà nước dưới tác động của toàn cầu

Trang 13

5

hóa”, Phạm Việt Thái, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2008 TS Nguyễn Sỹ Dũng với bài “Năng lực thể chế”, Báo Người Đại biểu nhân dân số tháng 01 năm 2006; PGS.TS Đặng Văn Thanh với bài “Nâng cao năng lực thể chế trong phát triển kinh tế xã hội” đăng trên phần Nghiên cứu-lý luận, Website Trung

tâm Bồi dưỡng đại biểu dân cử ngày 02 tháng 11 năm 2010… Nội dung chủ yếu nghiên cứu thể chế với tư cách hệ thống văn bản pháp luật do Nhà nước ban hành điều chỉnh quan hệ kinh tế - xã hội

Những công trình nghiên cứu trên đã có những đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn đối với đề tài Tuy nhiên, có thể thấy rằng đến nay chưa có

đề tài nào đi sâu nghiên cứu về thể chế quản lý nhà nước đối với tài sản công

trong các doanh nghiệp nhà nước Do đó đề tài: “Thể chế quản lý nhà nước đối với tài sản công trong các doanh nghiệp nhà nước - từ thực tiễn Bộ Thông tin và Truyền thông” là một đề tài không trùng lặp, mang tính lý luận

và thực tiễn cao, đòi hỏi cần được nghiên cứu một cách có hệ thống và đầy

3.2 Nhiệm vụ

Để thực hiện được mục đích trên đây, đề tài có nhiệm vụ:

- Làm rõ những vấn đề lý luận về khái niệm, đặc điểm tài sản công trong các DNNN; khái niệm, đặc điểm, vai trò và các yếu tố cấu thành của thể chế quản lý nhà nước đối với tài sản công trong các doanh nghiệp nhà nước;

- Phân tích, đánh giá thực trạng thể chế quản lý nhà nước đối với tài sản công trong các doanh nghiệp nhà nước tại Bộ Thông tin và Truyền thông để chỉ ra những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân của thực trạng

Trang 14

6

- Đưa ra các giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước đối với tài sản công trong các doanh nghiệp nhà nước tại Bộ Thông tin và Truyền thông hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thể chế quản lý nhà nước đối với tài sản công trong các doanh nghiệp nhà nước từ thực tiễn Bộ Thông tin và Truyền thông

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về nội dung

Đề tài nghiên cứu thể chế quản lý nhà nước đối với tài sản công trong các doanh nghiệp nhà nước dưới hai góc độ: hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh và hệ thống bộ máy quản lý nhà nước đối với tài sản công trong các DNNN

- Phạm vi về địa bàn nghiên cứu: Bộ Thông tin và Truyền thông

- Thời gian nghiên cứu trong đề tài: được xác định từ năm 2012 đến nay; trong đó có một số số liệu về tình hình sản xuất kinh doanh được lấy từ 2012

đến 2015 ( những số liệu đã có báo cáo kiểm toán)

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu bằng phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử và tư tưởng Hồ Chí Minh và quán triệt các Nghị quyết Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI, VII, VIII, IX, X, XI, XII về hoàn thiện kinh tế thị trường và định hướng phát triển đối với các DNNN

Các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể được sử dụng trong đề tài như sau:

- Phương pháp phân tích tài liệu: phương pháp này được sử dụng để phân tích cả tài liệu sơ cấp và tài liệu thứ cấp Tài liệu sơ cấp bao gồm các văn

Trang 15

7

bản pháp luật và Văn kiện của Đảng có liên quan, các số liệu thống kê chính thức của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Tài liệu thứ cấp bao gồm các bài báo, tạp chí, kết luận phân tích đã được các tác giả khác thực hiện Phương pháp này được sử dụng đồng thời trong các chương của luận văn

- Phương pháp tổng hợp: phương pháp này được sử dụng để tổng hợp các số liệu, tri thức có được từ hoạt động phân tích tài liệu, phỏng vấn, hỏi chuyên gia Việc tổng hợp nhằm mục đích đưa ra những luận giải, nhận xét và

đề xuất của chính tác giả luận án Phương pháp này được sử dụng các chương của luận văn

- Phương pháp so sánh: phương pháp này được áp dụng để nghiên cứu kinh nghiệm nước ngoài, qua đó rút ra bài học và lựa chọn những hạt nhân hợp

lý, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh để áp dụng đối với Việt Nam Phương pháp này chủ yếu sử dụng tập trung ở chương 1 của luận văn

Bên cạnh đó, luận văn cũng sử dụng một số phương pháp nghiên cứu bổ trợ khác như: phương pháp lịch sử, phương pháp quy nạp, phương pháp diễn dịch… để cung cấp thêm các luận cứ khoa học và thực tiễn triển khai đề tài

6 Những đóng góp mới và ý nghĩa của luận văn

Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ có những đóng góp trên cả phương

diện lý luận và thực tiễn mới cơ bản như sau:

- Trên cơ sở các luận điểm khoa học, luận văn đã xây dựng khái niệm thể chế quản lý nhà nước đối với tài sản công trong các doanh nghiệp nhà nước; chỉ ra đặc điểm, vai trò và các yếu tố thể chế quản lý nhà nước đối với tài sản công trong các doanh nghiệp nhà nước

- Luận văn đánh giá khách quan và chỉ ra những thành tựu, tập trung làm

rõ những hạn chế, bất cập của thể chế quản lý nhà nước đối với tài sản công trong các doanh nghiệp nhà nước Từ những hạn chế, bất cập của thể chế quản lý nhà nước đối với tài sản công trong các doanh nghiệp nhà nước hiện

Trang 16

Tóm lại, các kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần bổ sung những vấn đề lý luận về thể chế quản lý nhà nước đối với tài sản công trong các doanh nghiệp nhà nước, cung cấp các luận cứ khoa học cho việc nghiên cứu nhằm tiếp tục xây dựng, hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước đối với tài sản công trong các doanh nghiệp nhà nước nói chung và thể chế quản lý nhà nước đối với tài sản công trong các doanh nghiệp nhà nước tại Bộ Thông tin và Truyền thông nói riêng

Các kết quả nghiên cứu của luận văn cũng có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho học tập và nghiên cứu, cho các cơ quan quản lý nhà nước, cho các tổ chức và cá nhân

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn được chia thành 2 chương: Chương 1 Những vấn đề lý luận về thể chế quản lý nhà nước đối với tài sản công trong các doanh nghiệp nhà nước

Chương 2 Thực trạng và giải pháp hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước đối với tài sản công trong các doanh nghiệp nhà nước tại Bộ Thông tin và Truyền thông

Trang 17

9

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỂ CHẾ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI TÀI

SẢN CÔNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 1.1 Khái niệm doanh nghiệp nhà nước và tài sản công trong các doanh nghiệp nhà nước

1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp nhà nước

Kể từ khi đất nước thống nhất năm 1975 đến nay (và Miền Bắc xã hội chủ nghĩa trước đó), DNNN luôn giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế ở Việt Nam Trong từng giai đoạn phát triển kinh tế khác nhau, quan điểm pháp lý

về DNNN cũng có sự thay đổi tương thích

Ngày 20/04/1995 Quốc hội Khóa IX đã thông qua Luật DNNN năm

1995 để quy định cụ thể việc thành lập và quản lý phần vốn của nhà nước đầu

tư trong các DNNN, mà trước đó mới chỉ được điều chỉnh bởi các Nghị định và hướng dẫn của Chính phủ Theo đó, tại Điều 1 Luật DNNN 1995 quan niệm:

“Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập

và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội do Nhà nước giao.Doanh nghiệp nhà nước có

tư cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động, kinh doanh trong phạm vi số vốn do doanh nghiệp quản lý Doanh nghiệp nhà nước có tên gọi, có con dấu riêng và có trụ sở chính trên lãnh thổ Việt Nam”.Các DNNN được tổ chức theo mô hình quản lý riêng,

không giống như mô hình quản lý của các doanh nghiệp tư nhân

Ngày 26/11/2003, Quốc hội đã thông qua Luật DNNN để thay thế cho

Luật DNNN năm 1995 Theo đó: “DNNN là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty TNHH” (Điều 1, Chương

I) Khái niệm này vẫn thể hiện quan điểm Nhà nước đề cao sở hữu nhà nước

Trang 18

mô hình quản lý của các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực tư nhân được quy định

trong Luật Doanh nghiệp năm 1999

Tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XI, Quốc hội đã chính thức thông qua Luật Doanh nghiệp 2005 hướng đến việc hợp nhất các quy định tản mát của Nhà nước quy định về nhiều thành phần doanh nghiệp khác nhau gồm cả doanh nghiệp thuộc lĩnh vực tư nhân và DNNN, tạo động lực lớn cho Việt Nam trong việc thể chế hóa các nguyên tắc cơ bản của Tổ chức Thương mại thế giới WTO như các nguyên tắc bảo đảm đầu tư, kinh doanh, đối xử quốc gia, công khai, minh bạch tạo ra sân chơi bình đẳng và môi trường pháp lý trong sạch, lành mạnh Theo quy định Luật Doanh nghiệp 2005, doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có

cổ phần, vốn góp chi phối được tổ chức dưới hình thức công ti Nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn.Doanh nghiêp nhà nước là doanh nghiệp một chủ trong trường hợp nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ (tức sở hữu 100%) Doanh nghiệp nhà nước nhiều chủ sở hữu trong trường hợp có cổ phần, vốn góp chi phối có tỉ lệ trên 50% và dưới 100%

Kể từ 1-7-2015, theo Luật Doanh nghiệp (sửa đổi): “Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ” (Khoản 8

Điều 4)

Như vậy, các doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ mới được xem là doanh nghiệp nhà nước, thay vì chỉ 51% như quy định Luật Doanh nghiệp 2005 Sự thay đổi này được xem là sự cải cách về quan điểm

để dẫn đến thay đổi về vốn và quản trị Với hướng tiếp cận “cởi trói” cho

Trang 19

11

doanh nghiệp và tuân theo các cơ chế quản lý của nền kinh tế thị trường là hạn chế sự can thiệp của nhà nước, Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định chỉ những doanh nghiệp nào do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ thì mới được coi là DNNN, tức là hạn chế số lượng DNNN và mở rộng thành phần doanh nghiệp không bị ràng buộc bởi “cơ chế Nhà nước” Với quy định này các công ty lớn hoạt động trong lĩnh vực then chốt như dầu khí, vận tải hàng không, hay các ngân hàng có sở hữu của Nhà nước thấp hơn 100% vốn điều

lệ đều không còn là DNNN Các doanh nghiệp này ngoài việc tháo bỏ cái mác DNNN, cải tổ cơ chế quản lý điều hành, quản trị rủi ro thì hoàn toàn có thể cạnh tranh bình đẳng với các loại hình doanh nghiệp khác mà không có sự khác biệt nào

Và theo Quyết định 58/2016/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tiêu chí phân loại doanh nghiệp có vốn nhà nước và Danh mục doanh nghiệp nhà nước thực hiện sắp xếp giai đoạn 2016-2020, những doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, hoạt động trong các ngành, lĩnh vực: Đo đạc bản đồ phục vụ quốc phòng, an ninh; Sản xuất, kinh doanh vật liệu nổ công nghiệp; Truyền tải, điều độ hệ thống điện quốc gia và quản lý lưới điện phân phối; thủy điện đa mục tiêu, điện hạt nhân có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về kinh tế - xã hội gắn với quốc phòng, an ninh; Quản lý hệ thống kết cấu hạ tầng đường sắt quốc gia, đường sắt đô thị do Nhà nước đầu tư; điều hành giao thông vận tải đường sắt quốc gia Ngoài ra, các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực dịch vụ không lưu, dịch vụ thông báo tin tức hàng không, dịch vụ tìm kiếm, cứu nạn; Bảo đảm hàng hải (không bao gồm nạo vét, duy tu luồng hàng hải công cộng); Bưu chính công ích; Kinh doanh sổ xố; Xuất bản (không bao gồm lĩnh vực in và phát hành xuất bản phẩm); In, đúc tiền, sản xuất vàng miếng và các vật phẩm lưu niệm bằng vàng; Tín dụng chính sách phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an toàn hệ thống ngân hàng và tổ chức tín dụng cũng thuộc nhóm các doanh nghiệp nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ

Trang 20

12

Từ quan niệm trên có thể xem xét một số đặc điểm của doanh nghiệp nhà nước như sau:

- Chủ đầu tư: là Nhà nước

- Sở hữu vốn: Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ (100%)

- Hình thức tồn tại: công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Công

ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên bao gồm: công ty mẹ của các tập đoàn kinh tế; công ty mẹ của tổng công ty nhà nước; công ty mẹ trong mô hình công

ty mẹ - công ty con; công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên độc lập

- Mô hình quản lý: DNNN được tổ chức chức dưới hình thức công ty

TNHH theo một trong hai mô hình quản lý bao gồm: (1) Chủ tịch công ty, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và Kiểm soát viên hoặc (2) Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và Kiểm soát viên

- Trách nhiệm tài sản: Nhà nước chịu trách nhiệm về các khoản nợ và

nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty

- Mục đích hoạt động: thực hiện mục đích kinh doanh hoặc hoạt động

công ích Ứng với hai mục đích trên là có hai loại DNNN khác nhau

DNNN hoạt động kinh doanh là doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh chủ yếu nhằm mục tiêu lợi nhuận

DNNN hoạt động công ích là doanh nghiệp hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ công cộng theo các chính sách của Nhà nước trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quốc phòng an ninh

Trang 21

an sinh xã hội, quốc phòng, an ninh

Hai, DNNN thực hiện các nhiệm vụ chính trị - xã hội mà Nhà nước giao

Do có nhiều lĩnh vực, ngành nghề không hấp dẫn các nhà đầu tư vì ít lợi nhuận, lâu thu hồi vốn nên các doanh nghiệp tư nhân không muốn tham gia sản xuất, kinh doanh hoặc việc kinh doanh lệ thuộc rất lớn vào điều kiện thiên nhiên và kết cấu hạ tầng nên Nhà nước thành lập và giao cho các DNNN nhiệm vụ tiến hành các hoạt động công ích nhằm thực hiện mục tiêu chính trị

- xã hội của Nhà nước Thực tế ở nước ta cho thấy, DNNN chính là lực lượng quan trọng của Nhà nước đảm nhận sản xuất, kinh doanh nhiều mặt hàng thiết yếu nhằm đáp ứng nhu cầu của nhân dân, góp phần quan trọng trong việc bảo đảm an ninh lương thực, an ninh năng lượng, an ninh quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc và khẳng định chủ quyền quốc gia, bảo vệ môi trường sinh thái

Ba, DNNN là tổ chức kinh doanh, mang lại lợi nhuận thích đáng cho Nhà nước

Các DNNN góp phần mang lại lợi ích kinh tế lớn cho đất nước về các mặt như: góp phần quan trọng vào tăng trưởng và phát triển kinh tế đất nước, đóng góp vào nguồn thuế, tạo nguồn thu ngoại tệ và nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước, hạn chế nhập siêu, tạo nên sức mạnh cho nền kinh tế góp phần đẩy nhanh tốc độ CNH, HĐH đất nước

1.1.2 Khái niệm tài sản công trong các doanh nghiệp nhà nước

Để làm rõ khái niệm tài sản công trong các DNNN, thiết nghĩ cần giải nghĩa thuật ngữ: “tài sản công” Theo Điều 53 Hiến pháp năm 2013 quy định:

Trang 22

14

“Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở

quy định về tài sản công theo quy định tại Điều 53 Hiến pháp năm 2013:“đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý

là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”

Bên cạnh thuật ngữ “tài sản công”, trong hệ thống văn bản pháp luật

hiện hành còn sử dụng một thuật ngữ là “tài sản nhà nước” Luật Quản lý, sử

dụng tài sản nhà nước 2008 tại Điều 1 quy định: “Tài sản nhà nước bao gồm trụ sở làm việc và tài sản khác gắn liền với đất; quyền sử dụng đất đối với đất dùng để xây dựng trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp của cơ quan, tổ chức, đơn vị; máy móc, phương tiện vận tải, trang thiết bị làm việc và các tài sản khác do pháp luật quy định”

Theo Điều 3 Luật Thực hành tiết kiệm chống lãng phí 2013 định nghĩa:

“Tài sản nhà nước là tài sản hình thành từ ngân sách nhà nước hoặc do pháp luật quy định thuộc sở hữu, quản lý của Nhà nước, bao gồm: Trụ sở làm việc, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất; máy móc, phương tiện vận tải, trang thiết bị làm việc; tài sản từ nguồn viện trợ, tài trợ, đóng góp của tổ chức,

cá nhân trong nước và ngoài nước cho Nhà nước và các tài sản khác do pháp luật quy định”

Từ những quy định pháp luật trên, có quan điểm cho rằng: “Tài sản công bao gồm cả tài sản nhà nước (tài sản do nhà nước đầu tư và quản lý) và tài nguyên quốc gia” [14; tr.48] Rõ ràng, sử dụng thuật ngữ tài sản công thì nội hàm rộng và bao trùm hơn thuật ngữ “tài sản nhà nước”

Trang 23

15

Bởi thuật ngữ “tài sản nhà nước” được sử dụng trong Luật Quản lý và sử dụng tài sản nhà nước và Luật Thực hành tiết kiệm chống lãng phí đều có các quy

đinh mở: “ và các tài sản khác do pháp luật quy định” Vì thế kể từ Hiến pháp

2013, thuật ngữ “tài sản công” chính thức được sử dụng trong Hiến pháp Phạm

vi và nội hàm của khái niệm về tài sản công tại các văn bản này tương đồng

và thay thế cho khái niệm tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước quy định tại Bộ luật Dân sự năm 2005

Như vậy, tài sản công cũng được hiểu là những tài sản thuộc sở hữu của

Nhà nước Nói rộng ra chúng thuộc sở hữu của toàn dân TSC là tài sản vật chất, của cải của đất nước, của nhân dân, phản ánh sức mạnh kinh tế của một quốc gia TSC cũng là tiền đề, là yếu tố vật chất, là nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế – xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng, ổn định và nâng cao đời sống nhân dân Tài sản công có giá trị rất lớn và có ý nghĩa hết sức quan trọng trong quá trình phát triển của các quốc gia, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Tài sản công là nền tảng, là vốn liếng để khôi phục và xây dựng kinh tế chung, để làm cho dân giàu, nước mạnh, để nâng cao đời sống nhân dân”.Nguồn gốc hình thành tài sản công chủ yếu từ ngân sách nhà nước và tài nguyên quốc gia Tài sản công bao gồm: Tài sản quốc gia do Chính phủ sở hữu, tài sản do các cấp địa phương quản lý, tài sản nhà nước do doanh nghiệp nhà nước quản lý, tài sản do các cơ quan hành chính sự nghiệp quản lý, tài sản

do các dự án viện trợ vay nợ hình thành, tài sản nhà nước trong các tổ chức chính trị - xã hội Hiện nay nước ta chưa có số liệu thống kê nào xác định được toàn bộ giá trị cũng như số lượng tài sản công trên toàn quốc để quản lý

và theo dõi

Trong phạm vi luận văn đề cập đến TSC trong các DNNN Từ sự phân

tích trên có thể đi đến khái niệm tài sản công trong các DNNN là các tài sản thuộc sở hữu Nhà nước được giao cho các DNNN quản lý và sử dụng vào mục đích kinh doanh và phục vụ công ích xã hội Cụ thể chia thành hai nhóm:

Trang 24

16

- Tài sản công đã được tính thành phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp Hiện nay, việc quản lý, sử dụng được thực hiện theo quy định của Luật Quản

lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp

2014 Tại Điều 3, Luật Quản lý, sử dụng vốn Nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp số 69/2014/QH13 quy định: “Vốn Nhà nước tại doanh nghiệp bao gồm vốn từ ngân sách Nhà nước, vốn tiếp nhận có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước; vốn từ quỹ đầu tư phát triển tại doanh nghiệp, quỹ hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp; vốn tín dụng do Chính phủ bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước và vốn khác được Nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp”

- Tài sản công do Nhà nước giao cho doanh nghiệp quản lý, không tính thành phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp như: đất đai, tài nguyên thiên nhiên, tài sản kết cấu hạ tầng, tài sản dự án…

Như vậy, các tài sản công do Nhà nước giao cho DNNN quản lý, sử dụng rất đa dạng Trong phạm vi luận văn tập trung nghiên cứu hai loại tài sản có giá trị lớn, đó là: vốn và đất đai Các số liệu minh chứng chủ yếu xoay quanh hai loại tài sản này

1.2 Những vấn đề chung về thể chế quản lý nhà nước đối với tài sản công trong các doanh nghiệp nhà nước

1.2.1 Khái niệm thể chế quản lý nhà nước đối với tài sản công trong các doanh nghiệp nhà nước

Để tìm hiểu quan niệm về thể chế quản lý công quản lý nhà nước đối với tài sản công trong các DNNN, trước tiên cần phải làm rõ nội hàm hai thuật ngữ: thể chế và quản lý nhà nước Hiện nay cách tiếp cận về thể chế cũng tồn tại nhiều quan điểm khác nhau

Theo từ điển “Từ và ngữ Việt Nam” thì “Thể” là cách thức, “Chế” là phép định ra - Cơ cấu xã hội do pháp luật quy định [7, tr.1725] Thể chế là

Trang 25

Schmid (1972) lại cho rằng “Thể chế là tập hợp các mối quan hệ được quy định giữa mọi người, các mối quan hệ này xác định quyền, trách nhiệm của con người trong mối tương quan với người khác” North (1990) coi “Thể chế là những luật lệ được hình thành trong đời sống xã hội hay đúng hơn đó là những luật lệ do con người tạo ra để điều tiết và định hình các quan hệ của con người” [16, tr 11,12]

Ở Việt Nam, Giáo trình Hành chính công của Học viện Hành chính Quốc gia tiếp cận thể chế ở hai khía cạnh:

“Thể chế bao hàm tổ chức với hệ thống các quy tắc, quy chế được sử dụng để điều chỉnh sự vận hành của tổ chức nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức” [4; tr.108-109]

“Thể chế được hiểu như là hệ thống các quy định do Nhà nước xác lập trong hệ thống văn bản pháp luật của Nhà nước và được Nhà nước sử dụng để điều chỉnh và tạo ra các hành vi và mối quan hệ giữa nhà nước với công dân, các tổ chức nhằm thiết lập trật tự kỷ cương xã hội” [4; tr.109]

Như vậy, dù có những khác biệt nhất định, song về cơ bản có hai quan niệm nhìn nhận về thể chế Nghĩa hẹp, thể chế có thể hiểu là những quy định

pháp luật, nội quy, quy chế, điều lệ Nghĩa rộng, thể chế bao gồm các quy định

pháp luật, nội quy, quy chế và tổ chức bộ máy vận hành các quy định đó

Trang 26

18

Thiết nghĩ quan niệm thể chế theo nghĩa rộng hợp lý và toàn diện hơn Bởi lẽ, phải có hệ thống văn bản pháp luật để xây dựng không gian pháp lý cho hoạt động QLNN đối với tài sản công trong các DNNN diễn ra đồng thời

là cơ sở để cho hoạt động bộ máy QLNN Bộ máy QLNN triển khai thực thi pháp luật về TSC trong các DNNN đồng thời kiểm soát việc thực thi pháp luật Như vậy, nếu không có văn bản pháp luật thì bộ máy nhà nước không có

cơ sở pháp lý hoạt động; ngược lại không có bộ máy quản lý tốt với cơ cấu tổ chức phù hợp và đội ngũ nhân sự có năng lực thì khó đảm bảo thực hiện các quy định Vì vậy, trong phạm vi nghiên cứu, luận văn tiếp cận quan niệm “thể chế” ở góc độ: hệ thống các quy định pháp luật và tổ chức bộ máy nhà nước vận hành các quy định đó Mặt khác, xuất phát từ lý luận về quản lý nhà nước đối với tài sản công trong các DNNN để có những định hướng cho việc hoàn thiện thể chế này nên luận văn chỉ tập trung vào những yếu tố chính thức của thể chế (quy phạm pháp luật) mà không đề cập đến các yếu tố phi chính thức (đường lối, chính sách…)

Về thuật ngữ quản lý nhà nước , xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, rất nhiều học giả trong và ngoài nước đã đưa ra giải thích không giống nhau về quản lý Trong lịch sử phát triển của nhân loại, QLNN xuất hiện cùng với sự xuất hiện của nhà nước, là công cụ của nhà nước trong quản

lý xã hội, là một dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước của các

cơ quan nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan

hệ xã hội và hành vi hoạt động của công dân Thuật ngữ QLNN được sử dụng khá phổ biến trong các công trình nghiên cứu khoa học thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau ở Việt Nam với nhiều cách tiếp cận nhất định

Theo nghĩa rộng, QLNN là hoạt động tổ chức, điều hành của cả bộ máy nhà nước, nghĩa là bao hàm cả sự tác động, tổ chức của quyền lực nhà nước trên các phương diện lập pháp, hành pháp và tư pháp

Trang 27

19

Theo nghĩa hẹp, QLNN chủ yếu là quá trình tổ chức, điều hành của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người theo pháp luật nhằm đạt được những mục tiêu yêu cầu nhiệm vụ quản lý nhà nước Đồng thời, các cơ QLNN nói chung còn thực hiện các hoạt động có tính chất chấp hành, điều hành nhằm xây dựng tổ chức

bộ máy và củng cố chế độ công tác nội bộ của mình như ra quyết định thành lập, chia tách, sáp nhập các đơn vị tổ chức thuộc bộ máy của mình, đề bạt, khen thưởng, kỷ luật cán bộ, công chức, ban hành quy chế làm việc nội bộ…

Như vậy, QLNN theo nghĩa hẹp còn đồng nghĩa với khái niệm quản lý hành chính nhà nước Trong phạm vi luận văn, xuất phát từ nghiên cứu thực tiễn ở Bộ Thông tin và Truyền thông – một cơ quan quản lý hành chính Vì vậy, luận văn tiếp cận khái niệm QLNN ở nghĩa hẹp, cụ thể là quản lý hành chính nhà nước

Với những phân tích trên, có thể hiểu: Thể chế quản lý nhà nước đối với tài sản công trong DNNN là hệ thống các quy phạm pháp luật do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành và tổ chức bộ máy hành chính nhà nước vận hành các quy định pháp luật về QLNN đối với tài sản công trong các DNNN một cách thống nhất nhằm đáp ứng mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp theo yêu cầu phát triển kinh tế đất nước

Từ khái niệm trên, có thể xem xét một số đặc điểm cơ bản của thể chế QLNN đối với TSC trong các DNNN như sau:

Một là, thể chế QLNN đối với TSC trong các DNNN là một chỉnh thể thống nhất bao gồm hai bộ phận hợp thành: hệ thống quy phạm pháp luật và

tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về TSC trong các DNNN

Hệ thống bộ máy nhà nước quản lý nhà nước về TSC trong các DNNN theo nghĩa rộng bao gồm toàn bộ bộ máy nhà nước, cụ thể cơ quan lập pháp,

Trang 28

Chính phủ, Luật Ngân sách nhà nước, Luật Đầu tư công

Hai là, thể chế QLNN đối với QLNN đối với TSC trong các DNNN là một bộ phận của thể chế QLNN nói chung.Vì thế, thể chế QLNN đối với QLNN đối với TSC trong các DNNN nằm trong một chỉnh thể thống nhất và

có mối quan hệ khăng khít với các lĩnh vực khác của thể chế QLNN Điều này xuất phát từ chức năng chung của bộ máy quản lý nhà nước là quản lý trên tất

cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Đồng nghĩa với việc xây dựng, hoàn thiện thể chế QLNN đối với QLNN đối với TSC trong các DNNN phải trên cơ sở tính sự tác động tất cả các yếu tố kinh tế, chính trị, văn hóa ,

xã hội

Ba là, thể chế QLNN đối với QLNN đối với TSC trong các DNNN được xây dựng nhằm mục đích tác động làm thay đổi các quan hệ xã hội, giúp

môi trường kinh tế hình thành, phát triển lành mạnh

Vai trò thể chế quản lý nhà nước đối với TSC trong các DNNN

Thứ nhất, thể chế quản lý nhà nước đối với tài sản công trong các DNNN xây dựng khung pháp lý để quản lý, sử dụng TSC có hiệu quả

Các DNNN với vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường vì vậy được Nhà nước đầu tư một khối lượng TSC khổng lồ Doanh nghiệp nhà nước hiện chiếm tới 70% vốn đầu tư toàn xã hội, 50% vốn đầu tư nhà nước, 60% tín dụng các ngân hàng thương mại và 70% vốn ODA Tổng tài sản gần 1.800

Trang 29

21

nghìn tỷ đồng, vốn chủ sở hữu 700 nghìn tỷ đồng, lợi nhuận 162 nghìn tỷ đồng nhưng chỉ đóng góp 35% GDP, tạo ra 39,5% giá trị sản lượng công nghiệp hàng năm [10] Để đảm bảo việc quản lý, sử dụng TSC đúng mục đích, tránh thất thoát cần một hành lang pháp lý toàn diện, một hệ thống bộ máy quản lý nhà nước minh bạch và hiệu quả

Thứ hai, góp phần phòng ngừa, ngăn ngừa, xử lý vi phạm pháp luật phát sinh trong hoạt động quản lý,sử dụng TSC trong các DNNN

Nhà nước quản lý xã hội thông qua các phương tiện như chính sách, kế hoạch, chiếu lược, pháp luật Trong đó pháp luật là phương tiện quản lý hữu hiệu và quan trọng nhất Thông qua pháp luật, nhà nước hình thành không gian, môi trường pháp lý để các chủ thể hình thành nên những hành vi hợp pháp; đồng thời là cơ sở để xác định những hành vi nào là hành vi vi phạm pháp luật và có chế tài xử lý nghiêm khắc Mặt khác, thể chế QLNN đối với TSC trong các DNNN đảm bảo vai trò kiểm soát của Nhà nước và xã hộ đối với việc quản lý, sử dụng TSC trong các DNNN thông qua quy định các hình thức, phương pháp khác nhau Trên cơ sở đó đảm bảo sự phát triển lành mạnh của DNNN

Thứ ba, góp phần xây dựng cơ cấu tổ chức, bộ máy QLNN về TSC trong DNNN hoạt động thống nhất, hiệu quả

Thông qua các quy định pháp luật, xác định cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của bộ máy QLLNN đối với TSC trong DNNN Mỗi giai đoạn phát triển của kinh tế quốc gia, cơ cấu tổ chức, bộ máy QLNN cũng phải có sự điều chỉnh, thay đổi phù hợp Giai đoạn hiện nay, xuất phát từ quy định:“kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo”( Điều 51 Hiến pháp 2013) Hiện nay, ở Việt Nam các DNNN được Nhà nước đầu tư nguồn vốn và tài sản lớn Như vậy câu hỏi đặt ra là năng lực quản lý của bộ máy nhà nước đối với TSC trong DNNN phải được cải thiện, nâng cao như thế nào? Vì vậy thể chế QLNN đối với TSC trong DNNN sẽ thiết lập những quy định đảm bảo bộ

Trang 30

1.2.2 Các yếu tố cấu thành thể chế quản lý nhà nước đối với tài sản công trong các doanh nghiệp nhà nước

1.2.2.1 Hệ thống bộ máy quản lý nhà nước đối với tài sản công trong các doanh nghiệp nhà nước

Bộ máy quản lý nhà nước về TSC trong các DNNN là hệ thống các cơ quan công quyền từ trung ương đến các địa phương do nhà nước thành lập để thực thi hoạt động QLNN đối với TSC Bộ máy nhà nước được phân cấp, phân công trên cơ sở các định chế nhà nước và các cơ chế quản lý đã được thiết lập

Bộ máy ở cấp này vừa là chủ thể quản lý của cấp đó vừa là đối tượng quản lý của các cấp trên cao hơn Mỗi kiểu tổ chức bộ máy quản lý đều ứng với một kiểu thể chế nhà nước và cơ chế vận hành Có thể nói, mỗi một thể chế nhà nước và cơ chế quản lý nào thì có bộ máy tổ chức quản lý tương ứng

Mô hình quản lý TSC ở nước ta được tổ chức theo hệ thống tổ chức nhà nước và phân cấp quản lý, có sự thống nhất từ cấp trung ương đến địa phương Trong bộ máy nhà nước, mỗi hệ thống cơ quan có chức năng khác nhau và chức năng của cơ quan hành chính nhà nước chính là chức năng quản lý hành chính nhà nước (thực hiện hoạt động chấp hành – điều hành) Và quản lý đối

Trang 31

23

với TSC trong các DNNN chính là một trong những nội dung của quản lý nhà nước Chính vì vậy, hệ thống bộ máy QLNN về TSC trong các DNNN được nghiên cứu tập trung trong luận văn cụ thể là hệ thống cơ quan hành chính nhà nước Mỗi cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền quản lý hành chính nhà nước khác nhau mang tính chuyên môn trong từng lĩnh vực cụ thể như các

Bộ, cơ quan ngang Bộ hoặc có chức năng quản lý hành chính nhà nước về những ngành, lĩnh vực trong phạm vi cả nước như Chính phủ

Theo đó, Chính phủ là cơ quan quản lý thống nhất về TSC nói chung và TSC trong các DNNN nói riêng

Bộ Tài chính là cơ quan đầu mối quản lý nhà nước về công sản với đơn vị chịu trách nhiệm chính là Cục quản lý Công sản

Ở cấp Trung ương, các bộ và cơ quan ngang bộ đều có bộ phận thực hiện chức năng quản lý TSC trong các DNNN nằm ở các phòng khác nhau (Phòng nghiệp vụ, Phòng Kế hoạch tài chính, Phòng Kế toán tài chính, Phòng Hành chính - Tổng hợp…) Thực ra, mô hình bộ chủ quản hiện tại mới bắt đầu từ năm 2012 với Nghị định 99/2012/NĐ-CP về phân công, phân cấp thực hiện các quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của chủ sở hữu đối với DNNN và vốn nhà nước đầu tư vào DN Trước đó, chức năng chủ sở hữu nhà nước đối với DNNN đã qua nhiều mô hình, như “bộ chủ quản, cơ quan hành chính chủ quản” (trước khi có Luật DNNN 1995); mô hình “song trùng” đại diện chủ hữu của bộ quản lý ngành và Bộ Tài chính (giai đoạn 1995-2000 khi lập Tổng cục Quản lý vốn và tài sản nhà nước tại các DN); mô hình “phân tán có giới hạn” đối với loại DNNN do bộ, UBND cấp tỉnh quyết định thành lập (giai đoạn 2000-2003 sau khi giải thể Tổng cục Quản lý vốn và tài sản nhà nước tại các DN) và mô hình “phân tán” đại diện chủ hữu đối với các DNNN (từ năm

2004 đến nay theo Luật DNNN năm 2003 và Luật DN năm 2005)

Trang 32

24

Ở cấp địa phương, UBND cấp tỉnh là cơ quan quản lý thống nhất về công sản trong phạm vi địa phương mình UBND cấp tỉnh giao cho Sở Tài chính chịu trách nhiệm với bộ phận giúp việc là Phòng Quản lý công sản hoặc Phòng Quản

lý giá - Công sản hoặc cũng có địa phương là Phòng Hành chính sự nghiệp trực thuộc Sở Tài chính Từ đầu thập niên 2000, với tiến trình cải cách DNNN (tạm gọi là giai đoạn 3), chúng ta đã xóa bỏ chức năng quản lý DNNN trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh ở hầu hết địa phương, chỉ còn lại vài nơi như

Hà Nội, TPHCM nên cơ chế chủ quản DNNN cơ bản chỉ còn lại chủ yếu ở cấp chính quyền Trung ương

Các cơ quan trong bộ máy tổ chức quản lý TSC có trách nhiệm sau đây:

- Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về tài sản công: Ban hành theo thẩm quyền và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về quản lý tài sản công; Phân cấp đầu tư xây dựng, mua sắm, thuê và sửa chữa, bảo dưỡng, điều chuyển, thu hồi, thanh lý tài sản công; Hàng năm, báo cáo Quốc hội về tình hình quản lý tài sản công

- Bộ Tài chính chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với tài sản công và có nhiệm vụ sau: Trình Thủ tướng Chính phủ quy định và nguyên tắc mua sắm tài sản công; tiêu chuẩn, định mức

sử dụng tài sản công; Trình Trình Thủ tướng Chính phủ quyết định hoặc quyết định theo thẩm quyền việc mua sắm, điều chuyển, thanh lý đối với tài sản công theo quy định của pháp luật; Tổ chức thực hiện công tác quản lý tài sản công; Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về quản lý tài sản công

Các bộ, cơ quan ngang bộ có trách nhiệm sau đây: Chủ trì phối hợp với

Bộ Tài chính trong việc ban hành tiêu chuẩn, định mức, chế độ quản lý tài sản chuyên dùng; Quyết định đầu tư xây dựng, mua sắm, thuê, sửa chữa, điều chuyển, thu hồi, thanh lý… tài sản nhà nước; Kiểm tra, thanh tra, giải quyết

Trang 33

tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về quản lý tài sản công

Ngoài hệ thống cơ quan có chức năng quản lý nhà nước nêu trên về tài sản công trong các DNNN, xuất phát từ đặc thù của lĩnh vực này không thể không nhắc đến vai trò cũng như mô hình quản lý vốn của Tổng Công ty đầu

từ và kinh doanh vốn nhà nước

Tổng Công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước được thành lập theo

Quyết định số 151/2005/QĐ-TTg ngày 20/6/2005 của Thủ tướng Chính phủ Với tư cách là tổ chức chuyên quản lý, đầu tư và kinh doanh vốn của Chính phủ Việt Nam, sự ra đời của SCIC nằm trong tiến trình cải cách kinh tế nói chung và cải cách doanh nghiệp nhà nước nói riêng nhằm nâng cao hiệu quả

sử dụng nguồn vốn của nhà nước tại doanh nghiệp SCIC thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại các doanh nghiệp, thực hiện đầu tư tài chính, kinh doanh vốn theo những nguyên tắc, quy luật thị trường

Ngày 30/6/2010, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 992/QĐ-TTg về việc chuyển Tổng Công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ

sở hữu

Ngày 01/11/2013, Chính phủ ban hành Nghị định số 151/2013/NĐ-CP

về chức năng, nhiệm vụ và cơ chế hoạt động của Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước Tổng công ty hoạt động dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ Trong đó chức năng, nhiệm vụ của Tổng Công ty bao gồm:

Trang 34

- Thực hiện một số nhiệm vụ liên quan đến Quỹ Hỗ trợ sắp xếp và phát triển doanh nghiệp theo quy định của pháp luật

Và các nhiệm vụ khác theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ

1.2.2.2 Hệ thống quy định pháp luật về quản lý nhà nước đối với tài sản công trong các doanh nghiệp nhà nước

Để tiến hành hoạt động quản lý nhà nước, các cơ quan nhà nước sử dụng rất nhiều công cụ khác nhau như: kế hoạch, chính sách, pháp luật Trong đó pháp luật là một công cụ quan trọng nhất của quản lý nhà nước

Cũng như pháp luật nói chung, hệ thống quy định pháp luật về QLNN đối với TSC trong các DNNN do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và bảo đảm thực hiện, do đó các quy tắc xử sự đó có tính bắt buộc

Trang 35

27

chung, dựa vào sức mạnh cưỡng chế, quyền lực nhà nước Việc thiết lập căn

cứ về quản lý TSC tại DNNN là việc làm cần thiết nhằm tạo cơ sở giúp các đơn vị được giao vốn thực hiện quản lý vốn được giao và giúp các cơ quan kiểm tra, giám sát thực hiện nhiệm vụ giám sát của mình Hình thức biểu hiện

cụ thể của nội dung này là việc xây dựng hệ thống văn bản pháp luật Khác với cách thức quản lý doanh nghiệp trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, trong nền kinh tế thị trường có sự điều tiết, Nhà nước quản lý doanh nghiệp một cách gián tiếp theo nguyên tắc: Nhà nước điều chỉnh thị trường, thị trường điều chỉnh doanh nghiệp Nhà nước ban hành khung pháp lý nhằm định hướng, điều chỉnh, quản lý sự phát triển của các DN nói chung và DNNN nói riêng theo mục tiêu của Nhà nước và giúp doanh nghiệp tự chủ trong hoạt động sản xuất kinh doanh Đồng thời Nhà nước tạo hành lang pháp

lý thông thoáng, bình đẳng và môi trường kinh doanh vừa thuận lợi, vừa đòi hỏi hiệu quả kinh tế cao để các doanh nghiệp hoạt động

Thể chế quản lý TSC tại các DNNN là một bộ phận quan trọng trong chính sách tài chính đối với doanh nghiệp nói riêng và hệ thống các chính sách tài chính nói chung Việc xây dựng được một khung pháp lý quản lý TSC đúng đắn sẽ kích thích sự chuyển dịch các luồng giá trị trong nền kinh tế quốc dân theo hướng duy động mọi nguồn vốn vào đầu tư phát triển sản xuất, tăng khả năng tích tụ và tập trung vốn ở doanh nghiệp, nhờ đó tăng quy mô và tốc độ phát triển sản xuất kinh doanh, tăng nguồn thu vào ngân sách nhà nước Nguồn thu vào ngân sách nhà nước càng nhiều thì Chính phủ càng có khả năng tài chính để tăng quy mô đầu tư vốn, phát triển các quỹ tài trợ cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; kế đó, quy mô đầu tư và tài trợ từ ngân sách đối với doanh nghiệp càng lớn thì nó sẽ kích thích mạnh mẽ hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế, và qua đó Chính phủ còn thực hiện được yêu cầu điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế theo định hướng đã đề ra

Trang 36

28

Nghiên cứu về hệ thống quy định pháp luật về quản lý nhà nước đối với tài sản công trong các DNNN có thể phân loại theo những tiêu chí sau:

Căn cứ theo chủ thể ban hành,chúng ta có:

- Pháp luật do các cơ quan quyền lực nhà nước ban hành Ví dụ như: Hiến pháp, Luật Doanh nghiệp, Luật Quản lý và sử dụng tài sản nhà nước

- Pháp luật do các cơ quan hành chính nhà nước ban hành Ví dụ như : Nghị định, Quyết định, Thông tư

Căn cứ vào hệ thống các quy định pháp luật đối với TSC trong các DNNN hiện nay chúng ta có chia thành những nội dung cơ bản về quản lý tài sản công trong các DNNN như sau:

(1) Hệ thống quy định pháp lý về phân công, phân cấp trong quản lý TSC trong các DNNN

Các quy định về cơ chế phân công, phân cấp cho Thủ tướng Chính phủ

và các bộ, ngành thực hiện quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước; quy định quyền, trách nhiệm của Chính phủ trong việc ban hành các cơ chế, chính sách; quy định quyền, trách nhiệm của Thủ tướng Chính phủ, cơ quan đại diện chủ sở hữu, Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty, Kiểm soát viên

Bên cạnh đó, cơ chế người đại diện trực tiếp thực hiện quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp; Luật quy định tiêu chuẩn, cử người đại diện; quy định quyền, trách nhiệm, tiền lương, thù lao, tiền thưởng

và quyền lợi khác của người đại diện phần vốn nhà nước, người đại diện phần vốn của doanh nghiệp

(2) Hệ thống quy định về quản lý, sử dụng vốn, tài sản tại doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, gồm 14 Điều (Từ Điều 22 đến Điều 35 Luật DN 2014) Nội dung bao gồm: Vốn điều lệ; huy động vốn; đầu tư, xây dựng, mua, bán tài sản cố định; các nguyên tắc quản lý, sử dụng tài sản cố định, nợ phải thu, nợ phải trả; quy định việc đầu tư vốn ra ngoài

Trang 37

29

doanh nghiệp, đầu tư vốn của doanh nghiệp ra nước ngoài, chuyển nhượng vốn đầu tư ra ngoài doanh nghiệp; quy định nguyên tắc phân phối lợi nhuận

sau thuế của doanh nghiệp và quy định việc bảo toàn vốn của doanh nghiệp

Ngày 06/10/2015, Chính phủ ban hành Nghị định 91/2015/NĐ-CP về đầu tư vốn Nhà nước vào doanh nghiệp và quản lý, sử dụng vốn, tài sản tại doanh nghiệp Nghị định này quy định việc đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp; quản lý tài chính đối với Doanh nghiệp Nhà nước và quản lý vốn Nhà nước đầu tư tại các công ty cổ phần, công ty TNHH 2 thành viên trở lên

Mở rộng phạm vi đầu tư thành lập doanh nghiệp 100% vốn nhà nước

để thực hiện các chức năng đầu tư kinh doanh vốn nhà nước, mua bán

và xử lý nợ phục vụ tái cơ cấu nền kinh tế (khoản 3 Điều 5)

Việc đầu tư bổ sung vốn điều lệ nay chỉ còn áp dụng với các doanh nghiệp nhà nước được đánh giá là hoạt động có hiệu quả (khoản 2 Điều 7)

Công ty mẹ nhà nước được bảo lãnh vay vốn đối với các Công ty con

có tình hình tài chính lành mạnh và không có các khoản nợ quá hạn (khoản 5 Điều 20)…

(3) Quy định pháp lý về cơ chế giám sát, kiểm tra hoạt động của doanh nghiệp nhà nước

Là một loại hình doanh nghiệp nên doanh nghiệp nhà nước cũng có những đặc điểm như các loại hình doanh nghiệp khác về tư cách pháp nhân,

về điều kiện và mục đích kinh doanh Tuy nhiên, khác với các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế khác, doanh nghiệp nhà nước là các tổ chức kinh tế thuộc sở hữu nhà nước Vì vậy để thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước và bảo vệ lợi ích của mình với tư cách là chủ sở hữu Nhà nước cần thiết phải thực hiện hoạt động giám sát Giám sát sử dụng vốn nhà nước là một nội dung quan trọng của hoạt động giám sát tài chính-một bộ phận của giám sát doanh nghiệp nhà nước, đó là việc theo dõi kiểm tra của chủ thể quản lý đối với

Trang 38

30

khách thể quản lý nhằm hướng các hoạt động của khách thể quản lý theo đúng mục tiêu mà chủ thể quản lý đã lựa chọn, phủ hợp với quy chế pháp luật hiện hành Giám sát sử dụng vốn nhà nước vừa là yêu cầu khách quan, vừa xuất phát từ chức năng quản lý nhà nước với doanh nghiệp, vừa do yêu cầu bảo vệ lợi ích của nhà nước với tư cách là chủ sở hữu Các đơn vị quản

lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp thực hiện vai trò quản lý nhà nước thông qua giám sát Việc giám sát nhằm đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh, hiệu quả sự dụng vốn và khả năng thanh toán nợ đối với từng doanh nghiệp

để xem xét quyết định việc tăng thêm hoặc giảm bớt số vốn đầu tư vào doanh nghiệp, xếp loại doanh nghiệp và quyết định thưởng phạt đối với người quản lý và điều hành doanh nghiệp hoặc sắp xếp lại doanh nghiệp Ngoài ra, giám sát doanh nghiệp còn để đánh giá việc chấp hành các văn bản quy phạm pháp luật, chế độ tài chính, chuẩn mực kế toán hiện hành và đánh giá tổng thể về tình hình hoạt động sản xuất kinh đoanh của doanh nghiệp để phục vụ cho việc ban hành, hoàn thiện các chính sách vĩ mô và chế độ đối với doanh nghiệp trong từng ngành, từng lĩnh vực, thực hiện sự hỗ trợ đối với trường hợp cần hỗ trợ của nhà nước nhằm khắc phục những khó khăn tạm thời và phát triển doanh nghiệp

Từ Điều 55 đến Điều 58 Luật DN 2014, quy định về: Giám sát của Quốc hội; Kiểm tra, thanh tra của Chính phủ; Giám sát, kiểm tra, thanh tra của cơ quan đại diện chủ sở hữu; Giám sát nội bộ của doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ Việc giám sát này được quy định cụ thể cho các cấp, từ cấp Quốc hội cho đến đại diện chủ sở hữu, cơ quan quản lý nhà

nước, DN và cả người dân Theo đó, nội dung giám sát đối với Doanh nghiệp

nhà nước bao gồm:

Giát sát việc bảo toàn và phát triển vốn

Giám sát việc quản lý, sử dụng vốn và tài sản nhà nước tại Doanh nghiệp

Trang 39

31

Giám sát kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp Giám sát chấp hành pháp luật về đầu tư, quản lý và sử dụng vốn nhà nước tại Doanh nghiệp; ban hành và thực hiện quy chế quản lý tài chính của Doanh nghiệp

Giám sát việc cơ cấu lại vốn nhà nước đầu tư tại Doanh nghiệp, cơ cấu lại vốn của Doanh nghiệp đầu tư tại công ty con, công ty liên kết

Giám sát thực hiện chế độ tiền lương, thù lao, tiền thưởng, phụ cấp trách nhiệm và quyền lợi khác đối với người lao động, người quản lý Doanh nghiệp, Kiểm soát viên, người đại diện phần vốn của Doanh nghiệp theo quy định của Bộ luật Lao động Theo đó, để đảm bảo sự giám sát, Chính phủ ban hành Nghị định 81/2015/NĐ-CP về Công bố thông tin của Doanh nghiệp

Nhà nước Cụ thể, các thông tin doanh nghiệp nhà nước phải công bố định

kỳ gồm:

Chiến lược phát triển của doanh nghiệp;

Kế hoạch sản xuất kinh doanh và đầu tư phát triển năm năm của doanh nghiệp;

Kế hoạch sản xuất kinh doanh và đầu tư phát triển hàng năm của doanh nghiệp;

Báo cáo đánh giá về kết quả thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh hàng năm và ba năm gần nhất tính đến năm báo cáo;

Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện các nhiệm vụ công ích và trách nhiệm xã hội khác (nếu có);

Báo cáo tình hình thực hiện sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp hàng năm; Báo cáo thực trạng quản trị và cơ cấu tổ chức doanh nghiệp;

Báo cáo tài chính sáu tháng và báo cáo tài chính năm của doanh nghiệp;

Báo cáo chế độ tiền lương, tiền thưởng của doanh nghiệp

Trang 40

32

1.3 Thể chể quản lý nhà nước đối với tài sản công trong các doanh nghiệp nhà nước ở một số quốc gia trên thế giới và giá trị tham khảo đối với Việt Nam

1.3.1 Kinh nghiệp một số quốc gia trên thế giới

Trên thế giới quản lý TSC tại DN nói riêng và quản lý DNNN nói chung rất được chú trọng Mỗi nước có cách quản lý, giám sát riêng Đồng thời, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế - văn hóa xã hội mỗi quốc gia cũng có mô hình hình bộ máy quản lý nhà nước đối với tài sản công trong các DNNN khác nhau Tuy nhiên, các quốc gia chủ yếu vẫn thông qua các đầu mối là cơ quan chức năng có thẩm quyền (bộ, đơn vị thuộc bộ, cơ quan ngang bộ) và có sự tách bạch giữa chức năng quản lý nhà nước và chức năng chủ sở hữu [11]

Trung Quốc

Chính phủ Trung Quốc xây dựng mô hình quản lý tài sản nhà nước tập trung thông qua việc thiết lập hệ thống Ủy ban Quản lý và Giám sát tài sản nhà nước (SASAC) ở cả cấp Trung ương và các địa phương

SASAC được thành lập tháng 3/2003 với tư cách là cơ quan cấp bộ đặc biệt thuộc Chính phủ Trung Quốc Nhiệm vụ chính của SASAC vừa là đại diện chủ sở hữu của các DNNN, hoặc cổ đông nhà nước của các doanh nghiệp có vốn nhà nước, vừa giám sát để giải quyết các vấn đề trong hoạt động hàng ngày tại các DNNN, tập đoàn kinh tế nhà nước trên 3 lĩnh vực: giám sát về nhân sự chủ chốt, giám sát các vấn đề trọng yếu của doanh nghiệp

và giám sát tài sản nhà nước tại doanh nghiệp Hiện tại, SASAC có khoảng

600 cán bộ theo dõi 146 tập đoàn kinh tế và các tổng công ty

Tuy nhiên, thực tế hoạt động của SASAC đã bộc lộ nhiều điểm hạn chế Do là một cơ quan hành chính thực hiện việc quản lý doanh nghiệp, mô hình vận hành của SASAC không tuân theo cơ chế thị trường nên đã dẫn đến không ít những hạn chế về hiệu quả quản trị doanh nghiệp SASAC không có

Ngày đăng: 28/06/2017, 09:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Phạm Thị Hồng Đào , Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước và những vấn đề cần hoàn thiện, Tạp chí Tổ chức nhà nước số ra ngày 06/12/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước và những vấn đề cần hoàn thiện
5. TS.Trần Tiến Cường, Đầu tư và sử dụng vốn nhà nước trong các tập đoàn kinh tế nhà nước - thực trạng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật, http://www.vnep.org.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu tư và sử dụng vốn nhà nước trong các tập đoàn kinh tế nhà nước - thực trạng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật
7. Học viện Hành chính (2008), Giáo trình “Hành chính công”, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình “Hành chính công”
Tác giả: Học viện Hành chính
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2008
8. Nguyễn Quang Hạnh, Kinh nghiệm của quốc tế về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước, Nxb Lao Động, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm của quốc tế về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước
Nhà XB: Nxb Lao Động
10. Ths.Lê Na, Luật Doanh nghiệp năm 2014 và vấn đề bình đẳng giữa doanh nghiệp nhà nước với các loại hình doanh nghiệp khác, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, www.tcdcpl.moj.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Doanh nghiệp năm 2014 và vấn đề bình đẳng giữa doanh nghiệp nhà nước với các loại hình doanh nghiệp khác
11. TS. Huy Nguyên, Kinh nghiệm các nước về mô hình quản vốn nhà nước, http://www.scic.vn/index.php/tuy-n-d-ng/57-pressrelease/press-reference/780-tin-tham-khao-1.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm các nước về mô hình quản vốn nhà nước
12. Ngô Quang Minh (2001), Kinh tế nhà nước và quá trình đổi mới DNNN , Nxb Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế nhà nước và quá trình đổi mới DNNN
Tác giả: Ngô Quang Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
13. Luật gia Trần Minh Sơn, Quản lý tài sản nhà nước tại doanh nghiệp, Thời báo kinh tế Sài Gòn online, Thứ Sáu, 11/3/2011, 15:29 (GMT+7) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý tài sản nhà nước tại doanh nghiệp, Thời báo kinh tế Sài Gòn online
14. Ths. Nguyễn Văn Tuấn, Quản lý tài sản công ở nước ta hiện nay: thực trạng và giải pháp, Tạp chí Lý luận chính trị và Truyền thông số tháng 7/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý tài sản công ở nước ta hiện nay: thực trạng và giải pháp
15. Viện Ngôn ngữ học (2002), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Viện Ngôn ngữ học
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2002
16. Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương, Đinh Văn Ân, Võ Trí Thành, Thể chế - cải cách thể chế và phát triển, Lý luận và thực tiễn ở nước ngoài và Việt Nam, Nxb Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thể chế - cải cách thể chế và phát triển, Lý luận và thực tiễn ở nước ngoài và Việt Nam
Nhà XB: Nxb Thống kê
17. ThS. Phạm Thị Tường Vân và nhóm nghiên cứu, Đầu tư vốn nhà nước vào DN: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam, Tài chính Việt Nam 2013- 2014, NXB Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu tư vốn nhà nước vào DN: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam
Nhà XB: NXB Tài chính
18. Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương - “Tái cơ cấu và cải cách DNNN” số 7/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: - “Tái cơ cấu và cải cách DNNN
1. Ths Nguyễn Thái Bình,Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam: đặc điểm, vai trò và xu hướng phát triển Khác
2. Bộ Kế hoạch và đầu tư (2016), Tờ trình Về dự thảo Nghị định của Chính phủ về thực hiện các quyền và trách nhiệm của cơ quan đại diện chủ sở hữu nhà nước Khác
3. Bộ Tài chính, Báo cáo tóm tắt quản lý, sử dụng tài sản nhà nước và một số kinh nghiệm quốc tế Khác
6. Trần Tiến Cường và Nguyễn Cảnh Nam (2011), Báo cáo về thí điểm Tập đoàn kinh tế nhà nước Khác
19. UNIDO 2013, Báo cáo kinh nghiệm quốc tế về quản lý vốn Nhà nước Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w