LỜI CẢM ƠN Trong quá trình thực hiện đề tài: “Hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp tại Chi cục Thuế huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ”, tôi đã nhận được sự hướng
Trang 1–––––––––––––––––––––––––
ĐỖ TRỌNG NAM
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC THANH TRA,
KIỂM TRA THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TẠI CHI CỤC THUẾ HUYỆN TÂN SƠN, TỈNH PHÚ THỌ
LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 2–––––––––––––––––––––––––
ĐỖ TRỌNG NAM
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC THANH TRA,
KIỂM TRA THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TẠI CHI CỤC THUẾ HUYỆN TÂN SƠN, TỈNH PHÚ THỌ
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Những số liệu, thông tin và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực
và chưa được sử dụng để bảo vệ bất cứ một luận văn nào Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được ghi rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, tháng 3 năm 2017
Tác giả
Đỗ Trọng Nam
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài: “Hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm
tra thuế đối với doanh nghiệp tại Chi cục Thuế huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ”, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ, động viên của nhiều cá nhân
và tập thể Tôi xin được bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc nhất tới tất cả các cá nhân
và tập thể đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong học tập và nghiên cứu
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo, các khoa, phòng của Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh - Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi về mọi mặt trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của giáo viên hướng dẫn
TS Phạm Văn Hạnh
Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ, đóng góp nhiều ý kiến quý báu của các nhà khoa học, các thầy, cô giáo trong Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh - Đại học Thái Nguyên
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi còn được sự giúp đỡ và cộng tác của các đồng chí tại các địa điểm nghiên cứu, tôi xin chân thành cảm ơn các bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã tạo điều kiện mọi mặt để tôi hoàn thành nghiên cứu này
Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc đối với mọi sự giúp đỡ quý báu đó
Thái Nguyên, tháng 3 năm 2017
Tác giả
Đỗ Trọng Nam
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC CÁC HÌNH ix
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Ý nghĩa khoa học của luận văn 3
5 Kết cấu của luận văn 4
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THANH TRA, KIỂM TRA THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP 5
1.1 Cơ sở lý luâ ̣n về thuế và thanh tra, kiểm tra thuế 5
1.1.1 Khái quát về thuế 5
1.1.2 Một số vấn đề cơ bản về thanh tra, kiểm tra thuế 7
1.1.3.Các hình thức thanh tra, kiểm tra thuế 16
1.1.4.Nội dung của công tác thanh tra, kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp 17
1.1.5.Các yếu tố ảnh hưởng đến côn tác thanh tra, kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp 21
1.2 Cơ sở thực tiễn 24
1.2.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra thuế 24
1.2.2 Kinh nghiệm của một số địa phương về thanh tra, kiểm tra thuế 25
1.2.3 Bài học kinh nghiệm đối với Chi cục Thuế huyện Tân Sơn 28
Trang 6Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.1 Câu hỏi nghiên cứu 30
2.2 Phương pháp nghiên cứu 30
2.2.1 Phương pháp điều tra, thu thâ ̣p số liệu thông tin 30
2.2.2 Phương pháp tổng hợp thông tin 31
2.2.3 Phương pháp phân tích thông tin 31
2.3 Hệ thố ng chỉ tiêu nghiên cứu 31
2.3.1 Chỉ tiêu phản ánh việc lập kế hoạch thanh tra, kiểm tra thuế 31
2.3.2 Chỉ tiêu phản ánh công tác tổ chức thực hiện thanh tra, kiểm tra thuế 32
2.3.3 Chỉ tiêu phản ánh việc thực hiện kế hoạch thanh tra, kiểm tra thuế 32
2.3.4 Chỉ tiêu phản ánh kết quả thanh tra, kiểm tra thuế 32
Chương 3: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THANH TRA, KIỂM TRA THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TẠI CHI CỤC THUẾ HUYỆN TÂN SƠN TỈNH PHÚ THỌ 34
3.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu 34
3.2 Đặc điểm của Chi cục Thuế huyện Tân Sơn và các doanh nghiệp trên địa bàn huyện 36
3.2.1 Đặc điểm của Chi cục Thuế huyện Tân Sơn 36
3.2.1.1.Bộ máy tổ chức của Chi cục Thuế huyện Tân Sơn 36
3.2.2.Tình hình chung của các doanh nghiệp trên địa bàn huyên Tân Sơn 41
3.3 Thực trạng thanh tra, kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp tại Chi cục Thuế huyện Tân Sơn giai đoạn 2014-2016 43
3.3.1.Công tác lập kế hoạch thanh tra, kiểm tra thuế 43
3.3.2 Triển khai thực hiện thanh tra, kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp 47
3.3.3.Công tác kiểm tra, giám sát hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế 54
3.3.4 Đánh giá hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế của Chi cục Thuế huyện Tân Sơn đối với các doanh nghiệp qua kết quả điều tra 55
Trang 73.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế đối với
doanh nghiệp tai Chi cục Thuế huyện Tân Sơn 59
3.4.1 Các yếu tố chủ quan 59
3.4.2.Các yếu tố khách quan 60
3.5 Đánh giá về thanh tra, kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp tại Chi cục Thuế huyện Tân Sơn 61
3.5.1 Những kết quả đạt được 61
3.5.2 Hạn chế, nguyên nhân 63
Chương 4: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC THANH TRA, KIỂM TRA THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TẠI CHI CỤC THUẾ HUYỆN TÂN SƠN, TỈNH PHÚ THỌ 70
4.1 Mục tiêu và định hướng tăng cường quản lý thuế đối với doanh nghiệp tại Chi cục Thuế huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ 70
4.1.1 Mục tiêu tăng cường quản lý thuế tại Chi cục Thuế huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ 70
4.1.2 Định hướng tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp tại Chi cục Thuế huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ 71
4.2 Giải pháp hoàn thiện thanh tra, kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp tại Chi cục Thuế huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ 73
4.2.1 Tiếp tục phát triển về số lượng, chất lượng nguồn nhân lực phục hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế 73
4.2.2 Phát triển hệ thống dữ liệu phục vụ hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế 76
4.2.3.Phát triển mở rộng các kỹ năng thanh tra, kiểm tra thuế 77
4.2.4 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế 79
4.2.5 Tăng cường sự phối hợp giữa các bộ phận trong chi cục thuế huyện Tân Sơn 80
4.2.6 Tăng cường sự phối hợp giữa cơ quan thuế với cơ quan khác trong hoạt động thanh tra, kiểm tra đối với doanh nghiệp 81
Trang 84.2.7 Hoàn thiện cơ sở vật chất và các điều kiện cần thiết khác phục vụ
hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế 82
4.2.8 Các nhóm giải pháp khác 82
4.3 Kiến nghị 83
4.3.1 Kiến nghị với Bộ tài chính và Tổng cục thuế 83
4.3.2 Đối với Cục thuế tỉnh Phú Thọ 87
4.3.3.Kiến nghị với Ủy ban nhân dân huyện Tân Sơn 87
KẾT LUẬN 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
PHỤ LỤC 92
Trang 9DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CBCC : Cán bộ công chức CNTT : Công nghệ thông tin
NNT : Người nộp thuế NSNN : Ngân sách nhà nước SXKD : Sản xuất kinh doanh TNDN : Thu nhập doanh nghiệp TNHH : Trách nhiệm hữu hạn
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Tình hình cán bộ thanh tra, kiểm tra thuếtại chi Cục thuế huyện
Tân Sơn 40 Bảng 3.2 Số lượng doanh nghiệp trên địa bàn huyện Tân Sơn giai đoạn
2014 - 2016 41 Bảng 3.3 Phân bổ các doanh nghiệp theo lĩnh vực hoạt động trên địa bàn
huyện Tân Sơn giai đoạn 2014-2016 42 Bảng 3.4 Số doanh nghiệp phải thanh tra, kiểm tra hồ sơ thuế tại huyện
Tân Sơn giai đoạn 2014-2016 45 Bảng 3.5 Kế hoạch thanh tra, kiểm tra các doanh nghiệp giai đoạn 2014 -
2016 của Chi cục Thuế huyện Tân Sơn 46 Bảng 3.6 Xử lý qua kiểm tra hồ sơ khai thuế tại trụ sở cơ quan thuế đối
với doanh nghiệp 47 Bảng 3.7 Kết quả hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế tại Chi cục Thuế
huyện Tân Sơn giai đoạn 2014-2016 49 Bảng 3.8 Xử phạt đối với hành vi vi phạm thủ tục thuế giai đoạn
2014-2016 50 Bảng 3.9 Xử phạt đối với hành vi chậm nộp thuế giai đoạn 2014-2016 51 Bảng 3.10 Tổng hợp các ý kiến của cán bộ thuế về chấp hành pháp luật
thuế của các doanh nghiệp trên địa bàn huyện Tân Sơn 55 Bảng 3.11 Tổng hợp các ý kiến của cán bộ thuế về công tác thanh tra,
kiểm tra thuế tại Chi cục Thuế huyện Tân Sơn 56 Bảng 3.12 Tổng hợp các ý kiến của các doanh nghiệp về công tác thanh
tra, kiểm tra thuế tại Chi cục Thuế huyện Tân Sơn 58
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy Chi cục Thuế huyện Tân Sơn 37
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền KTTT chúng ta phải giải quyết vấn để cơ bản của nền kinh
tế là sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào, sản xuất cho ai là phát kiến vĩ đại của nhân loại, cơ chế thị trường thông qua những yếu tố của nó đã tạo ra động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, kích thích tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng hiệu quả, thúc đẩy quá trình xã hội hoá sản xuất, đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung hoá sản xuất
Bên cạnh những ưu điểm đó, cơ chế thị trường có nhược điểm là gây cho
xã hội những lãng phí về lao động, tài nguyên, vốn dẫn đến độc quyền thủ tiêu cạnh tranh Với cơ chế phân phối qua thị trường thường khoét sâu hố ngăn cách giữa người giầu và người nghèo, tạo sự bất ổn định về kinh tế xã hội
Từ những ưu, nhược điểm đó cần thiết phải có sự can thiệp của Nhà nước vào quá trình kinh tế - xã hội để phát huy những mặt tích cực của cơ chế thị trường và hạn chế tối đa những nhược điểm của chúng Để quản lý, điều hành vĩ mô nền kinh tế xã hội, Nhà nước sử dụng nhiều công cụ như: Kế hoạch hoá, pháp luật, các chính sách tài chính tiền tệ vv Trong các công cụ trên thì chính sách tài chính tiền tệ đóng vai trò quan trọng nhất và Thuế là một công cụ quan trọng trong chính sách tài chính tiền tệ, thuế được Nhà nước sử dụng để thực hiện vai trò quản lý vĩ mô kinh tế xã hội
Thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN, là công cụ góp phần điều chỉnh các mục tiêu kinh tế vĩ mô của Nhà nước Do vậy, nộp thuế được coi là nghĩa
vụ và trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân để Nhà nước thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình vào hoạt động xây dựng và phát triển chung đất nước
Vấn đề hiện nay là cần phải tổ chức quản lý thu thuế tốt theo quan điểm
“Thu đúng, thu đủ, thu kịp thời vào NSNN”; Bên cạnh đó, việc nuôi dưỡng nguồn thu cũng hết sức quan trọng Từ đó đòi hỏi ngành thuế phải có những
Trang 13chính sách phù hợp với tình hình phát triển về kinh tế - xã hội của đất nước, quan tâm hướng dẫn các tổ chức cá nhân nắm bắt kịp thời chính sách pháp luật thuế Đồng thời quản lý chặt chẽ, rà soát mọi lĩnh vực, nhằm khai thác nguồn thu, chống thất thu nhất là ở những ngành, những lĩnh vực có số thu chưa tương ứng với sự phát triển của ngành, của lĩnh vực đó Do vậy, khai thác nguồn thu, chống thất thu thuế, tăng cường quản lý thuế, thanh tra, kiểm tra thuế chặt chẽ, kịp thời từ các nguồn thông tin, dữ liệu về NNT, hồ sơ khai thuế đến nắm bắt kịp thời đặc thù, tình hình hoạt động sản xuất, kinh doanh của NNT, đó là nhiệm vụ của cán bộ thuế
Thanh tra, kiểm tra thuế tại Chi cục Thuế huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ trong những năm qua đã có những đóng góp không nhỏ trong công tác quản
lý thuế, chống thất thu ngân sách trên địa bàn Chi cục Thuế huyện Tân Sơn
đã hoàn thành khá tốt nhiệm vụ thu ngân sách, tốc độ tăng trưởng năm sau luôn cao hơn năm trước Trong kết quả đó có phần đóng góp không nhỏ của thanh tra, kiểm tra thuế
Tuy nhiên thanh tra, kiểm tra thuế vẫn còn nhiều hạn chế thể hiện sự bất cập, chưa theo kịp với sự phát triển của thực tế Hệ thống chính sách thuế chưa đồng bộ, chưa có cơ cấu hợp lý phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Quy trình thanh kiểm tra thuế vẫn còn một số bất cập, nhất là việc lập kế hoạch chưa chính xác, không cân đối với nguồn lực hiện có, một số bước công việc quy định trong quy trình chưa chặt chẽ Thanh tra, kiểm tra thuế mới chỉ đơn thuần là công cụ tăng thu ngân sách Nhà nước, chưa mang tính hướng dẫn các doanh nghiệp Phía doanh nghiệp cũng còn hạn chế về hiểu biết pháp luật thanh tra, kiểm tra không ít doanh nghiệp có hiện tượng vi phạm pháp luật Nhất là doanh nghiệp nào có sai phạm nghiêm trọng lại càng sợ thanh tra, kiểm tra
Xuất phát từ tầm quan trọng của hoạt động thanh kiểm tra, quản lý thuế, để đánh giá đúng thực trạng và tìm ra được những giải pháp nhằm hoạt
Trang 14động thanh tra thuế của Chi cục Thuế huyện Tân Sơn, tôi đã lựa chọn nghiên
cứu đề tài: “Hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra thuế đối với doanh
nghiệp tại Chi cục Thuế huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ”
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1.Mục tiêu chung
Nghiên cứu hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp tại Chi cục Thuế huyện Tân Sơn, mục tiêu mà đề tài hướng đến là đề xuất các giải pháp hoàn thiện thanh tra, kiểm tra thuế tại Chi cục Thuế huyện Tân Sơn
2.2 Mu ̣c tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa được những vấn đề lý luận và thực tiễn về thanh kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp
- Đánh giá được thực trạng thanh tra, kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp tại Chi cục Thuế huyện Tân Sơn giai đoạn 2014-2016
- Đề xuất giải pháp phù hợp nhằm hoàn thiện thanh tra, kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp tại Chi cục Thuế huyện Tân Sơn trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp tại Chi cục Thuế huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Thời gian: Số liệu thu thập trong giai đoạn từ năm 2014 - 2016
- Không gian: Tại Chi cục Thuế huyện Tân Sơn tỉnh Phú Thọ
- Nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu công tác thanh kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp tại Chi cục Thuế huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ
4 Ý nghĩa khoa học của luận văn
Về mặt lý luận, đề tài đã hệ thống hóa một số vấn đề cơ bản về hoạt động thanh kiểm tra người nộp thuế
Trang 15Về ý nghĩa thực tiễn: Đề tài phân tích thực trạng thanh tra, kiểm tra thuế tại Chi cục Thuế huyên Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ Thông qua phân tích đã giúp nhận thức thanh tra, kiểm tra là một chức năng quan trọng trong công tác quản lý thuế Cần chú trọng xây dựng hệ thống thanh tra, kiểm tra trong phạm
vi cả nước, từ Tổng cục Thuế - Cục thuế - Chi cục Thuế và công tác phối hợp với cơ quan thanh tra, chính quyền địa phương, đảm bảo lực lượng thanh tra, kiểm tra ngày càng phải được tăng cường cả về số lượng và nâng cao chất lượng hơn nữa Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị có tính khả thi nhằm hoàn thiện thanh tra, kiểm tra tại Chi cục Thuế huyên Tân Sơn giai đoạn 2016-2020
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn được kết cấu gồm 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về thanh tra, kiểm tra thuế
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng công tác thanh tra, kiểm tra thuế đối với doanh
nghiệp tại Chi cục Thuế huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ
Chương 4: Giải pháp nhằm hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra đối
với doanh nghiệp tại Chi cục Thuế huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ
Trang 16Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THANH TRA,
KIỂM TRA THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP
1.1 Cơ sơ ̉ lý luâ ̣n về thuế và thanh tra, kiểm tra thuế
1.1.1 Khái quát về thuế
1.1.1.1.Khái niệm và đặc điểm của thuế
Ra đời và tồn tại cùng với Nhà nước, từ đó đến nay, thuế đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài và khái niệm về thuế cũng không ngừng được hoàn thiện
Theo các nhà kinh điển: “Thuế là cái mà Nhà nước thu của dân nhưng không bù lại” và “thuế cấu thành nên nguồn thu của Chính phủ, nó được lấy
ra từ sản phẩm của đất đai và lao động trong nước, xét cho cùng thì thuế được lấy ra từ tư bản hay thu nhập của người chịu thuế”
Trên góc độ người nộp thuế thì thuế được định nghĩa như sau: Thuế là khoản đóng góp bắt buộc mà mỗi tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nước theo Luật định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước, người đóng thuế được hưởng hợp pháp phần thu nhập còn lại
Để hiểu rõ bản chất của thuế, khi nghiên cứu khái niệm về thuế cần chú
ý các đặc điểm sau:
Thuế là khoản trích nộp bằng tiền
Về nguyên tắc, thuế là một khoản trích nộp dưới hình thức tiền tệ, điều này trái ngược với các hình thức thanh toán bằng hiện vật đã tồn tại trước đây
Sự phát triển của quan hệ hàng hoá - tiền tệ tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của thuế, đổi lại, nghĩa vụ của đối tượng nộp thuế được thực hiện bằng tiền lại góp phần thúc đẩy sự phát triển của kinh tế thị trường
Thuế là khoản trích nộp bắt buộc được thực hiện thông qua con đường quyền lực
Trang 17Dù được thực hiện dưới hình thức nào, thuế vẫn thể hiện tính chất bắt buộc, được thực hiện thông qua con đường quyền lực Nhà nước Do đó, đối tượng nộp thuế không có quyền trốn thuế hoặc mong muốn tự mình ấn định hay thoả thuận mức đóng góp của mình mà chỉ có quyền chấp thuận Những đối tượng nộp thuế vi phạm luật sẽ bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý
vi phạm hoặc cưỡng chế thi hành theo quy định của pháp luật để buộc họ phải làm tròn nghĩa vụ nộp thuế Đây là điểm khác biệt giữa thuế với các khoản đóng góp mang tính chất tự nguyện
Thuế là khoản thu có tính chất xác định
Thuế là khoản thu xác định của các tổ chức thụ hưởng, đó là Nhà nước, các cấp chính quyền địa phương Trái ngược với vay, thuế không được hoàn trả trực tiếp
Thuế là một khoản thu không có đối khoản cụ thể, không hoàn trả trực tiếp nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước trong việc thực hiện các chức năng
Khác với khoản vay, thuế không hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế
Sự không hoàn trả trực tiếp được thể hiện ở cả trước và sau khi thu thuế Trước khi thu thuế, Nhà nước không hề cung ứng trực tiếp một dịch vụ nào cho người nộp thuế Sau khi thu thuế, Nhà nước cũng không có sự bồi hoàn trực tiếp nào cho người nộp thuế Cũng như vậy, người nộp thuế không thể phản đối việc thực hiện nghĩa vụ thuế với lý do họ sử dụng ít các dịch vụ công cộng; họ cũng không có quyền đòi hỏi được hưởng nhiều dịch vụ công cộng hơn so với số thuế họ phải trả vì lý do này hay lý do khác; và họ cũng không thể từ chối nộp thuế với lý do họ đã phải thanh toán cho các khoản chi trái với nguyên tắc này
1.1.1.2 Vai trò của thuế trong nền kinh tế thị trường
Lịch sử phát triển của thuế đã chứng minh rằng, thuế có 3 vai trò cơ bản, đó là: đảm nguồn thu cho NSNN nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà
Trang 18nước; vai trò phân phối lại thu nhập và tài sản nhằm đảm bảo công bằng xã hội và vai trò điều tiết vĩ mô nền kinh tế
Như vậy, để phát huy được vai trò của thuế trong nền kinh tế, phải sử dụng thuế đúng với chức năng của nó Tuy nhiên, vai trò của thuế đối với nền kinh tế ở mỗi quốc gia không giống nhau mà tuỳ thuộc vào “nghệ thuật sử dụng” công cụ thuế của mỗi quốc gia đó Vấn đề có tính nguyên tắc là thuế phải luôn luôn phù hợp với mục tiêu, đường lối phát triển kinh tế - xã hội và
là công cụ đắc lực cho việc thực hiện đường lối, chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ nhất định Đó cũng là lý do mà các quốc gia phải thường xuyên rà soát mức độ phù hợp của hệ thống thuế với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mình thực hiện các cải cách thuế kịp thời nếu thấy cần thiết
1.1.2 Một số vấn đề cơ bản về thanh tra, kiểm tra thuế
1.1.2.1 Khái niệm cơ bản về thanh tra, kiểm tra thuế
*Kiểm tra thuế
Kiểm tra thuế là hoạt động của cơ quan thuế trong việc xem xét tình hình thực tế của đối tượng kiểm tra, từ đó đối chiếu với chức năng, nhiệm vụ, yêu cầu đặt ra đối với đối tượng kiểm tra để có những nhận xét, đánh giá về tình hình chấp hành nghĩa vụ thuế của đối tượng kiểm tra
Kiểm tra thuế là hoạt động của cơ quan thuế trong việc xem xét tình hình thực tế của đối tượng kiểm tra, từ đó đối chiếu với chức năng, nhiệm vụ, yêu cầu đặt ra đối với đối tượng kiểm tra để có những nhận xét, đánh giá về tình hình chấp hành nghĩa vụ thuế của đối tượng kiểm tra
* Thanh tra thuế
Theo Từ điển tiếng Việt “ Thanh tra là kiểm soát, xem xét tại chỗ việc làm của địa phương, cơ quan, xí nghiệp” Với nghĩa này, Thanh tra bao hàm nghĩa kiểm soát nhằm: “ xem xét và phát hiện ngăn chặn những gì trái với quy định”
Trang 19Theo Điều 6, Điều 7, Điều 8 - Nghị định số 07/2012/NĐ-CP ngày 09/02/2012 của Chính phủ: Cơ quan quản lý thuế là cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực thuế
Theo Giáo trình Nghiệp vụ (2008) của Trường Cán bộ Thanh tra:
“Thanh tra là một chức năng thiết yếu của quản lý Nhà nước, là hoạt động kiểm tra, xem xét, đánh giá, xử lý của cơ quan quản lý Nhà nước đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân; được thực hiện bởi một cơ quan chuyên trách theo một trình tự, thủ tục do pháp luật quy định nhằm phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật
để kiến nghị các biện pháp khắc phục; phát huy nhân tố tích cực, góp phần nâng cao hiệu quả, hiệu lực của hoạt động quản lý Nhà nước, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, các quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân”
Trên cơ sở phân tích các khái niệm về thanh tra đã nêu, chúng ta có thể
đưa ra khái niệm thanh tra thuế như sau: “Thanh tra thuế là hoạt động thanh tra chuyên ngành của cơ quan thuế trong việc thực hiện xem xét kê khai, nộp thuế, quyết toán thuế của cơ sở kinh doanh đảm bảo đúng quy định của pháp luật, trường hợp phát hiện giá mua, giá bán, chi phí kinh doanh và các yếu tố khác không hợp lý thì cơ quan thuế xác định lại để đảm bảo thu đúng, thu đủ thuế Xử lý vi phạm hành chính về thuế đối với hành vi vi phạm chính sách thuế của các tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật thuế Giải quyết khiếu nại về thuế, phát hiện những kẽ hở trong cơ chế, chính sách thuế, kiến nghị với Nhà nước hoàn thiện chính sách thuế nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người nộp thuế.”
Thanh tra là một hoạt động kiểm tra nên giữa thanh tra và kiểm tra có những điểm giống nhau Điểm giống nhau cơ bản của thanh tra và kiểm tra là chúng đều phải xem xét tình hình thực tế của đối tượng nhằm phát hiện, phân tích, đánh giá thực trạng tình hình, làm rõ đúng sai, chỉ rõ nguyên nhân để có
Trang 20biện pháp khắc phục Do vậy, giữa thanh tra và kiểm tra có thể có cùng nội dung hoặc phương pháp tiến hành trong những phạm vi công việc nhất định
Tuy nhiên, giữa kiểm tra và thanh tra có các điểm khác nhau cơ bản sau:
Thứ nhất, chủ thể của thanh tra không đồng nhất với đối tượng thanh
tra Chủ thể thanh tra là tổ chức thanh tra chuyên trách của Nhà nước; đối tượng thanh tra là đối tượng quản lý của Nhà nước Chủ thể của kiểm tra có thể đồng nhất, có thể không đồng nhất với đối tượng kiểm tra Chẳng hạn, khi đơn vị tự kiểm tra thì chủ thể và khách thể kiểm tra là một Chủ thể kiểm tra thuế có thể là cơ quan nhà nước, có thể không phải là cơ quan nhà nước
Thứ hai, tính chất của thanh tra là một hoạt động quyền lực của cơ quan
quản lý nhà nước Kiểm tra là hoạt động trung tính, có thể là hoạt động quyền lực quản lý nhà nước, mà có thể là hoạt động quản lý đơn thuần
Thứ ba, mục đích của thanh tra là phát hiện, ngăn chặn những hành vi trái
pháp luật Mục đích của kiểm tra là phát hiện những sai lệch của đối tượng kiểm tra để điều chỉnh và ngăn chặn những sai lệch ấy (sai lệch có thể là vi phạm pháp luật, có thể chỉ là không đúng kế hoạch, không đúng yêu cầu, )
Thứ tư, hoạt động kiểm tra có phạm vi hẹp hơn, diễn ra ở tất cả các
hoạt động kinh tế - xã hội trong khoảng thời gian nhất định hay tức thời và được thực hiện một cách thường xuyên liên tục Hoạt động thanh tra có phạm
vi rộng hơn vì hoạt động thanh tra là kiểm tra ở giai đoạn trong, trước sau khi các hoạt động kinh tế - xã hội đã phát sinh Hoạt động thanh tra phải giải quyết các “tồn đọng” trong quản lý, giải quyết các khiếu tố đối với các vi phạm của đối tượng kiểm tra
Thứ năm, về hình thức tổ chức: Để tiến hành hoạt động thanh tra phải
thành lập đoàn thanh tra, trong khi kiểm tra có thể phải thành lập đoàn kiểm tra, có thể chỉ do một người tiến hành, không nhất thiết phải thành lập đoàn
Trang 21Cũng có trường hợp cấp trên yêu cầu cấp dưới tự kiểm tra một hoặc một số nội dung và báo cáo kết quả bằng văn bản cho cấp trên
Công tác thanh tra và kiểm tra tuy có những điểm khác nhau song đều
là những hoạt động không thể thiếu trong công tác quản lý của Nhà nước Việc phân biệt thanh tra và kiểm tra không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn trong việc tổ chức, chỉ đạo, tránh sự chồng chéo, giảm bớt phiền hà cho các đối tượng được thanh tra, kiểm tra
1.1.2.2 Đặc điểm cơ bản của hoạt động thanh tra, kiểm tra đối tượng nộp thuế
Thanh tra, kiểm tra thuế là một lĩnh vực đặc thù với các đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, thanh tra, kiểm tra thuế có phạm vi rộng Đối tượng thanh
tra, kiểm tra là các tổ chức, cá nhân trong ngành Thuế, là đối tượng nộp thuế bao gồm mọi tổ chức và cá nhân trong xã hội thuộc phạm vi điều chỉnh của các Luật thuế
Thứ hai, thanh tra, kiểm tra thuế là công tác rất khó khăn, phức tạp vì
nó đụng chạm trực tiếp đến lợi ích kinh tế của đối tượng nộp thuế Để che giấu các hành vi trốn thuế nhằm bảo vệ lợi ích vật chất của mình, các đối tượng nộp thuế thường tìm mọi biện pháp cản trở, gây khó khăn cho công tác thanh tra, kiểm tra của cơ quan thuế
Thứ ba, thanh tra, kiểm tra thuế là công việc đòi hỏi rất cao về năng lực
chuyên môn và phẩm chất đạo đức của người cán bộ công chức làm việc trong lĩnh vực này Để xác định đúng đắn nghĩa vụ thuế của đối tượng thanh tra, đòi hỏi người công chức thuế không chỉ nắm chắc các Luật thuế mà còn phải nắm bắt được bản chất các hoạt động kinh tế của đối tượng thanh tra, tức
là người công chức thanh tra còn phải có sự am hiểu sâu rộng về kinh tế, giỏi
kế toán, sâu sắc trong tư duy lô gíc Đồng thời, người công chức thanh tra
Trang 22thuế cần phải có phẩm chất đạo đức tốt, bản lĩnh vững vàng vì thường xuyên phải làm việc trong môi trường có sự cám dỗ về vật chất
1.1.2.3.Mục đích của hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế
Hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế nhằm giúp các đối tượng nộp thuế
và cơ quan thuế thực hiện nghiêm chỉnh các văn bản pháp luật về công tác quản lý thu ngân đảm bảo nhiệm cụ chính trị của ngành
Thông qua công tác thanh tra, kiểm tra thuế nhằm đánh giá việc chấp hành các luật thuế của các đối tượng nộp thuế và người thu thuế nhằm phát huy nhân tố tích cực, đấu tranh ngăn ngừa và xử lý những mặt tiêu cực
Căn cứ vào những kiến nghị của kết quả thanh tra, kiểm tra thuế cơ quan thuế các cấp có thể đề ra các giải pháp cụ thể để thực hiện, đưa luật thuế vào cuộc sống thực tế, đảm bảo sự công bằng trong việc thực hiện luật thuế, đồng thời cải cách được các quy trình quản lý thu thuế ngày càng hợp lý hơn
Thông qua công tác thanh tra, kiểm tra thuế nhằm hướng dẫn, giúp đỡ đối tượng nộp thuế nắm được nghĩa vụ và quyền hạn của đơn vị khi thực hiện luật thuế; đồng thời nâng cao trách nhiệm của công chức ngành thuế khi thi hành công vụ
1.1.2.4 Vai trò của thanh kiểm tra thuế
Thanh kiểm tra thuế có vai trò rất quan trọng đối với công tác quản lý Nhà nước về thuế cụ thể:
- Thanh tra, kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp góp phần hoàn thiện cơ chế, chính sách pháp luật về thuế
Hệ thống thuế ở nước ta hiện nay bao gồm nhiều sắc thuế khác nhau Mỗi sắc thuế điều tiết đến một số đối tượng xã hội nhất định và có những phương pháp quản lý thu thuế khác nhau Về cơ bản mỗi sắc thuế khi được ban hành đều đã được nghiên cứu kỹ và chuẩn bị chu đáo nhưng do đặc điểm nền kinh tế nước ta đang ở thời kỳ chuyển đổi và hội nhập ngày càng sâu vào nền kinh tế thế giới nên không trách khỏi những khiếm khuyết, bất cập Chính
Trang 23vì vậy thanh tra, kiểm tra thuế là nơi cung cấp các căn cứ, các bằng chứng cụ thể phản ánh một cách chân thực, sống động các hoạt động diễn ra trong thực
tế, để phục vụ cho việc hoàn thiện, bổ sung phù hợp
- Thanh tra, kiểm tra thuế là phương tiện phòng ngừa, răn đe các hành vi vi phạm pháp luật thuế và tội phạm nảy sinh trong việc thực hiện pháp luật thuế
Hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế trên cơ sở phân tích thông tin, dữ liệu liên quan đến doanh nghiệp, đánh giá việc chấp hành pháp luật của doanh nghiệp, xác minh và thu thập chứng cứ để xác định hành vi vi phạm pháp luật
về thuế Theo đó, vừa phòng ngừa các hành vi phạm pháp luật thuế có thể xảy ra; vừa sử dụng các biện pháp chế tài bằng mệnh lệnh hoặc các quyết định hành chính nhằm xử lý và răn đe hành vi vi phạm pháp luật của doanh nghiệp
Việc kịp thời phát hiện, ngăn ngừa và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật thuế là biện pháp hữu hiệu nhất đối với việc phòng ngừa các loại tội phạm có thể phát sinh trong việc thực hiện pháp luật thuế
- Thanh tra, kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp có vai trò quan trọng đối với việc cải cách thủ tục hành chính thuế
Triển khai thực hiện pháp luật thuế, cũng đồng thời với việc triển khai thực hiện các thủ tục hành chính thuế Qua hoạt động hiện những doanh nghiệp thực hiện không đúng và không đủ các thủ tục để kịp thời chấn chỉnh Đồng thời phát hiện những khiếm khuyết, những thủ tục không phù hợp với thực tế để kiến nghị bổ sung hoàn thiện, nâng cao hiệu lực pháp luật thuế
1.1.2.5.Nguyên tắc thanh tra, kiểm tra thuế
Mục đích của thanh tra, kiểm tra thuế là phát huy nhân tố tích cực, ngăn ngừa, xử lý những sai phạm gây tổn thất tới lợi ích của Nhà nước, của nhân dân, của các doanh nghiệp, góp phần hoàn thiện chính sách thuế, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa Để đạt được mục đích trên, công tác thanh tra, kiểm tra thuế phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định Đó là các nguyên tắc sau:
Trang 24- Nguyên tắc tuân thủ pháp luật
Pháp luật thể hiện ý chí của Nhà nước, nguyện vọng và lợi ích của nhân dân Thanh tra, kiểm tra thuế là kiểm tra việc thực hiện pháp luật nên phải tuân thủ pháp luật Đây cũng là nguyên tắc cần thiết để đề cao trách nhiệm của chủ thể thanh tra, kiểm tra; nâng cao hiệu lực của công tác thanh tra, kiểm tra thuế; ngăn chặn tình trạng làm trái pháp luật, vô hiệu hoá hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế
Thực hiện đúng nguyên tắc này có nghĩa là các cơ quan và công chức làm công tác thanh tra, kiểm tra thuế phải thực hiện đúng chức năng, trách nhiệm, quyền hạn mà pháp luật quy định; xem xét sự đúng sai của đối tượng kiểm tra phải căn cứ vào quy định của pháp luật, không tuân theo ý kiến của bất cứ một cơ quan hoặc cá nhân nào Kết luận thanh tra, kiểm tra theo đúng quy định pháp luật và chịu trách nhiệm trước pháp luật
- Nguyên tắc trung thực, chính xác, khách quan
Đảm bảo tính trung thực, chính xác, khách quan là vấn đề có tính nguyên tắc cao trong công tác thanh tra, kiểm tra Có trung thực, chính xác, khách quan trong công tác thanh tra, kiểm tra thì mới cho phép đánh giá đúng thực trạng của đối tượng kiểm tra, xử lý đúng người đúng việc, đúng pháp luật
Nguyên tắc khách quan và chính xác đòi hỏi trong hoạt động thanh tra, kiểm tra phải tôn trọng sự thật, đánh giá sự vật, hiện tượng như nó vốn có, không suy diễn hay quy chụp một cách chủ quan, phải tiến hành công việc một cách thận trọng
Nguyên tắc trung thực đòi hỏi trong hoạt động thanh tra, kiểm tra phải phản ánh và đánh giá đúng bản chất của sự vật, hiện tượng; vô tư, không thiên lệch; không vì quyền lợi cá nhân; phải tỷ mỉ, cẩn thận và phải có kiến thức chuyên môn vững vàng, hiểu biết sâu rộng và sâu sát thực tiễn
Trang 25- Nguyên tắc công khai, dân chủ
Tính công khai trong thanh tra, kiểm tra thuế tức là phải thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” để thu hút sự tham gia, đồng tình ủng hộ của nhân dân Việc công khai bao gồm nhiều vấn đề cụ thể như: Công khai quyết định thanh tra, tiếp xúc công khai với các đối tượng
có liên quan và công bố công khai kết luận thanh tra, kiểm tra Tuy nhiên, tùy trường hợp cụ thể mà xác định phạm vi công khai và hình thức công khai cho phù hợp để đảm bảo giữ gìn bí mật quốc gia, bí mật người tố cáo, đảm bảo lợi ích của Nhà nước và công dân, đảm bảo hiệu quả thanh tra, kiểm tra cao nhất Dân chủ trong hoạt động thanh tra, kiểm tra là thể hiện sự tôn trọng khách quan, tôn trọng quần chúng, lấy dân làm gốc
Dân chủ trong hoạt động thanh tra, kiểm tra nhằm lôi cuốn sự tham gia đông đảo của quần chúng nhân dân, sử dụng quần chúng như là những tai mắt của lực lượng thanh tra, kiểm tra Thực hiện nguyên tắc này đòi hỏi phải coi trọng việc tiếp nhận, thu thập ý kiến của mọi đối tượng có liên quan, tạo điều kiện cho đối tượng thanh tra, kiểm tra được trình bày ý kiến của mình, nhất là khi giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân
- Nguyên tắc bảo vệ bí mật
Cần quán triệt nguyên tắc này trong thanh tra, kiểm tra thuế là vì trong quá trình thanh tra, kiểm tra người làm công tác này tiếp cận với nhiều vấn
đề, nhiều tài liệu liên quan đến bí mật, bí quyết kinh doanh của doanh nghiệp,
bí mật quốc gia Nếu để lộ cho những đối tượng không được phép biết sẽ làm thiệt hại lợi ích của quốc gia và các doanh nghiệp Do vậy, họ chỉ được báo cáo cho những người có thẩm quyền được biết
- Nguyên tắc hiệu quả
Thực hiện nguyên tắc này mới đảm bảo cho thanh tra, kiểm tra thuế đạt được mục đích của nó Nguyên tắc này đòi hỏi thanh tra, kiểm tra thuế phải
Trang 26đảm bảo tính hiệu quả, nghĩa là phải có tác dụng đề phòng, ngăn ngừa những thiếu sót, vi phạm; phải đảm bảo giúp các đối tượng kiểm tra thực hiện đúng chính sách thuế
1.1.2.6.Quy trình thanh tra, kiểm tra thuế
Quy trình thanh tra thuế là các trình tự và các bước công việc cụ thể bắt buộc phải tuân thủ khi thực hiện một quyết định thanh tra, kiểm tra thuế
Quy trình thanh tra, kiểm tra thuế quy định về trình tự, thủ tục, các bước công việc trong quá trình thanh tra, kiểm tra như sau:
Bước 1: Lập kế hoạch thanh tra, kiểm tra năm
Lập kế hoạch thanh tra , kiểm tra là một khâu quan trọng trong công tác thanh tra, kiểm tra thuế
Bước 2: Thanh tra, kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế
Căn cứ vào kế hoạch thanh tra, kiểm tra đã được duyệt, Lãnh đạo bộ phận thanh tra, kiểm tra dự kiến thành lập đoàn thanh tra và giao số lượng đơn vị cần thanh tra cho từng đoàn thanh tra theo kế hoạch thanh tra đã được duyệt Soạn thảo Quyết định thanh tra thuế Sau đó công bố quyết định thanh tra thuế và trình tự thủ tục thanh tra thuế tại trụ sở người nộp thuế Kết thúc thanh tra: Lập Biên bản thanh tra, kiểm tra và công bố công khai Biên bản thanh tra, kiểm tra
Bước 3: Xử lý kết quả thanh tra, kiểm tra
Trưởng đoàn thanh tra phải báo cáo kết quả thanh tra; dự thảo kết luận thanh tra; dự thảo Quyết định xử lý truy thu thuế; dự thảo Quyết định xử phạt
vi phạm hành chính về thuế để báo cáo Lãnh đạo bộ phận thanh tra trình Thủ trưởng Cơ quan Thuế
Trường hợp xử lý hành vi vi phạm về thuế vượt quá thẩm quyền của Thủ trưởng Cơ quan Thuế thì ký kết luận thanh tra, Quyết định xử lý truy thu thuế, Thủ trưởng Cơ quan Thuế ra văn bản đề nghị người có thẩm quyền xử
Trang 27phạt vi phạm hành chính về thuế để ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế
Bước 4: Tổng hợp báo cáo và lưu giữ tài liệu thanh tra, kiểm tra thuế:
- Báo cáo tổng hợp kế hoạch thanh tra; Báo cáo điều chỉnh kế hoạch thanh tra; Báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch thanh tra; kết quả thanh tra theo tháng, quý, năm
- Lưu giữ tài liệu thanh tra, kiểm tra thuế
Quy trình thanh tra, kiểm tra thuế được áp dụng sẽ tạo sự thống nhất trong việc thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra trong toàn ngành thuế nhằm phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các tổ chức, cá nhân có hành vi gian lận, trốn thuế Một quy trình được xây dựng rõ ràng, minh bạch và cụ thể sẽ góp phần nâng cao việc quản lý cán bộ thanh tra, kiểm tra thuế trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao Thực hiện tốt quy trình thanh tra, kiểm tra thuế
sẽ là cơ sở đánh giá phân loại cán bộ thanh tra, kiểm tra đây cũng chính là thực hiện cải cách thủ tục hành chính và hiện đại hoá công tác thanh tra, kiểm tra thuế góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế Vì vậy, hoàn thiện quy trình thanh tra thuế là một khâu không thể thiếu được trong việc hoàn thiện hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế
1.1.3.Các hình thức thanh tra, kiểm tra thuế
Thanh tra, kiểm tra thuế được chia thành nhiều loại khác nhau tùy theo tiêu thức phân loại Cụ thể như sau:
- Theo yếu tố thời gian:
+ Thanh tra, kiểm tra thuế thường xuyên: Đây là hoạt động thanh tra, kiểm tra diễn ra định kỳ, lặp đi lặp lại theo chu kỳ hàng ngày, hàng tháng, hàng quý hoặc hàng năm Hoạt động kiểm tra thường xuyên thường được tiến hành tại cơ quan thuế đối với hồ sơ khai thuế của người nộp thuế và được thực hiện hường xuyên đối với nội bộ cơ quan thuế Hoạt động thanh tra,
Trang 28kiểm tra thường xuyên hàng năm thường được tiến hành tại trụ sở của người nộp thuế đối với những người nộp thuế được xếp vào nhóm rủi ro cao về thuế
+ Thanh tra, kiểm tra thuế bất thường: Đây là một trong những hình thức chủ yếu của thanh tra trong lĩnh vực xét và giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo của công dân; thường được tiến hành theo yêu cầu của cơ quan quản lý cấp trên, cơ quan có chức năng thanh tra, kiểm tra hay do lãnh đạo đơn vị đặt ra
- Theo yếu tố phạm vi:
+ Thanh tra, kiểm tra từng phần: thường được áp dụng với một sắc thuế nhất định hoặc một phần của quy trình thu nộp
+ Thanh tra, kiểm tra toàn phần: Áp dụng trên toàn diện các mặt công tác của một cơ quan thuế, một cá nhân hay toàn bộ quá trình kê khai nộp thuế với tất cả các sắc thuế có liên quan của một đối tượng nộp thuế
- Theo địa điểm tiến hành thanh tra, kiểm tra:
+ Thanh tra, kiểm tra tại bàn (tại cơ quan thuế): Công tác kiểm tra các
hồ sơ liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế của cơ sở kinh doanh được thực hiện tại cơ quan thuế
+ Thanh tra, kiểm tra tại cơ sở kinh doanh: Công việc thanh tra, kiểm tra được thực hiện tại trụ sở của người nộp thuế; cho phép công chức thanh tra, kiểm tra tiếp cận với tình hình thực tế, tài liệu cụ thể của cơ sở như sổ sách chứng từ kế toán, quỹ tiền mặt thực tế, sản phẩm tồn kho thực tế…
1.1.4.Nội dung của công tác thanh tra, kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp
1.1.4.1 Xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra thuế hàng năm
Lập kế hoạch thanh tra, kiểm tra là một khâu quan trọng trong công tác thanh tra, kiểm tra của ngành thuế, công việc này được tiến hành hàng năm Công tác xây kế hoạch thanh tra, kiểm tra hàng năm dựa vào nguồn nhân lực của ngành thuế
Trang 29Phòng thanh tra của Cục thuế thực hiện lập kế hoạch lựa chọn doanh nghiệp cần thanh tra, kiểm tra để lãnh đạo Cục thuế xét duyệt, quá trình thực hiện được tiến hành như sau:
- Thu thập, khai thác thông tin dữ liệu về người nộp thuế
Bộ phận thanh tra thuế thu thập, khai thác thông tin về người nộp thuế từ nguồn: hồ sơ khai thuế, hồ sơ hoàn thuế, hồ sơ quyết toán thuế; báo cáo tài chính doanh nghiệp; thông tin về tình hình tài chính, sản xuất kinh doanh của người nộp thuế; thông tin về việc chấp hành pháp luật về thuế của người nộp thuế
Ngoài ra thu thập dữ liệu thông tin về người nộp thuế từ các cơ quan có liên quan như: Hải quan và Kho bạc Nhà nước; Kiểm toán Nhà nước; Thanh tra chính phủ
- Đánh giá, phân tích để lựa chọn đối tượng thanh tra, kiểm tra
Từ nguồn thông tin dữ liệu về người nộp thuế thu thập được, bộ phận thanh tra thực hiện phân loại, đánh giá, phân tích lựa chọn doanh nghiệp có rủi ro cao về thuế để đưa vào kế hoạch thanh tra, kiểm tra
Phân loại doanh nghiệp theo loại hình doanh nghiệp, quy mô doanh nghiệp, ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp, tình trạng kê khai, tình trạng nợ thuế của doanh nghiệp để có cơ sở lựa chọn
- Trình, duyệt kế hoạch thanh tra thuế năm
Bộ phận thanh tra lập danh sách lựa chọn doanh nghiệp có rủi ro từ cao đến thấp để đưa vào kế hoạch thanh tra, kiểm tra hàng năm và trình thủ trưởng cơ quan thuế ký duyệt
- Điều chỉnh, bổ sung kế hoạch thanh tra
Lãnh đạo bộ phận thanh tra tiến hành đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch thanh tra; xác định rõ những khó khăn, thuận lợi; trường hợp cần thiết
dự kiến điều chỉnh kế hoạch thanh tra
Trang 301.1.4.2.Tổ chức thực hiện thanh tra, kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp
Tổ chức công tác thanh tra, kiểm tra thuế: Là quá trình phân công nhiệm vụ cho từng cán bộ thanh tra, kiểm tra thuế để thực hiện kế hoạch thanh tra, kiểm tra thuế đã lập Tổ chức công tác thanh tra bao gồm: Tổ chức con người và tổ chức công việc
Tổ chức con người: là việc xây dựng và hoàn thiện cơ cấu tổ chức trong từng thời kỳ cho phù hợp với chức năng, nhiệm vụ công tác thanh tra được giao Năng lực trình độ, chuyên môn của thanh tra, kiểm tra viên để thực hiện nhiệm vụ theo nội dung thanh tra, kiểm tra đặc biệt là trưởng đoàn thanh tra, kiểm tra phải là người trung thực khách quan có ý thức kỷ luật, có trình độ chuyên môn cao, có khả năng điều hành cán bộ và kỹ năng giao tiếp tốt, có tác phong làm việc linh hoạt, biết nắng nghe, thu nhận và xử lý chọn lọc thông tin Công tác tổ chức con người hợp lý sẽ tăng cường tính chuyên sâu trong công tác thanh tra đồng thời đảm bảo hoàn thành kế hoạch thanh tra hàng năm với chất lượng cao
Tổ chức công việc: là tổ chức nắm bắt các thông tin phục vụ cho công tác thanh tra, kiểm tra Xem xét phân tích sơ bộ các nội dung có liên quan đến đơn vị được thanh tra để xác định hình thức, quy mô, phạm vi thời gian thanh tra Đây là cơ sở ban đầu giúp cho trưởng đoàn thanh tra phân định nhiệm vụ của mỗi thành viên trong việc thực hiện nhiệm vụ của mình với chất lượng cao nhất
Công việc liên quan đến công tác thanh tra thuế được hình thành trong mối liên hệ chặt chẽ với các chủ thể trong công tác quản lý thuế, bao gồm: Lãnh đạo các cấp, các công chức thuế và đối tượng thanh tra Để làm tốt công tác tổ chức công việc trong công tác thanh tra thuế phải luôn quan tâm tới quá trình sắp xếp nhân sự Bố trí hợp lý cán bộ vào từng vị trí phù hợp với nội dung công việc và đảm bảo hiệu quả công việc đạt được mức độ tối đa
Trang 311.1.4.3.Công tác triển khai cuộc thanh tra, kiểm tra thuế
Thanh tra, kiểm tra tại cơ quan thuế
Căn cứ vào kế hoạch thanh tra, kiểm tra thuế, nhóm phân tích phải thực hiện quá trình tập hợp và phân tích rủi ro các thông tin chuyên sâu tại cơ quan thuế, nhằm kiểm tra tính xác thực đối với các hồ sơ khai thuế, báo cáo tài chính, các nghi vấn cần doanh nghiệp cung cấp thêm thông tin hoặc những nội dung nghi ngờ cần tiếp xúc với doanh nghiệp để làm rõ những thông tin chung về doanh nghiệp, tổ chức sản xuất kinh doanh, tổ chức hạch toán, liên doanh liên kết, đối tác kinh doanh, hợp đồng mua bán hàng, tăng giảm tài sản, biên bản xác nhận công nợ nội bộ, công nợ người bán, người mua
Thanh tra, kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế
Việc kiểm tra, đối chiếu số liệu tổng hợp tại trụ sở của NNT được thực hiện tuỳ theo phạm vi, quy mô, nội dung cuộc thanh tra, kiểm tra Nội dung thanh tra, kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp tập trung vào những vấn đề chủ yếu sau: Kiểm tra hồ sơ đăng ký kinh doanh, đăng ký nộp thuế, mã số thuế, tình hình đăng ký sử dụng hoá đơn ; Kiểm tra đối chiếu tài liệu, hồ sơ gửi cơ quan thuế với thực tế xuất trình của doanh nghiệp; Kiểm tra việc mở sổ sách; Ngoài ra, tuỳ theo từng trường hợp cụ thể cần kiểm tra xem xét các tài liệu,
hồ sơ liên quan khác
1.1.4.4 Kiểm tra, giám sát hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế
Giám sát là chức năng cơ bản và rất quan trọng, là cơ sở để người ra quyết định thanh tra theo dõi, đánh giá hoạt động của đoàn thanh tra, thành viên Đoàn thanh tra trong việc thực hiện nhiệm vụ thanh tra, chấp hành pháp luật về thanh tra, quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức và ý thức chấp hành
kỷ luật của thành viên Đoàn thanh tra; nắm bắt kịp thời những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thanh tra để có biện pháp chấn chỉnh, giải quyết Trong quá trình giám sát nếu phát hiện thấy những biểu hiện không bình thường trong hoạt động của Đoàn thanh tra thì người ra quyết định thanh tra
Trang 32sẽ tiến hành kiểm tra hoạt động đoàn thanh tra Việc giám sát hoạt động Đoàn thanh tra giúp cho người ra quyết định thanh tra nắm được những sai sót thường hay gặp trong quá trình hoạt động của Đoàn thanh tra từ đó sẽ có kế hoạch kiểm tra chính xác, kịp thời
Mục tiêu chung của hoạt động kiểm tra, giám sát hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế là đảm bảo chính sách pháp luật của nhà nước được chấp hành nghiêm chỉnh, xây dựng đội ngũ cán bộ thanh tra, kiểm tra có phẩm chất đạo đức, bảo đảm xây dựng bảo đảm sự trong sạch vững mạnh của bộ máy nhà nước
1.1.5.Các yếu tố ảnh hưởng đến côn tác thanh tra, kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp
1.1.5.1.Các yếu tố chủ quan
Đội ngũ cán bộ thực hiện hoạt động kiểm tra thuế
Hiện nay, những tiêu cực xã hội đã và đang tấn công vào hệ thống cơ quan nhà nước, trong đó có các cơ quan thực thi pháp luật, gây ra những tác hại không nhỏ, giảm sút lòng tin của nhân dân vào đội ngũ cán bộ công chức Trong hoạt động kiểm tra thuế đối với các DN không phải là không có những cán bộ đã bị xử lý vi phạm trong quá trình thực hiện nhiệm vụ Nếu tiêu cực
xã hội xảy ra, nhất là tệ hối lộ và nhận hối lộ, thì hoạt động kiểm tra thuế sẽ không thể chính xác, khách quan và công bằng Khi đó, các quyết định được ban hành sẽ gây thất thu lớn cho ngân sách nhà nước, ảnh hưởng không tốt đến hình ảnh người cán bộ thuế Vì thế, cơ quan thuế cần phải có các giải pháp cụ thể để phòng chống các tác hại này, nhất là việc xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra trong sạch, vững mạnh, liêm khiết, có lương tâm và đạo đức nghề nghiệp
Số lượng cán bộ kiểm tra thuế cũng là nguyên nhân ảnh hưởng lớn đến kết quả kiểm tra thuế Với số lượng DN ngày càng tăng, các nghiệp vụ kinh tế phát sinh phức tạp, hành vi luồn lách trốn thuế ngày càng tinh vi, thì việc
Trang 33kiểm tra thuế cần đảm bảo một tần suất nhất định Nếu nguồn lực kiểm tra thiếu thì không thể đáp ứng được công việc và hiệu quả kiểm tra sẽ không cao Nhưng nếu bộ máy kiểm tra cồng kềnh sẽ gây lãng phí nguồn nhân lực, trở thành gánh nặng cho công tác quản lý cũng như ngân sách nhà nước Do vậy, tổ chức bộ máy cán bộ công chức thuế nói chung và bộ máy kiểm tra thuế nói riêng có ý nghĩa quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kiểm tra thuế
Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ hoạt động kiểm tra thuế
Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ kiểm tra thuế bao gồm: hệ thống cơ sở
dữ liệu, trang thiết bị làm việc và địa điểm làm việc
Kế hoạch kiểm tra được xây dựng trên cơ sở phân tích, đánh giá rủi ro đối với các DN chỉ có thể thực hiện một cách hiệu quả khi cơ quan thuế xây dựng được một hệ thống thông tin và phần mềm ứng dụng hỗ trợ các DN một cách đầy đủ, chính xác Nếu không, các vấn đề rủi ro, các nghi vấn, bất hợp lý
về các DN sẽ không được phát hiện một cách kịp thời Việc lựa chọn các DN
để đưa vào kế hoạch kiểm tra không chỉ dựa vào dữ liệu mà cơ quan thuế thu thập được mà còn là kết quả của việc phân tích, đánh giá các dữ liệu về DN
Để thực hiện được điều này, ngoài kỹ năng phân tích, đánh giá của cán bộ thuế cần thiết phải có sự hỗ trợ của hệ thống máy tính và các ứng dụng tin học chuyên biệt về quản lý thông tin, tra cứu thông tin và xử lý thông tin tự động Trang thiết bị làm việc đầy đủ, hiện đại sẽ giúp kiểm tra thuế xử lý và lưu trư
dữ liệu một cách nhanh chóng và thuận tiện
1.1.5.2.Các yếu tố khách quan
Cơ chế quản lý thuế
Trước đây, nước ta thực hiện quản lý thuế theo cơ chế chuyên quản Theo cơ chế này, cơ quan thuế căn cứ vào tờ khai thuế do các DN kê khai để
Trang 34kiểm tra và tính thuế, sau đó thông báo số thuế phải nộp cho các DN Các DN
có trách nhiệm nộp đầy đủ tiền thuế theo thông báo trong thời gian quy định
Cơ chế này đảm bảo việc tính toán chính xác số thuế phải nộp vào ngân sách nhà nước nhưng lại tạo ra gánh nặng về nghiệp vụ cho cơ quan thuế, dễ xảy ra hiện tượng tiêu cực giữa cán bộ thuế và các DN, gây thất thu ngân sách nhà nước, mang tính áp đặt và không phát huy được trách nhiệm của các DN Do vậy, hoạt động kiểm tra thuế gặp nhiều khó khăn, hiệu quả thu thuế chưa cao
Khắc phục những hạn chế đó, từ ngày 1/7/2007 Luật Quản lý thuế có hiệu lực, ngành thuế đã chuyển sang cơ chế tự khai tự nộp thuế Theo đó, các
DN căn cứ vào kết quả sản xuất kinh doanh và các nghiệp vụ phát sinh của mình để tự kê khai, tự tính toán số thuế phải nộp và chủ động nộp thuế theo đúng thời hạn quy định của pháp luật thuế Cơ quan thuế không can thiệp vào quá trình kê khai nộp thuế trừ khi phát hiện các sai sót và các dấu hiệu vi phạm của các DN Tuy nhiên đây lại là điều kiện thuận lợi để không ít doanh nghiệp cố tình kê khai sai, gian lận thuế, trốn thuế Chính vì vậy, cơ quan thuế phải có trách nhiệm tuyên truyền, hỗ trợ, hướng dẫn để các DN hiểu rõ và tự giác thực hiện nghĩa vụ thuế, đồng thời giám sát chặt chẽ việc tuân thủ pháp luật thuế của các DN
Sự hợp tác giữa các cơ quan hữu quan và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực thuế
Sự phối hợp với các cơ quan chức năng, nhất là cơ quan công an, kiểm sát, quản lý thị trường trong việc chống buôn lậu, gian lận thương mại, chống làm hàng giả, chống trốn lậu thuế, chiếm đoạt tiền hoàn thuế, chống buôn bán hoá đơn bất hợp pháp sẽ có tác dụng tốt trong việc phát hiện, xử lý kịp thời những vi phạm pháp luật thuế Cơ chế quản lý thuế hiện nay cũng đòi hỏi sự hợp tác đặc biệt giữa cơ quan thuế và các ngân hàng, tổ chức tín dụng trong việc cung cấp thông tin về các DN cũng như thực hiện phong toả tài khoản ngân hàng, cưỡng chế nộp thuế trong một số trường hợp nhất định
Trang 35Xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế và những cam kết quốc tế về thuế quan mà Việt Nam ký kết tham gia có tác động không nhỏ đến hoạt động kiểm tra thuế Theo những cam kết này, cơ quan thuế phải xây dựng một lộ trình về cắt giảm thuế quan, xây dựng các chuẩn về danh mục mặt hàng đánh thuế đối với kinh tế khu vực và các tổ chức kinh tế quốc tế mà Việt Nam tham gia, cải cách thủ tục hành chính thuế quan…Vì vậy, cần có sự hợp tác chặt chẽ giữa cơ quan thuế Việt Nam và cơ quan thuế nước ngoài trong hoạt động kiểm tra thuế nhằm chống thất thu thuế cũng như tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, bình đẳng cho các nhà đầu tư
1.2 Cơ sơ ̉ thực tiễn
1.2.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra thuế
1.2.1.1.Kinh nghiệm của Hoa Kỳ
Tại Mỹ, người nộp thuế sẽ có nghĩa vụ khai tờ khai thuế của mình vào ngày 15 tháng 4 hàng năm Nếu người nộp thuế không có khả năng khai tờ khai đúng hạn, người đó có thể đề nghị gia hạn tự động thời gian khai thuế cho đến ngày 15 tháng 10, tuy nhiên vẫn phải nộp thuế
Theo nguyên tắc chung, người nộp thuế có thể bị cơ quan thuế thanh tra trong phạm vi ba năm kể từ ngày tờ khai thuế được khai Tuy nhiên, giới hạn thời gian này có thể được kéo dài nếu người nộp thuế đã kê khai thiếu thuế một cách nghiêm trọng hoặc kê khai gian lận tờ khai thuế Nếu một tờ khai là gian lận hoặc không được khai, việc thanh tra là không giới hạn Nếu một người nộp thuế kê khai thiếu từ 25% số thuế phải nộp trở lên trong một tờ khai thì giới hạn thời gian thanh tra là 6 năm Cơ quan thuế Mỹ (IRS-Inland Revenue Service) phải thông tin với người nộp thuế rằng người đó không được yêu cầu để gia hạn thời gian thanh tra
Người nộp thuế cần được thông báo về việc thanh tra Người nộp thuế
sẽ nhận được một “bức thư 30 ngày’ thông báo rằng người đó đã được thanh
Trang 36tra và sẽ thông báo cho người đó các điều chỉnh và thay đổi mà IRS đề xuất Người nộp thuế có được một thời hạn 30 ngày để trả lời bức thư đó Tất nhiên việc trả lời cũng có thể được thực hiện bởi luật sư hoặc kế toán của NNT
1.2.2 Kinh nghiệm của một số địa phương về thanh tra, kiểm tra thuế
1.2.2.1 Kinh nghiệm của huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ
Để phát hiện và xử lý kịp thời các sai phạm, ngăn chặn tình trạng trốn lậu thuế gây thất thu cho NSNN, góp phần lành mạnh hoá các hoạt động kinh doanh trên địa bàn, thời gian vừa qua, Chi cục Thuế huyện Lâm Thao đã tăng cường các biện pháp quản lý, kiểm tra hồ sơ khai thuế của tất cả các doanh nghiệp thuộc địa bàn quản lý Chi cục Thuế huyện Lâm Thao cũng đã thực hiện kiểm tra hồ sơ kê khai tại trụ sở cơ quan thuế đối với các cơ sở kinh doanh để phát hiện các trường hợp bán hàng không xuất hoá đơn, hoặc thực tế bán hàng thu tiền nhiều hơn giá trị ghi trên hoá đơn, nhằm giấu doanh thu để trốn thuế Lựa chọn các DN có rủi ro về thuế và ý thức tuân thủ pháp luật về thuế còn thấp, có dấu hiệu không bình thường về kê khai thế so với tháng trước, năm trước để xây dựng kế hoạch kiểm tra Đẩy mạnh công tác kiểm tra thực hiện pháp luật về thuế, phí kết hợp với kiểm tra về giá, để kiên quyết loại trừ các khoản chi không hợp lý, hợp lệ khi quyết toán thuế Riêng với cơ sở kinh doanh lợi dụng việc người tiêu dùng không lấy hoá đơn, chứng từ để cung cấp cho các DN nhằm hợp thức hoá chứng từ đầu vào được yêu cầu thực hiện giải trình và kiểm tra tại trụ sở Cơ quan thuế cũng phối hợp chặt chẽ với Chi cục quản lý thị trường để có thông tin về cơ sở buôn chuyến, kinh doanh hàng hoá có điểu kiện, phối hợp với Công an huyện Lâm Thao và các phòng chức năng Công an tỉnh Phú Thọ để cung cấp thông tin về các đơn vị có biểu hiện trốn lậu thuế, nợ thuế kéo dài để có biện pháp xử lý Đặc biệt cơ quan thuế đã phối hợp tốt với các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác trên địa bàn để xác minh tài khoản phục vụ kiểm tra dòng tiền đi, dòng
Trang 37tiền đến nhằm có tư liệu phục vụ công tác đấu tranh với các trường hợp trốn doanh thu, kê khai thiếu thuế
Năm 2015, số lượng DN thuộc diện kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế của các Chi cục huyện Lâm Thao là 103 đơn vị, số thuế truy thu và xử phạt xấp xỉ 2 tỉ 500 triệu đồng Trong 6 tháng đầu năm 2016, thông qua công tác giám sát và kiểm tra hồ sơ khai thuế tại trụ sở cơ quan thuế, các DN đã kê khai và nộp đạt hơn 32 tỷ đồng, tăng trên 200% so với cùng kỳ, riêng số thuế
kê khai bổ sung đạt trên 560 triệu đồng
1.2.2.2 Kinh nghiệm của huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ
Trong những năm qua, Chi Cục Thuế huyện Thanh Sơn đã đề ra nhiều giải pháp đổi mới và tăng cường công tác quản lý thu, áp dụng đồng bộ nhiều giải pháp quản lý có hiệu quả, nhờ đó công tác kiểm tra thuế đã dần hoàn hiện Kiểm tra thuế dựa trên kết quả phân tích, đánh giá, phân loại đối với từng cơ sở doanh nghiệp về mức độ thực hiện chính sách, chọn lọc để kiểm tra thuế đúng đối tượng, không tràn lan và không gây phiền hà cho các tổ chức, cá nhân chấp hành tốt pháp luật thuế
Chi Cục thuế huyện Thanh Sơn đã thực hiện việc quản lý thuế theo mô hình chức năng gắn với cơ chế tự khai, tự nộp Công tác kiểm tra thuế đã và đang dần hoàn thiện đó là việc kiểm tra thuế dựa trên kết quả phân tích đánh giá, phân loại đối với từng đối tượng nộp thuế Việc kiểm tra thuế đúng đối tượng tránh tràn lan và gây ảnh hưởng đến các đối tượng chấp hành tốt việc nộp thuế Có được kết quả trên là do công tác kiểm tra đã bước đầu chuyển từ
cơ chế kiểm tra nhằm vào tất cả các người nộp thuế sang cơ chế kiểm tra theo mức độ rủi ro về thuế; xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu thông tin về tổ chức,
cá nhân nộp thuế, sử dụng phân tích thông tin để xác định đối tượng và nội dung cần kiểm tra; Từng bước nâng cao hiệu quả, đảm bảo tính khách quan công khai, minh bạch trong kiểm tra người nộp thuế
Trang 38Việc đổi mới hoạt động kiểm tra thuế góp phần phân bổ và sử dụng có hiệu quả nguồn lực, nâng cao kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ cho lực lượng kiểm tra và tránh phiền hà cho những doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật thuế, tạo điều kiện phát huy tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của doanh nghiệp theo cơ chế tự tính, tự khai, tự nộp và tự chịu trách nhiệm
Vận hành tốt ứng dụng tin học của ngành thuế trong công tác kiểm tra thuế như: ứng dụng thanh tra - kiểm tra, ứng dụng hệ thống cơ sở dữ liệu báo cáo tài chính doanh nghiệp, hỗ trợ hệ thống kiểm tra tra cứu tình hình tài chính của doanh nghiệp, xác định quy mô kinh doanh của từng doanh nghiệp; phân tích, so sánh được một số chỉ tiêu chủ yếu trong báo cáo tài chính 3 năm theo các chỉ tiêu dọc, ngang của Báo cáo tài chính Đồng thời giúp theo dõi kế hoạch thanh tra - kiểm tra; điều chỉnh, bổ sung kế hoạch thanh tra - kiểm tra; theo dõi nhập lịch trình của đoàn thanh tra - kiểm tra kể từ khi ban hành ký Quyết định thanh tra - kiểm tra; báo cáo tổng kết kế hoạch thanh tra - kiểm tra; báo cáo tiến độ thực hiện các cuộc thanh tra - kiểm tra Ngoài ra, các ứng dụng khác hỗ trợ như: Ứng dụng quản lý thuế; quản lý tình trạng thuế; Thông tin về quản lý thuế đối với NNT cũng hỗ trợ cho việc thu thập, phân tích rủi
ro hồ sơ chính xác hơn trong công tác kiểm tra thuế
Thường xuyên cử cán bộ, chuyên viên làm công tác kiểm tra tham gia các lớp tập huấn nhằm nâng cao năng lực chuyên môn, bám sát văn bản hướng dẫn của Nhà nước về công tác kiểm tra thuế Bên cạnh đó, bổ sung thêm lực lượng cán bộ viên chức công chức nhằm khắc phục tình trạng thiếu hụt cán bộ làm công tác kiểm tra thuế Tính đến năm 2012, số lượng cán bộ làm công tác kiểm tra thuế là 19 cán bộ, chiếm 24% tổng số cán bộ công chức toàn Chi Cục Thuế huyện Thanh Sơn; trong đó: trình độ trên đại học chiếm 10%; đại học chiếm 85%; cao đẳng chỉ chiếm 5% lực lượng cán bộ công chức làm công tác kiểm tra Nhờ đẩy mạnh công tác kiểm tra và xử lý các vi phạm
Trang 39về thuế đã góp phần răn đe, ngăn chặn các hành vi vi phạm về thuế Qua công tác kiểm tra đã phát hiện kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật về thuế của Người nộp thuế, đã tiến hành xử lý truy thu thuế và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế góp phần tích cực trong việc chống thất thu Ngân sách nhà nước, nâng cao việc tuân thủ pháp luật về thuế của Người nộp thuế Trong 03 năm qua, tổng số xử lý truy thu thuế và phạt vi phạm hành chính qua công tác kiểm tra phải nộp ngân sách nhà nước 5.661 triệu đồng
Thông qua công tác kiểm tra đã hướng dẫn doanh nghiệp thực hiện việc
kê khai, nộp thuế theo đúng quy định của pháp luật về thuế; từng bước hạn chế thất thu thuế theo từng loại hình doanh nghiệp, theo từng ngành nghề, đảm bảo công bằng về nghĩa vụ thuế; tạo điều kiện để doanh nghiệp nâng cao nhận thức về pháp luật thuế, tự giác trong kê khai, quyết toán các khoản thu, nộp vào Ngân sách nhà nước
Thực hiện công tác phối hợp tốt với các cơ quan chức năng như công
an, quản lý thị trường trong công tác kiểm tra thuế các doanh nghiệp trốn thuế, mua, bán sử dụng hóa đơn bất hợp pháp, gian lận thương mại Nhờ có hoạt động kiểm tra mà phát hiện và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm về thuế, gian lận về thuế, mà trước tiên là ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng thành lập doanh nghiệp nhưng không hoạt động, việc thành lập chỉ để kinh doanh bất hợp pháp kê khai khống một phần hoặc toàn bộ tiền hoàn thuế Giá trị gia tăng để chiếm đoạt tiền hoàn thuế của Ngân sách nhà nước Góp phần làm cho việc thực thi luật và chính sách thuế đạt kết quả tốt hơn
1.2.3 Bài học kinh nghiệm đối với Chi cục Thuế huyện Tân Sơn
Từ kinh nghiệm thanh tra thuế của Chi cục Thuế huyện Lâm Thao và Chi cục Thuế huyện Thanh Sơn, có thể rút ra bài học bổ ích về công tác thanh tra, kiểm tra thuế đó là:
Trang 40Thứ nhất, Chi cục Thuế tiếp tục củng cố, hoàn thiện các điều kiện cần
thiết cho việc tiếp tục thực hiện Luật Quản lý thuế như điều kiện pháp lý, nâng cao ý thức tự giác của người nộp thuế, trình độ cán bộ thuế, trang thiết bị mặt khác thường xuyên đánh giá để rút ra những kinh nghiệm quản lý phù hợp
Thứ hai, Thực hiện đúng các quy trình tổ chức kiểm tra thuế, xác định
rõ các trường hợp miễn giảm thuế; quy định rõ các trường hợp vi phạm và xử phạt vi phạm yêu cầu về thuế, tổ chức các biện pháp thu nợ, cưỡng chế thuế
có hiệu lực và hiệu quả
Thứ ba, Chi cục Thuế tổ chức, sắp xếp lại bộ máy theo chức năng
chuyên sâu Kiện toàn đội ngũ cán bộ trong hệ thống tuyên truyền và hỗ trợ người nộp thuế, thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn, đào tạo, nâng cao nghiệp vụ chuyên môn, đẩy mạnh công tác đào tạo nâng cao trình độ cán bộ theo chức năng
Thứ tư, Tiến hành phân loại người nộp thuế thành các nhóm có cùng
đặc tính tương đồng để tìm ra biện pháp quản lý, kiểm tra và các phương thức
hỗ trợ thích hợp, tăng cường quản lý theo kỹ thuật rủi ro
Thứ năm, Tăng cường công tác tuyên truyền hỗ trợ và đẩy mạnh công
tác thanh tra, kiểm tra, nâng cao hiệu quả của hai công tác mang tính quyết định và quan trọng trong việc thực hiện pháp luật về quản lý thuế