1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Hoàn Thiện Hệ Thống Thông Tin Kinh Té Phục Vụ Ra Quyét Định Tài Chính Của Tập Đoàn Bưu Chính Viễn Thông Việt Nam Vnpt

229 348 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 229
Dung lượng 1,87 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục viết tắt Danh mục bảng biểu Danh mục hình vẽ MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VÈ HỆ THỐNG THÔNG TIN KINH TẾ NHẰM PHỤC VỤ CHO VIỆC RA QUYẾT ĐỊNH TÀI CHÍNH CỦA TẬP ĐOÀN KINH TẾ 17 1.1 TẬP ĐOÀN KINH TẾ VÀ CÁC LOẠI QUYẾT ĐỊNH TÀI CHÍNH CỦA TẬP ĐOÀN KINH TẾ 11 1.1.1 Tập đoàn kinh tế và đặc điểm của tập đoàn kinh tế 11 1.1.1.1 Khái niệm tập đoàn kinh tế 11 1.1.1.2 Đặc điểm của tập đoàn kinh tế 12 1.1.1.3 Các mô hình tổ chức của tập đoàn kinh tế 14 1.1.2 Các quyết định tài chính của tập đoàn kinh tế 17 1.1.2.1 Khái niệm tài chính của tập đoàn kinh tế 17 1.1.2.2 Các quyết định tài chính của tập đoàn kinh tế 18 1.2 HỆ THỐNG THÔNG TIN KINH TẾ PHỤC VỤ CHO VIỆC RA QUYẾT ĐỊNH TÀI CHÍNH CỦA TẬP ĐOÀN KINH TẾ…………….. 28 1.2.1. Hệ thống thông tin kinh tế của tập đoàn kinh tế 28 1.2.1.1 Thông tin kinh tế và hệ thống thông tin kinh tế 28 1.2.1.2 Các yếu tố cấu thành hệ thống thông tin kinh tế......................44 1.2.1.3 Mục tiêu và các tiêu chuẩn đánh giá HTTTKT........................53 1.2.1.4 Vai trò của hệ thống thông tin kinh tế 59 1.2.2. Nội dung và mô hình tổ chức hệ thống thông tin kinh tế phục vụ việc ra quyết định tài chính của tập đoàn kinh tế 62 1.2.2.1 Nội dung của hệ thống thông tin kinh tế phục vụ ra quyết định tài chính của tập đoàn kinh tế 62 1.2.2.2 Mô hình tổ chức hệ thống thông tin kinh tế phục vụ ra quyết định tài chính của tập đoàn kinh tế 63 1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc tổ chức hệ thống thông tin kinh tế của tập đoàn kinh tế 71 1.3 KINH NGHIỆM CỦA CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ TRONG VIỆC XÂY DỰNG HỆ THỐNG THÔNG TIN KINH TẾ PHỤC vụ CHO VIỆC RA QUYẾT ĐỊNH TÀI CHÍNH CỦA TẬP ĐOÀN KINH TẾ 75 1.3.1 Kinh nghiệm việc xây dựng hệ thống thông tin kinh tế phục vụ cho việc ra quyết định tài chính 75 1.3.2 Bài học trong việc xây dựng hệ thống thông tin kinh tế phục vụ cho việc ra quyết định tài chính của tập đoàn kinh tế 87 Chương 2. THựC TRẠNG VỀ HỆ THỐNG THÔNG TIN KINH TẾ NHẰM PHỤC VỤ CHO VIỆC RA QUYẾT ĐỊNH TÀI CHÍNH CỦA TẬP ĐOÀN BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG VNPT 98 2.1 TỔNG QUAN VỀ TẬP ĐOÀN VNPT 98 2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông VNPT 98 2.1.2 Đặc điểm sản xuất kinh doanh của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông VNPT 104 2.1.3 Đặc điểm về tài chính của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông VNPT.......................................................................................................110 2.2 THỤC TRẠNG VỀ HỆ THỐNG THÔNG TIN KINH TẾ CỦA TẬP ĐOÀN BƯU CHÍNH VIỀN THÔNG VNPT 116 2.2.1 Quan điểm về hệ thống thông tin kinh tế của VNPT: 123 2.2.2 Thực trạng về các yếu tố cấu thành nên hệ thống thông tin kinh tế của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông VNPT nhằm phục vụ cho việc ra quyết định tài chính 124 2.3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VỀ HOÀN THIỆN HỆ THỐNG THÔNG TIN KINH TẾ PHỤC vụ CHO VIỆC RA QUYẾT ĐỊNH TÀI CHÍNH CỦA TẬP ĐOÀN BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG VNPT 150 2.3.1 Những kết quả đạt được đối với hệ thống thông tin kinh tế nhằm phục vụ cho việc ra quyết định tài chính của VNPT 162 2.3.2 Những hạn chế đối với hệ thống thông tin kinh tế nhằm phục vụ cho việc ra quyết định tài chính của Tập đoàn VNPT 163 Chương 3. HOÀN THIỆN HỆ THỐNG THÔNG TIN KINH TẾ NHẰM PHỤC VỤ CHO VIỆC RA QUYẾT ĐỊNH TÀI CHÍNH CỦA TẬP ĐOÀN BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG VNPT 167 3.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA VNPT TRONG THỜI GIAN TỚI.............................................................................................................167 3.1.1 Mục tiêu phát triển của VNPT trong thời gian tới 167 3.1.2 Phương hướng thực hiện mục tiêu của VNPT 170 3.2 QUAN ĐIỂM VỀ VIỆC HOÀN THIỆN HỆ THỐNG THÔNG TIN KINH TẾ CHO VIỆC RA QUYẾT ĐỊNH TÀI CHÍNH 175 3.2.1 Thông tin kinh tế là yếu tố quan trọng nhất trong việc ra quyết định tài chính 170 3.2.2 Hệ thống thông tin phải phù hợp với trình độ nhà quản trị 174 3.3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HỆ THỐNG THÔNG TIN KINH TẾ NHẰM PHỤC VỤ CHO VIỆC RA QUYẾT ĐỊNH TÀI CHÍNH CỦA TẬP ĐOÀN BƯU CHÍNH VIỂN THÔNG VNPT 180 3.3.1 Giải pháp về tổ chức cấu thành hệ thống thông tin 180 3.3.2 Giải pháp về nội dung cấu thành hệ thống thông tin 194 3.3.3 Giải pháp về phương thức cấu thành hệ thống thông tin 197 3.3.4 Giải pháp về công cụ cấu thành hệ thống thông tin 199 3.3.5 Hoàn thiện công tác tổ chức kế toán 201 3.3.6 Một số giải pháp khác 208 KẾT LUẬN 205 DANH MỤC VIẾT TẮT VNPT: Viet Nam Posts and Telecommunications Group Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam SXKD: Sản xuất kinh doanh TSCĐ: Tài sản cố định DPP: Discount Payback Period Thời gian hoàn vốn đầu tư có tính đến yếu tố chiết khấu NPV: Net Present Value Giá trị hiện tại thuần IRR: Internal Rate of Return Tỷ suất sinh lợi nội bộ PI: Proíitability Index Chỉ số sinh lời CNTT: Công nghệ thông tin CSDL: Cơ sở dữ liệu TMĐT: Thương mại điện tử HTTT: Hệ thống thông tin KTTT: Kinh tế thị trường WACC: The weighted of average cost of Capital Chi phí sử dụng vốn bình quân ROI: Return on Interested DT: Doanh thu TB: Thuê bao DV: Dịch vụ DVVT: Dịch vụ viễn thông RMQT: Roaming quốc tế Khách hàng doanh nghiệp Sản phẩm Công nghệ thông tin Giá trị gia tăng Very Important Person nhân vật quan trọng Tập đoàn kinh tế Tổ chức viễn thông quốc tế thuộc Liên hiệp quốc Asymmetric Digital Subscriber Line Băng thông rộng Tác nghiệp Chiến thuật DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng 1.1: Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng hệ thống thông tin theo tổng hợp của Knight và Bum 56 Bảng 1.2: Các mô hình thu thập thông tin 67 Bảng 1.3: Bảng tổng hợp kết quả phân tích và dự báo môi trường KD 69 Bảng 2.1: Cơ cấu trình độ 107 Bảng 2.2: Cơ cấu độ tuổi 107 Bảng 2.3: Bảng cân đối kế toán của tập đoàn VNPT 110 Bảng 2.4: Bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của VNPT 104 Bảng 2.5: Hệ số thanh toán 105 Bảng 2.6: Hệ số phản ánh cơ cấu vốn 105 Bảng 2.7: Hệ số phản ánh hiệu suất hoạt động 106 Bảng 2.8: Hệ số phản ánh hiệu quả hoạt động 107 Bảng 2.9: Bảng phân phối lợi nhuận của Tập đoàn VNPT 108 Bảng 2.10: Bảng phản ánh tốc độ tăng trưởng của Tập đoàn VNPT 1139 Bảng 2.11: Bảng cân đối kế toán trong trường hợp cập nhật thông tin đồng bộ của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông VNPT 155 Bảng 2.12: Bảng Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh trong trường hợp cập nhật thông tin đồng bộ của Tập đoàn Biru chính Viễn thông VNPT 156 Bảng 3.1: Kế hoạch đầu tư doanh thu đến năm 2020 của VNPT 163 Bảng 3.2: Bảng so sánh giữa hai quy trình quản lý của VNPT trước và sau khi thay đổi cơ cấu quản lý 198 DANH MỤC Sơ ĐỒ Sơ đồ 1.1: sơ đồ tổ chức và phân phối thông tin 35 Sơ đồ 1.2: Phân loại theo kênh thông tin kinh tế độc lập với Tập đoàn 48 Sơ đồ 1.3: Phân loại theo kênh thông tin trực tiếp từ Tập đoàn 48 Sơ đồ 1.4: Phân loại theo kênh thông tin kết hợp 49 Sơ đồ 1.5: Các bước quy trình thu thập thông tin 51 Sơ đồ 1.6: Mô hình hệ thống thông tin kinh tế 63 Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức Tập đoàn Bưu chính Viễn thông VNPT 1083 Sơ đồ 2.2: sơ đồ hệ thống thông tin kinh tế của Tập đoàn Viễn thông VNPT 136 Sơ đồ 2.3: Sơ đồ sử dụng thông tin kết hợp để ra quyết định tài chính 160 Sơ đồ 3.1: Quy trình xử lý thông tin 183 Sơ đồ 3.2: Hoàn thiện hệ thống thông tin nhằm phục vụ ra quyết định đầu tư trong nước 187 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam đang trên con đường phát triển và hội nhập mạnh mẽ, sâu rộng vào nền kinh tế quốc tế, tập đoàn kinh tế Việt Nam hiện đang phải đối mặt, cạnh tranh bình đẳng với các tập đoàn kinh tế đa quốc gia hùng mạnh trên thế giới, đặc biệt là sau khi gia nhập tổ chức thương mại quốc tế WTO và bắt đầu với Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP). Kinh nghiệm các quốc gia trên thế giới cho thấy những tập đoàn kinh tế mạnh ở cả khu vực nhà nước và khu vực tư nhân sẽ là “đội quân chủ lực” đảm bảo quá trình hội nhập thành công. Do đó, trong quá trình đổi mới đất nước trong giai đoạn hiện nay, đặc biệt là hội nhập quốc tế với nền kinh tế thị trường, Đảng và nhà nước đã chỉ đạo xây dựng và phát triển các tập đoàn kinh tế trở thành các tập đoàn kinh tế mạnh để trở thành những quả đấm thép phục vụ sự phát triển kinh tế của đất nước. Bên cạnh đó, trong nền kinh tế nhiều thành phần, các tập đoàn kinh tế nhà nước nắm giữ các lĩnh vực, ngành nghề quan trọng, giữ vai trò trụ cột của nền kinh tế quốc dân, thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế theo định hướng của Đảng và Nhà nước. Ngoài ra, tập đoàn kinh tế nhà nước còn là nhân tố thúc đẩy sự phát triển của kinh tế quốc dân; các tập đoàn kinh tế không chỉ mang lại lợi ích kinh tế lớn cho đất nước về các mặt như: góp phần quan trọng vào tăng trưởng và phát triển kinh tế đất nước, đóng góp không nhỏ vào nguồn thuế, tạo nguồn thu ngoại tệ và nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước, hạn chế nhập siêu, tạo nên sức mạnh cho nền kinh tế góp phần đẩy nhanh tốc độ CNH, HĐH đất nước... mà tập đoàn kinh tế nhà nước còn là trụ cột kinh tế, góp phần giải quyết việc làm cho người lao động, nâng cao mức sống cho nhân dân, góp phần giải quyết vấn đề an sinh xã hội, quốc phòng, an ninh... Xu thế hình thành và phát triển các tập đoàn kinh tế Việt Nam là một hướng đi đúng đắn phù hợp với quy luật phát triển của nền kinh tế thị trường, phù hợp với đòi hỏi thực tiễn của nền kinh tế Việt Nam và phù hợp với sức ép cạnh tranh trong quá trình toàn cầu hóa; thực tế ở nước ta cho thấy, tập đoàn kinh tế nhà nước chính là lực lượng quan trọng của Nhà nước đảm nhận sản xuất, kinh doanh nhiều mặt hàng thiết yếu nhằm đáp ứng nhu cầu của nhân dân, góp phần quan trọng trong việc bảo đảm an ninh lương thực, an ninh năng lượng, an ninh quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc và khẳng định chủ quyền quốc gia, bảo vệ môi trường sinh thái. Mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước là mô hình liên kết kinh tế tiên tiến và có sức mạnh nhất; với đặc điểm là mô hình có quy mô lớn, nguồn lao động dồi dào, thị trường và công nghệ vượt trội, các tập đoàn kinh tế nhà nước có một vị thế khác biệt so với các doanh nghiệp kinh doanh cùng loại. Điếm quan trọng đầu tiên quyết định sự liên kết, hợp tác giữa các công ty trong mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước là lợi ích; bởi lẽ, đối với mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước, lợi ích đến với cả tập đoàn kinh tế và cả công ty thành viên. Các công ty thành viên trong tập đoàn kinh tế nhà nước luôn được sự hỗ trợ phát triển thông qua thương hiệu của tập đoàn: hỗ trợ về vốn, công nghệ, hoạt động đào tạo quản lý, lao động... Những hỗ trợ đó sẽ tạo ra điều kiện và động lực, môi trường thuận lợi giúp các doanh nghiệp thành viên của tập đoàn kinh tế nhà nước phát triển nhanh và bền vững, từ đó góp phần thúc đẩy phát triển hoạt động sản xuất, kinh doanh của cả tập đoàn kinh tế nhà nước nhằm tạo ra sức mạnh kinh tế xã hội của quốc gia. Với mục tiêu kinh doanh, tìm kiếm lợi nhuận trên thị trường, các tập đoàn kinh tế nhà nước phải khai thác nguồn vốn nhà nước nhằm tạo ra lợi nhuận bổ sung cho ngân sách nhà nước, đồng thời, tạo ra việc làm và thu nhập hợp pháp nhằm nâng cao đời sống về mọi mặt của người lao động. Hơn nữa, các tập đoàn kinh tế nhà nước với ưu thế về quy mô và kết hợp được các ưu thế của phân công lao động, chuyên môn hóa với hợp tác hóa trong sản xuất, kinh doanh nên tránh được sản xuất trùng lặp và nâng cao hiệu quả sử dụng công suất máy móc, thiết bị nhằm Đểm lại hiệu quả kinh tế xã hội cao V.V.. Tuy nhiên, thực trạng hoạt động của các tập đoàn kinh tế ở Việt Nam trong những năm vừa qua dù đã mang lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế nhung vẫn có những khó khăn và vướng mắc cần giải quyết, cụ thể: + về môi trường kinh doanh: mô hình tập đoàn kinh tế không giống mô hình tổng công ty, mô hình tập đoàn hiện nay chỉ dựa vào Luật doanh nghiệp và Nghị định 153 của Chính phủ về việc quản lý Tổng công ty nhà nước; bên cạnh đó còn nhiều hạn chế trở ngại như thiếu các chính sách khuyến khích cạnh tranh, hạn chế độc quyền, thiếu chính sách đầu tư ra nước ngoài. + về tài chính: chưa tách biệt rõ ràng giữa chức năng quản lý vốn chủ sở hữu của nhà nước với cơ chế hoạt động của thị trường và chức năng khác. Vì thế, để các tập đoàn kinh tế ở Việt Nam hoạt động có hiệu quả, phát huy được sức mạnh vai trò của chúng đối với nền kinh tế, thì việc nghiên cứu một cách toàn diện, đầy đủ cả về lý luận và thực tiễn hệ thống các thông tin kinh tế là điều rất cần thiết; tuy nhiên, việc tổ chức, xây dựng, hoàn thiện hệ thống thông tin kinh tế và khai thác, sử dụng hệ thống thông tin kinh tế này phục vụ cho việc ra các quyết định quản trị kinh doanh nói chung, quản trị tài chính nói riêng của các tập đoàn kinh tế hiện nay như thế nào? Cụ thể: V Hoàn thiện hệ thống thông tin kinh tế phục vụ cho việc phân tích môi trường kinh doanh và lựa chọn mục tiêu hợp lý? V Hoàn thiện hệ thống thông tin kinh tế phục vụ cho việc phân tích và lựa chọn chiến lược của doanh nghiệp? s Hoàn thiện hệ thống thông tin kinh tế phục vụ cho việc xây dựng mục tiêu và chiến lược về nguồn nhân lực? S Hoàn thiện hệ thống thông tin kinh tế phục vụ cho việc ra các quyết định tài chính? s Hoàn thiện hệ thống thông tin kinh tế phục vụ cho việc xây dựng mục tiêu và chiến lược về marketing? S Hoàn thiện hệ thống thông tin kinh tế phục vụ cho việc xây dựng mục tiêu và chiến lược về sản xuất? s Hoàn thiện hệ thống thông tin kinh tế phục vụ cho việc xây dựng mục tiêu và chiến lược về nghiên cứu và phát triển? S Hoàn thiện hệ thống thông tin kinh tế phục vụ cho việc thâm nhập vào thị trường vốn quốc tế? s Hoàn thiện hệ thống thông tin kinh tế phục vụ cho việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn? Đó là một số vấn đề hiện nay về mục tiêu của việc hoàn thiện hệ thống thông tin kinh tế mà NCS còn băn khoăn trăn trở; tuy nhiên, luận án này thuộc chuyên ngành Tài chính Ngân hàng, nên NCS chỉ nghiên cứu sâu vấn đề hoàn thiện hệ thống thông tin kinh tế phục vụ cho việc ra các quyết định tài chính. Hiện nay, trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, các tập đoàn kinh tế Việt Nam đang đứng trước nhiều cơ hội, nhưng cũng nhiều thách thức. Trong những năm qua, công tác quản trị tài chính của các tập đoàn kinh tế được chú trọng hơn, việc phân tích, đánh giá và ra các quyết định tài chính được thực hiện một cách bài bản hơn. Tuy nhiên, đế đưa ra quyết định tài chính đúng đắn thì đòi hỏi cần phải dựa trên một cơ sở dữ liệu và thông tin một cách đầy đủ và rõ ràng, nhất là những thông tin về kinh tế tài chính. Quyết định tài chính là quyết định có vai trò hết sức quan trọng trong các Tập đoàn kinh tế, bởi nó liên quan trực tiếp đến mức độ rủi ro và lợi ích của các chủ sở hữu. Để đưa ra quyết định tài chính đúng đắn, nhà quản trị tài chính cần phải nghiên cứu nhiều nhân tố chủ quan, khách quan, bên trong và bên ngoài tập đoàn; điều này phụ thuộc trực tiếp vào việc tổ chức, xử lý và cung cấp thông tin về các nhân tố này nhằm phục vụ cho việc đưa ra các quyết định tài chính của Tập đoàn. Tập đoàn kinh tế theo mô hình công ty mẹ, công ty con ở nước ta đã được hình thành từ hơn thập kỷ qua, bên cạnh những thành tựu đạt được rất quan trọng, hoạt động của các tập đoàn kinh tế nói chung, VNPT nói riêng đã bộc lộ nhiều vướng mắc và bất cập, nguyên nhân cơ bản bắt nguồn từ hệ thống thông tin kinh tế phục vụ ra quyết định quản lý nói chung, quyết định tài chính nói riêng chưa được cung cấp, xử lý đầy đủ, chính xác và kịp thời. Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) là một trong số các Tập đoàn kinh tế nhà nước ra đời sớm nhất ở Việt Nam; trải qua nhiều giai đoạn phát triển, từ độc quyền nhà nước, độc quyền doanh nghiệp đến mở cửa hội nhập cạnh tranh và phải thực hiện tái cơ cấu để tăng năng lực cạnh tranh. VNPT được đánh giá là Tập đoàn kinh tế đã tổ chức hoạt động kinh doanh khá hiệu quả và nhất là: đã thực hiện tái cơ cấu thành công. Là một tập đoàn kinh tế lớn hàng đầu Việt Nam, Tập đoàn VNPT đã và đang chứng tỏ vị thế quan trọng trong quá trình hội nhập và phát triển kinh tế xã hội Việt Nam. Thành công của VNPT một phần là nhò’ các quyết định tài chính được ban hành với những căn cứ đáng tin cậy, đó chính là hệ thống thông tin kinh tế. Tuy nhiên, công tác quản trị tài chính của Tập đoàn VNPT vẫn còn một số hạn chế; cụ thể: V Bộ phận quản trị tài chính của Tập đoàn VNPT chưa có một vị trí độc lập trong doanh nghiệp, nó nằm trộn lẫn với bộ phận kế toán; vì thế, việc ra quyết định tài chính cũng như việc sử dụng hệ thống thông tin kinh tế để đưa ra lời tư vấn quyết định tài chính của Tập đoàn có tính chuyên môn chưa sâu; V Tập đoàn VNPT có vốn đầu tư 100% là vốn của nhà nước, nên việc thực hiện những chính sách tài chính phải tuân theo chế độ hướng dẫn tài chính của Nhà nước, vì thế tính linh hoạt trong quản trị tài chính chưa cao. Vì thế, để đưa ra quyết định tài chính đúng đắn, bộ phận tài chính cần thiết phải được sự hỗ trợ của hệ thống thông tin kinh tế, nhưng hệ thống thông tin kinh tế lại phụ thuộc trực tiếp vào việc thu thập, xử lý thông tin; nếu việc thu thập, xử lý thông tin tốt thì việc ra quyết định tài chính sẽ thuận lợi hơn; và ngược lại, việc thu thập, xử lý thông tin chưa tốt thì việc ra quyết định tài chính sẽ gặp nhiều khó khăn hơn. Vì vậy, hoàn thiện hệ thống thông tin kinh tế để hệ thống thông tin kinh tế được chuẩn hóa hơn nhằm phục vụ cho việc ra quyết định tài chính là một việc cần làm và cần sớm được thực hiện. Chính vì thế, NCS ấp ủ và mạnh dạn nghiên cứu đề tài luận án: “Hoàn thiện hệ thống thông tin kinh tế phục vụ ra quyết định tài chính của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam VNPT” làm đề tài nghiên cứu cho bản luận án Tiến sĩ kinh tế của mình. 2. Mục đích nghiên cứu của đề tài Đề tài tập trung nghiên cứu, hệ thống hóa và góp phần làm rõ hơn những vấn đề lý luận về việc sử dụng hệ thống thông tin kinh tế phục vụ ra quyết định tài chính của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam VNPT. Qua khảo sát thực trạng hệ thống thông tin kinh tế của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam VNPT ở những năm vừa qua, đề tài nêu cao vai trò của hệ thống thông tin kinh tế, đánh giá thực trạng việc hoàn thiện hệ thống thông tin kinh tế và rút ra những ưu điểm, hạn chế của việc hoàn thiện hệ thống thông tin kinh tế nhằm phục vụ ra quyết định tài chính của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam VNPT. Từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện hệ thống thông tin kinh tế Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam VNPT. Để hoàn thiện và nâng cao chất lượng hệ thống thông tin kinh tế, về lý thuyết cũng như thực tiễn rất cần có những nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện và chuyên sâu nhằm tổng kết đánh giá một cách khách quan, khoa học về tổ chức, quy trình cung cấp và xử lý hệ thống thông tin kinh tế hiện hành nhằm phục vụ có hiệu quả cho các nhà quản lý kinh tế và các nhà quản trị tài chính khi đưa ra các quyết định tài chính. Vì thế, mục tiêu nghiên cứu của luận án được thể hiện cụ thể trên các mặt sau: a. Hỗ trợ nhà quản trị đưa ra quyết định đầu tư, phát huy tính sáng tạo trong quyết định đầu tư của Tập đoàn; tăng cường liên kết đầu tư mở rộng ở thị trường nước ngoài thông qua việc góp vốn với các đối tác giúp VNPT ngày càng nâng cao uy tín thương hiệu; b. Hỗ trợ nhà quản trị đưa ra quyết định huy động vốn, thông qua việc nâng cao khả năng thâm nhập thị trường vốn; do VNPT là Tập đoàn kinh tế lớn của Việt Nam, có quy mô vốn lớn và thị trường mở rộng, có uy tín trong lĩnh vực viễn thông ở trong nước cũng như trên thế giới, vì thế khả năng thâm nhập thị trường vốn của Tập đoàn VNPT rất cao, nên VNPT có cơ hội chọn lựa nguồn vốn huy động có chi phí sử dụng vốn thấp, và là nguồn tài trợ ổn định; và đây cũng chính là cơ hội đế VNPT tăng cường sử dụng vốn có hiệu quả thông qua việc mở rộng đầu tư ở thị trường nước ngoài thông qua việc sử dụng nguồn vốn ở bên ngoài có chi phí sử dụng vốn thấp. c. Hỗ trợ nhà quản trị đưa ra quyết định huy phân phối lợi nhuận, do VNPT có khả năng thâm nhập thị trường vốn lớn nên việc huy động vốn đối với VNPT khá thuận lợi, vì thế VNPT vẫn ổn định chính sách phân phối lợi nhuận nhằm tăng thu nhập thực tế cho người lao động. Để thực hiện những mục tiêu đã được đề ra ở phần trên, luận án cần giải quyết 3 vấn đề chính có liên quan chặt chẽ với nhau, đó là: 1 Vai trò của hệ thống thông tin kinh tế đối với quyết định tài chính của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam VNPT? Mục đích của phần này là hệ thống hóa những lý luận cơ bản về tập đoàn kinh tế, các quyết định tài chính của tập đoàn kinh tế, mối quan hệ giữa hệ thống thông tin kinh tế phục vụ cho việc ra quyết định tài chính của tập đoàn kinh tế. 2 Thực trạng về việc hoàn thiện hệ thống thông tin kinh tế nhằm phục vụ ra quyết định tài chính của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam VNPT? Mục đích của phần này là nhằm đánh giá những thành tựu đạt được những hạn chế và nguyên nhân dẫn tới hệ thống thông tin kinh tế phục vụ ra quyết định tài chính còn nhiều bất cập, chưa hoàn thiện và chất lượng thông tin chưa cao. 3 Hoàn thiện hệ thống thông tin kinh tế nhằm phục vụ ra quyết định tài chính của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam VNPT? Mục đích của phần này là hoàn thiện hệ thống thông tin kinh tế phục vụ ra quyết định tài chính bằng cách đưa ra các nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng hệ thống thông tin kinh tế phục vụ ra quyết định tài chính của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam VNPT. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài s Đối tượng nghiên cứu: + Tìm hiểu các đối tượng ảnh hưởng đến hệ thống thông tin kinh tế, luận án sẽ chọn đối tượng nghiên cứu là Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam VNPT, nhung do hiện nay Bưu chính đã tách khỏi Viễn thông, nên luận án chỉ tiếp cận ngành Viễn thông của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam VNPT. + Tìm hiểu thực trạng hệ thống thông tin kinh tế ảnh hưởng đến việc ra quyết định tài chính của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam VNPT; luận án chọn đối tượng nghiên cứu là nhà quản trị cấp chiến lược, cấp chiến thuật, cấp tác nghiệp và nhà quản lý công nghệ thông tin của tập đoàn VNPT, vì họ là những người chủ chốt theo suốt dự án từ khi lập kế hoạch cho tới khi hoàn thành sử dụng hệ thống thông tin kinh tế phục vụ ra quyết định tài chính. V Phạm vi nghiên cứu: + Là Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam VNPT. + Thời gian nghiên cứu, thu thập số liệu từ năm 2011 đến năm 2015. Luận án tiếp cận giải quyết vấn đề chất lượng thông tin trên góc độ hoàn thiện hệ thống thông tin Để hỗ trợ người sử dụng thông tin ra quyết định tài chính. Điều này nghĩa là hệ thống thông tin đã xây dựng và được hoàn thiện sẽ tạo ra những thông tin phù hợp, chính xác, kịp thời và đầy đủ nhằm giúp cho việc ra các quyết định tài chính được thuận lợi hơn. Các nghiên cứu liên quan tới việc thay đổi các chính sách kinh tế nhằm phục vụ việc ra quyết định tài chính sẽ nằm ngoài phạm vi của luận án. về phạm vi hệ thống thông tin, luận án chỉ dừng lại nghiên cứu ứng dụng hệ thống thông tin kinh tế nhằm phục vụ ra quyết định tài chính trong nội bộ tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam VNPT. về phạm vi các nhân tố ảnh hưởng chất lượng thông tin, luận án chỉ nghiên cứu vấn đề kinh tế liên quan đến việc ra quyết định tài chính của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam VNPT. Luận án không nghiên cứu các nhân tố kinh tế không liên quan tới việc ra quyết định tài chính của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam VNPT, các nhân này được coi nằm ngoài phạm vi luận án. 4. Nguồn dữ liệu của luận án: Dữ liệu thứ cấp: Luận án sử dụng một số nguồn thông tin thứ cấp như các công trình nghiên cứu, các tài liệu nghiên cứu liên quan, các báo cáo chuyên môn của các cơ quan quản lý Nhà nước và các tổ chức khác: Tổng cục thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam VNPT. Dữ liệu sơ cấp: là các thông tin thu thập qua điều tra phỏng vấn trực tiếp hoặc điều tra qua bảng câu hỏi được thiết kế sẵn. 5. Phương pháp nghiên cứu: Để có được các đánh giá thực tiễn về hoàn thiện hệ thống thông tin kinh tế nhằm phục vụ ra quyết định tài chính của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam VNPT, tác giả đã khảo sát Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam VNPT. Với quy mô khảo sát này, tác giả thu thập thông tin về thực trạng hoàn thiện hệ thống thông tin kinh tế trên cơ sở các phương pháp phát phiếu điều tra, thực hiện phỏng vấn trực tiếp, qua điện thoại, thư điện tử...Bên cạnh nguồn số liệu sơ cấp đó, tác giả còn sử dụng số liệu thứ cấp mà chủ yếu từ các báo cáo thống kê của Tổng cục thống kê và các nguồn khác đã được công bố. Luận án nghiên cứu lý luận kết hợp với khảo sát thực tế và sử dụng linh hoạt phương pháp nghiên cứu định tính như phân tích, so sánh, tổng hợp thông tin làm cơ sở đưa ra các nhận định, đánh giá thực trạng hoàn thiện hệ thống thông tin kinh tế nhằm phục vụ ra quyết định tài chính của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam VNPT, đồng thời đề xuất giải pháp hoàn thiện hệ thống thông tin kinh tế phù hợp. 6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn Đối với Tập đoàn VNPT, thì đây là một Tập đoàn lớn, có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Việt Nam, việc đưa ra quyết định tài chính đúng đắn sẽ Đểm lại nhiều lợi ích cho Tập đoàn, và hơn nữa Đểm lại lợi ích cho nhà nước và dân cư. Trước yêu cầu của thị trường, mặc dù đã cố gắng hết sức, nhưng VNPT vẫn còn nhiều tồn tại, sức phát triển chưa tương xứng với tiềm năng của một Tập đoàn lớn. Mặt khác, trong môi trường kinh doanh đầy biến động, cạnh tranh khốc liệt, thông tin bùng nổ đa chiều, hệ thống thông tin kinh tế phục vụ ra quyết định tài chính của VNPT tỏ ra thiếu về lượng và thấp về chất. Trong những tồn tại đó, việc xây dựng cho mình một hệ thống thông tin kinh tế là một nội dung lớn cần phải thực hiện. Nếu hệ thống thông tin kinh tế không sớm được hoàn thiện thì trở ngại sẽ phát sinh trong việc ra quyết định tài chính, hệ lụy tất yếu là các quyết định tài chính sẽ trở nên không phù hợp, thậm chí sai lầm, an ninh tài chính của VNPT sẽ khó được đảm bảo. Vì thế ta thấy, thông tin đóng một vai trò vô cùng quan trọng, nó Đểm đến những cơ hội mới cho hoạt động kinh doanh; nếu thông tin đầy đủ, chính xác, phù hợp và kịp thời thì nó càng trở nên quan trọng, bởi nó liên quan đến việc ra các quyết định tài chính, từ đó ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả tổ chức, hiệu quả sử dụng đồng vốn của Tập đoàn; vì thế, hoàn thiện hệ thống thông tin có ý nghĩa rất quan trọng trong việc ra quyết định tài chính của Tập đoàn VNPT. Kết quả nghiên cứu của luận án có ý nghĩa góp phần làm phơng phú thêm những vấn đề lý luận về hệ thống thông tin kinh tế và mối quan hệ giữa hệ thống thông tin kinh tế với các quyết định tài chính của Tập đoàn kinh tế nói chung, Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam VNPT nói riêng; nó có ý nghĩa góp phần thúc đẩy quá trình hoàn thiện hệ thống thông tin kinh tế phục vụ cho việc ra quyết định tài chính của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam. Thông qua khảo sát thực trạng về hệ thống thông tin kinh tế của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông, luận án đánh giá thực trạng về hệ thống thông tin kinh tế và đề xuất các giải pháp đế hoàn thiện hệ thống thông tin một cách đầy đủ, rõ ràng và kịp thời nhằm phục vụ ra quyết định tài chính của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam VNPT ngày càng tốt hơn. Xuất phát từ những lý do đó, tác giả lựa chọn đề tài: “Hoàn thiện hệ thống thông tin kinh tế phục vụ ra quyết định tài chính của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam VNPT’ là rất cần thiết trên cả phương diện lý luận lẫn thực tiễn. 7. Kết cấu luận án Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án được kết cấu thành 3 chương: Chương 1: Lý luận chung về hệ thống thông tin kinh tế nhằm phục vụ cho việc ra quyết định tài chính của Tập đoàn kinh tế. Chương 2: Thực trạng về hệ thống thông tin kinh tế nhằm phục vụ cho việc ra quyết định tài chính của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam VNPT. Chương 3: Hoàn thiện hệ thống thông tin kinh tế nhằm phục vụ cho việc ra quyết định tài chính của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam VNPT. 8. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến luận án Quản trị tài chính trong các doanh nghiệp thuộc mọi loại hình và mọi thành phần kinh tế luôn là vấn đề quan trọng trong công tác quản lý kinh tế tài chính của các doanh nghiệp. Bất kể doanh nghiệp nào, vấn đề tổ chức quản trị tài chính hợp lý và khoa học đều được những nhà quản lý và nhà chuyên môn quan tâm đúng mức. Vì chỉ có tổ chức khoa học và hợp lý, quản trị tài chính mới có thể đưa ra những quyết định đúng đắn và kịp thời cho việc điều hành Tập đoàn. Hơn ai hết, Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam VNPT phải chịu sức ép cạnh tranh từ việc gia nhập WTO (do có nhiều đối tác Viễn thông nước ngoài đầu tư vào Việt Nam), cũng như các công ty Viễn thông vừa và nhỏ (cũng bị áp lực tồn tại trong thế giới kinh doanh đầy cạnh tranh) đều hiểu rõ sự cần thiết về hệ thống thông tin kinh tế, vì hệ thống này có vai trò cung cấp thông tin kinh tế kịp thời, phù hợp, đầy đủ và chính xác cho nhà quản trị, từ đó nhà quản trị có cơ sở khoa học đưa ra các quyết định tài chính được chính xác hơn, hiệu quả hoạt động được nâng cao hơn, và sức cạnh tranh trên thị trường viễn thông ngày càng lớn hơn. Vì tầm quan trọng như vậy nên có nhiều nghiên cứu liên quan tới hệ thống thông tin, và liên quan quyết định tài chính. Cụ thể: Công trình nghiên cứu về hệ thống như luận án của Tiến sĩ Nguyễn Thị Bích Liên (2012) nói về việc ứng dụng hệ thống EPR để hoạch định nguồn lực của doanh nghiệp, luận án này nói về việc sử dụng hệ thống thông tin để nghiên cứu thực hiện phân tích dữ liệu liên quan tới quy trình làm việc của công ty. Hệ thống thông tin tác động tới tất cả các hoạt động, các bộ phận chức năng của doanh nghiệp. Nhờ hệ thống thông tin EPR làm thay đổi quy trình làm việc, rút ngắn thời gian làm việc cho một nghiệp vụ kinh tế, vì thế hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp tăng lên đáng kể. Ngoài ra, nói đến chất lượng thông tin, kiểm soát chất lượng thông tin trong doanh nghiệp liên quan trực tiếp tới vấn đề các nhân tố ảnh hưởng chất lượng thông tin, một nghiên cứu đã được công bố trong luận án tiến sĩ 2003 của đại học Southern Queensland “Critical Success Factors for Accounting Iníòrmation Systems Data Quality”. Tuy nhiên nghiên cứu này chỉ dừng trong phạm vi hệ thống kế toán nói riêng chứ không phải cho cả ngành kinh tế nói chung. Ngoài ra luận án trên sử dụng cách tiếp cận xây dựng mô hình nghiên cứu trên quan điểm quản lý chất lượng hệ thống thông tin kế toán tống thế chứ không sử dụng mô hình hệ thống thông tin kinh tế, hệ thống hoạt động khi phân tích. Mặt khác, vai trò của nghiên cứu tài chính trong phát triển kinh tế được giải thích bởi Okab và đồng sự (2014), thông qua nghiên cứu của họ, họ đã chứng minh rằng các thông tin kinh tế đóng một vai trò tích cực trong sự toàn vẹn của các quyết định cũng như sự thành công của kế hoạch phát triển, thực hiện kế hoạch hợp thời phụ thuộc vào quyết định chiến lược được thực hiện bởi những nhà quản lý, những loại quyết định này dựa vào các thông tin kinh tế. Đó là lý do tại sao Ưllah và đồng sự (2014) đã phát triển một mối quan hệ có ý nghĩa giữa các thông tin kinh tế và các quyết định chiến lược. Mặt khác, Rapina (2014) xác định ảnh hưởng của các yếu tố tổ chức (cam kết quản lý, văn hóa tổ chức và cơ cấu tổ chức) đến chất lượng của hệ thống thông tin kinh tế và tác động của nó đến chất lượng thông tin kinh tế; Chiriac (2014) phát triển một phương pháp định tính, bởi một quan điểm lý thuyết, về tầm quan trọng của thông tin kinh tế trong việc ra quyết định; Nobes Stadler (2014) thực hiện đầu tiên nghiên cứu thực nghiệm có sử dụng công khai dữ liệu có sẵn để cung cấp bằng chứng trực tiếp về vai trò của thông tin kinh tế trong các quyết định; Caraiman (2015) cho thấy rằng các thông tin kinh tế chịu ảnh hưởng nặng nề của hệ thống chính trị; Một số chuyên gia như Fitriati Mulyani (2015) đã chứng minh rằng sự thành công của hệ thống thông tin kinh tế có liên quan đến chất lượng thông tin; Susanto (2015) tin rằng tổng chất lượng của thông tin kinh tế bị ảnh hưởng bởi chất lượng của hệ thống thông tin kinh tế; Alamin và đồng sự (2015) điều tra các yếu tố (nhận thức phù hợp với công nghệ, điều kiện thuận lợi,...) ảnh hưởng đến hệ thống thông tin kinh tế; ngoài ra, Iskandar (2015) đã chứng minh qua nghiên cứu của mình rằng chất lượng hệ thống thông tin kinh tế có thể được cải thiện thông qua cải thiện quản lý. Mặt khác, luận án tiếp cận giải quyết vấn đề hoàn thiện hệ thống thông tin có chất lượng trên góc độ của qui trình tạo lập thông tin nhằm giúp người sử dụng thông tin ra quyết định tài chính đúng đắn hơn. Điều này nghĩa là dựa vào quy trình hoạt động của công ty viễn thông mẹ và các Trung tâm viễn thông con, hệ thống thông tin sẽ được hoàn thiện để tạo ra các thông tin phù hợp và chính xác, đảm bảo sự an toàn, độ tin cậy dữ liệu cao. Các nghiên cứu liên quan tới việc thay đổi các chính sách kinh tế hay thay đổi các quy định của pháp luật về quản lý tài chính sẽ nằm ngoài phạm vi của luận án. Xuất phát từ các lý do trên, ta thấy Tập đoàn Bưu chính Viễn thông VNPT cần được nghiên cứu hoàn thiện hệ thống thông tin kinh tế phù hợp để phục vụ cho việc ra các quyết định tài chính đúng đắn hơn. Vì thế tác giả đã lựa chọn đề tài “Hoàn thiện hệ thống thông tin kinh tế phục vụ ra quyết định tài chính của Tập đoàn Buy, chính Viễn thông Việt Nam VNPT”. Với đề tài này, tác giả mong muốn sẽ có nhưng đóng góp về lý luận, thực tiễn cũng như xây dựng hệ thống thông tin kinh tế phù hợp với thực trạng của Tập đoàn. CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHƯNG VỀ HỆ THỐNG THÔNG TIN KINH TẾ NHẰM PHỤC vụ CHO VIỆC RA QUYẾT ĐỊNH TÀI CHÍNH CỦA TẬP ĐOÀN KINH TẾ 1.1 TẬP ĐOÀN KINH TẾ VÀ CÁC LOẠI QUYẾT ĐỊNH TÀI CHÍNH CỦA TẬP ĐOÀN KINH TẾ 1.1.1 Tập đoàn kinh tế và đặc điểm của tập đoàn kinh tế 1.1.1.1 Khái niệm tập đoàn kinh tế Theo Bách Khoa Toàn Thư Wikipedia tiếng Anh thì:Tập đoàn là sự liên kết của hai hay nhiều tổng công ty có lĩnh vực kinh doanh khác nhau tạo thành một cấu trúc công ty có quy mô quản lý lớn và phức tạp Vì thế, về ý nghĩa tập đoàn, ta có thê hình dung như một công ty mẹ và một số (hay nhiều) công ty con cùng bắt tay kinh doanh ở một hay nhiều lĩnh vực nào đó; nhìn chung, tập đoàn là một công ty đa ngành, có quy mô rất lớn và thường kinh doanh đa quốc gia. Theo Viện nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương CIEM thì khái niệm về tập đoàn kinh tế được hiếu “là một tổ hợp lớn các doanh nghiệp có tư cách pháp nhân hoạt động trong một hay nhiều ngành khác nhau, có quan hệ về vốn, tài chính, công nghệ, thông tin, đào tạo, nghiên cứu và các liên kết khác xuất phát từ lợi ích của các bên tham gia ”. Trong mô hình này, công ty mẹ nắm quyền lãnh đạo, chi phối hoạt động của công ty con về tài chính và chiến lược phát triển. Theo TS.Trần Tiến Cường, Trưởng Ban nghiên cứu cải cách và phát triển doanh nghiệp (Viện Nghiên cứu và quản lý kinh tế TƯ) trong dự thảo Nghị định về hình thành, tổ chức, hoạt động và giám sát đối với TĐ kinh tế nhà nước thì tập đoàn kinh tế nhà nước là nhóm các công ty, liên kết chủ yếu dưới hình thức công ty mẹ công ty con, có từ hai cấp DN trở lên, tạo thành tổ hợp kinh doanh gắn bó với nhau, hay tập đoàn kinh tế là tổ chức kinh tế có kết cấu tổ chức nhiều cấp, liên kết nhau bằng quan hệ tài sản và quan hệ hợp tác nhằm đáp ứng đòi hỏi của nền sản xuất hàng hóa; các doanh nghiệp trong tập đoàn đều có pháp nhân độc lập. Có nhiều quan niệm khác nhau về tập đoàn, song cũng có một điểm chung nhất là: Tập đoàn kinh tế là tổ hợp các công ty hoạt động trong một ngành hay nhiều ngành khác nhau, ở phạm vi một nước hay nhiều nước, trong đó có một công ty mẹ nắm quyền lãnh đạo, chi phối hoạt động của các công ty con về mặt tài chính và chiến lược phát triển. Tập đoàn kinh tế là một cơ cấu tổ chức vừa có chức năng kinh doanh, vừa có chức năng liên kết kinh tế nhằm tăng cường tích tụ, tập trung, tăng khả năng cạnh tranh và tối đa hóa lợi nhuận 1.1.1.2 Đặc điểm của tập đoàn kinh tế Sự hình thành và phát triển của các tập đoàn kinh tế xuất phát từ yêu cầu tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Trước áp lực cạnh tranh, các công ty có xu hướng sáp nhập hoặc liên kết với nhau tạo thành tập đoàn để nâng cao năng lực cạnh tranh của mình. Tuy nhiên không phải tập đoàn kinh tế nào cũng có thể tồn tại và phát triển được; hiệu quả hoạt động của các tập đoàn kinh tế luôn là vấn đề quan trọng được quan tâm hiện nay bởi những lợi ích và ảnh hưởng của tập đoàn kinh tế đối với một quốc gia là rất lớn. Sự mở rộng không hợp lý về quy mô của tập đoàn sẽ gây ra những hệ lụy không tốt, khó khắc phục đối với nền kinh tế của các nước, đặc biệt là các nước đang phát triển. Vì vậy, việc xác định đặc điểm chung của tập đoàn kinh tế để tìm ra một mô hình quản lý và xây dựng chiến lược phát triển cho tập đoàn kinh tế là cần thiết. Qua nghiên cứu tác giả nhận thấy đặc điểm nổi bật của tập đoàn kinh tế thường được thể hiện qua ba yếu tố cơ bản: cơ chế đầu tư vốn, cơ chế liên kết kinh doanh, cơ chế quản lý. Theo cơ chế đầu tư vốn: Sự liên kết giữa các doanh nghiệp với nhau trong một tập đoàn luôn luôn nhằm mục tiêu quan trọng nhất là giải quyết những khó khăn về vốn phục vụ kinh doanh. Vì vậy, khi đã hình thành tập đoàn, các doanh nghiệp thành viên phát triển nhanh hơn, tài sản có quyền sở hữu cũng tăng lên khá nhanh, từ đó, tông tài sản trong toàn tập đoàn cũng khá lớn, vì thế đòi hỏi phải có nguồn vốn lớn để đầu tư vào lượng tài sản này. Do đó, nguồn vốn đầu tư này chủ yếu một phần được tài trợ từ công ty mẹ, phần còn lại được huy động từ nước sở tại. Theo cơ chế liên kết kinh doanh: Các công ty trong tập đoàn có thể liên kết theo chiều dọc, liên kết theo chiều ngang hoặc liên kết hỗn hợp. + Liên kết theo chiều dọc là mô hình liên kết các công ty hoạt động trong cùng một chuỗi giá trị ngành (ví dụ: các công ty viễn thông từ cấp tập đoàn đến cấp cơ sở). Các mối liên kết này thường mang lại lợi thế về chi phí, sự chủ động cho các sản phấm đầu vào và đầu ra của các công ty. Tuy nhiên, nó cũng có một số khó khăn như nguồn lực bị phân tán, khó tập trung vào các hoạt động chủ yếu tạo giá trị gia tăng cao nhất trong chuỗi giá trị. + Liên kết theo chiều ngang là sự kết hợp giữa các công ty có sản phẩm, dịch vụ liên quan với nhau và có thế sử dụng cùng một hệ thống phân phối để gia tăng hiệu quả (ví dụ: các công ty viễn thông con đồng cấp). Mối liên kết này tạo điều kiện đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ, tận dụng hệ thống phân phối để tiết kiệm chi phí, phân tán rủi ro. Tuy nhiên, nó cũng gặp trở ngại là thiếu sự chủ động ở một số khâu như cung ứng nguyên liệu sản xuất, kho vận... so với liên kết dọc. + Liên kết hỗn hợp là sự kết hợp của cả hai dạng liên kết dọc và ngang. Vì vậy, ưu nhược điếm của liên kết này là tích hợp ưu nhược diêm của cả hai dạng. Tùy theo đặc điểm hoạt động kinh doanh của tập đoàn, nếu biết phát huy thế mạnh, hạn chế điểm yếu của từng dạng liên kết đơn lẻ sẽ tạo nên mô hình hoạt động khá hoàn chỉnh. Đồng thời, các tập đoàn cũng cần chú ý hạn chế những tác hại do việc mở rộng quy mô, giảm thiểu chi phí đầu tư không hiệu quả. Theo cơ chế quản lý: Tập đoàn kinh tế có thể được quản lý theo mô hình tập trung, phân tán hay hỗn hợp. Trong mô hình tập trung, quyền lực được tập trung ở cơ quan đầu não thường là công ty mẹ. Trong mô hình phân tán, công ty mẹ chỉ đưa ra định hướng và kiểm soát định hướng (kiểm soát chiến lược, các chính sách lớn về tài chính, nhân sự, đầu tư...), giao quyền tự chủ hoạt động cho các công ty con. Trong mô hình hỗn hợp, công ty mẹ vừa giao quyền tự chủ cho các công ty con, vừa thâu tóm quyền lực ở một số lĩnh vực trọng yếu. 1.1.1.3 Các mô hình tổ chức của tập đoàn kinh tế Mô hình tổ chức của tập đoàn kinh tế thường được hình thành dựa trên các tác động của (i) môi trường chính trị, pháp luật của mỗi quốc gia; (ii) môi trường kinh doanh; (iii) tầm nhìn, mục tiêu chiến lược của tập đoàn; (iv) đặc điểm của các thành viên trong tập đoàn. Mô hình tập đoàn thông thường được phân loại theo ba yếu tố: cơ chế đầu tư vốn, cơ chế liên kết kinh doanh, cơ chế quản lý. > Theo cơ chế đầu tư vốn: Tập đoàn kinh tế có thể lựa chọn một trong các mô hình đầu tư đơn cấp, đồng cấp, đa cấp hoặc hỗn hợp. + Trong mô hình đầu tư đơn cấp, công ty mẹ lẫn công ty con đều chỉ đầu tư xuống một cấp trực tiếp, không đầu tư xuống cấp xa hơn. + Trong đầu tư đồng cấp, các công ty trong cùng một cấp đầu tư qua lại. + Trong đầu tư đa cấp, các công ty, đặc biệt là công ty mẹ vừa đầu tư trực tiếp vào công ty con, đồng thời đầu tư trực tiếp vào các công ty cháu, chắt ở dưới mà không thông qua công ty trung gian nào. + Mô hình hỗn hợp là mô hình phối hợp nhiều hình thức đầu tư (đơn cấp, đồng cấp, đa cấp) giữa các công ty trong tập đoàn. > Theo co chế liên kết kinh doanh: Các công ty có thể liên kết theo chiều dọc, liên kết theo chiều ngang hoặc liên kết hỗn hợp. + Liên kết theo chiều dọc là mô hình liên kết các công ty hoạt động trong cùng một chuỗi giá trị ngành. Liên kết theo chiều dọc có thể là tích hợp ngược (ví dụ: các công ty sản xuất, mua lại hoặc đầu tư vốn vào các công ty cung ứng nguyên vật liệu cho mình); hoặc tích hợp xuôi (ví dụ: các công ty sản xuất, mua lại hoặc đầu tư vốn vào một công ty thương mại, tiếp thị để tiêu thụ sản phẩm do mình sản xuất hoặc cả hai). Các mối liên kết này thường mang lại lợi thế về chi phí, sự chủ động cho các sản phẩm đầu vào và đầu ra của các công ty. Tuy nhiên, nó cũng có một số khó khăn như nguồn lực bị phân tán, khó tập trung vào các hoạt động chủ yếu tạo giá trị gia tăng cao nhất trong chuỗi giá trị... Như vậy, có thế thấy liên kết dọc là mô hình kinh doanh trong đó mục tiêu chính là tạo mối liên kết giữa bản thân doanh nghiệp với các đối tác liên quan như các nhà cung cấp và nhà phân phối. Liên kết dựa trên nguyên lý cộng sinh. Với sức mạnh của sự liên kết này thì công ty mẹ là công ty có tiềm lực kinh tế mạnh nhất, nắm giữ các bộ phận then chốt nhất trong dây chuyền công nghệ, thị trường của tập đoàn, đồng thời thực hiện chức năng quản lý, điều phối và định hướng chung cho cả tập đoàn. Còn các công ty con thì được tổ chức theo sự phân công chuyên môn hóa và phối hợp hợp tác hóa theo đặc thù công nghệ của ngành. Ví dụ: Sony sử dụng mô hình liên kết dọc theo sự tích hợp ngược bằng việc hảng này sản xuất ra máy chơi game console là PlayStaion nhưng cũng kiêm luôn studio phát triển game; Hay Apple cũng là một điển hình trong mô hình liên kết dọc. Nó vừa cung cấp phần cứng iPad, iPhơne, iPod... vừa tạo ra phần mền iOS, MacOS, bán dịch vụ và đảm nhận luôn khâu phân phối sản phẩm. Apple gần như bao trọn cho một sản phấm công nghệ mà nhiều tập đoàn cạnh tranh trong lĩnh vực công nghệ với Apple chưa làm được. Điều này đã làm cho Apple trở thành đối thủ đáng gờm trong làng công nghệ và việc cạnh tranh với hảng là điều vô cùng khó khăn. Tất nhiên không phải cứ công ty nào liên kết theo chiều dọc cũng chiếm được lợi thế cạnh tranh tuyệt đối. Hãy nhìn vào HP dù sở hữu trong tay kệ điều hành WebOS đầy tiềm năng nhưng việc mua lại Plam và không có hệ thống bán hàng và marketing xuất sắc nên HP cũng khó lòng vươn mình lớn mạnh được như Apple. + Liên kết theo chiều ngang là sự kết hợp giữa các công ty có sản phẩm, dịch vụ liên quan với nhau và có thể sử dụng cùng một hệ thống phân phối để gia tăng hiệu quả (ví dụ: công ty sản xuất máy ảnh với công ty sản xuất ống kính máy ảnh). Mối liên kết này tạo điều kiện đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ, tận dụng hệ thống phân phối để tiết kiệm chi phí, phân tán rủi ro. Tuy nhiên, nó cũng gặp trở ngại là thiếu sự chủ động ở một số khâu như cung ứng nguyên liệu sản xuất, kho vận... so với liên kết dọc. Thuộc mô hình này gồm có Tổng công ty thép Việt Nam, Tổng công ty giấy Việt Nam, Tổng công ty cà phê Việt Nam... + Liên kết hỗn hợp là sự kết hợp của cả hai dạng liên kết dọc và ngang. Vì vậy, ưu nhược điếm của liên kết này là tích hợp ưu nhược điếm của cả hai dạng. Tùy theo đặc điểm hoạt động kinh doanh của tập đoàn, nếu biết phát huy thế mạnh, hạn chế điểm yếu của từng dạng liên kết đơn lẻ sẽ tạo nên mô hình hoạt động khá hoàn chỉnh. Đồng thời, các tập đoàn cũng cần chú ý hạn chế những tác hại do việc mở rộng quy mô, giảm thiểu chi phí đầu tư không hiệu quả. > Theo cơ chế quản lý: Tập đoàn kinh tế có thể được quản lý theo mô hình tập trung, phân tán hay hỗn hợp. + Trong mô hình tập trung, quyền lực được tập trung ở cơ quan đầu não thường là công ty mẹ. + Trong mô hình phân tán, công ty mẹ chỉ đưa ra định hướng và kiểm soát định hướng (kiểm soát chiến lược, các chính sách lớn về tài chính, nhân sự, đầu tư...), giao quyền tự chủ hoạt động cho các công ty con. + Trong mô hình hỗn hợp, công ty mẹ vừa giao quyền tự chủ cho các công ty con, vừa thâu tóm quyền lực ở một số lĩnh vực trọng yếu. 1.1.2 Các quyết định tài chính của tập đoàn kinh tế 1.1.2.1 Khái niệm tài chính của tập đoàn kinh tế Tài chính của tập đoàn kinh tế là một khâu trong hệ thống tài chính của nền kinh tế thị trường; vì thế, tính chất và mức độ phát triển tài chính của tập đoàn kinh tế cũng phụ thuộc vào tính chất và nhịp độ phát triển của nền kinh tế thị trường, và có những đặc trưng chủ yếu sau: Thứ nhất, tài chính của tập đoàn kinh tế phản ánh những luồng dịch chuyền giá trị trong nền kinh tế: đó là sự vận động các nguồn tài chính được diễn ra trong nội bộ tập đoàn để tiến hành hoạt động SXKD; được diễn ra giữa tập đoàn với ngân sách nhà nước thông qua việc nộp thuế hoặc tài trợ tài chính; hay được diễn ra giữa tập đoàn với thị trường. Thứ hai, sự vận động các nguồn tài chính tập đoàn không phải diễn ra một cách hỗn loạn mà nó được hòa nhập vào chu trình kinh tế của nền kinh tế thị trường. Đó là sự vận động chuyển hóa từ các nguồn tài chính thành các quỹ, hoặc vốn kinh doanh của tập đoàn và ngược lại. Sự chuyển hóa qua lại đó được điều chỉnh bằng hệ thống các quan hệ phân phối dưới hình thức giá trị nhằm để tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ, phục vụ cho các mục tiêu SXKD của tập đoàn. Từ những đặc trưng nêu trên có thể rút ra kết luận: Tài chính của tập đoàn kinh tế là hệ thống các luồng dịch chuyển giá trị phản ánh sự vận động và chuyển hóa các nguồn tài chính trong quá trình phân phốỉ đế tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đạt tói các mục tiêu kỉnh doanh của tập đoàn kinh tế trong khuôn khổ pháp luật.

Trang 1

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục viết tắt

Danh mục bảng biểu

Danh mục hình vẽ

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VÈ HỆ THỐNG THÔNG TIN KINH TẾ NHẰM PHỤC VỤ CHO VIỆC RA QUYẾT ĐỊNH TÀI CHÍNH CỦA TẬP ĐOÀN KINH TẾ 17

1.1 TẬP ĐOÀN KINH TẾ VÀ CÁC LOẠI QUYẾT ĐỊNH TÀI CHÍNH CỦA TẬP ĐOÀN KINH TẾ 11

1.1.1 Tập đoàn kinh tế và đặc điểm của tập đoàn kinh tế 11

1.1.1.1

Khái niệm tập đoàn kinh tế 11

1.1.1.2 Đặc điểm của tập đoàn kinh tế 12

1.1.1.3 Các mô hình tổ chức của tập đoàn kinh tế 14

1.1.2 Các quyết định tài chính của tập đoàn kinh tế 17

1.1.2.1 Khái niệm tài chính của tập đoàn kinh tế 17

1.1.2.2 Các quyết định tài chính của tập đoàn kinh tế 18

1.2 HỆ THỐNG THÔNG TIN KINH TẾ PHỤC VỤ CHO VIỆC RA QUYẾT ĐỊNH TÀI CHÍNH CỦA TẬP ĐOÀN KINH TẾ……… 28

1.2.1 Hệ thống thông tin kinh tế của tập đoàn kinh tế 28

1.2.1.1 Thông tin kinh tế và hệ thống thông tin kinh tế 28

1.2.1.2 Các yếu tố cấu thành hệ thống thông tin kinh tế 44

1.2.1.3 Mục tiêu và các tiêu chuẩn đánh giá HTTTKT 53

Trang 2

1.2.1.4 Vai trò của hệ thống thông tin kinh tế 59 1.2.2 Nội dung và mô hình tổ chức hệ thống thông tin kinh tế phục vụ việc

ra quyết định tài chính của tập đoàn kinh tế 62 1.2.2.1 Nội dung của hệ thống thông tin kinh tế phục vụ ra quyết định tài chính của tập đoàn kinh tế 62

1.2.2.2 Mô hình tổ chức hệ thống thông tin kinh tế phục vụ ra quyết định tài chính của tập đoàn kinh tế 63 1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc tổ chức hệ thống thông tin kinh tế của tập đoàn kinh tế 71 1.3 KINH NGHIỆM CỦA CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ TRONG VIỆC XÂY DỰNG HỆ THỐNG THÔNG TIN KINH TẾ PHỤC vụ CHO VIỆC RA

QUYẾT ĐỊNH TÀI CHÍNH CỦA TẬP ĐOÀN KINH TẾ 75 1.3.1 Kinh nghiệm việc xây dựng hệ thống thông tin kinh tế phục vụ cho việc ra quyết định tài chính 75 1.3.2 Bài học trong việc xây dựng hệ thống thông tin kinh tế phục vụ cho việc ra quyết định tài chính của tập đoàn kinh tế 87

Chương 2 THựC TRẠNG VỀ HỆ THỐNG THÔNG TIN KINH TẾ NHẰM PHỤC VỤ CHO VIỆC RA QUYẾT ĐỊNH TÀI CHÍNH CỦA TẬP ĐOÀN BƯU CHÍNH - VIỄN THÔNG VNPT 98

2.1 TỔNG QUAN VỀ TẬP ĐOÀN VNPT 98 2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Tập đoàn Bưu chính - Viễn thông VNPT 98 2.1.2 Đặc điểm sản xuất kinh doanh của Tập đoàn Bưu chính - Viễn thông VNPT 104 2.1.3 Đặc điểm về tài chính của Tập đoàn Bưu chính - Viễn thông VNPT 110 2.2 THỤC TRẠNG VỀ HỆ THỐNG THÔNG TIN KINH TẾ CỦA TẬP ĐOÀN BƯU CHÍNH - VIỀN THÔNG VNPT 116

Trang 3

2.2.1 Quan điểm về hệ thống thông tin kinh tế của VNPT: 123 2.2.2 Thực trạng về các yếu tố cấu thành nên hệ thống thông tin kinh tế của Tập đoàn Bưu chính - Viễn thông VNPT nhằm phục vụ cho việc ra quyết định tài chính 124 2.3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VỀ HOÀN THIỆN HỆ THỐNG THÔNG TIN KINH TẾ PHỤC vụ CHO VIỆC RA QUYẾT ĐỊNH TÀI CHÍNH CỦA TẬP ĐOÀN BƯU CHÍNH - VIỄN THÔNG VNPT 150 2.3.1 Những kết quả đạt được đối với hệ thống thông tin kinh tế nhằm phục vụ cho việc ra quyết định tài chính của VNPT 162 2.3.2 Những hạn chế đối với hệ thống thông tin kinh tế nhằm phục vụ cho việc ra quyết định tài chính của Tập đoàn VNPT 163 Chương 3 HOÀN THIỆN HỆ THỐNG THÔNG TIN KINH TẾ NHẰM PHỤC

VỤ CHO VIỆC RA QUYẾT ĐỊNH TÀI CHÍNH CỦA TẬP ĐOÀN BƯU CHÍNH - VIỄN THÔNG VNPT 167 3.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA VNPT TRONG THỜI GIAN TỚI 167 3.1.1 Mục tiêu phát triển của VNPT trong thời gian tới 167 3.1.2 Phương hướng thực hiện mục tiêu của VNPT 170 3.2 QUAN ĐIỂM VỀ VIỆC HOÀN THIỆN HỆ THỐNG THÔNG TIN KINH TẾ CHO VIỆC RA QUYẾT ĐỊNH TÀI CHÍNH 175 3.2.1 Thông tin kinh tế là yếu tố quan trọng nhất trong việc ra quyết định tài chính 170 3.2.2 Hệ thống thông tin phải phù hợp với trình độ nhà quản trị 174 3.3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HỆ THỐNG THÔNG TIN KINH TẾ NHẰM PHỤC VỤ CHO VIỆC RA QUYẾT ĐỊNH TÀI CHÍNH CỦA TẬP ĐOÀN BƯU CHÍNH - VIỂN THÔNG VNPT 180 3.3.1 Giải pháp về tổ chức cấu thành hệ thống thông tin 180 3.3.2 Giải pháp về nội dung cấu thành hệ thống thông tin 194

Trang 4

3.3.3 Giải pháp về phương thức cấu thành hệ thống thông tin 197

3.3.4 Giải pháp về công cụ cấu thành hệ thống thông tin 199

3.3.5 Hoàn thiện công tác tổ chức kế toán 201

3.3.6 Một số giải pháp khác 208

KẾT LUẬN 205

Trang 5

DANH MỤC VIẾT TẮT

VNPT: Viet Nam Posts and Telecommunications Group

Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam SXKD: Sản xuất kinh doanh

TSCĐ: Tài sản cố định

DPP:

Discount Payback Period Thời gian hoàn vốn đầu tư có tính đến yếu tố chiết khấu NPV: Net Present Value - Giá trị hiện tại thuần

IRR: Internal Rate of Return - Tỷ suất sinh lợi nội bộ

PI: Proíitability Index - Chỉ số sinh lời

CNTT: Công nghệ thông tin

Trang 6

Khách hàng doanh nghiệp Sản phẩm

Công nghệ thông tin Giá trị gia tăng Very Important Person - nhân vật quan trọng Tập đoàn kinh tế

Tổ chức viễn thông quốc tế thuộc Liên hiệp quốc Asymmetric Digital Subscriber Line- Băng thông rộng Tác nghiệp

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1: Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng hệ thống thông tin theo tổng hợp

của Knight và Bum 56

Bảng 1.2: Các mô hình thu thập thông tin 67

Bảng 1.3: Bảng tổng hợp kết quả phân tích và dự báo môi trường KD 69

Bảng 2.1: Cơ cấu trình độ 107

Bảng 2.2: Cơ cấu độ tuổi 107

Bảng 2.3: Bảng cân đối kế toán của tập đoàn VNPT 110

Bảng 2.4: Bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của VNPT 104

Bảng 2.5: Hệ số thanh toán 105

Bảng 2.6: Hệ số phản ánh cơ cấu vốn 105

Bảng 2.7: Hệ số phản ánh hiệu suất hoạt động 106

Bảng 2.8: Hệ số phản ánh hiệu quả hoạt động 107

Bảng 2.9: Bảng phân phối lợi nhuận của Tập đoàn VNPT 108

Bảng 2.10: Bảng phản ánh tốcđộ tăng trưởng của Tập đoàn VNPT 1139

Bảng 2.11: Bảng cân đối kế toántrong trường hợp cập nhậtthông tin đồng bộ của Tập đoàn Bưu chính - Viễn thông VNPT 155

Bảng 2.12: Bảng Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh trong trường hợp cập nhật thông tin đồng bộ của Tập đoàn Biru chính - Viễn thông VNPT 156

Bảng 3.1: Kế hoạch đầu tư - doanh thu đến năm 2020 của VNPT 163

Bảng 3.2: Bảng so sánh giữa hai quy trình quản lý của VNPT trước và sau khi thay đổi cơ cấu quản lý 198

Trang 8

DANH MỤC Sơ ĐỒ

Sơ đồ 1.1: sơ đồ tổ chức và phân phối thông tin 35

Sơ đồ 1.2: Phân loại theo kênh thông tin kinh tế độc lậpvới Tập đoàn 48

Sơ đồ 1.3: Phân loại theo kênh thông tin trực tiếp từ Tập đoàn 48

Sơ đồ 1.4: Phân loại theo kênh thông tin kết hợp 49

Sơ đồ 1.5:Các bước quy trình thu thập thông tin 51

Sơ đồ 1.6: Mô hình hệ thống thông tin kinh tế 63

Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức Tập đoàn Bưu chính - Viễn thông VNPT 1083

Sơ đồ 2.2: sơ đồ hệ thống thông tin kinh tế của Tập đoàn Viễn thông VNPT 136

Sơ đồ 2.3: Sơ đồ sử dụng thông tin kết hợp để ra quyết định tài chính 160

Sơ đồ 3.1: Quy trình xử lý thông tin 183

Sơ đồ 3.2: Hoàn thiện hệ thống thông tin nhằm phục vụ ra quyết định đầu tư trong nước 187

Trang 9

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam đang trên con đường phát triển và hội nhập mạnh mẽ, sâu rộng vào nền kinh tế quốc tế, tập đoàn kinh tế Việt Nam hiện đang phải đối mặt, cạnh tranh bình đẳng với các tập đoàn kinh tế đa quốc gia hùng mạnh trên thế giới, đặc biệt là sau khi gia nhập tổ chức thương mại quốc tế WTO và bắt đầu với Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) Kinh nghiệm các quốc gia trên thế giới cho thấy những tập đoàn kinh tế mạnh ở cả khu vực nhà nước và khu vực tư nhân sẽ là “đội quân chủ lực” đảm bảo quá trình hội nhập thành công Do đó, trong quá trình đổi mới đất nước trong giai đoạn hiện nay, đặc biệt

là hội nhập quốc tế với nền kinh tế thị trường, Đảng và nhà nước đã chỉ đạo xây dựng và phát triển các tập đoàn kinh tế trở thành các tập đoàn kinh tế mạnh để trở thành những quả đấm thép phục vụ sự phát triển kinh tế của đất nước Bên cạnh đó, trong nền kinh tế nhiều thành phần, các tập đoàn kinh tế nhà nước nắm giữ các lĩnh vực, ngành nghề quan trọng, giữ vai trò trụ cột của nền kinh tế quốc dân, thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế theo định hướng của Đảng và Nhà nước Ngoài ra, tập đoàn kinh tế nhà nước còn là nhân tố thúc đẩy

sự phát triển của kinh tế quốc dân; các tập đoàn kinh tế không chỉ mang lại lợi ích kinh tế lớn cho đất nước về các mặt như: góp phần quan trọng vào tăng trưởng và phát triển kinh tế đất nước, đóng góp không nhỏ vào nguồn thuế, tạo nguồn thu ngoại tệ và nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước, hạn chế nhập siêu, tạo nên sức mạnh cho nền kinh tế góp phần đẩy nhanh tốc độ CNH, HĐH đất nước mà tập đoàn kinh tế nhà nước còn là trụ cột kinh tế, góp phần giải quyết việc làm cho người lao động, nâng cao mức sống cho nhân dân, góp phần giải quyết vấn đề an sinh xã hội, quốc phòng, an ninh

Xu thế hình thành và phát triển các tập đoàn kinh tế Việt Nam là một hướng

đi đúng đắn phù hợp với quy luật phát triển của nền kinh tế thị trường, phù hợp

Trang 10

2

với đòi hỏi thực tiễn của nền kinh tế Việt Nam và phù hợp với sức ép cạnh tranh trong quá trình toàn cầu hóa; thực tế ở nước ta cho thấy, tập đoàn kinh tế nhà nước chính là lực lượng quan trọng của Nhà nước đảm nhận sản xuất, kinh doanh nhiều mặt hàng thiết yếu nhằm đáp ứng nhu cầu của nhân dân, góp phần quan trọng trong việc bảo đảm an ninh lương thực, an ninh năng lượng, an ninh quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc và khẳng định chủ quyền quốc gia, bảo vệ môi trường sinh thái Mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước là mô hình liên kết kinh tế tiên tiến và có sức mạnh nhất; với đặc điểm là mô hình có quy mô lớn, nguồn lao động dồi dào, thị trường và công nghệ vượt trội, các tập đoàn kinh tế nhà nước có một vị thế khác biệt so với các doanh nghiệp kinh doanh cùng loại Điếm quan trọng đầu tiên quyết định sự liên kết, hợp tác giữa các công ty trong

mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước là lợi ích; bởi lẽ, đối với mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước, lợi ích đến với cả tập đoàn kinh tế và cả công ty thành viên Các công ty thành viên trong tập đoàn kinh tế nhà nước luôn được sự hỗ trợ phát triển thông qua thương hiệu của tập đoàn: hỗ trợ về vốn, công nghệ, hoạt động đào tạo quản lý, lao động Những hỗ trợ đó sẽ tạo ra điều kiện và động lực, môi trường thuận lợi giúp các doanh nghiệp thành viên của tập đoàn kinh tế nhà nước phát triển nhanh và bền vững, từ đó góp phần thúc đẩy phát triển hoạt động sản xuất, kinh doanh của cả tập đoàn kinh tế nhà nước nhằm tạo ra sức mạnh kinh tế - xã hội của quốc gia

Với mục tiêu kinh doanh, tìm kiếm lợi nhuận trên thị trường, các tập đoàn kinh tế nhà nước phải khai thác nguồn vốn nhà nước nhằm tạo ra lợi nhuận bổ sung cho ngân sách nhà nước, đồng thời, tạo ra việc làm và thu nhập hợp pháp nhằm nâng cao đời sống về mọi mặt của người lao động Hơn nữa, các tập đoàn kinh tế nhà nước với ưu thế về quy mô và kết hợp được các ưu thế của phân công lao động, chuyên môn hóa với hợp tác hóa trong sản xuất, kinh doanh nên

Trang 11

mô hình tổng công ty, mô hình tập đoàn hiện nay chỉ dựa vào Luật doanh nghiệp và Nghị định 153 của Chính phủ về việc quản lý Tổng công ty nhà nước; bên cạnh đó còn nhiều hạn chế trở ngại như thiếu các chính sách khuyến khích cạnh tranh, hạn chế độc quyền, thiếu chính sách đầu tư ra nước ngoài

sở hữu của nhà nước với cơ chế hoạt động của thị trường và chức năng khác

Vì thế, để các tập đoàn kinh tế ở Việt Nam hoạt động có hiệu quả, phát huy được sức mạnh vai trò của chúng đối với nền kinh tế, thì việc nghiên cứu một cách toàn diện, đầy đủ cả về lý luận và thực tiễn hệ thống các thông tin kinh tế

là điều rất cần thiết; tuy nhiên, việc tổ chức, xây dựng, hoàn thiện hệ thống thông tin kinh tế và khai thác, sử dụng hệ thống thông tin kinh tế này phục vụ cho việc

ra các quyết định quản trị kinh doanh nói chung, quản trị tài chính nói riêng của các tập đoàn kinh tế hiện nay như thế nào? Cụ thể:

V Hoàn thiện hệ thống thông tin kinh tế phục vụ cho việc phân tích môi trường kinh doanh và lựa chọn mục tiêu hợp lý?

V Hoàn thiện hệ thống thông tin kinh tế phục vụ cho việc phân tích và lựa chọn chiến lược của doanh nghiệp?

Trang 12

4

s Hoàn thiện hệ thống thông tin kinh tế phục vụ cho việc xây dựng mục

tiêu và chiến lược về nguồn nhân lực?

S Hoàn thiện hệ thống thông tin kinh tế phục vụ cho việc ra các quyết

định tài chính?

s Hoàn thiện hệ thống thông tin kinh tế phục vụ cho việc xây dựng mục

tiêu và chiến lược về marketing?

S Hoàn thiện hệ thống thông tin kinh tế phục vụ cho việc xây dựng

mục tiêu và chiến lược về sản xuất?

s Hoàn thiện hệ thống thông tin kinh tế phục vụ cho việc xây dựng mục

tiêu và chiến lược về nghiên cứu và phát triển?

S Hoàn thiện hệ thống thông tin kinh tế phục vụ cho việc thâm nhập

vào thị trường vốn quốc tế?

s Hoàn thiện hệ thống thông tin kinh tế phục vụ cho việc nâng cao hiệu

quả sử dụng vốn?

Đó là một số vấn đề hiện nay về mục tiêu của việc hoàn thiện hệ thống thông tin kinh tế mà NCS còn băn khoăn trăn trở; tuy nhiên, luận án này thuộc chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng, nên NCS chỉ nghiên cứu sâu vấn đề hoàn thiện hệ thống thông tin kinh tế phục vụ cho việc ra các quyết định tài chính Hiện nay, trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, các tập đoàn kinh tế Việt Nam đang đứng trước nhiều cơ hội, nhưng cũng nhiều thách thức Trong những năm qua, công tác quản trị tài chính của các tập đoàn kinh tế được chú trọng hơn, việc phân tích, đánh giá và ra các quyết định tài chính được thực hiện một cách bài bản hơn Tuy nhiên, đế đưa ra quyết định tài chính đúng đắn thì đòi hỏi cần phải dựa trên một cơ sở dữ liệu và thông tin một cách đầy đủ và rõ ràng, nhất là những thông tin về kinh tế tài chính

Quyết định tài chính là quyết định có vai trò hết sức quan trọng trong các

Trang 13

5

Tập đoàn kinh tế, bởi nó liên quan trực tiếp đến mức độ rủi ro và lợi ích của các chủ sở hữu Để đưa ra quyết định tài chính đúng đắn, nhà quản trị tài chính cần phải nghiên cứu nhiều nhân tố chủ quan, khách quan, bên trong và bên ngoài tập đoàn; điều này phụ thuộc trực tiếp vào việc tổ chức, xử lý và cung cấp thông tin về các nhân tố này nhằm phục vụ cho việc đưa ra các quyết định tài chính của Tập đoàn

Tập đoàn kinh tế theo mô hình công ty mẹ, công ty con ở nước ta đã được hình thành từ hơn thập kỷ qua, bên cạnh những thành tựu đạt được rất quan trọng, hoạt động của các tập đoàn kinh tế nói chung, VNPT nói riêng đã bộc lộ nhiều vướng mắc và bất cập, nguyên nhân cơ bản bắt nguồn từ hệ thống thông tin kinh tế phục vụ ra quyết định quản lý nói chung, quyết định tài chính nói riêng chưa được cung cấp, xử lý đầy đủ, chính xác và kịp thời

Tập đoàn Bưu chính - Viễn thông Việt Nam (VNPT) là một trong số các Tập đoàn kinh tế nhà nước ra đời sớm nhất ở Việt Nam; trải qua nhiều giai đoạn phát triển, từ độc quyền nhà nước, độc quyền doanh nghiệp đến mở cửa hội nhập cạnh tranh và phải thực hiện tái cơ cấu để tăng năng lực cạnh tranh VNPT được đánh giá là Tập đoàn kinh tế đã tổ chức hoạt động kinh doanh khá hiệu quả và nhất là: đã thực hiện tái cơ cấu thành công

Là một tập đoàn kinh tế lớn hàng đầu Việt Nam, Tập đoàn VNPT đã và đang chứng tỏ vị thế quan trọng trong quá trình hội nhập và phát triển kinh tế

xã hội Việt Nam Thành công của VNPT một phần là nhò’ các quyết định tài chính được ban hành với những căn cứ đáng tin cậy, đó chính là hệ thống thông tin kinh tế

-Tuy nhiên, công tác quản trị tài chính của Tập đoàn VNPT vẫn còn một

số hạn chế; cụ thể:

V Bộ phận quản trị tài chính của Tập đoàn VNPT chưa có một vị trí

Trang 14

6

độc lập trong doanh nghiệp, nó nằm trộn lẫn với bộ phận kế toán; vì thế, việc ra quyết định tài chính cũng như việc sử dụng hệ thống thông tin kinh tế để đưa ra lời tư vấn quyết định tài chính của Tập đoàn có tính chuyên môn chưa sâu;

V Tập đoàn VNPT có vốn đầu tư 100% là vốn của nhà nước, nên việc

thực hiện những chính sách tài chính phải tuân theo chế độ hướng dẫn tài chính của Nhà nước, vì thế tính linh hoạt trong quản trị tài chính chưa cao

Vì thế, để đưa ra quyết định tài chính đúng đắn, bộ phận tài chính cần thiết phải được sự hỗ trợ của hệ thống thông tin kinh tế, nhưng hệ thống thông tin kinh tế lại phụ thuộc trực tiếp vào việc thu thập, xử lý thông tin; nếu việc thu thập, xử lý thông tin tốt thì việc ra quyết định tài chính sẽ thuận lợi hơn; và ngược lại, việc thu thập, xử lý thông tin chưa tốt thì việc ra quyết định tài chính

sẽ gặp nhiều khó khăn hơn Vì vậy, hoàn thiện hệ thống thông tin kinh tế để hệ thống thông tin kinh tế được chuẩn hóa hơn nhằm phục vụ cho việc ra quyết định tài chính là một việc cần làm và cần sớm được thực hiện

Chính vì thế, NCS ấp ủ và mạnh dạn nghiên cứu đề tài luận án: “Hoàn

thiện hệ thống thông tin kinh tế phục vụ ra quyết định tài chính của Tập đoàn Bưu chính - Viễn thông Việt Nam VNPT” làm đề tài nghiên cứu cho bản luận án

Tiến sĩ kinh tế của mình

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Đề tài tập trung nghiên cứu, hệ thống hóa và góp phần làm rõ hơn những vấn đề lý luận về việc sử dụng hệ thống thông tin kinh tế phục vụ ra quyết định tài chính của Tập đoàn Bưu chính - Viễn thông Việt Nam VNPT

Qua khảo sát thực trạng hệ thống thông tin kinh tế của Tập đoàn Bưu chính

Trang 15

7

- Viễn thông Việt Nam VNPT ở những năm vừa qua, đề tài nêu cao vai trò của

hệ thống thông tin kinh tế, đánh giá thực trạng việc hoàn thiện hệ thống thông tin kinh tế và rút ra những ưu điểm, hạn chế của việc hoàn thiện hệ thống thông tin kinh tế nhằm phục vụ ra quyết định tài chính của Tập đoàn Bưu chính - Viễn thông Việt Nam VNPT Từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện hệ thống thông tin kinh tế Tập đoàn Bưu chính - Viễn thông Việt Nam VNPT

Để hoàn thiện và nâng cao chất lượng hệ thống thông tin kinh tế, về lý thuyết cũng như thực tiễn rất cần có những nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện và chuyên sâu nhằm tổng kết đánh giá một cách khách quan, khoa học về

tổ chức, quy trình cung cấp và xử lý hệ thống thông tin kinh tế hiện hành nhằm phục vụ có hiệu quả cho các nhà quản lý kinh tế và các nhà quản trị tài chính khi đưa ra các quyết định tài chính

Vì thế, mục tiêu nghiên cứu của luận án được thể hiện cụ thể trên các mặt sau:

a Hỗ trợ nhà quản trị đưa ra quyết định đầu tư, phát huy tính sáng tạo trong quyết định đầu tư của Tập đoàn; tăng cường liên kết đầu tư

mở rộng ở thị trường nước ngoài thông qua việc góp vốn với các đối tác giúp VNPT ngày càng nâng cao uy tín thương hiệu;

b Hỗ trợ nhà quản trị đưa ra quyết định huy động vốn, thông qua việc nâng cao khả năng thâm nhập thị trường vốn; do VNPT là Tập đoàn kinh tế lớn của Việt Nam, có quy mô vốn lớn và thị trường

mở rộng, có uy tín trong lĩnh vực viễn thông ở trong nước cũng như trên thế giới, vì thế khả năng thâm nhập thị trường vốn của Tập đoàn VNPT rất cao, nên VNPT có cơ hội chọn lựa nguồn vốn huy động có chi phí sử dụng vốn thấp, và là nguồn tài trợ ổn định;

và đây cũng chính là cơ hội đế VNPT tăng cường sử dụng vốn có hiệu quả thông qua việc mở rộng đầu tư ở thị trường nước ngoài

Trang 16

Để thực hiện những mục tiêu đã được đề ra ở phần trên, luận án cần giải quyết 3 vấn đề chính có liên quan chặt chẽ với nhau, đó là:

1/ Vai trò của hệ thống thông tin kinh tế đối với quyết định tài chính của Tập đoàn Bưu chính - Viễn thông Việt Nam VNPT? Mục đích của phần này là

hệ thống hóa những lý luận cơ bản về tập đoàn kinh tế, các quyết định tài chính của tập đoàn kinh tế, mối quan hệ giữa hệ thống thông tin kinh tế phục vụ cho việc ra quyết định tài chính của tập đoàn kinh tế

2/ Thực trạng về việc hoàn thiện hệ thống thông tin kinh tế nhằm phục vụ

ra quyết định tài chính của Tập đoàn Bưu chính - Viễn thông Việt Nam VNPT? Mục đích của phần này là nhằm đánh giá những thành tựu đạt được những hạn chế và nguyên nhân dẫn tới hệ thống thông tin kinh tế phục vụ ra quyết định tài chính còn nhiều bất cập, chưa hoàn thiện và chất lượng thông tin chưa cao 3/ Hoàn thiện hệ thống thông tin kinh tế nhằm phục vụ ra quyết định tài chính của Tập đoàn Bưu chính - Viễn thông Việt Nam VNPT? Mục đích của phần này là hoàn thiện hệ thống thông tin kinh tế phục vụ ra quyết định tài chính bằng cách đưa ra các nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng

hệ thống thông tin kinh tế phục vụ ra quyết định tài chính của Tập đoàn Bưu chính - Viễn thông Việt Nam VNPT

Trang 17

9

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề

tài s Đối tượng nghiên cứu:

+ Tìm hiểu các đối tượng ảnh hưởng đến hệ thống thông tin kinh

tế, luận án sẽ chọn đối tượng nghiên cứu là Tập đoàn Bưu chính - Viễn thông Việt Nam VNPT, nhung do hiện nay Bưu chính đã tách khỏi Viễn thông, nên luận án chỉ tiếp cận ngành Viễn thông của Tập đoàn Bưu chính - Viễn thông Việt Nam VNPT

+ Tìm hiểu thực trạng hệ thống thông tin kinh tế ảnh hưởng đến việc ra quyết định tài chính của Tập đoàn Bưu chính - Viễn thông Việt Nam VNPT; luận án chọn đối tượng nghiên cứu là nhà quản trị cấp chiến lược, cấp chiến thuật, cấp tác nghiệp và nhà quản lý công nghệ thông tin của tập đoàn VNPT, vì họ là những người chủ chốt theo suốt dự án từ khi lập kế hoạch cho tới khi hoàn thành sử dụng hệ thống thông tin kinh tế phục vụ ra quyết định tài chính

V Phạm vi nghiên cứu:

+ Là Tập đoàn Bưu chính - Viễn thông Việt Nam VNPT

+ Thời gian nghiên cứu, thu thập số liệu từ năm 2011 đến năm

2015

Luận án tiếp cận giải quyết vấn đề chất lượng thông tin trên góc độ hoàn thiện hệ thống thông tin Để hỗ trợ người sử dụng thông tin ra quyết định tài chính Điều này nghĩa là hệ thống thông tin đã xây dựng và được hoàn thiện sẽ tạo ra những thông tin phù hợp, chính xác, kịp thời và đầy đủ nhằm giúp cho việc ra các quyết định tài chính được thuận lợi hơn Các nghiên cứu liên quan tới việc thay đổi các chính sách kinh tế nhằm phục vụ việc ra quyết định tài chính sẽ nằm ngoài phạm vi của luận án

về phạm vi hệ thống thông tin, luận án chỉ dừng lại nghiên cứu ứng dụng

hệ thống thông tin kinh tế nhằm phục vụ ra quyết định tài chính trong nội bộ tập

Trang 18

10

đoàn Bưu chính - Viễn thông Việt Nam VNPT

về phạm vi các nhân tố ảnh hưởng chất lượng thông tin, luận án chỉ nghiên cứu vấn đề kinh tế liên quan đến việc ra quyết định tài chính của Tập đoàn Bưu chính - Viễn thông Việt Nam VNPT Luận án không nghiên cứu các nhân tố kinh tế không liên quan tới việc ra quyết định tài chính của Tập đoàn Bưu chính

- Viễn thông Việt Nam VNPT, các nhân này được coi nằm ngoài phạm vi luận

án

4 Nguồn dữ liệu của luận án:

- Dữ liệu thứ cấp: Luận án sử dụng một số nguồn thông tin thứ cấp như các công trình nghiên cứu, các tài liệu nghiên cứu liên quan, các báo cáo chuyên môn của các cơ quan quản lý Nhà nước và các tổ chức khác: Tổng cục thống

kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tập đoàn Bưu chính - Viễn thông Việt Nam VNPT

- Dữ liệu sơ cấp: là các thông tin thu thập qua điều tra phỏng vấn trực tiếp hoặc điều tra qua bảng câu hỏi được thiết kế sẵn

5 Phương pháp nghiên cứu:

Để có được các đánh giá thực tiễn về hoàn thiện hệ thống thông tin kinh tế nhằm phục vụ ra quyết định tài chính của Tập đoàn Bưu chính - Viễn thông Việt Nam VNPT, tác giả đã khảo sát Tập đoàn Bưu chính - Viễn thông Việt Nam VNPT Với quy mô khảo sát này, tác giả thu thập thông tin về thực trạng hoàn thiện hệ thống thông tin kinh tế trên cơ sở các phương pháp phát phiếu điều tra, thực hiện phỏng vấn trực tiếp, qua điện thoại, thư điện tử Bên cạnh nguồn số liệu sơ cấp đó, tác giả còn sử dụng số liệu thứ cấp mà chủ yếu từ các báo cáo thống kê của Tổng cục thống kê và các nguồn khác đã được công bố Luận án nghiên cứu lý luận kết hợp với khảo sát thực tế và sử dụng linh hoạt phương pháp nghiên cứu định tính như phân tích, so sánh, tổng hợp thông tin làm cơ sở đưa ra các nhận định, đánh giá thực trạng hoàn thiện hệ thống thông tin kinh tế nhằm phục vụ ra quyết định tài chính của Tập đoàn Bưu chính

Trang 19

11

- Viễn thông Việt Nam VNPT, đồng thời đề xuất giải pháp hoàn thiện hệ thống thông tin kinh tế phù hợp

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

- Đối với Tập đoàn VNPT, thì đây là một Tập đoàn lớn, có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Việt Nam, việc đưa ra quyết định tài chính đúng đắn sẽ Đểm lại nhiều lợi ích cho Tập đoàn, và hơn nữa Đểm lại lợi ích cho nhà nước và dân cư

- Trước yêu cầu của thị trường, mặc dù đã cố gắng hết sức, nhưng VNPT vẫn còn nhiều tồn tại, sức phát triển chưa tương xứng với tiềm năng của một Tập đoàn lớn Mặt khác, trong môi trường kinh doanh đầy biến động, cạnh tranh khốc liệt, thông tin bùng nổ đa chiều, hệ thống thông tin kinh tế phục vụ ra quyết định tài chính của VNPT tỏ ra thiếu về lượng và thấp về chất Trong những tồn tại đó, việc xây dựng cho mình một hệ thống thông tin kinh tế là một nội dung lớn cần phải thực hiện Nếu hệ thống thông tin kinh tế không sớm được hoàn thiện thì trở ngại sẽ phát sinh trong việc ra quyết định tài chính, hệ lụy tất yếu

là các quyết định tài chính sẽ trở nên không phù hợp, thậm chí sai lầm, an ninh tài chính của VNPT sẽ khó được đảm bảo Vì thế ta thấy, thông tin đóng một vai trò vô cùng quan trọng, nó Đểm đến những cơ hội mới cho hoạt động kinh doanh; nếu thông tin đầy đủ, chính xác, phù hợp và kịp thời thì nó càng trở nên quan trọng, bởi nó liên quan đến việc ra các quyết định tài chính, từ đó ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả tổ chức, hiệu quả sử dụng đồng vốn của Tập đoàn;

vì thế, hoàn thiện hệ thống thông tin có ý nghĩa rất quan trọng trong việc ra quyết định tài chính của Tập đoàn VNPT

- Kết quả nghiên cứu của luận án có ý nghĩa góp phần làm phơng phú thêm những vấn đề lý luận về hệ thống thông tin kinh tế và mối quan hệ giữa hệ thống thông tin kinh tế với các quyết định tài chính của Tập đoàn kinh tế nói chung, Tập đoàn Bưu chính - Viễn thông Việt Nam VNPT nói riêng; nó có ý nghĩa góp

Trang 20

12

phần thúc đẩy quá trình hoàn thiện hệ thống thông tin kinh tế phục vụ cho việc

ra quyết định tài chính của Tập đoàn Bưu chính - Viễn thông Việt Nam

- Thông qua khảo sát thực trạng về hệ thống thông tin kinh tế của Tập đoàn Bưu chính - Viễn thông, luận án đánh giá thực trạng về hệ thống thông tin kinh

tế và đề xuất các giải pháp đế hoàn thiện hệ thống thông tin một cách đầy đủ, rõ ràng và kịp thời nhằm phục vụ ra quyết định tài chính của Tập đoàn Bưu chính

- Viễn thông Việt Nam VNPT ngày càng tốt hơn

- Xuất phát từ những lý do đó, tác giả lựa chọn đề tài: “Hoàn thiện hệ

thống thông tin kinh tế phục vụ ra quyết định tài chính của Tập đoàn Bưu chính

- Viễn thông Việt Nam VNPT’ là rất cần thiết trên cả phương diện lý luận lẫn

thực tiễn

7 Kết cấu luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận

án được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Lý luận chung về hệ thống thông tin kinh tế nhằm phục vụ cho việc ra quyết định tài chính của Tập đoàn kinh tế

Chương 2: Thực trạng về hệ thống thông tin kinh tế nhằm phục vụ cho việc

ra quyết định tài chính của Tập đoàn Bưu chính - Viễn thông Việt Nam VNPT Chương 3: Hoàn thiện hệ thống thông tin kinh tế nhằm phục vụ cho việc

ra quyết định tài chính của Tập đoàn Bưu chính - Viễn thông Việt Nam VNPT

8 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến luận án

Quản trị tài chính trong các doanh nghiệp thuộc mọi loại hình và mọi thành phần kinh tế luôn là vấn đề quan trọng trong công tác quản lý kinh tế tài chính của các doanh nghiệp Bất kể doanh nghiệp nào, vấn đề tổ chức quản trị tài chính hợp lý và khoa học đều được những nhà quản lý và nhà chuyên môn quan tâm đúng mức Vì chỉ có tổ chức khoa học và hợp lý, quản trị tài chính mới có thể đưa ra những quyết định đúng đắn và kịp thời cho việc điều hành Tập đoàn

Trang 21

13

Hơn ai hết, Tập đoàn Bưu chính - Viễn thông Việt Nam VNPT phải chịu sức ép cạnh tranh từ việc gia nhập WTO (do có nhiều đối tác Viễn thông nước ngoài đầu tư vào Việt Nam), cũng như các công ty Viễn thông vừa và nhỏ (cũng

bị áp lực tồn tại trong thế giới kinh doanh đầy cạnh tranh) đều hiểu rõ sự cần thiết về hệ thống thông tin kinh tế, vì hệ thống này có vai trò cung cấp thông tin kinh tế kịp thời, phù hợp, đầy đủ và chính xác cho nhà quản trị, từ đó nhà quản trị có cơ sở khoa học đưa ra các quyết định tài chính được chính xác hơn, hiệu quả hoạt động được nâng cao hơn, và sức cạnh tranh trên thị trường viễn thông ngày càng lớn hơn

Vì tầm quan trọng như vậy nên có nhiều nghiên cứu liên quan tới hệ thống thông tin, và liên quan quyết định tài chính Cụ thể:

Công trình nghiên cứu về hệ thống như luận án của Tiến sĩ Nguyễn Thị Bích Liên (2012) nói về việc ứng dụng hệ thống EPR để hoạch định nguồn lực của doanh nghiệp, luận án này nói về việc sử dụng hệ thống thông tin để nghiên cứu thực hiện phân tích dữ liệu liên quan tới quy trình làm việc của công ty Hệ thống thông tin tác động tới tất cả các hoạt động, các bộ phận chức năng của doanh nghiệp Nhờ hệ thống thông tin EPR làm thay đổi quy trình làm việc, rút ngắn thời gian làm việc cho một nghiệp vụ kinh tế, vì thế hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp tăng lên đáng kể

Ngoài ra, nói đến chất lượng thông tin, kiểm soát chất lượng thông tin trong doanh nghiệp liên quan trực tiếp tới vấn đề các nhân tố ảnh hưởng chất lượng thông tin, một nghiên cứu đã được công bố trong luận án tiến sĩ 2003 của đại học Southern Queensland “Critical Success Factors for Accounting Iníòrmation Systems Data Quality” Tuy nhiên nghiên cứu này chỉ dừng trong phạm vi hệ thống kế toán nói riêng chứ không phải cho cả ngành kinh tế nói chung Ngoài

ra luận án trên sử dụng cách tiếp cận xây dựng mô hình nghiên cứu trên quan điểm quản lý chất lượng hệ thống thông tin kế toán tống thế chứ không sử dụng

Trang 22

14

mô hình hệ thống thông tin kinh tế, hệ thống hoạt động khi phân tích

Mặt khác, vai trò của nghiên cứu tài chính trong phát triển kinh tế được giải thích bởi Okab và đồng sự (2014), thông qua nghiên cứu của họ, họ đã chứng minh rằng các thông tin kinh tế đóng một vai trò tích cực trong sự toàn vẹn của các quyết định cũng như sự thành công của kế hoạch phát triển, thực hiện kế hoạch hợp thời phụ thuộc vào quyết định chiến lược được thực hiện bởi những nhà quản lý, những loại quyết định này dựa vào các thông tin kinh tế Đó

là lý do tại sao Ưllah và đồng sự (2014) đã phát triển một mối quan hệ có ý nghĩa giữa các thông tin kinh tế và các quyết định chiến lược Mặt khác, Rapina (2014) xác định ảnh hưởng của các yếu tố tổ chức (cam kết quản lý, văn hóa tổ chức và cơ cấu tổ chức) đến chất lượng của hệ thống thông tin kinh tế và tác động của nó đến chất lượng thông tin kinh tế; Chiriac (2014) phát triển một phương pháp định tính, bởi một quan điểm lý thuyết, về tầm quan trọng của thông tin kinh tế trong việc ra quyết định; Nobes & Stadler (2014) thực hiện đầu tiên nghiên cứu thực nghiệm có sử dụng công khai dữ liệu có sẵn để cung cấp bằng chứng trực tiếp về vai trò của thông tin kinh tế trong các quyết định; Caraiman (2015) cho thấy rằng các thông tin kinh tế chịu ảnh hưởng nặng nề của hệ thống chính trị; Một số chuyên gia như Fitriati & Mulyani (2015) đã chứng minh rằng sự thành công của hệ thống thông tin kinh tế có liên quan đến chất lượng thông tin; Susanto (2015) tin rằng tổng chất lượng của thông tin kinh

tế bị ảnh hưởng bởi chất lượng của hệ thống thông tin kinh tế; Alamin và đồng

sự (2015) điều tra các yếu tố (nhận thức phù hợp với công nghệ, điều kiện thuận lợi, ) ảnh hưởng đến hệ thống thông tin kinh tế; ngoài ra, Iskandar (2015) đã chứng minh qua nghiên cứu của mình rằng chất lượng hệ thống thông tin kinh

tế có thể được cải thiện thông qua cải thiện quản lý

Mặt khác, luận án tiếp cận giải quyết vấn đề hoàn thiện hệ thống thông tin

có chất lượng trên góc độ của qui trình tạo lập thông tin nhằm giúp người sử

Trang 23

15

dụng thông tin ra quyết định tài chính đúng đắn hơn Điều này nghĩa là dựa vào quy trình hoạt động của công ty viễn thông mẹ và các Trung tâm viễn thông con, hệ thống thông tin sẽ được hoàn thiện để tạo ra các thông tin phù hợp và chính xác, đảm bảo sự an toàn, độ tin cậy dữ liệu cao Các nghiên cứu liên quan tới việc thay đổi các chính sách kinh tế hay thay đổi các quy định của pháp luật

về quản lý tài chính sẽ nằm ngoài phạm vi của luận án

Xuất phát từ các lý do trên, ta thấy Tập đoàn Bưu chính - Viễn thông VNPT cần được nghiên cứu hoàn thiện hệ thống thông tin kinh tế phù hợp để phục vụ cho việc ra các quyết định tài chính đúng đắn hơn Vì thế tác giả đã lựa chọn đề

tài “Hoàn thiện hệ thống thông tin kinh tế phục vụ ra quyết định tài chính của

Tập đoàn Buy, chính - Viễn thông Việt Nam VNPT” Với đề tài này, tác giả

mong muốn sẽ có nhưng đóng góp về lý luận, thực tiễn cũng như xây dựng hệ thống thông tin kinh tế phù hợp với thực trạng của Tập đoàn

Trang 24

16

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHƯNG VỀ HỆ THỐNG THÔNG TIN

KINH TẾ NHẰM PHỤC vụ CHO VIỆC RA QUYẾT ĐỊNH TÀI CHÍNH CỦA TẬP ĐOÀN KINH TẾ

1.1 TẬP ĐOÀN KINH TẾ VÀ CÁC LOẠI QUYẾT ĐỊNH TÀI

CHÍNH CỦA TẬP ĐOÀN KINH TẾ

1.1.1 Tập đoàn kinh tế và đặc điểm của tập đoàn kinh tế

1.1.1.1 Khái niệm tập đoàn kinh tế

Theo Bách Khoa Toàn Thư Wikipedia tiếng Anh thì:"Tập đoàn là sự liên

kết của hai hay nhiều tổng công ty có lĩnh vực kinh doanh khác nhau tạo thành một cấu trúc công ty có quy mô quản lý lớn và phức tạp Vì thế, về ý nghĩa tập

đoàn, ta có thê hình dung như một công ty mẹ và một số (hay nhiều) công ty con cùng bắt tay kinh doanh ở một hay nhiều lĩnh vực nào đó; nhìn chung, tập đoàn là một công ty đa ngành, có quy mô rất lớn và thường kinh doanh đa quốc gia

Theo Viện nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương CIEM thì khái niệm

về tập đoàn kinh tế được hiếu “ là một tổ hợp lớn các doanh nghiệp có tư cách pháp nhân hoạt động trong một hay nhiều ngành khác nhau, có quan hệ về vốn, tài chính, công nghệ, thông tin, đào tạo, nghiên cứu và các liên kết khác xuất phát từ lợi ích của các bên tham gia ” Trong mô hình này, "công ty mẹ" nắm

quyền lãnh đạo, chi phối hoạt động của "công ty con" về tài chính và chiến lược

Trang 25

17

gắn bó với nhau, hay tập đoàn kinh tế là tổ chức kinh tế có kết cấu tổ chức nhiều cấp, liên kết nhau bằng quan hệ tài sản và quan hệ hợp tác nhằm đáp ứng đòi hỏi của nền sản xuất hàng hóa; các doanh nghiệp trong tập đoàn đều có pháp nhân độc lập

Có nhiều quan niệm khác nhau về tập đoàn, song cũng có một điểm chung

nhất là: Tập đoàn kinh tế là tổ hợp các công ty hoạt động trong một ngành hay nhiều ngành khác nhau, ở phạm vi một nước hay nhiều nước, trong đó

có một công ty mẹ nắm quyền lãnh đạo, chi phối hoạt động của các công ty con về mặt tài chính và chiến lược phát triển Tập đoàn kinh tế là một cơ cấu tổ chức vừa có chức năng kinh doanh, vừa có chức năng liên kết kinh

tế nhằm tăng cường tích tụ, tập trung, tăng khả năng cạnh tranh và tối đa hóa lợi nhuận

1.1.1.2 Đặc điểm của tập đoàn kinh tế

Sự hình thành và phát triển của các tập đoàn kinh tế xuất phát từ yêu cầu tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường Trước

áp lực cạnh tranh, các công ty có xu hướng sáp nhập hoặc liên kết với nhau tạo thành tập đoàn để nâng cao năng lực cạnh tranh của mình Tuy nhiên không phải tập đoàn kinh tế nào cũng có thể tồn tại và phát triển được; hiệu quả hoạt động của các tập đoàn kinh tế luôn là vấn đề quan trọng được quan tâm hiện nay bởi những lợi ích và ảnh hưởng của tập đoàn kinh tế đối với một quốc gia là rất lớn

Sự mở rộng không hợp lý về quy mô của tập đoàn sẽ gây ra những hệ lụy không tốt, khó khắc phục đối với nền kinh tế của các nước, đặc biệt là các nước đang phát triển Vì vậy, việc xác định đặc điểm chung của tập đoàn kinh tế để tìm ra một mô hình quản lý và xây dựng chiến lược phát triển cho tập đoàn kinh tế là cần thiết Qua nghiên cứu tác giả nhận thấy đặc điểm nổi bật của tập đoàn kinh

tế thường được thể hiện qua ba yếu tố cơ bản: cơ chế đầu tư vốn, cơ chế liên kết kinh doanh, cơ chế quản lý

Trang 26

18

Theo cơ chế đầu tư vốn: Sự liên kết giữa các doanh nghiệp với nhau trong

một tập đoàn luôn luôn nhằm mục tiêu quan trọng nhất là giải quyết những khó khăn về vốn phục vụ kinh doanh Vì vậy, khi đã hình thành tập đoàn, các doanh nghiệp thành viên phát triển nhanh hơn, tài sản có quyền sở hữu cũng tăng lên khá nhanh, từ đó, tông tài sản trong toàn tập đoàn cũng khá lớn, vì thế đòi hỏi phải có nguồn vốn lớn để đầu tư vào lượng tài sản này Do đó, nguồn vốn đầu

tư này chủ yếu một phần được tài trợ từ công ty mẹ, phần còn lại được huy động

từ nước sở tại

Theo cơ chế liên kết kinh doanh: Các công ty trong tập đoàn có thể liên

kết theo chiều dọc, liên kết theo chiều ngang hoặc liên kết hỗn hợp

+ Liên kết theo chiều dọc là mô hình liên kết các công ty hoạt động trong cùng một chuỗi giá trị ngành (ví dụ: các công ty viễn thông từ cấp tập đoàn đến cấp cơ sở) Các mối liên kết này thường mang lại lợi thế về chi phí, sự chủ động cho các sản phấm đầu vào và đầu ra của các công ty Tuy nhiên, nó cũng có một số khó khăn như nguồn lực bị phân tán, khó tập trung vào các hoạt động chủ yếu tạo giá trị gia tăng cao nhất trong chuỗi giá trị

+ Liên kết theo chiều ngang là sự kết hợp giữa các công ty có sản phẩm, dịch

vụ liên quan với nhau và có thế sử dụng cùng một hệ thống phân phối để gia tăng hiệu quả (ví dụ: các công ty viễn thông con đồng cấp) Mối liên kết này tạo điều kiện đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ, tận dụng hệ thống phân phối để tiết kiệm chi phí, phân tán rủi ro Tuy nhiên, nó cũng gặp trở ngại là thiếu sự chủ động ở một số khâu như cung ứng nguyên liệu sản xuất, kho vận so với liên kết dọc

+ Liên kết hỗn hợp là sự kết hợp của cả hai dạng liên kết dọc và ngang Vì vậy, ưu nhược điếm của liên kết này là tích hợp ưu nhược diêm của cả hai dạng Tùy theo đặc điểm hoạt động kinh doanh của tập đoàn, nếu biết

Trang 27

19

phát huy thế mạnh, hạn chế điểm yếu của từng dạng liên kết đơn lẻ sẽ tạo nên mô hình hoạt động khá hoàn chỉnh Đồng thời, các tập đoàn cũng cần chú ý hạn chế những tác hại do việc mở rộng quy mô, giảm thiểu chi phí đầu tư không hiệu quả

Theo cơ chế quản lý: Tập đoàn kinh tế có thể được quản lý theo mô hình

tập trung, phân tán hay hỗn hợp Trong mô hình tập trung, quyền lực được tập trung ở cơ quan đầu não thường là công ty mẹ Trong mô hình phân tán, công

ty mẹ chỉ đưa ra định hướng và kiểm soát định hướng (kiểm soát chiến lược, các chính sách lớn về tài chính, nhân sự, đầu tư ), giao quyền tự chủ hoạt động cho các công ty con Trong mô hình hỗn hợp, công ty mẹ vừa giao quyền tự chủ cho các công ty con, vừa thâu tóm quyền lực ở một số lĩnh vực trọng yếu

1.1.1.3 Các mô hình tổ chức của tập đoàn kinh tế Mô hình tổ chức của tập đoàn kinh tế thường được hình thành dựa trên các tác động của (i) môi trường chính trị, pháp luật của mỗi quốc gia; (ii) môi trường kinh doanh; (iii) tầm nhìn, mục tiêu chiến lược của tập đoàn; (iv) đặc điểm của các thành viên trong tập đoàn Mô hình tập đoàn thông thường được phân loại theo ba yếu tố: cơ chế đầu

tư vốn, cơ chế liên kết kinh doanh, cơ chế quản lý

> Theo cơ chế đầu tư vốn: Tập đoàn kinh tế có thể lựa chọn một trong các

mô hình đầu tư đơn cấp, đồng cấp, đa cấp hoặc hỗn hợp

+ Trong mô hình đầu tư đơn cấp, công ty mẹ lẫn công ty con đều chỉ đầu tư xuống một cấp trực tiếp, không đầu tư xuống cấp xa hơn + Trong đầu tư đồng cấp, các công ty trong cùng một cấp đầu tư qua lại

+ Trong đầu tư đa cấp, các công ty, đặc biệt là công ty mẹ vừa đầu tư trực tiếp vào công ty con, đồng thời đầu tư trực tiếp vào các công

ty cháu, chắt ở dưới mà không thông qua công ty trung gian nào + Mô hình hỗn hợp là mô hình phối hợp nhiều hình thức đầu tư (đơn

Trang 28

20

cấp, đồng cấp, đa cấp) giữa các công ty trong tập đoàn

> Theo co chế liên kết kinh doanh: Các công ty có thể liên kết theo chiều dọc, liên kết theo chiều ngang hoặc liên kết hỗn hợp

+ Liên kết theo chiều dọc là mô hình liên kết các công ty hoạt động trong cùng một chuỗi giá trị ngành Liên kết theo chiều dọc có thể

là tích hợp ngược (ví dụ: các công ty sản xuất, mua lại hoặc đầu tư vốn vào các công ty cung ứng nguyên vật liệu cho mình); hoặc tích hợp xuôi (ví dụ: các công ty sản xuất, mua lại hoặc đầu tư vốn vào một công ty thương mại, tiếp thị để tiêu thụ sản phẩm do mình sản xuất hoặc cả hai) Các mối liên kết này thường mang lại lợi thế về chi phí, sự chủ động cho các sản phẩm đầu vào và đầu ra của các công ty Tuy nhiên, nó cũng có một số khó khăn như nguồn lực bị phân tán, khó tập trung vào các hoạt động chủ yếu tạo giá trị gia tăng cao nhất trong chuỗi giá trị

Như vậy, có thế thấy liên kết dọc là mô hình kinh doanh trong đó mục tiêu chính là tạo mối liên kết giữa bản thân doanh nghiệp với các đối tác liên quan như các nhà cung cấp và nhà phân phối Liên kết dựa trên nguyên lý cộng sinh Với sức mạnh của sự liên kết này thì công ty mẹ là công ty có tiềm lực kinh tế mạnh nhất, nắm giữ các bộ phận then chốt nhất trong dây chuyền công nghệ, thị trường của tập đoàn, đồng thời thực hiện chức năng quản lý, điều phối và định hướng chung cho cả tập đoàn Còn các công ty con thì được

tổ chức theo sự phân công chuyên môn hóa và phối hợp hợp tác hóa theo đặc thù công nghệ của ngành

Ví dụ: Sony sử dụng mô hình liên kết dọc theo sự tích hợp ngược bằng việc hảng này sản xuất ra máy chơi game console là PlayStaion nhưng cũng kiêm luôn studio phát triển game; Hay

Trang 29

21

Apple cũng là một điển hình trong mô hình liên kết dọc Nó vừa cung cấp phần cứng iPad, iPhơne, iPod vừa tạo ra phần mền iOS, MacOS, bán dịch vụ và đảm nhận luôn khâu phân phối sản phẩm Apple gần như bao trọn cho một sản phấm công nghệ mà nhiều tập đoàn cạnh tranh trong lĩnh vực công nghệ với Apple chưa làm được Điều này đã làm cho Apple trở thành đối thủ đáng gờm trong làng công nghệ và việc cạnh tranh với hảng là điều vô cùng khó khăn

Tất nhiên không phải cứ công ty nào liên kết theo chiều dọc cũng chiếm được lợi thế cạnh tranh tuyệt đối Hãy nhìn vào HP dù sở hữu trong tay kệ điều hành WebOS đầy tiềm năng nhưng việc mua lại Plam và không có hệ thống bán hàng và marketing xuất sắc nên

HP cũng khó lòng vươn mình lớn mạnh được như Apple

+ Liên kết theo chiều ngang là sự kết hợp giữa các công ty có sản phẩm, dịch vụ liên quan với nhau và có thể sử dụng cùng một hệ thống phân phối để gia tăng hiệu quả (ví dụ: công ty sản xuất máy ảnh với công ty sản xuất ống kính máy ảnh) Mối liên kết này tạo điều kiện đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ, tận dụng hệ thống phân phối để tiết kiệm chi phí, phân tán rủi ro Tuy nhiên, nó cũng gặp trở ngại là thiếu sự chủ động ở một số khâu như cung ứng nguyên liệu sản xuất, kho vận so với liên kết dọc

Thuộc mô hình này gồm có Tổng công ty thép Việt Nam, Tổng công ty giấy Việt Nam, Tổng công ty cà phê Việt Nam

+ Liên kết hỗn hợp là sự kết hợp của cả hai dạng liên kết dọc và ngang

Vì vậy, ưu nhược điếm của liên kết này là tích hợp ưu nhược điếm của cả hai dạng Tùy theo đặc điểm hoạt động kinh doanh của tập đoàn, nếu biết phát huy thế mạnh, hạn chế điểm yếu của từng dạng

Trang 30

22

liên kết đơn lẻ sẽ tạo nên mô hình hoạt động khá hoàn chỉnh Đồng thời, các tập đoàn cũng cần chú ý hạn chế những tác hại do việc

mở rộng quy mô, giảm thiểu chi phí đầu tư không hiệu quả

> Theo cơ chế quản lý: Tập đoàn kinh tế có thể được quản lý theo mô hình tập trung, phân tán hay hỗn hợp

+ Trong mô hình tập trung, quyền lực được tập trung ở cơ quan đầu não thường là công ty mẹ

+ Trong mô hình phân tán, công ty mẹ chỉ đưa ra định hướng và kiểm soát định hướng (kiểm soát chiến lược, các chính sách lớn về tài chính, nhân sự, đầu tư ), giao quyền tự chủ hoạt động cho các công ty con

+ Trong mô hình hỗn hợp, công ty mẹ vừa giao quyền tự chủ cho các công ty con, vừa thâu tóm quyền lực ở một số lĩnh vực trọng yếu 1.1.2 Các quyết định tài chính của tập đoàn kinh tế

1.1.2.1 Khái niệm tài chính của tập đoàn kinh tế Tài chính của tập đoàn kinh tế là một khâu trong hệ thống tài chính của nền kinh tế thị trường; vì thế, tính chất và mức độ phát triển tài chính của tập đoàn kinh tế cũng phụ thuộc vào tính chất và nhịp độ phát triển của nền kinh tế thị trường, và có những đặc trưng chủ yếu sau:

Thứ nhất, tài chính của tập đoàn kinh tế phản ánh những luồng dịch chuyền giá trị trong nền kinh tế: đó là sự vận động các nguồn tài chính được diễn ra trong nội bộ tập đoàn để tiến hành hoạt động SXKD; được diễn ra giữa tập đoàn với ngân sách nhà nước thông qua việc nộp thuế hoặc tài trợ tài chính; hay được diễn ra giữa tập đoàn với thị trường

Thứ hai, sự vận động các nguồn tài chính tập đoàn không phải diễn ra một cách hỗn loạn mà nó được hòa nhập vào chu trình kinh tế của nền kinh tế thị trường Đó là sự vận động chuyển hóa từ các nguồn tài chính thành các quỹ,

Trang 31

23

hoặc vốn kinh doanh của tập đoàn và ngược lại Sự chuyển hóa qua lại đó được điều chỉnh bằng hệ thống các quan hệ phân phối dưới hình thức giá trị nhằm để tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ, phục vụ cho các mục tiêu SXKD của tập đoàn

Từ những đặc trưng nêu trên có thể rút ra kết luận:

Tài chính của tập đoàn kinh tế là hệ thống các luồng dịch chuyển giá trị phản ánh sự vận động và chuyển hóa các nguồn tài chính trong quá trình phân phốỉ đế tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đạt tói các mục tiêu kỉnh doanh của tập đoàn kinh tế trong khuôn khổ pháp luật

1.1.2.2 Các quyết định tài chính của tập đoàn kinh tế Các quyết định tài chính của Tập đoàn kinh tế là một yếu tố rất quan trọng trong việc dự báo kế hoạch ngân sách của Tập đoàn Bởi lẻ các quyết định tài chính thể hiện các chính sách chiến lược của tập đoàn, chính sách này sẽ tác động đến nhu cầu tài chính của Tập đoàn trong từng thời kỳ khác nhau Để đảm bảo có một bản kế hoạch tài chính sát thực, phản ánh đúng và đủ nhu cầu tài chính của Tập đoàn thì các quyết định tài chính phải được phân tích, đánh giá và hoạch định trước Khi đó bản kế hoạch tài chính được xem như bản tổng hợp nhu cầu tài chính trên cơ sở

có một sự đồng bộ hóa về các chính sách tài chính của Tập đoàn

Trong hầu hết các Tập đoàn, các quyết định tài chính ở công ty mẹ thường

là quyết định tài chính trung và dài hạn; các quyết định tài chính ở công ty con thường là quyết định tài chính ngắn hạn Vì quyết định tài chính cuả Tập đoàn chủ yếu là các quyết định chiến lược, nên ở đây tác giải trình bày chủ yếu là các quyết định tài chính dài hạn của tập đoàn

Các quyết định tài chính dài hạn

Đối với doanh nghiệp nói chung và tập đoàn kinh tế nói riêng thì quyết định tài chính dài hạn là những quyết định mang tính chất chiến lược, có tầm quan trọng và ảnh hưởng lâu dài đến chiến lược hoạt động của tập đoàn; trước

Trang 32

24

khi đưa ra mỗi quyết định đòi hỏi nhà quản trị phải có sự cân nhắc cẩn thận, vì nếu quyết định dài hạn đúng đan sẽ giúp tập đoàn tăng trưởng và phát triển; ngược lại, nếu quyết định sai lầm sẽ làm cho tập đoàn suy thoái và phá sản; vì thế sự cân nhắc cẩn thận của nhà quản trị là nhằm hạn chế rủi ro có thể xảy ra cho tập đoàn Quyết định tài chính dài hạn của tập đoàn vẫn bao gồm các quyết định chính: quyết định đầu tư, quyết định huy động vốn, và quyết định phân phối lợi nhuận; những quyết định này gắn liền với chiến lược kinh doanh của tập đoàn

❖ Quyết định đầu tư vốn:

Đây là quyết định dài hạn của tập đoàn, trước khi thực hiện quyết định này, tập đoàn cần phải phân tích, đánh giá và lựa chọn các dự án đầu tư có hiệu quả;

để thực hiện quyết định này, các tập đoàn kinh tế cần phải có các thông tin về nhu cầu vốn đầu tư cho từng dự án, cụ thể hơn nữa thì đó là nhu cầu vốn cho từng giai đoạn đầu tư cần phải được hoạch định Thêm nữa, dòng tiền vào từ dự

án đầu tư cũng phải được xác định, và nhà quản trị sẽ có thông tin về dòng tiền vốn thu hồi hàng năm, dòng tiền lợi nhuận được tạo ra qua các năm Đây là cơ

sở để xác định nguồn tiền để hoàn trả nợ vốn, trả lãi vay, chia lãi cho chủ sở hữu, khi đó sẽ làm giảm nhu câu vôn, nhu câu tiên vì đã có nguồn tiền đối ứng, hoặc nguồn trả nợ từ dự án đầu tư tạo ra Các thông tin này sẽ được sử dụng

để cân đổi dòng tiền trong bản kế hoạch tài chính của tập đoàn

Quyết định đầu tư là quyết định giúp tập đoàn lựa chọn cơ hội đầu tư trong điều kiện nguồn lực tài chính có giới hạn nhằm Đểm về hiệu quả cao nhất cho chủ sở hữu Theo quy luật kinh doanh thì dự án đầu tư nào có tỷ suất sinh lời cao thường gánh chịu rủi ro cao; và ngược lại, dự án đầu tư nào có tỷ suất sinh lời thấp thường gánh chịu rủi ro thấp Mà giá trị tăng thêm của tập đoàn đó chính

là tổng giá trị tương lai được đua về hiện tại, và được chiết khấu theo một tỷ suất sinh lời đòi hỏi của nhà đầu tư; nếu nhà quản trị chọn lựa dự án nào có tỷ suất sinh lời kỳ vọng cao, thì tất nhiên rủi ro của nhà đầu tư sẽ tăng cao; để bù

Trang 33

25

đắp lại rủi ro này thì tỷ suất sinh lời đòi hỏi của nhà đầu tư cũng sẽ tăng cao, khi

đó hiệu quả dự án chua chắc Đểm về giá trị tăng thêm tối uu cho tập đoàn

Vì thế, để đi đến quyết định đầu tư, một trong những vấn đề quan trọng nhất là phải đánh giá được hiệu quả dự án đầu tư; hiệu quả dự án đầu tư được thể hiện trong mối quan hệ giữa lợi ích thu được so với chi phí đã bỏ ra Do đó, khi xem xét hiệu quả dự án đầu tư là xem xét những vấn đề cơ bản: đó là mối quan hệ giữa lợi ích trong tương lai thu được có tương xứng với chi phí đã bỏ

ra hay không Có những dự án có hiệu quả âm nhung vẫn đầu tư, có những dự

án có hiệu quả dương nhung chua chắc được đầu tư; vì thế khi đánh giá hiệu quả

dự án trước hết phải xuất phát từ mục tiêu của dự án đầu tư

Đối với tập đoàn kinh tế thì mục tiêu hàng đầu của quyết định đầu tư vốn dài hạn đó chính là lợi nhuận, tập đoàn kinh tế không thể hoạt động được nếu tình trạng thua lỗ kéo dài Vì thế, đầu tư dài hạn của tập đoàn kinh tế là nhằm khai thác tốt nhất mọi tiềm năng và lợi thế của tập đoàn để đạt được mục đích cuối cùng là lợi nhuận Do đó, đầu tư vốn dài hạn của tập đoàn là một trong những nhân tố chủ yếu quyết định sự phát triển của tập đoàn cũng nhu của nền kinh tế quốc dân

Trên góc độ kinh doanh của tập đoàn, với mục tiêu hàng đầu là tối đa hóa lợi nhuận Để thực hiện được mục tiêu này đòi hỏi tập đoàn phải có một lượng vốn nhất định để hình thành nên các tài sản cần thiết trong kinh doanh như: mua sắm máy móc thiết bị, xây dựng nhà xưởng, mua bằng sáng chế phát minh, đào tạo công nhân, hình thành một lượng tài sản lưu động thường xuyên cần thiết Trong quá trình phát triển, doanh nghiệp tiếp tục bổ sung vốn để tăng thêm tài sản kinh doanh tương úng với sự mở rộng quy mô kinh doanh Các hoạt động của quá trình trên chính là quá trình đầu tư của tập đoàn

Như vậy, đầu tư vốn dài hạn của tập đoàn kinh tế là quá trình sử dụng vốn để

hình thành nên các tài sản cần thiết nhằm mục đích thu lợi nhuận trong khoản thời gian dài trong tương lai

Trang 34

26

Các bước để thực hiện một quyết định đầu tư dài hạn:

Quyết định đầu tư cũng là một quyết định tài chính dài hạn của tập đoàn

nó ảnh hưởng đến sự phát triển trong tương lai của tập đoàn Thông thường, để

đi đến quyết định đầu tư, tập đoàn cần thực hiện các bước sau đây:

- Nhận biết tình hình Đây là vấn đề hết sức quan trọng để đi đến quyết

định đầu tư, bao gồm: đánh giá tình hình hiện tại và dự đoán tình hình trong tương lai ở bên trong cũng như bên ngoài tập đoàn

- Xác định mục tiêu: Mỗi một quyết định đầu tư của tập đoàn đều phải

xác định rõ mục tiêu (mang tính chất dài hạn) cần đạt được về sản xuất, về tài chính

- Lựa chọn phương án đầu tư: Đây là công việc rất phức tạp, phải giải

quyết các vấn đề về kỹ thuật, kinh tế, tài chính

- Lựa chọn dự án đầu tư: Sau khi các dự án được lập, tiến hành so sánh

và lựa chọn dự án để đâu tư

Ra quyết định đầu tư: Chọn được dự án đầu tư cần tiếp tục xem xét

tiếp khả năng thực hiện và ra quyết định đầu tư

❖ Quyết định huy động vốn:

Sau khi đã quyết định đầu tư, một trong những quyết định quan trọng tiếp theo là quyết định huy động vốn để đáp úng cho nhu cầu đầu tư

Quyết định huy động vốn là quyết định lựa chọn nên huy động vốn dài hạn

từ những nguồn nào, chi phí sử dụng vốn bao nhiêu, quy mô vốn ra sao nhằm mục tiêu cuối cùng là tối đa hóa giá trị cho chủ sở hữu

Quyết định huy động vốn là một trong những quyết định có tính chất tiên quyết của tập đoàn, vì để tập đoàn tồn tại và hoạt động được thì đầu tiên đòi hỏi tập đoàn phải có vốn Tuy nhiên, vốn huy động như thế nào để chi phí sử dụng vốn là thấp nhất, điều này tương ứng với cơ cấu vốn tối ưu nhất (hệ số nợ tối ưu) Đây là cơ sở cho việc xác định mức vay nợ của tập đoàn sau khi đã xác

Trang 35

27

định nhu cầu tài chính cho tập đoàn, về quan điểm, hệ số nợ tối ưu được xác định dựa trên nhiều căn cứ như khả năng đảm bảo an toàn tài chính, khả năng sinh lời, đặc điểm kinh tế kỹ thuật của ngành kinh doanh Tóm lại, đó là hệ số

nợ đảm bảo tối đa hóa sinh lời và tối thiêu hóa rủi ro cho chủ sở hữu của tập đoàn

Xét về tổng thể, nguồn vốn của tập đoàn gồm hai phần: vốn nợ và vốn chủ

sở hữu Khi tập đoàn sử dụng nguồn vốn hỗn hợp này có thể xảy ra các trường hợp sau:

Trường hợp 1: tỷ suất sinh lời của vốn kinh doanh (BEP) lớn hơn lãi suất vay nợ, tập đoàn sử dụng nợ nhiều hơn vốn chủ sở hữu: trong trường hợp này, nếu tập đoàn sử dụng nợ càng nhiều thì tỷ suất sinh lời trên đồng vốn chủ sở hữu càng cao, vì nhận được nhiều thu nhập hơn từ vốn vay tạo ra, do đó nó sẽ làm tăng thêm dòng tiền mà chủ sớ hữu nhận được Tuy nhiên, do tăng thu nhập

từ vốn vay tạo ra nên tập đoàn càng sử dụng nợ, chính việc làm này có tác dụng ngược đó là làm tăng nguy cơ rủi ro vỡ nợ dẫn đến tổn thất cho chủ sở hữu Trường hợp 2: tỷ suất sinh lời của vốn kinh doanh (BEP) lớn hơn lãi suất vay nợ, tập đoàn sử dụng nợ ít hơn vốn chủ sở hữu: trong trường hợp này nguy

cơ rủi ro vỡ nợ được giảm thiếu; tuy nhiên, do tập đoàn sử dụng nợ càng ít thì

tỷ suất sinh lời trên đồng vốn chủ sở hữu càng thấp, vì nhận được ít thu nhập từ vốn vay tạo ra, do đó nó sẽ làm giảm thêm dòng tiền mà chủ sớ hữu nhận được Vậy, việc sử dụng vốn vay một mặt sẽ làm tăng giá trị cho chủ sở hữu, vì

nó làm tăng dòng tiền của chủ sở hữu; mặt khác, nó làm tăng nguy cơ rủi ro vỡ

nợ cho chủ sở hữu nếu tập đoàn vay nợ quá mức; trong trường hợp này, để bù đắp lại rủi ro do nguy cơ vỡ nợ tăng lên, đến lượt nó, chủ sở đòi hỏi tỷ suất sinh lời tăng cao hơn, chính điều này sẽ làm cho giá trị của tập đoàn bị sụt giảm Chính vì vậy, nhà quản trị tài chính phải đưa ra quyết định lựa chọn nguồn vốn nào, với quy mô từng nguồn vốn là bao nhiêu để tài trợ cho dự án đầu tư, cũng như tài trợ cho hoạt động kinh doanh của tập đoàn sao cho hiệu quả mang về

Trang 36

28

cho chủ sở hữu là cao nhất

Nguồn vốn dài hạn dùng để tài trợ cho quyết định đầu tư của tập đoàn gồm nguồn vốn bên trong và nguồn vốn bên ngoài của tập đoàn; Cụ thể:

• Nguồn vốn bên trong chính là lợi nhuận giữ lại để tái đầu tư, nguồn này nhiều hay ít phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh, chính sách phân phối lợi nhuận, chiến lược kinh doanh, và cơ hội đầu tư của tập đoàn

Sử dụng nguồn vốn này sẽ có lợi cho tập đoàn thể hiện ở những khía cạnh sau: thứ nhất, tăng vốn chủ sở hữu, đáp ứng nhu cầu vốn cho tập đoàn; thứ hai, làm tăng sự tự chủ về tài chính của tập đoàn, vì nguồn vốn này là vốn chủ sở hữu nên bản thân nó sẽ làm giảm hệ số

nợ, làm tăng uy tín cho tập đoàn; thứ ba, tiết kiệm chi phí sử dụng vốn so với việc phát hành cổ phiếu; thứ tư, giữ được quyền kiểm soát cho các cổ đông hiện hữu, tránh áp lực phải thanh toán đúng kỳ hạn

Tuy nhiên, việc sử dụng nguồn vốn này cũng có những bất lợi đối với các tập đoàn hoạt động ổn định, có xu hướng phát triển thường phải trả chi phí cao hơn vốn vay; hiệu quả sử dụng vốn thường không cao và thường bị giới hạn về quy mô vốn, khó thoái vốn nên tính linh hoạt về vốn thấp

• Nguồn vốn bên ngoài: Để thực hiện dự án đầu tư, trường hợp đã huy động hết các nguồn vốn bên trong tập đoàn mà vẫn không đủ đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư thì các tập đoàn buộc phải tìm kiếm các nguồn vốn tài trợ từ bên ngoài như vay dài hạn Có nhiều hình thức vay dài hạn như vay dài hạn của ngân hàng và các tổ chức tài chính

- tín dụng, vay thông thường qua phát hành trái phiếu, thuê tài chính Trong đó, vay dài hạn ngân hàng là một trong những nguồn vốn quan trọng nhất, không những đối với sự phát triển của tập đoàn,

Trang 37

29

mà còn đối với cả một nền kinh tế quốc dân

Khi sử dụng nguồn vốn vay này, tập đoàn kinh tế sẽ có những lợi ích của nợ vay như sau: thứ nhất, đấy rủi ro kinh doanh sang cho chủ

nợ (như công ty trách nhiệm hữu hạn chỉ chịu trách nhiệm trên vốn điều lệ); thứ hai, tập đoàn sử dụng nợ nghĩa là sử dụng đòn bẩy tài chính làm gia tăng lợi nhuận của tập đoàn; thứ ba, tập đoàn được hưởng tấm chắn thuế từ nợ vay; thứ tư, không bắt buộc phải có tài sản thế chấp (đối với thuê tài chính)

Tuy nhiên, bên cạnh những điểm lợi vừa nêu ở trên, thì tập đoàn sẽ

có những bất lợi khi sử dụng nợ vay, đó là: thứ nhất, bắt buộc phải trả lãi và nợ gốc đúng hạn, điều này sẽ tạo nguy cơ cho tập đoàn mất khả năng thanh toán khi đến hạn, dẫn đến nguy cơ phá sản cao; thứ hai, nếu kinh doanh kém hiệu quả thì tỷ suất sinh lời trên đồng vốn chủ sở hữu có sử dụng nợ sẽ nhỏ hơn tỷ suất sinh lời trên đồng vốn chủ sở hữu không sử dụng nợ; thứ ba, hệ số tín nhiệm thấp vì nhà cung cấp cũng như người cho vay sẽ thận trọng trong việc cung cấp nguyện vật liệu, cho vay, nhà đầu tư ngại mua cổ phiếu, nhà liên doanh ngại giao dịch quan hệ kinh doanh; thứ tư, nếu tập đoàn vay dài hạn thông qua hình thức thuê tài chính thì không được hủy hợp đồng thuê trước hạn

♦> Quyết định phân phối lợi nhuận:

Đây là quyết định lựa chọn của nhà quản trị xem dành bao nhiêu phần trăm lãi sau thuế để chia lợi nhuận, và dành bao nhiêu phần trăm lãi sau thuế để tái đầu tư sao cho giá trị tập đoàn là cao nhất

về cơ bản, lãi sau thuế của tập đoàn kinh tế được chia làm hai phần: một phần dành để chia cho chủ sở hữu, phần còn lại dành để tái đầu tư cho tập đoàn Việc quyết định chia lợi nhuận hay giữ lại lợi nhuận không ảnh hưởng đến tổng lãi sau thuế dành cho chủ sở hữu, nhưng nó ảnh hưởng đến giá trị của tập đoàn

Trang 38

30

tại thời điểm hiện tại, và ảnh hưởng tới mức tăng trưởng của tập đoàn trong tương lai Nếu tập đoàn dành phần lớn lãi sau thuế để chia lợi nhuận, thì trong hiện tại hình ảnh của tập đoàn sẽ rất đẹp trong mắt của nhà đầu tư, điều này sẽ góp phần thúc đẩy giá trị của tập đoàn tăng lên; tuy nhiên tập đoàn sẽ không đủ nguồn vốn để tái đầu tư, và điều này sẽ tác động xấu đến tăng trưởng của tập đoàn trong tương lai Ngược lại, Nếu tập đoàn dành phần lớn lãi sau thuế để tái đầu tư, chia lợi nhuận cho chủ sở hữu ít, thì nhà đầu tư sẽ nghi ngờ hiệu quả hoạt động SXKD của tập đoàn, từ đó hình ảnh của tập đoàn sẽ mờ nhạt trong mắt của nhà đầu tư, điều này sẽ làm cho giá trị của tập đoàn không cao trong hiện tại; tuy nhiên tập đoàn sẽ đủ nguồn vốn đề tái đầu tư, và điều này sẽ tác động tích cực đến tăng trưởng của tập đoàn trong tương lai Vì vậy, nhà quản trị tài chính phải quyết định lựa chọn phân chia bao nhiêu phần trăm lãi sau thuế dành cho chủ sở hữu, và bao nhiêu phần trăm lãi sau thuế đề tái đầu tư sao cho đạt được mục tiêu tối đa hóa giá trị của tập đoàn, và phù hợp với giai đoạn phát triển trong chu kỳ sống của tập đoàn

Vậy, phân phối lợi nhuận vừa tác động đến thu nhập thực tế của chủ sở hữu, đồng thời vừa tác động đến tăng trưởng thu nhập trong tương lai cho chủ

sở hữu Do đó, việc phân chia lợi nhuận cũng phải đảm bảo hài hòa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài cho sự phát triển của tập đoàn

Bên cạnh những quyết định tài chính mang tính tổng quát vừa trình bày ở phần trên dùng để áp dụng chung cho tập đoàn kinh tế nói riêng và cho doanh nghiệp nói chung thì quyết định tài chính của tập đoàn kinh tế còn có những nét đặc thù riêng, đó là, tập đoàn kinh tế chủ yếu hoạt động theo mô hình công ty

mẹ - công ty con, đây là hình thức phổ biến và được hình thành từ sự liên kết các doanh nghiệp trên cơ sở các quan hệ về đầu tư, chi phối, gắn kết với nhau

về thương hiệu, thị trường Các tập đoàn kinh tế nhà nước và tư nhân thường có quy mô vốn lớn, thị trường mở rộng, và thường có xu hướng đầu tư quốc tế; vì thế, những quyết định tài chính dài hạn của tập đoàn kinh tế thường có những

Trang 39

mà tập đoàn đó quyết định đầu tư Đối với doanh nghiệp nhỏ lẻ thông thường có quy mô vốn và phạm vi đầu tư nhỏ (thường là chỉ đầu tư trong nước), thì những đặc điểm về văn hóa, lịch sử của nước khác

là không quan trọng

- Thứ hai, mặt dù doanh nghiệp nhỏ lẻ trong nước và các tập đoàn kinh

tế (có đầu tư quốc tế) đều phải đối mặt với những rủi ro;

nhưng doanh nghiệp nhỏ lẻ trong nước chủ yếu chỉ đối mặt với những rủi ro xảy ra trong nước; còn tập đoàn kinh tế vẫn phải một mình đối mặt với những rủi ro kinh tế và rủi ro chính trị ở nước ngoài, mà điều này không phải là những mối Để dọa bình thường đến tập đoàn kinh tế

Thứ ba, dù là tập đoàn kinh tế hay những doanh nghiệp nhỏ lẻ thông thường trong nước đều phải đối mặt với những rủi ro khác đó là việc quyết định có nên mở rộng tài chính? cụ thể, tập đoàn kinh tế hay những doanh nghiệp nhỏ lẻ thông thường trong nước trước khi tiếp cận nguồn vốn trong nước hay nguồn vốn nước ngoài, đều phải tính đến chi phí sử dụng vốn, thuế, và những phép phân tích tín dụng mà tập đoàn hay doanh nghiệp đều phải gánh chịu; tuy nhiên doanh nghiệp nhỏ lẻ trong nước có quy mô nhỏ nên thông thường chỉ có thể tiếp cận nguồn vốn trong nước, còn tập đoàn kinh tế có quy mô lớn, có tính chất đầu tư quốc tế cao nên có nhiều cơ hội chọn lựa tiếp cận nguồn vốn trong nước hay nguồn vốn nước ngoài với chi phí sử

Trang 40

32

dụng vốn tối ưu hơn

Thứ tư, Một tập đoàn kinh tế đa quốc gia thực hiện cấu trúc vốn nhằm mục tiêu “toàn cầu” khác với những doanh nghiệp nhỏ lẻ thông thường trong nước thực hiện cấu trúc vốn nhằm mục tiêu “địa phương”: Một tập đoàn kinh tế đa quốc gia có thể đi chệch cấu trúc vốn mục tiêu của mình ở từng quốc gia riêng biệt, ví dụ như: 1.Không được phép phát hành cổ phiếu mà chỉ được phát hành trái phiếu hay vay ngân hàng của quốc gia A, 2 Chỉ tiến hành phát hành

cổ phiếu ở quốc gia B, 3.chỉ vay ngân hàng địa phương của quốc c,

là nước đang có rối loạn chính trị; tuy nhiên vẫn có thể đạt được cấu trúc vốn mục tiêu trên cơ sở hợp nhất Trong khi đó một doanh nghiệp nhỏ trong nước thì có thể xác định trực tiếp cấu trúc vốn mục tiêu mà không cần phải đi chệch hướng cho từng khoản vốn huy động

- Thứ năm, cấu trúc vốn các tập đoàn kinh tế đa quốc gia có thể có sự khác biệt một cách có hệ thống với cấu trúc vốn với các doanh nghiệp nhỏ lẻ với 100% là vốn nội địa; vấn đề này phụ thuộc vào đặc điểm của từng tập đoàn kinh tế đa quốc gia; đối với những tập đoàn kinh tế có những đặc Điểm như lưu lượng tiền tệ thu vào ròng

ổn định thì thường có cấu trúc thâm dụng nợ vì họ sẵn sàng chi trả lãi vay bằng các lưu lượng tiền tệ thu vào này; bên cạnh đó, đối với những tập đoàn kinh tế có những đặc điểm nhu thu nhập của công ty con phụ thuộc vào luật lệ thuế khóa của nước chủ nhà, cụ thế chính phủ nước chủ nhà buộc các công ty con ở địa phương giữ lại trong nước tất cả các thu nhập, không được chuyến ra nước ngoài, làm cho công ty mẹ không nhận được dòng tiền thu về từ các công ty con, công ty mẹ sẽ không thể thanh toán lãi vay định kỳ cho cho các chủ

nợ, vì lý do này công ty mẹ duy trì chung một cấu trúc vốn thâm

Ngày đăng: 27/06/2017, 21:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Nguyễn Ngọc Quang (2013)- Phân tích báo cáo tài chính, Nxb Tài chính 5. Tailieu.vn/doc/he-thơng-thơng-tin-quan-ly-mis-1183589.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích báo cáo tài chính
Tác giả: Nguyễn Ngọc Quang
Nhà XB: Nxb Tài chính 5. Tailieu.vn/doc/he-thơng-thơng-tin-quan-ly-mis-1183589.html
Năm: 2013
7. Trần Thị Tuyết Oanh (2014)- Đánh giá và đo lường kết quả học tập, Nxb Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá và đo lường kết quả học tập
Tác giả: Trần Thị Tuyết Oanh
Nhà XB: Nxb Đại học sư phạm
Năm: 2014
8. Vũ Văn Ninh, Mai Ngọc Anh (2013)- Lập và quản lý ngân sách doanh nghiệp, NXB Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lập và quản lý ngân sách doanh nghiệp
Tác giả: Vũ Văn Ninh, Mai Ngọc Anh
Nhà XB: NXB Tài chính
Năm: 2013
16. Abraham-Frois, G. (2002), Dynamique economique ' (9th edn). Paris: Dalloz Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dynamique economique '
Tác giả: Abraham-Frois, G
Năm: 2002
17. Adato, M., Carter, M.R. and May, J. (2006), Exploring poverty traps and sociaỉ exclusion in South Africa using qualitative and quantitative data.Joumal of Development Studies 42: 226-247 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Exploring poverty traps and sociaỉ exclusion in South Africa using qualitative and quantitative data
Tác giả: Adato, M., Carter, M.R. and May, J
Năm: 2006
19. Akerloí, G.A. and Dickens, w. (1982), The economic consequences of cognitive dissonance. American Economic Review 72: 307-319 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The economic consequences of cognitive dissonance
Tác giả: Akerloí, G.A. and Dickens, w
Năm: 1982
20. Akerloí, G.A. and Shiller, R.J. (2009), Animal Spirits: How Human Psychology Drives the Economy, and Whỵ It Matters for Global Capitalism. Princeton, NJ: Princeton ưniversity Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: Animal Spirits: How Human Psychology Drives the Economy, and Whỵ It Matters for Global Capitalism
Tác giả: Akerloí, G.A. and Shiller, R.J
Năm: 2009
21. Asch, s. (1955), Opinions and social pressure. Scientific American 193: 31-35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Opinions and social pressure
Tác giả: Asch, s
Năm: 1955
23. Baba Mirela Camelia (2009), Quality Management of the accounting Services , Bulletin of the Transylvania ưniversity of Brasov Series V Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quality Management of the accounting Services
Tác giả: Baba Mirela Camelia
Năm: 2009
25. Benabou, R. (2009), Groupthink: collective deỉusions in organỉzatỉons and markets. NBER Working Paper 14764 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Groupthink: collective deỉusions in organỉzatỉons and markets
Tác giả: Benabou, R
Năm: 2009
3. Mục tiêu kế hoạch năm 2015 và chiến lược năm 2015-2020 của tập đoàn VNPT Khác
18. Admati, A.R. (1985), A noisy rational expectations equỉlibrium for multi- Khác
27. Benartzi, s. and Thaler, R.H. (1995), Myopic loss aversion and the equity Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w