1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Khẳng định những đóng góp lớn về số lượng các tác phẩm cũng như giá trị về nội dung, nghệ thuật văn chương Lan Khai đã tạo dựng

122 359 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 0,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ông được đánh giá là “một trong những nhà văn sung mãn nhất của nền văn xuôi hiện đại”, chỉ 18 năm văn nghiệp 40 năm tuổi đời ông đã để lại hàng trăm tác phẩm đủ các đề tài và thể loại n

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

TRIỆU QUANG CỪ

THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA LAN KHAI

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

HÀ NỘI, 2016

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

TRIỆU QUANG CỪ

THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA LAN KHAI

Chuyên ngành: Lí luận văn học

Mã số: 60 22 01 20

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS PHAN TRỌNG THƯỞNG

HÀ NỘI, 2016

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Phan Trọng Thưởng, người thầy đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này Đồng thời tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới tất cả các thầy cô trong Ban Giám hiệu; Khoa Ngữ văn, tổ Lí luận văn học Việt Nam; phòng Sau Đại học - Trường Đại học Sư phạm

Hà Nội 2; Các thầy cô ở Viện văn học; Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam; đã nhiệt tình giảng dạy và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn những ý kiến quý báu của các thầy cô trong Hội đồng chấm đề cương và Hội đồng chấm luận văn, sự động viên và tạo điều kiện

từ gia đình và bạn bè trong suốt thời gian qua

Hà Nội, ngày 20 tháng 11 năm 2016

Tác giả

Triệu Quang Cừ

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, luận văn với đề tài “Thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn

của Lan Khai” là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS

TS Phan Trọng Thưởng Đề tài luận văn của tôi không trùng khớp với bất kì đề tài nào khác

Trong quá trình nghiên cứu, tôi đã kế thừa thành tựu khoa học của các nhà khoa học và đồng nghiệp với sự trân trọng và biết ơn!

Hà Nội, ngày 20 tháng 11 năm 2016

Tác giả

Triệu Quang Cừ

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

4 Mục đích nghiên cứu 7

5 Phương pháp nghiên cứu 7

6 Những đóng góp của luận văn 7

7 Bố cục của luận văn 8

NỘI DUNG 9

Chương 1 THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC CỦA LAN KHAI 9

1.1 Khái quát về truyện ngắn và thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn của Lan Khai 9

1.1.1 Khái niệm về truyện ngắn 9

1.1.2 Quang niệm về Thế giới nghệ thuật 9

1.1.3 Đặc điểm truyện ngắn Lan Khai 13

1.2 Hành trình sáng tác của Lan Khai 17

1.2.1 Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Lan Khai 17

1.2.2 Quan niệm về nghệ thuật và nhân sinh của Lan Khai 24

Chương 2 CON NGƯỜI VÀ CUỘC SỐNG TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA LAN KHAI 29

2.1 Khái niệm nhân vật và đặc điểm nhân vật trong truyện ngắn của Lan Khai 29

2.1.1 Khái niệm nhân vật 29

2.1.2 Khái niệm nhân vật văn học 29

Trang 6

2.1.3 Đặc điểm thế giới nhân vật trong truyện ngắn của Lan Khai 31

2.2 Các loại nhân vật trong truyện ngắn 33

2.2.1 Nhân vật hiện thực 33

2.2.2 Nhân vật có yếu tố kì ảo 46

2.3 Bức tranh hiện thực về môi trường sống trong truyện ngắn của Lan Khai 50 2.3.1 Bức tranh thiên nhiên muôn màu sắc 50

2.3.2 Bức tranh xã hội trong truyện ngắn của Lan Khai 54

Chương 3 MỘT VÀI PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN LAN KHAI 61

3.1 Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắn của Lan Khai 61

3.1.1 Nghệ thuật miêu tả ngoại hình nhân vật 61

3.1.2 Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật 64

3.1.3 Miêu tả hoạt động của nhân vật 68

3.2 Về không gian và thời gian nghệ thuật 72

3.2.1 Không gian nghệ thuật 72

3.2.2 Thời gian nghệ thuật 77

3.3.Ngôn ngữ và giọng điệu 84

3.3.1 Ngôn ngữ 84

3.3.2 Giọng điệu 97

KẾT LUẬN 106

TÀI LIỆU THAM KHẢO 1079

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Văn học Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 có những chuyển biến lớn

lao về những cách tân trong văn học và đặc biệt là sự đổi mới trong tư duy sáng tạo của người nghệ sĩ, cho nên văn học giai đoạn này đạt được những thành tựu rực rỡ Thời kì này nhiều xu hướng, trào lưu văn học xuất hiện có thể kể: trào lưu văn học lãng mạn (tiêu biểu Tiểu thuyết Tự lực văn đoàn và Thơ mới); trào lưu văn học hiện thực phê phán; thơ ca cách mạng Với sự xuất hiện của nhiều cây bút xuất sắc như: Tản Đà, Nguyễn Tuân, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố,.v.v và không thể không ghi nhận những đóng góp lớn lao của Lan Khai đối với nền văn học giai đoạn này

1.2 Trên văn đàn văn nghệ nửa đầu thế kỉ XX xuất hiện nhiều cây bút

xuất sắc, thành công trên các thể loại văn học như: tiểu thuyết, truyện ngắn, phóng sự, thơ, dịch thuật, nghiên cứu và phê bình văn học.v.v Giai đoạn này, Lan Khai là một nhà văn có tên tuổi Ông được đánh giá là “một trong những nhà văn sung mãn nhất của nền văn xuôi hiện đại”, chỉ 18 năm văn nghiệp (40 năm tuổi đời) ông đã để lại hàng trăm tác phẩm đủ các đề tài và thể loại như: tiểu thuyết tâm lí - xã hội, tiểu thuyết đường rừng, tiểu thuyết lịch sử, truyện ngắn, ký và thơ, tác phẩm nghiên cứu lí luận phê bình, sưu tầm và dịch thuật, tranh phong cảnh, kí họa, v.v

Những năm đầu 1930, ông là một cây bút chủ lực của Nhà xuất bản Tân Dân, làm Tổng thư kí tạp chí Tao Đàn (1939), thường xuyên đăng bài trên các báo như: Đông Phương báo, Đông Pháp, Loa, Ích Hữu, Ngọ báo, Tiểu thuyết thứ bảy, Phổ thông bán nguyệt san Những thể loại văn học làm nên tên tuổi Lan Khai phải kể đến như: truyện đường rừng (tiểu thuyết và truyện ngắn), tiểu thuyết tâm lý - xã hội, tiểu thuyết lịch sử.v.v những sáng tác của Lan Khai được các nhà văn cùng thời như: Nguyễn Tuân, Tản Đà, Trương Tửu,

Trang 8

Hải Triều, Vũ Ngọc Phan đánh giá rất cao Cảm mến trước tài năng và nhân cách thanh tao của ông mà Tản Đà gọi Ông là “Lâm Tuyền Khách”, Vũ Ngọc Phan đánh giá “lão tướng trong làng tiểu thuyết”, Trương Tửu gọi ông là

“nghệ sỹ của rừng rú”, “đàn anh trong thế giới sơn lâm”, Nguyễn Tuân gọi ông là người “to gan lớn mật nhất giới Bắc Hà”

1.3 Lan Khai đóng góp cho nền văn học nước nhà nhiều thể loại, trong đó

truyện ngắn của ông được nhiều nhà văn, nhà lí luận phê bình đánh giá cao về

giá trị nội dung và nghệ thuật Truyện ngắn của Lan Khai chủ yếu viết về Truyện

đường rừng, Truyện tâm lý - xã hội, những truyện ngắn này còn nhiều điều mới

mẻ để nghiên cứu và tìm hiểu Vì lẽ đó,chúng tôi quyết định chọn “Thế giới

nghệ thuật trong truyện ngắn của Lan Khai” làm đề tài nghiên cứu Đề tài này,

là công trình đầu tiên đi tìm hiểu về thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn của Lan Khai, thế giới đó hiện lên đầy đủ về bức tranh đời sống của con người miền núi hòa quyện vào thiên nhiên với nhiều điều bí ẩn, được phác họa bằng những nét vẽ nghệ thuật ngôn từ sáng tạo của nhà văn Lan Khai

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Sự nghiệp sáng tác của Lan Khai để lại cho nền văn học nước nhà vô cùng đồ sộ, chứa đựng nhiều giá trị nghệ thuật văn chương Điều này được nhiều nhà nghiên cứu và phê bình văn học lớn trong và ngoài nước biết đến, ghi nhận và đánh giá thông qua nhiều công trình nghiên cứu và phê bình văn học đã công bố Trải qua tiến trình lịch sử văn học Việt Nam từ 1930 đến nay, chúng tôi điểm qua một số bài nghiên cứu và phê bình tiêu biểu về sự nghiệp sáng tác của Lan Khai

Trang 9

Nam hiện đại, theo báo LOA, số 81: thứ năm /5/ September 1935 với tựa đề

“Lan Khai, Nhà nghệ sĩ của rừng rú”, mở đầu ông đối chiếu giữa Thế Lữ và

Lan Khai trước cảnh vật thiên nhiên làm không gian cảm hứng, thỏa trí tài

văn “ông Thế Lữ mượn một cảnh rừng núi để giải quyết một mối dị đoan,

hoặc sơ phác một cô gái thổ Ông Lan Khai trái lại, không giải quyết gì, không sơ phác ai Ông sống trong rừng rậm, núi cao, cảm thấy cái đẹp của sơn lâm Dưới ảnh hưởng mạnh mẽ của hoàn cảnh, lại bị năng lực nghệ sĩ thiên bẩm thúc giục, ông cầm bút chép những chuyện lạ đường rừng, dắt ta vào một địa hạt xa xăm, tối hiểm Từ từ, hồi hộp, ông ẩn khẽ cánh cửa của rừng thẳm, mở lối cho nghệ thuật bước vào một thế giới lạ lùng, đầy dẫy những hình trạng nhiệm mầu, đột thú” [65, tr.225] Ông đánh giá cao truyện

đường rừng vì Lan Khai luôn biết tìm tòi những cái mới để ẩn khẽ cánh cửa rừng giới thiệu cho bạn đọc những điều thú vị Khi đọc Tiểu thuyết lịch sử

Trương Tửu cũng có cảm nhậm “Đọc truyện của ông Lan Khai, ta luôn luôn

bị xúc động với người trong cảnh mộng Khi ta hồi hộp vẩn vơ, khi ta say mê ngây ngất” [65, tr.236], và cuối cùng khẳng định “Rừng rú và lịch sử, chuyện

từng kể một, viết công phu nữa để hiến cho độc giả những tiểu thuyết kiệt tác

đủ làm vẻ vang văn học nước nhà” [65, tr.238] Theo báo Loa, số 82: Thứ

năm /12/ september 1935 Trong bài viết “Văn Lan Khai”, Trương Tửu đánh

giá cao về tài văn thiên bẩm của nghệ sĩ tài hoa và nhìn nhận gòi bút của Lan

Khai “văn ông bóng bẩy, đẹp đẽ Không mấy khi ông tả mầu sắc bằng một

phẩm từ cộc lộc” [65, tr.240], “Thỉnh thoảng dưới ngòi bút của Lan Khai, hình tượng nọ tiếp hình tượng kia đi thành một điệu dài làm người đọc như bị

mê sảng không biết mình ở trong mộng hay trước cảnh thực” [65, tr.241] và

sau cùng ông khẳng định lối viết tiểu thuyết của Lan Khai “Bằng lối văn tả

cảnh và bóng bẩy, bằng cách phô diễn phỏng theo Pháp Ông Lan Khai thật

là một nhà tiểu thuyết xứng đáng, một nhà văn có giá trị và hy vọng” [65,

tr.246] Theo báo LOA, số 83: Thứ năm /19/ September 1935

Trang 10

Trần Huy Liệu (1901 - 1969)

Trần Huy Liệu là một nhà văn, nhà sử học, nhà hoạt động cách mạng xuất sắc nửa đầu thế kỉ XX Lầm Than ra đời được đông đảo công chúng đón nhận, bởi nó là những áng văn tả thực, có sự đồng cảm sẻ chia với những số phận khốn khổ Tác phẩm Lầm Than ra đời, lời tựa và cũng là sự cảm nhận, đánh giá sâu sắc và thực tế nhất về đời sống con người khổ cực trong Lầm

Than “nếu ai đã từng sống trong cảnh lầm than ở giữa dân chúng, các bạn sẽ

nhận thấy những tình cảnh, những phong tục cho đến những tâm lí của đám dân nghèo hèn mà tác giả đã mô tả ra là rất đúng” [65, tr.248] Đánh giá này

của Trần Huy Liệu cũng đồng quan điểm với nhiều nhà phê bình đương thời như Hải Triều

Hải Triều (1908 - 1954)

Hải Triều là một nhà báo, nhà lí luận Marxist, nhà phê bình tiêu biểu của nền văn học Việt Nam Những tác phẩm của Lan Khai được công bố, ông cũng là một trong những nhà phê bình đầu tiên nghiên cứu và đánh giá sớm

về những tác phẩm của Lan Khai, trong bài “Lầm Than - Một tác phẩm đầu

tiên của nền văn tả thực xã hội ở nước ta”(1938), ông nhận định “Đọc xong quyển Lầm Than, tôi thấy tác giả của nó mạnh dạn tiến lên trên con đường sáng sủa mà đầy cả chông gai, con đường bênh vực cho giai cấp cần lao, con đường của chủ nghĩa xã hội Điều ấy là một điều đáng ghi nhớ trong lịch sử văn học của xứ này” [65, tr.251] Và ông luôn luôn bảo vệ khuynh hướng văn

học phải “Nghệ thuật vị nhân sinh”, “Tả thực xã hội chủ nghĩa là một triều

lưu văn nghệ của xã hội sau này Hiện tại Lan Khai đã phất lá cờ tiên phong trên mảnh đất này” [65, tr.253]

Vũ Ngọc Phan (1902 - 1987)

Vũ Ngọc Phan là một nhà văn, nhà nghiên cứu văn học hiện đại và văn học dân gian Việt Nam, ông có nhiều bài nghiên cứu, phê bình văn học Phê

Trang 11

bình về Lan Khai ông nhận định:“Nếu xét về lượng, những tiểu thuyết ông

viết cũng không kém tiểu thuyết của Lê Văn Trương mấy tí; người ta thấy trong mấy năm gần đây, sách của ông xuất bản thật là bộn bề” [65, tr.258] và

ông cũng thừa nhận giá trị các tác phẩm làm nên tên tuổi Lan Khai “Mặc dầu

Lan Khai viết nhiều loại, từ trước đến nay, ông chỉ đáng được nổi tiếng về tiểu thuyết đường rừng hơn cả” [65, tr.259] Phê bình qua nhiều tác phẩm: Ai lên phố Cát, Cô Dung, Tiếng gọi của rừng thẳm, Ma Thuồng Luồng, v.v để

cuối cùng ông khẳng định “Lan Khai là cây bút rất tài tình để viết truyện

ngắn” và trăn trở với câu hỏi “Không hiểu sao ông lại chỉ viết có tập Truyện đường rừng?” [65, tr.264] Khi nhìn nhận về các thể loại sáng tác của Lan

Khai ông viết “Lan Khai là một nhà văn rất tham Ông đã nhúng tay vào hầu

hết các loại tiểu thuyết, rồi ông lại muốn ngả cả về mặt dịch thuật nữa” [30,

tr.275] Như vậy có thể thấy Vũ Ngọc Phan đánh giá rất cao những tác phẩm của Lan Khai cũng như tài năng sáng tạo của ông

Ngoài ra còn rất nhiều bài nghiên cứu, phê bình về Lan Khai của các tác giả như: Thiều Quang Lộc, Phạm Mạnh Phan, Hoài Anh, Gia Dũng, Hà Thị Minh Kim, Nguyễn Vĩ, Ngọc Giao,.v.v

Đặc biệt ngần đây có PGS.TS Trần Mạnh Tiến, là người trực tiếp giảng dạy, nghiên cứu lí luận và phê bình văn học, ông có nhiều công trình nghiên cứu, sưu tầm, biên soạn các tác phẩm của Lan Khai cũng như những đánh giá sâu sắc về sự nghiệp văn học mà Lan Khai đã để lại Nhiều công trình được

công bố như: Lan Khai tuyển tập (2010), Lan Khai tuyển truyện ngắn (2011),

Lan Khai - tác phẩm nghiên cứu lí luận và phê bình văn học (2002), v.v Ông

gọi: “Lan Khai nhà văn hiện thực xuất sắc”, hay trong công trình Lan Khai - Tuyển tập của Trần Mạnh tiến biên soạn, ông nhận định: “Cuộc đời và sự

nghiệp của nghệ sĩ Lan Khai đã để lại một dấu ấn sâu đậm cho nền văn học Việt Nam hiện đại, là một trong những nhà văn đã tham gia vào công cuộc

Trang 12

“khai sơn phá thạch” cho nền văn học dân tộc ở thế kỉ XX Là một tài năng lớn của nền văn học Việt Nam hiện đại, Lan Khai đã tham gia vào nhiều lĩnh vực văn học, ở đề tài nào cũng thể hiện những năng lực sáng tạo riêng” [61 tr.56]

Trong khuân khổ của một đề tài luận văn thạc sĩ, chúng tôi chỉ điểm qua những bài phê bình tiêu biểu của những nhà nghiên cứu phê bình văn học xuất sắc qua những giai đoạn từ 1930 đến nay, những bài nghiên cứu, phê bình này phần nhiều đi vào các sáng tác văn học cụ thể của Lan Khai hoặc tìm hiểu ở những giá trị đóng góp về nghệ thuật cũng như phương diện nội dung một cách tổng quát, vì lí do đó chúng tôi quyết định đi vào nghiên cứu ở phương

diện “Thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn của Lan Khai”

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Triển khai luận văn này, chúng tôi đi sâu vào nghiên cứu “Thế giới nghệ

thuật trong truyện ngắn của Lan Khai”

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã tiến hành khảo sát và nghiên cứu toàn bộ các tập truyện ngắn của Lan Khai gồm: truyện đường rừng, truyện tâm lí xã hội, ngoài ra tôi còn nghiên cứu các thể loại khác của Lan Khai như: thơ, tiểu thuyết, kí, phê bình,… các tác phẩm này chưa thực sự đầy đủ với những gì nhà văn đã tạo lập trong 18 năm văn nghiệp, tuy nhiên những tác phẩm Lan Khai để lại vô cùng đồ sộ, các tác phẩm của Lan Khai được nhiều nhà nghiên cứu đã dày công sưu tầm và biên soạn thành các cuốn như: Lam Khai tuyển tập (2010), Lan Khai ký (2015), Lan Khai tuyển truyện ngắn (2011).v.v

Ngoài ra chúng tôi còn tìm hiểu và nghiên cứu nhiều tác phẩm truyện ngắn của các tác giả cùng thời Lan Khai như: Tản Đà, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Tuân, Ngô Tất Tố, v.v nhiều bài phê bình, nghiên cứu, đánh giá về

Trang 13

Lan Khai được đăng trên các tạp chí uy tín, để có sự đối chiếu, có cái nhìn toàn diện, đánh giá khách quan, đúng mực ở phạm vi của đề tài này

4 Mục đích nghiên cứu

Thông qua đề tài này, chúng tôi muốn góp thêm ý kiến cá nhân nhằm tái khẳng định những đóng góp lớn về số lượng các tác phẩmcũng như giá trị về nội dung, nghệ thuật văn chương Lan Khai đã tạo dựng

Tìm ra được những phong cách mới lạ, độc đáo về thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn cũng như trong các sáng tác của Lan Khai

5 Phương pháp nghiên cứu

Khi nghiên cứu về “Thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn của Lan

Khai”, hướng đến mục tiêu những đóng góp về nghệ thuật trong đó có: đặc

điểm truyện ngắn, những quan niệm về nghệ thuật, con người và cuộc sống trong truyện ngắn, những phương diện nghệ thuật khác Từ đích đó, quá trình nghiên cứu chúng tôi vận dụng các phương pháp chủ yếu sau:

- Phương pháp tiếp cận thi pháp học

- Phương pháp lịch sử - xã hội

- Phương pháp phân tích tổng hợp

- Phương pháp tiểu sử tác giả

- Phương pháp hệ thống

6 Những đóng góp của luận văn

Luận văn có thể đóng góp ở các phương diện sau:

Thứ nhất: Tìm ra những nét độc đáo về thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn Lan Khai

Thứ hai: Khẳng định những đóng góp to lớn của Lan Khai đối với nền văn học hiện đại Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945

Trang 14

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn gồm có 03 chương:

Chương 1 Truyện ngắn và Thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn của Lan Khai

Chương 2 Con người và cuộc sống trong truyện ngắn Lan Khai

Chương 3 Một vài phương diện nghệ thuật trong truyện ngắn Lan Khai

Trang 15

NỘI DUNG Chương 1 THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN

VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC CỦA LAN KHAI

1.1 Khái quát về truyện ngắn và thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn của Lan Khai

1.1.1 Khái niệm truyện ngắn

Theo Từ điển thuật ngữ văn học do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, chủ biên (1997): Truyện ngắn “tác phẩm tự sự cỡ nhỏ Nội dung

thể loại của truyện ngắn bao trùm hầu hết các phương diện của đời sống: đời

tư, thế sự hay sử thi, nhưng cái độc đáo của nó là ngắn Truyện ngắn được viết ra để tiếp thu liền một mạch, đọc một hơi không nghỉ Tuy nhiên, mức độ dài ngắn chưa phải là đặc điểm chủ yếu phân biệt truyện ngắn với các tác phẩm tự sự loại khác Trong văn học hiện đại có nhiều tác phẩm rất ngắn, nhưng thực chất lại là những truyện dài viết ngắn lại Truyện ngắn, thời trung đại cũng ngắn nhưng rất gần với truyện vừa Các hình thức truyện kể dân gian rất ngắn gọn như cổ tích, truyện cười, giai thoại… lại càng không phải

là truyện ngắn” [15, tr.303]

- Truyện ngắn hiện đại là một kiểu tư duy mới, một cách nhìn cuộc đời, một cách nắm bắt đời sống rất riêng, mang tính chất thể loại Cho nên truyện ngắn, đích thực xuất hiện tương đối muộn trong lịch sử văn học Khác với tiểu thuyết là thể loại chiếm lĩnh đời sống trong toàn bộ sự đầy đặn và toàn vẹn của nó, truyện ngắn thường hướng tới việc khắc họa một hiện tượng, phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn của con người Vì thế, trong truyện ngắn thường có ít nhân vật, ít sự kiện phức tạp và nếu mỗi nhân vật của tiểu thuyết là một thế giới, thì nhân vật của truyện ngắn

là một mảnh nhỏ của thế giới ấy Truyện ngắn thường không nhắm tới việc

Trang 16

khắc họa những tính cách điển hình đầy đặn, nhiều mặt trong tương quan với hoàn cảnh Nhân vật của truyện ngắn thường là hiện thân cho một trạng thái quan hệ xã hội, ý thức xã hội hoặc trạng thái tồn tại của con người

- Cốt truyện của truyện ngắn thường diễn ra trong một thời gian, không gian hạn chế, chức năng của nó nói chung là nhận ra một điều gì đó sâu sắc về cuộc đời và tình người Kết cấu của truyện ngắn không chia thành nhiều tầng, nhiều tuyến mà thường được xây dựng theo nguyên tắc tương phản hoặc liên tưởng Bút pháp trần thuật của truyện ngắn thường là chấm phá Yếu tố quan trọng bậc nhất của truyện ngắn là những chi tiết cô đúc, có dung lượng lớn và lối hành văn mang nhiều ẩn ý, tạo cho tác phẩm những chiều sâu chưa nói hết Như vậy, có thể nói truyện ngắn là thể loại gần gũi với đời sống hàng ngày, súc tích, dễ đọc, lại thường gắn liền với hoạt động báo chí, do đó có tác dụng, ảnh hưởng kịp thời trong đời sống Nhiều nhà văn lớn trên thế giới

và nước ta đã đạt tới đỉnh cao của sự nghiệp sáng tạo nghệ thuật chủ yếu

bằng truyện ngắn xuất sắc của mình

1.1.2 Quang niệm về Thế giới nghệ thuật

Thế giới là một khái niệm thuộc phạm trù triết học Theo Từ điển triết học, Thế giới có thể được hiểu:

- Theo nghĩa rộng: “là toàn bộ hiện thực khách quan, (là tất cả những gì

tồn tại ở bên ngoài và độc lập với ý thức con người) Thế giới là nguồn gốc

của nhận thức” [20, tr.1083]

- Theo nghĩa hẹp: “dùng để chỉ đối tượng của vũ trụ học, nghĩa là bộ

phận thế giới vật chất do thiên văn học nghiên cứu Người ta đã chia bộ phận thế giới vật chất đó thành hai lĩnh vực, nhưng không có ranh giới tuyệt đối: Thế giới vĩ mô và thế giới vi mô” [59, tr.1083]

Như vậy có thể hiểu thế giới là một phạm vi rất rộng, một vũ trụ rộng lớn tồn tại xung quanh con người và độc lập bên ngoài ý thức con người

Trang 17

Còn Thế giới nghệ thuật cũng là một phạm trù rất rộng, được dùng

trong văn học và sáng tác nghệ thuật

- Theo Từ điển thuật ngữ văn học Lê Bá Hán, Trần Định Sử, Nguyễn

Khắc Phi chủ biên: thế giới nghệ thuật khái niệm chỉ tính chỉnh thể của sáng

tác nghệ thuật (một tác phẩm, một loại hình tác phẩm, sáng tác của một tác

giả, một trào lưu) Thế giới nghệ thuật nhấn mạnh rằng sáng tác nghệ thuật là

một thế giới riêng, được tạo ra theo các nguyên tắc tư tưởng và nghệ thuật, khác với thế giới thực tại vật chất hay thế giới tâm lí của con người, mặc dù là

nó phản ánh các thế giới ấy.Thế giới nghệ thuật có không gian riêng, thời

gian riêng, có quan hệ xã hội riêng, quan niệm đạo đức, thang bậc giá trị riêng

… chỉ xuất hiện một cách ước lệ trong sáng tác nghệ thuật Chẳng hạn; trong thế giới truyện cổ tích, con người và loài vật, cây cối, thần phật đều có thể nói chung một thứ tiếng người, đôi hài có thể đi một bước bảy dặm, nồi cơm vô tận ăn mãi không hết Trong văn học lãng mạn, quan hệ nhân vật thường xây dựng trên cơ sở cảm hóa; trong văn học cách mạng nhân vật thường chia thành hai tuyến địch, ta, người chiến sĩ cách mạng và quần chúng

Như thế, mỗi thế giới nghệ thuật có một mô hình nghệ thuật trong việc phản ánh thế giới Sự hiện diện của thế giới nghệ thuật không cho phép đánh giá và lý giải tác phẩm văn học theo lối đối chiếu giản đơn giữa các yếu tố hình tượng với các sự thực đời sống riêng lẻ, xem có “giống” hay không, “thật” hay

không, mà phải đánh giá trong chỉnh thể của tác phẩm, xem xét tính chân thật

của tư tưởng chỉnh thể của tác phẩm so với chỉnh thể hiện thực Các yếu tố của

hình tượng chỉ có ý nghĩa trong thế giới nghệ thuật của nó [15, tr.245]

- Theo giáo trình Lý luận văn học (Trần Đình Sử chủ biên), “thế giới

nghệ thuật là một thế giới kép: thế giới được miêu tả và thế giới miêu tả Thế

giới được miêu tả gồm nhân vật, sự kiện, cảnh vật… Thế giới miêu tả là thế giới của người kể chuyện, người trữ tình Hai thế giới này gắn kết không tách

Trang 18

rời như hai mặt của một tờ giấy Không có thế giới miêu tả thì không có thế gưới được miêu tả và ngược lại Tuy nhiên chúng không thể liên thông Người

kể chuyện không thể trực tiếp tham gia vào sự kiện trong thế giới được miêu

tả như một nhân vật” [52, tr.82] Thế giới được miêu tả trong tác phẩm có các

bình diện của nó Đó là con người riêng (nhân vật), không gian, thời gian riêng, đồ vật, âm thanh, màu sắc có ý nghĩa tượng trưng riêng không đồng

nhất với thực tại Các bình diện trên đều là yếu tố của thế giới nghệ thuật,

mỗi yếu tố có một vị trí nhất định và không thể thiếu đối với hệ thống Thế giới nghệ thuật của tác phẩm ngôn từ là hệ thống hoàn chỉnh và bao gồm những giới hạn nhất định Bởi vì hệ thống đó sống theo các quy luật, nguyên tắc vốn có của nó, có không gian, thời gian, tâm lý, đạo đức xã hội và hoàn cảnh vật chất riêng, tất cả đều là phạm trù có ý nghĩa khi phân tích tác phẩm Không nên đánh giá tác phẩm chỉ trong một bình diện, cũng như không nên xem xét các bình diện trên một cách tách rời, bỏ qua mối quan hệ và liên hệ qua lại giữa chúng Chỉ có nghiên cứu đồng bộ các bình diện mới đem lại bức tranh đầy đủ về thế giới mà nhà văn sáng tạo ra

Như vậy, thế giới nghệ thuật là một phạm trù rất rộng Thuật ngữ này

chỉ dùng trong văn học, trong sáng tác nghệ thuật Có nhiều định nghĩa, quan

niệm khác nhau về thế giới nghệ thuật Qua các định nghĩa trên, chúng ta có thể rút ra cách hiểu: Thế giới nghệ thuật là thế giới riêng mà nhà văn sáng tạo

trong tác phẩm của mình Thế giới ấy là hình bóng của thế giới vật chất nhưng không hoàn toàn là thế giới vật chất Bước vào thế giới nghệ thuật, người đọc đã cùng nhà văn bắt đầu hành trình khám phá bản chất của cuộc sống và bản thể của con người Đó là một cuộc chơi thú vị, hấp dẫn nhưng

cũng không ít những đắng cay cần sự trải nghiệm Thế giới nghệ thuật bao

gồm tất cả các yếu tố trong tác phẩm văn học Có bao nhiêu yếu tố cấu thành

nên tác phẩm văn học sẽ có bấy nhiêu yếu tố thuộc thế giới nghệ thuật

Trang 19

Trong phạm vi của luận văn, chúng tôi sẽ tìm hiểu những yếu tố cơ bản

về“Thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn của Lan Khai”

1.1.3 Đặc điểm truyện ngắn Lan Khai

1.1.3.1 Truyện ngắn kì ảo (Truyện đường rừng)

Kì ảo, là một yếu tố hàng đầu tạo nên sức hấp dẫn, sự mới lạ trong

Truyện đường rừng của Lan Khai.Truyện ngắn kì ảo có nhiều tên gọi khác

nhau như: truyện truyền kì, truyện kinh dị, truyện quái dị, ma quái … Trong truyện ngắn kì ảo của Lan Khai, yếu tố kì ảo luôn gắn liền với cảnh núi rừng Việt Bắc, mang những yếu tố dân gian, xen lẫn những câu truyện cổ tích, phong tục miền núi, vì thế tạo nên một nét riêng, độc đáo về thể loại truyện

ngắn kì ảo trong tập Truyện đường rừng mang đặc trưng phong cách riêng của Lan Khai Nhà nghiên cứu lí luận và phê bình Vũ Ngọc Phan nhận định:“Mặc

dầu Lan Khai viết nhiều loại, từ trước đến nay, ông chỉ đáng được nổi tiếng

về tiểu thuyết đường rừng hơn cả Về loại này, ông đứng riêng hẳn một phái Người ta thấy Thế lữ cũng có viết đôi ba truyện, nhưng đọc Lan Khai, người

ta mới thấy nhà tiểu thuyết đưa ta vào tận rừng thẳm, dắt người ta một cách thân mật vào các gia đình Thổ Mán và cho người ta được thấy những tâm tính dị kì” [65, tr.259]

Suốt một thời gian dài từ thời kì trung đại, hình ảnh con người miền núi xuất hiện mờ nhạt trong tác sáng tác văn chương Tới giai đoạn 1930 đến

1945 với cuộc cách tân về văn học nghệ thuật, có nhiều nhà văn đã đóng góp

nhiều tác phẩm về đề tài miền núi, phải kể đến như: Thế Lữ với tập Vàng

máu, Lưu Trọng Lư với Người sơn nhân, Đới Đức Tuấn với Thần Hổ, Ai hát giữa rừng khuya và đặc biệt là đóng góp của Lan Khai với Truyện đường rừng … họ mang đến những bức tranh khác nhau về thế giới sơn lâm Truyện

ngắn của Lan Khai đã vẽ lên một bức tranh đa màu sắc về miền núi, bức tranh

đó có vẻ đẹp tươi tắn, thơ mộng về một thiên nhiên kì vĩ Có nhiều loài

Trang 20

muông thú, cỏ cây tụ thành những quần thể sinh động Và đặc biệt người ta không khỏi tò mò, kiếu kì và mơ hồ bởi những yếu tố kì ảo Yếu tố kì ảo trong truyện ngắn đường rừng của Lan Khai chính là những nhân vật kì ảo, đó

có thể là những con vật kì ảo, con vật không có thật, người biến thành vật, hay

những hồn ma … Như trong các truyện: Người lạ, Ma thuồng luồng, Con

thuồng luồng nhà họ Ma, Con bò dưới Thuỷ tề, Đôi vịt con, Người hoá hổ, Gò thần, Người hoá beo…

Đặc điểm những yếu tố kì ảo trong truyện ngắn của Lan Khai chúng ta

có thể thấy rõ những yếu tố kì ảo được kể xen lẫn những câu chuyện dân gian miền núi, pha chút thơ mộng, vẻ đẹp của núi rừng Việt Bắc

Những yếu tố kì ảo được đặt trong các bối cảnh của những câu chuyện khác nhau, thể hiện những số phận và quan điểm khác nhau của nhà văn Yếu tố kì ảo và hiện thực được đan xen, tái hiện trong cuộc sống sinh hoạt của người dân miền núi như một minh chứng về thực tại bí hiểm của núi rừng, các yếu tố văn hoá dân gian được xen cài mang đặc trưng của đồng bào dân tộc thiểu số như: Tày, Thái, Cao Lan

1.1.3.2 Truyện ngắn hiện thực tâm lí xã hội

Truyện ngắn hiện thực của Lan Khai gắn liền với những vấn đề xã hội như: tình yêu đôi lứa, tình cảm vợ chồng, những cảnh ngộ éo le … hoặc trong hoạt động sáng tác của người nghệ sĩ Trong các tác phẩm ấy, nhà văn quan tâm tới những vấn đề thời sự của cuộc sống: đó có thể là tình yêu đôi lứa, sự thuỷ chung trong hạnh phúc gia đình, là vẻ đẹp của lòng nhân từ, phê phán lối sống tầm thường và những quan niệm sống sai lầm… Nhìn chung, nhiều vấn

đề nóng bỏng của đời sống hàng ngày được nhà văn tái hiện trong tác phẩm của mình Trong đó, mảng truyện ngắn hiện thực tâm lí xã hội của Lan Khai

tập trung chủ yếu trong tập Lẩn sự đời, xuất bản năm 1934, Lan Khai tuyển

Trang 21

truyện ngắn, xuất bản 2011 do PGS TS Trần Mạnh Tiến sưu tầm và biên

soạn, và một số tác phẩm đăng trên nhiều tờ báo khác nhau

Truyện tâm lí xã hội, nhiều câu chuyện về tình yêu đôi lứa, tác giả tập trung vào những vấn đề về nhận thức, đạo đức và những tình huống éo le

Mỗi câu chuyện tâm lí xã hội trong tập Lẩn sự đời là một lát cắt của cuộc

sống, người đọc không chỉ thấy được những số phận, những cảnh ngộ oái oăm mà còn cảm nhận được những bài học nhân sinh sâu sắc được tác giả gửi gắm trong mỗi một câu chuyện

Truyện Lẩn sự đời, là câu chuyện về cuộc tình của chàng hoạ sĩ với một

cô gái mù ở chốn thôn quê Vân, tên chàng hoạ sĩ, vốn là một chàng trai thành thị, mồ côi cha mẹ từ lâu Chàng hoạ sĩ muốn xa lánh nơi thị thành tìm tới nơi nước non kì thú, vui điền viên, chàng gặp được tình cảm chân thành từ một cô gái mù mà chưa bao giờ chàng từng có Một tình yêu mang đến cho chàng niềm tin và hy vọng, chàng đã quyết định lẩn chốn phồn hoa đô thị về sinh sống bên cô gái mù, để là cái gậy chống đỡ cho người mẹ già của cô gái, là

nơi nương tựa cho người mình yêu Giông tố, là câu chuyện về hạnh phúc gia

đình bị tan vỡ Lỗi lầm của người chồng trước cái sai của người vợ khi ngoại tình đã ngăn cách hai người đằng đẵng suốt nhiều năm, thân thể héo mòn của người chồng khi đi tìm vợ, nỗi nhớ nhung và lòng chung thuỷ sắc son là

những giá trị đẹp cần phải có trong mỗi hạnh phúc gia đình Bỡn cợt với tình,

là một thông điệp về tình yêu dối trá, tình yêu phải xuất phát từ sự chân thành, niềm tin sắc son và thuỷ chung thì mới bền vững Lộc là chàng trai trong lúc chán trường, anh gặp người con gái thôn quê hồn nhiên trong trắng, trước vẻ đẹp hồn nhiên của Xuân, Lộc đã mê mẩn trước cái đẹp, trước cái tình ngây thơ mà đem những lời mật ngọt hứa hẹn Chỉ khi Liên là người yêu của Lộc

đã bóc mẽ bản chất và sự dối trá của Lộc thì mọi việc đã ngã lẽ Người đau khổ nhất có lẽ là Xuân, Xuân tin vào sự chân thành và lời hứa của Lộc, cô

Trang 22

cảm thấy đau đớn nhất trong mối tình tay ba Một truyện tự tử, câu chuyện về

tình yêu gắn liền với sự cảm thông, chia sẻ với số phận éo le, bạc bẽo giữa

chàng tài xế lái thuê tên Cáp và cô gái tên Xuân làm nghề “đem thân đổi lấy

đồng tiền” Tác giả chỉ cho hai người gặp nhau vào một buổi tối, lần gặp gỡ

đầu tiên đó dường như hai người đã thấu hiểu tất cả về nhau, cảm thông cho những vất vả, đoạn trường mà Xuân đã trải qua Cuộc sống quá khốn khó, khiến cho Cáp không thể thực hiện được dự định đưa Xuân thoát khỏi nơi nhơ nhớp đó, trước cái bế tắc tuột cùng của cuộc sống, hai người đã nghĩ tới cái

chết như một sự giải thoát Truyện ngắn Thằng Gầy, là câu chuyện tác giả

mang tới một thông điệp về cái đói, cái khổ, lớn hơn nữa là nỗi bất hạnh của một thằng bé không nơi nương tựa, không nhà cửa, không cha mẹ để bấu víu

Thằng Gầy, luôn phải sống trong “sự hắt hủi của đồng loại và sự thờ ơ của thiên nhiên”, cái chết của Thằng Gầy là một nỗi đau bất hạnh, là lời ai oán tác

giả muốn phê phán về tình mẫu tử, tình người với người trong xã hội vốn

phức tạp và khốn khó Anh Xẩm là câu chuyện tương tự về nỗi khổ đau và bất hạnh của một kiếp người khốn khổ Anh Xẩm xuất hiện trong một không gian

đối lập với tất cả mọi người, nơi đó là những con người ăn mặc sang trọng vui ngày lễ hội, anh xuất hiện là một người rách rưới, không ai để ý sự tồn tại của

anh Nhưng với tài năng của mình anh đã mang đến âm thanh “véo von lanh

lảnh như tiếng hạc ngang trời”, làm gỡ ngàng tất cả đám đông Thứ âm thanh

trong trẻo, cao bổng, có sự điêu luyện của nghệ thuật như một minh chứng đóng góp về tài năng, có ý nghĩa và giá trị sống của những con người không được để ý

Thông qua những vấn đề nhạy cảm của cuộc sống, nhà văn đã bày tỏ thái

độ của mình đối với những tồn tại của xã hội Đó là những quan điểm, những chính kiến về chuẩn mực trong đạo đức, lối sống và tình yêu Là sự cảm thông, sâu sắc trước những kiếp người nhỏ bé, bất hạnh Đó là những dẫn

Trang 23

chứng cho một cây bút xuất sắc viết về hiện thực xã hội trong giai đoạn văn học 1930 - 1945

1.2 Hành trình sáng tác của Lan Khai

1.2.1 Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Lan Khai

Cuộc đời: Nhà văn Lan Khai tên thật là Nguyễn Đình Khải, sinh ngày

24 tháng 06 năm 1906 tại xã Vĩnh Lộc, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang

Cụ thân sinh là Nguyễn Đình Chức (còn gọi là cụ Lang Chức), thuộc dòng họ Nguyễn Đình có nguyên quán ở Thừa Thiên - Huế Thủa nhỏ cụ Nguyễn Đình Chức được cha mẹ nuôi dưỡng cho theo học chữ Nho và nghề thuốc Đông y gia truyền Khi trưởng thành cụ Nguyễn Đình Chức cùng hai anh là Nguyễn Đình Cả và Nguyễn Đình Liên hưởng ứng chiếu Cần Vương ra Bắc tham gia khởi nghĩa Hương Khê (Hà Tĩnh) Cuộc khởi nghĩa kết thúc (1895), ba anh

em chuyển lên thượng nguồn Sông Gâm (nay là Chiêm Hoá, Tuyên Quang) sinh sống Tại đây, cụ Chức đã làm nghề dạy học, bốc thuốc chữa bệnh cho người dân trong vùng, tên tuổi ông được mọi người trong vùng biết đến Cụ thân mẫu của Lan Khai tên là Lỗ Thị Thục, xuất thân từ dòng họ Lỗ, là người phụ nữ hiền lành, chất phác sống tại địa phương Bà có đức tính nhân hậu, hết mực thương yêu chồng, con, giàu đức hy sinh, ngày ngày hái thuốc trong rừng cùng chồng cứu chữa cho nhiều người dân, được nhân dân trong vùng hết mực quý mến Thời thơ ấu, Lan Khai lớn lên ở miền rừng núi Chiêm Hóa có nhiều đồng bào dân tộc sinh sống như Tày, Dao, Cao Lan, Hà Nhì, Nùng, … nơi đây có nền văn hóa đặc sắc của các dân tộc được giao thoa, quyện lại với nhau tạo nên một nền văn hóa đa dạng, đậm đà bản sắc các dân tộc miền núi, nơi có những làn điệu hát then của dân tộc Tày, những lễ hội đặc sắc vào mùa xuân, những câu truyện kì thú, kì ảo của các dân tộc Dao, Nùng, Tày … những văn hóa truyền thống đó cùng với những lời kể, lời ru của mẹ, lời dạy của cha đã ảnh hưởng và nuôi dưỡng tâm hồn của một nhà văn tài năng, một nhà văn bậc nhất về “Truyện đường rừng” từ trước tới nay

Trang 24

Năm 1914, Lan Khai theo cha mẹ chuyển về sống ở làng Xuân Hòa (nay

là phố Xuân Hòa) thuộc tỉnh lị Tuyên Quang, nơi đây là khu phố nghèo, vùng thấp, trũng, bên bờ hữu ngạn Sông Lô, nơi cư trú của nhiều gia đình thợ thuyền và phu mỏ Phía bắc khu Xuân Hòa tiếp giáp với mỏ than Tuyên Quang, đối diện với mỏ kẽm Tràng Đà phía tả ngạn Sông Lô, do thực dân Pháp tiến hành khai thác từ những năm đầu thế kỉ XX Suốt từ thời thơ ấu tới sau này Lan Khai được chứng kiến với những người phu mỏ, những kiếp lầm than của những số phận nghèo Thời gian này ông được cha mẹ cho theo học trường tiểu học của thầy Đốc Điện, Lan Khai nổi tiếng là cậu học trò thông minh, chăm chỉ, ham tìm hiểu những điều mới lạ, ông đam mê đọc sách, tìm hiểu lịch sử dân tộc Năm 12 tuổi cậu học trò Nguyễn Đình Khải đã tập làm thơ và viết văn, nhưng sớm bộc lộ năng khiếu hội họa Người mẹ đã thổi vào tâm hồn ông những câu ca dao, tục ngữ, những câu truyện cổ tích và truyền thuyết thần kì Người cha đã dạy ông vốn chữ Nho và sách Thánh Hiền về những tri thức và văn hóa lịch sử dân tộc trong suốt thời niên thiếu Đam mê

về văn chương và hội hoạ cùng với sự định hướng của cha mẹ đã tạo điều kiện tốt để ông sớm phát huy được tài năng của mình

Năm 1924, Lan Khai cùng gia đình về Hà Nội học tại trường Bưởi (nay

là trường Chu Văn An), từ đây là một bước ngoặt lớn trong cuộc đời của một nghệ sĩ tương lai Nơi đây ông được tiếp cận mới một môi trường mới, nền văn minh đô thị, với những nguồn tri thức mới lạ và đa dạng, đó chính là cơ hội là điều kiện, là mảnh đất tốt để ươm những hạt giống tốt Tới năm học thứ

3 tại đây, khi khoá học gần kết thúc thì diễn ra cuộc bãi khoá của học sinh trường Bưởi, là học sinh tham gia tích cực về cuộc bãi khoá vì thế Lan Khai

bị nhà trường thực dân đuổi học vì tội “dính líu vào quốc sự” Sau đó Lan Khai thi tiếp vào trường Cao đẳng mỹ thuật Đông Dương, khoá sau các hoạ sĩ

Tô Ngọc Vân, Bạch Yến, Lê Thị Lợi một năm Thời gian này ông có một mối

Trang 25

tình với người con gái tên là Nguyễn Thị Duyên (1909 - 1984), bà theo đạo Thiên Chúa, vì bất đồng tôn giáo nên chỉ được cha mẹ đồng ý cho về sống với nhau nhưng không cử hành hôn lễ

Năm 1927, Lan Khai trở về quê hương và lập gia đình chính thức với bà

Hà Thị Minh Kim (1909 - 1999) con một, thuộc gia đình dòng họ Hà ở Tuyên Quang, là người có học thức, nhân hậu và nhan sắc Đây là người phụ nữ ảnh hưởng sâu sắc tới sự nghiệp văn chương của Lan Khai Bà là người “trợ bút” đắc lực cho nhà văn trong nhiều tác phẩm văn chương

Sau khi lập gia đình, Lan Khai trở lại trường Cao đẳng mỹ thuật Đông Dương tiếp tục học tập, Lan Khai vẫn thể hiện rõ là người chăm chỉ và thông minh, có biệt tài về ký hoạ, được ông đốc học nhà trường quý trọng, nhưng ông cũng tâm sự thật lòng “Dù anh có tài thực nhưng rất khó vươn lên vì những ấn tượng từ trường Bưởi” Chưa học hết hai năm, Lan Khai đã trở lại với rừng núi Tuyên Quang, ông sống với nghề dạy học, dịch sách, viết văn, dành nhiều thời gian du ngoạn đó đây, vẽ nhiều bức tranh sơn thuỷ hữu tình

về thiên nhiên và con người miền núi bằng chất liệu sơn dầu, thuốc nước, bút sắt, ông còn ghi chép dã sử, sưu tầm những sáng tác dân gian Thời gian này ông tham gia vào một tổ chức bí mật chống Pháp do Nguyễn Thái Học lãnh đạo, thời gian sau tổ chức bị bại lộ và ông bị bắt giam tại nhà tù Hoả Lò (Hà Nội) Cha mẹ ông đã phải sử dụng hết gia tài cứu ông thoát chết Người mẹ ông cũng qua đời vì bệnh tật Ra tù, Lan Khai trở lại quê chuyên tâm vào dạy học, dịch sách, sưu tầm văn học và sáng tác

Đương thời, ông nổi tiếng là người có thú chơi sách, ông đã lập một thư phòng lớn đủ loại sách Đông, Tây, Kim, Cổ (bằng mọi cách sưu tầm hoặc gửi bạn bè hải ngoại mua) Ông dành mọi thời gian vào nghiên cứu sách vở, tự học và sáng tạo nên vốn kiến thức của Lan Khai rất rộng, được các trí thức đương thời quý trọng

Trang 26

Năm 1934, khi sự nghiệp văn chương đã được khẳng định trên văn đàn, Lan Khai quyết định đưa vợ con trở về Hà Nội, nơi quê nhà chỉ còn người cha già tiếp tục bốc thuốc cứu chữa cho dân Thời gian đầu, gia đình ông thuê căn ngác nhỏ tại đầu phố Hăng-ri-đoóc-lê-ăng (phố nhỏ trục ngang của đường Phùng Hưng ngày nay), sau lại về thuê một căn nhà ở phố Châu Long Thời gian này, ông được Vũ Đình Long mời vào làm biên tập ở toà soạn báo số 93 Hàng Bông, tại đây ông có điều kiện dồn hết sức lực tài năng vào văn chương Ông được làm việc và học hỏi với nhiều cây bút nổi tiếng, là bạn vong niên với Tản Đà, Ngô Tất Tố, là bạn thân thiết của Hải Triều, Hải Khách, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng, Vũ Ngọc Phan, Ngọc Giao, Vũ Bằng, Nguyễn Vĩ, Lưu Trọng Lư, Hồ Dếnh, Trương Tửu, Nguyễn Bính, Nguyễn Mạnh Tường v.v… Trong thời gian này ông vừa dạy học, viết văn,

vẽ tranh, dịch sách để nuôi sống 8 người trong gia đình

Năm 1939 Lan Khai làm tổng thư ký Tạp chí Tao Đàn, đây là tạp chí tiêu biểu nhất trong các ấn phẩm của nhà xuất bản Tân Dân đồng thời là cây bút chủ lực của nhà xuất bản này Tên tuổi Lan Khai xuất hiện thường xuyên

trên tờ báo Loa, Ngọ Báo, Đông Tây, Tiểu thuyết thứ bảy, Phổ thông bán

nguyệt san Ông còn là diễn viên nghiệp dư cho Nhà hát lớn Hà Nội với vai

chính trong các vở tuồng và kịch lịch sử, nhà văn Ngọc Giao nhận xét về tài diễn xuất của ông “Ngô Thì Nhậm hiện lên sân khấu quả là một nhân vật siêu phàm kiệt liệt, một đại danh sĩ Bắc Hà, một đại mưu sĩ của Bắc Bình Vương” Năm 1940 gia đình Lan Khai lâm vào cảnh bí bách, sau khi ra tù vì tội viết cuốn “Lầm Than”, bệnh tình của ông thêm trầm trọng, ở quê nhà người cha già sống trong cảnh đau ốm cô đơn Cuối năm 1943 sang đầu 1944, Lan Khai quyết định cùng toàn thể gia đình hồi hương Tại quê nhà ông mở hiệu sách “Lan Đình” bán nhiều loại sách báo và tiếp tục viết văn, dạy học, vẽ truyền thần Ông mất vào cuối mùa thu 1945 tại Tuyên Quang

Trang 27

Sự nghiệp sáng tác văn chương: Lan Khai là người sớm bộc lộ năng

khiếu văn chương, ông được cha mẹ quan tâm cho học hành chu đáo, là người thông minh, ham học hỏi, say mê văn chương và hội hoạ Quê hương xứ Tuyên là cái nôi về văn hoá dân gian các dân tộc thiểu số, cùng với đó là phong cảnh hữu tình, núi non trùng điệp, những lời dạy dỗ ân cần, bền bỉ của cha mẹ đã nuôi dưỡng và thổi vào tâm hồn ông niềm đam mê, từ đó tài năng văn chương được khơi dậy

Ông sớm viết thơ về quê hương, tình bạn, tình yêu Năm 1928, trên văn

đàn xuất hiện tác phẩm Nước Hồ Gươm mang bút danh Lan Khai với thể tài

ái tình tiểu thuyết Đây là tác phẩm mở đường vào tiểu thuyết của Lan Khai

Trong 18 năm văn nghiệp, Lan Khai để lại hàng trăm tác phẩm với đủ các đề

tài và thể loại như: Tiểu thuyết tâm lí - xã hội, tiểu thuyết đường rừng, tiểu

thuyết lịch sử, truyện ngắn, kí và thơ; tác phẩm nghiên cứu Lí luận phê bình, sưu tầm và dịch thuật, tranh phong cảnh, kí hoạ v.v

Đương thời, nhắc tới tiểu thuyết không thể không nhắc tới Lan Khai, Vũ

Ngọc Phan nhận định: “Lan Khai là lão tướng trong làng tiểu thuyết đang

gắng tìm đường mới”

Về tiểu thuyết tâm lí xã hội gồm có: Nước Hồ Gươm (1928), Cô Dung (1928 - 1938), Lầm Than (1929 - 1933, xuất bản 1938), Liếp Li (1938), Trang (1939), Nàng (1940), Mực mài nước mắt (1941), Tội nhân hay nạn nhân (1941), Tội và thương (1942),Mưa xuân (1944) … Mỗi tác phẩm là một bức

tranh chân thực và sinh động về những con người và những cảnh ngộ khác nhau, đó là những người nông dân, công nhân, người trí thức, người phụ nữ, hay những đứa trẻ bất hạnh, những người bị áp bức bóc lột trong xã hội đương thời v.v…Ở thể tài Tâm lí xã hội, Lam Khai được các nhà văn lớn đương thời đánh giá cao như: Trần Huy Liệu, Hải Triều, Vũ Ngọc Phan … Hải Triều nhận định “Lầm than - một tác phẩm đầu tiên của nền văn học tả

Trang 28

thực xã hội ở nước ta” và kêu gọi những người cầm bút noi theo khuynh hướng nghệ thuật của Lan Khai

Cùng với mảng đề tài tâm lí - xã hội, Lan Khai còn có một số lượng lớn

Tiểu thuyết lịch sử với những tác phẩm chính như: Gái thời loạn (1933), Chiếc ngai vàng (1935), Ai lên phố Cát (1937), Cái hột mận (1937), Chế Bồng Nga (1938), Đỉnh Non Thần (1940), Cưỡi đầu voi dữ (1940), Bóng cờ trắng trong sương mù (1940), Rỡn sóng Bạch Đằng (1941), Treo bức chiến bào (1942), Trong cơn binh lửa (1942), Thành bại với anh hùng (1942), Chàng đi theo nước (1936), Chàng áo xanh (1935), Người thù mặt trời

(1936), Cánh buồm thoát tục (1942), Tình người muôn dặm (1942) … tiểu

thuyết lịch sử của Lan Khai là những bức tranh khác nhau về những biến cố trong tiến trình lịch sử dân tộc, ông không chỉ tái hiện những nhân vật lịch sử trong truyện mà qua đó còn thể hiện những quan niệm nghệ thuật, quan niệm nhân sinh mới qua những hình tượng về các vấn đề thế sự, đời tư, cái thiện, cái ác hay khát vọng sống của con người

Lan Khai không chỉ thành công lớn ở mảng tiểu thuyết tâm lí - xã hội, mảng truyện ngắn ông cũng thành công rực rỡ, ông để lại cho kho tàng truyện ngắn đương thời nhiều tác phẩm có giá trị lớn về mặt nội dung và nghệ thuật

Tiêu biểu nhất là mảng Truyện đường rừng đã làm nên thế mạnh trong sự

nghiệp sáng tác của ông, Truyện đường rừng bao gồm tiểu thuyết và truyện

ngắn Về tiểu thuyết có những tác phẩm tiêu biểu như: Rừng khuya (1935),

Tiếng gọi của rừng thẳm (1939), Mọi rợ (1939), Hồng Thầu (1940), Chiếc nỏ cánh dâu (1941), Suối Đàn (1941)… Về truyện ngắn tiêu biểu loại Truyền kì

gồm 9 truyện: Người lạ, Ma Thuồng luồng, Con thuồng luồng nhà họ Ma,

Con bò dưới Thuỷ Tề, Người hoá hổ, Đôi vịt con, Mũi tên dẹp loạn, Tiền mất lực, Gò thần, in trong tập Truyện đường rừng (1940); các Truyện ngắn hiện thực và lịch sử đường rừng như: Lô HNồ (1933), Pàng Nhả (1933), Dưới miệng Hùm (1934), Sóng nước Lô Giang (1935), Mưu thằng Đợi (1941)

Trang 29

Truyện đường rừng là những bức tranh đặc sắc về thế giới thiên nhiên và

con người miền núi Việt Bắc được hiện lên muôn màu sắc dưới ngòi bút tài

hoa của Lan Khai Truyện đường rừng thể hiện cái nhìn nhân văn về thiên

nhiên, đất nước, con người của người nghệ sĩ, nổi bật giữa bức tranh tươi đẹp thiên nhiên miền núi là những hình tượng đồng bào các dân tộc, họ là những chàng trai, cô gái còn trẻ, có tâm hồn trong sáng, hiền lành, chất phác, dũng

cảm và tài hoa Đặc biệt hơn, Truyện đường rừng của Lan Khai là một bức

tranh đậm đà bản sắc các dân tộc miền núi từ Việt Bắc tới Tây Nguyên, hiện lên chân thực về các phong tục tập quán của các đồng bào như: Dao, Tày, Mông, Bana, Gia rai, … các phong tục là nét văn hóa sinh hoạt cộng đồng không thể thiếu trong lễ hội và tín ngưỡng của các dân tộc thiểu số, giúp ta

hình dung giác quan của một Nhà dân tộc học qua cây bút Lan Khai, giúp ông

tiến xa hơn các cây bút cùng thời viết về miền núi Đương thời, đọc các tác

phẩm Vàng máu của Thế Lữ, Thần Hổ và Ai Hát giữa rừng khuya của Đới

Đức Tuấn ta thấy các nhà văn này vẫn ở ngoài thiên nhiên, vẫn ở xa văn hoá phong tục tập quán của đồng bào các dân tộc miền núi Có thể nói cây bút của Lan Khai là cầu nối để các dân tộc xích lại gần nhau, hiểu nhau hơn, tôn trọng

và phát huy những giá trị truyền thống từ ngàn đời

Cùng với niềm đam mê sáng tác Lan Khai còn say mê hoạt động lí luận phê bình, nghiên cứu, sưu tầm và dịch thuật Tiêu biểu về dịch thuật có tác

phẩm: Bức thư của người không quen (1940) của Stéfan Zweig, Tuổi thơ (1944) hồi ức của Lev Tolstoi và một số bài nghị luận khác; Cái đẹp với nghệ

thuật (1940) là tác phẩm phỏng thuật của Félicinen Challayye, có nhiều sáng

tạo riêng Ông là người đề cao văn học bình dân và dày công sưu tầm và nghiên cứu văn học dân gian các dân tộc thiểu số từ Việt Bắc tới Tây Nguyên

Có các tác phẩm tiêu biểu như: Gió núi trăng ngàn (1934), Những câu hát

xanh (1937) với bút danh Lâm Tuyền Khách

Trang 30

Tóm lại, gần 18 năm văn nghiệp, Lan Khai đã để lại một di sản lớn các tác phẩm văn chương, đa dạng về thể loại, mang giá trị về nội dung và nghệ thuật sâu sắc, được đông đảo các nhà văn, nhà phê bình lí luận và bạn đọc đương thời ghi nhận và đánh giá cao

1.2.2 Quan niệm về nghệ thuật và nhân sinh của Lan Khai

Lan Khai, nhà văn luôn đổi mới và sáng tạo, có trách nhiệm của người cầm bút, có tư tưởng nghệ thuật chân chính, có ý thức tự tôn dân tộc Đương thời, lịch sử dân tộc có nhiều biến đổi, chế độ phong kiến thực dân đang tồn tại, nền văn học nghệ thuật dân tộc bị lấn bởi văn hóa phương Tây, giữ gìn, đổi mới, tiếp thu nền văn hóa phương Tây và phát huy những giá trị truyền thống là vấn đề không dễ đối với mỗi nhà văn Từ sớm Lan Khai là người có năng khiếu về văn chương, ham học hỏi, say mê sự học và nghiên cứu, ông thành thạo Pháp văn, Hán văn và Quốc ngữ, đặc biệt là tìm hiểu và nghiên cứu sách báo phương Tây Là tiền đề tốt về mặt lí luận và thực tiễn, từ đó giúp ông có những quan điểm nghệ thuật mới thể hiện qua những tác phẩm nghệ thuật, những bài phê bình chính luận

Ý thức về nhà văn và văn học, đây là hai phạm trù không thể tách rời, nằm trong mối tương quan với nhau.Theo Lan Khai nhà văn là sự kết tinh tài năng kinh nghiệm và tri thức có khả năng biểu đạt tâm hồn, tư tưởng của nhân dân và thuộc về một dân tộc nhất định Trong bài “Thiên chức của văn sĩ Việt Nam” (1939) ông viết: “Văn sĩ là cái hạng, do tài năng từng trải và do học thức, đã được nhận là những tay thông ngôn cho sự cảm nghĩ của người, lẩn sau cái tính riêng của từng dân tộc Vậy thì văn sĩ Việt Nam chính là kẻ thông ngôn cho sự cảm và nghĩ của người trong cái khuôn khổ Việt Nam… Chúng

ta chỉ là những cái mắt của dây xích chủng tộc” [58, T1, tr 385, 387, 525] Có thể nói rằng nhà văn chính là sự kết tinh sự hiểu biết, vốn sống, kinh nghiệm, những giá trị tinh hoa của dân tộc được biểu hiện Cùng quan điểm, trong

Trang 31

công trình Lan Khai - tác phẩm nghiên cứu, lý luận và phê bình văn học của PGS.TS Trần Mạnh Tiến cho rằng “nhà văn là ánh sáng trí tuệ mở mang tâm

hồn con người, làm cho mỗi cá nhân hoà hợp với nhân loại, làm cho nhân loại xích lại gần nhau Sự mở đường cho tiếp nhận văn chương bắt đầu từ tâm hồn nghệ sĩ” [62, tr.39] Đối với nghiệp văn, Lan Khai cũng chú trọng và

tâm niệm tới nguồn cảm hứng văn chương, ông từng khuyên bạn trẻ khi theo

đuổi nghề văn đăng trên Tạp chí Tao Đàn số 6/1939 tác giả tâm sự: “Tôi sinh

trưởng ở đường rừng nên thường một mình đứng trước thiên nhiên muôn màu nghìn dáng Những lúc đó lòng tôi băn khoăn, thắc mắc như muốn nói điều gì” và chính điều muốn nói đó, những trăn trở, những câu hỏi trước thiên

nhiên ngàn trùng đã khơi dậy nguồn cảm hứng dâng trào để nhà văn sáng tạo

ra tập Truyện đường rừng hấp dẫn và đầy thơ mộng

Kế thừa văn hóa truyền thống dân tộc, tiếp thu có chọn lọc nền văn hóa nhân loại, đặc biệt là văn hóa phương Tây, làm ngày càng phong phú bản sắc văn hóa của dân tộc, tự hào, giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa của dân

tộc là điều ông luôn mong mỏi, ông dãi bày “Cái dân tộc thực thà, vui vẻ

không cố oán, không lếu láo, không trục lợi, không mờ quáng trong khi tin, có can đảm, trung thành, tận tâm, khinh sợ chết, có một sức sống phi thường và tin ở sự lâu bền ở nòi giống mình, cái dân tộc… đã có những đứa con như Trưng Trắc, Triệu Ẩu, Lê Lợi, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Huệ, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, cái dân tộc ấy đáng được người ta hiểu lắm chứ, hiểu mà yêu mến nếu không kính trọng”, [58, T1, tr 387, 388] Như vậy, lòng tự hào tự

tôn dân tộc được khẳng định qua từng cây bút của nhà văn, biết tìm tòi và khơi dậy nguồn cảm hứng từ những giá trị truyền thống ông cha để lại, nhà văn cũng đồng thời là những nhà giáo dục, luôn hướng về nhân dân, truyền và lưu giữ những giá trị văn hóa và tri thức của dân tộc mình cho lớp lớp mai sau, đó cũng là nhiệm vụ, là trách nhiệm của người cầm bút, Lan Khai viết

Trang 32

“Cái thiên chức của chúng ta là truyền giao dĩ vãng cho tương lai Bằng cách nào? Bằng cách nhận chân và phát huy các khả năng của nòi giống tiềm tàng trong mình ta để dùng làm hồ làm vữa tạo nên lớp người sau này có thể giúp ích cho nhân loại” [58, T1, tr, 387, 388] Ông muốn khẳng định rằng, tương lai muốn phát triển thì phải hiểu và trân trọng cội nguồn dân tộc mình, đó

cũng chính là lý do mà ông đam mê sáng tạo về Tiểu thuyết về đề tài lịch sử dân tộc và Truyện đường rừng

Lan Khai cũng phê phán chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, cố chấp, trì trệ và không chịu đổi mới Ông cho rằng nền văn học Việt Nam cần phải kế thừa nền văn minh nhân loại, đổi mới trên cơ sở kế thừa và chọn lọc những điều cốt yếu phù hợp với truyền thống và lợi ích dân tộc Như vậy, nhà văn phải là người tiên phong, đi trước, đổi mới trong tư duy, sáng tạo và tiếp nhận theo sự vận

động và đi lên của lịch sử nhân loại “Chúng ta còn phải nhận xét kĩ lưỡng cái

phần mà văn minh Tây phương đã để lại cho tâm hồn ta và cái căn bản Việt Nam phản động hay thừa nhận cái phần ấy như thế nào để có thể khẳng định thái độ của ta trước thế giới Đây là một vấn đề nó làm đầu mối cho cuộc sống của ta, làm sự mất còn cho dân tộc ta vậy” [58, T1, tr 485, 633]

Về lối hành văn, Lan Khai phản đối gay gắt “Viết văn chỉ cần đạt ý tình,

chẳng cần phải trau chuốt gì cả” [58, T1, tr 635] Tác giả mượn lời của

André Gide để khẳng định trách nhiệm của người cầm bút: “Nghệ thuật sinh

ra bởi sự bó buộc, nó sống nhờ phấn đấu và chết vì tự do” Đồng thời ông gắn trách nhiệm của người nghệ sĩ phải là người giữ gìn và phát huy được vốn

ngôn ngữ dân tộc Trong bài “Một quan niệm văn chương” trên Tao Đàn tạp chí số 7/1939 Lan Khai viết: “Tiếng Việt Nam từ trước vẫn bị chểnh mảng

Nó gần thành ra như một con ngựa rừng Cái bổn phận của văn sĩ Việt Nam

là phải thu phục con ngựa bất kham ấy làm cho nó trở nên thuần thục đi, rồi sau đó ta có muốn gì mới muốn được”

Trang 33

Ông phê phán lối hành văn chỉ chạy theo lợi nhuận và thị hiếu tầm

thường mà không mang lại giá trị nghệ thuật chân chính Ông viết: “Dân Việt

Nam đã có văn sĩ chưa? Trừ Nguyễn Du tiêu biểu cái phần sâu sắc, Hồ Xuân Hương tiêu biểu cái phần hóm hỉnh của giống nòi, dân Việt Nam cho đến nay hầu như chưa có văn sĩ” Như vậy, có thể nói tiêu chí đối với một nhà văn

theo Lan Khai là quá cao, văn chương có giá trị phải có tính nghệ thuật, chọn lọc và trau chuốt về mặt ngôn từ

Trong sáng tạo nghệ thuật, ông luôn đề cao cái riêng, cái mới mẻ, độc

đáo và sáng tạo của nghệ sĩ Ông cho rằng: “Văn tức là người, cái đặc sắc

của một nhà văn chính là cái cách riêng để diễn tả tư tưởng, tình cảm của mình vậy … Ta chỉ còn hy vọng ở cái cách phô diễn đặc biệt của ta, tức là văn” [58, T2, tr 633] Đó là quan điểm thể hiện được cái riêng, tạo nên phong

cách của mỗi người nghệ sĩ, làm phong phú, đa dạng về phong cách nhà văn Văn chương phải thể hiện tính hiện thực, hiện thực chính là những vấn

đề viết ra từ cuộc sống muôn màu muôn vẻ của con người, cái hiện thực không khoa trương, không xa rời thực tiễn Trong bài “Bàn về nghệ thuật”

(1939) tác giả viết “Diễn tả cho đúng hệt con người, nghệ thuật văn chương

đã đạt được mục đích và do đấy, có thể trở nên thứ nghệ thuật văn chương muôn đời vậy” [58, T2, tr 764] Từ quan điểm đó, Lan Khai đã thể hiện rõ

quan điểm của mình khi phê bình một số tác phẩm đương thời, ông đối chiếu hai nhà văn cùng thời là Vũ Trọng Phụng và Lê Văn Trương, ông đánh giá cao Vũ Trong Phụng là nhà văn sinh ra để viết văn và để cống hiến “Vũ Trong Phụng đã cho ta tất cả”, còn Lê Văn Trương thì làm văn bằng lí trí và sức mạnh, ông dùng các từ ngữ như “thói lắm điều”, “thầu khoán”, “trịch thượng”, vì mưu sinh chứ chưa phải vì nghệ thuật Ông cho rằng “Lê Văn Trương hay lải nhải lặp đi, lặp lại những cái ông đã nói lải nhải nhiều lần…”,

“nên các nhân vật của ông thiếu hẳn cái chất người”, “Các tiểu thuyết của Lê

Trang 34

Văn Trương chỉ có một giọng”, [25, tr 24, 27,28] Điều đó thể hiện được quan điểm thẳng thắn, ý thức trách nhiệm của người cầm bút, viết văn không nên theo một đơn đặt hàng nào đó mà quên đi trách nhiệm của người nghệ sĩ

Từ những quan điểm trên, cho ta thấy Lan Khai là nhà văn có tâm huyết với nghề, có cái nhìn mới mẻ, toàn diện và sâu sắc về nhà văn và những sáng tác nghệ thuật

Tóm lại: Cuộc đời của nhà văn Lan Khai có nhiều biến cố theo dòng chảy của lịch sử dân tộc Lan Khai là nhà văn được học hành chu đáo, ông là người ham học hỏi, hiểu biết sâu rộng vốn văn hóa dân tộc thiểu số vùng miền núi Việt Bắc và sớm tiếp cận nền văn hóa, văn học tiến bộ trên thế giới thông qua việc học và tự nghiên cứu sách báo Đông, Tây

Mười tám năm văn nghiệp, ông đã đóng góp cho nền văn học nước nhà một số lượng lớn các tác phẩm có giá trị nghệ thuật, trên nhiều thể loại khác nhau Đóng góp lớn nhất là phương diện tiểu thuyết và truyện ngắn (truyện

ngắn đặc biệt là Truyện đường rừng)

Lan Khai là một trong những nhà văn tiên phong trên con đường đổi mới văn chương, nhiều tác phẩm lãng mạn, nhưng cũng có nhiều tác phẩm viết về hiện thực đương thời, góp phần tạo nên một diện mạo văn học với nhiều xu hướng cách tân cho giai đoạn văn học này

Ông còn là một nhà văn có những quan niệm nghệ thuật văn chương mới

mẻ, thể hiện được những quan niệm chân chính của người cầm bút, đáp ứng được những giá trị thẩm mĩ và nghệ thuật văn chương

Trang 35

Chương 2 CON NGƯỜI VÀ CUỘC SỐNG TRONG

TRUYỆN NGẮN CỦA LAN KHAI

2.1 Khái niệm nhân vật và đặc điểm nhân vật trong truyện ngắn của Lan Khai

2.1.1 Khái niệm về nhân vật

Thuật ngữ “nhân vật” xuất hiện từ rất sớm Trong tiếng Hy Lạp cổ,

“nhân vật” (persona) lúc đầu mang ý nghĩa chỉ cái mặt nạ của diễn viên trên

sân khấu Theo thời gian, thuật ngữ này được sử dụng với tần số nhiều nhất, thường xuyên nhất để chỉ đối tượng mà văn học miêu tả và thể hiện

Nhân vật văn học đôi khi còn được gọi là “vai” (actor) và “tính cách”

(charater) Tuy nhiên các thuật ngữ này, có nội hàm hẹp hơn so với từ chỉ

thể thấy các thuật ngữ “vai”, “tính cách” không bao quát được hết những

biểu hiện khác nhau của các loại nhân vật trong sáng tác văn học

“Nhân vật” là thuật ngữ có nội hàm rộng hơn, đủ khả năng khái quát

những hiện tượng phổ biến của tác phẩm văn học ở mọi bình diện và mọi cấp

độ Thuật ngữ “nhân vật” được cho là toàn diện nhất được định nghĩa như sau:

2.1.2 Khái niệm nhân vật văn học

Theo từ điển văn học: “Nhân vật là yếu tố cơ bản nhất trong tác phẩm

văn học, tiêu điểm để bộc lộ chủ đề, tư tưởng chủ đề và đến lượt mình nó lại được các yếu tố có tính chất hình thức của tác phẩm tập trung khắc họa

Trang 36

Nhân vật, do đó là nơi tập trung giá trị tư tưởng - nghệ thuật của tác phẩm văn học” [40, t2, tr.86] Theo quan điểm này, các nhà khoa học đã nhìn nhận

nhân vật từ khía cạnh vai trò, chức năng của nó đối với tác phẩm và từ mối quan hệ của nó với các yếu tố hình thức tác phẩm Đây là một định nghĩa về

“nhân vật” tương đối toàn diện

Thuật ngữ văn học do Lại Nguyên Ân và nhóm tác giả (biên soạn),

(1999), lý giải rằng: “Nhân vật văn học là một đơn vị nghệ thuật, nó mang

tính ước lệ, không thể bị đồng nhất với con người có thật, ngay khi tác giả xây dựng nhân vật với những nét rất gần với nguyên mẫu có thật Nhân vật văn học là sự thể hiện quan niệm nghệ thuật của nhà văn về con người; nó có thể được xây dựng chỉ dựa trên cơ sở quan niệm ấy Ý nghĩa của nhân vật văn học chỉ có được trong hệ thống một tác phẩm cụ thể Vai trò và đặc trưng của nhân vật văn học bộc lộ rõ nhất trong phạm vi vấn đề “nhân vật và tác giả”

Theo M.Bakhtin, tương quan “nhân vật - tác giả” tùy thuộc hai nhân tố: 1,

lập trường (công nhiên hoặc che dấu) của tác giả trong quan hệ với nhân vật (lập trường đó có thể là: anh hùng hóa, mỉa mai, chế nhạo, đồng cảm, v.v…);

và 2, bản chất thể loại của tác phẩm (ví dụ trong văn trào phúng sẽ có kiểu quan hệ của tác giả đối với nhân vật khác với trong văn xuôi tâm lý)

Như vậy, từ trước tới nay có nhiều quan niệm khác nhau về “nhân vật”, tuy nhiên khái niệm “nhân vật” vẫn tương đối ổn định, các quan điểm đều có

sự thống nhất ở đặc điểm: nhân vật văn học là thành tố quan trọng trong tác phẩm, là phương tiện để nhà văn phản ánh đời sống và được nhà văn xây dựng bằng những yếu tố nghệ thuật độc đáo Khi nghiên cứu tác phẩm văn chương cần phải tiếp cận từ yếu tố nhân vật để chỉ ra những điểm mới, khác biệt của từng nhà văn, một trong những nhân tố tạo nên cái riêng, độc đáo và phong cách của mỗi nhà văn

Trang 37

2.1.3 Đặc điểm thế giới nhân vật trong truyện ngắn của Lan Khai

Lan Khai, nhà văn “đường rừng”, ông sống và lớn lên nơi rừng rú, nơi có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số với đa dạng nền văn hóa dân tộc khác nhau Sống nơi cảnh núi non trùng điệp và thơ mộng, điều đó là nguồn cảm hứng bất tận để ông thỏa thích sự say mê với nghệ thuật Giữa con người và cảnh vật như vậy, trong các sáng tác của ông đã phản ánh sự đa dạng và phong phú

về các loại hình nhân vật, nhân vật trong truyện ngắn của ông chính là những đồng bào miền núi với đa dạng các thành phần, già trẻ, gái trai, cũng có khi nhân vật là những con vật mang dáng dấp thần thoại, có yếu tố kì ảo như: nhân vật nửa người nửa vật, nhân vật là con vật, hay nhân vật là ma quái …

hệ thống nhân vật trong các tác phẩm của nhà văn Lan Khai vừa thực lại vừa

ảo, tạo nên một thế giới nhân vật đa dạng, mang những đặc điểm riêng

Nhân vật mang tính hiện thực: Văn học hiện thực giai đoạn 1930 - 1945,

có nhiều nhà văn xuất sắc như Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố … và tất nhiên Lan Khai là một trong những nhà văn trong số đó Ông đóng góp cho mảng đề tài này nhiều tác phẩn tiểu thuyết và truyện ngắn mang giá trị

hiện thực sâu sắc, có thể kể như: Mực mài nước mắt, Lầm Than, Nơi ước hẹn,

Kiếp con tằm, Thằng Gầy … chúng ta còn thấy sự đan xen trong nhiều tác

phẩm giữa hiện thực và lãng mạn Nhiều nhà nghiên cứu lí luận phê bình đã từng khẳng định về tài năng của Lan Khai khi viết về hiện thực xã hội chủ nghĩa, có thể kể như: Vũ Ngọc Phan, Trần Huy Liệu, Trương Tửu, Phạm Thế

Ngũ, Hoài Anh, Hải Triều … và nhận định của Hải Triều thật xác đáng: “Tả

thực xã hội chủ nghĩa là một triều lưu văn nghệ của xã hội sau này Hiện tại Lan Khai đã phất lá cờ tiên phong trên mảnh đất này Tôi mong rằng các bạn làng văn sẽ tiếp chân tiến tới” [65, tr.253] Trong các tác phẩm truyện ngắn

của Lan Khai, ông đã xây dựng được hệ thống các nhân vật đa dạng, có những đặc điểm tính cách riêng, phản ánh được những lát cắt cuộc đời của

Trang 38

từng số phận riêng lẻ Những nhân vật trong truyện ngắn của Lan Khai thường đại diện cho một nhóm người trong xã hội, họ có những nét chung và nét riêng trong số phận Cái chung là những ước mơ, khát vọng về một tương lai tốt đẹp, cuộc sống tự do, hạnh phúc của những con người cần lao Cái riêng là những diễn biến cuộc đời riêng lẻ, ngã rẽ của những số phận như một thứ định mệnh, bộc lộ qua những tính cách độc đáo, số phận riêng biệt

Nhân vật kì ảo: Có thể nói yếu tố kì ảo là một trong những yếu tố lớn

nhất tạo nên đặc điểm riêng và sức hấp dẫn cho “Truyện đường rừng” Người

đọc có thể chìm đắm mơ hồ về sự huyền bí nơi rừng thẳm, sẽ tò mò từng chữ khi nhà văn gợi tả con người với phong tục kì lạ và đầy bí ẩn Hầu hết truyện ngắn của ông có đan xen yếu tố kì ảo lẫn hiện thực, người đọc có thể nhận thấy các yếu tố kì ảo trong truyện của ông xuất hiện đâu đó trong truyện cổ tích hay thần thoại Yếu tố kì ảo, là cách thức nhà văn mượn những chi tiết huyền thoại từ xưa, đó là những yếu tố kì dị, khác lạ, phi thường, biến hóa, … đan xen những yếu tố thật của đời thường để phản ánh một chân lý, một hiện thực như: thuyết nhân quả (gieo nhân nào gặp quả ấy), ác giả ác báo, đấu tranh giữa thiện và ác …

Nhân vật kì ảo, Truyện đường rừng nhân vật có thể là những con vật kì

lạ không có thật, mang dáng dấp của huyền thoại hay cổ tích như: Con bò dưới thủy tề, Con thuồng luồng nhà họ ma, Đôi vịt con, cũng có thể nhân vật

kì ảo chính là nhân vật nửa người nửa vật, hoặc là người có sức mạnh phi thường như: Người mẹ (Người hóa hổ), Chàng trai trẻ (Mũi tên dẹp loạn), Người hóa beo …loại hình nhân vật này là sản phẩm cuả trí tưởng tượng và

sự sáng tạo của nhà văn, là quá trình tiếp nhận và chiêm nghiệm những thành tựu văn hóa dân gian của đồng bào miền núi, những nhân vật đó là đại diện cho những thứ còn mơ hồ, bí hiểm và khó có thể giải thích về những điều kì

lạ, thâm cung bí hiểm nơi rừng núi

Trang 39

Khi đọc truyện đường rừng người đọc còn bắt gặp loại hình nhân vật đan xen thực và ảo, chúng ta sẽ bị lôi cuốn, tò mò và thắc mắc chính bởi yếu tố

“thực ảo” Giữa cái hiện thực của đời sống, dưới cách cảm và sáng tạo của Lan Khai khi ông đan cài những yếu tố thực và ảo tạo nên sức hấp dẫn riêng

của Truyện đường rừng

2.2 Các loại nhân vật trong truyện ngắn

2.2.1 Nhân vật hiện thực

Lan Khai, nhà văn tiên phong về “Trào lưu tả thực xã hội chủ nghĩa”,

đó là nhận định qua những bài phê bình, nghiên cứu của Trần Huy Liệu, Hải

Triều và nhiều nhà văn cùng thời Trong bài Lầm than - Một tác phẩm đầu

tiên của nền văn tả thực xã hội ở nước ta, Hải Triều nhận định: “Tả thực xã hội chủ nghĩa là một triều lưu văn nghệ của xã hội sau này Hiện tại Lan Khai

đã phất lá cờ tiên phong trên mảnh đất này Tôi mong rằng các bạn làng văn

sẽ tiếp chân tiến tới” [65, tr.253] Nhận định đó hoàn toàn xác đáng, trên thực

tiễn các sáng tác của Lan Khai tính hiện thực không chỉ thể hiện ở phương diện thực tiễn đời sống, những điều mắt thấy tai nghe, cái mà đang diễn ra hàng ngày, mà thực tiễn còn thể hiện ở sự đa dạng, chân thực thông qua các nhân vật cùng với sự đa dạng tính cách khác nhau được bộc lộ và phản ánh qua các tác phẩm

Văn học phản ánh đời sống thông qua các hình tượng Như vậy, nhân vật được xem là trung tâm thể hiện tính nghệ thuật, giá trị tư tưởng nhà văn gửi gắm trong tác phẩm của mình Cũng thông qua hệ thống các nhân vật ta cảm nhận được tài năng, quan niệm sống, tâm tư, nguyện vọng về sự đổi mới, khát vọng hướng tới cái hoàn mỹ, nhân văn cao cả Hệ thống các nhân vật trong truyện ngắn của Lan Khai là những minh chứng điển hình, trong các sáng tác của ông hệ thống các nhân vật rất đa dạng và phong phú, đó là những người nông dân thật thà, hiền lành, lam lũ, những người phu mỏ chất phác, là hình

Trang 40

ảnh những người phụ nữ cần cù, chịu khó, những đôi nam nữ với khát vọng về hạnh phúc, khát vọng thoát khỏi lễ giáo phong kiến hay những hủ tục lạc hậu, những đứa trẻ đói rách không nơi nương tựa, là những con người đại diện cho

kẻ giàu người nghèo, đại diện cho giai cấp thống trị, bị trị … thông qua những nhân vật là những thông điệp nhà văn muốn truyền tải tới người đọc, là mong muốn sự đổi thay về cuộc sống, khát vọng hướng tới những giá trị cao cả về tự

do, hạnh phúc và những quyền cơ bản và thiêng liêng của con người

Truyện Tiền mất lực, là câu chuyện tình yêu của đôi nam nữ giữa cô gái

tên Lô Hli và chàng trai nghèo khó Tsi Tôđay Họ đem lòng yêu nhau khi Tsi Tôđay giải cứu Lô Hli thoát khỏi cái chết của một con báo tấn công, kể từ đó đôi bạn trẻ cảm mến mà đem lòng thương yêu Tình yêu trong sáng và thuỷ chung đó chẳng được bao lâu thì gặp chắc trở, bố của Lô Hli mất, Tsi Nèng là chàng trai trong làng, con của một gia đình khá giả đã đứng ra làm ma cho bố

của Lô Hli, “Theo tục lệ dân con, khi cha mẹ người con gái mất, nếu trai

hành động, ai có tiền đứng ra lo việc ma chay thì người con gái kia tức là vợ mình” [61, tr.79] Vì tục lệ dân làng mà Lô Hli đành phải cam chịu về làm vợ

với Tsi Nèng, Lô Hli buồn rầu mà khóc “Lô Hli khóc thực, khóc cái tình của

Tsi Tôđay, khóc vì thấy đồng tiền đã đắc thắng một cách hỗn hào” [61, tr.76]

Về làm dâu chỉ được nửa tháng, tình yêu mãnh liệt và lòng thuỷ chung của Lô Hli với Tsi Tôđay lại trỗi dậy, cô quyết định bỏ trốn cùng Tsi Tôđay sống trong rừng sâu Điều này đã làm Tsi Nèng uất hận và căm thù, anh ta đã báo quan, để được quan bao che và giúp đỡ Tsi Nèng đã dùng tiền lo lót quan

“Dạ, trăm sự nhờ thày … Vừa nói, y vừa móc túi lấy mấy đồng bạc khúm núm đưa lên”, “Cái gì đấy? … Ai thèm ăn lễ của anh?”, “Thày lục sự trông trước trông sau, thủ tiền bỏ túi rồi dõng dạc nói: Ừ, thôi được Hãy cho ra ngoài” [61, tr.80] Quan trên đã cho quân lính vào rừng truy bắt Lô Hli và Tsi Tôđay, biết rằng sẽ không thoát được tội khi Tsi Nèng đã dùng tiền lo lót

Ngày đăng: 27/06/2017, 15:59

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w