Muốn tìm cho mình một đường đi để đến với phương pháp dạy học môn Tin học, để từ đó tích lũy và trau dồi những năng lực phẩm chất của người giáo viên trong tương lai nên em chọn đề tài:
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
Trang 3TS Lưu Thị Bích Hương cùng với gia đình, bạn bè
Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất của mình tới cô
giáo Lưu Thị Bích Hương, người đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn và chỉ bảo
em trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo khoa CNTT trường ĐHSP Hà Nội 2 đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình học tập nghiên cứu Ngoài ra, em muốn gửi lời cảm ơn đến Ban Giám hiệu và các thầy cô giáo trong tổ Toán - Tin của trường THPT Lý Thường Kiệt, đặc biệt là cô
hướng dẫn thực tập Nguyễn Thị Phượng đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ và đóng
góp ý kiến để em thực hiện đề tài này
Cuối cùng, em xin cảm ơn tập thể lớp Sư phạm Tin, khóa 39, các bạn đã đóng góp ý kiến, chia sẻ kinh nghiệm bản thân giúp khóa luận của em ngày một hoàn thiện
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2017
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Anh Thư
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan:
1 Em xin cam đoan đây là bài nghiên cứu của riêng em và được sự hướng dẫn trực tiếp của TS Lưu Thị Bích Hương Các nội dung nghiên cứu, kết quả đều là trung thực và chưa công bố dưới bất kì hình thức nào trước đây Những số liệu kết quả được chính em thu thập trong thời gian thực tập tại trường THPT Lý Thường Kiệt
2 Mọi tham khảo dùng trong khóa luận đều được trích dẫn rõ ràng tên tác giả, tên công trình, thời gian, địa điểm công bố
3 Mọi sao chép không hợp lệ, vi phạm quy chế đào tạo, hay gian trá, em xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Hà nội, tháng 5 năm 2017
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Anh Thư
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4
1.1 Tổng quan về dạy học khái niệm 4
1.1.1 Định nghĩa về khái niệm dạy học khái niệm 4
1.1.2 Yêu cầu dạy học khái niệm 5
1.2 Các con đường tiếp cận khái niệm 6
1.3 Các hoạt động dạy học khái niệm 9
1.3.1 Định nghĩa khái niệm 9
1.3.1.1 Các cách định nghĩa 10
1.3.1.2 Các yêu cầu của một định nghĩa 12
1.3.2 Củng cố khái niệm 13
1.3.2.1 Nhận dạng và thể hiện khái niệm 13
1.3.2.2 Hoạt động ngôn ngữ 14
1.3.2.3 Khái quát hóa, đặc biệt hóa 14
1.3.2.4 Hệ thống hóa 15
1.3.2.5 Vận dụng 15
1.3.3 Phân chia khái niệm 15
1.4 Trình tự truyền thụ một khái niệm mới 16
1.5 Thực trạng về dạy học khái niệm trong Tin học lớp 10 17
1.5.1 Điều tra thăm dò ý kiến giáo viên 17
1.5.2 Điều tra thăm dò ý kiến học sinh 18
1.5.3 Đánh giá chung 20
CHƯƠNG 2 HOẠT ĐỘNG NHẬN DẠNG VÀ THỂ HIỆN KHÁI NIỆM TIN HỌC 10 21
2.1 Khái niệm, đặc điểm của Tin học 10 21
2.1.1 Khái niệm 21
Trang 72.1.2 Đặc điểm 21
2.2 Hoạt động nhận dạng và thể hiện khái niệm trong Tin học 10 26
2.2.1 Hoạt động nhận dạng 26
2.2.2 Hoạt động thể hiện 32
2.3 Phân tích một số nội dung dạy học Tin 10 theo hoạt động nhận dạng và thể hiện khái niệm 36
2.3.1 Khái niệm tệp 36
2.3.2 Khái niệm thư mục 39
2.3.3 Khái niệm định dạng văn bản 40
2.3.4 Khái niệm giao thức 43
2.3.5 Khái niệm về mạng thông tin toàn cầu 44
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 45
3.1 Mục đích thực nghiệm 45
3.2 Đối tượng thực nghiệm 45
3.3 Nội dung thực nghiệm 46
3.4 Tiến hành thực nghiệm 46
3.4.1 Tiến hành giảng dạy trên lớp: 46
3.4.2 Tổ chức thực nghiệm 55
3.4.3 Kết quả thực nghiệm 56
KẾT LUẬN VÀ HƯỚNG PHÁT TRIỂN 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO 58
PHỤ LỤC 59
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Kết quả điều tra thăm dò ý kiến giáo viên 17
Bảng 1.2 Kết quả điều tra thăm dò ý kiến học sinh 19
Bảng 3.1 Các nhóm TN và ĐC 46
Bảng 3.2 Kết quả bài kiểm tra 56
Bảng 3.3 Bảng tổng hợp kết quả học tập của 2 lớp qua bài kiểm tra 56
Trang 10Để thực hiện được việc đó thì sự nghiệp giáo dục cần được đổi mới Cùng với những thay đổi về nội dung, cần có những thay đổi cơ bản về phương pháp dạy học, trong đó phương pháp dạy học môn Tin là một yếu tố quan trọng Bởi vì Tin học có liên quan chặt chẽ với thực tế và ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau của khoa học công nghệ và đời sống xã hội, trở thành công cụ thiết yếu cho mọi ngành khoa học
Xã hội Việt Nam ngày càng phát triển thì người ta cũng càng quan tâm đòi hỏi nhiều ở giáo dục Thời đại công nghệ thông tin ngày càng phát triển, máy tính được sử dụng phổ biến ở các lĩnh vực của đời sống Vì vậy giảng dạy Tin học ở các trường đại học, trung học và phổ thông cũng được đẩy mạnh để phát triển theo nhu cầu của xã hội Trong dạy học Tin học, nhiệm vụ chính của giáo viên là rèn luyện phát triển kĩ năng cho học sinh Việc dạy học khái niệm là một nhiệm vụ hết sức quan trọng trong môn Tin học
Hiện nay các em học sinh còn gặp rất nhiều khó khăn trong môn Tin học, các em còn bỡ ngỡ khá nhiều trong khi học môn này Các khái niệm Tin học hầu như còn khá mới mẻ với học sinh lớp 10 Việc hiểu và vận dụng đối với các em còn nhiều hạn chế và khó khăn Mặt khác trong Tin học các em đa
Trang 11số thực hành là chính và ít quan tâm đến việc học khái niệm Tin học Do vậy cần phải có những phương pháp giảng dạy phù hợp giúp học sinh có thể học
và vận dụng nó được tốt hơn
Chính vì lí do đó việc dạy học khái niệm cho học sinh khi giảng dạy là một điều đáng quan tâm Muốn tìm cho mình một đường đi để đến với phương pháp dạy học môn Tin học, để từ đó tích lũy và trau dồi những năng
lực phẩm chất của người giáo viên trong tương lai nên em chọn đề tài: “Hoạt
động nhận dạng và thể hiện khái niệm trong Tin học lớp 10” làm đề tài
khóa luận của mình
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu về dạy học khái niệm cũng như các hoạt động dạy học khái niệm
- Đưa ra những hoạt động nhận dạng và thể hiện khái niệm trong Tin học lớp 10
- Ứng dụng vào thực tiễn giảng dạy góp phần nâng cao chất lượng dạy
học khái niệm để bồi dưỡng học sinh trong Tin học lớp 10 ở trường trung học
phổ thông Lý Thường Kiệt
- Thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá tính hiệu quả khả thi của khóa luận để đúc kết kinh nghiệm giảng dạy
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động nhận dạng và thể hiện khái niệm
- Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động nhận dạng và thể hiện các khái niệm trong sách Tin học 10
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Nếu như hoạt động nhận dạng và thể hiện khái niệm trong Tin học lớp
10 được nghiên cứu thì sẽ cung cấp tài liệu tham khảo cũng như kinh nghiệm
bổ ích cho sinh viên ngành sư phạm Tin, giáo viên trường THPT nói chung và giáo viên trường THPT Lý Thường Kiệt nói riêng nhằm góp phần nâng cao
Trang 125 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Nghiên cứu các văn bản, nghị quyết của Đảng, của Chính phủ, của ngành giáo dục về đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông
- Nghiên cứu các tài liệu giáo dục học, tâm lý học, các tài liệu về phương pháp dạy học môn Toán, để từ đó áp dụng vào giảng dạy Tin học
- Nghiên cứu sư dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, phân loại,
hệ thống hóa các tài liệu lý thuyết có liên quan, các bài giảng về phương pháp dạy học Tin học
5.2 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
Tham khảo ý kiến của các nhà khoa học về dạy học khái niệm
5.3 Phương pháp điều tra xã hội học
Điều tra thực trạng dạy học khái niệm
5.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Tổ chức thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng các giải pháp đề xuất
6 Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và hướng phát triển, tài liệu tham khảo, khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2: Hoạt động nhận dạng và thể hiện khái niệm trong Tin học 10 Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 13CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Tổng quan về dạy học khái niệm
1.1.1 Định nghĩa về khái niệm dạy học khái niệm
Khái niệm là hình thức cơ bản của nhận thức lý tính, được hình thành do kết quả của hoạt động tư duy, đặc biệt là khái quát hóa và trừu tượng hóa Khái quát hóa nhằm vạch ra cái chung trong hàng loạt đối tượng (sự vật, sự việc) cụ thể mà ta quan sát được Trừu tượng hóa nhằm thoát li khỏi những dấu hiệu cụ thể làm phân biệt đối tượng này với đối tượng khác Ví dụ chúng
ta nhìn thấy rất nhiều người đọc báo, họ đọc các báo khác nhau, các bài báo khác nhau Nội dung bài báo mà một người nào đó đọc là thông tin về đối tượng mà họ quan tâm Bài báo đó là dữ liệu thể hiện thông tin mà nó truyền tải đến người đọc Các hãng khác nhau sản xuất ra các máy tính khác nhau, ngay trong một hãng cũng làm ra nhiều loại máy tính khác nhau, chúng khác nhau về hình dáng cân nặng, thể tích… nhưng chúng đều là công cụ giúp cho ngành công nghệ thông tin xử lý dữ liệu một cách tự động, nhanh chóng, hiệu quả và tiện lợi Đĩa cứng, đĩa mềm, đĩa CD, USB được sản xuất bằng những vật liệu khác nhau, tốc độ truy cập khác nhau, hình thù khác nhau… nhưng chúng đều là bộ nhớ ngoài của máy tính, dùng để lưu trữ dữ liệu [10]
Khái niệm là một đối tượng, một hình thức cơ bản của tư duy (bao gồm một ý tưởng, một ý nghĩa của một tên gọi chung trong phạm trù logic, hoặc một sự suy diễn) phản ánh những thuộc tính chung, đặc trưng bản chất của lớp đối tượng hoặc quan hệ giữa các đối tượng Như vậy có hai loại khái niệm: khái niệm về lớp đối tượng và khái niệm về quan hệ đối tượng Bản thân lớp đối tượng xác định khái niệm được gọi là ngoại diên, còn toàn bộ
thuộc tính chung của đối tượng được gọi là nội hàm của khái niệm
Giữa nội hàm và ngoại diên có mối quan hệ mang tính quy luật, nội hàm càng được mở rộng thì ngoại diên càng bị thu hẹp và ngược lại
Trang 14 Nếu ngoại diên của khái niệm A là 1 bộ phận của khái niệm B thì khái niệm A được gọi là khái niệm chủng của khái niệm B, còn khái niệm B được gọi là khái niệm loại của khái niệm A
Trong việc dạy học tin học cũng như bất cứ một môn khoa học nào ở trường THPT điều quan trọng nhất là hình thành một cách vững chắc cho HS một hệ thống khái niệm Việc hình thành một hệ thống khái niệm tin học là tiền đề hình thành khả năng vận dụng hiệu quả các kiến thức đã học, có tác dụng lớn đến việc phát triển trí tuệ, đồng thời góp phần giáo dục thế giới quan cho HS qua việc nhận thức đúng đắn quá trình phát sinh và phát triển của khái niệm tin học
1.1.2 Yêu cầu dạy học khái niệm
Việc dạy học các khái niệm ở trường THPT phải dần dần làm cho HS đạt được các yêu cầu sau:
Nắm vững các đặc điểm, đặc trưng của một khái niệm
Biết nhận dạng khái niệm, tức là biết phát hiện xem một đối tượng cho trước có thuộc phạm vi một khái niệm nào đó hay không, đồng thời biết thể hiện khái niệm, nghĩa là biết tạo ra một đối tượng thuộc phạm vi một khái niệm cho trước
Biết phát biểu rõ ràng, chính xác định nghĩa của một số khái niệm
Biết vận dụng khái niệm trong những tình huống cụ thể trong thuật toán và ứng dụng thực tiễn
Nắm được mối quan hệ của khái niệm này so với khái niệm khác trong một hệ thống các khái niệm
Các yêu cầu trên đây có quan hệ chặt chẽ với nhau, song vì lí do sư phạm, các yêu cầu trên không phải lúc nào cũng được đặt ra với mức độ như nhau với mọi khái niệm
Các nội dung cần lưu ý khi dạy khái niệm:
Trang 15- Liên kết khái niệm đã học
- Trực quan hoá khái niệm
- Trình bày khái niệm và đưa ra các dấu hiệu bản chất
- Phương pháp quy nạp, là đưa ra nhiều ví dụ và phản ví dụ khác nhau,
từ đó rút ra các dấu hiệu bản chất của khái niệm và khái quát thành “định nghĩa chính xác” về khái niệm
- Phương pháp diễn dịch, sẽ đưa ra “định nghĩa chính xác” về khái niệm trước, sau đó mới tìm các ví dụ và phản ví dụ để minh hoạ và làm sáng tỏ khái niệm
1.2 Các con đường tiếp cận khái niệm
Con đường tiếp cận khái niệm được hiểu là quá trình hoạt động và tư duy dẫn tới một sự hiểu biết về khái niệm đó nhờ định nghĩa tường minh, nhờ
mô tả, nhờ trực giác, ở mức độ nhận biết một đối tượng, một tình huống có thuộc về khái niệm đó hay không [7]
Trong dạy học, người ta phân biệt ba con đường tiếp cận khái niệm,
đó là:
Trang 16 Con đường quy nạp
Con đường suy diễn
Con đường kiến thiết
a) Tiếp cận khái niệm theo con đường quy nạp
- Nội dung: Xuất phát từ các trường hợp riêng lẻ, mô hình, hình vẽ, vật
thật,… GV dẫn dắt HS phân tích, so sánh, khái quát hoá đặc biệt hóa, … Tìm
ra dấu hiệu đặc trưng của khái niệm và thể hiện ra các trường hợp cụ thể đó,
từ đó đi đến định nghĩa tường minh hay hiểu biết trực giác của khái niệm
- Ưu - nhược điểm:
Ưu điểm: Rèn luyện được thao tác tư duy, phân tích, so sánh, tổng hợp Phát huy được tính tích cực chủ động của HS
Nhược điểm: Tốn nhiều thời gian
b) Tiếp cận khái niệm theo con đường suy diễn
- Nội dung: Có một số khái niệm được hình thành theo con đường suy
diễn, đi ngay vào định nghĩa khái niệm mới như một trường hợp riêng của một khái niệm nào đó mà HS đã được học
Trang 17- Quá trình: Gồm 3 bước
+ Bước 1: Xuất phát từ một khái niệm đã biết, thêm vào nội hàm của khái niệm đó một số đặc điểm mà ta quan tâm
+ Bước 2: Phát biểu một số định nghĩa bằng cách nêu tên khái niệm mới
và định nghĩa nó nhờ một khái niệm tổng quát hóa hơn cùng với những đặc điểm để hạn chế một bộ phận trong khái niệm tổng quát đó
+ Bước 3: Đưa ra một số ví dụ đơn giản để minh họa cho khái niệm vừa được định nghĩa
- Ưu - nhược điểm:
Ưu điểm: Tiết kiệm thời gian và thuận lợi cho việc tập dượt cho HS tự học những khái niệm Tin học thông qua sách và tài liệu, hoặc nghe những báo cáo trên lĩnh vực Tin học
Nhược điểm: Hạn chế về mặt khuyến khích HS phát triển những năng lực trí tuệ chung như phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa và khái quát hóa
- Điều kiện sử dụng:
Khi có thể gợi cho HS quan tâm tới một khái niệm làm điểm xuất phát
và đặc điểm có thể bổ sung vào nội hàm của khái niệm đó để định nghĩa một khái niệm khác hẹp hơn
c) Tiếp cận khái niệm theo con đường kiến thiết
- Nội dung: Con đường này mang cả những yếu tố quy nạp lẫn suy diễn
Yếu tố suy diễn thể hiện ở chỗ xuất phát từ những yêu cầu để xây dựng một hay nhiều đối tượng đại diện cho khái niệm cấu hình thành Yếu tố quy nạp thể hiện ở chỗ khái quát hóa quá trình xây dựng những đối tượng đại diện riêng lẻ đi đến đặc điểm tổng quát đặc trưng cho khái niệm cần định nghĩa
- Quá trình: Gồm 3 bước:
+ Bước 1: Xây dựng một hay nhiều đối tượng đại diện cho khái niệm cần được hình thành hướng vào những yêu cầu tổng quát nhất định xuất phát từ nội bộ Tin học hay từ thực tiễn
Trang 18+ Bước 2: Khái quát hóa quá trình xây dựng những đối tượng đại diện, đi tới đặc điểm đặc trưng cho khái niệm cần hình thành
+ Bước 3: Phát biểu định nghĩa
- Ưu - nhược điểm:
Ưu điểm: Thuận lợi cho việc khởi dậy hoạt động tự giác, tích cực của HS
và rèn luyện khả năng giải quyết vấn đề trong quá trình tiếp cận khái niệm Nhược điểm: Tốn nhiều thời gian
- Điều kiện sử dụng:
HS chưa định hình được những đối tượng thuộc ngoại diên khái niệm, do
đó con đường quy nạp không thích hợp
HS chưa phát hiện được một khái niệm loại nào thích hợp với khái niệm cần định nghĩa làm điểm xuất phát cho con đường suy diễn
1.3 Các hoạt động dạy học khái niệm
1.3.1 Định nghĩa khái niệm
Định nghĩa một khái niệm là một thao tác logic nhằm phân biệt lớp đối tượng xác định khái niệm này với các đối tượng khác thường bằng cách vạch
ra nội hàm của khái niệm đó [10]
Ví dụ 1.1: Thuật toán để giải một bài toán là một dãy hữu hạn các thao tác được sắp xếp theo một trình tự xác định sao cho sau khi thực hiện dãy các thao tác đó, từ dữ liệu đầu vào của bài toán, ta nhận được dữ liệu cần tìm Một trong các cách định nghĩa một khái niệm là thông qua khái niệm loại và chỉ ra sự khác biệt về chủng
Ví dụ 1.2: Chương trình con là chương trình thực hiện một công việc nào
đó trong các công việc mà máy tính phải thực hiện để hoàn thành giải quyết bài toán đặt ra ban đầu
Trong định nghĩa trên, khái niệm cần định nghĩa là chương trình con, khái niệm loại đã được biết chương trình giải bài toán, sự khác biệt về chủng
Trang 19là thực hiện một công việc nào đó trong các công việc mà máy tính phải thực hiện
Công nghệ thông tin là ngành khoa học ra đời sau các khoa học: toán học, thống kê, thông tin, vật lý, chế tạo máy, quản lý, ngôn ngữ, văn học, sinh học, y học,… vì vậy mà một số khái niệm loại dùng để định nghĩa khái niệm trong công nghệ thông tin được mặc nhiên dùng với nghĩa thông thường trong cuộc sống, trong khoa học kĩ thuật, trong giao tiếp hàng ngày [10]
Học sinh không xa lạ với những khái niệm như: máy, dụng cụ, thiết bị, ngôn ngữ, văn bản, đại lượng,… vì vậy mà trong định nghĩa một số khái niệm trong công nghệ thông tin ta sử dụng khái niệm loại là khái niệm như đã dùng thực tiễn [10]
a) Định nghĩa khái niệm theo hình thức loại - chủng
Nội dung: Định nghĩa theo phương pháp loại - chủng là một hình thức
định nghĩa nêu lên khái niệm loài và đặc tính của chủng
Khái niệm được định nghĩa = Khái niệm loại + Đặc tính chủng
Trang 20Ví dụ 1.4: “Định dạng văn bản là trình bày các phần văn bản nhằm mục đích cho văn bản được rõ ràng và đẹp, nhấn mạnh những phần quan trọng, giúp người đọc nắm bắt dễ hơn các nội dung chủ yếu của văn bản”
Trong định nghĩa này:
- Trình bày các phần văn bản là khái niệm loại;
- Rõ ràng và đẹp, nhấn mạnh những phần quan trọng, giúp người đọc nắm bắt dễ hơn các nội dung chủ yếu của văn bản là đặc tính của chủng
Ví dụ 1.5: “Tệp là một tập tin, một tập hợp các thông tin ghi trên bộ nhớ ngoài” Ở đây:
- Tập tin là khái niệm loại;
- Tập hợp các thông tin ghi trên bộ nhớ ngoài là đặc tính của chủng
b) Định nghĩa bằng quy ước
Nội dung: Định nghĩa bằng quy ước là hình thức định nghĩa gán cho đối
tượng cần định nghĩa tên gọi hay một đối tượng cụ thể nào đó
Ví dụ 1.6: 1KB = 1024 byte (Đối tượng cần định nghĩa là
1KB = 1024 byte) Chú ý: Khi dạy học định nghĩa bằng quy ước, giáo viên không phải giải thích tại sao lại quy ước được như vậy mà chỉ đặt vấn đề quy ước như vậy có hợp lý hay không
c) Định nghĩa bằng phương pháp tiên đề
Nội dung: Người ta chọn ra một đối tượng cơ bản, quan hệ cơ bản và
thừa nhận chúng gọi là các tiên đề Từ đó định nghĩa các khái niệm khác, chứng minh các tính chất khác bằng suy luận hợp logic
Khi định nghĩa khái niệm một đối tượng bằng phương pháp tiên đề, người ta chỉ ra hệ thống tiên đề làm cơ sở định nghĩa khái niệm cần định nghĩa, sau đó chỉ ra đối tượng cần định nghĩa thỏa mãn hệ thống tiên đề đó
Ví dụ 1.7: Mạng máy tính bao gồm 3 thành phần:
Trang 21- Các máy tính;
- Các thiết bị mạng đảm bảo kết nối các máy tính với nhau;
- Phần mềm cho phép thực hiện việc giáo tiếp giữa các máy tính
Ví dụ 1.8: Thuật toán có các tính chất sau:
- Tính dừng: Thuật toán phải kết thúc sau một số hữu hạn lần thực hiện các thao tác;
- Tính xác định: Sau khi thực hiện một thao tác thì hoặc là thuật toán kết thúc hoặc là có đúng một thao tác xác định để được thực hiện tiếp theo;
- Tính đúng đắn: Sau khi thuật toán kết thúc, ta phải nhận được Output cần tìm
d) Định nghĩa bằng phương pháp mô tả
Nội dung: Định nghĩa bằng phương pháp mô tả là hình thức định nghĩa
chỉ ra những đối tượng trong thực tiền có hình ảnh gần gũi với đối tượng, quan hệ cần định nghĩa hoặc chỉ ra quy trình tạo ra chúng
Ví dụ 1.9: Các khái niệm “Input, Output, thuật toán” là các khái niệm không định nghĩa, chúng được định nghĩa theo phương pháp mô tả
1.3.1.2 Các yêu cầu của một định nghĩa
Đối với một định nghĩa, ta không thể nói rằng nó đúng hay sai Một định nghĩa có thể hợp lý (chấp nhận được) hay không hợp lý (không chấp nhận được) phụ thuộc vào sự thỏa mãn hay không thỏa mãn những yêu cầu tối thiểu của định nghĩa
Yêu cầu quan trọng nhất là định nghĩa không được vòng quanh Việc vi phạm nguyên tắc này thể hiện ở chỗ cái được định nghĩa lại chứa đựng (tường minh hay không tường minh) trong cái dùng để định nghĩa
Yêu cầu thứ hai nhằm đảm bảo sự đúng đắn (chuẩn mực) của một định nghĩa, đó là định nghĩa phải có trị nhưng không được đa trị Định nghĩa phải
có trị tức là phải tồn tại ít nhất một đối tượng thỏa mãn các điều kiện trong
Trang 22định nghĩa Định nghĩa không được đa trị tức là mỗi thuật ngữ hay kí hiệu chỉ được dùng để chỉ một cái được định nghĩa
1.3.2 Củng cố khái niệm
Quá trình tiếp cận khái niệm chưa kết thúc khi phát biểu được định nghĩa khái niệm đó Một khâu rất quan trọng là củng cố khái niệm, khâu này thường được thực hiện bằng các hoạt động:
Nhận dạng và thể hiện khái niệm
Hoạt động ngôn ngữ
Khái quát hóa, đặc biệt hóa
Hệ thống hóa
Vận dụng
1.3.2.1 Nhận dạng và thể hiện khái niệm
Nhận dạng và thể hiện khái niệm là hai dạng hoạt động theo chiều hướng
trái ngược nhau, có tác dụng củng cố khái niệm, tạo tiền đề cho việc vận dụng
khái niệm
Khi tập dượt cho HS nhận dạng và thể hiện một khái niệm cần lưu ý:
Thứ nhất, cần sử dụng cả những đối tượng thuộc ngoại diên lẫn những
đối tượng không thuộc ngoại diên khái niệm đó
Thứ hai, đối với những đối tượng thuộc ngoại diên của khái niệm đang
xét thì cần đưa ra cả những trường hợp đặc biệt của khái niệm đó Việc đưa ra những trường hợp đặc biệt, trong đó một đối tượng mang những đặc tính nổi bật nhưng không phải là thuộc tính bản chất đối với khái niệm đang xét vừa giúp HS hiểu biết sâu sắc về đặc trưng của khái niệm lại vừa rèn luyện cho các em khả năng trừu tượng hóa thể hiện ở chỗ biết phân biệt và tách đặc điểm bản chất khỏi những đặc điểm không bản chất
Thứ ba, đối với những đối tượng không thuộc ngoại diên của khái niệm
đang xem xét, trong trường hợp đặc trưng của khái niệm có cấu trúc hội, các
Trang 23phản ví dụ thường được xây dựng sao cho chỉ trừ một thành phần trong cấu trúc hội, còn các thuộc tính thành phần khác đều được thỏa mãn
Thứ tư, trường hợp tính chất đặc trưng của khái niệm có cấu trúc hội của
hai điều kiện, cần làm rõ cấu trúc này và hướng dẫn HS vận dụng thuật giải
để nhận dạng khái niệm đó
1.3.2.2 Hoạt động ngôn ngữ
Cho HS thực hiện những hoạt động ngôn ngữ vừa có tác dụng củng cố khái niệm vừa góp phần phát triển ngôn ngữ cho HS Đây là nhiệm vụ mà tất
cả các bộ môn trong nhà trường đều có trách nhiệm thực hiện:
- Phát biểu lại định nghĩa bằng lời lẽ của mình và biết cách thay đổi phát biểu, diễn đạt định nghĩa dưới những dạng ngôn ngữ khác nhau;
- Phân tích, nêu bật những ý nghĩa quan trọng chứa đựng trong định nghĩa một cách tường minh hay ẩn tàng
Qua hoạt động ngôn ngữ trong dạy học khái niệm GV đã góp phần phát triển và rèn luyện năng lực trí tuệ cho HS, giúp các em linh hoạt trong việc nhìn nhận một khái niệm và đặt khái niệm đó trong mối liên hệ với các khái niệm có liên quan Từ đó sẽ tăng khả năng ứng dụng của khái niệm giúp các
em học tập tốt hơn
1.3.2.3 Khái quát hóa, đặc biệt hóa
Khái quát hóa khái niệm - một hoạt động quan trọng cần rèn luyện cho học sinh Ngược lại với hoạt động khái quát hóa là đặc biệt hóa
Để củng cố khái niệm, GV có thể thực hiện nhiều hoạt động khác nhau, trước hết là:
- Khái quát hóa, tức là mở rộng khái niệm
- Đặc biệt hóa
Theo G Polya: “Khái quát hóa là chuyển từ việc nghiên cứu một tập hợp đối tượng đã cho đến việc nghiên cứu là một tập hợp lớn hơn, bao gồm cả tập
Trang 24Trong “Phương pháp dạy học môn Toán” của Nguyễn Bá Kim có nêu rõ hơn như sau: “Khái quát hóa là chuyển từ một tập hợp đối tượng sang tập hợp lơn hơn sang tập hợp ban đầu bằng cách nêu bật một số đặc điểm chung của các phần tử trong tập hợp xuất phát”
Theo G Polya: “Đặc biệt hóa là chuyển từ việc nghiên cứu một tập hợp đối tượng đã cho sang việc nghiên cứu một tập hợp nhỏ hơn chứa trong tập hợp đã cho”
1.3.2.4 Hệ thống hóa
Hệ thống hóa khái niệm, tức là biết nhận ra những mối quan hệ giữa những khái niệm
Hệ thống hóa, chủ yếu là sắp xếp khái niệm mới vào hệ thống khái niệm
đã học, nhận biết mối quan hệ giữa các khái niệm khác nhau trong một hệ thống khái niệm
1.3.2.5 Vận dụng
Rộng hơn nữa, việc vận dụng khái niệm để giải quyết những vấn đề nảy sinh trong Tin học và đời sống không những có tác dụng củng cố khái niệm
mà còn mục đích sâu xa của việc học khái niệm
1.3.3 Phân chia khái niệm
Biết phân chia khái niệm là một trong những biểu hiện của việc nắm vững khái niệm Nhiều khi, học sinh phải nắm vững chẳng những định nghĩa
mà cả cách phân chia khái niệm mới có thể giải hay xem xét các vấn đề liên quan Biết phân chia khái niệm mới có thể hệ thống hóa các khái niệm sau mỗi phần, mỗi chương
Việc phân loại, hệ thống các khái niệm vượt xa ra khỏi phạm vi của việc nắm vững các kiến thức, nó cần thiết cho bất kì lĩnh vực hoạt động nào của con người Vì thế, những tri thức và kĩ năng về mặt này cần được chú ý thích đáng Bất cứ một sự phân chia nào cũng phải dựa trên một tiêu chuẩn (dấu
Trang 25Dạy học phân chia khái niệm không chỉ là giới thiệu cho học sinh những
hệ thống phân chia đã có sẵn, dù rằng hiểu và nhớ được hệ thống phân chia này sẽ góp phần hiểu và nắm vững hơn các khái niệm có liên quan Vấn đề cốt yếu là tổ chức cho học sinh tiến hành chính hoạt động phân chia này, không chỉ khi ôn tập một chương, ôn tập một phần, mà với mọi cơ hội có thể Chẳng hạn, khi dạy học một khái niệm mới nào đó, ta có thể định vị nó so với một số khái niệm đã học trước đó Nhiều công trình nghiên cứu đã chúng tỏ rằng việc nắm vững định nghĩa của một khái niệm không đủ cho phép nắm vững khái niệm dó Người ta chỉ có thể hiểu đúng bản chất của khái niệm khi nắm vững hoạt động của nó, bao hàm đồng thời cách đưa khái niệm vào một phạm vi nào đó, hình thức thể hiện và cách tổ chức của khái niệm trong phạm
vi này, đặc biệt là cách sử dụng khái niệm như công cụ giải quyết các bài toán
và cách tác động của khái niệm với các khái niệm khác không chỉ trong phạm
vi đang xem xét, mà cả trong phạm vi khác
Như vậy, việc dạy học một khái niệm bao hàm cả việc làm rõ mối quan
hệ của nó với các khái niệm khác Điều này cho phép làm sáng tỏ nội hàm và ngoại diên của khái niệm đang xem xét
1.4 Trình tự truyền thụ một khái niệm mới
Trình tự truyền thụ một khái niệm mới thường bao gồm các hoạt động sau:
1 Dẫn học sinh vào khái niệm: Giúp học sinh tiếp cận khái niệm, có thể thực hiện được bằng cách thông qua một ví dụ hoặc một hiện tượng có trong thực tiễn,
2 Hình thành khái niệm: Giúp học sinh có được khái niệm, có thể thực hiện được bằng cách khái quát hoá,
3 Củng cố khái niệm: Thông qua các hoạt động nhận dạng, thể hiện, ngôn ngữ Khắc sâu kiến thức thông qua ví dụ và phản ví dụ
4 Bước đầu vận dụng khái niệm trong bài tập đơn giản
Trang 261.5 Thực trạng về dạy học khái niệm trong Tin học lớp 10
Môn Tin học có một đặc thù khá rõ nét là chương trình được chia thành các module tương đối độc lập với nhau Ví dụ có các module: Hệ điều hành, Soạn thảo văn bản, Bảng tính điện tử, Lập trình Pascal, Cơ sở dữ liệu, Mỗi module như vậy sẽ có một đặc thù riêng trong cách giảng dạy lý thuyết và thực hành Giáo viên cần hiểu và phân biệt rõ các đặc thù này Tin học là một môn học với đặc tính công nghệ cao, các khái niệm đi liền với công nghệ và thay đổi rất nhanh Những khái niệm rất cơ bản như thông tin, khái niệm tệp, thư mục, khái niệm bộ nhớ, mạng máy tính đều đã thay đổi rất nhiều Khi giảng dạy khái niệm môn tin đa phần thông qua SGK Còn đối với HS việc học thuộc lòng các khái niệm, định nghĩa là một phương pháp học truyền thống GV sẽ truyền đạt kiến thức khái niệm từ SGK cho HS nhưng phương pháp đó chưa mang lại hiệu quả cáo khi dạy học khái niệm Để cho HS nắm và hiểu rõ hơn
GV cần mô tả khái niệm bằng các tình huống, hình ảnh, thao tác… Như vậy việc nắm bắt các khái niệm mới thực sự có hiệu quả
1.5.1 Điều tra thăm dò ý kiến giáo viên
Việc điều tra, thăm dò ý kiến GV được thực hiện với 15 GV và với 5 câu hỏi Qua việc điều tra, thăm dò ý kiến được kết quả như sau:
Bảng 1.1 Kết quả điều tra thăm dò ý kiến giáo viên
Câu 1: Khi dạy khái niệm thầy cô
thường dạy theo đâu?
2 Giáo trình trên mạng 0/15
3 Tài liệu tham khảo 0/15
Câu 2: Khi dạy khái niệm các thầy
cô có minh họa cho học sinh thông
qua hình ảnh hoặc kiến thức môn
khác không?
Trang 27Câu 3: Khi dạy học khái niệm thầy
cô dạy theo phương pháp nào?
2 Lấy ví dụ minh họa 3/15
3 Vận dụng từ các kiến thức liên quan
4/15
Câu 4: Sau khi dạy học khái niệm
thầy cô có củng cố lại khái niệm đó
không?
Câu 5: Phương pháp mà các thầy
cô đã sử dụng có mang lại hiệu quả
không?
2 Không có kết quả 0/15
Từ kết quả trên khóa luận đưa ra một vài nhận xét sau:
Môn Tin học khá là mới mẻ với những khái niệm vì vậy khi dạy khái niệm đa phần các thầy cô thường dạy trong sách giáo khoa để phần nào đó giúp các em dễ hình dung hơn với kiến thức Bởi vì Tin học khá là rộng rãi đối với cuộc sống trong rất nhiều ứng dụng công nghệ nên vì vậy khái niệm cũng khá rộng và bao trùm nhiều kiến thức nên GV càng phải biết sử dụng nhiều phương pháp khác nhau làm cho các khái niệm trở nên sinh động hơn
Để tiết dạy của mình thực sự có hiệu quả mỗi khi dạy học khái niệm các thầy
cô nên áp dụng các hình ảnh, ví dụ có liên quan để giúp học sinh dễ hình dung
và nắm vững khái niệm đó Và sau mỗi khái niệm, bài học các thầy cô nên củng cố lại khái niệm giúp học sinh nắm rõ hơn được khái niệm đó
1.5.2 Điều tra thăm dò ý kiến học sinh
Em tiến hành lấy ý kiến điều tra của 90 HS khối 10 về việc học tập liên quan đến sử dụng hoạt động nhận dạng và thể hiện khái niệm trong Tin học, với 5 câu hỏi Qua việc điều tra, thăm dò ý kiến được kết quả sau:
Trang 28Bảng 1.2 Kết quả điều tra thăm dò ý kiến học sinh
Câu 3: Các khái niệm được
tiếp nhận theo cách nào?
1 Đọc sách, học thuộc 35/90
2 Thông qua giáo viên 40/90
3 Học từ một ví dụ liên quan 15/90
Câu 4: Các em thấy thế nào
khi học khái niệm bằng việc
Môn Tin học hầu như là những kiến thức cố định, được coi là một môn học khô khan, vừa khó hiểu vừa là môn học phụ Vì thế các em đều cảm thấy khó hiểu khi học khái niệm Tin Để làm học sinh cảm thấy dễ hiểu có hứng thú với bài học giáo viên phải tìm và đổi mới các phương pháp dạy học, vận dụng vào giảng dạy Từ việc cho học sinh tìm hiểu và dạy những thứ từ thực tế dễ hiểu đến
Trang 29các kiến thức có liên quan để giúp cho học sinh nắm vững kiến thức và nhớ lâu
Và đặc biệt khi học môn Tin các em thường nghiên cứu trong bài dạy của GV giảng dạy mà chưa có sự tìm tòi hiểu biết ở bên ngoài Điều này cho thấy các em vẫn còn thụ động trong việc tìm kiếm tài liệu học tập cho mình
Như vậy, qua kết quả khảo sát ý kiến em nhận thấy khả năng học khái niệm trong môn Tin học hầu hết còn thụ động nên việc tìm tòi và tư duy rất chậm
1.5.3 Đánh giá chung
Qua việc khảo sát, thăm dò ý kiến của GV và HS em nhận thấy dạy học khái niệm là rất cần thiết đối với môn Tin học Tuy nhiên các hoạt động nhận dạng và thể hiện khái niệm còn không sử dụng thường xuyên
- Đối với GV chưa áp dụng nhiều hoạt động nhận dạng và thể hiện khi dạy khái niệm GV không có nhiều thời gian chuẩn bị bài vì đa số GV dạy không chuyên tin nên thời gian đầu tư ít Các GV dạy thường không chuyên sâu vào môn Tin nên việc đầu tư vào bài dạy là còn hạn chế
- Đối với HS các em vẫn còn thụ động chưa tích cực trong việc học môn Tin Các em vẫn coi đây là môn phụ nên việc học cũng như nghe giảng còn uể oải, không tập trung Việc học khái niệm đối với các em trở nên nhàm chán, không hứng thú Để việc dạy và học khái niệm đạt kết quả tốt hơn điều này không hề đơn giản mà đòi hỏi sự hợp tác của GV và HS để đem lại sự đổi mới trong Tin học
Trang 30CHƯƠNG 2 HOẠT ĐỘNG NHẬN DẠNG VÀ THỂ HIỆN
KHÁI NIỆM TIN HỌC 10 2.1 Khái niệm, đặc điểm của Tin học 10
2.1.1 Khái niệm
Tin học là một ngành khoa học có mục tiêu là phát triển và sử dụng máy tính điện tử để nghiên cứu cấu trúc, tính chất của thông tin, phương pháp thu nhập, lưu trữ, tìm kiếm, biến đổi, truyền thông tin và ứng dụng các lĩnh vực khác nhau của đời sống [2]
Trong tiếng Pháp, Tin học là “Informatique” Người châu Âu trong các hội thảo ấn phẩm khoa học sử dụng thuật ngữ đó dưới dạng Anh hóa là
“Informatics” Còn người Mĩ lại quen dung thuật ngữ “Computer Science” (khoa học máy tính) Trên thế giới có nhiều định nghĩa khác nhau về Tin học.Sự khác nhau chỉ ở phạm vi các lĩnh vực được coi là Tin học còn về nội dung là thống nhất [2]
2.1.2 Đặc điểm
Đặc điểm thứ nhất là tính trừu tượng cao và tính thực tiễn phổ dụng Tính trừu tượng của Tin học thể hiện ở chỗ nó nghiên cứu các phương pháp công nghệ và kĩ thuật xử lí thông tin một cách tự động Bản thân khái niệm thông tin đã là trừu tượng, quá trình xử lí thông tin bao gồm các khâu thu nhập, lưu trữ, biến đổi và truyền nhận thông tin Quá trình xử lý thông tin dựa trên những thành tựu của những ngành khoa học mang tính trừu tượng cao như Vật lí, Toán học, Lí thuyết thông tin, vì thế Tin học mang đặc điểm trừu tượng hoá cao… Để xử lý thông tin người ta thường tìm cách biểu diễn thông tin bằng các biện pháp xử lý kĩ thuật trên các tín hiệu tương ứng Trong thực
tế, thông tin được thể hiện bằng nhiều hệ thống tín hiệu rất đa dạng như số liệu, chữ viết, tiếng nói, âm thanh, hình ảnh, màu sắc,… Muốn đưa thông tin vào máy tính, con người phải tìm cách biểu diễn thông tin sao cho máy tính
Trang 31có thể nhận biết và xử lý được Muốn nhận biết một đối tượng nào đó, ta phải biết đủ lượng thông tin về nó Tương tự, để máy nhận biết một đối tượng nào
đó ta cũng phải cung cấp cho máy đủ lượng thông tin về đối tượng này Trong Tin học ta có thể biểu diễn thông tin trong máy tính thông qua dãy tín hiệu gồm 2 kí tự 0 và 1 Sự trừu tượng hóa trong Tin học diễn ra trên những bình diện khác nhau, có những khái niệm Tin học là kết quả của sự trừu tượng hóa những đối tượng vật chất… Nhưng cũng có khái niệm là kết quả của sự trừu tượng đã đạt được trước đó [1]
Tin học có tính thực tiễn phổ dụng, khả năng biễu diễn mọi dạng thông tin bất kì qua một hệ thống tín hiệu đơn giản và thống nhất bằng các kí tự nhị phân là cơ sở cho việc phát triển nhanh chóng khả năng, làm được nhiều chức năng với mọi dạng thông tin khác nhau [1]
Tin học có nguồn gốc thực tiễn Tin học có tính thực tiễn phổ dụng: là một tiến bộ khoa học mũi nhọn của thời đại, Tin học học nhanh chóng được ứng dụng rộng rãi trên mọi lĩnh vực của đời sống, xã hội Nó cung cấp những phương pháp và cộng cụ hiệu quả giúp con người khai thác và xử lí thông tin,
là công cụ phục vụ tất cả các ngành khoa học kỹ thuật, các lĩnh vực kinh tế, quân sự, chính trị, văn hoá, dịch vụ và đặc biệt quan trọng trong công tác quản lý
Trong nền kinh tế toàn cầu, với sự phát triển của Tin học, thương mại điện tử đang trở thành một lĩnh vực phát triển rất mạnh mẽ, nó thúc đẩy các ngành sản xuất dịch vụ trên phạm vi toàn thế giới, và đặc biệt quan trọng với các nước đang phát triển, nhất là đối với vùng xa xôi hẻo lánh, các nước và các vùng này có cơ hội tiếp cận thị trường quốc tế Công nghệ thông tin là chiếc chìa khoá để mở cánh cổng vào nền kinh tế tri thức
Tin học là môi trường lý tưởng cho sự sáng tạo, là phương tiện quan trọng để quảng bá và nhân rộng nhanh vốn tri thức, động lực của sự phát
Trang 32triển, thúc đẩy phát triển dân chủ trong xã hội, phát triển năng lực của con người… Tin học sẽ nhanh chóng thay đổi thế giới một cách mạnh mẽ, sự chuyển đổi này có vị thế trong lịch sử như một cuộc cách mạng kinh tế - xã hội và có ảnh hưởng to lớn đến đời sống con người
Tin học có tính logic và tính thực nghiệm: Khi xây dựng những phần mềm, hay ngôn ngữ lập trình, người ta dùng suy diễn logic, xuất phát từ những dữ liệu chuẩn người ta xây dựng lên các các dữ liệu có cấu trúc Tuy nhiên giáo trình Tin học phổ thông cũng vẫn mang tính logic, hệ thống: tri thức trước chuẩn bị cho tri thức sau, tri thức sau dựa vào tri thức trước
Ngày nay Tin học, nói rộng hơn là công nghệ thông tin được coi là một trong những ngành mũi nhọn chiếm vị trí hàng đầu trong chính sách kinh tế, khoa học và công nghệ ở những nước phát triển Sự phát triển nhanh chóng của kĩ thuật truyền thông đã đưa đến những chuyển biến to lớn và cơ bản trong công nghệ thiết lập các mạng Tin học về việc hình thành trong thực tế các siêu xa lộ cao tốc thông tin như Internet
Đặc điểm thứ hai của môn Tin học, thực hành trên máy tính là bắt buộc và
là một cấu thành của bài giảng lý thuyết Với sự phát triển của các phương tiện truyền thông thông tin, người thầy giáo không còn đóng vai trò như là nguồn thông tin duy nhất, như người điều khiển và đánh giá duy nhất, như người theo dõi và quản lý duy nhất của quá trình dạy học nữa Thay vào đó, người thầy đóng vai trò là người tổ chức, người dẫn đầu, người cùng học, người tư vấn Sự xuất hiện và thâm nhập của máy tính trong thời đại “công nghệ thông tin” đã làm cho những biến đổi trên trở lên sâu sắc hơn, quyết liệt hơn
Nhiều kiến thức và bài học được diễn đạt thông qua cá bước thực hành
và thao tác cụ thể trên máy tính Rất nhiều bài học (ví dụ các bài học Định dạng văn bản) được diễn đạt hoàn toàn thông qua các thao tác cụ thể với phần mềm Kiến thức môn học gắn liền với công nghệ và thay đổi rất nhanh trên
Trang 33thế giới Đặc thù này làm cho Tin học khác hẳn so với tất cả các môn học có liên quan đén công nghệ hay học nghề khác Công nghệ Tin học, cụ thể là máy tính đã và đang thay đổi từng ngày và len lỏi vào trong mọi ngõ ngách của cuộc sống hàng ngày, trong mọi ngành nghề khác nhau Đặc thù đòi hỏi
GV phải không ngừng nâng cao trình độ cá nhân của mình mới đủ kiến thức cập nhật Môi trường thực hành rất đa dạng và không thống nhất Đây cũng là một đặc thù nổi bật của bộ môn Tin học GV cần có chủ động cao nhất khi giảng dạy lí thuyết cũng như hướng dẫn thực hành cho HS Thông tin các tài liệu giáo khoa chỉ mang tính pháp lý về kiến thức môn học chứ không áp đặt quy trình thao tác trên máy tính Với mỗi bài học cụ thể, tùy vào điều kiện thực tế mà GV có thể hoàn toàn chủ động trong việc trình bày khái niệm, minh họa thao tác trên máy tính sao cho dễ hiểu nhất đối với HS
Đa số các GV hiện nay khai thác vai trò này của máy tính Do đặc trưng của nó, máy tính có thể trình diễn các dạng thông tin khác nhau, như văn bản, hình ảnh, hoạt hình, video, mô phỏng, âm thanh một cách linh hoạt và rõ ràng cho từng cá nhân cũng như cả lớp Nội dung thông tin mà máy tính có khả năng trình diễn cũng đa dạng, từ thông tin về khái niệm đến những thông tin
về quy trình thao tác Tuy nhiên quan trọng hơn, máy tính có thể cho phép tạo
ra nhiều kiểu hình trình diễn bằng cách phối hợp các thành phần thông tin riêng lẻ theo những trật tự khác nhau, như thế có thể huy động hơn, cũng như tạo ra những kiểu trình bày phù hợp với đặc điểm đa dạng của người học hơn Tin học là môn học mới chưa có nhiều kinh nghiệm và về lý luận cũng như thực tế cho việc giảng dạy trong nhà trường phổ thông Tin học là một ngành công nghệ khá mới mẻ đối với Việt Nam và đang phát triển rất nhanh trên thế giới Tại Việt Nam trước năm 2005 Tin học chưa được đưa vào nhà trường thành môn học chính thức và phổ cập đại trà [2] Chính vì lí do đó mà Tin học, máy tính mặc dù đối với xã hội đã phổ cập nhưng đối với nhà trường
Trang 34lại khá mới mẻ Sự nghiệp giáo dục phải đáp ứng những đòi hỏi của khoa học
kỹ thuật Ðó là yêu cầu có tính chất nguyên tắc
Trong thời đại ngày nay Tin học ngày càng được sử dụng rộng rãi, sự hiểu biết nhất định về Tin học phải trở thành học vấn phổ thông của mọi thành viên trong xã hội Nếu như sự phát triển mạnh mẽ và ứng dụng rộng rãi của Tin học là một đặc điểm nổi bật của cuộc cách mạng khoa học công nghệ của thế kỷ này, nếu chúng ta đòi hỏi việc đào tạo của nhà trường phải gắn liền với thực tế xã hội thì không thể thoái thác việc đưa Tin học vào trường phổ thông Việc làm này sẽ đón đầu với yêu cầu của thực tiễn trong kỉ nguyên thông tin và tự động hóa Vì vậy Tin học phải là một môn học “đặc biệt” theo nghĩa nó phải được giảng dạy một cách “linh hoạt”, không nên và không được phép áp đặt các tiêu chuẩn đánh giá chặt về phương pháp, tiến độ giảng dạy như các môn học khác trong nhà trường Cần ưu tiên tối đa trang thiết bị cho
GV khi giảng dạy môn học này Với xu thế phát triển mạnh mẽ của Tin học,
GV không thể duy trì cách dạy học truyền thống mà luôn luôn cập nhật đổi mới phương pháp giảng dạy của mình
Đổi mới phương pháp dạy học nâng cao chất lượng giáo dục là một trong những mục tiêu quan trọng hiện nay của ngành giáo dục Việc ứng dụng Tin học nhằm đổi mới nội dung, phương pháp dạy học là một công việc lâu dài, khó khăn đòi hỏi rất nhiều điều kiện về cơ sở vật chất, tài chính, năng lực của đội ngũ GV Nhưng thiết nghĩ rằng, với khả năng sư phạm vốn có cộng thêm một ít bồi dưỡng về kiến thức tin học, các GV hoàn toàn có thể thiết kế được bài giảng điện tử để thể hiện tốt hơn phương pháp sư phạm, góp phần đổi mới phương pháp giảng dạy trong môn học này
Đứng trước yêu cầu đổi mới của Nhà nước ta hiện nay, đặc biệt là trong công cuộc cải cách nền hành chính quốc gia cho phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đang diễn ra sôi động từ trung ương đến
Trang 35địa phương, không thể không nói đến việc hoàn thiện và hợp lý hoá công tác văn thư trong các cơ quan hành chính Nhà nước mà không nghiên cứu ứng dụng tin học trong công tác văn thư Ngày nay chúng ta không thể tìm thấy một văn bản chính thức nào của nhà nước mà không được thực hiện trên máy tính Do vậy, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong trường học cũng như trong cuộc sống là một tất yếu trong giai đoạn hiện nay
Xuất phát từ mục tiêu nhà trường Việt Nam, đặc điểm môn Tin việc dạy học môn Tin cần có những mục đích sau: Truyền thụ tri thức, kĩ năng Tin học, kĩ năng vận dụng Tin học vào thực tiễn, phát triển năng lực trí tuệ chung, giáo dục tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức và thẩm mĩ, đảm bảo chất lượng phổ cập, đồng thời phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu về Tin [1]
2.2 Hoạt động nhận dạng và thể hiện khái niệm trong Tin học 10
2.2.1 Hoạt động nhận dạng
Một trong những biểu hiện của chủ nghĩa hình thức trong quá trình học
là HS học thuộc cách phát biểu định nghĩa nhưng lại không nhận biết được một đối tượng cụ thể trong những tình huống khác nhau có thỏa mãn định nghĩa ấy hay không, không tự mình tạo ra được những đối tượng thỏa mãn định nghĩa Vì vậy, cần phải cho HS tiến hành những hoạt động "nhận dạng"
và "thể hiện" để tránh và khắc phục tình trạng này
Nhận dạng một khái niệm (nhờ một định nghĩa tường minh hoặc ẩn
tàng) là phát hiện xem một đối tượng cho trước có thỏa mãn định nghĩa đó hay không
Ví dụ 2.1: Trong các trường hợp sau, đâu là biểu thức quan hệ
Trang 36Dựa vào kiến thức đã biết các em sẽ phát hiện ra đâu là biểu thức quan hệ
a, b: Là biểu thức quan hệ
c: Không phải là biểu thức quan hệ vì biểu thức hai vế không cùng kiểu d: Không phải là biểu thức quan hệ vì vế trái không phải là biểu thức
số học
Ví dụ 2.2: Ví dụ sau khi ta dạy cho HS khái niệm hệ điều hành ta cho
HS nhận dạng khái niệm bằng cách chỉ ra đâu là HĐH trong các ví dụ sau:
lý chặt chẽ các tài nguyên của máy, tổ chức khai thác chúng một cách thuận tiện và tối ƣu
Khi dạy khái niệm tệp Các qui ƣớc khi đặt tên tệp:
+ Hệ điều hành Windows:
Tên tệp không quá 255 kí tự