1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Biểu tượng về đất nước trong thơ Nguyễn Khoa Điềm

125 648 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 700,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết chủ yếu nói về cảm xúc được lan tỏa trong thơ Nguyễn Khoa Điềm: "Có thể thấy dấu ấn rõ rệt của một vốn văn hóa nhà trường và sách vở, một ảnh hưởng của cách suy tưởng trong thơ

Trang 1

======

NGUYỄN THỊ THÚY

BIỂU TƯỢNG VỀ ĐẤT NƯỚC TRONG THƠ NGUYỄN KHOA ĐIỀM

Chuyên ngành: Lý luận văn học

Mã số: 60 22 01 20

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Hà Công Tài

HÀ NỘI, 2016

Trang 2

Em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới PGS TS Hà Công Tài - người thầy đã tận tâm hướng dẫn em hoàn thành luận văn này

Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn, đặc biệt là các thầy cô giáo Phòng sau Đại học – Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

2 đã quan tâm giúp đỡ em trong quá trình học tập và thực hiện đề tài

Xin gửi tới người thân – gia đình, bè bạn – những người đã luôn động viên giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu lời cảm ơn sâu sắc

Hà Nội, ngày… tháng … năm……

Người thực hiện

Nguyễn Thị Thúy

Trang 3

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này

là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã đƣợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã đƣợc ghi rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thúy

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 8

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 8

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9

5 Đóng góp của luận văn 9

6 Phương pháp nghiên cứu 10

7 Cấu trúc của luận văn 10

PHẦN NỘI DUNG 12

Chương 1: BIỂU TƯỢNG THƠ CA VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN KHOA ĐIỀM 12

1.1 Biểu tượng 12

1.1.1 Quan niệm về biểu tượng 12

1.1.2 Biểu tượng nhìn từ các góc độ khác nhau 15

1.1.3 Biểu tượng thơ ca 19

1.2 Hành trình sáng tác thơ của Nguyễn Khoa Điềm 20

1.2.1 Giai đoạn tuổi trẻ, sinh viên 20

1.2.2 Giai đoạn tham gia kháng chiến chống Mỹ 22

1.2.3 Giai đoạn sau kháng chiến chống Mỹ 30

Chương 2: CÁC LOẠI BIỂU TƯỢNG VỀ ĐẤT NƯỚC TRONG THƠ NGUYỄN KHOA ĐIỀM 35

2.1 Biểu tượng về đất nước - nơi cư trú 35

2.1.1 Biểu tượng thôn, làng, bản 35

2.1.2 Biểu tượng phố 43

2.2 Biểu tượng về đất nước - truyền thống lịch sử, văn hóa 57

Trang 5

2.3 Biểu tượng về đất nước - con người 70

2.3.1 Biểu tượng người mẹ và em bé 70

2.3.2 Biểu tượng người lính 74

2.3.3 Biểu tượng về nhân dân 78

Chương 3: NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG BIỂU TƯỢNG VỀ ĐẤT NƯỚC TRONG THƠ NGUYỄN KHOA ĐIỀM 82

3.1 Hệ thống ngôn ngữ 82

3.1.1 Ngôn ngữ chính luận và giàu triết lý 83

3.1.2 Ngôn ngữ đậm chất văn hóa dân gian 87

3.1.3 Ngôn ngữ đậm sắc thái Huế 89

3.2 Hình ảnh chọn lọc 91

3.2.1 Hình ảnh máu và lửa 92

3.2.2 Hình ảnh con người thời đại 98

3.3 Tư duy giàu liên tưởng và tưởng tượng 105

3.3.1 Liên tưởng 106

3.3.2 Tưởng tượng 109

KẾT LUẬN 113

TÀI LIỆU THAM KHẢO 117

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Như chúng ta đã biết, văn học – nghệ thuật xét cho cùng là sự phản

ánh hiện thực đời sống theo cách riêng của nó Nếu âm nhạc dùng âm thanh, tiết tấu, giai điệu , nếu hội họa dùng màu sắc, đường nét, hình khối để thể hiện bức tranh đời sống và thế giới tâm hồn của người nghệ sĩ, thì văn chương

là nghệ thuật của ngôn từ Văn chương dùng những hình ảnh, biểu tượng để gửi gắm tư tưởng, tình cảm của tác giả Việc sáng tạo, lựa chọn các biểu tượng đòi hỏi một trình độ tư duy trừu tượng, một trí tưởng tượng phong phú, một tâm hồn bay bổng, giàu cảm xúc Và giải mã các biểu tượng là một thách

đố đầy khó khăn, thú vị, giúp ta hiểu được cách thể hiện của thơ ca, thế giới tâm hồn, cảm xúc và tài năng của nhà văn, nhà thơ

1.2 Văn học giai đoạn trong và sau kháng chiến chống Mĩ của Việt

Nam xuất hiện nhiều cây bút để lại những ấn tượng khó phai mờ trên thi đàn như: Thanh Thảo, Hữu Thỉnh, Xuân Quỳnh, Bằng Việt, Phạm Tiến Duật và không thể không kể đến Nguyễn Khoa Điềm – nhà thơ với những cách cảm, cách nghĩ, cách thể hiện rất riêng về đất nước, con người Việt Nam Người đã

để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng độc giả

Nguyễn Khoa Điềm sinh năm 1943 tại thôn Ưu Điềm, xã Phong Hòa, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên – Huế Ông sinh ra trong một gia đình có truyền thống yêu nước và cách mạng Từng tốt nghiệp Khoa Văn, Trường Đại học sư phạm Hà Nội, cũng từng trực tiếp tham gia các phong trào cách mạng

ở Huế, xây dựng cơ sở cách mạng, viết báo, làm thơ, giữ nhiều trọng trách trong bộ máy lãnh đạo của Đảng và Nhà nước… Nhưng trên hết ta cảm nhận được Nguyễn Khoa Điềm là một nhà thơ với những cảm xúc nồng nàn và suy

tư sâu lắng, nhất là mỗi khi nói về đất nước, về dân tộc mình Ta như thấy được niềm tự hào, yêu mến và kính trọng của nhà thơ đối với Tổ quốc Đất

Trang 7

nước trong thơ Nguyễn Khoa Điềm đã trở thành biểu tượng thật đẹp, thật thiêng liêng nhưng cũng rất đỗi bình dị, đời thường Một đất nước gần gũi với nhân dân, với những con người cần lao, chịu đựng và âm thầm cống hiến để làm nên hai từ thiêng liêng Đất Nước

1.3 Đất nước trong thơ Nguyễn Khoa Điềm chiếm một vị trí đặc biệt

quan trọng Việc đi tìm, giải mã các tín hiệu nghệ thuật và đặc biệt là những biểu tượng đất nước trong thơ Nguyễn Khoa Điềm là một con đường, một cách thức để đến với trái tim ông Một trái tim luôn đập vì nhân dân, đất nước Trái tim ấy luôn hướng về dân tộc với niềm trân trọng, tự hào được sinh

ra và lớn lên trên quê hương Việt Nam:

“Ôi Đất Nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy

Những cuộc đời đã hóa núi sông ta….”

(Mặt đường khát vọng)

1.4 Nguyễn Khoa Điềm có những tác phẩm được chọn giảng dạy trong

chương trình Ngữ văn Trung học cơ sở và Trung học phổ thông Vì vậy, luận văn sẽ là tài liệu tham khảo cho quá trình dạy và học trong nhà trường

1.5 Nguyễn Khoa Điềm đến với thơ khi cuộc kháng chiến chống Mỹ

của dân tộc đang diễn ra cam go, khốc liệt nhất và kể từ khi Những cô gái chằm nón bài thơ, Đất ngoại ô, Mặt đường khát vọng xuất hiện thì trên văn

đàn thơ ca kháng chiến chống Mỹ đã có thêm Nguyễn Khoa Điềm, nhà thơ trưởng thành từ trong chính cuộc kháng chiến Và cũng từ đó về sau này người ta nhắc nhiều hơn đến thơ ông, nhiều bài viết và công trình nghiên cứu khoa học về thơ Nguyễn Khoa Điềm Chúng ta sẽ cùng nhìn lại những đánh giá ấy một cách khái lược:

Báo Văn nghệ số 437, ra ngày 23 tháng 02 năm 1972, Thái Duy đã viết

"Một khúc hát ru xúc động" những nhận xét khá sâu sắc về ngôn ngữ, hình

ảnh, nhịp điệu của bài thơ: " khúc ca giàu nhạc điệu dân tộc, hình ảnh sinh

Trang 8

động, chân thật, làm cho người đọc thấm thía Cách so sánh hình ảnh thì thật tài tình, cách dẫn dắt ý thơ của tác giả thật khéo léo"

Vũ Quần Phương trong cuốn "Thơ với lời bình" đã nhận xét: "Cái đặc

sắc của thơ Nguyễn Khoa Điềm chỉ là tập trung vào một hình tượng Tình, ý, cảnh đều tập trung vào hình tượng đó, từ thấp đến cao, ý thơ song song ở các đoạn thơ nhưng có chuyển rộng, xa dần Các câu thơ gối nhau thành từng cặp

ý quấn quýt nhau, đối chiếu nhau, khi thì ở ngang trong một câu, khi thì ở câu trên câu dưới Khi đối chiếu trong hai câu thường tạo nên cách lập ý bất ngờ, hàm súc, ý thơ chuyển từ cụ thể sang khái quát rất nhanh, đầy biến hóa mà dễ tiếp thu Ý thơ sâu sắc nhưng vẫn bám rất chắc chi tiết thực Nó gây được ấn tượng mạnh vì được chuẩn bị từ câu thơ trên Tác giả tung hứng chi tiết rất dài; ý trên gợi ý dưới, câu dưới rọi lên câu trên, đoạn sau đoạn trước đan cài chặt chẽ Vì thế mà kết cấu của nó đã thành nội dung." Sự đánh giá phần lớn thể hiện cái nhìn của người viết về tứ thơ trong những sáng tác của Nguyễn Khoa Điềm

Trên tạp chí văn nghệ quân đội số ra tháng 4/ 1975, Nguyễn Văn Long

có bài "Nguyễn Khoa Điềm với Mặt đường khát vọng" Bài viết chủ yếu nói

về cảm xúc được lan tỏa trong thơ Nguyễn Khoa Điềm: "Có thể thấy dấu ấn

rõ rệt của một vốn văn hóa nhà trường và sách vở, một ảnh hưởng của cách suy tưởng trong thơ người này hay người khác nhưng đoạn thơ Đất Nước cũng như nhiều chỗ khác trong "Mặt đường khát vọng" có sức rung động, âm vang chính bởi tác giả đã thật sự sống với những cảm xúc thật của mình Dù

có khi là những điều không mới lạ, và nhất là anh đã có được điều này: ấy là

từ góc độ của mình, từ những trải nghiệm riêng trong cuộc sống gay go, sống chết ở một vùng chiến tranh mà suy nghĩ, khám phá, xúc cảm về quê hương, đất nước, vì thế anh có thể nói những điều khái quát suy tưởng mà vẫn không rơi vào chung chung, trừu tượng, mờ nhạt, nói những điều to tát mà không sợ

Trang 9

ồn ào, sáo rỗng"

Giáo sư Hà Minh Đức đã có lời giới thiệu cho tập thơ Đất ngoại ô ( xuất

bản năm 1972) của Nguyễn Khoa Điềm Ông nhận xét: " sức hấp dẫn, lôi cuốn của thơ Nguyễn Khoa Điềm đó là một hồn thơ trẻ trung, nồng cháy lý tưởng" và "sự liên tưởng được triển khai khi thì bằng vốn sống thực tế, khi thì bằng vốn văn hóa, khi thì qua mạch tình cảm được dẫn dắt từ một tấm lòng" Như vậy, ta có thể thấy nhà thơ đã có hướng đi riêng cho mình khi đến với bạn đọc

Trên Tạp chí Văn học số 5/ 19776, Tôn Phương Lan có bài viết "Nguyễn Khoa Điềm nhà thơ trẻ có nhiều triển vọng" cũng đã tìm thấy cái riêng, độc

đáo của Nguyễn Khoa Điềm trong nhiều gương mặt cùng thời Tác giả khẳng định: " một phong cách Nguyễn Khoa Điềm khá rõ Bạn đọc ghi nhận ở anh một cách suy nghĩ và diễn đạt có âm hưởng riêng"

Năm 1979, Mai Quốc Liên với bài giới thiệu "Nguyễn Khoa Điềm và những bài thơ từ chiến trường Bình Trị Thiên" cho rằng: "Nguyễn Khoa

Điềm không bắt đầu thơ mình từ sách vở, từ phòng văn mà từ hiện thực cuộc sống chiến đấu của nhân dân, đất nước"

Trong tác phẩm "Thơ tìm hiểu và thưởng thức" của Nguyễn Xuân Nam, khi nhận xét về Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm có viết: tác phẩm "không đặc sắc về tạo hình, màu sắc nhưng có sức liên tưởng mạnh" và

"anh đã có được cái nhìn vừa phân tích, vừa khái quát rất cần thiết cho thơ" Bàn về sự nhất quán trong sáng tác của Nguyễn Khoa Điềm trong suốt

tiến trình sáng sác, Vũ Tuấn Anh trong cuốn "Văn học Việt Nam hiện đại nhận thức và thẩm định" (1986) đã đưa ra những nhận xét rất chính xác khi cho rằng: Từ Mặt đường khát vọng đến Ngôi nhà có ngọn lửa ấm có sự thống

nhất trong phong cách thơ Nguyễn Khoa Điềm trước và sau chiến tranh

"Ngôi nhà có ngọn lửa ấm nghi nhận một hướng cảm xúc điềm đạm, sâu lắng,

Trang 10

tách lớp vỏ của sự vật để tìm cái lõi bên trong, khơi gợi từ đấy những triết lí

về đạo đức nhân sinh"

Chu Văn Sơn khi viết về Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm đã khẳng

định rất rõ về tư duy trong thơ ông Đó là lối tư duy trữ tình - triết luận: "Nét chủ đạo trong tư duy triết luận và trữ tình là đào sâu vào cái bản chất của sự vật dưới dạng là những biểu tượng của thi ca sống động Tư duy ấy chuyển động dựa trên mạch lô gic biện chứng với những chuỗi liên hệ bất ngờ , kì thú"

Trên báo Bình Định, số ra ngày 23/8/2006, có bài viết "Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm: "Bây giờ gió gọi anh đi"" của Trần Đăng chia sẻ những ngày

tháng Nguyễn Khoa Điềm rũ áo, từ quan về sống tại Huế Nhưng dù sống ở bất cứ đâu, trong bất cứ hoàn cảnh nào, tâm hồn người thi sỹ ấy cũng chưa từng thôi khắc khoải với đời qua thơ vẫn có một khoảng trời bình yên dành cho nhà chính trị yêu thơ: "Tiếng chim trong khu vườn ấy, những bông hoa cỏ dại nơi ấy sẽ là những bài thơ đau đáu nỗi đời, được bật lên từ trái tim không phải đập bằng nhịp đập của người khác mà là của chính ông."

Phan thị Thanh Nhàn đã dành hẳn một bài viết về Nguyễn Khoa Điềm

trên Báo Văn nghệ số 32 (2482), ra ngày Thứ 7, 11/8/2007 với nhan đề "Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm như tôi biết" Đây có lẽ là cái nhìn chủ quan của nữ

sỹ với bậc đàn anh của mình Sau bao thăng trầm của cuộc đời, cuối cùng

Nguyễn Khoa Điềm cũng tìm được Cõi lặng cho mình trong cuộc đời: "Anh

đi xe đạp, ăn cơm nhờ hàng xóm nấu, hay lang thang một mình hoặc gặp bạn

bè Và anh vẫn làm thơ Tuy vậy, Nguyễn Khoa Điềm cho đến nay vẫn là gương mặt được bạn bè đáng tin cậy, yêu quý và có thể một chút cảm thông chăng?" Bài viết có lẽ chỉ tập trung vào đời tư của nhà thơ trong và sau chiến tranh chống Mỹ, những năm tháng hoạt động chính trị và khi nghỉ hưu về sống tại Huế của nhà thơ

Trang 11

Và, cũng có nhiều luận văn thạc sỹ nghiên cứu về thơ Nguyễn Khoa Điềm Năm 2009, luận văn thạc sỹ văn học của Nguyễn Thị Nhung nghiên

cứu đề tài Phong cách thơ Nguyễn Khoa Điềm cũng đưa ra nhận xét: "Trong

thơ Nguyễn Khoa Điềm, các phương diện nghệ thuật cũng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nét riêng trong phong cách Tổ chức các phương tiện nghệ thuật chính là hình thức của một nội dung, nhưng là phương tiện thể hiện của một phong cách Thơ Nguyễn Khoa Điềm có sự đa dạng trong giọng điệu, và hình tượng cũng phong phú, giàu tính biểu trưng Bằng những giọng điệu và hình tượng phù hợp, Nguyễn Khoa Điềm đã có những bài thơ đạt đến

vẻ đẹp cổ điển, có sức sống lâu bền, tiêu biểu cho thành tựu một giai đoạn thơ Việt Nam" [31.Tr 104,105] Kết luận trên đã nhận xét về phương diện nghệ thuật và cũng bước đầu khái lược được hình ảnh biểu trưng trong sáng tác của Nguyễn Khoa Điềm

Trong Lời đầu sách của cuốn “Nguyễn Khoa Điềm thơ tuyển” của Nhà

xuất bản Hội Nhà văn, 2013 có viết: “Đọc thơ Nguyễn Khoa Điềm ta thấy anh luôn viết theo lối hiện đại, nhưng ý thơ bao giờ cũng chứa đầy minh triết của nhân dân Anh rất thông minh khi sử dụng thủ pháp liên tưởng Từ con chim

sẻ tha cọng rơm vàng về làm tổ, dân gian đã nghĩ ra cánh diều Còn với anh,

từ cánh diều đã kéo về cả bầu trời…” [14 Tr.11-12]

Năm 2014, Nguyễn Đăng Điệp trong cuốn Tiểu luận, phê bình "Thơ Việt Nam hiện đại tiến trình và hiện tượng" cũng đã khẳng định rất rõ đóng góp và

dấu ấn của Nguyễn Khoa Điềm đối với làng thơ Việt Nam: "Những bài thơ xuất sắc của Nguyễn Khoa Điềm, theo ý tôi là kết quả của quá trình tận hiến với cuộc sống và nghệ thuật thi ca Qua hai chặng đường thơ, Nguyễn Khoa Điềm đã góp phần làm cho thi ca Việt Nam trở nên phong phú hơn" [8.Tr 236] Thật vậy, Nguyễn Khoa Điềm đã tạo được dấu ấn riêng cho mình, đã tự chăm bón để tạo ra những mùa quả thơ ngọt lịm cho đất nước

Trang 12

Năm 2015, Nguyễn Thị Thúy Lan trong luận văn thạc sỹ với đề tài: Hình tượng đất nước trong thơ Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975 cũng dành những

trang văn cho hình tượng đất nước trong thơ Nguyễn Khoa Điềm Tác giả cho rằng: "Khi tuổi trẻ nhận ra nỗi đau thời đại, Nguyễn Khoa Điềm đã dùng hình tượng máu để biểu trưng cho lòng nhiệt tình cách mạng, tinh thần xả thân vì nước, coi sự hy sinh mất mát vì dân tộc là trách nhiệm của mỗi con người Nhưng hôm nay, những tủi nhục căm hờn không thể dồn nén được nữa, lời nói đã trở thành hành động Tuổi trẻ chống Mỹ chấp nhận cái chết thật thanh thản những trí thức trẻ thành phố đã dựng lên những vũ đài chính trị, tập hợp và truyền bá lí tưởng cách mạng đến với quần chúng lao khổ, đấu tranh với kẻ thù bằng sức mạnh trí thức, văn hóa, lẽ phải và chính nghĩa Phải đổ máu và nước mắt, phải trả giá bằng những lầm lạc ban đầu, phải trải nghiệm

qua đấu tranh trực diện với kẻ thù, tuổi trẻ thành thị đã đến được với Mặt đường khát vọng, hòa với nhân dân cùng cả nước lên đường Sự khẳng định

dân tộc, ngợi ca sức mạnh của nhân dân thường được thể hiện qua những mất mát, hy sinh, nỗi đau thầm lặng của vô vàn con người và bao nhiêu số phận" [25.Tr 49,50]

Ngày 6/9/2015, chuyên đề Phong cách thơ Nguyễn Khoa Điềm trong Mặt đường khát vọng của tổ Ngữ văn, trường THPT Lê Văn Thịnh, tỉnh Bắc

Ninh cũng đã nhận định: "Nguyễn Khoa Điềm là một tài năng thơ thực sự Một tài năng bao giờ cũng đi liền với phong cách sáng tạo Ở thời kỳ chiến tranh, sống trực tiếp giữa lòng cuộc chiến đấu của nhân dân Thơ Nguyễn Khoa Điềm đã thể hiện cảm động những xúc cảm và ý thức về dân tộc, thời đại trong tâm hồn những con người yêu nước "

Sẽ còn rất nhiều những nghiên cứu và bài viết về thơ ca và cuộc đời của Nguyễn Khoa Điềm mà chúng tôi không thể kể ra trong luận văn của mình Tuy vậy, qua những công trình nghiên cứu, những tiểu luận phê bình, những

Trang 13

bài viết, và luận văn trên đây chúng ta có thể thấy sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Khoa Điềm được nhìn nhận đa dạng, đa chiều và khá toàn diện Chúng tôi nhận thấy chưa có một bài viết nào nghiên cứu và khảo sát toàn diện về biểu tượng đất nước trong thơ ông

Chọn đề tài Biểu tượng về đất nước trong thơ Nguyễn Khoa Điềm,

chúng tôi muốn mình giống như người thợ mỏ đi bẩy lật những tầng vỉa ngôn

từ giàu hình tượng để thấy được những khát khao, trăn trở và cả niềm tự hào,

tự tôn dân tộc của một thi nhân luôn nặng lòng với đời, với nhân dân và đất nước Đồng thời chúng tôi muốn làm sáng rõ hơn một tài năng, một bản lĩnh nghệ thuật rất riêng mang tên Nguyễn Khoa Điềm

2 Mục đích nghiên cứu

Mục đích của đề tài là đi sâu tìm hiểu biểu tượng thơ ca nói chung và biểu tượng về đất nước trong thơ của Nguyễn Khoa Điềm nói riêng, để thấy được đóng góp của Nguyễn Khoa Điềm đối với thơ ca Việt Nam hiện đại trong kháng chiến chống Mỹ và khi hòa bình lặp lại

Khám phá những phương diện đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của biểu tượng về đất nước trong thơ Nguyễn Khoa Điềm

Có một cái nhìn mới, bổ sung kiến thức về con người và sự nghiệp thơ ca của Nguyễn Khoa Điềm Từ kết quả đạt được của luận văn chúng tôi hy vọng

sẽ là tài liệu nhằm phục vụ quá trình học tập và giảng dạy trong nhà trường

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Với đề tài Biểu tượng về đất nước trong thơ Nguyễn khoa Điềm, chúng

tôi đưa ra các nhiệm vụ sau:

+ Có một cái nhìn cụ thể hơn về biểu tượng và hành trình sáng tác của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm

+ Khảo sát các sáng tác của nhà thơ để từ đó làm nổi bật những phương diện biểu tượng về đất nước trong thơ Nguyễn Khoa Điềm

Trang 14

+ Khai thác một số phương diện nghệ thuật hình thành nên biểu tượng về đất nước trong thơ Nguyễn Khoa Điềm

+ Đưa ra được kết quả nghiên cứu và có một hướng tiếp cận mới khi tìm hiểu và khám phá thơ Nguyễn Khoa Điềm

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

a Đối tượng nghiên cứu

Biểu tượng về đất nước trong thơ của Nguyễn Khoa Điềm trên phương diện biểu hiện nội dung và nghệ thuật xây dựng nên biểu tượng

5 Đóng góp của luận văn

- Luận văn nghiên cứu biểu tượng về đất nước trong thơ Nguyễn Khoa Điềm đi vào nghiên cứu ở cấp độ bộ phận để từ đó làm cơ sở cho việc tìm hiểu, khám phá thơ Nguyễn Khoa Điềm trên bình diện tổng thể, toàn diện

- Lần đầu tiên biểu tượng về Đất nước trong thơ Nguyễn Khoa Điềm được tiếp cận một cách toàn diện, sâu sắc

- Luận văn góp phần khẳng định vai trò, vị trí của Nguyễn Khoa Điềm trong nền văn học Việt Nam hiện đại

- Luận văn sẽ là tài liệu bổ ích phục vụ cho việc dạy và học trong nhà trường và cũng là để cho những ai yêu quý thơ Nguyễn Khoa Điềm có một góc nhìn mới khi tiếp cận với thơ ông

Trang 15

6 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn vận dụng phối hợp nhiều phương pháp nghiên cứu Nhưng chúng tôi tập trung chủ yếu sử dụng các phương pháp sau:

- Phương pháp so sánh:

Với phương pháp này người ta rất thường hay sử dụng trong nghiên cứu văn học để so sánh cá thể các hiện tượng cùng loại (như biểu tượng) hoặc các hiện tượng đối lập (như biểu tượng và hình ảnh không phải biểu tượng) để

từ đó tìm ra bản chất của hiện tượng Từ đó giúp chúng ta thấy vị trí và đánh giá được ý nghĩa của các hiện tượng đó trong hệ thống

- Phương pháp nghiên cứu hệ thống:

Nghĩa là đi khảo sát các sáng tác của tác giả để tìm ra tính hệ thống

Và nhìn các yếu tố của tác phẩm không phải là sự tồn tại rời rạc, ngẫu nhiên,

mà trong một hệ thống, có sự thống nhất thể hiện nội dung trên nhiều cấp độ, nhiều bình diện Trong đề tài nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu hệ thống nhằm tìm ra đặc trung sáng tạo hệ thống biểu tượng trong thơ Nguyễn Khoa Điềm

- Phương pháp phân tích tổng hợp:

Luận văn nhìn các yếu tố của tác phẩm trong sự thống nhất biện chứng của chỉnh thể nghệ thuật Trong đó tập trung nghiên cứu yếu tố hình thức mang tính nội dung, đặc biệt chú ý vai trò và ý nghĩa của biểu tượng thơ ca trong các kết cấu thơ ca của Nguyễn Khoa Điềm

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn gồm có

Trang 16

Điềm

Chương 3: Nghệ thuật xây dựng biểu tượng về đất nước trong thơ

Nguyễn Khoa Điềm

Trang 17

PHẦN NỘI DUNG

Chương 1: BIỂU TƯỢNG THƠ CA VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC

CỦA NGUYỄN KHOA ĐIỀM 1.1 Biểu tượng

1.1.1 Quan niệm về biểu tượng

Thơ tữ tình đi phản ánh hiện thực đời sống theo cách riêng của nó Và dấu hiệu khác biệt rõ ràng nhất của thơ so với các thể loại khác ấy là: thơ thường dùng những hình ảnh, biểu tượng để soi chiếu thế giới Bàn về biểu tượng, ta thấy có rất nhiều ý kiến ở cả trong và ngoài nước

Trên thế giới có nhiều công trình nghiên cứu về biểu tượng Trong cuốn

Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới (nhiều tác giả), Jean Chevalier chỉ ra

rằng: "Nói ta đang sống trong một thế giới biểu tượng thì vẫn chưa đủ, phải nói một thế giới biểu tượng sống trong chúng ta" [6.tr.XIV] Và “Dẫu ta có nhận biết ra hay không, đêm ngày, trong hành ngôn, trong các cử chỉ, hay trong các giấc mơ của mình, mỗi chúng ta đều sử dụng các biểu tượng Chúng

ta khoác lên các ước muốn một diện mạo, chúng xúi giục một toan tính nào

đó, chúng nhào lặn một lối ứng xử, chúng khơi mào cho thành công hay thất bại” [6.tr.XIII] Từ những nhận định trên, ta thấy biểu tượng có ngay trong đời sống thường ngày mỗi chúng ta Dù muốn hay không thì nó vẫn tồn tại và

có một vị trí, vai trò quan trọng trong đời sống xã hội Chính vì thế mà việc chúng ta tìm hiểu cách thức hình thành, sắp xếp, giải thích các biểu tượng nhiều ngành khoa học quan tâm như: Khoa lịch sử các nền văn minh và các tôn giáo, khoa ngôn ngữ học, khoa văn hóa nhân chủng học, khoa phê bình nghệ thuật, khoa tâm lý học, khoa y học… là cần thiết

Vậy biểu tượng là gì? Trong tiếng Anh, biểu tượng là Symbol, tiếng Pháp biểu tượng là Symbole Jean Chevalier đã nói về biểu tượng một cách

Trang 18

đầy hình ảnh “Nó giống như mũi tên bay mà không bay, đứng im mà biến ảo,

hiển nhiên mà lại không nắm bắt được… Biểu tượng bộc lộ rồi lủi trốn, càng

tự phơi bày sáng rõ nó càng tự giấu mình đi” [6.tr.XIV] Hay nói như Georges Gurvitch: “Các biểu tượng tiết lộ mà che giấu, che giấu mà tiết lộ” [6.tr.XIV] Henry Corbin cho rằng: “Biểu tượng báo hiệu một bình diện ý thức khác với cái hiển nhiên lý tính; nó là mật mã của một bí ẩn, là cách duy nhất để nói

ra được cái không thể nắm bắt bằng cách nào khác; nó không bao giờ có thể được cắt nghĩa một lần là xong, mà cứ phải giải mã lại mãi, cũng giống như một bản nhạc không bao giờ chơi một lần là xong mà đòi hỏi một lối biểu diễn luôn luôn mới” [6.tr.XVIII]

Chính vì sự trừu tượng ấy mà thật khó để đưa ra một định nghĩa hoàn chỉnh về biểu tượng Tự bản chất của nó, nó đã phá vỡ các khuôn khổ định sẵn và tập hợp các thái cực lại trong một ý niệm

Vậy biểu tượng khác với dấu hiệu như thế nào? Nếu dấu hiệu là một quy ước bất kỳ trong đó cái biểu đạt và cái được biểu đạt (khách thể hay chủ thể) vẫn xa lạ với nhau, thì biểu tượng giả định có sự đồng chất giữa cái biểu đạt

và cái được biểu đạt theo nghĩa một lực năng động tổ chức

Bên cạnh đó, công trình nghiên cứu của Jung, của Piaget, của Bachelard, Gilbert Dururand cho rằng: “Căn cứ của lực năng động tổ chức đó…là nhân

tố tạo nên tính đồng chất trong sự biểu hiện, nằm ngay trong cấu trúc của trí tưởng tượng Trí tưởng tượng không hề là khả năng tạo ra các hình ảnh mà là sức mạnh năng động làm biến dạng các sao chép thực dụng do tri giác cung cấp và lực năng động có tính cải tạo cảm giác, đó là nền tảng của toàn bộ đời sống tâm thần Có thể nói biểu tượng…rộng lớn hơn cái ý nghĩa được gán cho

nó một cách nhân tạo, nó có một sức vang cốt yếu và tự sinh” [6.tr.XIX] Biểu tượng trong tiếng Hán được tạo nên bởi hai yếu tố: Biểu là dấu hiệu, là sự bộc lộ, phô bày Tượng là hình Ban đầu biểu tượng được dung

Trang 19

theo nghĩa thực dụng là một vật (đá, ngọc, sành hay gỗ…) được chia làm hai trong một giao ước như tín vật, khi gặp nhau chắp lại để làm tin Về sau biểu tượng là phương tiện phản ánh tư duy, hành vi, khát vọng, kể cả những ám ảnh và sợ hãi Biểu tượng thể hiện những góc khuất của tiềm thức và vô thức

Ở trong nước, cũng có nhiều nghiên cứu khác nhau về biểu tượng Nguyễn Đăng Điệp cho rằng: “Biểu tượng cũng được hình dung như một ký hiệu, một đơn vị ngôn ngữ, vì thế, nghiên cứu biểu tượng thi ca cũng chính là nghiên cứu ngôn ngữ, nghiên cứu cách nói của nhà thơ” [8.tr.99] và “Nghiên cứu biểu tượng là nghiên cứu theo hướng văn hóa học liên ngành” [8 tr.99]

Từ đó ta thấy được nghiên cứu biểu tượng bắt đầu từ những tín hiệu ngôn ngữ

Từ những ý kiến trên đây, chúng tôi xin đưa ra một cái nhìn khái lược về biểu tượng như sau:

Trước hết, biểu tượng là một loại tín hiệu mà mối quan hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt mang tính tất yếu có lý do Mặt hình thức cảm tính, cái biểu đạt tồn tại trong hiện thực khách quan hoặc trong trí tưởng tượng của con người Mặt ý nghĩa hay còn gọi là cái được biểu đạt luôn luôn rộng hơn, giàu có hơn rất nhiều cái biểu đạt

Biểu tượng nói một cách khái quát, trước hết là hình ảnh thuộc thế giới

tự nhiên bên ngoài con người (như màu sắc, vật thể, hiện tượng…) với phương pháp biểu trưng hóa của hoạt động ý thức, con người đã phản ánh thế giới tự nhiên qua những hình ảnh vào bộ não của mình, cấp cho nó một ý nghĩa, một thông tin Từ đó tạo nên một thế giới bên trong – thế giới ý niệm

Đó là thế giới vô hình, vô hạn, vô khả tri Nó vừa phản ánh thực tại, vừa từ thực tại mà tưởng tượng, suy luận, đem lại cho con người một khả năng vô tận, khả năng về trí tuệ, khả năng về tâm linh để con người có thể tư duy, trao đổi thông tin và thông báo với nhau Như vậy, bằng cách mô phỏng tự nhiên,

Trang 20

con người đã sáng tạo nên một thế giới biểu tượng đa dạng, phong phú và vô cùng sống động

Biểu tượng không tồn tại trong một ngành khoa học riêng mà còn là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học như triết học, phân tâm học, mỹ học, thần học, ngôn ngữ học, văn học… Dựa trên phạm vi và mục đích nghiên cứu, luận văn này chỉ tập trung tìm hiểu biểu tượng về đất nước trong thơ Nguyễn Khoa Điềm

1.1.2 Biểu tượng nhìn từ các góc độ khác nhau

Từ phương diện triết học, ta thấy biểu tượng là hình ảnh cảm tính, cụ thể

về những hiện tượng của thế giới bên ngoài Biểu tượng cùng với cảm giác và tri giác tạo nên nhận thức cảm tính, tạo nên hệ thống tín hiệu thứ nhất của hiện thực Nhưng chúng ta cần phải thấy rõ biểu tượng khác tri giác ở điểm: nếu tri giác phản ánh một sự vật riêng lẻ tác động vào giác quan của chúng ta trong những trường hợp cụ thể nhất định, thì biểu tượng lại là sự phản ánh khái quát và trừu tượng hơn rất nhiều

Từ việc hình thành cảm giác, tri giác trong bộ não của con người đã xuất hiện một hình thưc cao hơn, chính là biểu tượng Nó là hình ảnh được tái hiện,được hình dung lại với những thuộc tính nổi bật của sự vật Những biểu tượng này nhìn chung còn ở cấp độ thấp, giản đơn, do trực quan hình ảnh đem lại Còn một dạng biểu tượng cao hơn hẳn được xây dựng do rí tưởng tượng của con người Biểu tượng trực quan cảm tính và biểu tượng của tưởng tượng mới chỉ là biểu tượng của nhận thức, chưa thể trở thành biểu tượng nghệ thuật

Nhìn từ góc độ văn hóa, biểu tượng văn hóa là những khái niệm thuộc

lĩnh vực văn hóa, rộng hơn là môi trường văn hóa Vậy văn hóa là gì?

Văn hóa là phức thể các giá trị vật chất và tinh thần do hoạt động của con người tác động đến tự nhiên, xã hội, bản thân trong một quá trình lịch sử lâu

Trang 21

dài mà tạo nên Do khái niệm và nội hàm của văn hóa rất rộng nên không ai

có thể tự tin khẳng định mình đã tìm hiểu đến tận cùng về một nền văn hóa nào đó trên thế giới Vì vậy, việc nghiên cứu biểu tượng văn hóa cũng là một cách chạm đến các yếu tố văn hóa cụ thể để tìm hiểu tổng thể

Biểu tượng văn hóa là một tín hiệu riêng có chiều sâu và phong phú hơn tín hiệu văn hóa Biểu tượng được hình thành trong quá trình lâu dài có tính ước lệ và bền vững, là cảm quan nhận thức được lắng đọng, kết tinh, chắt lọc trải qua bao biến cố thăng trầm vẫn không bị phai mờ mà ngược lại càng khắc sâu hơn vào tâm khảm con người Biểu tượng văn hóa được hiểu như là những hình ảnh tượng trưng được cả cộng đồng dân tộc chấp nhận và sử dụng rộng rãi trong một thời gian dài Chính vì thế, biểu tượng góp phần làm nên

bộ mặt của một nền văn hóa

Hàng loạt biểu tượng văn hóa đã hòa nhập cùng tín ngưỡng, thể hiện ở phong tục, náu mình trong các thần tích, ký thác ở tâm linh, ẩn tang trong văn hóa dân gian, trong nghệ thuật truyền thống, lý giải được nó sẽ mở ra những giá trị khoa học và nhân văn vô cùng to lớn Đó là một thế giới có sức hấp dẫn đặc biệt bởi nó quy tụ nhiều tính chất dường như đối lập nhau, vừa hiện diện, vừa tiềm ẩn, vừa bộc lộ, vừa che giấu, vừa rõ rang lại vừa mông lung

Nhìn từ góc độ Văn học, Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa về biểu

tượng như sau: Trong nghĩa rộng, biểu tượng thể hiện “đặc trưng phản ánh cuộc sống bằng hình tượng văn học nghệ thuật” Văn học nghệ thuật là một hình thái ý thức xã hội đặc thù, phản ánh thế giới khách quan theo những nguyên tắc, phương thức, phương tiện riêng “Bằng hình tượng, nghệ thuật sáng tạo ra một thế giới hoàn toàn mang tính biểu tượng” Có thể thấy rất rõ khái niệm biểu tượng gần gũi với tính ước lệ trong văn học nghệ thuật Theo nghĩa hẹp, “biểu tượng là một phương thức giải mã của lời nói” đặt bên cạnh

ẩn dụ, hoán dụ hoặc là một loại hình tượng nghệ thuật đặc biệt “có khả năng

Trang 22

truyền cảm lớn, vừa khái quát được bản chất của một hiện tượng nào đấy, vừa thể hiện một quan niệm, một tư tưởng hay một triết lý sâu xa về con người và cuộc đời”

Trong tác phẩm Thơ Việt Nam hiện đại tiến trình và hiện tượng, Nguyễn

Đăng Điệp cũng chỉ ra: “…nhà phê bình phải giải mã được các biểu tượng nghệ thuật bởi lẽ biểu tượng là nơi kết đọng chiều sâu cảm nhận và phổ hệ văn hóa của người kiến tạo”

Biểu tượng văn học có những đặc điểm, ý nghĩa khác với những khái niệm nội hàm gần gũi như ẩn dụ và hình tượng Vì vậy, rất cần có một cái nhìn soi chiếu giữa ẩn dụ, hình tượng và biểu tượng, trên cơ sở soi rọi chúng

mà tìm ra điểm tương đồng và khác biệt giữa chúng

Trước tiên, cần phân biệt giữa biểu tượng và ẩn dụ Trong văn học, nói đến biểu tượng người ta chú ý đến hai dấu hiệu nhận biết: nhứ nhất, biểu tượng là hình ảnh cảm tính về hiện thực khách quan; thứ hai, biểu tượng không chỉ mang nghĩa biểu vật mà còn nói đến hiện tượng chuyển nghĩa (nghĩa hàm ẩn và nghĩa biểu cảm) Nếu theo hai dấu hiệu nhận biết trên thì biểu tượng có phần tương đồng ẩn dụ Do vậy, muốn phân biệt biểu tượng và

ẩn dụ thì cần xác định rõ đối tượng

Ẩn dụ được hiểu là cách gọi tên sự vật hiện tượng này bằng tên sự vật hiện tượng khác dựa trên mối lien tưởng tương đồng nào đó giữa chúng Còn theo V.I Eremina – nhà nghiên cứu văn học Nga thì: Ẩn dụ thơ ca được sinh

ra nhất thời và mất đi khá nhanh Ngược lại, biểu tượng lại được hình thành trong quá trình dài và sau đó sống hang trăm năm Ẩn dụ là yếu tố biến đổi, còn biểu tượng thì không đổi, bền vững Ẩn dụ là phạm trù thẩm mỹ và phần lớn tự do tách khỏi phong cách ước lệ Biểu tượng thì ngược lại, được giới hạn nghiêm túc bởi hệ thống thi ca xác định Như vậy, V.I Eremina đã phân biệt ranh giới giữa ẩn dụ và biểu tượng ở tính biến đổi và bền vững, tự do và

Trang 23

ước lệ

Nhìn chung, biểu tượng là khái niệm bao quát, bao trùm cả ẩn dụ Việc sử dụng ẩn dụ ở mật độ cao có tính quy ước đã tạo nên biểu tượng Phân biệt giữa ẩn dụ và biểu tượng giúp người tiếp nhận văn học tránh cách hiểu đánh đồng hai thuật ngữ trên

Sau nữa, chúng ta cần phân biệt hai thuật ngữ biểu tượng và hình tượng Văn học là loại hình nghệ thuật phản ánh đời sống bằng các hình tượng nghệ thuật Biểu tượng và hình tượng đều có giá trị trong việc phản ánh hiện thực đời sống và cùng có phương tiện biểu đạt là ngôn ngữ Tuy nhiên hai thuật ngữ này có những điểm khác nhau cơ bản sau:

Thứ nhất, sự tồn tại của hình tượng nghệ thuật không bao giờ vượt quá giới hạn của hình thức biểu đạt cụ thể, nó luôn có phương tiện biểu hiện trọn vẹn nghĩa của hình tượng Còn sự tồn tại của biểu tượng thì lại vượt quá giới hạn của một sự biểu đạt, biểu nghĩa Nói cách khác, không có một phương tiện nào có thể biểu đạt được trọn vẹn ý nghĩa của biểu tượng

Thứ hai, hình tượng bao giờ cũng tách riêng hoặc có xu hướng tách riêng

ra khỏi hệ thống nào đó để phù hợp với yêu cầu: tự do, hoàn thiện, độc đáo và khác biệt Trong khi đó, biểu tượng bao giờ cũng nằm trong một hệ thống nhất định, không thể tách ra đứng độc lập trong nhận thức của con người Thứ ba, sự khác nhau cơ bản giữa biểu tượng và hình tượng là: biểu tượng

có phạm vi lớn hơn, phong phú hơn hình tượng rất nhiều Nếu hình tượng gợi cho ta hình dung về đối tượng một cách cụ thể, chuẩn xác như nó đang tồn tại

khách quan, thì biểu tượng giúp ta khám phá ra điều ước muốn, nỗi sợ hãi, niềm tham vọng… là những cái khiến cho cuộc đời đượm một ý nghĩa bí ẩn

(từ dùng của Jean Chevalier) Và cũng từ đó mà chúng ta thấy rằng trong văn học, một hình tượng có thể diển tả được nhiều biểu tượng

Trên đây là những so sánh để chúng ta phân biệt giữa biểu tượng và ẩn

Trang 24

dụ, biểu tượng và hình tượng Giữa chúng có những khác biệt cơ bản, song những thuật ngữ trên có mối lien hệ mật thiết với nhau, không thể tách rời Vì vậy, khi nhắc đến biểu tượng người ta thường nhắc đến ẩn dụ, hình tượng và hình ảnh

1.1.3 Biểu tượng thơ ca

Có thể khẳng định rằng: mỗi một tác phẩm văn học đều mang trong nó những tư tưởng, tình cảm, nhận thức của tác giả về nhân sinh quan, thế giới quan Nhưng thơ ca (trữ tình) lại có cách thể hiện riêng không hoàn toàn giống cách thể hiện trong tự sự hay kịch Ngoài những yếu tố như ngôn ngữ, giọng điệu, hình ảnh, cấu tứ, cảm xúc… thì thơ còn xây dựng nên những biểu tượng có giá trị tầm vóc thời đại, dân tộc lớn lao Nếu tự sự, kịch phản ánh đời sống chủ yếu qua những mâu thuẫn, xung đột, thì thơ ca lại thể hiện tình cảm, cảm xúc qua những hình ảnh mang ý nghĩa biểu tượng Biểu tượng thơ

ca là loại biểu tượng đa nghĩa và được xây dựng bằng ngôn từ nghệ thuật Việc giải mã các biểu tượng trong thơ là một thách đố đầy khó khan nhưng cũng hết sức thú vị, giúp ta vén một bức màn nhung bí ẩn trong thế giới tâm hồn nhà thơ

Biểu tượng thơ ca có những đặc điểm cơ bản sau:

Một là, ngôn ngữ thơ mang tính cô đọng, hàm súc và đa nghĩa Để đáp ứng nhu cầu này, việc sử dụng các biểu tượng là điều tất yếu Thông qua biểu tượng, người đọc khám phá ra những tầng ý nghĩa khác nhau Qua đó, thấy được tư tưởng, tình cảm, cảm xúc của chủ thể trữ tình

Hai là, đặc trưng của thơ luôn đòi hỏi ngôn ngữ phải giàu hình ảnh Hệ thống hình ảnh trong thơ ngoài ý nghĩa tạo hình còn có ý nghĩa biểu hiện Nhà thơ dung hình ảnh để miêu tả bức tranh đời sống và bức tranh thiên nhiên, đồng thời cũng biểu hiện tâm trạng, suy nghĩ của mình trước bức tranh hiện thực ấy Qua hệ thống hình ảnh quen thuộc, tác giả bộc lộ cách cảm, cách

Trang 25

nghĩ cuả mình, hay nói cách khác là bộc lộ kiểu tư duy độc đáo của mình Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng mặc dù biểu tượng hình thành trên cơ sở hình ảnh nhưng không phải hình ảnh nào trong thơ cũng được coi là biểu tượng

Nếu giải mã được những biểu tượng thơ ca thì chính là con đường để bạn đọc tiến gần hơn và khám phá thế giới tâm hồn hết sức phong phú và độc đáo của người nghệ sỹ

1.2 Hành trình sáng tác thơ của Nguyễn Khoa Điềm

Như rất nhiều thi sĩ khác, hành trình sáng tác của Nguyễn Khoa Điềm cũng trải qua nhiều chặng đường khác nhau, cùng những biến cố, thăng trầm của thời đại Và, ít ai biết rằng trước khi đến với thơ, Nguyễn Khoa Điềm đã từng viết ký sự “Cửa thép” – tác phẩm đầu tay của ông Nhưng có lẽ, thơ mới

là cái duyên giúp Nguyễn Khoa Điềm ghi dấu ấn của mình trong nền văn học Việt Nam hiện đại Nhìn suốt chặng đường sáng tác thơ của ông, chúng tôi nhận thấy có thể chia thành ba giai đoạn sau:

1.2.1 Giai đoạn tuổi trẻ, sinh viên

Nguyễn Khoa Điềm sinh ra trong một gia đình “danh gia vọng tộc” có truyền thống yêu nước và hiếu học Dòng họ Nguyễn Khoa vốn quê gốc ở Hải Dương, đến đời Nguyễn Khoa Đăng chuyển vào Huế Nguyễn Khoa Đăng là một ông quan nội giám có tài yên dân, được dân gian truyền tụng và ông cũng chính là ông tổ của dòng họ Nguyễn Khoa ở đất kinh kì mà Nguyễn Khoa Điềm là hậu duệ đời thứ tư Cụ nội Nguyễn Khoa Điềm từng làm chức quan

bố chánh,sau theo phong trào Cần vương rồi từ quan Ông nội nhà thơ là một nhà nho có tinh thần yêu nước, từng được bầu vào viện dân biểu Trung kì do

cụ Huỳnh Thúc Kháng làm Viện trưởng Bà nội là Nữ sử Đạm Phương, cháu nội vua Minh Mạng Cha của ông là Nguyễn Khoa Văn (tức Hải Triều), một chiến sỹ cách mạng, một nhà lí luận văn hóa Mác – xít xuất sắc đã chiến đấu

và hi sinh cho cách mạng đến hơi thở cuối cùng Sinh ra trong một gia đình

Trang 26

văn hóa và giàu truyền thống yêu nước như thế, Nguyễn Khoa Điềm chắc chắn được thừa hưởng những phẩm chất quý báu của gia đình và dòng tộc Cách mạng tháng tám bùng nổ, Huế được giải phóng, cha mẹ ông lúc đó đang bị giam cầm bởi chế độ cũ được giải cứu và sau đó tiếp tục hoạt động trong chính quyền mới Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, cha ông phải chuyển

ra Vinh Ông cùng mẹ và hai em ở lại Huế trong căn nhà nhỏ thôn Vĩ Dạ Đó

là vào khoảng những năm 1950, 1951 (cuộc sống ở những vùng quê Việt Nam khi ấy rất hỗn loạn bởi bọn tề tàn ác ngóc đầu dậy) Trong hoàn cảnh loạn lạc cơ cực ấy, cậu bé Nguyễn Khoa Điềm đã từng bước trưởng thành về

tư tưởng Vốn gia đình có truyền thống văn hóa và hiếu học nên năm 1955, ông ra Bắc học tại trường học sinh miền nam ở Đan Phượng (Hà Tây cũ), sau

đó trường chuyển về Hải Phòng Đây cũng là khoảng thời gian Nguyễn Khoa Điềm được đến nhiều vùng đất khác nhau để vừa học hỏi, vừa làm giàu thêm vốn văn hóa mà từ đó tạo nên một hồn thơ vừa giản dị, vừa phong phú và đầy triết luận ở nhà thơ sau này

Có nhiều con đường đi để mỗi cá nhân cống hiến cho tổ quốc, Nguyễn Khoa Điềm chọn cho mình con đường học tập, ông theo học trường Đại học

sư phạm lớp thí điểm hệ 3 năm Tháng 7 năm 1964, vừa kết thúc khóa học, chàng sinh viên trẻ ấy đã cùng với những người bạn của mình như Phạm Tiến Duật, Vương Trí Nhàn nhập ngũ theo tiếng gọi non sông

Thời tuổi trẻ, sinh viên như là khoảng thời gian để Nguyễn Khoa Điềm tự hoàn thiện bản thân, chuẩn bị hành trang vững vàng trước khi xông pha nơi mưa bom, bão đạn Ở thời kỳ này, ông chưa sáng tác thơ, mà dành toàn tâm, toàn trí vào các phong trào học sinh, sinh viên tại Huế, góp sức vào cuộc kháng chiến toàn dân, đặt nền móng và là điểm tựa để không bao lâu sau ông

có những vần thơ hay, hàm súc, sống động và độc đáo về quê hương, đất nước

Trang 27

1.2.2 Giai đoạn tham gia kháng chiến chống Mỹ

Vùng đất Bình - Trị - Thiên khói lửa đã giúp cho Nguyễn Khoa Điềm – chàng sinh viên khoa văn của Đại học sư phạm hôm nào trở nên vững vàng và trưởng thành hơn Một phần do trực tiếp tham gia phong trào kháng chiến, chứng kiến sự tàn khốc của kẻ thù và sự đoàn kết, quật cường của quân và dân ta Mặt khác, do lý tưởng của người Đảng viên cộng sản đã đúc kết nên một Nguyễn Khoa Điềm gần gũi với nhân dân hơn bao giờ hết

Bài thơ “Đất ngoại ô” của Nguyễn Khoa Điềm ra đời năm 1969, ngay lập

tức tác phẩm được bạn đọc đón nhận và yêu mến Ở đó, một khu phố ngoại ô nghèo, lam lũ như một biểu tượng cho làng quê, đất nước Việt Nam những năm khói lửa chiến tranh Ở đó, có những con người đời nhất, những hình ảnh đời nhất hiện nên như nó vốn có:

“Khu phố ngoại ô Tầm tã rụng bên dòng sông Những người dân nghèo về đây Như vỏ hến chiều chiều tấp nên các bến

Khu phố ngoại ô Chân đất, đội áo nối vai

Le te chợ Hôm, chợ Mai Đầu tắt mặt tối.”

(Đất ngoại ô)

Cả khung cảnh khu phố ngoại ô được hiện nên buồn tê tái, chìm dần vào quá khứ xa mờ, lấy cái không gian tĩnh lặng để tả cái biến động trong lòng khu phố nhỏ ngoại ô :

“Khu phố ngoại ô nằm nghe mưa nguồn và chớp bể Đêm thầm tính những chuyến đò về trong giấc ngủ

Trang 28

Trăn trở trôi đi những năm nào

Vỗ về một ngày lam lũ Trong tiếng nấc dài cuối ngã ba sâu”

(Đất ngoại ô) Những vần thơ đầu đượm buồn của Đất ngoại ô tác giả dành để tái hiện

Huế từ những ngày đầu thất thủ đến những ngày đen tối cảnh lầm than, nô lệ Nhưng càng về cuối bài thơ, âm hưởng lại trở nên tươi vui, với khí thế ngút trời của quân và dân ta đánh Mỹ:

“Có bao giờ như buổi sáng xuân nay Chúng ta bay, nghìn độ lửa, ta bay Đất đuổi giặc, đất vươn dài bén gót Mang Cá tan hoang, Phú Bài vỡ mặt Ngoại ô mở rồi trăm lối ta băng băng”

(Đất ngoại ô) Với những vần thơ sâu lắng, Đất ngoại ô đã đi vào lòng người đọc như

một bản giao hưởng trầm buồn mà bi tráng của Huế những ngày chống Mỹ

Sau thành công của Đất ngoại ô, Nguyễn Khoa Điềm tiếp tục sáng tác Người con gái chằm nón bài thơ, Con chim thời gian… như để tiếp nối cho

mạch thơ về quê hương, đất nước trong kháng chiến chống Mỹ

Hình ảnh “người con gái chằm nón” của Huế đã gợi một nét rất riêng về quê hương trong lòng thi sỹ Với ông, hình ảnh ấy chính là hình ảnh của quê hương, xứ sở Một bức tranh yên bình, tĩnh lặng và đong đầy nhớ thương, hoài niệm:

“Ôi cả đôi tay rất đẹp lành

Làm nên êm mát những trưa hanh

Bài thơ nho nhỏ in màu trắng

Dọi xuống hồn ai những khoảng xanh

Trang 29

Ôi nón bài thơ của xứ nhà

Có bàn tay nhỏ nở như hoa

Có thành phố cổ màu mưa nắng

Bóng nón đi về them thiết tha”

(Người con gái chằm nón bài thơ)

Khi cả nước cùng xông pha ra mặt trận, cô gái Huế ngày nào cũng trở thành những chiến sỹ, những anh hùng:

“Nhưng giặc về kia, đạp gẫy vành

Nón in màu máu những dân lành

Em đi…Cùng với bao bè bạn,

Bảo vệ quê nhà với chú, anh”

(Người con gái chằm nón bài thơ) Năm 1972, tập thơ đầu tiên Đất ngoại ô ra đời, đánh dấu một bước ngoặt

quan trọng trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Khoa Điềm Những vần thơ đầu ông viết về chính tuổi trẻ của mình, viết về đồng đội và nhân dân những năm tháng chiến tranh đã để lại trong lòng người đọc dấu ấn khó phai Người ta bắt đầu biết đến thơ Nguyễn Khoa Điềm với những vần thơ mộc mạc hàm chứa một vẻ đẹp giản dị, trong trẻo Nói như Vũ Văn Sỹ, “Đó là một tứ thơ trữ tình thấm đẫm chất men say khát vọng và hành động Thứ thơ giàu chất sử thi của một thời.” [40.Tr.289] Thế rồi, một thời khói lửa vùng Bình – Trị - Thiên đã khơi nguồn cho nhà thơ những cảm xúc, những suy tư sâu xa về trách nhiệm của thế hệ trẻ trước sự sống còn của Tổ quốc Tình yêu Tổ quốc trở thành ngọn lửa sưởi ấm trong tim mỗi người Nó trở thành sợi dây kết nối những trái tim tuổi trẻ, khiến họ trở nên gắn bó, yêu thương và đùm bọc nhau hơn:

“Bếp lửa quây quần mấy anh em

Không ai nhìn ai, chúng tôi nhìn lửa

Trang 30

Ở đó cháy cùng ý nghĩ

Và tỏa hồng trên mỗi trán say mê

Bỗng thấy thương nhau hơn khi vai bạn sát vai mình

Bẻ củ sắn chia đôi điều giản dị

Bếp lửa soi một dư vang bền bỉ

Ôi Trường Sơn đốt lửa mấy năm trời…”

(Bếp lửa rừng)

Cùng với Hữu Thỉnh, Thanh Thảo, Xuân Quỳnh, Lâm Thị Mỹ Dạ, Phan Thị Thanh Nhàn….Nguyễn Khoa Điềm đã góp một tiếng nói quan trọng làm nên âm hưởng của thơ ca kháng chiến chống Mỹ, và trở thành ngòi bút được chú ý của đông đảo độc giả

Không dừng lại ở đó, tập thơ đầu tay như là động lực để Nguyễn Khoa Điềm tiếp tục viết nên những tác phẩm có giá trị, thực sự có chiều sâu văn

hóa, tư tưởng khi nói về đất nước Và “Mặt đường khát vọng” (1974) như

một hiện tượng của thơ ca chống Mỹ Tác phẩm được triển khai trên một bình diện mới: Quá trình đến với cách mạng của tuổi trẻ miền Nam Trường ca thể hiện sự từng trải, tư duy đậm chất trí tuệ, gửi gắm bao suy tư về dân tộc, đất

nước Với 9 chương, “Mặt đường khát vọng” thực sự là tiếng gọi tuổi trẻ đô

thị vùng địch tạm chiếm xuống đường đấu tranh vì Tổ quốc thân yêu, vì những truyền thống tốt đẹp mà cha ông đã dày công xây dựng, vì cả những con người vô danh trong quá khứ:

"Họ đã sống và chết Giản dị và bình tâm Không ai nhớ mặt đặt tên Nhưng họ đã làm ra Đất Nước"

(Mặt đường khát vọng)

Trang 31

Đúng với cái tên “Lời chào” của chương mở đầu, mỗi chúng ta đều tìm

thấy mình trong mỗi vần thơ ấy với màu áo học trò, màu mực tím, nét chữ, bạn bè, thầy cô, lớp học, sân trường… nối nhau hiện về đong đầy kỷ niệm:

“Ta đã đi qua những năm tháng không ngờ

Vô tư quá để bây giờ xao xuyến Bèo lục bình mênh mang màu mực tím Nét chữ thiếu thời trôi nhanh như dòng sông

Ta lớn lên bối rối một sắc hồng Phượng cứ nở hoài như đếm tuổi Nhưng chiều nay, một buổi chiều dữ dội

Ta nhận ra mình đang lớn khôn…”

(Mặt đường khát vọng)

Những “buổi chiều dữ dội” ập đến trên quê hương khi bóng giặc Mỹ bao trùm muôn nẻo Chúng tước đi sự thanh bình, hạnh phúc và đem lại chết chóc với đau thương bằng những thủ đoạn, những chiến lược bạo tàn:

“Mượn những công trình của máy tính, vi phân Chúng phân tích máu xương ta thành tỷ lệ Uốn công lý quăn queo thành thước kẻ Rồi viết nên những định luật Việt Nam Làm tiền đề cho tàn bạo thế gian…”

(Mặt đường khát vọng)

Chính hiện thực đau buồn ấy đã khiến cho những ai đã và đang trải qua không khỏi quặn lòng trước những mảnh đời cơ cực, những số phận bị rập vùi

và mất tự do Tất cả khiến cho trái tim của mỗi người con đất Việt nhói đau,

tê tái, khiến cho “Tuổi trẻ không yên”:

Trang 32

“25 năm chưa qua thời trai trẻ

Ta soi gương, tái mặt Này tóc, này râu, nấu cơm, bồng trẻ

Để mẹ làm thuê, tối mặt tối mày

Để em đi làm cho Mỹ vuốt má

Để cha đi làm, ho trong hai tay Chúng ta chưa qua một thời trai trẻ Nên ta phải ở nơi gián ở

Nên đeo gương cho cận thị suốt đời…”

(Mặt đường khát vọng)

Nếu nói về kẻ thù với một giọng căm hờn, tức giận thì khi nhắc đến nhân dân, đất nước, Nguyễn Khoa Điềm lại một giọng thơ ngọt ngào, tin tưởng và đầy tự hào Đó là âm hưởng của chương “Đất Nước” Ông đưa ta về cội nguồn đất nước với những câu chuyện cổ, những truyền thuyết, những ca dao…Và, lạ lùng thay những vần thơ ấy khiến cho cả một thế hệ, một thời đại như bừng tỉnh sau một cơn mê dài đằng đẵng Cái âm hưởng tư hào, ngợi ca,

cổ vũ tinh thần đoàn kết và đấu tranh của dân tộc nói chung, thế hệ trẻ nói riêng xuống đường đấu tranh đòi công lý:

“Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi

Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa…” mẹ thường

hay kể

Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn

Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc

Tóc mẹ thì bới sau đầu

Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn

Cái kèo, cái cột thành tên

Trang 33

Hạt gạo phải một nắng hai sương, xay, giã, giần, sang

Đất Nước có từ ngày đó…”

(Mặt đường khát vọng)

Tư tưởng gần gũi với nhân dân, ca ngợi nhân dân ta cũng thường thấy trong thơ ca Nhưng Nguyễn Khoa Điềm có một hướng đi riêng chính điều đó

đã khiến gương mặt nhà thơ không bị hòa lẫn cùng thời đại:

“Để Đất Nước này là Đất Nước nhân dân

Đất Nước của nhân dân của ca dao, thần thoại”

(Mặt đường khát vọng)

Với một “chất giọng ru vỗ ngọt ngào” [8.tr.225], Nguyễn Khoa Diềm đã đưa đất nước về với ca dao, dân ca về với chất liệu văn hóa dân gian, về với cội nguồn của dân tộc Vì thế “Mặt đường khát vọng” trở nên gần gũi, thân thuộc như hơi thở, cuộc sống của chúng ta Và ở một chừng mực nào đó, Nguyễn Khoa Điềm đã quy tụ Đất nước – Dân tộc – Nhân dân về một mối Biết tìm về dân, dựa vào dân, tin tưởng vào nhân dân là một chân lý không phải ai cũng dễ gì nhận ra Suy nghĩ ấy biễn thành hành động kêu gọi thế hệ trẻ hôm nay hãy trở về với nhân dân trong cuộc đấu tranh vĩ đại này:

“Hãy ngã xuống tay Nhân dân, hỡi sắc vàng của nắng

Hỡi hương thơm của nồng mặn mồ hôi…

Hãy ngã vào tay Nhân dân, đừng vãi, đừng rơi

Đừng do dự, đừng hoài nghi nữa

Hãy yêu Nhân dân và nghe Người nhắn nhủ

Hãy tìm sức mạnh mình trên cơ thể Nhân dân”

(Mặt đường khát vọng) Các chương Áo trắng và mặt đường, Xuống đường, Báo bão mang cái âm

hưởng hào hùng của thời đại, cái sục sôi, háo hức mà quyết liệt trong những năm tháng đấu tranh trực diện với kẻ thù:

Trang 34

“Thành phố hồi sinh trên khắp mặt đường

Người xô cửa, nhập với người, tiến bước

Những người thợ một đời cầm gang sắt

Những mẹ nghèo buôn thúng bán bưng

Những nông dân bị cướp ruộng, mất làng

Những trí thức đau một thời chữ nghĩa

Em bé bán giày, bậc tu hành cứu khổ

Đổ xuống đường vì hạnh phúc, tự do…”

(Mặt đường khát vọng) Mặt đường khát vọng không chỉ dừng lại ở việc tái hiện một phong

trào đấu tranh của học sinh, sinh viên thành thị miền Nam Từ hiện thực ấy, nhà thơ đã vươn tới những khái quát lớn hơn về cả một thế hệ, một con đường của tuổi trẻ miền Nam, những suy nghiệm về nhân dân và đất nước, về cuộc chiến đấu chống Mỹ vừa qua Mặt khác, chính những khái quát, những vấn đề lớn ấy mà nhận thức, khám phá một hiện thực cụ thể là phong trào đấu tranh của thanh niên thành thị miền Nam Sự tài tình của Nguyễn Khoa Điềm là ở chỗ cái hiện thực cụ thể bao giờ cũng được đặt trong mối tương quan với hàng loạt những vấn đề bao trùm hơn, lớn lao hơn của thời đại, của lịch sử Chính sự sâu sắc, cách suy nghĩ có tính chất biện chứng này có thể xem như một xu hướng và cũng là một thế mạnh của Nguyễn Khoa Điềm

Có thể nói Mặt đường khát vọng là một thành công mới của Nguyễn

Khoa Điềm Qua hơn chục năm cầm bút, thời gian không phải là nhiều nhưng ngòi bút của ông vẫn xử lý một cách chủ động Trên một nền hiện thực mới cộng với sự liên tưởng phong phú, cách sử dụng ngôn từ bạo dạn, phóng túng,

vốn là một điểm mạnh của Đất ngoại ô, lại được tiếp tục phát huy trong "Mặt

đường khát vọng"

Trang 35

Những năm tháng chiến tranh đầy ác liệt lại chính là miền đất để Nguyễn Khoa Điềm vun trồng, chăm sóc và thu hoạch những mùa quả thơ trĩu nặng cành Thơ của ông được nhiều bạn đọc yêu mến và cũng có những

tác phẩm được chọn giảng dạy trong chương trình phổ thong như Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ, Đất Nước (trích trường ca Mặt đường khát vọng) Và chúng ta tự hào khi trong đội ngũ những nhà văn, nhà thơ tham gia

kháng chiến chống Mỹ có gương mặt Nguyễn Khoa Điềm

Khi đất nước được hòa bình và thống nhất, những năm tháng chiến tranh lùi vào dĩ vãng, Nguyễn Khoa Điềm bận bịu nhiều hơn với việc nước chốn quan trường Ông viết chậm lại và sáng tác ít hơn Nhưng không vì thế

mà cái tên Nguyễn Khoa Điềm bị quên lãng trên thi đàn Trái lại, nó chỉ là khoảng lặng để ông nhìn đời, nhìn đất nước chân thực hơn với nhiều suy tư tình cảm sâu sắc hơn Bạn đọc chờ đợi một giai đoạn sáng tác mới trên đường đời của nhà thơ

1.2.3 Giai đoạn sau kháng chiến chống Mỹ

Chiến tranh qua đi, vừa từ giã với súng đạn, đau thương, cả nước vui ca trong niềm vui chiến thắng Nhưng lịch sử cũng trao cho chúng ta sứ mệnh mới: hàn gắn vết thương chiến tranh và xây dựng đất nước về kinh tế, chính trị, văn hóa Nguyễn Khoa Điềm được giao nhiều trọng trách với những cương vị: Thứ trưởng rồi bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin, Tổng thư ký ban chấp hành Hội Nhà văn khóa V, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương… Có lẽ vì vậy mà những sáng tác của nhà thơ ít đi Tuy vậy, vào năm 1986, ông vẫn cho ra đời tập thơ

Ngôi nhà có ngọn lửa ấm Những vầng hào quang chiến thắng, dư âm của bản

anh hùng ca vẫn còn tơi rói, song những mất mát của cuộc chiến bắt đầu thấm đến những tế bào của xã hội Bây giờ, người ta mới cảm nhận hết nỗi đau, di

Trang 36

chứng khốc liệt của cuộc chiến Chính vì thế nhiều giá trị tinh thần của cộng đồng có sự bổ sung và chuyển đổi Cảm hứng sử thi về hiện thực vơi đi Thơ Nguyễn Khoa Điềm cũng nằm trong dòng chảy đó Nhà thơ buộc phải đi tìm một giọng thơ thích hợp để nói những điều bình thường, nhân tình thế thái không gân guốc và hoa mỹ

ở tập thơ Ngôi nhà có ngọn lửa ấm, từ ngôi nhà tinh thần chung - một

ẩn dụ giàu chất sử thi, nhà thơ trở lại ngôi nhà riêng của mình, nơi có ngọn lửa ấm thắp lên hạnh phúc để đối mặt với những nhọc nhằn không thể lẩn

" Đã mùa thu Đêm cha quạt cho con chút lửa Đặt ấm chỗ con nằm

Trở giấc, lại ngồi lại quạt Những hòn than lấp lánh lim dim"

Cuộc sống bao nỗi lo âu, bươn trải nhưng với Nguyễn Khoa Điềm, đứa trẻ ấy vẫn được chào đời giữa ngôi nhà có ngọn lửa ấm, đó là một niềm hạnh phúc không có gì đánh đổi được

Trang 37

Ở tập thơ này, bên cạnh những trang phản ánh cuộc sống hiện tại nhà thơ vẫn dành nhiều khoảng lặng để phản ánh thế giới tình cảm bên trong của mình:

“Bạn ơi, bạn có nhớ Một ngày mưa thác đổ Cùng đi hái rau rừng…

Dìu nhau trong cơn đói Hai đứa mình mết mê”

(Những bài thơ tình viết trong chiến tranh)

Đôi lúc đó là tâm trạng lo lắng, sợ hãi của một người con cảm thấy chưa làm được gì nhiều để đền đáp công lao sinh thành dưỡng dục của người

mẹ ông đã từng ví mình như một thứ quả trên cây, nhưng nó không phải như những thứ quả mẹ trồng mau đến ngày chín đỏ mà là thứ quả mẹ chăm bẵm

cả đời không biết mệt mỏi, không tính toán thiệt hơn và luôn đợi chờ ở đó niềm hy vọng:

" Và chúng tôi, một thứ quả trên đời Bảy mươi tuổi mẹ đợi chờ được hái Tôi hoảng sợ ngày bàn tay mẹ mỏi Mình vẫn còn một thứ quả non xanh "

Trang 38

(Mẹ và quả)

Có khi ta gặp những suy tư của một người từng trải khi nhìn vào một hình ảnh quen thuộc, có khi rất đỗi bình thường:

"Buổi chiều Tôi thích ngắm những ngời đi bộ chậm rãi Trước mặt họ, không nung nấu sự trễ nãi Sau lưng họ không đeo đẳng nỗi lo âu Hoặc họ đầy dự trữ, hoặc họ cháy túi "

(Cảm nhận cuối ngày)

Ta dễ dàng nhận thấy ở tập thơ này cảm xúc của Nguyễn Khoa Điềm

đã lắng lại, trở nên đằm thắm, suy tư hơn Đôi lúc những suy nghĩ, tưởng tượng của ông thật kỳ lạ, nó làm cho người đọc sững sờ trước lối tư duy mới

mẻ đó:

" Trên khối đá của từ ngữ Anh đục đẽo khuôn mặt của đời anh dầu dãi Mọc lên sau cánh rừng ngun ngút ngữ ngôn

Cái phút khối điêu khắc định hình

Là cái phút tung bay từng mảnh vụn Mỗi chữ chìm sâu một cuộc đời thường "

( Trên khối đá của từ ngữ )

Với những suy nghĩ mới mẻ, những tìm kiếm khác lạ để thể hiện thế giới tâm hồn của mình, Nguyễn Khoa Điềm đã tạo nên một dấu ấn riêng trong giọng thơ, chất thơ Điều đó cũng lý giải cho bạn đọc hiểu thêm về một phong cách thơ giàu chất suy tưởng, giàu cảm xúc, có sự kết hợp hài hoà giữa yếu tố hiện thức và lãng mạn, vốn sống trực tiếp và vốn sống văn hoá Và

điều đó không dễ cây bút nào cũng đạt được Với tập thơ "Ngụi nhà cú ngọn lửa ấm", Nguyễn Khoa Điềm đã nhận được giải thưởng của hội nhà văn Việt

Trang 39

Nam "Tập thơ này của anh quá ít những đền đài trang nghiêm óng ả nhưng

ấm áp nặng chắc, gợi nhiều nghĩ ngợi về cái lẽ sống, lẽ chết của chúng ta, cái hạnh phúc đích thực của cuộc sống" [35.Tr.56]

Thơ phải góp phần làm đẹp tâm hồn Sau hơn bốn mươi năm vừa đảm nhận những chức vụ quan trọng trong bộ máy lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, vừa cầm bút, Nguyễn Khoa Điềm đã đóng góp cho nền thơ ca nước nhà

một thành tựu đáng kể Đất ngoại ô, Mặt đường khát vọng, Ngôi nhà có ngọn lửa ấm đã giúp ông nhận được giải thưởng Nhà nước về Văn học – Nghệ thuật Đất Nước (Trích Trường ca Mặt đường khát vọng) và Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ được tuyển chọn đưa vào sách Ngữ văn giảng

dạy trong nhà trường Cho đến hôm nay, trở về với Huế sống một cuộc đời tĩnh lặng, hành trang chỉ có “ Một mình, một ba lô, xe đạp” để được sống

đúng với tâm hồn mình “Bây giờ gió gọi anh đi”

Trang 40

Chương 2: CÁC LOẠI BIỂU TƯỢNG VỀ ĐẤT NƯỚC TRONG THƠ

NGUYỄN KHOA ĐIỀM

Theo Jean Chevalier trong Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, trong

lịch sử nghiên cứu, các nhà khoa học đã đề xuất nhiều cách phân loại biểu tượng A.H Krappe phân biệt các biểu tượng căn cứ vào sự liên quan đến các mẫu gốc như trời hoặc đất Mireca Eliade phân biệt biểu tượng không gian và thời gian Gilbert Dururand phân biệt biểu tượng căn cứ vào hai cấp độ liên

quan là ngày và đêm Nghiên cứu Biểu tượng về đất nước trong thơ Nguyễn Khoa Điềm, chúng tôi nhận thấy về cơ bản thệ thống biểu tượng được xây

dựng trên cơ sở liên quan đến những đặc điểm lớn, có tính bao quát của đất nước, như: đất nước là nơi cư trú của nhân dân, dân tộc; đất nước có truyền thống lịch sử văn hóa; đất nước có những con người - người con dũng cảm, kiên cường, cần cù lao động, nghĩa tình

Căn cứ vào đó, có thể nhận diện Biểu tượng về đất nước trong thơ Nguyễn Khoa Điềm qua các loại sau đây:

2.1 Biểu tượng về đất nước - nơi cư trú

2.1.1 Biểu tượng thôn, làng, bản

Làng quê vốn là đề tài quen thuộc trong văn chương từ xưa cho đến nay

Từ trong ca dao, dân ca, hình ảnh đất nước hiện ra gắn liền với làng quê, thôn bản, từ cánh đồng lúa chín, cánh cò bay lả, đến những giếng nước, gốc đa, những người nông dân cần cù chịu khó…Trong văn học cận đại, thôn làng gắn liền với những ao thu, con sóng, lá vàng Tất cả làm nên bức tranh quê thanh bình yên ả:

“Ao thu lạnh lẽo nước trong veo Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo Sóng biếc theo làn hơi gợn tí

Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo

Ngày đăng: 27/06/2017, 15:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Vũ tuấn Anh (1988), Nguyễn Khoa Điềm với tập thơ Ngôi nhà có ngọn lửa ấm, Văn học (4) Trang 20 – 23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Khoa Điềm với tập thơ Ngôi nhà có ngọn lửa ấm
Tác giả: Vũ tuấn Anh
Năm: 1988
[2]. Vũ Tuấn Anh (1997), Nửa thế kỷ thơ Việt Nam 1945-1975, Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nửa thế kỷ thơ Việt Nam 1945-1975
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1997
[3]. Aristote (1992), Nghệ thuật thi ca, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật thi ca
Tác giả: Aristote
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1992
[4]. Lại Nguyên Ân (1999), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1999
[6]. J.Chevalier, A. Gheerbrant (2002), Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới
Tác giả: J.Chevalier, A. Gheerbrant
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2002
[7]. Nguyễn Phan Cảnh (2001), Ngôn ngữ thơ, Nxb Văn hoá Thông tin, HN [8]. M.B Khrapchenko (1978), Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự pháttriển văn học, Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ, "Nxb Văn hoá Thông tin, HN [8]. M.B Khrapchenko (1978), "Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát "triển văn học
Tác giả: Nguyễn Phan Cảnh (2001), Ngôn ngữ thơ, Nxb Văn hoá Thông tin, HN [8]. M.B Khrapchenko
Nhà XB: Nxb Văn hoá Thông tin
Năm: 1978
[11]. Nguyễn Đăng Điệp (2014), Thơ Việt Nam hiện đại Tiến trình và hiện tượng, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Việt Nam hiện đại Tiến trình và hiện tượng
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2014
[12]. Nguyễn Khoa Điềm (1972), Đất ngoại ô, Nxb Giải phóng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất ngoại ô
Tác giả: Nguyễn Khoa Điềm
Nhà XB: Nxb Giải phóng
Năm: 1972
[13]. Nguyễn Khoa Điềm (1974), Mặt đường khát vọng, Nxb Giải phóng [14]. Nguyễn Khoa Điềm (1986), Ngôi nhà có ngọn lửa ấm, Nxb Tác phẩmmới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mặt đường khát vọng", Nxb Giải phóng [14]. Nguyễn Khoa Điềm (1986), "Ngôi nhà có ngọn lửa ấm
Tác giả: Nguyễn Khoa Điềm (1974), Mặt đường khát vọng, Nxb Giải phóng [14]. Nguyễn Khoa Điềm
Nhà XB: Nxb Giải phóng [14]. Nguyễn Khoa Điềm (1986)
Năm: 1986
[15]. Nguyễn Khoa Điềm Thơ tuyển (2013), Nxb Hội Nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Khoa Điềm Thơ tuyển
Tác giả: Nguyễn Khoa Điềm Thơ tuyển
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2013
[16]. Hà Minh Đức (1974), Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1974
[17]. Hà Minh Đức (1977), Thực tiễn cách mạng và sáng tạo thi ca, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực tiễn cách mạng và sáng tạo thi ca
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1977
[18]. Hà Minh Đức (1998), Nhà văn nói về tác phẩm, Nxb Văn học, HN [19]. Hà Minh Đức (1999), Lý luận văn học, Nxb Giáo dục, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn nói về tác phẩm
Tác giả: Hà Minh Đức (1998), Nhà văn nói về tác phẩm, Nxb Văn học, HN [19]. Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1999
[20]. M. Gorky (1965), Bàn về Văn học, tập 1, Nxb Văn học, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về Văn học
Tác giả: M. Gorky
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1965
[21]. Phan Thị Hương Giang (2006), Thế giới nghệ thuật thơ Nguyễn Khoa Điềm, Luận văn Thạc Sỹ Ngữ Văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế giới nghệ thuật thơ Nguyễn Khoa Điềm
Tác giả: Phan Thị Hương Giang
Năm: 2006
[22]. Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) (1997), Từ điển thuật ngữ Văn học, Nxb ĐHQG Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ Văn học
Tác giả: Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb ĐHQG Hà Nội
Năm: 1997
[23]. Nguyễn Trọng Hoàn – Ngô Thị Bích Hương (1999), Nhà văn và tác phẩm văn học trong nhà trường (về Viễn Phương, Thanh Hải, Nguyễn Khoa Điềm), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn và tác phẩm văn học trong nhà trường (về Viễn Phương, Thanh Hải, Nguyễn Khoa Điềm)
Tác giả: Nguyễn Trọng Hoàn – Ngô Thị Bích Hương
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
[24]. Nguyễn Văn Long (1975), Nguyễn Khoa Điềm với Mặt đường khát vọng, Tạp chí Văn nghệ Quân đội (số 4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Khoa Điềm với Mặt đường khát vọng
Tác giả: Nguyễn Văn Long
Năm: 1975
[25]. Tôn Phương Lan (1976), Nguyễn Khoa Điềm – nhà thơ trẻ có nhiều triển vọng, Tạp chí Văn học, Số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Khoa Điềm – nhà thơ trẻ có nhiều triển vọng
Tác giả: Tôn Phương Lan
Năm: 1976
[26]. Nguyễn Thị Thuý Lan (2015), Hình tượng đất nước trong thơ Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975, Luận văn thạc sỹ Ngôn ngữ và Văn hoá Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình tượng đất nước trong thơ Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975
Tác giả: Nguyễn Thị Thuý Lan
Năm: 2015

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w