1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Niềm tin tôn giáo của tín đồ phật giáo hòa hảo

218 756 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 218
Dung lượng 2,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phương pháp luận: Nghiên cứu niềm tin tôn giáo của các tín độ PGHH dựa trên các nguyên tắc phương pháp luận sau: - Nguyên tắc hoạt động: Niềm tin tôn giáo được hình thành và phát triển

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN MINH CHÂU

NIỀM TIN TÔN GIÁO CỦA TÍN ĐỒ

PHẬT GIÁO HÒA HẢO

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÂM LÝ HỌC

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN MINH CHÂU

NIỀM TIN TÔN GIÁO CỦA TÍN ĐỒ

PHẬT GIÁO HÒA HẢO

Chuyên ngành: Tâm lý học chuyên ngành

Mã số: 62310401

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÂM LÝ HỌC

Người hướng dẫn khoa học: 1 GS.TS Vũ Dũng

2 PGS.TS Nguyễn Khắc Hùng

HÀ NỘI - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực và chưa ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận án

Nguyễn Minh Châu

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo Học viện Khoa học Xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam; Phòng Đào tạo; Khoa Tâm lý học - Học viện Khoa học Xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam; Viện Tâm lý học - Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam và các nhà khoa học đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành công trình nghiên cứu

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến GS,TS Vũ Dũng, PGS,TS

Nguyễn Khắc Hùng, những người hướng dẫn khoa học đã tận tình chỉ dẫn, giúp

đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận án

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Trường Đại học An ninh nhân dân; Ban Trị sự PGHH các cấp; Ban Tôn giáo, Cơ quan Công an các tỉnh An Giang, Cần Thơ, Đồng Tháp; Chức việc và tín đồ PGHH trên địa bàn các tỉnh An Giang, Cần Thơ, Đồng Tháp đã động viên, tạo điều kiện để tôi hoàn thành luận án

Tôi cũng xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến gia đình, người thân, các bạn đồng nghiệp, những người luôn động viên, khuyến khích và giúp đỡ về mọi mặt

để tôi có thể hoàn thành công việc nghiên cứu của mình

Hà Nội, tháng 4 năm 2017

Tác giả luận án

Nguyễn Minh Châu

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 6

1.1 Những công trình nghiên cứu về niềm tin tôn giáo 6

1.2 Những công trình nghiên cứu về Phật giáo Hòa Hảo 13

1.3 Những công trình nghiên cứu về tâm lý tín đồ Phật giáo Hòa Hảo 16

Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NIỀM TIN TÔN GIÁO CỦA TÍN ĐỒPHẬT GIÁO HÒA HẢO 19

2.1 Các khái niệm cơ bản 19

2.2 Biểu hiện niềm tin tôn giáo của tín đồ Phật giáo Hòa Hảo 36

2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến niềm tin tôn giáo của tín đồ Phật giáo Hòa Hảo 45 Chương 3 TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 64

3.1 Nghiên cứu lý luận 64

3.2 Nghiên cứu thực tiễn 65

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN VỀ NIỀM TIN TÔN GIÁO CỦA TÍN ĐỒ PHẬT GIÁO HÒA HẢO 75

4.1 Thực trạng niềm tin tôn giáo của tín đồ phật giáo Hòa Hảo 75

4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến niềm tin tôn giáo của tín đồ 118

4.3 Phân tích một số chân dung điển hình 130

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 143

1 Kết luận 143

2 Kiến nghị 144

Trang 6

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 4.1 Đánh giá chung về niềm tin tôn giáo của tín đồ 75

Bảng 4.2 Niềm tin của tín đồ đối với Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ 77

Bảng 4.3 Niềm tin của tín đồ đối với thế giới khác 79

Bảng 4.4 Niềm tin của tín đồ đối với Sấm giảng giáo lý 82

Bảng 4.5 Niềm tin của tín đồ đối với đội ngũ chức việc 85

Bảng 4.6 Mức độ niềm tin của tín đồ đối với Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ 88

Bảng 4.7 Mức độ niềm tin đối với Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ theo giới tính 89

Bảng 4.8 Mức độ niềm tin đối với Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ theo độ tuổi 90

Bảng 4.9 Mức độ niềm tin đối với Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ theo địa bàn cư trú 91

Bảng 4.10 Mức độ niềm tin đối với Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ theo trình độ học vấn 91

Bảng 4.11 Mức độ niềm tin của tín đồ đối với Cõi Niết bàn 94

Bảng 4.12 Mức độ niềm tin của tín đồ đối với Địa ngục 95

Bảng 4.13 Mức độ niềm tin của tín đồ đối với ngày Phán xét 97

Bảng 4.14 Mức độ niềm tin đối với thế giới khác theo giới tính 98

Bảng 4.15 Mức độ niềm tin đối với thế giới khác theo độ tuổi 99

Bảng 4.16 Mức độ niềm tin đối với thế giới khác theo địa bàn cư trú 101

Bảng 4.17 Mức độ niềm tin đối với thế giới khác theo trình độ học vấn 102

Bảng 4.18 Mức độ ảnh hưởng của thế giới khác đến cuộc sống tín đồ 103

Bảng 4.19 Nhận thức của tín đồ đối với nội dung cơ bản của Sấm giảng giáo lý 105

Bảng 4.20 Mức độ niềm tin của tín đồ đối với Sấm giảng giáo lý 107

Bảng 4.21 Mức độ niềm tin đối với Sấm giảng giáo lý theo giới tính 108

Bảng 4.22 Mức độ niềm tin đối với Sấm giảng giáo lý theo độ tuổi 109

Bảng 4.23 Mức độ niềm tin đối với Sấm giảng giáo lý theo địa bàn cư trú 109

Bảng 4.24 Mức độ niềm tin đối với Sấm giảng giáo lý theo trình độ học vấn 110

Bảng 4.25 Mức độ ảnh hưởng của Sấm giảng giáo lý đến cuộc sống tín đồ 111

Bảng 4.26 Mức độ niềm tin của tín đồ đối với đội ngũ chức việc 112

Bảng 4.27 Mức độ niềm tin đối với đội ngũ chức việc theo giới tính 113

Bảng 4.28 Mức độ niềm tin đối với đội ngũ chức việc theo độ tuổi 114

Bảng 4.29 Mức độ niềm tin đối với đội ngũ chức việc theo địa bàn cư trú 115

Bảng 4.30 Mức độ niềm tin đối với đội ngũ chức việc theo trình độ học vấn 115

Trang 8

Bảng 4.31 Các yếu tố ảnh hưởng đến niềm tin vào Giáo chủ 118

Bảng 4.32 Các yếu tố ảnh hưởng đến niềm tin vào thế giới khác 120

Bảng 4.33 Các yếu tố ảnh hưởng đến niềm tin vào Sấm giảng giáo lý 123

Bảng 4.34 Các yếu tố ảnh hưởng đến niềm tin vào đội ngũ chức việc 125

Bảng 4.35 Tương quan giữa hoàn cảnh kinh tế và mức độ niềm tin vào thế giới khác 128

Bảng 4.36 Hệ số hồi quy giữa hoàn cảnh kinh tế và mức độ niềm tin vào thế giới khác 128

Bảng 4.37 Tương quan giữa trình độ học vấn và mức độ niềm tin vào thế giới khác 129

Bảng 4.38 Hệ số hồi quy giữa trình độ học vấn và mức độ niềm tin vào thế giới khác 129

Bảng 4.39 Khái quát các chân dung điển hình 140

Trang 9

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

Sơ đồ 2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến niềm tin tôn giáo của tín đồ PGHH 62

Biểu đồ 4.1 Thời điểm thể hiện niềm tin vào Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ 92

Biểu đồ 4.2 Thời điểm thể hiện niềm tin vào thế giới khác 104

Biểu đồ 4.3 Thời điểm thể hiện niềm tin vào đội ngũ chức việc 116

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thứ nhất, niềm tin tôn giáo là mặt trung tâm trong cấu trúc tâm lý và chi phối các biểu hiện tâm lý khác của tín đồ tôn giáo Một cá nhân không thể đến với tôn giáo hoặc trở thành tín đồ của một tôn giáo nếu thiếu hoặc không có niềm tin tôn giáo Thực tế, niềm tin tôn giáo có sức ảnh hưởng rất lớn đến tín đồ trong việc tự giác thực hiện giáo lý, giáo luật, tu dưỡng đạo đức tôn giáo, làm lành, tích thiện… Song, niềm tin tôn giáo cũng có thể dẫn tín đồ đến các biểu hiện mê tín

dị đoan, tư tưởng an phận, hoặc thậm chí có những hành động mang tính chất cuồng tín, cực đoan gây nguy hại cho xã hội, cộng đồng Theo đó, việc nghiên cứu về tôn giáo, tín đồ tôn giáo không thể tách rời việc nghiên cứu niềm tin tôn giáo của họ Hơn nữa, ở Việt Nam, vấn đề tôn giáo tuy đã được nhiều khoa học quan tâm nghiên cứu, song từ góc độ tâm lý học tôn giáo thì các nghiên cứu còn khá mới mẻ và ít về số lượng Điều này làm hạn chế hiểu biết về bản chất của các tôn giáo Do vậy, dưới góc độ lý luận, việc nghiên cứu về niềm tin tôn giáo là hết sức cần thiết

Thứ hai, PGHH là một tôn giáo nội sinh do ông Huỳnh Phú Sổ khởi xướng vào năm 1939 tại làng Hòa Hảo, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc (nay là huyện Phú Tân, tỉnh An Giang) Sau đó, PGHH được truyền bá và phát triển mạnh mẽ ở các tỉnh miền Tây Nam bộ Đến nay với khoảng 1.433.252 tín đồ, PGHH được xếp hạng thứ 4 trong các tôn giáo lớn ở Việt Nam (sau Phật giáo, Công giáo và đạo Cao Đài) [5] Mặc dù trong quá khứ có những giai đoạn, PGHH từng bị các thế lực đế quốc, thực dân thao túng nhưng nhìn chung tín đồ PGHH luôn có lòng

tự hào dân tộc, tinh thần yêu nước và ý chí đấu tranh quật cường Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước, người nông dân tín đồ PGHH

đã không ngại khó khăn, gian khổ, đóng góp tích cực sức người, sức của cho sự thành công của cách mạng Tháng 5/1999, việc Nhà nước ta chính thức công nhận tư cách pháp nhân, cho phép PGHH tiến hành Đại hội đại biểu toàn đạo đã làm cho tín đồ PGHH thêm phấn khởi, tin tưởng vào Đảng, Nhà nước, vào đường

Trang 11

hướng hành đạo “vì đạo pháp, vì dân tộc” Theo đó, tín đồ PGHH đã có những đóng góp to lớn cho sự phát triển kinh tế xã hội của khu vực nói riêng, đất nước nói chung, nổi bật là các hoạt động xã hội, công ích, và từ thiện Để có được những kết quả này đa phần xuất phát từ niềm tin tôn giáo của tín đồ PGHH Chính niềm tin vào Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ, niềm tin vào Sấm giảng giáo lý đã thôi thúc tín đồ PGHH làm thiện, tích đức nhằm thực hiện tứ ân Tuy nhiên, niềm tin tôn giáo cũng làm cho một bộ phận tín đồ PGHH còn biểu hiện an phận, mê tín dị đoan, hoặc thậm chí dễ bị kẻ xấu kích động thực hiện những hoạt động mang tính cuồng tín, ảnh hưởng đến an ninh trật tự Do vậy, nghiên cứu về PGHH nói chung và niềm tin tôn giáo của tín đồ PGHH nói riêng nhằm phát huy giá trị tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực trong niềm tin tôn giáo của tín đồ PGHH là vấn đề có tính cấp thiết

Thứ ba, do ý nghĩa quan trọng của PGHH đối với sự ổn định, phát triển của khu vực Tây Nam bộ nói riêng, Việt Nam nói chung, PGHH đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều công trình khoa học trong và ngoài nước Các công trình nghiên cứu về PGHH được tiến hành dưới nhiều góc độ khác nhau, nhưng rất ít công trình tiếp cận dưới góc độ tâm lý học tôn giáo Hơn nữa, nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện về niềm tin tôn giáo của tín đồ PGHH là vấn đề còn khá mới mẻ và chưa có công trình nào nghiên cứu ở Việt Nam

Xuất phát từ những lý do trên, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Niềm tin tôn giáo của tín đồ Phật giáo Hòa Hảo” làm đề tài nghiên cứu sinh

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu:

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát niềm tin tôn giáo cũng như ảnh hưởng của các yếu tố khách quan, chủ quan đến niềm tin tôn giáo của tín đồ PGHH, đề tài đưa ra một số kiến nghị nhằm phát huy những giá trị tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực trong niềm tin tôn giáo của tín đồ PGHH

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

1) Xây dựng cơ sở lý luận về niềm tin tôn giáo của tín đồ PGHH: các khái niệm công cụ (tôn giáo, niềm tin, niềm tin tôn giáo, Phật giáo Hòa Hảo, tín đồ),

Trang 12

biểu hiện niềm tin tôn giáo của tín đồ PGHH, các yếu tố ảnh hưởng đến niềm tin tôn giáo của tín đồ PGHH)

2) Khảo sát, phân tích thực trạng biểu hiện và mức độ niềm tin tôn giáo của tín đồ PGHH cũng như ảnh hưởng của các yếu tố khách quan, chủ quan đến niềm tin tôn giáo của tín đồ PGHH

3) Đề xuất một số kiến nghị nhằm phát huy những giá trị tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực trong niềm tin tôn giáo của tín đồ PGHH

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu:

Biểu hiện và mức độ niềm tin tôn giáo của tín đồ PGHH

3.2 Phạm vi nghiên cứu:

+ Về nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu lý luận và khảo sát biểu hiện niềm tin tôn giáo của tín đồ PGHH trên 04 khía cạnh: đối với giáo chủ, đối với Sấm giảng giáo lý, đối với thế giới khác, và đối với đội ngũ chức việc Luận án cũng khảo sát ảnh hưởng của các yếu tố khách quan, chủ quan đến niềm tin tôn giáo của tín đồ PGHH

+ Về không gian: Địa bàn có đông tín đồ PGHH sinh sống thuộc các tỉnh

An Giang, Cần Thơ và Đồng Tháp Trong đó, tập trung tại quận Thốt Nốt (phường Trung Nhứt, phường Thạnh Hòa) của thành phố Cần Thơ, huyện Phú Tân (thị trấn Phú Mỹ, xã Phú Hưng) của tỉnh An Giang, và huyện Lấp Vò (thị trấn Lấp Vò, xã Định An) của tỉnh Đồng Tháp

+ Về khách thể: Tổng số khách thể nghiên cứu là 520 người Trong đó, tương ứng ở mỗi tỉnh lần lượt là: 150 người trả lời phiếu khảo sát; 10 chức việc, 10 tín đồ, 03 đến 04 cán bộ quản lý về tôn giáo trả lời phỏng vấn sâu

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp luận:

Nghiên cứu niềm tin tôn giáo của các tín độ PGHH dựa trên các nguyên tắc phương pháp luận sau:

- Nguyên tắc hoạt động: Niềm tin tôn giáo được hình thành và phát triển

thông qua các hoạt động tôn giáo của các tín đồ Do vậy, nghiên cứu niềm tin tôn

Trang 13

giáo của tín đồ phải nghiên cứu qua hoạt động của tín đồ trong cộng đồng tôn giáo, cũng như hoạt động tôn giáo tại gia đình

- Nghiên cứu trên cơ sở lý luận của Tâm lý học tôn giáo: Nghiên cứu niềm

tin tôn giáo từ góc độ tâm lý học có nghĩa là xem niềm tin tôn giáo là yếu tố trung tâm của đời sống tâm lý ở tín đồ Niềm tin tôn giáo là niềm tin vào thần thánh, thế giới khác và đội ngũ chức sắc tôn giáo

4.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể:

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể:

+ Phương pháp nghiên cứu văn bản tài liệu

+ Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

+ Phương pháp phỏng vấn sâu

+ Phương pháp xin ý kiến chuyên gia

+ Phương pháp quan sát

+ Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình

+ Phương pháp thống kê toán học

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

- Về mặt lý luận: Đây là một trong những luận án đầu tiên nghiên cứu về niềm tin tôn giáo của các tín đồ PGHH Luận án đã góp phần làm sáng tỏ khái niệm niềm tin tôn giáo, các hình thức biểu hiện niềm tin tôn giáo của tín đồ PGHH và các yếu tố ảnh hưởng tới niềm tin tôn giáo của tín đồ PGHH Kết quả nghiên cứu này của luận án góp phần bổ sung một số vấn đề lý luận về niềm tin tôn giáo cho phân ngành Tâm lý học tôn giáo ở nước ta hiện nay

- Về mặt thực tiễn: Luận án đã chỉ ra được thực trạng niềm tin tôn giáo của tín đồ PGHH, và mức độ ảnh hưởng của các yếu tố khách quan, chủ quan đến niềm tin tôn giáo của tín đồ PGHH Trên cơ sở kết quả nghiên cứu thực trạng, luận án đã đề xuất một số kiến nghị nhằm phát huy giá trị tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực trong niềm tin tôn giáo của tín đồ PGHH

Trang 14

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

- Ý nghĩa lý luận: Luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo phục

vụ công tác nghiên cứu, học tập của các nhà khoa học, giảng viên, sinh viên các trường đại học về Tâm lý học tôn giáo

- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận án là tài liệu tham khảo, hỗ trợ các tổ chức tôn giáo, các cơ quan chức năng trong lĩnh vực quản lý nhà nước

về tôn giáo nâng cao hiệu quả quản lý đối với PGHH ở nước ta hiện nay

7 Cơ cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, danh mục các công trình công bố,

danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung luận án gồm 4 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý luận về niềm tin tôn giáo của tín đồ Phật giáo Hòa Hảo Chương 3: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực tiễn về niềm tin tôn giáo của tín đồ Phật giáo Hòa Hảo

Trang 15

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Từ trước đến nay đã có khá nhiều công trình trong và ngoài nước nghiên cứu về vấn đề tôn giáo, tâm lý học tôn giáo ở các mức độ nông sâu, rộng hẹp khác nhau Tuy nhiên, nghiên cứu về niềm tin tôn giáo của tín đồ PGHH vẫn còn

là vấn đề nghiên cứu khá mới mẻ Trong phạm vi chương này, tác giả khái quát một số công trình nghiên cứu tiêu biểu có liên quan đến đề tài luận án

1.1 Những công trình nghiên cứu về niềm tin tôn giáo

1.1.1 Ở nước ngoài

K Marx (1818-1883) khi bàn về bản chất và chức năng của tôn giáo, ông cho rằng: niềm tin tôn giáo là niềm tin vào “những bông hoa tưởng tượng” Theo F.Engels (1820-1895) thì niềm tin tôn giáo chỉ là niềm tin vào lực lượng không tồn tại trên trần thế [54] Như vậy, theo Marx và Engels, niềm tin tôn giáo là một niềm tin vào thế giới hư ảo, không tồn tại trong hiện thực

Các nhà thần học, nhất là các nhà thần học đạo Kitô đã có nhiều công trình nghiên cứu về niềm tin tôn giáo Các tác giả như Karl Barth (1889-1968), Mikhail Mikhailovich Tareev (1867-1934), Rudolf Otto (1869-1937) có sự thống nhất cho rằng niềm tin tôn giáo của tín đồ đạo Kitô là niềm tin vào Chúa, tin vào sức mạnh vô biên của Chúa Niềm tin này bắt nguồn từ ý thức về sự nhỏ bé, yếu

ớt của bản thân và sức mạnh của các lực lượng siêu nhiên Đồng quan điểm, các nhà thần học đạo Tin Lành như Martin Luther (1483-1546), John Calvin (1509-1564) cũng cho rằng niềm tin của tín đồ đạo Tin Lành là niềm tin đối với Chúa Trời, tin vào Kinh Thánh [36]

Tác phẩm “Các loại kinh nghiệm tôn giáo” (The Varieties of Religious

Experience) của William James (1842 - 1910), nhà tâm lý học, triết học người

Mỹ, được xem là kinh điển trong lĩnh vực tâm lý học tôn giáo Qua dẫn chứng thực tế về kinh nghiệm tôn giáo của các cá nhân, William James cho rằng niềm tin tôn giáo là sự cảm nhận chân lý nguyên thủy mà tự mỗi người cảm giác được,

“loại niềm tin trực giác phi lý trí này là thứ nằm ở tầng sâu trong con người

Trang 16

chúng ta, luận chứng duy lý chẳng qua chỉ là thứ hiển thị ở bên ngoài” [25,115] Việc tự mình trải qua kinh nghiệm tôn giáo là luận cứ vững chắc nhất củng cố niềm tin tôn giáo mà không phải là những luận cứ đã được khoa học và chủ nghĩa duy lý chứng minh Nếu một cá nhân tin và thực hiện hành vi tôn giáo dẫn đến hiệu quả nào đó sẽ củng cố niềm tin và hành vi tôn giáo của họ Hay nói cách khác, niềm tin tôn giáo sẽ được hình thành, củng cố ở một cá nhân khi hành vi tôn giáo đem lại những lợi ích nhất định cho cá nhân [98].

Sigmund Freud (1856 - 1939), nhà tâm lý học Đức, người khai sinh ngành Phân tâm học, khi bàn về nguồn gốc niềm tin tôn giáo trong tác phẩm “Tương lai của một ảo tương” (The future of an Illusion), ông cho rằng niềm tin tôn giáo được hình thành theo ba hướng: một là do tổ tiên nguyên thủy đã tin; hai là vì có những chứng cứ khẳng định niềm tin được truyền lại cho chúng ta từ thời cổ đại;

ba là vì chúng ta không được phép hồ nghi [96] Hay nói cách khác, niềm tin tôn giáo theo Sigmund Freud có nguồn gốc bản năng, di truyền, và vô thức

Nó vốn tiềm ẩn trong thế giới nội tâm của mỗi cá nhân và dần được hé lộ trong quá trình trưởng thành về mặt nhân cách

James Henry Leuba (1867-1946), nhà tâm lý học Mỹ, đã có nhiều công

trình nghiên cứu về tâm lý học tôn giáo Trong tác phẩm “Niềm tin vào Thiên

chúa và sự bất tử” (The belief in God and immortality), ông chỉ ra cơ chế hình

thành niềm tin, bản chất và chức năng của niềm tin tôn giáo Theo ông, niềm tin tôn giáo là niềm tin vào ma quỷ, thần thánh, vào thế giới khác Đồng thời, ông cũng tiến hành khảo sát, thống kê niềm tin của người Mỹ đối với Chúa và sự bất

tử bằng phương pháp điều tra xã hội học, so sánh giữa các nhóm thực nghiệm và phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình Bằng kết quả nghiên cứu điều tra

ở các nhóm sinh viên và các nhà khoa học Mỹ, ông đã khẳng định niềm tin vào Thiên chúa và sự bất tử cùng tồn tại ở những người trí tuệ kém phát triển và cả những người có trình độ học thức cao Ông cũng cho rằng niềm tin vào Thiên chúa và sự bất tử có nguồn gốc xã hội, xuất phát từ nhu cầu giải thích những bí

ẩn trong cuộc sống và vì lợi ích mà niềm tin này mang lại cho con người [100]

Trang 17

James W Fowler (sinh năm 1940) trong tác phẩm “Các giai đoạn của niềm

tin” (Stages of Faith) xuất bản năm 1981, với cách tiếp cận gần với trường phái

tâm lý học nhận thức, ông cho rằng niềm tin tôn giáo hình thành qua bảy giai đoạn: Giai đoạn 1: Hình thành niềm tin ban đầu Giai đoạn này bắt đầu từ khi đứa trẻ sinh ra cho đến 02 tuổi (chưa có sự tham gia của tư duy và ngôn ngữ), được đặc trưng bằng cảm giác ban đầu về sự an toàn Nếu môi trường sống an toàn, đứa trẻ sẽ phát triển cảm giác tin tưởng vào Chúa Trời Ngược lại, nếu môi trường sống không an toàn, đứa trẻ sẽ mất cảm giác tin tưởng vào Chúa Trời Giai đoạn 2: Hình thành niềm tin trực giác và phóng chiếu Giai đoạn này diễn ra ở độ tuổi từ 03 đến 07 tuổi, được đặc trưng bởi sự tác động trực tiếp đến

vô thức của những hình ảnh trực quan về thiện và ác Trong giai đoạn này, sự tác động của tưởng tưởng và thực tế là như nhau

Giai đoạn 3: Hình thành niềm tin thần bí – ngôn từ Giai đoạn này diễn ra ở trẻ em Niềm tin tôn giáo được hình thành qua các câu chuyện tôn giáo được trao đổi bằng ngôn từ

Giai đoạn 4: Hình thành niềm tin quy ước – tổng hợp Giai đoạn này diễn ra

ở trẻ vị thành niên Niềm tin được đặc trưng bởi sự tham gia của tư duy trừu tượng và sự tổng hợp lại từ người khác

Giai đoạn 5: Hình thành niềm tin phản ánh – cá thể Giai đoạn này diễn ra ở

độ tuổi từ 25 đến 40 tuổi Con người có ý thức và trách nhiệm đầy đủ đối với niềm tin và cảm xúc của mình

Giai đoạn 6: Hình thành niềm tin liên kết Giai đoạn này diễn ra vào thời điểm khủng hoảng của tuổi trung niên Con người cởi mở hơn, thừa nhận cả những nghịch lý và những siêu việt, từ đó kết hợp thành một niềm tin bao quát hơn

Giai đoạn 7: Hình thành niềm tin phổ quát hay còn gọi là giác ngộ Không còn xung đột mà chỉ còn một niềm tin bao quát toàn bộ cuộc sống [95]

Năm 1997, nhà tâm lý học người Anh, Michael Argyle (1925-2002) và nhà tâm lý học người Israel, Benjamin Beit-Hallahmi (sinh năm 1943) cùng đứng tên

xuất bản cuốn sách “Tâm lý học về hành vi, niềm tin và kinh nghiệm tôn giáo”

(The psychology of religious behaviour, belief and experience) Trong đó, các tác

Trang 18

giả đã đi sâu phân tích ảnh hưởng của niềm tin tôn giáo ở hai cấp độ: cấp độ cá nhân và cấp độ xã hội; lý giải sự thay đổi niềm tin tôn giáo của con người qua những hiện tượng như cải đạo, bỏ đạo hoặc chuyển đạo [92].Ngoài ra, trong tác

phẩm “Giới thiệu về Tâm lý học và tôn giáo” (Psychology and Religion - An introduction) xuất bản năm 2000, tác giả Michael Argyle cho rằng niềm tin tôn

giáo là vấn đề trung tâm của mọi tôn giáo và là yếu tố xác định một cá nhân theo hay không theo tôn giáo Tác giả không định nghĩa cụ thể về niềm tin tôn giáo

mà chỉ tập trung phân tích các biểu hiện của niềm tin tôn giáo thông qua các nghiên cứu về niềm tin tôn giáo của tín đồ Chính thống giáo và tín đồ đạo Tin Lành ở Mỹ và Anh Theo Michael Argyle, biểu hiện niềm tin tôn giáo là niềm tin vào Thiên chúa, niềm tin vào cuộc sống sau khi chết, niềm tin vào Kinh Thánh và niềm tin vào con người Ông chỉ ra đặc điểm nổi bật của niềm tin tôn giáo là tính phi logic và không thể chứng minh bằng các phương pháp khoa học Cũng trong tác phẩm này, ông đưa ra cấu trúc tâm lý của niềm tin tôn giáo gồm ba thành tố: nhận thức, xúc cảm và hành vi [91]

Tác phẩm “Tôn giáo, não bộ và hành vi” (Religion, brain and behavior)

xuất bản năm 2011 của tác giả Michael Inzlicht, giáo sư trường Đại học Toronto,

đã đề cập vấn đề vai trò của niềm tin tôn giáo đối với cuộc sống con người Trong

đó, ông và các cộng sự đã chứng minh bằng thực nghiệm rằng có sự liên quan giữa niềm tin tôn giáo và mức độ hoạt động của não bộ Đồng thời khẳng định niềm tin tôn giáo mang lại lợi ích đáng kể cho các tín đồ, bao gồm việc cải thiện hạnh phúc

và sức khỏe Tác giả đã tiến hành khảo sát trên 50 sinh viên đại học đến từ các nền văn hóa và các tôn giáo khác nhau và thu được kết quả: những người có niềm tin tôn giáo sâu sắc ít nghi ngờ, ít lo lắng và hạnh phúc hơn những người khác [97]

1.1.2 Ở Việt Nam

Tác giả Đặng Nghiêm Vạn là một chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực tôn giáo ở Việt Nam Các kết quả nghiên cứu có liên quan đến niềm tin tôn giáo của

ông được thể hiện qua hai tác phẩm: “Về tôn giáo tín ngưỡng Việt Nam hiện nay”

và “Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam” Trong cuốn sách “Về

tôn giáo tín ngưỡng Việt Nam hiện nay”, ông nhận xét về niềm tin đối với đạo

Trang 19

Công giáo của tín đồ là “bộc lộ niềm tin không sâu sắc và sự hiểu biết về giáo lý

không chặt chẽ” [78,77] Trong cuốn sách “Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn

giáo ở Việt Nam”, ông cho rằng biểu hiện niềm tin tôn giáo của tín đồ dường như

có mức độ đậm, nhạt khác nhau Tín đồ đạo Kitô đặt niềm tin cả vào đạo chính và đạo Tổ tiên, trong khi đó, bộ phận người dân không theo đạo Kitô lại dàn trải niềm tin vào các tôn giáo khác nhau Niềm tin đó được thể hiện và củng cố bằng những hành vi tôn giáo, tín ngưỡng khác nhau Dù vậy, theo ông, mối quan tâm hàng đầu của bộ phận không theo đạo Kitô vẫn là đạo Tổ tiên, ngoài ra họ còn thờ Phật, thờ Mẫu, thờ thần tài, thổ địa, tổ sư các ngành nghề… Niềm tin tôn giáo theo tác giả Đặng Nghiêm Vạn chính là niềm tin vào thế giới vô hình, vào những siêu linh mà chính con người tưởng tượng và sáng tạo ra [79]

Năm 1998, tác giả Vương Duy Quang với đề tài “Thực trạng vấn đề người

Hmông theo đạo Tinh lành ở tỉnh Lào Cai” đã nghiên cứu làm rõ được thực

trạng niềm tin đối với đạo Tin lành của tín đồ người Hmông Niềm tin tôn giáo được tác giả đề cập là niềm tin vào Vàng Chứ [60]

Sách “Tâm lý học tôn giáo” của tác giả Vũ Dũng xuất bản năm 1998 là

công trình nghiên cứu hoàn chỉnh về tâm lý học tôn giáo Trong đó, tác giả cho rằng niềm tin tôn giáo là niềm tin của con người vào sự tồn tại của lực lượng siêu nhiên, vào thế giới vô hình Tác giả cũng đề cập khá chi tiết các đặc điểm của niềm tin tôn giáo [29]

Bài báo “Một số đặc điểm của niềm tin tôn giáo” của tác giả Vũ Dũng đăng

trên tạp chí Nghiên cứ tôn giáo số 1 năm 2001 công bố kết quả nghiên cứu niềm tin tôn giáo ở các tín đồ Phật giáo, Kitô giáo và cả những người không theo tôn giáo trên địa bàn Hà Nội Kết quả cho thấy niềm tin tôn giáo không chỉ có ở các tín đồ tôn giáo mà còn có cả ở những người không theo tôn giáo [31]

Năm 2002, tác giả Trương Ngôn bảo vệ thành công đề tài cấp Bộ “Tâm lý

giáo dân, giáo sỹ Công giáo Việt Nam trong giai đoạn hiện nay và những ứng dụng trong lĩnh vực bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội” Qua

nghiên cứu, tác giả đã chỉ ra thực trạng niềm tin tôn giáo của giáo dân, giáo sỹ Công giáo ở Việt Nam Theo tác giả, giáo dân và giáo sỹ Công giáo đều có niềm

Trang 20

tin tôn giáo sâu sắc nhưng độ bền vững trong niềm tin tôn giáo của giáo sỹ cao hơn [56]

Tác giả Vương Thị Kim Oanh đã có những nghiên cứu giá trị về niềm tin tôn

giáo trong luận án tiến sỹ tâm lý học “Nhận thức và niềm tin đối với đạo tin lành

của tín đồ người dân tộc thiểu số ở Gia Lai” bảo vệ thành công năm 2006 Theo

tác giả, niềm tin tôn giáo là định hướng giá trị vững chắc của những người theo tôn giáo, cộng đồng tôn giáo về lực lượng siêu nhiên và một thế giới khác Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, tác giả kết luận tuyệt đại đa số tín đồ người dân tộc thiểu số

ở Gia Lai có niềm tin đối với đạo Tin Lành, tuy nhiên niềm tin của họ không thực sự sâu sắc[57]

Năm 2005, tác giả Nguyễn Hồi Loan công bố nghiên cứu về “Niềm tin về

đạo Phật của sinh viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội” trên Tạp chí tâm lý học Tác giả cho rằng niềm tin đối với đạo

Phật thể hiện qua nhận thức của sinh viên về đạo Phật, về sự tồn tại của Phật, Cõi niết bàn, Địa ngục và qua hành vi thực hành nghi lễ đạo Phật, đặc biệt là hành vi

đi lễ chùa [50] Năm 2006, tác giả Nguyễn Hồi Loan tiếp tục công bố nghiên cứu

“Niềm tin trong tín ngưỡng Thờ cúng tổ tiên của người Việt” trên Tạp chí tâm lý

học Theo tác giả, niềm tin này thể hiện ở sự nhận thức của người dân về tầm quan trọng của tín ngưỡng Thờ cúng tổ tiên trong đời sống tinh thần của gia đình,

ở quan niệm của người dân về sự tồn tại của tổ tiên, ở nội dung cầu khấn của người dân [51]

Cũng trong năm 2006, tác giả Trịnh Đức Phong và chúng tôi nghiên cứu

thành công đề tài cấp Bộ “Đặc điểm tâm lý của cộng đồng người theo đạo Thiên

chúa di cư tại một số tỉnh, thành phía Nam – Những vấn đề cần vận dụng trong công tác công an” Theo các tác giả thì biểu hiện niềm tin tôn giáo của cộng

đồng tín đồ Thiên chúa giáo di cư tại một số tỉnh, thành phía Nam trước hết là niềm tin hư ảo hướng vào lực lượng siêu nhiên của tôn giáo và các phép màu nhiệm của nó; thứ hai là niềm tin vào linh mục, giám mục, tổng giám mục với

tư cách là người đại diện, thay mặt Chúa chăm lo phần hồn, thực hiện chức năng

Trang 21

tôn giáo với tín đồ Ngoài ra, tín đồ Thiên chúa giáo di cư tuy có niềm tin tôn giáo sâu sắc nhưng lại không sâu sắc trong nhận thức về Chúa, về giáo lý…[58]

Năm 2008, trong cuốn sách “Khoa học và Niềm tin”, tác giả Nguyễn Sinh

đã sử dụng những kiến thức khoa học hiện đại để luận giải những vấn đề thuộc

về niềm tin tôn giáo của tín đồ đạo Kitô Tác giả viện dẫn nhiều chứng cứ khoa học để chứng minh Chúa tồn tại và niềm tin đối với Chúa là niềm tin đúng đắn Tuy nhiên, trên thực tế vẫn có rất nhiều người (gồm cả người có học thức và không có học thức) không có niềm tin đối với Chúa, không tin đạo Kitô Theo tác giả, lý do duy nhất khiến người ta không tin Chúa, không có niềm tin đối với đạo

là vì họ không muốn tin [63]

Bài báo “Niềm tin tôn giáo của người Chăm Việt Nam” của tác giả Tạ Quốc

Trị đăng trên tạp chí Tâm lý học (số 7-2009) là kết quả nghiên cứu của tác giả và

chúng tôi trong đề tài cấp bộ “Nghiên cứu tâm lý người Chăm Việt Nam phục vụ

công tác công an” nghiệm thu năm 2008 Theo tác giả, đối với người Chăm, một

cộng đồng đa tôn giáo, niềm tin tôn giáo luôn đóng một vai trò rất quan trọng trong đời sống tâm lý của họ, chi phối hoạt động nhận thức, tình cảm, ý chí của mỗi cá nhân trong cộng đồng [71]

Năm 2014, tác giả Nguyễn Thị Hải Yến bảo vệ thành công luận án tiến sỹ

tâm lý học “Niềm tin của người Việt đối với tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên” tại

Học viện Khoa học xã hội Theo tác giả, niềm tin của người Việt đối với tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên là một định hướng giá trị vững chắc của chủ thể đối với tín ngưỡng TCTT Niềm tin này luôn được biểu hiện qua nhận thức, xúc cảm tình cảm và qua những hành vi của chủ thể thờ cúng và chịu sự ảnh hưởng lớn từ nhu cầu cá nhân, phong tục thờ cúng trong gia đình [90]

Tóm lại, các công trình nghiên cứu về niềm tin tôn giáo dù trong nước hay ngoài nước, dù tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau nhưng đều thống nhất về bản chất của niềm tin tôn giáo là niềm tin vào một thế giới hư ảo, vào lực lượng siêu nhiên và những giá trị hiện thực đại diện cho lực lượng siêu nhiên Luận án

có sự kế thừa các kết quả nghiên cứu về cơ chế hình thành, bản chất, cấu trúc và chức năng của niềm tin tôn giáo Đồng thời, luận án cũng kế thừa việc sử dụng

Trang 22

các phương pháp nghiên cứu như phương pháp điều tra xã hội học và phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình trong nghiên cứu niềm tin tôn giáo của tín

đồ PGHH

1.2 Những công trình nghiên cứu về Phật giáo Hòa Hảo

1.2.1 Ở nước ngoài

Trung tâm phân tích thông tin văn hóa của Mỹ năm 1966 xuất bản bộ sách

“Những nhóm thiểu số ở nước Việt Nam Cộng hòa” (Minority groups in the

Republic of Vietnam) đã dành chương 23 “The Hoa Hao” biện giải về tôn giáo này như một nhóm xã hội thiểu số mang ý thức chống cộng Các tác giả đã phân tích nguyên nhân hình thành và phát triển của PGHH trong mối tương quan với diễn biến lịch sử, xã hội vùng Tây Nam bộ thời bấy giờ [92]

Tác giả người Mỹ Robert L.Mole với tác phẩm “Tìm hiểu về Phật giáo Hòa

Hảo” (A Brief survey of the Phat giao Hoa Hao) xuất bản năm 1969 đã trình bày

những kết quả nghiên cứu về nông dân tín đồ PGHH và khai thác yếu tố tương đồng giữa PGHH và chính quyền tay sai [101]

Tác phẩm “Chủ nghĩa cứu thế và nền chính trị nông dân ở Việt Nam” (Millenarianism and Peasant Politics in Vietnam) của Hồ Tài Huệ Tâm xuất bản

năm 1983 đã đề cập khái quát về sự hình thành PGHH và ảnh hưởng của PGHH đối với phong trào nông dân ở Tây Nam bộ Theo bà Huệ Tâm, PGHH ra đời dựa trên nền tảng tín ngưỡng bản địa, văn hóa bản địa và sự ảnh hưởng của các tôn giáo đến từ Trung Quốc, Phật giáo Thiền tông, Tịnh độ tâm, và đạo Islam [103]

Luận văn thạc sỹ “Niềm tin và hành vi tôn giáo của cộng đồng người Việt ở

Anh” (The religious beliefs and practices of the Vietnamese community in

Britain) của Judith Law thực hiện năm 1991 đã khảo sát niềm tin và hành vi sinh hoạt tôn giáo của người Việt Nam đang sinh sống tại nước Anh Trong đó, tác giả

có đề cập đến PGHH với tư cách là một tôn giáo nội sinh của Việt Nam [99] Philip Taylor là một học giả có nhiều nghiên cứu về tôn giáo ở Việt Nam và

đặc biệt là PGHH Cuốn sách “Hiện tại là tận thế? Phật giáo Hòa Hảo đang nổi

lên từ bóng tối của chiến tranh” (Apocalypse Now? Hoa Hao Buddhism

emerging from the shadows of war) của ông đã khắc họa rõ nét về hoàn cảnh ra

Trang 23

đời, sự biến đổi, và chức năng xã hội của PGHH đối với cư dân tại đồng bằng sông Cửu Long Trong đó, Taylor đã mô tả một cách ẩn dụ tôn giáo Việt Nam như một cánh rừng: nhiều, dày đặc và rối rắm Trong tác phẩm này, ông cũng đã

đề cấp đến bản chất dân tộc, yêu nước của PGHH ở những buổi đầu khởi xướng Ông cho rằng PGHH là một tôn giáo dễ bị tổn thương trước những xung đột, sự bất khả thi của các giải pháp hòa bình và sự bất lực của những hoạt động trần tục Taylor cũng bày tỏ thái độ lạc quan về viễn cảnh khởi sắc của PGHH khi tín đồ PGHH sẽ là những nhân tố chủ chốt của nền kinh tế, của sự phát triển cộng đồng và chính trị ở vùng đồng bằng sông Cửu Long trong tương lai gần [104]

1.2.2 Ở Việt Nam

Những lý luận, nghiên cứu sớm nhất về PGHH thuộc về những cư sỹ của

PGHH Nổi bật như tác giả Vương Kim với nhiều tác phẩm như: “Để hiểu Phật

giáo Hòa Hảo” xuất bản năm 1965, “Đức Huỳnh giáo chú”, “Bửu sơn kỳ hương”

tái bản năm 1997…, tác giả Nguyễn Văn Hầu với “Nhận thức Phật giáo Hòa

Hảo”, “Thất sơn mầu nhiệm”,… xuất bản năm 1972 Các tác phẩm này chủ yếu

bàn về xuất thân của giáo chủ Huỳnh Phú Sổ, quá trình hình thành và phát triển của PGHH, giáo lý, giáo luật và các hình thức sinh hoạt, tu tập của PGHH [66] Năm 1996, tác giả Phạm Bích Hợp, người có nhiều nghiên cứu về Hòa Hảo,

bảo vệ thành công luận án Phó Tiến sỹ chuyên ngành dân tộc học: “Đời sống xã

hội và tâm lý nông dân người Việt ở làng Hòa Hảo tỉnh An Giang trước và sau năm 1975” Luận án thành công trong việc khái quát tình cảnh, đời sống xã hội

và một số nét tính cách nổi bật của người nông dân làng Hòa Hảo trước và sau năm 1975 Đồng thời qua đó, gắn kết với sự hình thành, phát triển của PGHH, phân tích ảnh hưởng của PGHH đối với đời sống xã hội của người nông dân làng

Hòa Hảo [46] Năm 2007, tác giả Phạm Bích Hợp xuất bản cuốn sách “Người

Nam Bộ và tôn giáo bản địa: Bửu Sơn Kỳ Hương, Cao Đài, Hòa Hảo” Nội dung

cuốn sách bàn về lịch sử của tôn giáo và những thể loại tôn giáo đã và đang hiện hành ở miền Nam Việt Nam và những ảnh hưởng của tôn giáo đối với đời sống

và văn hoá của người miền Nam [45]

Trang 24

Năm 1999, tác giả Nguyễn Hoàng Sa bảo vệ thành công luận án tiến sỹ triết

học: “Đạo Hòa Hảo và ảnh hưởng của nó ở Đồng bằng sông Cửu Long” Đề tài

không tiếp cận PGHH ở góc độ tôn giáo học, dân tộc học, tâm lý học, mà nghiên cứu dưới góc độ triết học Do vậy, luận án xem ý thức tôn giáo Hòa Hảo là sự phản ánh tồn tại xã hội và kế thừa ý thức tôn giáo trước đó Luận án đã đi sâu tìm hiểu vai trò và ảnh hưởng của PGHH trong đời sống tinh thần của hàng triệu nông dân có tín ngưỡng ở đồng bằng sông Cửu Long, làm cơ sở vạch ra định hướng, giải pháp phát huy tính tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của tôn giáo này [62]

Luận án tiến sỹ lịch sử “Đồng bào Phật giáo Hòa Hảo An Giang trong cuộc

kháng chiến chống Mỹ cứu nước” của tác giả Bùi Thị Thu Hà bảo vệ thành công

năm 2002 Luận án đã khái quát lịch sử hình thành PGHH Tuy nhiên, điểm trọng tâm của luận án là phản ánh vai trò của quần chúng tín đồ PGHH và công tác Hòa Hảo vận của của Đảng bộ An Giang trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước [40]

Luận án tiến sỹ lịch sử “Phật giáo Hòa Hảo - hệ thống giáo hội và các tổ

chức chính trị, quân sự thời kỳ 1945-1975” của tác giả Lâm Quang Láng bảo vệ

thành công năm 2007 Tiếp cận dưới góc độ khoa học lịch sử, tác giả một lần nữa khắc họa lịch sử hình thành và phát triển của PGHH, trong đó đi sâu nghiên cứu

về hệ thống giáo hội và các tổ chức chính trị, quân sự thời kỳ trước 1975 của PGHH [55]

Nghiên cứu về PGHH dưới góc độ khoa học an ninh thời gian qua đã có nhiều công trình có giá trị về mặt lý luận và thực tiễn Tác giả Trương Như

Vương với đề tài cấp Bộ: “Phật giáo Hòa Hảo – Những vấn đề đặt ra cho công

tác an ninh – trật tự hiện nay” nghiệm thu năm 1997 Đề tài khái quát lịch sử

hình thành, phát triển của PGHH, những vấn đề phức tạp về an ninh trật tự trong quá khứ và hiện tại có liên quan đến PGHH Trên cơ sở đó, đề tài đưa ra những giải pháp trong đảm bảo an ninh trật tự khu vực tập trung tín đồ PGHH [86] Ngoài ra, còn có nhiều công trình nghiên cứu khác về PGHH dưới góc độ khoa

học an ninh như: nhánh đề tài cấp nhà nước “Âm mưu, hoạt động của Mỹ và các

thế lực thù địch lợi dụng Phật giáo Hòa Hảo chống phá cách mạng Việt Nam và

Trang 25

giải pháp của ta” của tác giả Nguyễn Thanh Hà nghiệm thu năm 2004; Đề tài

cấp Bộ “Hoạt động của các thế lực thù địch lợi dụng Phật giáo Hòa Hảo xâm

phạm an ninh trật tự trong tình hình mới – giải pháp phòng ngừa và đấu tranh

của lực lượng công an” của tác giả Phạm Đức Toàn nghiệm thu năm 2005

Luận án tiến sỹ “Quản lý nhà nước về an ninh đối với hoạt động của Phật giáo

Hòa Hảo vùng Tây Nam bộ" của tác giả Đỗ Quang Vinh bảo vệ thành công năm

2014 Tiếp cận dưới góc độ khoa học quản lý nhà nước, tác giả đã khái quát được tình hình, đặc điểm hoạt động của PGHH vùng Tây Nam bộ có liên quan đến công tác quản lý nhà nước về an ninh Tác giả cũng trình bày, phân tích, đánh giá các hoạt động quản lý nhà nước về an ninh đối với PGHH thời gian qua, đồng thời, đưa ra những giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về an ninh đối với hoạt động của PGHH vùng Tây Nam bộ

Tóm lại, các công trình nghiên cứu về PGHH đã khái quát được bức tranh toàn cảnh về nguyên nhân hình thành, phát triển một tôn giáo mới, đồng thời chỉ

ra vai trò của quần chúng tín đồ, chức năng xã hội, và ảnh hưởng của PGHH đối với đời sống, văn hóa tinh thần người dân khu vực Tây Nam bộ Ngoải ra, các công trình nghiên cứu cũng đã khắc họa được chân dung Giáo chủ Huỳnh Phú

Sổ, nội dung giáo lý, giáo luật, các hình thức sinh hoạt, tu tập và hoạt động quản

lý Nhà nước về an ninh trật tự đối với PGHH Tất cả các kết quả nghiên cứu này được tác giả kế thừa có chọn lọc trong nội dung chương 2, cơ sở lý luận và đề xuất các kiến nghị ở phần kết luận

1.3 Những công trình nghiên cứu về tâm lý tín đồ Phật giáo Hòa Hảo

Nghiên cứu về PGHH đã được các nhà khoa học tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau như: dân tộc học, tôn giáo học, khoa học an ninh, khoa học lịch sử… Tuy nhiên, tiếp cận nghiên cứu dưới góc độ tâm lý học còn rất hạn chế

Một số công trình khoa học nghiên cứu về tâm lý tín đồ PGHH có thể kể đến như sau:

Luận án Phó tiến sỹ chuyên ngành dân tộc học “Đời sống xã hội và tâm lý

nông dân người Việt ở làng Hòa Hảo tỉnh An Giang trước và sau năm 1975” của

tác giả Phạm Bích Hợp bảo vệ thành công năm 1996 Đề tài tuy không đề cập

Trang 26

trực tiếp đến những đặc điểm đặc trưng của tâm lý tôn giáo như niềm tin tôn giáo, tình cảm tôn giáo, nhu cầu tín ngưỡng… nhưng đã đề cập đến những đặc điểm tâm lý thuộc về tính cách của người nông dân tín đồ PGHH [46]

Khóa luận tốt nghiệp “Đặc điểm tâm lý của tín đồ Phật giáo Hòa Hảo trên

địa bàn thành phố Cần Thơ và những kiến nghị, đề xuất đối với công tác vận

động quần chúng tín đồ bảo vệ an ninh trật tự” của tác giả Phan Thị Thủy Tiên

bảo vệ thành công năm 2007 Theo tác giả, tín đồ PGHH có truyền thống yêu nước, đoàn kết dân tộc, tuân thủ đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước; Tín đồ PGHH có tính thật thà, phóng khoáng, trọng chữ tín; Tín đồ PGHH luôn tôn trọng những giá trị nền xưa nếp cũ, có tâm lý phản kháng mạnh

mẽ đối với sự suy đồi đạo đức xã hội; Tín đồ PGHH có niềm tin sâu sắc vào giáo

lý và những người có uy tín trong PGHH; Tín đồ PGHH có đức tính cần cù, chịu thương chịu khó trong lao động xây dựng cuộc sống mới đang có xu hướng lất át tính nghi kỵ và làm củng cố lòng tin của tín đồ vào chế độ;… [68]

Tác giả Đỗ Quang Vinh và chúng tôi (2015) đã nghiên cứu thành công đề

tài cấp bộ “Nghiên cứu tâm lý tín đồ Phật giáo Hòa Hảo vận dụng vào công tác

an ninh” Kết quả nghiên cứu của đề tài cho thấy: Thứ nhất, tín đồ PGHH có nhu cầu

tôn giáo cao; Thứ hai, tín đồ PGHH có niềm tin tôn giáo sâu sắc; Thứ ba, tín đồ PGHH có tính cách bộc trực, phóng khoáng, trọng nghĩa khí; Thứ tư, tín đồ PGHH đang dần xóa tâm lý mặc cảm, nghi kỵ đối với chế độ mới; Thứ năm, một bộ phận tín

đồ PGHH vẫn còn tư tưởng phản động, cực đoan [83]

Như vậy, nghiên cứu tâm lý tín đồ PGHH bước đầu đã được một số nhà nghiên cứu quan tâm Tuy nhiên, đa số nghiên cứu được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau như dân tộc học, xã hội học, triết học, khoa học an ninh… Việc nghiên cứu từ góc độ tâm lý học tôn giáo còn khá khiêm tốn và đặc biệt chưa có công trình nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện về niềm tin tôn giáo của tín đồ PGHH Luận án kế thừa một số luận điểm về các yếu tố tác động ảnh hưởng đến tâm lý tín đồ PGHH và một số biểu hiện niềm tin tôn giáo của tín đồ PGHH

Trang 27

Tiểu kết chương 1

Tổng quan tình hình nghiên cứu cho thấy: PGHH, niềm tin tôn giáo và tâm

lý tín đồ PGHH là những vấn đề có ý nghĩa quan trọng nên đã được nhiều nhà nghiên cứu ở nước ngoài và ở Việt Nam nghiên cứu Các công trình nghiên cứu

về PGHH chủ yếu tiếp cận dưới các góc độ: tôn giáo học, dân tộc học, triết học, khoa học lịch sử, khoa học an ninh, khoa học quản lý nhà nước…, trong khi đó rất ít công trình tiếp cận dưới góc độ tâm lý học tôn giáo Hơn nữa, nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện về niềm tin tôn giáo của tín đồ PGHH là vấn đề còn khá mới mẻ và chưa có công trình nào nghiên cứu ở Việt Nam Do vậy, nghiên cứu niềm tin tôn giáo của tín đồ PGHH là nhiệm vụ cần thiết, có ý nghĩa lý luận

và thực tiễn

Trang 28

Chương 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NIỀM TIN TÔN GIÁO CỦA TÍN ĐỒ

PHẬT GIÁO HÒA HẢO

2.1 Các khái niệm cơ bản

2.1.1 Tôn giáo

Tôn giáo là một thuật ngữ không thuần Việt, có nguồn gốc tiếng Anh là

“religion” Và, bản thân “religion” lại bắt nguồn từ thuật ngữ “legere” trong tiếng Latinh, có nghĩa là thu lượm thêm sức mạnh siêu nhiên Vào thời kỳ đầu công nguyên, đế chế Roma chỉ chấp nhận một tôn giáo là đạo Kitô, các tôn giáo khác

bị coi là tà đạo, dị giáo Do vậy, thuật ngữ “religion” lúc bấy giờ dùng riêng để chỉ đạo Kitô Về sau, do sự phát triển mạnh mẽ của chủ nghĩa tư bản vượt ra khỏi phạm vi châu Âu, họ được tiếp xúc với tôn giáo thuộc các nền văn minh khác, nên thuật ngữ “religion” được dùng để chỉ các hình thức tôn giáo khác nhau trên thế giới

Như vậy, thuật ngữ “religion” ban đầu được sử dụng ở châu Âu nhằm chỉ một tôn giáo nhưng sau đó thuật ngữ này lại làm nhiệm vụ chỉ các hình thức tôn giáo Khoảng cuối thế kỷ XIX, thuật ngữ “religion” du nhập vào Việt Nam và được dịch thành “tông giáo”, nhưng do kỵ húy của vua Thiệu Trị nên được gọi là

“tôn giáo” Tuy nhiên, trước khi có thuật ngữ “tôn giáo” thì ở Việt Nam đã có một số từ ngữ có ý nghĩa tương đồng như:

- Từ “đạo” có gốc Hán “Đạo” không hẳn đồng nghĩa với tôn giáo vì bản thân còn có ý nghĩa phi tôn giáo “Đạo” có thể hiểu là con đường, học thuyết, là cách ứng xử làm người nên khi sử dụng từ “đạo” với ý nghĩa tôn giáo thường phải đặt tên tôn giáo phía sau Ví dụ như đạo Phật, đạo Hòa Hảo, đạo Hồi…

- Từ “giáo” cũng có gốc Hán “Giáo” có ý nghĩa tôn giáo khi nó đứng sau tên một tôn giáo cụ thể Chẳng hạn như: Phật giáo, Nho giáo, Hồi giáo… “Giáo”

ở đây là giáo hóa, dạy bảo theo đạo lý của tôn giáo

- Từ “thờ” là một từ thuần Việt “Thờ” có ý bao hàm một hành động biểu thị sự sùng kính một đấng siêu nhiên: thần thánh, tổ tiên… đồng thời có ý nghĩa

Trang 29

như cách ứng xử với bề trên cho phải đạo như thờ vua, thờ cha mẹ, thờ thầy hay một người nào đó mà mình mang ơn… Ở Việt Nam, “thờ” hay “thờ cúng” là các

từ thuần Việt dùng để chỉ các hành vi và nội dung tôn giáo Tóm lại, đối với người Việt Nam, tôn giáo theo cách nói thuần Việt là thờ hay thờ cúng hoặc theo các từ gốc Hán đã trở thành phổ biến là đạo, là giáo

Tuy nhiên khi bàn về khái niệm tôn giáo, mỗi trường phái lại có các quan điểm khác nhau Theo cách định nghĩa của giáo hội (thần học) thì tôn giáo là mối liên hệ của con người với thượng đế, với thần linh, với cái tuyệt đối, với một lực lượng nào đó, với sự siêu việt hóa,… Nhà thần học và triết học Tin Lành giáo, R.Otto (1869-1937) cho rằng tôn giáo là “sự thể nghiệm cái thần thánh” [47,25] Hay nói cách khác, các nhà thần học cho rằng tôn giáo là mối liên hệ giữa thần thánh và con người

Một số nhà nghiên cứu khác định nghĩa khái niệm tôn giáo dựa trên những dấu hiệu đặc trưng của tôn giáo Chẳng hạn, tác giả Nguyễn Như Ý cho rằng tôn giáo là hình thái ý thức xã hội hình thành nhờ vào lòng tin và sùng bái thượng đế, thần linh [89] Hoặc như tác giả Mai Thanh Hải, tôn giáo là một hình thái nhận thức xã hội, phản ánh hiện thực qua các khái niệm, hình ảnh mang tính ảo ảnh, ảo vọng Nói chung, đó là những niềm tin vào lực lượng siêu nhiên, vô hình mà con người cho là linh thiêng, được con người sùng bái và cầu khẩn để nhờ cậy che chở hoặc ban phát điều tốt lành [42]

Dưới khía cạnh phân tích bản chất xã hội của tôn giáo, K.Marx cho rằng: Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không

có trái tim, nó là tinh thần của trật tự không có tinh thần Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân [54] Nhận định này đã toát lên đầy đủ tính xã hội của tôn giáo Nó

là sự đền bù lại cho sự nghèo nàn của hiện thực xã hội với những nghèo nàn của tri thức để lý giải thế giới, tôn giáo lấp đầy vào đó bằng những huyền thoại: thế giới được tạo thành ra sao? Mây gió, sấm chớp sự thực là thế nào? Và với những sự nghèo nàn trong đời sống do sự thấp kém của trình độ khoa học kỹ thuật cùng sự bất công bạo ngược của xã hội đương thời, tôn giáo như một liều thuốc an thần xoa dịu những vết đau của con người

Trang 30

Phân tích dưới khía cạnh nguồn gốc tôn giáo, trong tác phẩm “Chống Duyrinh” (Anti-Dühring), F.Engels đã đưa ra những nhận định quan trọng vào loại bậc nhất của những người cộng sản về vấn đề tôn giáo Ông cho rằng tôn giáo là sự phản ánh hư ảo - vào trong đầu óc con người - của những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hằng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế [54]

Nhà tâm lý học S Freud, người sáng lập trường phái phân tâm học thì cho rằng tôn giáo là một hình thức đặc thù của thế giới quan, cơ sở của nó là những đam mê vô thức, những hành động của mặc cảm Oedipus đã bị chèn ép, đẩy khỏi

ý thức [30] Trong đó, tôn giáo thực hiện ba chức năng chính: Xóa đi những mặc cảm tâm hồn bằng việc hướng người theo tôn giáo tới một thế giới quan khác với những nội dung về nguồn gốc hình thành và phát triển của thế giới (thế giới quan tôn giáo); Làm cho con người quên đi sự sợ hãi và nỗi đau khổ bằng cách truyền cho họ niềm tin về những điều tốt đẹp, về sự gột rửa những tội lỗi đã phạm phải; Đưa ra những lời răn dạy, những điều cấm kỵ, các quy tắc ứng xử trong cuộc sống

Kế thừa các kết quả nghiên cứu trước đó, tác giả Đặng Nghiệm Vạn xác định đối tượng của tôn giáo là thế giới bao gồm các lực lượng siêu nhiên, vô hình, mang tính thiêng liêng, được chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lại một cách siêu thực (hư ảo) với con người nhằm lý giải những vấn đề trên trần thế cũng như ở thế giới bên kia [79]

Tóm lại, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về tôn giáo tùy theo các góc độ tiếp cận Theo quan điểm của chúng tôi:

Tôn giáo là hình thái ý thức xã hội phản ánh niềm tin vào một lực lượng siêu nhiên, vô hình mà con người cho là linh thiêng, được con người sùng bái, thờ cúng để nhờ cậy che chở hoặc ban phát điều tốt lành

2.1.2 Niềm tin

Từ xa xưa, con người đã đánh giá cao vai trò của niềm tin đối với cuộc sống Tuy nhiên, khái niệm cụ thể về niềm tin thì vẫn còn nhiều cách nhìn nhận, đánh giá khác nhau Hầu hết các tác giả đều đưa ra những quan điểm cá nhân, song không ít quan điểm mang tính tản mạn hoặc phiến diện

Trang 31

Trong tác phẩm “Văn hóa tâm linh”, tác giả Nguyễn Đăng Duy đã đề cập đến khái niệm niềm tin Ông cho rằng niềm tin là sự tín nhiệm, khâm phục ở một con người, một sự việc, một học thuyết, một tôn giáo được thể hiện ra bằng hành động theo một lẽ sống [32] Định nghĩa này tuy đã chỉ ra được đối tượng và hình thức hiểu hiện của niềm tin, nhưng chưa đề cập đến cấu trúc và vai trò của niềm tin đối với cuộc sống con người Ngược lại với Nguyễn Đăng Duy, tác giả Phạm Côn Sơn nhấn mạnh một cách thái quá vai trò của niềm tin đối với toàn bộ cuộc sống con người, cho rằng niềm tin là phương thuốc thần có thể chữa lành mọi đau đớn cả về thể chất và tinh thần Theo ông, niềm tin là cứu cánh, là năng lực sống hữu hiệu nhất của con người Hơn bất cứ điều gì khác, kể cả thần dược và châu báu, niềm tin có mãnh lực cải hóa đời người, chữa lành bệnh tật và giúp con người vượt qua mọi nỗi khổ ải để chiến thắng mọi gian lao trong dòng đời [64]

Nghiên cứu niềm tin dưới góc độ triết học, tác giả Trịnh Đình Bảy đã trình bày bốn phương diện cơ bản của niềm tin: bản thể luận, nhận thức luận, giá trị luận và thực tiễn luận Theo tác giả, niềm tin về phương diện bản thể luận là cái tồn tại khách quan trong con người, là một nhân tố không thể thiếu được trong hoạt động của con người Xét về phương diện nhận thức luận, niềm tin luôn gắn liền với tri thức Xét về phương diện giá trị luận, niềm tin bao giờ cũng có ý nghĩa đối với chủ thể, gắn liền với nhu cầu, lợi ích của chủ thể Xét về phương diện thực tiễn luận, niềm tin giúp con người xác định được mục đích hoạt động

và kích thích quá trình thực hiện mục đích [15] Như vậy, theo tác giả Trịnh Đình Bảy, niềm tin được hình thành một cách tự nhiên không phụ thuộc vào ý muốn của chủ thể Niềm tin được hình thành trên cơ sở nhận thức của chủ thể đối với đối tượng, và được biểu lộ bằng thái độ, xúc cảm khi đối tượng thỏa mãn nhu cầu, mong đợi của chủ thể Khi niềm tin đã hình thành thì nó tham gia vào quá trình định hượng hành động của chủ thể, thúc đẩy tính tích cực hoạt động của chủ thể

Dưới góc độ tâm lý học, tác giả Nguyễn Ngọc Phú tập trung làm rõ cấu trúc của niềm tin Ông cho rằng niềm tin là sự hòa quyện một cách hữu cơ giữa kiến thức, tình cảm, ý chí và mang khuynh hướng sẵn sàng thúc đẩy con người hành

Trang 32

động phù hợp với những định hướng, chuẩn mực giá trị của bản thân [59] Như vậy, niềm tin được cấu thành bởi ba yếu tố tâm lý: kiến thức, tình cảm và ý chí Khi ba yếu tố này hòa quyện, thống nhất với nhau thì trở thành động lực bên trong thúc đẩy con người hành động Cùng với quan điểm này, tác giả Nguyễn Quang Uẩn cho rằng niềm tin là một phẩm chất của thế giới quan, là cái kết tinh các quan điểm, tri thức, rung cảm, ý chí được con người thể nghiệm, trở thành chân lý bền vững trong mỗi cá nhân Niềm tin tạo cho con người nghị lực, ý chí

để hành động phù hợp với quan điểm đã chấp nhận [76] Như vậy, theo tác giả Nguyễn Quang Uẩn thì những tri thức mà cá nhân lĩnh hội được, những rung cảm xuất hiện chỉ trở nên bền vững, trở thành chân lý trong mỗi cá nhân khi nó được chứng minh trong hoạt động thực tiễn của họ Khi thực tiễn đã chứng minh những tri thức và rung động của họ là đúng đắn thì tạo thành sức mạnh tinh thần giúp con người sẵn sàng vượt qua mọi khó khăn để hành động phù hợp với điều

mà họ xem là chân lý

Kế thừa kết quả từ các nhà nghiên cứu, chúng tôi cho rằng:

Niềm tin là định hướng giá trị vững chắc được chủ thể trải nghiệm và trở thành cái chi phối nhận thức và hành vi của cá nhân

Hay nói cách khác, niềm tin là thuộc tính tâm lý được hình thành trên cơ sở nhận thức và rung cảm của cá nhân đối với một đối tượng nào đó, thể hiện sự tin tưởng đối với đối tượng Niềm tin khiến cá nhân có ý chí, nghị lực để hành động phù hợp với quan điểm nhận thức và xúc cảm tình cảm của họ đối với đối tượng Niềm tin có một số đặc điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, niềm tin luôn có tính đối tượng Đối tượng của niềm tin có thể là một con người cụ thể, một sự kiện, một hiện tượng hay một học thuyết Đối tượng của niềm tin có thể tồn tại hay không tồn tại trên thực tế Đối với người có niềm tin, đối tượng đó luôn là hình ảnh, biểu tượng đẹp, trong sáng nhất, là viễn cảnh rực rỡ nhất, là những điều đúng đắn nhất Nó có sức lôi cuốn mãnh liệt khiến con người sẵn sàng hành động để đạt tới đối tượng

Thứ hai, niềm tin gắn liền với lợi ích, nhu cầu của chủ thể Người ta không bao giờ tin vào những đối tượng không có khả năng đem lại cho họ những lợi ích

Trang 33

nhất định hoặc không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu của họ Đối tượng càng mang lại nhiều lợi ích, thỏa mãn càng nhiều nhu cầu của cá nhân thì càng chiếm niềm tin sâu sắc ở chủ thể

Thứ ba, niềm tin có tính mục đích Khi con người xác định được đối tượng của niềm tin thì dường như toàn bộ hoạt động của họ đều nhằm đạt tới những mục đích phù hợp với đối tượng đó Đối tượng của niềm tin trở thành tiêu chuẩn chân lý để hướng dẫn, điều khiển, điều chỉnh hành vi của con người trong cuộc sống Có thể nói rằng niềm tin là một dạng định hướng giá trị có sức mạnh rất to lớn trong đời sống của cá nhân và cộng đồng

Thứ tư, niềm tin có tính ổn định, bền vững Niềm tin được hình thành trên

cơ sở hệ thống tri thức đã được thực tiễn kiểm nghiệm và dựa trên những xúc cảm được lặp đi lặp lại nhiều lần Vì thế, niềm tin là một thuộc tính tâm lý tương đối ổn định và bền vững

Thứ năm, niềm tin luôn được biểu hiện thông qua hành vi của chủ thể Khi con người đã có niềm tin vào một đối tượng nào đó thì họ thường xem đối tượng

là chân lý, là thước đo mọi hành vi của họ trong thực tiễn Vì vậy, nhìn vào hành

vi của chủ thể người ta có thể biết họ tin tưởng vào điều gì

Niềm tin có cấu trúc phức tạp, nó được cấu thành từ nhiều yếu tố tâm lý khác nhau Ngoài ba thành tố cơ bản là nhận thức, tình cảm, ý chí, sự hình thành

và củng cố niềm tin còn có sự tham gia của các hiện tượng tâm lý khác như: nhu cầu, lý tưởng, hứng thú, xúc cảm…

Nhận thức là yếu tố cơ bản đầu tiên của kết cấu niềm tin Thông qua các quá trình nhận thức từ đơn giản đến phức tạp, con người dần khám phá ra những đặc điểm, thuộc tính ngày càng bản chất của sự vật, hiện tượng trong tự nhiên và

xã hội Những kiến thức và hiểu biết của con người tích lũy được là cơ sở, chất liệu hết sức quan trọng để hình thành niềm tin và củng cố niềm tin Tuy nhiên, không phải bất cứ tri thức nào được cá nhân tiếp nhận cũng đều biến thành niềm tin cá nhân và không phải cứ có kiến thức về đối tượng là có niềm tin vào đối tượng đó Trên cơ sở nghiên cứu điều tra và nghiên cứu thực nghiệm, tác giả Nguyễn Ngọc Phú đã đi đến kết luận quá trình chuyển hóa kiến thức thành niềm

Trang 34

tin là một quá trình phức tạp, diễn ra theo hai cơ chế tâm lý: cơ chế tâm lý của việc tri giác tri thức; cơ chế xử lý, biến đổi và cấu tạo lại tri thức [59] Ở cơ chế thứ nhất, cá nhân mới lĩnh hội được bản thân nội dung tri thức được truyền tới Nhưng nếu chỉ dừng ở lại đây, tức là mới chỉ dừng lại ở sự hiểu biết bên ngoài đối tượng thì chưa thể hình thành niềm tin cá nhân Vì vậy, cần có cơ chế xử lý những thông tin tri thức đã được tiếp nhận để tìm ra bản chất bên trong của nó, qua đó cấu tạo lại tri thức theo cách hiểu mới của bản thân Trong quá trình cấu tạo lại tri thức, cá nhân cũng bộc lộ thái độ cảm xúc tích cực của mình đối với đối tượng Tuy nhiên, cảm xúc tình cảm không phải là yếu tố luôn luôn xuất hiện sau khi đã có tri thức về đối tượng, tức là không chỉ nảy sinh trong quá trình cấu tạo lại tri thức, mà nó có thể nảy sinh ngay trong quá trình lĩnh hội tri thức, tức là trong quá trình tri giác tri thức Chúng ta biết rằng xúc cảm tình cảm luôn gắn liền với nhu cầu, động cơ của cá nhân, vì vậy khi đối tượng có khả năng thỏa mãn nhu cầu thì nó trở thành động cơ thúc đẩy cá nhân tiếp tục tìm hiểu đối tượng một cách sâu sắc, kỹ càng và bản chất hơn Trong quá trình khám phá bản chất của đối tượng, những xúc cảm đã nảy sinh được củng cố trở thành tình cảm bền vững

Như vậy, yếu tố thứ hai góp phần quan trọng trong sự hình thành và phát triển niềm tin cá nhân là xúc cảm tình cảm Những xúc cảm tình cảm tích cực đối với đối tượng khiến cho những hiểu biết về đối tượng trở thành chân lý đối với cá nhân Và chính điều đó tạo ra cho cá nhân trạng thái sẵn sàng hành động phù hợp với điều mà họ xem là chân lý Do vậy, bên cạnh yếu tố kiến thức và xúc cảm tình cảm, ý chí là thành phần cơ bản thứ ba trong cấu trúc niềm tin của cá nhân Niềm tin của cá nhân càng sâu sắc thì ý chí bộc lộ càng mạnh mẽ thông qua hành động Mặc dù hoạt động không phải là yếu tố tâm lý tạo thành niềm tin, song niềm tin luôn được hình thành và bộc lộ thông qua hoạt động thực tiễn Qua hoạt động thực tiễn, cá nhân lĩnh hội các tri thức về đối tượng và nảy sinh các xúc cảm tình cảm đối với chúng, hình thành ý chí hành động phù hợp với hiểu biết và xúc cảm tình cảm đó Và cũng qua hoạt động, cá nhân thể hiện niềm tin của mình Không thể có niềm tin nếu nó chỉ tồn tại trong đầu óc cá nhân, không được

Trang 35

bộc lộ ra bên ngoài bằng hành động Vì vậy, để nghiên cứu niềm tin cần quan tâm nghiên cứu những hành động như là hình thức biểu hiện của nó

Có nhiều cách phân loại niềm tin dựa trên các tiêu chí khác nhau Một số tài liệu chia niềm tin thành: niềm tin thông thường, niềm tin khoa học, niềm tin tôn giáo… Căn cứ vào kết cấu và cơ sở hình thành niềm tin, tính chất của niềm tin, tác giả Trịnh Đình Bảy cho rằng có hai loại niềm tin cơ bản: niềm tin tôn giáo và niềm tin khoa học, và một số loại niềm tin khác tuy không đặc trưng nhưng tồn tại phổ biến

Căn cứ vào đối tượng của niềm tin, có thể phân niềm tin thành: niềm tin đối với con người, niềm tin đối với sự phát triển của xã hội, niềm tin đạo đức, niềm tin khoa học, niềm tin tôn giáo…, trong đó niềm tin tôn giáo là niềm tin đặc biệt

2.1.3 Niềm tin tôn giáo

Niềm tin tôn giáo luôn chiếm vị trí trung tâm trong cấu trúc tâm lý của người có đạo Việc tìm hiểu niềm tin tôn giáo có vị trí đặc biệt trong nghiên cứu tâm lý tôn giáo vì đó là nét chính trong tâm lý của người có đạo Một cá nhân không thể đến với tôn giáo, trở thành tín đồ nếu như cá nhân đó thiếu niềm tin tôn giáo

Theo nhà thần học Karl Barth (1886-1968), niềm tin tôn giáo là sự cấu thành từ hai mặt tương phản: sức mạnh của lực lượng siêu nhiên và sự yếu ớt của con người trước lực lượng đó [29] Hai mặt này trong niềm tin tôn giáo không đối lập nhau mà có sự gắn bó chặt chẽ với nhau Tự ý thức về sự nhỏ bé của mình, con người đi tìm kiếm sự che chở của thượng đế Ý thức đó càng sâu sắc thì niềm tin vào thượng đế càng mãnh liệt và to lớn

Trên quan điểm chủ nghĩa Marx, V.I Lenin cho rằng niềm tin tôn giáo là niềm tin vào thần thánh, ma quỷ, vào những phép màu… của những con người bất lực trước cuộc đấu tranh chống thiên nhiên Đó là lòng tin vào một cuộc sống tốt đẹp hơn ở thế giới bên kia của những người lao động nghèo khổ, bần cùng và bất lực trong cuộc đấu tranh chống giai cấp bóc lột [27]

Trang 36

Ở góc độ nghiên cứu tôn giáo, tác giả Đặng Nghiêm Vạn cho rằng “Niềm tin tôn giáo là niềm tin vào thế giới vô hình, vào những siêu linh mà chính con người tưởng tượng và sáng tạo ra” [79,82]

Theo quan điểm triết học, tác giả Trịnh Đình Bảy cho rằng niềm tin tôn giáo là niềm tin vào Chúa Trời, vào đấng siêu nhân, tin vào nhà thờ, tin vào kinh thánh, kinh phật, coi đó là khâu trung gian để tín đồ nhận được sự nhân từ vào cuộc sống từ trên trời hay Cõi Niết bàn [14]

Trong khuôn khổ luận án, chúng tôi tiếp cận khái niệm niềm tin tôn giáo theo quan điểm Tâm lý học của tác giả Vũ Dũng:

“Niềm tin tôn giáo là niềm tin của con người vào sự tồn tại của lực lượng

siêu nhiên, vào thế giới vô hình” [29,76]

Theo đó, bên cạnh những đặc điểm chung của niềm tin, niềm tin tôn giáo có những đặc điểm riêng sau:

- Niềm tin tôn giáo có tính chất hư ảo

Tính hư ảo này thể hiện ở chỗ những người theo tôn giáo hướng đến các lực lượng siêu nhiên, tìm kiếm sự che chở và giúp đỡ của các lực lượng này Cùng với việc hướng đến các lực lượng thần thánh, họ còn tin vào và hướng tới một cuộc sống ở thế giới khác Các lực lượng siêu nhiên (lực lượng thần thánh) là những lực lượng không tồn tại trong cuộc sống của chúng ta Đó là lực lượng do con người tạo nên bằng nhận thức và tình cảm của mình Chúng có thể xuất phát

từ một đối tượng có thực trong cuộc sống (một vật thể hay một con người nào đó,

ví dụ: Bà Chúa kho, Đức Thánh Trần, chúa Giêsu, Phật Thích Ca…) hay những đối tượng hoàn toàn do con người tưởng tượng ra, hư cấu nên, chẳng hạn Chúa Trời Các lực lượng siêu nhiên này tuy không tồn tại trong cuộc sống hiện tại của chúng ta, nhưng với những người theo tôn giáo thì chúng có ảnh hưởng lớn (thậm chí quyết định) cuộc sống hiện tại và cuộc sống sau này của họ Niềm tin vào lực lượng siêu nhiên đã phát triển từ mức độ thấp đến mức độ cao cùng với

sự phát triển của xã hội loài người Các hình thức tôn giáo sơ khai của những người nguyên thủy, ma thuật, Bái vật giáo, Tôtem giáo đã phản ánh niềm tin vào các đặc tính siêu nhiên của các vật thể vật chất Các vật thể vật chất này có thể là

Trang 37

một loài động vật nào đó (vật tổ - tôtem) như con hổ của dân tộc Thái ở nước ta, hoặc như một loài như cây đa, cây gạo hay một vật vô tri, vô giác như bình vôi… Trong quá trình phát triển của tôn giáo cùng với sự phát triển của xã hội, các lực lượng siêu nhiên ngày càng tách khỏi những yếu tố tự nhiên Trong ý thức của con người lúc này, các lực lượng siêu nhiên tồn tại dưới dạng như yếu tố tinh thần, như một hình thức cao của sự tồn tại chi phối thế giới vật chất và không đối lập với thế giới này Như vậy, các lực lượng siêu nhiên đã biến đổi từ các thực thể vật chất thành các thực thể phi vật chất

Ngoài ra, người theo tôn giáo còn tin vào sự tồn tại một thế giới khác Ở đó, con người sẽ sống tiếp cuộc sống thứ hai của mình sau khi kết thúc cuộc đời trần thế Thế giới đó theo cách gọi của Kitô giáo, Hồi giáo… là Thiên đường, Địa ngục, còn theo Phật giáo là Cõi Niết bàn… Thiên đường theo đạo Kitô là một nơi

mà ai cũng mơ ước Nơi đó mỗi cành cây đều phủ đầy hoa thơm, quả ngọt, nơi

đó có những thảm cỏ mượt mà, mãi mãi xanh tươi, những dòng sông xanh trong, những dòng suối đầy sữa tươi, rượu vang với hương vị tuyệt vời Nơi đó luôn luôn có nắng ấm, và ở đó con người không cần phải e thẹn, ghen tuông, sợ hãi, mọi vật đều không có tuổi, không biết đến cái chết và bệnh tật Thiên đường là thế giới cực lạc, ở đó mọi nhu cầu, mọi mong ước của con người đều được thỏa mãn Đặc biệt, con người được trường tồn vĩnh viễn, không phải lo lắng đến đau khổ, bệnh tật và những đe dọa khác Trái ngược với Thiên đường là Địa ngục Các tín đồ Hồi giáo cho rằng Địa ngục là nơi ghê rợn, lửa cháy đùng đùng, khói cuộn ngút ngàn Những người bị đày xuống nơi đây, cổ phải đeo gông xiềng, mình lằn roi vọt, chịu đủ mọi cực hình, tra tấn, chẳng bao giờ ngóc đầu lên được Đạo Kitô coi Địa ngục là nơi ở sau khi chết của những người sống không tin vào đạo và phạm nhiều tội ác Đạo Phật xem Địa ngục là cõi khổ, là nơi đày đọa của những chúng sinh khi sống đã phạm nhiều tội ác, xứng đáng phải bị đày đọa xuống cõi khổ như vậy Nhưng theo đạo Phật, cuộc sống ở Địa ngục không phải

là vĩnh viễn Theo luật luân hồi, nghiệp báo, những kẻ đã trả hết nợ của tội ác do mình gây ra sẽ được tái sinh ở cõi sống tốt đẹp hơn, trong đó có cõi người

Trang 38

Như vậy, khi nói đến niềm tin tôn giáo là nói đến một niềm tin hư ảo, niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên, vào một thế giới ước mơ của con người Ở đây, cái khát khao dựa vào lực lượng thần thánh nhằm tìm kiếm sự giúp đỡ và che chở, các ước muốn về một cuộc sống cực lạc và vĩnh hằng là một nhu cầu của con người Nhưng đây là một nhu cầu không bao giờ biến thành hiện thực được Hay nói cách khác, đây là nhu cầu hư ảo, một khát vọng to lớn mà không bao giờ đạt tới được

- Niềm tin tôn giáo là niềm tin không có tính logic

Các quy luật tự nhiên phản ánh các sự vật, hiện tượng xảy ra theo một trình

tự nhất định của mối liên hệ nhân quả, tất yếu và ổn định Song, tôn giáo là hiện tượng không thể kiểm tra được bằng thực nghiệm, không có trong hệ thống chung của nhận thức và thực tiễn của con người Tức là, cái khách thể mà người theo tôn giáo hướng tới không tồn tại trong thế giới hiện tại, nhưng cũng không

xa lạ với con người mà rất gần gũi với con người Theo quan điểm của nhà thờ, Chúa Trời là sự bí ẩn chưa từng được biết tới, chưa xuất hiện và con người chưa thể tiếp cận được Song, Chúa lại thấu hiểu được tâm tư, nguyện vọng của con người, có ảnh hưởng quyết định đến số phận của họ Những người theo tôn giáo không sử dụng phạm trù thực tiễn để tiếp cận thần thánh Theo họ, các lực lượng siêu nhiên không thể tri giác, nhận biết bằng các cơ quan cảm giác của con người, mà chỉ có thể nhận biết được bằng linh cảm đặc biệt dựa trên một niềm tin

và sự sùng kính sâu sắc

Tính phi logic của niềm tin tôn giáo còn thể hiện ở chỗ những người theo tôn giáo sẵn sàng tin và hành động không theo những quy trình thông thường của

tư duy Một tin đồn, một sự phán truyền của thủ lĩnh tôn giáo có thể làm các tín

đồ hành động mà họ không cần phân tích độ tin cậy, tính đúng, sai của những điều đó Người ta có thể sẵn sàng tin theo một tin đồn, người ta có thể đày ải cả cuộc đời mình hay có thể chết để được đến một thế giới mà chưa ai được biết đến

nó và không biết nó tồn tại ở đâu

Như vậy, về bản chất, niềm tin tôn giáo không trùng hợp với nhận thức Bởi

vì, niềm tin tôn giáo chỉ hướng đến khách thể mà chúng ta không biết được,

Trang 39

không tiếp cận được Có thể nói, niềm tin tôn giáo là niềm tin không dựa trên những luận cứ logic, không có căn cứ khoa học Nhưng đối với người theo tôn giáo, nó lại là lẽ sống, là cứu cánh của cuộc đời Người ta có thể chấp nhận mọi gian khổ và khó khăn, thậm chí đổi cả sinh mạng của mình để phụng sự cho niềm tin ấy

- Niềm tin tôn giáo là niềm tin bền vững

Nói đến niềm tin là nói tới một định hướng giá trị vững chắc trong nhận thức và hành động của con người Nhưng niềm tin tôn giáo lại là một niềm tin hết sức bền vững, một sự bền vững đặc biệt so với các niềm tin khác ở người theo tôn giáo Sự bền vững của niềm tin tôn giáo thể hiện ở chỗ, những người theo tôn giáo tin vào các lực lượng siêu nhiên, vào thế giới hư ảo một cách mê muội, một cách mù quáng, vì niềm tin tôn giáo của mình, họ có thể sẵn sàng hy sinh tất cả (kể cả tính mạng của mình) Tính bền vững của niềm tin tôn giáo còn biểu hiện ở chỗ cá nhân tin tưởng vào niềm tin đó đến cùng và đó là niềm tin mà họ sẽ theo đuổi trong suốt cuộc đời của mình Đây là một yếu tố cơ bản để giải thích tinh thần “tử vì đạo” tới mức mê muội của người theo đạo, là lý do để giải thích sức sống của tôn giáo, cũng như sự bám rễ vững chắc của hiện tượng này trong đời sống xã hội

Một số nhà tâm lý học đã cố gắng lý giải về sự bền vững của niềm tin tôn giáo Theo L Phectinger, có ba yếu tố tạo nên sự bền vững này: Nhận thức về tôn giáo trong cuộc sống cá nhân và trong hệ thống định hướng giá trị; Hoàn cảnh sống mà các tín đồ tiếp cận, thông qua các sinh hoạt tôn giáo, niềm tin tôn giáo ăn sâu vào tình cảm và tâm trí của cá nhân; Áp lực của các cộng đồng tôn giáo đến các tín đồ Ngoài ra, hai nhà tâm lý học Mỹ là D Bestson và L Ventis cho rằng sự bền vững của niềm tin tôn giáo là do khả năng giữ gìn một số đặc điểm tâm

lý của tín đồ, bất chấp các yếu tố thực tế và sự mâu thuẫn giữa chúng [29]

Ngoài các yếu tố tạo nên sự bền vững của niềm tin tôn giáo kể trên, niềm tin vào sự cứu thế con người của các lực lượng thần thánh cũng là một yếu tố rất quan trọng Niềm tin vào sự cứu thế được hình thành từ hai yếu tố có vẻ như tương phản, nhưng thống nhất với nhau là sự ý thức về khả năng hùng mạnh của

Trang 40

thần thánh và sự yếu đuối, bé bỏng của bản thân con người Bản chất là một hiện tượng tâm lý xã hội, nên các cộng đồng tôn giáo cũng có vai trò to lớn trong việc củng cố và giữ gìn niềm tin tôn giáo

Tóm lại, niềm tin tôn giáo là một niềm tin rất bền vững, một niềm tin hướng đến các lực lượng và thế giới không tồn tại Chính tính hư ảo đã góp phần làm cho niềm tin tôn giáo thêm bền vững và sâu sắc Mặt khác, một niềm tin tôn giáo bền vững sẽ làm cho một số người theo tôn giáo có những hành vi thiếu minh mẫn, thậm chí cực đoan Do vậy, thực tế không ít kẻ xấu đã lợi dụng đặc điểm này nhằm thực hiện các hoạt động không phù hợp như mê tín, dị đoan, buôn thần, bán thánh hoặc lợi dụng vào các mục đích chính trị làm ảnh hưởng xấu đến đời sống xã hội Ngược lại, nếu ta khéo léo vận dụng những đặc điểm của niềm tin tôn giáo sẽ nâng cao hiệu quả trong việc giáo dục, tuyên truyền người theo tôn giáo phát huy, cống hiến tiềm năng của mình nhằm xây dựng và bảo vệ đất nước, thực hiện nếp sống tốt đời, đẹp đạo

Cấu trúc tâm lý của niềm tin tôn giáo được tạo thành bởi ba thành tố cơ bản: nhận thức, xúc cảm tình cảm và ý chí hành động

So với cấu trúc tâm lý của các loại niềm tin khác, yếu tố nhận thức trong cấu trúc niềm tin tôn giáo tương đối đặc biệt Do đối tượng của niềm tin tôn giáo

là lực lượng siêu nhiên, vô hình nên con người không thể nhận thức nó theo cách thức thông thường, nghĩa là hiểu biết đối tượng trước hết thông qua các giác quan

mà bằng cảm nhận, sự trải nghiệm chủ quan của mỗi người Sự hiểu biết về đối tượng chủ yếu được thực hiện thông qua quá trình tưởng tượng Quá trình tưởng tượng của người có niềm tin tôn giáo dựa trên những hình ảnh, biểu tượng do các

tổ chức tôn giáo xây dựng nên một cách tự giác, hoặc hình thành một cách tự phát trong các tín ngưỡng dân gian

Yếu tố thứ hai đóng vai trò quan trọng trong cấu trúc niềm tin tôn giáo là yếu tố cảm xúc Khi cảm xúc của người theo tôn giáo đối với các khách thể tôn giáo càng mạnh mẽ thì niềm tin tôn giáo càng sâu sắc và bền vững Nếu giữa cá nhân và khách thể tôn giáo không xuất hiện các cảm xúc thì cá nhân đó không thể có niềm tin tôn giáo Nói cách khác, những biểu tượng tôn giáo càng ấn

Ngày đăng: 27/06/2017, 14:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w