1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Địa danh tỉnh vĩnh long qua góc nhìn văn hóa dân gian

321 755 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 321
Dung lượng 3,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì ba nhóm lý do cấp thiết nêu trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu “Địa danh tỉnh Vĩnh Long qua góc nhìn văn hóa dân gian” làm vấn đề nghiên cứu của luận án Tiến sỹ, chuyên ngà

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGÔ THỊ THANH

ĐỊA DANH TỈNH VĨNH LONG

QUA GÓC NHÌN VĂN HÓA DÂN GIAN

LUẬN ÁN TIẾN SĨ

CHUYÊN NGÀNH VĂN HÓA DÂN GIAN

HÀ NỘI – năm 2017

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGÔ THỊ THANH

ĐỊA DANH TỈNH VĨNH LONG

QUA GÓC NHÌN VĂN HÓA DÂN GIAN

Chuyên ngành: VĂN HÓA DÂN GIAN

Mã số: 62 22 01 30

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA DÂN GIAN

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS LÊ TRUNG HOA

HÀ NỘI - năm 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện, sáng tạo

Các dữ liệu và số liệu trong Luận án là trung thực, khách quan, có nguồn gốc

rõ ràng Kết quả khoa học của Luận án chưa từng được công bố trên bất kỳ

nguồn thông tin nào

Người thực hiện Luận án

NGÔ THỊ THANH

Trang 4

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3

3 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 4

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 4

5 Những đóng góp mới của luận án 6

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án 8

7 Cơ cấu của luận án 9

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ

LÝ LUẬN 10

1.1 Nhận xét về nguồn tư liệu, tài liệu 10

1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 14

1.3 Cơ sở lý luận nghiên cứu địa danh dưới góc nhìn văn hóa dân gian 26

1.4 Cơ sở thực tiễn nghiên cứu địa danh dưới góc nhìn văn hóa dân gian 43

CHƯƠNG 2 CHỦ THỂ VÀ QUÁ TRÌNH GIAO LƯU VĂN HÓA CHI PHỐI NGUỒN GỐC HÌNH THÀNH ĐỊA DANH TỈNH VĨNH LONG 47

2.1 Khái quát lịch sử hình thành tỉnh Vĩnh Long 47

2.2 Bức tranh văn hóa tộc người qua địa danh tỉnh Vĩnh Long 51

2.3 Ảnh hưởng của quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa đến nguồn gốc hình thành địa danh tỉnh Vĩnh Long 67

CHƯƠNG 3 ĐỊA DANH TỈNH VĨNH LONG HÌNH THÀNH VÀ BIẾN ĐỔI TRONG KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN VĂN HÓA 76

3.1 Địa danh trong không gian văn hóa tỉnh Vĩnh Long 76

3.2 Địa danh phản ánh thời gian văn hóa tỉnh Vĩnh Long 91

CHƯƠNG 4 NHẬN XÉT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỊA DANH TỈNH VĨNH LONG QUA GÓC NHÌN VĂN HÓA DÂN GIAN 121

4.1 Quy luật văn hóa dân gian chi phối địa danh tỉnh Vĩnh Long 121

4.2 Tiểu vùng văn hóa tỉnh Vĩnh Long trong mối quan hệ với vùng văn hóa Tây

Nam Bộ qua địa danh 132

4.3 Đề xuất các giải pháp ứng dụng kết quả nghiên cứu địa danh tỉnh Vĩnh Long qua góc nhìn văn hóa dân gian 140

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Trang 5

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ

CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

PHỤ LỤC 1: Thống kê địa danh tỉnh Vĩnh Long

PHỤ LỤC 2: Quy ước nhóm địa danh được lý giải trong luận án

PHỤ LỤC 3: Các đơn vị hành chính tỉnh Vĩnh Long dưới triều Nguyễn và thuộc Pháp

PHỤ LỤC 4: Bản đồ tỉnh Vĩnh Long xưa và nay

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

2.1 Các bang của người Hoa dựa trên phương ngữ của

3.1 Các đơn vị quy đổi của thước ruộng dưới triều Nguyễn 103

Trang 8

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

1.1 Để góp phần tìm hiểu về đời sống văn hóa, lịch sử của địa phương tại một

thời điểm và hoàn cảnh nhất định, các nhà nghiên cứu thường dựa trên cơ sở ngôn ngữ học để truy tìm những minh chứng để có thể giải mã được các vấn đề của thời đại có liên quan Một trong những đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ mang nhiều lớp nghĩa đáng tin cậy nhất đó là địa danh, bởi về bản chất, chúng chính là “những

tấm bia lịch sử - văn hóa bằng ngôn ngữ” [55; tr.77] Trải qua nhiều thời kỳ lịch sử,

bên cạnh chức năng định danh, địa danh luôn là trang sử sống động ghi chép lại nhiều biến cố xã hội, là nơi thể hiện những tâm tư, tình cảm và ước vọng của nhân dân…

Chính vì vậy, hiện nay, để góp phần nghiên cứu văn hóa, các nhà khoa học thường chọn địa danh làm khách thể nghiên cứu Trước hết, địa danh sẽ góp phần lý giải được các giá trị, thành tố văn hóa và cả tiến trình hình thành, biến đổi văn hóa trong lịch sử Thứ đến, việc nghiên cứu địa danh dưới góc độ văn hóa cũng là một công việc góp phần hoàn thiện về mảng nghiên cứu địa danh Việt Nam còn khá mới

mẻ Thực tế, trong thời gian qua, việc nghiên cứu địa danh dưới góc độ ngôn ngữ đã mang lại những thành quả đáng ghi nhận Các nhà ngôn ngữ đã có đóng góp lớn trong việc lý giải cặn kẽ và chi tiết về quá trình hình thành phân chia địa danh theo ngữ nguyên, nghiên cứu về mặt cấu tạo, nguồn gốc, ý nghĩa và cả những biến chuyển của địa danh… Tuy nhiên, nhìn chung, việc nghiên cứu địa danh dưới góc độ ngôn ngữ vẫn chưa lý giải một cách thấu đáo về bức tranh toàn cảnh của đời sống sinh hoạt, tâm thức của người dân bản địa Bàn luận về vấn đề này, Nikonov trong công

trình Những cách nghiên cứu địa danh khẳng định ngôn ngữ học cần có những trợ

lực trong việc nghiên cứu địa danh Vì vậy, việc lý giải địa danh đòi hỏi phải có nhiều góc nhìn - trong đó, góc nhìn văn hóa học phải được nhìn nhận với vai trò vừa

kế thừa những thành tựu của ngôn ngữ học, song song đó, văn hóa học lại cũng vừa đóng vai trò then chốt trong việc lý giải địa danh một cách toàn diện, đi sâu vào giải

mã đời sống văn hóa dân gian trong việc đặt tên địa danh…

1.2 Ngoài tính cấp thiết của đề tài về mặt lý luận, chúng tôi xác định phạm vi

nghiên cứu địa danh về mặt không gian thuộc địa bàn tỉnh Vĩnh Long vì lý do sau:

Đồng bằng Sông Cửu Long là một bộ phận châu thổ của sông Mêkông Sau khi qua Phnom Pênh, sông Mêkông chảy qua vùng Đồng bằng Sông Cửu Long bằng hai nhánh: bên phải là sông Bassac (sông Hậu) và bên trái là sông Mê Kông (sông Tiền) Vĩnh Long là một trong mười ba tỉnh thành có vị trí địa lý nằm giữa hai con sông lớn nhất của khu vực, điều đó khiến vùng đất này trở thành dãy cù lao được bồi tụ bởi nguồn phù sa dồi dào cùng với một hệ thống kênh rạch chằng chịt, Vĩnh Long là một

Trang 9

2

tỉnh mang đầy đủ đặc trưng của vùng sông nước miền Tây Trong lịch sử, Vĩnh Long vốn là một trong những vùng đất thu hút các lưu dân đến khai phá, khẩn hoang lập ấp đầu tiên ở Tây Nam Bộ Từ sau thế kỷ XVII, ba tộc người Khmer, Việt, Hoa đã cùng chung vai sát cánh với nhau sinh sống trên mảnh đất giàu phù sa này, quá trình giao lưu văn hóa vì thế cũng diễn ra khá phong phú tạo nên những nét văn hóa độc đáo cho tỉnh Vĩnh Long Vùng đất Vĩnh Long từng là nơi hội tụ, một trong những trung tâm hành chính đóng vai trò “kinh đô” của vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, khởi đầu với tên gọi là Long Hồ dinh (năm 1732) Vì vậy, có thể nói, Vĩnh Long là tỉnh có

bề dày văn hóa trong khu vực

Chính vị thế về lịch sử và truyền thống văn hóa nói trên, vùng đất Vĩnh Long trở thành một trong những cái nôi văn hóa đầu tiên, có ảnh hưởng đến sự hình thành văn hóa của khu vực Trong giai đoạn hiện nay, vùng văn hóa Tây Nam Bộ được

Chính phủ quan tâm trong Chương trình nghiên cứu khoa học trọng điểm Tây Nam

Bộ do Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh và Viện Hàn Lâm Khoa học Xã hội Việt

Nam tổ chức triển khai hoạt động nghiên cứu theo công văn số 5798/VPCP-KGVX ngày 17/07/2013, vì thế, văn hóa tỉnh Vĩnh Long là một đề tài mang tính cấp thiết, nguồn đề tài quan trọng trong tổng thể nghiên cứu về văn hóa Tây Nam Bộ

1.3 Hơn nữa, hiện nay, việc phát triển các đô thị và xây dựng nông thôn mới là

một trong những nhiệm vụ hàng đầu ở các tỉnh thành trong cả nước Để thực hiện, tỉnh Vĩnh Long cũng đã chú trọng đầu tư cơ sở hạ tầng, quy hoạch các khu vực chức năng, khu dân cư, mở thêm các tuyến đường mới, tiến hành công tác điều chỉnh địa giới hành chính ở một số địa phương… Việc tạo cơ sở khoa học nhằm đáp ứng nhu cầu đặt tên mới hoặc đổi tên các địa danh sau khi thiết lập các tuyến đường, điều chỉnh địa giới hành chính trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long là vấn đề mang tính cấp thiết Chính vì vậy, kết quả nghiên cứu đề tài sẽ góp phần giải quyết được vấn đề thiết thực của địa phương là đặt và đổi tên đường phố trên cơ sở vốn văn hóa lịch sử

của tỉnh nhà theo tinh thần Nghị định số 91/2005/NĐ-CP Về việc ban hành quy chế

đặt tên, đổi tên đường, phố và công trình công cộng, thực hiện về phát triển nông

thôn bền vững theo Quyết định số 432/QĐ-TTg Phê duyệt Chiến lược phát triển bền

vững Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020 ký ngày 12 tháng 4 năm 2012

Chính vì ba nhóm lý do cấp thiết nêu trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu

“Địa danh tỉnh Vĩnh Long qua góc nhìn văn hóa dân gian” làm vấn đề nghiên cứu

của luận án Tiến sỹ, chuyên ngành Văn hóa dân gian nhằm giải quyết các vấn đề nghiên cứu lý luận về địa danh, đồng thời, góp một phần nhỏ vào sự phát triển hoạt động khoa học công nghệ và văn hóa – xã hội ở địa phương nói riêng, vùng Tây Nam

Bộ nói chung

Trang 10

3

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

2.1.1 Về mặt lý luận: Luận án cung cấp nguồn tư liệu tổng quát về địa danh

tỉnh Vĩnh Long từ trong lịch sử cho đến hiện tại, làm cơ sở dữ liệu cho các nghiên cứu tiếp theo về tỉnh Vĩnh Long và vùng Tây Nam Bộ; Nghiên cứu cơ sở lý thuyết giải mã địa danh dưới góc nhìn văn hóa dân gian; Đề tài khẳng định địa danh tỉnh Vĩnh Long nói riêng và TNB nói chung là một loại hình di sản văn hóa phi vật thể của quốc gia và nhân loại, làm cơ sở bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa có trong địa danh trước bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

2.1.2 Về mặt thực tiễn: Qua nghiên cứu địa danh tỉnh Vĩnh Long, luận án tìm

ra được luận cứ nhằm củng cố minh chứng về quá trình khẩn hoang vùng đất Tây Nam Bộ của người Việt trong lịch sử, nêu những nét tương đồng và khác biệt của vùng văn hóa tỉnh Vĩnh Long trong mối quan hệ vùng văn hóa Tây Nam Bộ Bên cạnh đó, đề tài góp phần xây dựng cơ sở khoa học lựa chọn hoặc loại bỏ những địa danh không phù hợp với truyền thống văn hóa, cách mạng tỉnh Vĩnh Long, góp phần hạn chế sự lược bỏ tùy tiện một số địa danh, giúp cho công tác bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa có trong địa danh thực hiện đúng địa chỉ theo Nghị định số

91/2005/NĐ-CP Về việc ban hành quy chế đặt tên, đổi tên đường, phố và công trình

công cộng; Đề xuất các tiêu chí khoa học để đặt địa danh trong quá trình xây dựng và

củng cố vững chắc nông thôn dựa trên các tiêu chí nông thôn mới, phù hợp với đặc điểm từng vùng, giữ gìn và phát huy những nét văn hóa đặc sắc của nông thôn Việt

Nam theo Quyết định số 432/QĐ-TTg Phê duyệt Chiến lược phát triển bền vững Việt

Nam giai đoạn 2011 – 2020 ký ngày 12 tháng 4 năm 2012; Thực hiện Chương trình bảo tồn và phát huy di sản văn hóa và nếu có thể được, luận án là cơ sở để tỉnh Vĩnh

Long nói riêng, vùng Tây Nam Bộ nói chung xây dựng hồ sơ Không gian văn hóa và

đặc trưng ngôn ngữ qua địa danh vùng Tây Nam Bộ để đệ trình UNESCO công nhận

là Di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp trong giai đoạn tới

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Thống kê, phân loại địa danh tỉnh Vĩnh Long

- Khái quát về cơ sở lý luận và thực tiễn nghiên cứu địa danh; Đề xuất được phương pháp nghiên cứu địa danh qua góc nhìn văn hóa dân gian; Đề xuất được nội hàm các thuật ngữ nghiên cứu địa danh qua góc nhìn văn hóa dân gian

- Giải mã được đời sống văn hóa dân gian tỉnh Vĩnh Long qua địa danh và ngược lại; Tìm ra các giá trị văn hóa truyền thống qua địa danh tỉnh Vĩnh Long

- Nhận diện được các quy luật hình thành văn hóa dân gian qua địa danh trong mối quan hệ vùng văn hóa Tây Nam Bộ

Trang 11

4

- Đề xuất, khuyến nghị công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân gian qua địa danh

3 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Các thành tố văn hóa dân gian tỉnh Vĩnh Long, cụ thể là sự vận động của đời sống văn hóa dân gian hình thành nên địa danh

3.2 Khách thể nghiên cứu

Sở dĩ, người viết lựa chọn địa danh tỉnh Vĩnh Long làm khách thể nghiên cứu là bởi vì địa danh lưu giữ các yếu tố dân tộc, ngôn ngữ, phong tục tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo, đặc điểm địa hình địa chất… và ghi dấu cả sự biến động của lịch sử Vì vậy, việc lựa chọn khách thể nghiên cứu địa danh tỉnh Vĩnh Long sẽ góp phần rất lớn làm sáng tỏ đối tượng nghiên cứu văn hóa dân gian tỉnh Vĩnh Long

3.3 Phạm vi nghiên cứu

3.3.1 Về không gian: Địa bàn tỉnh Vĩnh Long Để có một cái nhìn sâu và tổng

quát hơn về quá trình hình thành và lưu truyền vốn văn hóa dân gian của tỉnh nhà, không gian nghiên cứu sẽ được mở rộng sang các địa danh (có ảnh hưởng về văn hóa đối với người dân trong từng thời kỳ lịch sử), đó là một số địa danh thuộc về tỉnh Vĩnh Long xưa (nay vẫn thuộc địa giới tỉnh nhà)

3.3.2 Về thời gian: Chúng tôi tiến hành khảo sát từ giai đoạn hình thành

Vương quốc Phù Nam, thời điểm các Chúa Nguyễn thành lập Long Hồ Dinh (năm 1732) cho đến nay

3.3.3 Về quy mô: Luận án khảo sát qua các tài liệu thành văn, tư liệu điều tra

điền dã; khảo sát địa danh hiện có và địa danh nay đã mất đi nhưng vẫn ẩn chứa nhiều mã văn hóa dân gian quý báu; nghiên cứu địa danh hành chính (bao gồm địa danh có nguồn gốc dân gian) và địa danh dân gian

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp luận

Xuất phát từ phương pháp luận xem văn hóa là nhân tố bên trong, là nền tảng chi phối mọi hoạt động của xã hội Văn hóa là cái gốc, là nguồn cội điều khiển mọi hành vi của con người Đây cũng chính là quan điểm của Đảng và Nhà nước ta xác

định trong Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VIII “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã

hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội” và được

nhấn mạnh lại qua các kỳ đại hội Đảng Trong luận án này, chúng tôi xem địa danh

được hình thành từ trong đời sống văn hóa dân gian Dựa trên khách thể nghiên cứu

là địa danh, chúng tôi đã xác lập vai trò của văn hóa chi phối địa danh Cụ thể, văn hóa quyết định nguồn gốc hình thành địa danh, quy định cách thức đặt tên, cách thức

Trang 12

vệ đất, lập đất trên vùng đất Tây Nam Bộ…

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu sau:

- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Trong nhóm này, chúng tôi sử dụng phương pháp thống kê và phân loại để thống kê các địa danh hiện có trên địa bàn tỉnh

và phân loại địa danh bước đầu theo danh pháp địa lý (như: hồ, kênh, rạch, sông, xẻo, vùng, khu vực…) Sau đó, chúng tôi tiếp tục áp dụng phương pháp này để thống kê, phân loại địa danh chịu sự chi phối của các thành tố văn hóa trong phần mã hóa các địa danh (Phụ lục) Trên cơ sở này, chúng tôi khái quát được bức tranh chung của địa danh tỉnh Vĩnh Long Song song đó, để xử lý các dữ liệu là nguồn tư liệu, tài liệu

thành văn, chúng tôi sử dụng các phương pháp phân tích tổng hợp; phương pháp

nghiên cứu lịch sử, phương pháp so sánh Phương pháp bản đồ cũng được áp dụng

trong luận án nhằm phát hiện sự thay đổi của địa danh và địa giới tỉnh Vĩnh Long qua từng thời kỳ lịch sử

- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Với phương pháp điều tra điền dã, chúng tôi sưu tầm và kiểm chứng được nguồn gốc hình thành và lưu truyền địa danh Song song đó, chúng tôi kết hợp phương pháp phỏng vấn sâu để tìm hiểu về vốn văn hóa chi phối địa danh Đối tượng khảo sát: Người dân tỉnh Vĩnh Long; Địa điểm: huyện Bình Minh (H.BM), huyện Bình Tân (H.BT), huyện Long Hồ (H.LH), huyện Mang Thít (H.MT), huyện Tam Bình (H.TB), huyện Trà Ôn (H.TO), huyện Vũng Liêm (H.VL), thành phố Vĩnh Long (Tp.VLo) Phương pháp chọn mẫu: mẫu ngẫu nhiên phân tầng Quy mô khảo sát: 545 người, n = 5 người/xã

- Nhóm phương pháp nghiên cứu toán học: Đây là phương pháp sử dụng phần mềm Excel phục vụ cho công tác thống kê tần số phân bố của địa danh nhằm lý giải các đặc trưng văn hóa tỉnh Vĩnh Long

Trang 13

6

Ngoài ba nhóm phương pháp chung nói trên được dùng để nghiên cứu toàn luận

án, chúng tôi còn mạnh dạn đề xuất hệ phương pháp mới sử dụng cho việc giải mã từng địa danh dưới góc nhìn văn hóa nói chung, văn hóa dân gian nói riêng, bao gồm

năm phương pháp: phương pháp xác định thành tố văn hóa, phương pháp soi gương,

phương pháp tằm ăn lá, phương pháp mã hóa địa danh, phương pháp kiểm chứng dữ liệu địa danh Mục đích, ý nghĩa của năm phương pháp này áp dụng cụ thể trong việc

giải mã địa danh chúng tôi sẽ trình bày chi tiết trong phần 1.3.2.5

5 Những đóng góp mới của luận án

5.1 Đóng góp mới về mặt khoa học

- Luận án khái quát và đề xuất cơ sở lý luận nghiên cứu địa danh qua góc nhìn

văn hóa dân gian, cụ thể là việc dùng các thành tố văn hóa làm kim chỉ nam đặt trong

mối liên kết với bộ tiêu chí giải mã địa danh gồm yếu tố tộc người, không gian và thời gian văn hóa Khi dùng các thành tố văn hóa làm đơn vị cơ sở, chúng tôi từng bước giải mã các dữ kiện văn hóa đằng sau địa danh, đặt chúng trong sự vận động của đời sống văn hóa dân gian gắn với diễn trình văn hóa của dân tộc Điều này đã khắc phục được một số lỗ hổng trong nghiên cứu địa danh dưới góc nhìn ngôn ngữ Đây cũng là điều mà các nhà nghiên cứu văn hóa từ trước đến nay chưa chú trọng đúng mức, họ chỉ quan tâm đến việc lý giải từng địa danh và đưa vào khung thời gian

và không gian văn hóa chứ chưa nhận diện được sự liên kết giữa các địa danh với nhau, chưa phác thảo được tiến trình văn hóa dân tộc chi phối địa danh của một vùng đất Chính vì vậy, các nghiên cứu địa danh dưới góc nhìn văn hóa trước đây còn chịu ảnh hưởng của trường phái ngôn ngữ học, chưa giải quyết được vấn đề cốt lõi để giải

mã địa danh một cách có hệ thống bằng một hệ phương pháp nghiên cứu cụ thể của chuyên ngành

- Luận án đã đề xuất mới hệ phương pháp truy tìm dữ liệu để nghiên cứu, giải

mã địa danh của một vùng đất dưới góc nhìn văn hóa, bao gồm: phương pháp xác định thành tố văn hóa, phương pháp soi gương, phương pháp tằm ăn lá, phương pháp

mã hóa địa danh và phương pháp kiểm chứng dữ liệu địa danh Luận án giới thuyết mới một số phạm trù, khái niệm thuộc về bản chất của địa danh qua văn hóa dân gian Tiêu biểu là nhận diện được nội hàm địa danh hành chính có nguồn gốc dân gian; đề xuất phân loại địa danh thành địa danh hành chính và địa danh dân gian; nêu bật được đặc điểm của địa danh trong đời sống văn hóa dân gian Qua quá trình nghiên cứu, luận án còn giới thuyết mới một số quy luật văn hóa dân gian chi phối quá trình hình thành và phát triển của địa danh như: Quy luật văn hóa dân gian chi

phối cách đặt địa danh, bao gồm: việc phát hiện Nguồn gốc địa danh xuất phát từ đời

sống văn hóa của địa phương; Tên gọi địa danh đáp ứng nhu cầu dễ nhớ; Từ ngữ đặt tên cho địa danh chịu sự chi phối từ lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân; Tên

Trang 14

7

gọi địa danh được số đông hưởng ứng, nuôi dưỡng bằng con đường truyền miệng; Tên gọi địa danh được đặt theo quy luật liên hoàn (việc phát hiện quy luật đặt địa

danh theo tính liên hoàn, kết hợp với việc giải mã địa danh mang thành tố “Cái”, luận

án góp phần cho ngành địa danh học Việt Nam trong việc giải mã và giải quyết một

số vấn đề còn đang tranh cãi về địa danh); Quy luật chuyển hóa giữa địa danh hành chính và địa danh dân gian (giúp các nhà nghiên cứu không có cái nhìn cứng nhắc về địa danh hành chính); Quy luật hình thành nguồn gốc phái sinh của địa danh (với việc phát hiện quy luật này, chúng tôi đã góp phần giải quyết được các khái niệm nhập nhằng khi xác định địa danh văn hóa, giải quyết được vấn đề địa danh có nhiều nguồn gốc hình thành, chứng minh địa danh mang tính dân gian rất mạnh mẽ…); Quy luật văn hóa dân gian chi phối quy luật ngôn ngữ; Quy luật chuyển hóa giữa địa danh – hiệu danh – nhân danh

5.2 Đóng góp mới về mặt thực tiễn

- Tạo cơ sở khoa học góp phần giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa tỉnh Vĩnh Long còn lưu giữ qua địa danh; Giúp việc bảo tồn vốn văn hóa dân gian của tỉnh Vĩnh Long tiếp tục thực hiện đúng địa chỉ; Hạn chế được việc bảo tồn theo sự cảm tính, chủ quan, tránh việc xóa sổ các địa danh dân gian trước bối cảnh công nghiệp

hóa hiện đại hóa đất nước theo tinh thần của Nghị định số 91/2005/NĐ-CP Về việc

ban hành quy chế đặt tên, đổi tên đường, phố và công trình công cộng Song song đó,

luận án cũng góp phần nhận diện được phạm vi áp dụng của Nghị định

91/2005/NĐ-CP tại Chương 1, Điều 1, cần được mở rộng đến các vùng nông thôn Bổ sung những tiêu chí đặt địa danh gắn với địa danh thuần Việt

- Đóng góp cho Chương trình mục tiêu quốc gia nông thôn mới trong quá trình

thực hiện việc xây dựng các công trình nông thôn mới theo Quyết định số

491/QĐ-TTg ngày 16 tháng 4 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Chương trình

mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, giai đoạn 2010 – 2020, phù hợp với

đặc điểm từng vùng, giữ gìn và phát huy những nét văn hóa đặc sắc của nông thôn

Việt Nam theo Quyết định số 432/QĐ-TTg Phê duyệt Chiến lược phát triển bền vững

Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020 ký ngày 12 tháng 4 năm 2012 (nhằm giải quyết vấn

đề trước mắt như địa phương tỉnh Vĩnh Long chưa có quỹ ngân hàng địa danh để đặt cho các con đường ô tô ở ấp và liên ấp như chúng tôi đã nêu trong phần Phụ lục mục

17, 18 – B Địa danh chỉ công trình xây dựng, hiện vẫn chưa được đặt địa danh hoàn chỉnh)

- Góp phần phát huy việc đăng ký bảo hộ chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm, hàng hóa gắn với các địa danh dân gian, địa danh mang lớp từ thuần Việt ở các địa phương, khu vực, tạo bản sắc cho thương hiệu hàng hóa Việt Nam không lẫn lộn với thương

Trang 15

8

hiệu của người bạn láng giềng Trung Quốc, giữ gìn bản sắc riêng cho địa danh quốc gia

- Luận án góp phần đề xuất các chính sách bảo tồn và phát triển di sản văn hóa

phi vật thể qua địa danh, làm cơ sở khoa học để địa phương tiến hành Kiểm kê Di sản

địa danh và xin phép lập hồ sơ khoa học Không gian văn hóa và đặc trưng ngôn ngữ qua địa danh vùng Tây Nam Bộ đệ trình UNESCO công nhận Di sản văn hóa phi vật

thể cần bảo vệ khẩn cấp trong thời gian tới Cho dù được công nhận hay không, chúng ta cũng giới thiệu được đến bạn bè quốc tế văn hóa truyền thống Tây Nam Bộ

và quá trình lập đất hợp pháp của người Việt đối với vùng đất phía Nam của tổ quốc Nhìn nhận địa danh là một sản phẩm du lịch văn hóa phi vật thể, luận án góp phần đề

ra giải pháp đổi tên chợ ở nông thôn và đặt địa danh dân gian trong các tuyến điểm

du lịch nhằm tạo tiền đề và thế mạnh để phát triển du lịch nông thôn; Luận án góp phần đề xuất việc đặt địa danh Hán Việt trong những trường hợp cần thiết trên địa bàn Nam Bộ, chúng ta có thể dùng tên gọi các địa danh ra đời trong giai đoạn chúa Nguyễn và triều Nguyễn để đặt cho các đối tượng Điều đó góp phần khẳng định và

ghi nhớ quá trình khai phá vùng đất mới của ông cha ta, tạo cho địa danh mới (mang

lớp từ Hán Việt) có chiều sâu về mặt lịch sử

- Góp phần đề xuất giải pháp chấn chỉnh vấn đề viết sai chính tả địa danh dân gian trong giai đoạn hiện nay, nhằm giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt

- Đóng góp cho Chương trình Khoa học và Công nghệ phục vụ phát triển bền

vững vùng Tây Nam Bộ Đề xuất áp dụng khung nghiên cứu địa danh dưới góc nhìn

văn hóa với hệ phương pháp nghiên cứu mới của luận án, qua đó, nhân rộng việc nghiên cứu địa danh dưới góc nhìn văn hóa ở các tỉnh thành trong khu vực Tây Nam

Bộ hoặc thậm chí là cả Nam Bộ, nhằm tạo một bộ tư liệu lịch sử về địa danh Công trình là một minh chứng cho quá trình “Mở đất – Lập đất – Bảo vệ đất” với vai trò chủ đạo của người Kinh và sự chung tay góp sức của đồng bào dân tộc anh em trong lịch sử được viết không phải bằng nguồn sử liệu như từ trước đến nay mà bằng nguồn

tư liệu rất đặc biệt đó là địa danh

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

6.1 Ý nghĩa lý luận

- Nhìn chung, kết quả của luận án thực sự là những đóng góp về hướng tiếp cận mới trong khoa học nghiên cứu về địa danh dưới góc nhìn văn hóa, giải quyết được một số vấn đề nghiên cứu về địa danh dưới góc nhìn văn hóa từ trước đến nay chưa được làm sáng tỏ

- Luận án đã góp phần xác định rõ, khái quát các vấn đề có liên quan về địa danh và hệ thống các phương pháp tiếp cận, giúp cho các nghiên cứu tương tự có cơ

sở tham khảo khi nghiên cứu địa danh

Trang 16

9

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Luận án có ý nghĩa trong giai đoạn xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Vĩnh Long nói riêng, các tỉnh thành Tây Nam Bộ nói chung Kết quả nghiên cứu của luận án kịp thời giải quyết được các vấn đề phát triển kinh tế, xã hội có liên quan đến địa danh; vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa trước bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

7 Cơ cấu của luận án

Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, luận án bao gồm 04 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận

Chương 2: Chủ thể và quá trình giao lưu văn hóa chi phối nguồn gốc hình thành địa danh tỉnh Vĩnh Long

Chương 3: Địa danh tỉnh Vĩnh Long hình thành và biến đổi trong không gian và thời gian văn hóa

Chương 4: Nhận xét kết quả nghiên cứu địa danh tỉnh Vĩnh Long qua góc nhìn văn hóa dân gian

Trang 17

10

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Nhận xét về nguồn tư liệu, tài liệu

1.1.1 Nguồn tư liệu, tài liệu ngành địa lý, lịch sử

1.1.1.1 Để nghiên cứu địa danh tỉnh Vĩnh Long, tác giả đã sử dụng nguồn tư

liệu lịch sử, sách biên khảo Nhìn chung, đây là nguồn tư liệu quý hiếm, tập trung mô

tả về địa lý, thổ sản của một vùng đất, thường ra đời trong giai đoạn thời chúa Nguyễn và triều Nguyễn Chúng thường được biên soạn từ các vị quan được triều đình cử đi kinh lý để thu thập tình hình thực tế của địa phương Vì vậy, địa danh trong các quyển sách này phần lớn được ghi lại bằng những mô tả thật chi tiết gắn với các sự vật hiện tượng có liên quan, tất cả nhằm phục vụ cho việc cai trị của triều đình phong kiến đương thời Tiêu biểu cho nguồn tư liệu này, ta có các tác phẩm

như: Phủ biên tạp lục (1776), Lê Quý Đôn; Hoàng Việt nhất thống dư địa chí (1806),

Lê Quang Định; Gia Định thành thông chí (1820), Trịnh Hoài Đức; Đại Nam liệt

truyện tiền biên (1841-1852), Quốc sử quán triều Nguyễn; Sử học bị khảo (1876),

Đặng Xuân Bảng; Đại Nam nhất thống chí (1882), Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn; Quốc triều chánh biên toát yếu (1908), Cao Xuân Dục…

1.1.1.2 Loại tư liệu thứ hai là các tài liệu địa lý lịch sử ra đời trong giai đoạn

thuộc Pháp Chúng được viết trong hoàn cảnh thực dân thăm dò, khám phá vùng đất

phía Nam tổ quốc để tiến hành khai thác thuộc địa như Monographie de la province

de Vinh Long (1904) do Imprimerie Ménard & Rey ấn hành; Annuaire général de L’

Indochine (1910); La Plaine des Joncs et sa mise envaleur (Victor De La-haye năm

1928) Song song đó, trong thời gian này, một bộ phận người Việt ảnh hưởng Tây học cũng xuất bản các tác phẩm viết về đặc điểm địa lý đương thời nhưng số lượng

không nhiều, tiêu biểu có thể kể đến quyển Tiểu giáo trình địa lý xứ Nam Kỳ (1875)

của Trương Vĩnh Ký đến nay vẫn còn giá trị hiện thực của nó

1.1.1.3 Bên cạnh thể loại sách nói trên, các quyển địa chí được viết từ sau Cách

mạng tháng Tám được xem là nguồn tư liệu cung cấp nhiều thông tin để tiếp cận và

giải mã địa danh Tiêu biểu, ta có Địa phương chí tỉnh Vĩnh Long (1966); Vĩnh Long

xưa và nay (1967) của Huỳnh Minh và các sách địa chí viết ở giai đoạn về sau này

như: Địa chí tỉnh Cửu Long (1989), Trần Thanh Phương; Nghiên cứu địa bạ triều

Nguyễn (Vĩnh Long – Bến Tre – Trà Vinh) (2000), Nguyễn Đình Đầu; Địa chí tỉnh Vĩnh Long (2013), Ban Tuyên giáo tỉnh Vĩnh Long…

Trang 18

11

1.1.2 Nguồn tư liệu, tài liệu ngành ngôn ngữ học

Ngoài nguồn tư liệu trên, luận án còn sử dụng các loại từ điển để tra cứu nguồn

gốc địa danh và truy nguồn văn hóa dân gian (VHDG) như: Tự vị tiếng nói miền Nam (1993), Vương Hồng Sển; Từ điển Phương ngữ Nam Bộ (1994), Nguyễn Văn Ái;

Việt Nam – Những thay đổi địa danh và địa giới hành chính (1945 - 2002) (2003) của

Nguyễn Quang Ân; Từ điển địa danh hành chính Nam Bộ (2008), Nguyễn Đình Tư;

Từ điển địa danh Văn hóa Lịch sử Việt Nam (2011), Nguyễn Như Ý chủ biên; Từ

điển địa danh Nam Bộ (2014); Từ điển địa danh Trung Bộ (2015), Lê Trung Hoa…

Bên cạnh đó, luận án còn sử dụng nhóm tài liệu tham khảo nghiên cứu địa danh dưới góc độ ngôn ngữ dựa trên các phân tích về ngữ âm học, từ vựng học, ngữ pháp học,

ngữ nghĩa học… bao gồm các công trình: Lược sử nguồn gốc địa danh Nam Bộ (1999), Bùi Đức Tịnh; Chung quanh thuật ngữ “địa danh” (2000), Lê Trung Hoa;

Tìm hiểu đặc trưng văn hóa dân tộc của ngôn ngữ và tư duy ở người Việt (trong sự

so sánh với những dân tộc khác) (2002), Nguyễn Đức Tồn; Tìm hiểu nguồn gốc địa danh Nam Bộ và tiếng Việt văn học (2002), Lê Trung Hoa; Một số vấn đề về địa danh học Việt Nam (2002), Nguyễn Văn Âu; Các phương pháp cơ bản trong việc nghiên cứu địa danh (2002), Lê Trung Hoa; Lịch sử địa danh Việt Nam (2008), Vũ

Ngọc Khánh; Những đặc điểm chính của địa danh tỉnh Vĩnh Long (2008), Nguyễn Tấn Anh; Văn hóa Việt Nam qua ngôn ngữ (2010), Lê Trung Hoa, Lý Tùng Hiếu;

Địa danh học Việt Nam (2011), Lê Trung Hoa… Song song đó, chúng tôi cũng tiếp

cận một số lượng lớn các công trình nghiên cứu đã công bố của Lê Trung Hoa bao

gồm 73/116 bài viết về địa danh học Việt Nam, trong đó có đề cập đến địa danh tỉnh

Vĩnh Long và Nam Bộ (NB) dựa trên việc phân nhóm địa danh theo thành tố chung

1.1.3 Nguồn tư liệu, tài liệu ngành văn học

1.1.3.1 Trong nguồn tư liệu viết về địa danh tỉnh Vĩnh Long qua các thể loại

văn học, chúng tôi nhận thấy các thể loại văn xuôi (giai thoại, dã sử, cổ tích, truyện tích) và thể loại văn vần (ca dao, dân ca, hò, vè, hát ru) chưa được đề cập khá đầy đủ

ở một số công trình Riêng các thể loại còn lại như ca kịch và trò diễn dân gian có tích truyện, chúng tôi chưa sưu tầm được nguồn tư liệu phản ánh qua địa danh tỉnh Vĩnh Long Xét nguồn tư liệu truyện kể NB, chúng tôi đồng ý kiến với tác giả Trần

Chinh là trong các tác phẩm như: Nghìn năm bia miệng (1992), Huỳnh Ngọc Trảng, Nguyễn Ngọc Tường; Huyền thoại miệt vườn (1994), Nguyễn Phương Thảo; Nam Kỳ

cố sự (1997), Nguyễn Hữu Hiếu; Huyền thoại về tên đất (1998), Nguyễn Thái… là

nguồn truyện viết về địa danh NB nhưng không có địa danh viết về tỉnh Vĩnh Long

ngoại trừ công trình Nguồn gốc địa danh Nam Bộ qua truyện tích và giả thuyết của Nguyễn Hữu Hiếu (2013) Ngoài ra, trong nguồn tài liệu này, tiêu biểu chúng tôi khảo sát các tác phẩm có quy mô nghiên cứu rộng như Tổng tập văn học dân gian

Trang 19

12

người Việt do Nhà xuất bản Khoa học xã hội và nhân văn Quốc gia chủ trì, phối hợp

với Viện nghiên cứu Văn hóa dân gian tổ chức biên soạn trong hai năm 2001-2002,

bao gồm: Tục ngữ, tập 1, 2, Nguyễn Xuân Kính (chủ biên); Câu đố, tập 3, Trần Đức Ngôn biên soạn; Truyền thuyết, tập 4, 5, Kiều Thu Hoạch (chủ biên); Truyện cổ tích, tập 6, 7, Nguyễn Thị Huế (chủ biên); Truyện cười, tập 8, 9, Nguyễn Chí Bền (chủ biên); Truyện ngụ ngôn, tập 10, Nguyễn Xuân Kính (chủ biên); Truyện nôm bình

dân, tập 12, Kiều Thu Hoạch (chủ biên); Vè, tập 13, 14, Vũ Tố Hảo biên soạn; Kho tàng ca dao người Việt (2001), tập 1, tập 2, Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật

(chủ biên); Nhiều tác giả, Từ điển type truyện dân gian Việt Nam (2012)… và một số tài liệu tham khảo như Bước đầu tìm hiểu nguồn truyện kể địa danh Việt Nam (1986), Nguyễn Bích Hà; Truyện kể địa danh từ góc nhìn thể loại (1999), Trần Thị An;

Truyền thuyết dân gian và địa danh (1999) Những tác phẩm văn học địa phương về

ca dao dân ca phản ánh địa danh tỉnh Vĩnh Long như: Dân ca Cửu Long chỉ có duy nhất bài dân ca hò cấy (thế sự) đề cập đến địa danh xã Bình Hòa Phước thuộc tỉnh Vĩnh Long; Ca dao, hò vè tỉnh Vĩnh Long phản ánh địa danh qua các thể loại ca dao,

hò, vè, tác phẩm đã phản ánh số lượng lớn về địa danh tỉnh Vĩnh Long; Nam Kỳ

phong tục nhơn vật diễn ca là công trình ghi lại địa danh tỉnh Vĩnh Long vào năm

1909; Văn hóa dân gian huyện Bình Tân sưu tầm một số câu ca dao, tục ngữ gắn với

địa danh huyện…

1.1.3.2 Nhìn chung, qua các công trình nghiên cứu về văn học nói trên, các

type nội dung có liên quan đến địa danh tỉnh Vĩnh Long được tổng kết như sau:

+ Thể loại văn xuôi

- Type truyện gắn với đời sống văn hóa ở địa phương: motif địa danh gắn với địa hình, đất đai thổ nhưỡng; motif địa danh gắn với sinh hoạt văn hóa, phong tục tập quán của nhân dân, trong đó bao gồm cả motif ghi lại sự kiện trong đời sống hàng ngày

- Type truyện gắn với lịch sử: motif truyện gắn với giai đoạn khẩn hoang (motif gắn với Nguyễn Ánh; motif diệt cọp; motif bà mụ đỡ đẻ cho cọp; motif địa danh gắn với người lập làng); motif địa danh gắn với sự kiện lịch sử

+ Thể loại văn vần

Trên thực tế, các thể loại này về cơ bản không có sự tách bạch rõ ràng Đôi lúc chúng ta cũng nhận thấy nhiều câu ca dao trở thành bài hát ru, hoặc từ bài hát ru, ta cũng có thể nghe những câu ca dao tương tự… Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy địa danh được đề cập qua các thể loại trữ tình dân gian có các type nội dung sau:

- Type nội dung phản ánh đời sống văn hóa: địa danh tự hào về quê hương, đất nước; địa danh gắn với tình yêu đôi lứa; địa danh phản ánh đời sống sinh hoạt của người dân

Trang 20

13

- Type nội dung gắn với lịch sử: địa danh phản ánh những sự kiện lịch sử xã hội, đặc biệt là địa danh gắn với truyền thống chống giặc ngoại xâm; địa danh phản ánh công cuộc xây dựng đất nước sau chiến tranh

Nhìn chung, các thể loại thơ ca trữ tình dân gian ở nhiều khu vực tỉnh thành đều

có cùng phương thức thể hiện Đối với các type truyện theo thể loại văn xuôi, văn vần thì địa danh thường bị chi phối bởi motif thể hiện, tuy nhiên, trong một vài trường hợp, đối với thể loại trữ tình dân gian thì type nội dung quy định các địa danh được diễn đạt

Xét về đặc điểm nội dung thể hiện trong các thể loại văn xuôi, chúng tôi nhận

thấy chúng phản ánh nguồn gốc hình thành địa danh Nội dung thể loại trữ tình dân gian đề cập đến các địa danh gắn với đời sống đương thời của người dân nhiều hơn

1.1.4 Nguồn tư liệu, tài liệu ngành văn hóa

Chúng tôi nhận thấy, trong nhóm các tài liệu nghiên cứu về lịch sử, văn hóa có khá nhiều công trình liên quan đến việc giải mã nguồn gốc hình thành địa danh tỉnh Vĩnh Long, mặc dù chúng không lý giải địa danh một cách trực tiếp Có thể kể đến

các tác phẩm tiêu biểu như Người Việt gốc Miên (1969), Lê Hương; Tiểu luận cao

học nhân văn (1975) - Hội Thánh Di lạc Vĩnh Long, Hà Phước Thảo; Văn hóa dân gian Nam Bộ những phác thảo (1997), Nguyễn Phương Thảo; Tôn giáo ở Vĩnh Long – vài đặc điểm (1999), Trần Hồng Liên; Góp phần tìm hiểu về lịch sử văn hóa tâm linh của các dân tộc thiểu số ở Vĩnh Long dưới góc độ quản lý nhà nước về vấn đề dân tộc và tôn giáo (1999), Nguyễn Văn Diệu; Một số lễ tục dân gian người Khmer Đồng Bằng Sông Cửu Long (1999), Trần Văn Bổn; Định cư của người Hoa trên đất Nam Bộ (từ thế kỷ XVII đến năm 1945) (2000), Nguyễn Cẩm Thúy; Văn hóa dân gian Việt Nam những phác thảo (2003), Nguyễn Chí Bền; Tìm hiểu văn hóa tỉnh Vĩnh Long (2003), Ban Tuyên giáo tỉnh ủy Vĩnh Long; Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa ở Việt Nam (2004), Ngô Đức Thịnh; Văn hóa dân gian trong di sản văn hóa dân tộc (2005), Ngô Đức Thịnh; Đồng bằng Sông Cửu Long, nét sinh hoạt xưa và văn minh miệt vườn (2007), Sơn Nam; Văn hóa dân gian huyện Bình Tân (2010),

Trần Văn Nam; Văn hóa người Việt vùng Tây Nam Bộ (2013), Trần Ngọc Thêm…

1.1.5 Nguồn tư liệu bản đồ

So với các nguồn tư liệu khác, bản đồ được xem là loại tư liệu ghi lại một cách khái quát nhất về địa danh của một vùng đất Loại hình này sẽ giúp nhà nghiên cứu nhận định được địa giới hành chính của vùng đất qua từng giai đoạn lịch sử Trong nghiên cứu địa danh tỉnh Vĩnh Long, chúng tôi đã sử dụng các loại bản đồ sau để đối

chiếu địa danh, cụ thể như: bản đồ Nam Bộ thời Phủ Gia Định; bản đồ hành chánh

Nam Kỳ lục tỉnh 1836; Vĩnh Long toàn đồ (vẽ sau khi lập địa bạ, vì phủ Hoằng An đã đổi ra phủ Hoằng Trị năm 1837); bản đồ An Nam Đại Quốc của Taberd ấn hành

Trang 21

14

năm 1838; bản đồ hành chánh Nam Kỳ thời Pháp thuộc; bản đồ hành chánh Nam Bộ trước năm 1975; bản đồ tỉnh Vĩnh Long hiện nay bao gồm: bản đồ thành phố Vĩnh Long, bản đồ huyện Trà Ôn, bản đồ huyện Mang Thít, bản đồ huyện Bình Minh, bản

đồ huyện Bình Tân, bản đồ huyện Long Hồ; bản đồ huyện Vũng Liêm, bản đồ huyện Tam Bình

1.1.6 Ngoài các nguồn tư liệu, tài liệu kể trên, chúng tôi còn sử dụng các văn

bản như: Báo cáo số 78 BC-SNV Tổng kết công tác quản lý địa giới hành chính các

cấp giai đoạn từ năm 1991 đến năm 2012; Niên giám thống kê tỉnh Vĩnh Long của

Cục thống kê tỉnh Vĩnh Long; Thống kê công trình giao thông đường bộ ở Vĩnh

Long, Thống kê đơn vị hành chính tỉnh Vĩnh Long… Bên cạnh đó, chúng tôi còn sử

dụng nguồn tư liệu qua quá trình điều tra điền dã Đây là công tác hỗ trợ cho việc nghiên cứu một số nguồn gốc địa danh chưa rõ nghĩa Để thực hiện, chúng tôi tiến hành khảo sát chủ yếu là người cao tuổi - những người còn lưu giữ vốn văn hóa truyền thống của dân tộc trong giai đoạn trước và sau năm 1975

1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.2.1 Khái quát lịch sử nghiên cứu địa danh và văn hóa qua địa danh 1.2.1.1 Việc ghi nhớ và đặt tên địa danh xuất phát từ nhu cầu sinh hoạt trong

cuộc sống Nhưng có lẽ, khởi đầu cho việc nghiên cứu địa danh, chúng ta phải kể đến Ban Cố, người đời Đông Hán, Trung Quốc (250 - 220 trước Công Nguyên) Trong

tác phẩm Hán thư – một loại sách tương tự như sách địa lý lịch sử ở nước ta, Ban Cố

đã liệt kê khoảng trên dưới 4000 địa danh cùng với những chú thích về địa lý, sinh hoạt của người dân sở tại Tương tự, thời Bắc Ngụy (515 - 526), Lệ Đạo Nguyên

trong bộ Thủy Kinh chú cũng đã ghi lại hơn 2300 địa danh lúc bấy giờ… [Dẫn theo

69; tr.20]

1.2.1.2 Ở Việt Nam, địa danh được ghi lại cũng vào thời điểm nói trên nhưng

căn cứ từ các dữ kiện tạo thành hai quan điểm trong giới học thuật như sau:

Quan điểm thứ nhất cho rằng, địa danh nước ta được nhắc đến khởi đầu từ các

sử gia Trung Quốc và phần lớn chúng được quan tâm dưới cái nhìn của kẻ cai trị và xâm lược Các học giả dẫn luận, để phục vụ cho mưu đồ đen tối ấy, vào những năm

TCN, sử gia Tiền Hán thư đã quan tâm ghi chép lại địa giới của quận Giao Chỉ (Bắc Việt Nam) Tiếp theo đó, các sử gia Hậu Hán thư, Tấn thư, Thủy Khâm, Thông điển,

Thái Bình hoàn vũ ký… cũng lần lượt biên chép lại địa danh cổ ở Việt Nam Giả

thuyết này được số đông các nhà nghiên cứu đồng ý như Đặng Xuân Bảng (trong Sử

học bị khảo, ông đã dùng các bộ sử của Trung Quốc để nghiên cứu địa danh nước ta);

Trang 22

ông đã bỏ tâm huyết để ghi chép lại địa danh trong quyển Dị vật chí Tuy vậy, quyển

sách này hiện nay đã mất và chỉ được lưu lại trong kho tàng thư tịch Trung Quốc

Quan điểm này được các nhà nghiên cứu trong Tổng tập dư địa chí Việt Nam, nhà

nghiên cứu Tạ Ngọc Liễn… tán thành

Nhìn chung, hai quan điểm trên đều xác nhận địa danh Việt Nam được ghi chép, sưu tập vào giai đoạn đầu công nguyên và hiện chúng chỉ còn lưu giữ trong các thư tịch cổ Trung Quốc Điều đó, khiến nhiều học giả chỉ chấp nhận các kết luận nghiên cứu về sau dựa vào thư tịch cổ còn lại của Việt Nam

Khảo sát số lượng sách địa lý lịch sử bằng tài liệu Hán Nôm cho thấy, sách Đại

Việt thông sử của Lê Quý Đôn viết năm 1759 đã thống kê tại thời điểm đó ta có được

116 bộ sách trong thiên Nghệ văn chí Đến năm 1819, Lịch triều Hiến Chương loại

chí của Phan Huy Chú ra đời, trong thiên Văn tịch chí ông đã liệt kê được 207 bộ

sách Hán Nôm Tác phẩm Tìm hiểu kho sách Hán Nôm của Trần Văn Giáp giới thiệu

429 bộ sách, trong đó có 116 bộ sử và 37 bộ sách địa lý

Cụ thể, theo Lê Quý Đôn trong Nghệ văn chí, vào đời vua Lý Anh Tông, ấn phẩm đầu tiên về địa danh là Nam Bắc phiên giới địa đồ (1172) nay đã mất Tiếp theo đó, bộ sách thứ hai xuất hiện vào đời Trần với tựa đề là An Nam chí lược do Lê Tắc biên soạn (1333) Mặc dù tác phẩm đã cung cấp nhiều tư liệu về đời sống cung đình, các nhân vật lịch sử cùng những tư liệu về địa danh nước ta nhưng An Nam chí

lược vẫn không được xem là vốn di sản văn hóa của dân tộc Bởi, tác phẩm được viết

trong khoảng thời gian Lê Tắc trốn sang Trung Quốc Cho nên, thực tế An Nam chí

lược vẫn còn nhưng bị xem như đã mất Chính vì lý do này mà khi tiếp xúc với các

nghiên cứu bình luận về sách địa lý lịch sử, chúng ta nhận thấy đa số các học giả đều

công nhận bộ sách Dư địa chí của Nguyễn Trãi là bộ địa chí đầu tiên nghiên cứu về

địa danh toàn vẹn nhất ở nước ta, có giá trị cao về mặt phương pháp tiếp cận địa lý

học lịch sử

Sau Dư địa chí, ta có thể kể các tác phẩm như Thiên hạ bản đồ; Hồng Đức bản

đồ (1490), Ô châu cận lục của Dương Văn An (1553); Phủ biên tạp lục của Lê Quý

Đôn (1776)… Đến thời nhà Nguyễn, với chiến lược mở rộng bờ cõi cai trị về phía Nam, triều đình đã chú trọng đến việc biên soạn các bộ sách lịch sử của quốc gia, cụ thể là họ đã thành lập Quốc sử quán – cơ quan biên soạn lịch sử chính thống của nhà

1 Trong đề tài luận văn thạc sỹ Nghiên cứu địa danh huyện Bình Liêu và thị xã Cẩm Phả tỉnh Quảng Ninh

2 Trong đề tài luận văn thạc sỹ Nghiên cứu địa danh thành phố Điện Biên Phủ và huyện Điện Biên

Trang 23

16

nước Vì thế, địa danh được đề cập đến khá nhiều trong các bộ địa chí như: Hoàng

Việt nhất thống địa dư chí của Lê Quang Định (1806); Lịch triều Hiến Chương loại chí của Phan Huy Chú (1819); Các trấn, tổng xã danh bị lãm (1820)3; Gia Định

thành thông chí của Trịnh Hoài Đức (1820); Hoàng Việt địa dư chí của Phan Huy

Chú (1833); Việt sử địa dư của Phan Đình Phùng (1883); Đại Việt dư địa chí toàn

biên, Phương Đình dư địa chí của Nguyễn Văn Siêu (1882); Đại Nam quốc cương giới vực biên của Hoàng Hữu Xứng (1886)…

Đến năm 1858, nước ta bị thực dân Pháp xâm lược, việc nghiên cứu địa danh phần lớn cũng nằm trong giai đoạn thực dân phương Tây chủ trương ghi chép phong tục tập quán và tên gọi các vùng đất nhằm phục vụ mưu đồ cai trị Các tác phẩm viết

về địa danh ra đời đầu tiên trong giai đoạn này đa số là của người Pháp, tiêu biểu

như: Quelques mots sur la Cochinchine của tác giả L.De Coincy viết năm 1866 (tác

phẩm đã đề cập đến các địa danh Nam Bộ như Đồng Nai, Sài Gòn, Chợ Lớn, Tây

Ninh, Thủ Dầu Một, Mỹ Tho…); Monographie de la province de Vinh Long (1904);

Monographie de la province de Bienhoa (1924) của M Robert Ngoài ra, chúng ta

cũng có thể tìm thấy một số tác phẩm khác trong luận văn: Première étude sur les

sources annamites de l’histoire d’Annam của Cadière & Pillot (1904) và luận văn Bibliographie Annamite của Gaspardone (1934) Song song đó, trong giai đoạn này,

các học giả Việt Nam cũng có một số tác phẩm ghi chép về địa danh như Petit cours

de géographie de la Basse – Cochinchine của Trương Vĩnh Ký4 (1875);

Nomenclature des communes du Tokin của Ngô Vĩ Liên (1928)5

Bước sang thế kỷ XX, các sách địa chí không còn là lĩnh vực thống lĩnh nghiên cứu về địa danh Mặc dù thể loại sách địa chí trong giai đoạn 1954 - 1975 phát triển rầm rộ ở miền Nam và đã cho ra đời ngành địa chí văn hóa và địa chí VHDG vào năm 1985 Tuy nhiên, lúc bấy giờ, việc nghiên cứu về địa danh chuyên sâu phải kể đến các nghiên cứu dưới góc độ ngôn ngữ học

So với thế giới, ngành địa danh học ở Việt Nam đã đi sau khá xa, bởi “Đến giữa thế kỉ XX, giai đoạn hình thành của địa danh học thế giới coi như chấm dứt để chuyển sang giai đoạn phát triển thì địa danh học Việt Nam mới dần hình thành” [69, tr.22] Mặc dù vậy, ngành địa danh học Việt Nam cũng có những thuận lợi riêng Các học giả nước ta có điều kiện hơn trong việc tiếp xúc với những thành tựu nghiên cứu

về địa danh trên thế giới như tác phẩm Nguồn gốc và sự phát triển địa danh viết năm

1926 của A.Dauzat (người Pháp); Các khuynh hướng nghiên cứu địa danh của N.I.Nikonov (1964); E.M.Murrzaev với Những khuynh hướng nghiên cứu địa danh

3 Bản dịch Tiếng Việt: Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX – thuộc các tỉnh từ Nghệ Tĩnh trở ra

4 Bản dịch tiếng Việt: Tiểu giáo trình địa lý xứ Nam Kỳ

5 Bản dịch tiếng Việt: Tên làng xã và địa dư các tỉnh Bắc Kỳ

Trang 24

17

học (1964); George Stewart với Địa danh trên toàn cầu (1975); Superanskaja với Địa danh học là gì? (1985); Robert Renick với tác phẩm Làm thế nào để nghiên cứu địa danh? (2005)… Qua quá trình tiếp cận với hệ thống lý luận về địa danh học thế giới,

các nhà nghiên cứu đã vận dụng và phát triển lý luận phù hợp với tình hình nghiên cứu địa danh ở Việt Nam

Chúng ta có thể điểm qua một vài công trình đi tiên phong trong lĩnh vực này

như: Mối quan hệ về ngôn ngữ cổ đại ở Đông Nam Á qua một vài tên sông của Hoàng Thị Châu (1964); Thử bàn về địa danh Việt Nam của Trần Thanh Tâm

(1976) Và có thể nói, lần đầu tiên, công trình nghiên cứu địa danh được thể hiện

đầy đủ nhất phải kể đến luận án tiến sỹ Những đặc điểm chính của địa danh ở thành

phố Hồ Chí Minh của Lê Trung Hoa (1990) (in thành sách Địa danh ở thành phố Hồ Chí Minh (1991); Luận án tiến sỹ Những đặc điểm chính của địa danh Hải Phòng

của Nguyễn Kiên Trường (1996)… Trong giai đoạn phát triển, ngôn ngữ học cũng

bắt đầu cho ra đời các tác phẩm được tập hợp dưới dạng từ điển địa danh như: Từ

điển Bách khoa địa danh Hải Phòng do Ngô Đăng Lợi chủ biên (1998); Từ điển địa danh thành phố Sài Gòn - Hồ Chí Minh do Lê Trung Hoa chủ biên (2003)6

Mặc dù đã có những bước phát triển đáng kể nhưng cơ sở lý luận nghiên cứu

địa danh chỉ thực sự bắt đầu được xác lập khi công trình Những nguyên tắc cơ bản

trong việc nghiên cứu địa danh (1989) và Các phương pháp cơ bản trong việc nghiên cứu địa danh (2002) của Lê Trung Hoa ra đời Cho đến năm 2006, tác phẩm Địa danh học Việt Nam của ông được xuất bản đã chính thức đặt nền móng cho cơ sở lý

luận địa danh học ở Việt Nam Với “quyển cẩm nang” này, người nghiên cứu về địa danh sẽ được cung cấp các nguyên tắc, phương pháp, nguồn tư liệu và cả những kinh nghiệm để khảo sát địa danh…

Trong quá trình nghiên cứu, địa danh học được phân thành các chuyên ngành: Địa danh địa lý, Địa danh lịch sử và Địa danh văn hóa Có thể kể đến các nghiên cứu

dưới góc độ ngôn ngữ văn hóa như luận án tiến sỹ của Từ Thu Mai Nghiên cứu địa

danh Quảng Trị (2004) Trong chương bốn, tác giả đã nghiên cứu các đặc trưng văn

hóa thể hiện qua thành tố ngôn ngữ địa danh; Các phương diện văn hóa trong địa danh Quảng Trị Với cách phân chia này, luận án đã tiếp cận địa danh qua góc nhìn

ngôn ngữ - văn hóa Tương tự cách tiếp cận của Từ Thu Mai, công trình Từ điển địa

danh văn hóa lịch sử Việt Nam của Nguyễn Như Ý (2011) đã phân loại địa danh theo

các thành tố văn hóa Chúng bao gồm: các di tích lịch sử (đền, đình, chùa, lăng, miếu, phủ, quán, đài tưởng niệm…); những địa danh gắn với di chỉ khảo cổ; địa danh là các làng nghề truyền thống… Bên cạnh đó, nhiều luận văn thạc sỹ ngôn ngữ học về sau

6 Công trình tái bản mang tên Từ điển Sài Gòn – thành phố Hồ Chí Minh vào năm 2008 In thành quyển Sổ tay

tên đường ở thành phố Hồ Chí Minh vào năm 2013

Trang 25

là những bản luận văn thạc sỹ Trong công trình của mình, các tác giả vận dụng cơ sở

lý thuyết văn hóa để lý giải địa danh, bước đầu đóng góp về cơ sở lý luận trong nghiên cứu văn hóa qua ngôn ngữ Người khởi xướng cho các nghiên cứu dưới góc

độ văn hóa qua địa danh phải kể đến Lê Trung Hoa Ông đã hướng dẫn các đề tài như

Văn hóa qua địa danh Việt ở tỉnh Đồng Nai, Võ Nữ Hạnh Trang (2006); Khía cạnh văn hóa của địa danh ở tỉnh Đồng Tháp, Nguyễn Thị Ngọc Bích (2008); Văn hóa qua địa danh tỉnh Khánh Hòa của Huỳnh Lê Thị Xuân Phương (2009)…; Sau này,

Trần Trí Dõi cũng đã hướng dẫn các luận văn như: Địa danh vùng ngã ba Bạch Hạc

dưới góc nhìn văn hóa của Cao Thị Nhật Diễm (2012)…

Các lý thuyết về địa văn hóa, lịch sử văn hóa, loại hình văn hóa… đã được các luận văn nói trên tiếp cận Tuy nhiên, các nghiên cứu vẫn chưa đi vào chiều sâu gắn địa danh ở nhiều góc nhìn, cách tiếp cận vẫn chịu sự ảnh hưởng của các trường phái

lý thuyết nghiên cứu về ngôn ngữ học… Điều đó có nghĩa là các công trình về địa danh dưới góc nhìn văn hóa chưa được nghiên cứu một cách toàn diện về mặt lý luận, vấn đề giải mã văn hóa qua địa danh chưa thật đầy đủ, hệ thống, đòi hỏi phải có những công trình nghiên cứu văn hóa chuyên sâu hơn

Nhận xét:

Điểm qua lịch sử nghiên cứu địa danh học Việt Nam cho thấy, khởi thủy, chúng được quan tâm ghi chép từ những bộ sách địa lý lịch sử hay còn gọi là sách địa chí đề cập đến địa giới, sông núi, phong tục, đặc sản của quốc gia hoặc địa phương Nội dung của sách địa chí phản ánh khá nhiều đặc điểm văn hóa của vùng miền nên có thể nói, sách dư địa chí là nguồn tư liệu cơ bản và quý hiếm cho các nghiên cứu về địa danh Qua quá trình phát triển đến năm 1985, thể loại địa chí được thể hiện chuyên sâu hơn trong các nghiên cứu về địa chí văn hóa và địa chí VHDG Tuy nhiên, để nghiên cứu địa danh dưới góc độ văn hóa thì phải kể đến các công trình xuất phát từ ngành ngôn ngữ học Trong quá trình vận động và phát triển của khoa học về địa danh, nhìn chung, các công trình nghiên cứu văn hóa qua địa danh còn chưa hoàn thiện về mặt phương pháp và lý luận, việc giải mã văn hóa qua địa danh vẫn chưa xác định rõ đối tượng nghiên cứu, các công trình chịu ảnh hưởng khá đậm nét trường phái lý thuyết về ngôn ngữ học

Có thể kết luận rằng, các nghiên cứu lý luận về địa danh dưới góc nhìn văn hóa

là một lĩnh vực mới, chỉ bắt đầu manh nha trong giai đoạn hiện nay

Trang 26

19

1.2.2 Tình hình nghiên cứu địa danh tỉnh Vĩnh Long dưới góc nhìn văn hóa dân gian

1.2.2.1 Điểm qua mục 1.2.1 cho thấy, do hướng nghiên cứu về văn hóa qua địa

danh còn khá mới mẻ, vì thế, các công trình nghiên cứu văn hóa qua địa danh tỉnh Vĩnh Long cũng rất hiếm hoi Việc điểm qua tình hình nghiên cứu của vấn đề này cần phải được tiếp cận bởi các công trình nghiên cứu của chuyên ngành gần như địa

lý, lịch sử và ngôn ngữ học

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về địa danh tỉnh Vĩnh Long chỉ thật sự xuất hiện vào giai đoạn sau này - thời các vua nhà Nguyễn Trong giai đoạn đầu thế

kỷ XIX, so với các tỉnh ở miền Bắc, NB hầu như chưa có các nghiên cứu về địa danh

một cách hệ thống như tác phẩm Các trấn, tổng xã danh bị lãm viết năm 1820 Bởi vào năm 1776, Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn đã xác nhận làng xã NB chưa được

hình thành ổn định, chúng vẫn còn trong tình trạng hoang hóa: “Ở Phủ Gia Định, đất Đồng Nai, từ các cửa biển Cần Giờ, Lôi Lạp, Cửa Đại, Cửa Tiểu trở vào, toàn là rừng

rậm hàng mấy ngàn dặm” [44; tr.442]

Vì vậy, trong giai đoạn đầu khẩn hoang, vùng đất Vĩnh Long cũng chưa có những ghi chép mang tính hệ thống về địa danh Trong các bộ sách lịch sử địa lý, chúng chỉ được ghi lại khá tản mác nhưng đó cũng là những tư liệu quý giá làm căn

cứ sưu tầm các địa danh cổ cùng vốn văn hóa xưa của người dân tỉnh Vĩnh Long Nhìn chung, các sách lịch sử địa lý toàn quốc có ghi chép về địa danh tỉnh Vĩnh

Long trong lịch sử phải kể đến Hoàng Việt nhất thống dư địa chí 7 của Lê Quang

Định (1806) Bộ sách gồm 10 quyển mô tả về hệ thống giao thông đường bộ và

đường thủy ở nước ta vào những năm đầu thế kỷ XIX, tỉnh Vĩnh Long thuộc dinh Vĩnh Trấn, được ghi chép trong quyển thứ bảy Để mô tả kỹ về giao thông dinh Vĩnh Trấn, tác giả đã nêu rất nhiều địa danh đương thời, trong đó có các cửa biển, con sông, kênh, rạch, các ngôi chợ ở tỉnh Vĩnh Long còn tồn tại cho đến ngày nay Song song đó, tác giả cũng đề cập một cách khái quát về phong tục tập quán, đặc sản của vùng miền “Đến như phong tục của các trấn cũng chỉ chép những gì đang chuộng, thổ sản cũng chỉ là thứ đang ưa, không thể nhất nhất miêu tả tỉ mỉ được” [43; tr.13]

Tác phẩm thứ hai là của tác gia Trịnh Hoài Đức viết năm 1820 với tựa đề Gia Định

thành thông chí 8 Đây là công trình viết về Gia Định - lúc bấy giờ vốn là vùng đất miền Nam gồm năm trấn: Biên Hòa, Phiên An, Định Tường, Vĩnh Thanh, Hà Tiên

7 Bản dịch tiếng Việt năm 2003 của Phan Đăng

8 Bản dịch sớm nhất Gia dinh thung chi dịch sang tiếng Pháp của Aubaret, năm 1863, thực dân Pháp đã cho

dịch ngay khi bọn chúng đặt chân lên đất Nam Kỳ Bản dịch thứ hai là của Tu trai Nguyễn Văn Tạo năm 1972 Bản dịch thứ ba là của Đỗ Mộng Khương, Nguyễn Ngọc Tĩnh Hiệu đính và chú thích: Đào Duy Anh Bản dịch thứ tư của Lý Việt Dũng Hiệu đính và chú thích: TS Huỳnh Văn Tới năm 2004 Theo Lý Việt Dũng, các

bản dịch trước có những sai sót sau: Dịch nhầm địa danh; Dịch nhầm nhân danh; Dịch nhầm tên sản vật địa

phương; Dịch nhầm ngữ nghĩa Hán văn; Chép thiếu hoặc sai nguyên văn; Lỗi morasse

Trang 27

20

(tỉnh Vĩnh Long hiện nay thuộc trấn Vĩnh Thanh) Gia Định thành thông chí đã miêu

tả địa danh núi sông, cương vực, danh sách các phủ, huyện, xã, thôn, lân, các phong tục, sản vật ở trấn Vĩnh Thanh giúp người nghiên cứu tìm hiểu được địa danh và văn hóa của vùng đất Vĩnh Long trong thời gian đầu nhà nước thiết lập địa giới hành chính ở NB Đặc biệt, người nghiên cứu còn có thể tra cứu được một số tên tục của địa danh (hay còn gọi là tên nôm dân gian) Cũng nằm trong nhóm các công trình

nghiên cứu địa chí triều Nguyễn, ta có Đại Nam nhất thống chí, tập hạ9 viết về tỉnh

Vĩnh Long vào năm 1882 So với các bộ địa lý lịch sử ra đời cùng thời, đây là bộ

sách viết về tỉnh Vĩnh Long đầy đủ nhất Sách nêu lên lịch sử địa giới tỉnh Vĩnh Long, mô tả địa hình, khí hậu, phong tục tập quán, tôn giáo… Đặc biệt, các con sông

An Phú, sông Tiên Thủy, sông Châu Thái, các ngôi chợ trù mật, thổ sản, địa danh cổ

ở tỉnh Vĩnh Long đã được tác giả liệt kê khá phong phú và lý giải tương đối tường

tận về nguồn gốc hình thành nên chúng Song song đó, các bộ sách như Tiểu giáo

trình địa lý xứ Nam Kỳ10 của Trương Vĩnh Ký viết năm 1875 tuy là giáo trình giảng

dạy cho sinh viên nhưng đã cung cấp nguồn tư liệu về việc phân chia hành chính của tỉnh Vĩnh Long nói riêng và NB nói chung vào thời điểm cuối thế kỷ XIX, trong đó, tác giả đã ghi lại các địa danh với tên gọi dân gian, trở thành nguồn tư liệu tham khảo

cho các nghiên cứu sau này Bộ sưu tập Địa bạ xã thôn trong toàn quốc (1805 –

1836) - bản tiếng Việt và lý giải Phần Tổng kết nghiên cứu địa bạ - Nam kỳ lục tỉnh

của Nguyễn Đình Đầu, xuất bản năm 1994 là công trình nghiên cứu nhằm đo đạc và

cơ cấu sở hữu ruộng đất sáu tỉnh Nam Kỳ (NK) vào thời Nguyễn nhưng sự thay đổi tên gọi các tỉnh qua từng thời kỳ, nguồn gốc các tên thôn làng xưa, tên gọi dân gian của địa danh đã được ghi chép lại Bên cạnh những tư liệu về tình hình sở hữu ruộng đất của NB, việc tổng kết nghiên cứu địa bạ còn là cơ sở lý giải đời sống văn hóa nông thôn trong giai đoạn này

Ngoài các bộ sách nói trên, chúng ta còn có thể thấy một số tác phẩm viết dưới góc độ này ở phạm vi toàn quốc có đề cập đến địa danh và văn hóa tỉnh Vĩnh Long

như Sử học bị khảo 11 của Đặng Xuân Bảng (1876) Trong quyển 2 (Địa lý khảo – tập

Thượng), địa danh tỉnh Vĩnh Long được nhắc đến sơ bộ qua các tên trạm, cửa biển và

ở quyển 3 (Địa lý khảo – tập Hạ), chúng cũng được tác giả đề cập, bao gồm các phủ

từ đời Gia Long cho tới đời Minh Mạng; Nguyễn Văn Siêu (1900): Phương Đình dư

địa chí hay còn gọi là Đại Việt địa dư toàn biên12, trong phần Địa chí loại, quyển thứ

11 Bản dịch Tiếng Việt của Đỗ Mộng Khương Hiệu đính: Đỗ Ngọc Toại và Ngô Thế Long, xuất bản 1997

12 Xuất bản đầu tiên 1900 Tái bản lần 1 năm 1959 Tái bản lần 2 năm 2001

Trang 28

21

ba, Đại Nam phương dư chính biên, tỉnh Vĩnh Long được nhắc đến trong phần Vĩnh

Long tỉnh với sự diên cách các địa danh một cách sơ bộ từ thời điểm Vĩnh Long trước

đây thuộc vùng Sa Đéc, Mân Thiết của nước Thủy Chân Lạp; Đào Duy Anh (1964):

Đất nước Việt Nam qua các đời13 chủ yếu nghiên cứu “phần địa lý hành chính để

nhận định cương vực của nhà nước và vị trí các khu vực hành chính trải qua các đời,

rồi đến quá trình mở mang lãnh thổ” [3; tr.23] Tỉnh Vĩnh Long được tác giả đề cập

đến dinh Long Hồ (trong chương Sự diên cách về địa lý hành chính qua các đời Lê

Nguyễn) và tỉnh Vĩnh Long (trong phần Các tỉnh Việt Nam ở đời Nguyễn, giới hạn

cho đến đời Pháp thuộc) Tác giả đã đề cập sơ bộ sự diên cách địa danh trong lịch sử của tỉnh Vĩnh Long

1.2.2.2 Song song với nhóm các tác phẩm có đề cập sơ lược về địa danh và văn

hóa tỉnh Vĩnh Long nêu trên, chúng tôi còn điểm qua nhóm công trình nghiên cứu thứ hai thuộc các loại sách lịch sử, địa lý viết chuyên sâu về địa phương tỉnh Vĩnh

Long, tiêu biểu có các công trình sau: Monographie de la province de Vinh Long

(1904) do Imprimerie Ménard & Rey ấn hành nêu khái quát về tỉnh Vĩnh Long trong

bốn chương sách Tác giả đã giới thiệu những nét đại cương về địa lý và địa giới hành chính tỉnh Vĩnh Long, trong đó, nhắc đến tên các con rạch như: rạch Măng Thít, rạch sông Ngang, rạch Long Hồ, rạch Trà Ngoa… và các tổng, làng, xã chợ cùng với những đặc điểm về cư dân và văn hóa tỉnh Vĩnh Long cuối thế kỷ XIX Ngoài ra,

điểm đặc biệt của Monographie de la province de Vinh Long là tác giả đã cung cấp

cái nhìn của người đương thời (mặc dù là của kẻ xâm lược) Những chi tiết nhỏ miêu

tả về đặc điểm giáo dục, tôn giáo,… tỉnh Vĩnh Long cũng là những cứ liệu lý giải về

văn hóa tỉnh Vĩnh Long; Địa phương chí tỉnh Vĩnh Long (1966) là công trình ra đời

dưới thời Việt Nam Cộng hòa được biên soạn khá công phu, phản ánh được địa giới hành chính, đời sống kinh tế, xã hội, văn hóa của địa phương Địa danh tỉnh Vĩnh Long trong giai đoạn này được ghi chép mang tính liệt kê khái quát, các lý giải về phong tục, thổ sản, đời sống người dân Vĩnh Long là một trong những tư liệu quý về

địa danh và văn hóa địa phương Về phương pháp, Địa phương chí tỉnh Vĩnh Long

vẫn còn ảnh hưởng các sách địa chí xưa Cũng cùng phương pháp viết tác phẩm trên,

Vĩnh Long xưa và nay 14 xuất bản năm 1967 của Huỳnh Minh vốn là sách chuyên

khảo về lịch sử, địa lý, phong tục tập quán, nếp sống sinh hoạt, tôn giáo tín ngưỡng…

từ Cà Mau đến Bến Hải, Tiên Thiên Đại Đạo

Trang 29

22

của cư dân tỉnh Vĩnh Long, trong đó, tác giả đã dày công nghiên cứu về những câu chuyện kể lý giải về địa danh Vĩnh Long như sông Mân Thít, sông Long Hồ, sông Cổ Chiên, vùng Nước Xoáy, địa danh Vũng Liêm… Điểm đặc biệt trong tác phẩm này chính là các tư liệu điền dã “thu lượm” được đầy “xác thực”, phản ánh nét văn hóa

truyền thống tỉnh Vĩnh Long Trong giai đoạn sau, Trần Thanh Phương xuất bản Cửu

Long địa chí vào năm 1989, viết vào thời điểm tỉnh Vĩnh Long và tỉnh Trà Vinh hợp

nhất thành tỉnh Cửu Long Cũng như sách Địa phương chí tỉnh Vĩnh Long, Cửu Long

địa chí đề cập đến địa giới hành chính đương thời (tuy không nhiều), đời sống kinh

tế, xã hội, văn hóa của địa phương Tuy nhiên, tác phẩm được viết ở giai đoạn sau nên phương pháp viết địa chí tốt hơn và thiên về vốn văn hóa xã hội hiện đại Trong

giai đoạn hiện nay, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Vĩnh Long cũng đã biên soạn rất công

phu tác phẩm Địa chí tỉnh Vĩnh Long với bản thảo gồm 11 tập Đây là sách địa chí

được cấu trúc theo bộ từ điển, các đơn vị hành chính của thành phố Vĩnh Long và 7 huyện được liệt kê đầy đủ cùng những mô tả về đời sống hiện tại của cư dân tỉnh

Vĩnh Long Địa chí tỉnh Vĩnh Long thật sự là công trình được ví như nguồn tư liệu

dồi dào giúp người nghiên cứu làm căn cứ điểm xuất phát cho luận án của mình Tuy nhiên, vì công trình mang tính chất là tập từ điển nên chưa tiến tới lý giải địa danh một cách có hệ thống dựa trên cơ sở lý luận khoa học, chưa sưu tập và khai thác tối

đa vốn thư tịch cổ, những ghi chép về văn hóa còn mang tính liệt kê, sơ sài và chưa phân lập theo một tiêu chí rõ ràng… Chính vì vậy, mặc dù công trình có những đóng góp rất lớn nhưng vẫn rất cần có các nghiên cứu chuyên sâu hơn về địa danh và văn hóa tỉnh Vĩnh Long

Ngoài các công trình thuộc thể loại lịch sử, địa chí vừa nêu, chúng tôi còn đặc biệt chú trọng đến nguồn tư liệu là địa bạ được nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu

dịch và xuất bản trong thời gian gần đây Đó là công trình Nghiên cứu địa bạ triều

Nguyễn – Vĩnh Long (Vĩnh Long – Bến Tre – Trà Vinh) (1994) Trong tác phẩm này,

các vấn đề mà tác giả nêu có nội hàm tương tự như quyển Tổng kết nghiên cứu địa bạ

- Nam kỳ lục tỉnh nhưng có phần chuyên sâu về địa bạ tỉnh Vĩnh Long; Công trình

Đôi điều đáng ghi nhớ qua địa bạ Vĩnh Long, Nguyễn Đình Đầu (2000) đăng trong

Hội thảo khoa học Lịch sử phát triển tỉnh Vĩnh Long đã nêu rõ về cơ cấu sở hữu

ruộng đất, cơ cấu sử dụng tư điền tư thổ, cơ cấu sở hữu cá nhân tư điền tư thổ ở thôn làng xưa Qua so sánh, nhà nghiên cứu đã có những phát hiện đáng suy ngẫm là phụ

nữ ở Vĩnh Long lại làm chủ khá nhiều ruộng đất trong khi đó, tầng lớp quan lại và sĩ phu lại không giàu có như chúng ta thường nghĩ Nhìn chung, qua các tác phẩm này, chúng ta cũng nắm bắt được đời sống nông thôn tỉnh Vĩnh Long, việc sáp nhập thôn làng của tỉnh Vĩnh Long dưới thời Nguyễn Ngoài ra, ta cũng có thể kể đến một số

tác phẩm như Nam Kỳ địa hạt tổng thôn danh hiệu mục lục (1892) (Liệt kê tên gọi 6

Trang 30

23

tỉnh Nam Kỳ) và Lịch An Nam thông dụng trong Nam Kỳ (1896) đã liệt kê các thôn,

làng, tổng chợ… thuộc các sở tham biện thời bấy giờ, trong đó có tỉnh Vĩnh Long;

Khưu Văn Ba (trước năm 1975, bản đánh máy), Bảng danh sách các xã có chỉ tên

các thôn hay ấp tỉnh Vĩnh Long biên soạn đầy đủ tên của xã, thôn hay ấp của tỉnh

trước ngày giải phóng

Ngoài các nhóm công trình nói trên, chúng ta còn có thể tiếp cận một số nghiên

cứu chuyên sâu về địa chí văn hóa tỉnh Vĩnh Long qua Người Việt gốc Miên của Lê

Hương (1969) Đây là công trình nghiên cứu về văn hóa người Việt gốc Khmer tại

các tỉnh ĐBSCL Tác giả đã dành phần III để liệt kê các địa danh gốc Khmer, trong

đó có một số địa danh là tên các cửa sông, các con sông thuộc tỉnh Vĩnh Long cùng

ba truyền thuyết về địa danh gốc Khmer; Tìm hiểu văn hóa Vĩnh Long (1732 – 2000)

của Ban Tuyên giáo tỉnh ủy Vĩnh Long (2003) là công trình tập hợp nhiều bài viết

dưới các góc độ khác nhau tạo thành một nghiên cứu tổng quan về lịch sử, địa lý (trong đó có đề cập đến lịch sử địa giới và địa danh tỉnh Vĩnh Long), kinh tế, tôn giáo, tín ngưỡng Cấu trúc công trình được sử dụng bằng phương pháp địa chí văn hóa Công trình được đánh giá là đầy đủ nhất ở nhiều mảng đề tài Mặc dù chưa đi

vào nghiên cứu chuyên sâu nhưng Tìm hiểu văn hóa Vĩnh Long ở giai đoạn từ khi

thiết lập Long Hồ dinh cho đến những năm 2000 đã nêu được những đặc điểm khái quát về văn hóa, trong đó nổi bật là nguồn VHDG tỉnh Vĩnh Long; Nhiều tác giả

(2010), Văn hóa dân gian huyện Bình Tân là công trình nghiên cứu về địa chí văn

hóa tỉnh Vĩnh Long có hệ thống do nhóm tác giả biên soạn Công trình được tiếp cận theo phương pháp tổng hợp, phương pháp địa chí VHDG nêu bật được lối sống, sinh hoạt của người dân Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long Mặc dù cách tiếp cận các thành tố VHDG chưa thật đầy đủ nhưng công trình đã nêu được diện mạo VHDG của huyện

và trong một vài yếu tố văn hóa được đề cập, nhóm tác giả cũng đã đi vào chiều sâu của vấn đề cần nghiên cứu Công trình đã dành một phần của chương bốn đề cập đến

vài địa danh huyện Bình Tân nhưng chỉ dừng lại ở mức độ sưu tầm

1.2.2.3 Bên cạnh nhóm các công trình nghiên cứu đã đề cập, địa danh tỉnh Vĩnh

Long còn được lý giải dưới góc nhìn ngôn ngữ học Tiêu biểu là công trình Tự vị

Tiếng Việt miền Nam15 của Vương Hồng Sển (1993) là một quyển sách về ngôn ngữ

văn hóa rất thú vị Tiếp cận Tự vị Tiếng Việt miền Nam, độc giả như đang được sống

cùng thời với cụ Các tư liệu quý về lịch sử, địa lý, dân cư, sinh hoạt văn hóa của tỉnh Vĩnh Long và cả NB đều được tác giả đưa vào chú giải, bình luận Tuy được viết dưới góc độ tự điển ngôn ngữ nhưng đây quả là một trong những “cẩm nang” giúp người nghiên cứu thâm nhập vào đời sống văn hóa xưa, tránh sự lý giải thiên kiến,

chủ quan Tác phẩm thứ hai là của Bùi Đức Tịnh, Lược sử nguồn gốc địa danh Nam

15 Bản in lần thứ nhất 1994 Tái bản lần thứ nhất năm 1999 với tựa đề Tự vị tiếng nói miền Nam

Trang 31

24

Bộ (1999) đã cung cấp cách lý giải khá nhiều địa danh gốc Khmer, sự biến đổi địa

danh do địa hình, sự thay đổi lịch sử xã hội, ngôn ngữ, phong tục tập quán… Trong tác phẩm này, mặc dù vẫn chưa có một hệ thống lý luận nghiên cứu nhưng tác giả cũng đã chú giải một số địa danh khá quen thuộc ở tỉnh Vĩnh Long Công trình thứ ba

là của tác giả Nguyễn Quang Ân, Việt Nam – Những thay đổi địa danh và địa giới

hành chính (1945 – 2002) viết năm 2003 Công trình khảo cứu, biên soạn rất công

phu về sự phân chia các khu vực hành chính ở Việt Nam từ đời vua Gia Long đến năm 2002 Tuy nhiên, đóng góp lớn của công trình là tập hợp các quyết định về sự thay đổi địa danh, địa giới hành chính từ năm 1945 đến năm 2002 Công trình dừng lại ở nguồn tư liệu giúp độc giả có được cái nhìn toàn diện về địa danh hành chính tỉnh Vĩnh Long đến giai đoạn nghiên cứu So với các tác phẩm nói trên, luận văn thạc

sỹ của Nguyễn Tấn Anh (2008): Những đặc điểm chính của địa danh ở Vĩnh Long

(Sơ bộ có so sánh địa danh một số vùng khác) đã nghiên cứu địa danh bằng hệ thống

lý luận, tuân thủ các nguyên tắc nghiên cứu địa danh, vận dụng các phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ học làm sáng tỏ các đặc điểm về mặt cấu tạo, chuyển biến và nguồn gốc, ý nghĩa của địa danh tỉnh Vĩnh Long Luận văn giúp ích cho người nghiên cứu trong việc tìm hiểu địa danh và các vấn đề về ngôn ngữ tỉnh Vĩnh Long

dưới góc độ ngôn ngữ Đặc biệt, trong nhóm nghiên cứu này, Từ điển địa danh Nam

Bộ của Lê Trung Hoa (2014) đã cung cấp cho luận án các lý giải về địa danh tỉnh

Vĩnh Long và vùng NB về mặt ngôn ngữ và từ nguyên dân gian Qua đó, người viết

có một nguồn tư liệu dồi dào, gợi mở nhiều góc độ cho vấn đề nghiên cứu về địa danh dưới góc nhìn VHDG

Ngoài các công trình nói trên, chúng ta có thể kể đến công trình Địa danh dân

gian Quảng Ngãi của tác giả Cao Chư đã có những đóng góp nhất định trong khoa

học nghiên cứu địa danh là đi sâu vào giải thích địa danh tỉnh Quảng Ngãi theo hướng ngôn ngữ học – văn hóa, phân tích cấu trúc ngôn ngữ về địa danh tiếng Hán, tiếng dân tộc thiểu số trên địa bàn và nêu được phạm trù địa danh dân gian Tuy nhiên, mặc dù có những đóng góp nhất định nhưng công trình chưa có hệ lý thuyết nghiên cứu dẫn đường, chưa có sự khái quát hóa cao về mối quan hệ giữa địa danh và văn hóa, đặc biệt là văn hóa dân gian qua địa danh Đặc biệt, cùng với khuynh hướng nghiên cứu trên, chúng ta phải kể đến 73/116 công trình nghiên cứu được viết dưới dạng bài báo khoa học của tác giả Lê Trung Hoa đề cập theo từng chủ đề viết về địa danh Các nghiên cứu đã ít nhiều đề cập, lý giải về nguồn gốc, ngữ nghĩa, từ nguyên

và cả các yếu tố văn hóa dưới góc nhìn ngôn ngữ của một số địa danh tỉnh Vĩnh Long trong tổng thể địa danh NB Cụ thể, các công trình này được phân lập dựa trên các lớp từ vựng như từ lịch sử, từ cổ, từ địa phương; phân lập trên cơ sở các thành tố chung được lặp đi lặp lại nhiều lần; phân lập dựa trên đặc trưng ngôn ngữ của địa

Trang 32

25

danh… như Tên cây ở Nam Bộ đi vào địa danh Việt Nam (2010); Địa danh Việt Nam

mang thành tố Long (2010); Từ lịch sử trong địa danh Việt Nam (2010); Địa danh Việt Nam mang thành tố Cái (2011); Từ cổ, từ lịch sử, từ địa phương trong địa danh Nam Bộ (2011); Những địa danh Nam Bộ bị ảnh hưởng bởi tục kiêng húy (2011); Tính dân dã của địa danh Nam Bộ (2013); Tính hiện thực của địa danh Nam Bộ

(2013); Từ địa phương trong địa danh Việt Nam (2013); Những đặc trưng ngôn ngữ -

văn hóa qua địa danh hành chính Nam Bộ (2013)…

Nhận xét

Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy địa danh tỉnh Vĩnh Long được đề cập khá sơ lược trong các công trình nghiên cứu toàn quốc hoặc toàn vùng NB nhưng được nghiên cứu chuyên sâu ở địa phương Về mặt thể loại, địa danh tỉnh Vĩnh Long nghiên cứu dưới góc độ địa lý, lịch sử bằng các thể loại địa chí, địa chí văn hóa, địa chí VHDG, từ điển ngôn ngữ hay các công trình ngôn ngữ chuyên về địa danh…, bước đầu đã cung cấp cho luận án các thông tin tư liệu về nguồn gốc một số địa danh

cổ (nay có thể đã mất đi), cùng đời sống văn hóa, phong tục tập quán… của tỉnh Vĩnh Long Về mặt phương pháp, các tác giả dư địa chí dưới thời Nguyễn đều trình bày bằng phương pháp liệt kê, thuật lại, chưa đề cập địa danh và văn hóa bằng hệ thống

lý luận cụ thể So với sách địa chí thời Nguyễn, các sách địa chí giai đoạn sau đã có những bước tiến mới đáng ghi nhận, tuy nhiên, do đặc thù của thể loại địa chí nên hầu như các tranh luận học thuật về địa danh vẫn rất hiếm hoi, có chăng là ở công

trình Gia Định thành thông chí với bản dịch của Lý Việt Dũng đính chính tên người

và tên đất so với bản dịch Đỗ Mộng Khương…Việc lý giải địa danh vì thế vẫn chưa được soi sáng dưới góc nhìn văn hóa mặc dù ngành địa chí đã phát triển theo hướng chuyên môn hóa kể từ năm 1985 Riêng mảng nghiên cứu ngôn ngữ về địa danh tỉnh Vĩnh Long, luận án cũng kế thừa được các phương pháp tiếp cận địa danh dưới góc

độ từ vựng học, ngữ âm, từ nguyên dân gian… góp phần làm cơ sở, tài liệu tham khảo hữu ích, giúp cho việc nghiên cứu văn hóa qua địa danh tránh việc lý giải chủ quan Tuy thế, như chúng tôi đã trình bày, một số tranh luận về nguồn gốc địa danh

và ngữ nghĩa của một số thành tố có trong địa danh, phân loại địa danh đã xuất hiện nhưng vẫn dưới góc nhìn của ngôn ngữ học; thảng có một vài công trình tranh luận

về lịch sử địa danh học Việt Nam như Địa danh – câu chuyện lịch sử của tác giả Cao Chư nghiên cứu về lịch sử địa danh học Việt Nam có liên quan đến ngành địa danh

học thế giới Mặt khác, qua việc khảo sát thực tế ở địa phương và qua các tài liệu viết

về Vĩnh Long, chúng tôi nhận thấy số lượng các công trình nghiên cứu về VHDG của tỉnh hiện vẫn chưa tương xứng so với tầm vóc của một vùng đất từng là nơi đô hội

của khu vực ĐBSCL Chính vì vậy, công trình“Địa danh tỉnh Vĩnh Long dưới góc

Trang 33

26

nhìn văn hóa dân gian” sẽ là những đóng góp mới về mặt khoa học và thực tiễn đối

với mảng nghiên cứu văn hóa tỉnh Vĩnh Long

1.3 Cơ sở lý luận nghiên cứu địa danh dưới góc nhìn văn hóa dân gian 1.3.1 Một số vấn đề có liên quan đến địa danh và văn hóa dân gian

1.3.1.1 Giới thuyết một số vấn đề có liên quan đến địa danh

+ Khái niệm địa danh

Theo các nhà ngôn ngữ học, thuật ngữ Toponym, Geographical name, Place

name được vay mượn từ tiếng Hy Lạp cổ Chúng có nghĩa là đối tượng địa lý mà ta

gọi là địa danh Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là những đối tượng địa lý bao gồm biển, sông, suối, hồ, ao, núi, kênh, rạch… là địa danh còn các đình, chùa, miếu, nhà thờ, công viên, siêu thị, tên đường phố, huyện, quận, thị trấn… có được xem là địa danh hay không? Đó là những vấn đề mà các nhà nghiên cứu địa danh học đã tốn nhiều công sức để xác định nội hàm của nó Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy có rất nhiều tác giả quan tâm và đưa ra định nghĩa nhằm làm sáng tỏ đối tượng địa danh Nhìn chung, các trường phái định nghĩa có thể phân thành những nhóm sau:

- Nhóm định nghĩa địa danh là đối tượng địa lý: Tiêu biểu có các tác giả Bách Khoa toàn thư Encyclopoedia Britannica định nghĩa địa danh “là từ hoặc cụm từ được dùng để chỉ hoặc xác định một vị trí địa lý như thị trấn, sông ngòi, núi non”; Học giả G.M Kert nêu “địa danh là tên gọi được đặt cho các đối tượng địa lý, ra đời trong một khu vực có người sinh sống, được tạo ra bởi một cộng đồng dân cư, một tộc người Chúng là một phần không thể thiếu được trong cuộc sống hàng ngày và các hoạt động chính trị - xã hội ở nơi đó” [170; tr.121]… Nhìn chung, theo khuynh hướng này, địa danh chính là những đối tượng địa lý mà nói như tác giả Đào Duy Anh, Hoàng Phê, Nguyễn Văn Âu… là dùng để chỉ hoặc xác định một vị trí địa lý

“tên gọi các miền đất” hay “tên đất, tên địa phương” Có thể nói, việc xác định địa danh như trên còn khá đơn giản, các vấn đề về đối tượng địa danh trên thực tế vẫn chưa được đề cập đến

- Đối lập với nhóm định nghĩa nói trên là khuynh hướng xác định địa danh bao gồm các đối tượng địa lý hoặc các công trình nhân văn Tiêu biểu cho khuynh hướng này là tác giả Nguyễn Như Ý Mặc dù không nêu lên một định nghĩa rõ ràng về địa danh nhưng qua cách phân loại về địa danh hành chính, địa danh gắn với các ngôi đình, đền, chùa, miếu, viện, phủ, đài tưởng niệm, bảo tàng…, địa danh gắn với di chỉ khảo cổ học, địa danh gắn với các thắng cảnh nổi tiếng, gắn với các làng nghề truyền thống, làng hội, các trung tâm kinh tế - văn hóa lớn, các vườn quốc gia, khu bảo tồn, sinh thái… tác giả đã cung cấp cách lý giải tên gọi của các công trình văn hóa Tuy nhiên, với định nghĩa đã nêu, ông cũng nhầm lẫn trong việc xác định nội hàm của địa danh Cùng cách nhìn nhận này, Nguyễn Kiên Trường cũng vấp phải sự hạn chế nói

Trang 34

27

trên khi xem: “Địa danh là tên riêng của các đối tượng địa lý tự nhiên và nhân văn có

vị trí xác định trên mặt đất” Cụ thể, ông cho rằng, địa danh là tên gọi đối tượng địa lý… Các đối tượng tự nhiên hay nhân tạo có thể gọi là nhân văn vì gắn với con người – xét theo nghĩa rộng Một cây cầu – nhân tạo, một làng, một xóm được “xây” bằng

“thiết chế công xã” sau lũy tre – nhân văn Từ nhân văn rõ ràng là khái quát hơn, bao gồm cả nhân tạo Địa danh gắn với con người, do con người đặt ra (địa danh là có chủ), vì thế, có địa danh chỉ các đối tượng địa lý tự nhiên và nhân văn… Như vậy, do xuất phát từ việc khái quát đối tượng địa danh tồn tại trong cuộc sống, các tác giả nói trên đã nhầm lẫn đối tượng nghiên cứu giữa địa danh và hiệu danh trong nhóm nghiên cứu danh xưng học thuộc từ vựng học16, khiến đối tượng địa danh trở nên rối rắm và phức tạp

- Nhóm định nghĩa thứ ba bao gồm các tác giả như Bách Khoa Việt Nam xem địa danh là “tên gọi các lãnh thổ, các điểm quần cư (làng, xã, huyện, tỉnh, thành phố), các điểm kinh tế (vùng nông nghiệp, khu công nghiệp), các quốc gia, các châu lục, các núi, đèo, cao nguyên, thung lũng, đồng bằng, châu thổ, sông, hồ, vũng, vịnh, biển, eo biển, đại dương có tọa độ địa lý nhất định ghi lại trên bản đồ” [30; tr.9]; Nhóm chuyên gia Liên Hợp quốc về địa danh (United Nations Group of Experts on Geographical Name) định nghĩa “Địa danh là tên gọi của một đối tượng trên mặt đất

Về mặt nguyên tắc, địa danh là tên riêng (gồm một từ, nhiều từ hoặc ngữ) được dùng một cách nhất quán trong ngôn ngữ để chỉ một địa điểm, một đối tượng hoặc một vùng cụ thể có vị trí có thể nhận biết được trên trái đất Các đối tượng có thể là các điểm dân cư (ví dụ thành phố, thị trấn, làng), các đơn vị hành chính lãnh thổ (ví dụ bang, tỉnh, huyện), các đối tượng tự nhiên (ví dụ sông, núi, mũi đất, hồ, biển), các đối tượng xây dựng (ví dụ đập, sân bay, đường sá), các địa điểm hay các vùng có ranh giới không xác định (ví dụ cánh rừng, ngư trường) hoặc theo Hoàng Thị Châu “Địa danh hay là tên địa lý (toponym, geographical name) là tên vùng, tên sông, tên núi, là tên gọi các đối tượng địa hình khác nhau, tên nơi cư trú, tên hành chính… được con người đặt ra” [179] v.v Với cách tiếp cận trên, các thành tố thuộc về địa danh từng bước được xác định, tuy nhiên, nhiều đối tượng bị đồng nhất hoặc bị tách rời các thuộc tính của địa danh dẫn đến việc khó xem xét đối tượng địa danh một cách rõ ràng và đầy đủ nhất

Để xác định nội hàm của địa danh, tránh sự nhầm lẫn với việc xác định hiệu danh, đồng thời cũng giúp cho quá trình phân loại địa danh bao quát và có tiêu chí rõ ràng, khắc phục được một số nhược điểm nêu trên, chúng tôi chọn cách định nghĩa theo hướng tổng hợp các loại hình địa danh của tác giả Lê Trung Hoa, ông xem: “Địa danh là những từ hoặc ngữ, được dùng để đặt tên của địa hình thiên nhiên, các đơn vị

16 Danh xưng học được phân thành Nhân danh học, Địa danh học và Hiệu danh học

Trang 35

28

hành chính, các vùng lãnh thổ và các công trình xây dựng thiên về không gian hai chiều”

+ Phân loại địa danh

Có thể nói, khi đưa ra định nghĩa về địa danh, các tác giả đã gián tiếp phân loại địa danh Vì vậy, trong luận án này, chúng tôi cũng tán thành quan điểm của nhà nghiên cứu Lê Trung Hoa Trước bức tranh đầy phức tạp của địa danh, ông đã phân chúng thành bốn tiểu loại nhằm làm nổi bật các yếu tố cấu thành địa danh của một vùng đất, bao gồm:

- Địa danh chỉ địa hình

- Địa danh chỉ công trình xây dựng thiên về không gian hai chiều

- Địa danh hành chính

- Địa danh vùng

Song song với cách phân loại trên, Lê Trung Hoa cũng dựa vào ngữ nguyên để phân loại địa danh, cụ thể là dựa vào các lớp ngôn ngữ gắn với chủ thể địa danh, bao gồm:

- Địa danh thuần Việt

- Địa danh Hán Việt

- Địa danh bằng các ngôn ngữ dân tộc thiểu số

- Địa danh bằng các ngoại ngữ

Tuy nhiên, để góp phần giải mã địa danh, ngoài việc kế thừa cách phân loại địa danh của Lê Trung Hoa, dưới góc nhìn VHDG, chúng tôi còn tiến hành phân địa danh thành hai loại: địa danh hành chính (bao gồm cả địa danh hành chính có nguồn gốc dân gian) và địa danh dân gian hay nói cách khác là loại địa danh được chính quyền đặt tên ngay từ khi xuất hiện trên văn bản hành chính và loại địa danh đang được hình thành bằng con đường truyền khẩu Cơ sở khoa học để chúng tôi tiến hành phân loại địa danh là dựa vào thực tế quản lý hành chính về địa danh và căn cứ vào không gian văn hóa của địa danh

Theo đó, địa danh hành chính là địa danh chỉ các đơn vị hành chính Loại địa danh này do nhà nước công nhận Phần lớn, chúng được hình thành từ lớp ngôn ngữ Hán Việt và loại địa danh có nguồn gốc dân gian Hiện nay, địa danh hành chính bao gồm các đơn vị sau: quốc gia, miền, khu vực, tỉnh, thành phố, quận, huyện, thị xã, thị trấn, phường, xã, khóm, đội, thôn, ấp, tiểu khu, khu phố Trong quá khứ, địa danh hành chính gồm các tiểu loại như: am, bãi, bến, châu, chòm, chợ, chùa, dinh (doanh), đạo, điếm, đội, đồn, động, giáp, hạt, hộ, hương, khóm, làng, lân, liên gia, lộ, lũng, miếu, nậu, nguồn, phố, phủ, quán, sách, sở, tấn, thành, thuộc, thừa tuyên, tích, tiết, tộc, tổng, trại, trang, trấn, vạn, xóm, xứ, xưởng [4; tr.21-22]

Trang 36

29

Địa danh dân gian là loại địa danh do nhân dân tạo nên, được cấu tạo bởi lớp từ thuần Việt Ở khu vực Tây Nam Bộ (TNB), loại địa danh này mang đậm sắc thái của ngôn ngữ bình dân, mang tính “nôm na mách qué” hàng ngày Trong lịch sử hình thành và biến đổi địa danh, một bộ phận không nhỏ địa danh dân gian đã trở thành địa danh hành chính Địa danh dân gian tồn tại trong đời sống văn hóa dưới hai hình thức: địa danh được hình thành trong dân gian chưa được công nhận trên văn bản hành chính (loại địa danh được đặt trực tiếp cho đối tượng cần được định danh); địa danh dân gian đã được công nhận trên văn bản hành chính Theo chúng tôi, một trong những dấu hiệu nhận biết địa danh hành chính có nguồn gốc từ địa danh dân gian được xác định như sau:

- Địa danh sử dụng từ thuần Việt, mang tính dân dã, nôm na17

- Địa danh sử dụng tiếng dân tộc thiểu số ở địa phương

- Địa danh có từ hai danh pháp địa lý trở lên

Bên cạnh cách phân loại này, chúng tôi còn dựa vào nguồn gốc hình thành và biến đổi của địa danh để tiếp tục phân loại nhằm góp phần thực hiện việc giải mã chúng dưới góc độ văn hóa Thật ra, đây là cách phân loại không phải quá mới mẻ trong giới nghiên cứu địa danh Lịch sử nghiên cứu cho thấy, có khá nhiều học giả quan tâm đến vấn đề này, tuy nhiên, khi thực hiện thao tác phân loại địa danh, họ chỉ bước đầu phác thảo vài nét chấm phá của địa danh gắn với văn hóa Tiêu biểu là tác giả Trần Thanh Tâm, ông xem địa danh gồm có sáu loại: a) Loại đặt theo địa hình và đặc điểm; b) Loại đặt theo vị trí không gian và thời gian; c) Loại đặt theo tín ngưỡng, tôn giáo, lịch sử; d) Loại đặt theo hình thái, đất đai, khí hậu; e) Loại đặt theo đặc sản, nghề nghiệp và tổ chức kinh tế; f) Loại đặt theo sinh hoạt xã hội

Thoạt tiên, chúng ta nhận thấy cách phân loại này cũng tiếp cận được nhiều vấn

đề của văn hóa học Tuy nhiên, xét về mặt cấu trúc văn hóa, cách phân loại trên trùng lắp nội hàm của các tiểu loại, thời gian và lịch sử không thể tách bạch thành hai vấn

đề, các thuộc tính của văn hóa chưa có sự thống nhất khi ông đưa loại địa danh đặc sản là một tiểu loại Trên thực tế, các thành tố văn hóa mà địa danh phản ánh lại đa dạng hơn rất nhiều Tương tự như Trần Thanh Tâm, tác giả Nguyễn Như Ý cũng vấp phải nhược điểm khi phân địa danh thành sáu nhóm: a) Những địa danh hành chính

từ cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, các quận, huyện, thị xã; b) Những địa danh có các di tích lịch sử văn hóa như đền, đình, chùa, miếu, viện, phủ, quán, các đài tưởng niệm, các viện bảo tàng, các địa danh cách mạng và kháng chiến đã hoặc chưa được nhà nước xếp hạng, còn nguyên vẹn hoặc đã trở thành phế tích, hoặc chỉ còn lại tên gọi lưu trong thư tịch; c) Những địa danh gắn với những di chỉ khảo cổ học xưa và nay đã được ghi chép trong các sách báo, tạp chí hoặc các chuyên khảo;

17 Có nghĩa là cách dùng từ không trau chuốt, mang tính khẩu ngữ, bình dân

Trang 37

30

d) Những địa danh và thắng cảnh nổi tiếng, các điểm du lịch, vui chơi giải trí có từ xa xưa hay mới được tạo dựng nên; e) Những địa danh là các làng nghề truyền thống, các làng hội, làng danh nhân, làng văn hóa mới, các trung tâm kinh tế - văn hóa lớn; f) Những địa danh đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa vật thể và phi vật thể thế giới, các vườn quốc gia, các khu bảo tồn, sinh thái

Xét dưới góc độ nghiên cứu văn hóa qua địa danh, tác giả Nguyễn Như Ý đã phân loại nghiêng về yếu tố văn hóa học, đối tượng địa danh vẫn chưa được tiếp cận đúng với bản chất của chúng, như đã phân tích, theo cách phân loại này, tác giả gọi tên rất nhiều hiệu danh thành địa danh

Để khắc phục những vấn đề trên, chúng tôi đề xuất cách phân loại địa danh dựa trên các di sản văn hóa gắn với chủ thể của địa danh và đặt trong bối cảnh cụ thể, tức

là đặt trong mối quan hệ giữa không gian và thời gian văn hóa làm cơ sở nghiên cứu qua sơ đồ sau (nhằm mục đích giải thích nguồn gốc hình thành và biến đổi địa danh):

1.3.1.2 Giới thuyết một số vấn đề có liên quan đến văn hóa dân gian

+ Nội hàm văn hóa dân gian

Từ khi thuật ngữ folklore (folk (nhân dân) và lore (sự hiểu biết, trí tuệ) xuất hiện, khoa học về VHDG ở các nước phương Tây bắt đầu hình thành Lịch sử nghiên cứu của ngành folklore học thế giới cho thấy, nhiều công trình của các nhà khoa học được viết dưới các quan điểm và đối tượng nghiên cứu VHDG khác nhau Nhận định

về điều này, V.E Guxep trong“Lịch sử thuật ngữ folklore và những nghĩa hiện đại

của nó” cho rằng:

Địa danh gắn với nguồn gốc tộc người

Địa danh có nguồn gốc gắn với

các thực thể

Địa danh có nguồn gốc gắn với các giá trị phi vật thể Địa danh có nguồn gốc gắn với đời sống văn hóa

Trang 38

31

“Thuật ngữ folklore xuất hiện lúc đầu để chỉ một lĩnh vực riêng biệt nghiên cứu về thời cổ, về nhân chủng học, sau đó chỉ một khoa học riêng biệt cả về đối tượng nghiên cứu nữa Các dạng thức của folklore cũng thay đổi dần dần: Từ nhân học, sử học, xã hội học, dân tộc học đến nghiên cứu văn học Nội hàm của thuật ngữ cũng được mở rộng, có lúc folklore chỉ tất cả các hiện tượng văn hóa tinh thần và một vài hình thức của văn hóa vật chất của nhân dân, sau đó lại xuất hiện khuynh

hướng muốn giới hạn thuật ngữ đó” [35; tr.16]

Theo Ngô Đức Thịnh, sự thay đổi về VHDG mà V.E Guxep trình bày có thể tổng kết qua ba trường phái lớn phát triển ở các khu vực cụ thể như “Trường phái phôn-clo Anh - Mỹ chịu ảnh hưởng nhân học, trường phái phôn-clo Tây Âu chịu ảnh hưởng xã hội học (điển hình là Pháp, I-ta-li-a) và trường phái phôn-clo Nga chịu ảnh hưởng ngữ văn học” [184] Khởi đầu, các nhà khoa học phương Tây như William Thoms, P Saintyves, A N Espinoza… xem VHDG gắn với các phạm trù truyền thống và phạm trù dân chúng, đối tượng nghiên cứu của VHDG lúc bấy giờ là những

“cái xưa cũ” và thuộc “tầng lớp bình dân so với tầng lớp trí thức, tân tiến trong xã hội” Đến giữa thế kỷ XX, chúng đã bị phản bác, bởi phạm trù truyền thống và phạm trù dân chúng sẽ khiến cho đối tượng nghiên cứu của VHDG ngày càng thu hẹp Mặt khác, dưới góc độ này, VHDG như bị xem thường, là thứ văn hóa không chính thống, văn hóa của “thế giới hạ đẳng”

Giống như ngành VHDG thế giới, ở Việt Nam cũng phân thành các trường phái nghiên cứu khác nhau, theo Chu Xuân Diên, chúng gồm hai hướng tiếp cận nhân học văn hóa và ngữ văn học là chủ yếu Cả hai khuynh hướng này cùng tồn tại và phát triển song song

Tiêu biểu, trường phái folklore theo nghĩa hẹp xem VHDG là nghệ thuật ngôn

từ, hay chỉ là văn học dân gian, tách VHDG ra khỏi các thành tố VHDG khác như âm nhạc, hội họa, điêu khắc… Đến năm 1987, đối tượng nghiên cứu VHDG được xác định ở phạm vi rộng hơn, Nguyễn Tấn Đắc đã đưa ra định nghĩa xem VHDG gồm

“toàn bộ tri thức, sáng tạo và cách ứng xử của con người trước và ngoài dòng văn hóa chính thống của quốc gia, sách vở trường học và công nghiệp khoa học” Tuy nhiên, định nghĩa này vẫn còn xem VHDG là một nửa của văn hóa Đến năm 1990, Trần Quốc Vượng đưa ra định nghĩa mang nội hàm rộng và tiếp cận VHDG với cái nhìn tổng thể18: “Nói folklore Việt Nam là nói tổng thể mọi sáng tạo, mọi thành tựu văn hóa của dân gian ở mọi nơi, trong mọi thời, của mọi thành phần dân tộc hiện đang tồn tại trên lãnh thổ Việt Nam… Sáng tạo dân gian bao trùm mọi lĩnh vực đời sống”

18 Quan điểm tổng thể luận và khái niệm tổng thể trong nghiên cứu văn hóa được khởi xướng từ E.Durkheim

Trang 39

32

Tiếp theo đó, Đinh Gia Khánh đã xác lập cách tiếp cận VHDG ở mọi góc độ VHDG

là đối tượng của nhiều ngành khoa học xã hội nhân văn và khoa học tự nhiên… và là ngành khoa học nghiên cứu những hiện tượng và những quy luật của quá trình loài người “nhân loại hóa”, “nhân hóa thế giới”… Có thể gọi VHDG theo nghĩa rộng với thuật ngữ folk culture

Cả hai nhà nghiên cứu trên đã xem xét VHDG dưới cái nhìn toàn diện trong mối quan hệ với các ngành khoa học khác Khuynh hướng này cũng là khuynh hướng của khoa học về nghiên cứu văn hóa trên thế giới trong giai đoạn đương đại với đại diện là Alan Dendes Ông đã xác định VHDG như “là một hiện tượng văn hoá cũng giống như bất kể một hiện tượng văn hoá nào khác, miễn là nó chứa đựng những

thuộc tính “folk” (dân dã, dân gian) nào đó” [185] Thực tế, “văn hóa dân gian đã

được các nhà nghiên cứu tiếp cận theo những phương pháp khác nhau Sự khác nhau này, tùy thuộc quan điểm của từng trường phái” [98; tr.13] Chính vì vậy, để nghiên cứu VHDG qua địa danh một cách toàn diện, chúng tôi chọn cách tiếp cận theo khái niệm rộng về VHDG

+ Phạm vi và đối tượng nghiên cứu văn hóa dân gian

Như vậy, phạm vi nghiên cứu VHDG là tất cả những gì thuộc về không gian sống của con người VHDG sẽ được xem xét dưới cái nhìn lịch đại và đồng đại chứ không phải khuôn hẹp trong vốn văn hóa xưa, nay không còn nữa Điều đó có nghĩa

là, VHDG hiện vẫn tồn tại cho dù xã hội có phát triển đến mức độ nào Vì thế trong nghiên cứu, vấn đề phân kỳ VHDG là rất cần thiết, chúng căn cứ vào các cột mốc lịch sử Trong luận án này, chúng tôi dựa vào quan niệm của Nguyễn Xuân Kính:

“Khái niệm văn hoá dân gian cổ truyền, văn hoá dân gian hiện đại với cách hiểu văn

hoá dân gian cổ truyền là văn hoá dân gian được sáng tạo và lưu truyền từ trước Cách

mạng tháng Tám năm 1945” “Khái niệm văn hoá dân gian đương đại để chỉ những

sáng tạo dân gian ra đời trong khoảng 15 - 20 năm gần đây Văn hoá dân gian đương đại là một bộ phận của văn hoá dân gian hiện đại” [180]

Đối tượng nghiên cứu VHDG chính là tất cả những gì thuộc về nhân dân Phân biệt VHDG không phải dựa trên quy mô của chúng bao gồm những thành tố nào mà căn cứ vào tính chất của VHDG Điều đó có nghĩa là trong tất cả các ngành nghề, tầng lớp, giai cấp, nói chung là tất cả các hoạt động … đều chứa đựng vốn VHDG

Do đó, chúng ta có thể kết luận rằng, VHDG bao gồm tất cả các lĩnh vực của văn hóa, chúng được sáng tạo một cách tự nhiên, gắn với đời sống văn hóa của nhân dân lao động VHDG chính là truyền thống văn hóa của dân tộc Theo Viện nghiên cứu văn hóa thuộc Viện Hàn Lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, VHDG hiện có thể phân thành các thành tố văn hóa chính như sau: Văn học dân gian; Nghệ thuật dân gian; Phong tục, lễ hội; Tín ngưỡng, tôn giáo; Tri thức dân gian…

Trang 40

33

+ Di sản văn hóa phi vật thể địa danh

Trong một số luận văn thạc sỹ văn hóa học nghiên cứu về địa danh gần đây, các

tác giả như Võ Nữ Hạnh Trang (2006), Văn hóa qua địa danh Việt ở tỉnh Đồng Nai; Nguyễn Thị Ngọc Bích (2008), Khía cạnh văn hóa của địa danh ở tỉnh Đồng Tháp; Huỳnh Lê Thị Xuân Phương (2009), Văn hóa qua địa danh tỉnh Khánh Hòa… đều

xác định địa danh là “vật dẫn văn hóa”

Tuy nhiên, xét nguồn gốc hình thành, tồn tại và quá trình biến đổi địa danh, chúng tôi nhận thấy địa danh là một hiện tượng VHDG Địa danh hình thành và phản ánh mọi mặt trong đời sống văn hóa của nhân dân Theo chúng tôi, nếu xem đối tượng tên gọi địa danh là phương tiện để truyền tải các giá trị văn hóa phi vật thể thì việc nghiên cứu địa danh vẫn chưa được thỏa đáng Bởi địa danh là một loại hình mang tính tổng hợp, chúng bao hàm tất cả các thành tố văn hóa như phong tục tập quán, tôn giáo, tín ngưỡng, các tập quán, nghề nghiệp, văn học, nghệ thuật, tri thức dân gian,… và cả ngôn ngữ Ngôn ngữ trong địa danh không chỉ đóng vai trò đơn thuần là “vật dẫn”, “phương tiện” mà chính ngôn ngữ cũng là biểu hiện cấu thành địa danh, chúng là giá trị văn hóa phi vật thể như các giá trị văn hóa khác Căn cứ vào Luật Di sản văn hóa năm 2001, chúng tôi nhận thấy địa danh mang đầy đủ nội hàm

của di sản văn hóa phi vật thể như sau:

“Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược học cổ truyền,

về văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác” [137]

+ Đặc điểm của địa danh trong đời sống văn hóa dân gian

Địa danh dân gian mang đầy đủ tính chất của một hiện tượng VHDG Địa danh dân gian có tính tổng hợp, bao gồm nhiều thành tố VHDG tạo thành Địa danh dân gian được lưu truyền bằng con đường truyền miệng, vì thế, địa danh có khá nhiều dị bản về nguồn gốc hình thành và cả bản thân tên gọi địa danh Thực tế, ở nhiều khu vực tỉnh thành, địa danh dân gian được lý giải khá giống nhau về nguồn gốc hình thành nên chúng

Địa danh dân gian do tập thể nhân dân lao động sáng tạo nên Chúng phản ánh những tâm tư, tình cảm, ước vọng… và cả đời sống sinh hoạt hàng ngày của nhân dân lao động Chính vì thế, chúng ta cũng khó xác định được ai là người đặt tên cho địa danh dân gian và thời điểm, không gian ra đời của chúng bắt đầu từ đâu và từ khi

Ngày đăng: 27/06/2017, 14:30

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Thống kê địa danh tỉnh Vĩnh Long. - Địa danh tỉnh vĩnh long qua góc nhìn văn hóa dân gian
Bảng 1 Thống kê địa danh tỉnh Vĩnh Long (Trang 52)
Bảng 2: Các bang của người Hoa dựa trên phương ngữ của người Hoa di cư. - Địa danh tỉnh vĩnh long qua góc nhìn văn hóa dân gian
Bảng 2 Các bang của người Hoa dựa trên phương ngữ của người Hoa di cư (Trang 66)
Bảng 3.1: Quy định đo đạc thước ruộng trong giai đoạn triều Nguyễn. - Địa danh tỉnh vĩnh long qua góc nhìn văn hóa dân gian
Bảng 3.1 Quy định đo đạc thước ruộng trong giai đoạn triều Nguyễn (Trang 109)
Hình 1: Bản đồ Nam Kỳ năm 1872. - Địa danh tỉnh vĩnh long qua góc nhìn văn hóa dân gian
Hình 1 Bản đồ Nam Kỳ năm 1872 (Trang 319)
Hình 2: Bản đồ Nam Kỳ lục tỉnh năm 1883. - Địa danh tỉnh vĩnh long qua góc nhìn văn hóa dân gian
Hình 2 Bản đồ Nam Kỳ lục tỉnh năm 1883 (Trang 320)
Hình 3: Bản đồ tỉnh Vĩnh Long ngày nay - Địa danh tỉnh vĩnh long qua góc nhìn văn hóa dân gian
Hình 3 Bản đồ tỉnh Vĩnh Long ngày nay (Trang 321)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w