1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đời sống kinh tế, văn hóa của dân tộc thái đen (tày đăm) huyện khăm, tỉnh xiêng khoảng, nước CHDCND lào, giai đoạn 1975 2015

95 371 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 3,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHAMFENG SENKHAMCHAN ĐỜI SỐNG KINH TẾ VĂN HÓA CỦA DÂN TỘC THÁI ĐEN TÀY ĐĂM HUYỆN KHĂM TỈNH XIÊNG KHOẢNG NƯỚC CHDCND LÀO GIAI ĐOẠN 1975-2015

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHAMFENG SENKHAMCHAN

ĐỜI SỐNG KINH TẾ VĂN HÓA CỦA DÂN TỘC THÁI ĐEN (TÀY ĐĂM) HUYỆN KHĂM TỈNH XIÊNG KHOẢNG NƯỚC CHDCND LÀO GIAI ĐOẠN 1975-2015

LUẬN VĂN THẠC SĨ NHÂN VĂN

THÁI NGUYÊN - 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHAMFENG SENKHAMCHAN

ĐỜI SỐNG KINH TẾ VĂN HÓA CỦA DÂN TỘC THÁI ĐEN (TÀY ĐĂM) HUYỆN KHĂM TỈNH XIÊNG KHOẢNG NƯỚC CHDCND LÀO GIAI ĐOẠN 1975-2015

Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam

Mã số: 60.22.03.13

LUẬN VĂN THẠC SĨ NHÂN VĂN

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hà Thị Thu Thủy

THÁI NGUYÊN - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu đầu tiên của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu được nêu trong luận văn đều trung thực.Những kết quả nghiên cứu của luận văn chưa được công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào khác

TÁC GIẢ

KHĂM PHENG SEN KHĂM CHĂN

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo hướng dẫn PGS.TS Hà Thị Thu Thủy, cùng các thầy cô trong Khoa Lịch sử, trường Đại học Sư phạm- Đại học Thái Nguyên đã chỉ bảo tận tình, động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ủy ban Nhân dân huyện Khăm, tỉnh Xiêng Khoảng và chính quyền địa phương huyện Khăm đã tạo điều kiện thuận lợi về mọi mặt để tôi hoàn thành luận văn

Trong thời gian đi thực tế, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các già làng, trưởng bản và những người cung cấp thông tin ở các làng bản người Thái Đen ở huyện Khăm Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó

Cuối cùng, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Trường Cao đẳng

Sư phạm Khăng Khay (tỉnh Xiêng Khoảng), gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Thái Nguyên, ngày 15 tháng 6 năm 2017

Tác giả luận văn

KHĂMPHENG SENKHĂMCHĂN

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN i

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ iv

MỞ ĐẦU 1

1.Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Đối tượng, mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 4

4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 5

5.Đóng góp của luận văn 5

6 Bố cục luận văn 5

Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN KHĂM VÀ NGƯỜI THÁI ĐEN (TÀY ĐĂM) Ở HUYỆN KHĂM TỈNH XIÊNG KHOẢNG, NƯỚC CHDCND LÀO 7

1.1.Khái quát về huyện Khăm, tỉnh Xiêng Khoảng 7

1.1.1 Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên 7

1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 8

1.2 Người Thái Đen (Tày Đăm) ở huyện Khăm, tỉnh Xiêng Khoảng 11

Tiểu kết chương 1 16

Chương 2: ĐỜI SỐNG KINH TẾ CỦA DÂN TỘC THÁI ĐEN (TÀY ĐĂM) Ở HUYỆN KHĂM, TỈNH XIÊNG KHOẢNG, NƯỚC CHDCND LÀO GIAI ĐOẠN 1975 - 2015 17

2.1 Kinh tế nông nghiệp 17

2.1.1 Trồng lúa nước 18

2.1.2 Nương rẫy 21

2.1.3 Chăn nuôi 22

2.1.4 Tổng thu nhập từ nông nghiệp 24

2.2 Khai thác nguồn lợi tự nhiên 26

2.3 Nghề thủ công 29

Trang 6

2.3.1 Đan lát 30

2.3.2 Nghề dệt 32

2.3.3 Nghề làm mộc 35

2.4 Buôn bán trao đổi 36

Tiểu kết chương 2 39

Chương 3: ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA NGƯỜI THÁI ĐEN Ở HUYỆN KHĂM TỈNH XIÊNG KHOẢNG NƯỚC CHDCND LÀO GIAI ĐOẠN 1975 - 2015 41

3.1 Văn hóa vật chất 41

3.1.1 Nhà ở 42

3.1.2 Trang phục 45

3.1.3 Ẩm thực 48

3.2 Văn hóa tinh thần 53

3.2.1 Ngôn ngữ, giáo dục 53

3.2.2 Tín ngưỡng dân gian 56

3.2.3 Phong tục tập quán 60

3.2.4 Lễ, tết 69

Tiểu kết chương 3 74

KẾT LUẬN 76

TÀI LIỆU THAM KHẢO 80

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ Bảng

Bảng 1.1 Thống kê thành phần dân tộc ở huyện Khăm, tỉnh Xiêng Khoảng

năm 2014 10

Bảng 1.2 Thống kê về người Tày Đăm ở tỉnh Xiêng Khoảng (năm2013) 13

Bảng 1.3 Thống kê về người Tày Đăm ở huyện Khăm (năm 2015) 14

Bảng 2.1 Nông lịch của người Thái Đen huyện Khăm 22

Bảng 2.2 Sản lượng và thu nhập từ trồng trọt của người Thái Đen ở huyện Khăm năm 2015 25

Bảng 2.3 Thống kê số lượng vật nuôi của người Thái Đen ở huyện Khăm năm 2015 26

Bảng 2.4 Thống kê hoạt động nghề thủ công của người Thái Đen trong 4 bản của huyện Khăm năm 2015 30

Bảng 2.5 Thống kê số lượng hộ gia đình người Thái Đen làm nghề buôn bán ở huyện Khăm, tỉnh Xiêng Khoảng năm 2015 37

Bảng 3.1 Bảng so sánh giữa ngôn ngữ nói của dân tộc Thái Đen với tiếng Lào và tiếng Việt 54

Sơ đồ Sơ đồ 1.1: Các ngành của người Thái ở Lào 12

Sơ đồ 2.1 Quản lý nước trên ruộng lúa cấy 21

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào là một quốc gia đa dân tộc Theo

số liệu thống kê năm 2015, Lào có 49 dân tộc Nền văn hóa phong phú, đa dạng đậm đà bản sắc dân tộc Một trong những nét văn hóa đặc trưng, tiêu biểu của các dân tộc đó là cuộc sống sinh hoạt, phong tục tập quán, tín ngưỡng dân gian

và ngôn ngữ

Huyện Khăm, tỉnh Xiêng Khoảng là một huyện nằm trong một tỉnh thuộc miền Bắc của Nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào có nhiều dân tộc đang sinh sống và làm ăn như: Phuôn, Mông, Lào, Thái đỏ (Tày Đeng), Thái trắng (Tày Khao), Thái đen (Tày Đăm), Lự…Tày Đăm (Thái đen) là một dân tộc có nguồn gốc lịch sử rất lâu đời Người Tày Đăm có phong tục tập quán, văn hóa đặc trưng, riêng biệt của dân tộc mình Điều đó thể hiện rõ trong ngôn ngữ nói, cách ăn mặc, phong tục tập quán và tín ngưỡng Góp phần vào việc làm phong phú và đa dạng hơn cho văn hóa Lào

Hiện nay, cuộc sống sinh hoạt của người Tày Đăm có nhiều biến đổi Về kinh tế: Người Tày Đăm đã biết làm nhiều ngành nghề để góp sức mình vào công việc xây dựng và phát triển đất nước Lào Kinh tế của người Tày Đăm ngày càng phát triển, đời sống của họ ổn định hơn xưa Về văn hóa: Người Tày Đăm vẫn giữ được những nét đặc trưng riêng biệt của văn hóa mình để có thể phân biệt được với văn hóa của các dân tộc khác, đặc biệt là tiếng nói Để tìm hiểu sâu sắc về cuộc sống sinh hoạt, đời sống kinh tế và văn hóa của đồng bào

Tày Đăm, tác giả đã quyết định chọn vấn đề “Đời sống kinh tế, văn hóa của dân tộc Thái Đen (Tày Đăm) huyện Khăm, tỉnh Xiêng Khoảng, nước CHDCND Lào, giai đoạn 1975 - 2015” làm đề tài luận văn thạc sĩ

Trang 9

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Cho đến nay, đã có một số tác phẩm nghiên cứu về dân tộc Thái Đen do tác giả là người Lào và Việt Nam đề cập Dưới đây, tác giả sẽ thống kê những công trình nghiên cứu có liên quan về đời sống sinh hoạt của người Thái Đen ở Lào nói chung và ở huyện Khăm nói riêng theo thời gian công bố:

Năm 2005, tác giả Khampheng Thipmountaly công trình “Quá trình hình thành và phát triển các dân tộc ở nước CHDCND Lào” ở Viện Nghiên cứu Dân tộc và Tôn giáo Lào Cuốn sách này tập trung nghiên cứu về nguồn gốc và văn hóa của các dân tộc của Lào, trong đó có văn hóa của người Thái Đen

Năm 2006, cuốn “Phong tục tập quán của dân tộc Thái Đen” của tác giả Quangxaykhăm Khunsilihương, Ban Quản lý và phát huy văn hóa dân tộc Thái Đen tỉnh Luông Năm Tha, đã đề cập đến phong tục tập quán của người Thái Đen ở tỉnh Luông Năm Tha, nước CHDCND Lào

Năm 2007, Luận văn thạc sĩ “Trang phục cổ truyền của phụ nữ dân tộc Thái huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa” của học viên Nguyễn Đại Đồng, trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên,giáo trình “Lào sức sá”, đề tài “Văn hóa của các dân tộc Lào” do Bộ Giáo dục và Thể thao Lào phát hành cũng nói đến văn hóa của dân tộc Thái Đen tại đất nước Lào

Năm 2008, Luận văn thạc sĩ “Bản sắc văn hóa dân tộc Thái trong điều kiện đổi mới và phát triển kinh tế vùng Tây Bắc” của học viên Lô Thị Quỳnh

Lan, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tổng quan về bản sắc văn hóa dân tộc Thái ở

vùng Tây Bắc (khái niệm văn hóa, bản sắc văn hóa của người Thái ở Tây Bắc cũng như bản sắc văn hóa dân tộc Thái nói chung; mối quan hệ biện chứng giữa văn hóa và phát triển kinh tế; những ảnh hưởng của sự phát triển kinh tế vùng Tây Bắc đến bản sắc văn hóa người Thái cũng như những thay đổi của bản sắc văn hóa Thái Đen bên cạnh sự phát triển kinh tế vùng Tây Bắc trong điều kiện mới) Đưa ra những đề nghị: xây dựng nơi lưu trữ, bảo tàng, trưng

Trang 10

bày, biểu diễn những nét hay, đẹp của truyền thống văn hóa dân tộc Thái; tổ chức các ngày hội văn hóa Thái; xây dựng và phát triển chữ viết, ngôn ngữ dân tộc Thái để bảo tồn và phát huy truyền thống dân tộc; triển khai và nhân rộng các mô hình bản văn hóa đã có như: bản Lác (Mai Châu, Hòa Bình), bản văn hóa dân tộc Thái Đen (Chiềng Cơi, thị xã Lai Châu)

Năm 2009, trong các cuốn sách “Dân tộc học” của tác giả Viengmala Vangmuoi, khoa Xã hội học, Đại học Quốc gia Lào; “Tìm hiểu các dân tộc ở Lào” của Viện nghiên cứu Dân tộc và Tôn giáo Lào của NXB Sibunhương, thủ

đô Viêng Chăn, đã đề cập đến các dân tộc sinh sống ở Lào, trong đó có dân tộc Thái Đen

Năm 2014, Cuốn “Dân tộc Thái Đen ở tỉnh Xiêng Khoảng” của tác giả Bounphone Onsouvanh, năm 2014, thủ đô Viêng Chăn đã tập trung nghiên cứu vào cuộc sống của người Thái Đen ở tỉnh Xiêng Khoảng

Năm 2015, khóa luận tốt nghiệp Đại học Văn hóa Hà Nội“Tìm hiểu tang

ma của người Thái Đen ở xã Nghĩa Lợi,tỉnh Yên Bái”, tác giả Lộ Thị Huyền đã trình bày về việc tổ chức lễ tang của người Thái Đen ở xã Nghĩa Lợi, tỉnh Yên Bái Khóa luận tốt nghiệp “Văn hóa của dân tộc Thái Đen bản Xoong Tạy, huyện Xoong, tỉnh Hủa Phăn”, tác giả Phiensy Venmixay và Alithao Phialuong, trường Đại học Quốc gia Lào đã đề cập đến tình trạng văn hóa của dân tộc Thái Đen ở bản Xoong Tạy, huyện Xoong, tỉnh Hủa Phăn Luận văn thạc sỹ “Lịch và Nông lịch của người Thái Đen ở Sơn La” của học viên Phạm Ngọc Hà, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã cung cấp nội dung

về Lịch và Nông lịch của người Thái Đen

Các công trình nghiên cứu và các tài liệu được tiếp cận trên đây đều có nội dung đề cập đời sống kinh tế văn hoá của đồng bào Thái Đen ở các góc độ khác nhau, tuy nhiên chưa có tác giả nào nghiên cứu một cách toàn diện và hệ thống về kinh tế, văn hóa của người Thái Đen tại huyện Khăm, tỉnh Xiêng

Trang 11

Khoảng (CHDCND Lào) Do vậy, tác giả chọn nghiên cứu vấn đề này là có ý nghĩa khoa học và thực tiễn đồng thời khẳng định đề tài nghiên cứu của luận văn thạc sĩ “Đời sống kinh tế, văn hoá của người Tày Đăm (Thái Đen) ở huyện Khăm, tỉnh Xiêng Khoảng, nước CHDCND Lào là không bị trùng lặp với các công trình đã công bố trước đây

3 Đối tượng, mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động kinh tế và đời sống văn hóa-xã hội của dân tộc Thái Đen tại huyện Khăm, tỉnh Xiêng Khoảng (CHDCND Lào); sự phát triển kinh tế và những biến đổi của văn hóa và xã hội trong thời hiện đại của cộng đồng dân tộc Thái Đen

3.2 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn là nhằn tìm hiểu và làm rõ về bản sắc

văn hóa và hoạt động kinh tế của người Tày Đăm huyện Khăm tỉnh Xiêng Khoảng nước CHDCND Lào giai đoạn 1975-2015

3.3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Khai quát về huyện Khăm tỉnh Xiêng Khoảng như: vị trí, địa lý, điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội

Đi sâu tìm hiểu về người Tày Đăm huyện Khăm tỉnh Xiêng Khoảng như: tên gọi, lịch sử cư trú, thống kê

Tìm hiểu sâu hơn về hoạt động kinh tế và văn hóa của người Tày Đăm ở huyện Khăm tỉnh Xiêng Khoảng nước CHDCND Lào giai đoạn 1975-2015

3.4 Phạm vi nghiên cứu

+ Về nội dung,nghiên cứu đời sống kinh tế, văn hóa của cộng đồng

người Thái Đen

+ Về không gian,nghiên cứu trên địa bàn huyện Khăm, tỉnh Xiêng Khoảng (CHDCND Lào) Trong đó tập trung vào 4 bản có số lượng người Thái Đen sinh sống lớn như: Xiêng Kiều, Na Thoong, Muông Xay và bản Xam

Trang 12

+ Về thời gian,giai đoạn từ năm 1975 đến năm 2015

4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

4.1 Nguồn tư liệu

Nguồn từ liệu nghiên cứu chủ yếu của luận văn là tài liệu điền dã ở huyện Khăm, tỉnh Xiêng Khoảng Ngoài ra, tác giả còn sử dụng tư liệu trong các công trình nghiên cứu, sách, báo, tạp chí của các tác giả Việt, Lào

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài tác giả luận văn đã sử dụng phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp logic để tìm hiểu, nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng theo trình tự thời gian (niên đại) và không gian từ quá khứ đến hiện tại Để hiểu và làm rõ quá trình hình thành và phát triển trong đời sống người Tày Đăm huyên Khăm tỉnh Xiêng Khoảng Trong nghiên cứu vấn đề, việc sử dụng phương pháp lịch sử giúp tác giả nghiên cứu các hiện tượng trong quá khứ của người Tày Đăm Vì thế, tác giả đã kết hợp sử dụng phương pháp logic,nhằm đi sâu tìm hiểu bản chất, cái phổ biến và đặc trưng trong hoạt động kinh tế văn hóa của người Tày Đăm huyện Khăm tỉnh Xiêng Khoảng giai đoạn 1975-2015 Bên cạnh đó tác giả đã vận dụng phương pháp điền dã dân tộc học như: quan sát cảnh quan, phỏng vấn người dân)

5 Đóng góp của luận văn

+ Luận văn là công trình nghiên cứu đầu tiên về dân tộc Thái Đen ở

huyện Khăm, tỉnh Xiêng Khoảng (CHDCND Lào)

+ Luận văn là tài liệu tham khảo cho những người quan tâm về dân tộc, các môn:Dân tộc học, Văn học Dân gian

6 Bố cục luận văn

Luận văn gồm 3 phần: mở đầu, nội dung chính, kết luận, Phần nội dung gồm 3 chương:

Trang 13

Chương 1: Khái quát về huyện Khăm và đồng bào người Thái Đen ở

huyện Khăm, tỉnh Xiêng Khoảng, nước CHDCND Lào

Chương 2: Đời sống kinh tế của người Thái Đen ở huyện Khăm, tỉnh

Xiêng Khoảng, nước CHDCND Lào, giai đoạn 1975-2015

Chương 3: Đời sống văn hóa của người Thái Đen ở huyện Khăm,tỉnh

Xiêng Khoảng, nước CHDCND Lào, giai đoạn 1975-2015

Trang 14

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN KHĂM VÀ NGƯỜI THÁI ĐEN

(TÀY ĐĂM) Ở HUYỆN KHĂM TỈNH XIÊNG KHOẢNG,

NƯỚC CHDCND LÀO 1.1 Khái quát về huyện Khăm, tỉnh Xiêng Khoảng

Huyện Khăm tỉnh Xiêng Khoảng có nguồn gốc lịch sử từ lâu đời và trải qua nhiều giai đoạn lịch sử Huyện Khăm (hoặc Mường Khăm) thành lập trong thời phong kiến của Lào, mang tên là Thay Thồng (hoặc Mường Thồng Bản Ban) Thời đó, Lào Lạn Xang bị Xiêm xâm lược Năm 1804, vua Anouvong đã

mở cuộc đấu tranh chống Xiêm nhưng bị thất bại Xiêm đã đưa 6000 cư dân Mường Khăm sang Bangkok Khi đó, có một người đàn ông tên là Xiêng Khăm (dân tộc Phuôn) cư trú ở huyện Khăm (Bản Ban hiện nay) đã đứng ra tập trung

cư dân đấu tranh chống Xiêm, làm cho Xiêm bị thất bại ở vùng Mường Thồng Bản Ban Từ đó, cư dân đã bầu Xiêng Khăm làm người lãnh đạo vùng Thay Thồng Sau khi lên nắm quyền lãnh đạo, Xiêng Khăm đã đổi tên Thay Thồng sang Thồng Xiêng Khăm Năm 1836, Xiêng Khăm qua đời, Phan Khăm lên thay, đã quyết định đổi tên Mường Thồng Xiêng Khăm sang Mường Khăm (huyện Khăm) cho đến hiện nay

1.1.1 Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên

Huyện Khăm nằm ở phía Đông của tỉnh Xiêng Khoảng, nằm ở vị trí

19030’ vĩ độ Bắc và 103025’ kinh độ Đông, cách trung tâm tỉnh lị khoảng 52

km, diện tích 233.400 ha, chiếm 14,7% diện tích tỉnh Xiêng Khoảng Huyện Khăm giáp với nhiều huyện trong tỉnh và ngoài tỉnh như: Phía Đông giáp với huyện Noong Hẹt (69 km) Phía Tây giáp với huyện Pẹc và huyện PhuCụt (44,5 km) Phía Bắc giáp huyện Hủa Mường và huyện Viêng Thoong tỉnh Hủa Phăn (126,5 km) Phía Nam giáp huyện Khun (25 km)

Địa hình của huyện được chia thành2vùng chủ yếu là núi và cao nguyên với tỉ lệ66,67% và 33,33% Huyện Khăm nằm ở điểm cao khoảng 500-2000m

so với mực nước biển; khu trung tâm nằm ở điểm cao 589m

Trang 15

Cũng giống như các huyện khác của tỉnh, trong1 năm, khí hậu ở huyện Khăm có 2 mùa rõ rệt, đó là mùa khô và mùa mưa Mùa khô bắt đầu từ tháng

11 đến tháng 4 dương lịch Mùa này thời tiết khô, lạnh Huyện Khăm thuộc khu vực có thời tiết lạnh nhất nước (đặc biệt là mùa khô) Lạnh nhất từ tháng 12 - 2 Khoảng thời gian này, trời lạnh, có sương mù và mưa phùn Mùa mưa bắt đầu

từ tháng 5 đến tháng 10, thời tiết nóng, mưa nhiều Nhiệt độ trung bình trong năm của huyện Khăm là 230c [42, tr.1]

Là một huyện miền núi cao, phần lớn là rừng và đồi núi nên ruộng đất chủ yếu là ở ven đồi, chân núi, ven sông hoặc ven suối Khu vực này đất đai khá màu mỡ, thuận lợi cho trồng lúa Trong rừng có nhiều loại gỗ quý, các loại cây thuốc, cây dùng vào nghề đan lát để làm hàng mỹ nghệ Bên cạnh đó là nguồn lâm thổ sản khá phong phú như mật ong, nấm, các loại măng, rau rừng,

củ, quả… cùng với một hệ động vật gồm các loại thú, chim Điều này giúp cho

cư dân có thể phát triển nghề khai thác rừng, đem lại nguồn lợi về sản phẩm phục vụ cho cuộc sống nhân dân cả huyện

Như vậy, có thể thấy với vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên này, huyện Khăm có nhiều thuận lợi về môi trường tự nhiên, là cơ sở để phát triển nền kinh

tế toàn diện từ nông nghiệp, lâm nghiệp đến thủ công nghiệp

1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

Huyện Khăm, tỉnh Xiêng Khoảng là huyện có nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp nhất là trồng lúa nước, làm nương rẫy Những năm gần đây, trồng lúa nước của cư dân huyện Khăm có những biến đổi theo hướng hiện đại Hệ thống thủy lợi được khôi phục và xây dựng đáp ứng nguồn nước cho làm ruộng

và trồng trọt cả 2 mùa; diện tích ruộng đất được mở rộng, nhất là diện tích ruộng chiêm đã tăng lên 17,13%; việc trồng ngô đã tăng 64 lần so với năm

2004 Các loại cây trồng rất đa dạng và phong phú (có cây lúa, ngô, sắn, khoai, cây ăn quả và các loại rau) Bên cạnh đó là chăn nuôi gia súc với đa dạng loài như: trâu, bò, dê, lợn và gia cầm (vịt, cá, gà và chim cút) Đặc biệt, người dân

Trang 16

còn đào ao thả cá với diện tích ao lớn, áp dụng kỹ thuật chăm sóc theo kiến thức khoa học [29, tr.4] Song song với việc phát triển kinh tế nông nghiệp là phát triển kinh tế thủ công nghiệp và ngành nghề truyền thống Loại hình xưởng thủ công nghiệp được xây dựng nhiều ở huyện Khăm Phổ biến nhất là xưởng chế biến gỗ, xưởng chế tạo và gia công đồ nội thất, xưởng sấy khô ngô

và nghiền ngô Xiêng Kiều là làng có đông người Thái Đen cũng là làng dệt vải nổi tiếng; Ko Nghiệu là làng đan lát (nhất là đan ép cơm, huột, làn…) Hàng năm, thủ công nghiệp và ngành nghề truyền thống cũng mang lại nhiều thu nhập Năm 2010, thu nhập từ thủ công nghiệp và ngành nghề truyền thống là

100 triệu kíp Du lịch cũng là một hoạt động kinh tế mang lại nhiều thu nhập cho huyện Khăm với các điểm du lịch nổi tiếng như: Hang Piu (Thẳm Piu), suối nước nóng… thu hút nhiều khách du lịch trong và ngoài nước [29, tr 7]

Huyện Khăm có 90 bản với 8.397 ngôi nhà và 10.641 nhân khẩu Theo thống kê của huyện thì tính đến năm2014, dân số của huyện Khăm là 51.326 người Trong đó có 25.188 nữ, bao gồm nhiều thành phần dân tộc khác nhau Đơn vị hành chính thấp nhất là làng bản 90 bản trong huyện được chia thành

Trang 17

Huyện Khăm cũng là một trong 7 huyện của tỉnh Xiêng Khoảng có nhiều dân tộc làm ăn và sinh sống Mỗi dân tộc đều có bản sắc văn hóa đặc trưng riêng biệt của mình, góp phần làm cho nét văn hóa của huyện thêm đa dạng và phong phú Trong đó dân tộc Lào chiếm tỷ lệ đông nhất, tiếp theo là dân tộc Mông và Tày (Thái) Dưới đây là những thống kế dân số của các dân tộc ở huyện Khăm, tỉnh Xiêng Khoảng năm 2014:

Bảng 1.1 Thống kê thành phần dân tộc ở huyện Khăm,

tỉnh Xiêng Khoảng năm 2014

STT Dân tộc Số lượng (người) Chiếm tỷ lệ

dân số cả huyện (%) Tổng số Nam Nữ

Nhìn chung, trải qua quá trình sinh sống, di cư, lập bản, nhiều dân tộc đã đến định cư ở vùng huyện Khăm Thông qua các hoạt động kinh tế, văn hóa, các dân tộc đã có sự giao lưu về văn hóa, tạo nên một nền văn hóa đa dạng, nhưng cũng mang nhiều đặc trưng riêng của từng dân tộc Trong đó, nổi lên là dân tộc Thái Đen mà tác giả sẽ trình bày rõ ở phần sau của luận văn

Trang 18

1.2 Người Thái Đen (Tày Đăm) ở huyện Khăm, tỉnh Xiêng Khoảng

Dân tộc Thái Đen là một trong 49 dân tộc anh em của Lào, thuộc nhóm ngôn ngữ Lào- Tày Ở nước CHDCND Lào, dân tộc Thái Đen là dân tộc có nhiều tên gọi Tên gọi cũ của dân tộc này là dân tộc “Tày” Người Thái Đen tự gọi dân tộc mình là “Tày”.Còn dân tộc khác thường gọi họ là người Thay hoặc người Thái Nhưng cả Tày, Thái, Thay đều có nghĩa là “con người” hoặc “loại người” Tày Đăm là tên mà người Lào gọi theo cách ăn mặc của người Tày Ví dụ: nhóm người Tày nào thường mặc màu đen người ta gọi là Tày Đăm (Thái Đen) Nhóm người Tày nào thường mặc màu trắng người ta gọi là Tày Khảo (Thái Trắng) Nhóm người Tày nào thường mặc màu đỏ người ta gọi Tày Đeng (Thái đỏ) [36, tr.20] Người Kinh ở Việt Nam gọi người Tày Đăm là người Thái.Người Tày Đăm ở Việt Nam tự gọi mình là “Côn Tày” hoặc “Côn Thay”

Ở Việt Nam, người Tày Đăm còn có những tên gọi khác như: Tày Thanh, Man Thanh, Tày Mười, Hàng Tang, Tày Dọ Người Thái ở Việt Nam có 3 ngành chính là: Thái Đen (Tày Đăm), Thái Trắng (Tày Đơn hoặc Khao) và Thái Đỏ (Tày Đeng) Ngôn ngữ của người Tày Đăm ở Việt Nam thuộc với nhóm ngôn ngữ Tày-Thái (ngữ hệ Thái - Ka Đai) là con cháu của người Tày Đăm di cư từ vùng đất thuộc miền Nam của Trung Quốc sang Người Tày Đăm ở huyện Như Thành, tỉnh Thanh Hóa gọi họ là “Chao”, có nghĩa là “nòi giống” và gọi tổ tiên của họ là “Chao Đẳm” [24, tr.14] Người Thái Lan thường gọi dân tộc Tày Đăm ở Thái Lan là “Lào Không, Thay Xộng Đăm hoặc Thái Xộng Đăm” vì họ

thường mặc màu đen (đen có nghĩa là đăm) Đặc biệt là họ thường mặc quần màu đen (Xộng Đăm dịch nghĩa là quần đen) [44, tr.1] Mặc dù dân tộc Tày

Đăm có rất nhiều tên gọi như đã trình bày ở trên, nhưng tên phổ biến mà hiện nay người ta thường gọi họ là Tày Đăm (Thái Đen)

Trang 19

Sơ đồ 1.1: Các ngành của người Thái ở Lào

Tày Đăm là một trong đại gia đình các dân tộc đã cư trú tại đất nước Lào

từ lâu đời Dân tộc Tày Đăm có nguồn gốc lịch sử và quá trình phát triển gắn

bó với nguồn gốc lịch sử và quá trình phát triển của dân tộc Lào và đất nước Lào Người Tày Đăm định cư ở các tỉnh miền Bắc của Lào từ tỉnh Bo Li Khăm Xay đến thượng Lào Tập trung ở tỉnh Hủa Phăn, Xiêng Khoảng, Luông Nặm Tha, Luông Phạ Bang…Dân tộc Tày Đăm ở Lào có nguồn gốc di cư từ vùng miền Nam của Trung Quốc (Mường Then) Do vùng đó xảy ra chiến tranh giữa các bộ tộc Vì vậy, họ đã di cư xuống khu biên giới Việt Nam - Lào-Trung Quốc và định cư ở đó Sau một thời gian, họ tiếp tục di cư vào các tỉnh miền Bắc của Lào như: Hủa Phăn, Xiêng Khoảng, Luông Phạ Bang…và một số tỉnh của Việt Nam như: Điện Biên, Sơn La, Lai Châu và các tỉnh: Lơi, Xiêng Mày, Phêt Sa Bun của Thái Lan để tìm nơi định cư mới Trong tạp chí “Mo Lạ Độc Lạn Xạng”, tác giả bài viết Phầu Tày Đăm (trang 129-130) đã viết: Dân tộc Tày Đăm là một trong nhóm người AiLao có nguồn gốc từ vùng biên giới phía Bắc Lào (miền Nam của Trung Quốc) Có trung tâm cũ ở Mường Then - quê hương của Khún Lo, người xây dựng Mường Loa cổ (Luông Phạ Bang hiện nay) Về vấn đề này, tài liệu lưu trữ của Trung Quốc cũng chứng mình rằng: Tổ tiên của dân tộc Tày Đăm là những người gọi tên dân tộc mình là “Tày”)

Trang 20

Có thể nói, việc người Tày Đăm di cư vào Lào, Việt Nam và Thái Lan là

do 2 nguyên nhân chủ yếu: chiến tranh và để tìm nơi sinh sống mới Hiện nay, chưa có tài liệu nào xác định rõ người Tày Đăm di cư vào huyện Khăm, tỉnh Xiêng Khoảng vào khoảng thời gian nào Nhưng sách sử Lào từ thời cổ đại đến năm 1946 của Maha Silavilavong đã trình bày: Đến khoảng năm 1893 có một dân tộc từ Trung Quốc đã vào Thượng Lào cướp bóc Người Lào gọi họ là Hỏ Thung Đeng Bọn chúng đã cướp và đánh đuổi các dân tộc ở Hủa Phăn và Luông Phạ Bang làm cho người dân bản địa ở các vùng đó phải chạy xuống vùng Thông Xiêng Khăm, thuộc tỉnh Xiêng Khoảng (vùng huyện Khăm hiện nay) Trong số đó có người Lào, người Tày, và các dân tộc Môn-Khơ me… Theo tài liệu trên đây, có thể nói: Người Tày Đăm ở huyện Khăm có thể có nguồn gốc từ miền Bắc của Lào, chuyển cư qua tỉnh Hủa Phăn (Mường Xoòng Tức huyện Viêng Thoong, tỉnh Hủa Phăn hiện nay) Điều đó đã được chứng minh là: những phong tục tập quán và cuộc sống sinh hoạt của người Tày Đăm

ở huyện Khăm gần giống các phong tục tập quán và cuộc sống sinh hoạt của người Tày Đăm ở huyện Viêng Thoong, tỉnh Hủa Phăn Do huyện Khăm giáp với huyện Viêng Thoong nên hiện nay có rất nhiều trai gái Tày Đăm ở hai huyện đã tìm hiểu và kết hôn với nhau

Theo thống kê năm 2013, người Tày Đăm định cư ở tỉnh Xiêng Khoảng

có 6.040 người (2978 nữ) Chủ yếu ở3 huyện: Huyện Khăm, huyện Khun, huyện Pha Xay Dưới đây là bảng thống kê về người Tày Đăm định cư ở tỉnh Xiêng Khoảng và huyện Khăm:

Bảng 1.2 Thống kê về người Tày Đăm ở tỉnh Xiêng Khoảng (năm2013)

STT Tên

huyện Số bản Số hộ gia đình

Số dân (người) Nữ (người)

Trang 21

Bảng 1.3 Thống kê về người Tày Đăm ở huyện Khăm (năm 2015)

Nguồn: Phòng Thông tin Văn hóa và Du lịch huyện Khăm

Nhìn vào số liệu thống kê trên đây có thể thấy: Người Tày Đăm định cư

ở huyện Khăm chiếm tỷ lệ đông nhất trong tỉnh Họ tập trung làm ăn sinh sống trong nhiều làng bản Trong đó, nhiều nhất là bản Nhọt Cựa, tiếp đến là bản Xiêng Kiều,Xam, Na Thoong, Phon Khăm, Muông Xay, Chom Sy, Viêng Khăm Xiêng Kiều là làng cổ của người Tày Đăm được thành lập từ năm 1817, cách trung tâm huyện Khăm khoảng 3 km Đây là bản còn bảo tồn và giữ gìn được nét văn hóa truyền thống của dân tộc Tày Đăm Năm 2010, Xiêng Kiều

có 104 hộ gia đình Tày Đăm với 604 nhân khẩu, trong đó có 282 nữ Năm

2015, có 118 hộ gia đình với 644 nhân khẩu Để bảo tồn bản sắc văn hóa, chính quyền địa phương cùng với dân bản nơi đây đã đóng tiền xây dựng một tòa nhà

2 tầng làm Bảo tàng Văn hóa dân tộc Tày Ðăm Đây là nơi diễn ra các hoạt động văn hóa, hội họp của cộng đồng người Tày Đăm trong bản Bảo tàng Văn hóa dân tộc Tày Đăm có vị trí rất quan trọng.Là nơi tìm hiểu về nguồn gốc và văn hóa của người Tày Đăm Hiện nay, Xiêng Kiều là “Làng Văn hóa” nổi tiếng thứ 2trong số các “Làng Văn hóa” nổi tiếng của tỉnh Xiêng Khoảng và

Trang 22

vẫn đang liên tục phát triển [30, tr.1] Bên cạnh bản Xiêng Kiều còn có bản Na Thoong, Muông Xay và bản Xam là những bản có khá đông người Tày Đăm cũng đang hết sức góp sức mình vào công cuộc phát triển kinh tế và bảo tồn văn hóa của dân tộc mình

Người Tày Đăm ở huyện Khăm, tỉnh Xiêng Khoảng có bản sắc văn hóa đặc trưng riêng biệt của mình, góp phần làm nên sự đa dạng và phong phú nền văn hóa của tỉnh Nghề truyền thống của người Tày Ðăm ở huyện Khăm chủ yếu là làm nông nghiệp: làm ruộng trồng lúa nước, làm nương rẫy, làm vườn và chăn nuôi Bên cạnh đó, họ cũng làm nghề thủ công như: dệt vải và chế tạo công cụ lao động…Những hoạt động kinh tế của người Tày Ðăm đã góp phần làm đa dạng thêm hàng hóa ở huyện Khăm Hiện nay,trình độ dân trí của người Tày Đăm đã được nâng cao Người Tày Đăm có nhiều cơ hội tiếp xúc giao lưu với các dân tộc khác, nhất là dân tộc Lào Từ đó đã thúc đẩy sự phát triển của dân tộc này về mọi mặt

Trang 23

Tiểu kết chương 1

Người Tày Đăm định cư ở nước CHDCND Lào có nguồn gốc từ miền Nam Trung Quốc (Mường Then), giáp với vùng biên giới Việt Nam- Lào - Trung Quốc Do chiến tranh, họ phải tìm nơi cư trú mới Vì vậy, tổ tiên của người Tày Đăm đã di cư xuống vào các tỉnh Đông Bắc của Lào, Việt Nam, Thái Lan và định cư ở đó.Ở Lào, đại đa số người Tày Đăm cư trú ở vùng miền Bắc của Lào, từ Bo Li Kham Xay đến Phông Sạ Ly Đây là vùng khí hậu chia làm hai mùa rõ rệt: mùa Đông khô hạn và mùa Hè nóng ẩm mưa nhiều Đặc điểm khí hậu và đất đai rừng núi đã định hình nên những phương thức sản xuất truyền thống: lúa ruộng, lúa nương, săn bắn, hái lượm Trong đời sống văn hóa, người Tày Đăm vẫn giữ được nhiều nét văn hoá truyền thống về ngôn ngữ, trang phục, nghệ thuật, phong tục tập quán

Huyện Khăm, tỉnh Xiêng Khoảng thuộc địa bàn vùng núi cao nguyên, nơi người Tày Đăm chiếm số dân đông nhất trong tỉnh Văn hóa của người Tày Đăm

ở huyện Khăm có nét gần giống văn hóa của dân tộc Tày Đăm ở huyện Xoong (huyện Viêng Thoong, tỉnh Hủa Phăn hiện nay) Chính vì thế, nhiều nhà nghiên cứu của Lào cho rằng: Nguồn gốc của dân tộc Tày Đăm ở huyện Khăm, tỉnh Xiêng Khoảng có thể là từ huyện Xoong tỉnh Hủa Phăn Và họ sang đây từ thời người Hỏ Thung Đeng (từ Trung Quốc) vào cướp ở Hủa Phăn, Luông Phạ Bang

Huyện Khăm là vùng có điều kiện tự nhiên rất đa dạng.Những đặc điểm

tự nhiên này đã tạo nên những dấu ấn đậm nét trong đời sống kinh tế, văn hóa,

xã hội của người dân ở đây, nhất là dân tộc Tày Đăm Song do sống cùng người Lào và một số dân tộc khác cho nên ít nhiều về kinh tế, văn hóa, cùng với yếu

tố môi trường của họ cũng bị ảnh hưởng

Trang 24

Chương 2 ĐỜI SỐNG KINH TẾ CỦA DÂN TỘC THÁI ĐEN (TÀY ĐĂM) Ở HUYỆN KHĂM, TỈNH XIÊNG KHOẢNG, NƯỚC CHDCND LÀO

GIAI ĐOẠN 1975 - 2015

Như chúng ta đã biết, lịch sử phát triển nền văn hóa cũng như lịch sử phát triển kinh tế của các dân tộc ở Lào nói chung, trong đó có dân tộc Thái Đen nói riêng luôn gắn liền với lịch sử phát triển của nghề truyền thống dân tộc

- những sản phẩm kinh tế thuần túy cho sinh hoạt hàng ngày Đó chính là những tác phẩm nghệ thuật biểu trưng của tinh hoa văn hóa dân tộc và những kinh nghiệm phát triển kinh tế truyền thống được lưu truyền từ đời này sang đời khác, tạo nên bản sắc riêng của mình nhưng lại tiêu biểu và độc đáo của cả dân tộc Người Thái Đen ở huyện Khăm, tỉnh Xiêng Khoảng là những cư dân nông nghiệp.Ngành nghề chính của họ là trồng lúa nước, hoa màu; chăn nuôi (trâu, bò, lợn, gà, dê, cá ) Đan lát, dệt thổ cẩm cũng là nghề nổi tiếng của người Thái Đen Bên cạnh đó là một số loại hình dịch vụ buôn bán nhỏ lẻ.Tập trung chủ yếu ở những nơi đông dân cư Với sự đa dạng ngành nghề như vậy đã giúp mang lại nhiều thu nhập cho cho cư dân Thái Đen ở huyện Khăm Điều này được thể hiện rõ nét trong từng lĩnh vực kinh tế như sau:

2.1 Kinh tế nông nghiệp

Cũng giống mọi cư dân vùng miền Bắc của Lào, sau giải phóng đất nước (năm 1975) cho đến những năm thực hiện đổi mới (năm 1986), trồng trọt vẫn là ngành sản xuất chính của người Thái Đen ở huyện Khăm, tỉnh Xiêng Khoảng Các hoạt động kinh tế khác như: chăn nuôi, làm nghề thủ công, trao đổi hàng hóa, khai thác nguồn lợi tự nhiên (chủ yếu là sắn bắn, hái lượm) vẫn đóng vai trò quan trọng trong đời sống hàng ngày của đồng bào Thái Đen

Do điều kiện tự nhiên của huyện Khăm là nằm ở vùng cao nguyên nên có nhiều thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp Và đó cũng là cơ sở để hoạt động sản

Trang 25

xuất nông nghiệp của người Thái Đen ở vùng này có những đặc trưng riêng biệt

so với hoạt động sản xuất nông nghiệp của người Thái Đen ở vùng khác Cụ thể:

2.1.1 Trồng lúa nước

Người Thái Đen là cư dân sinh sống lâu đời ở đây Vì vậy, ngay từ thời gian đầu đặt chân đến mảnh đất này, người Thái Đen đã tập trung vào việc khai phá ruộng đất ở những thung lũng thành những cánh đồng rộng lớn Với bộ nông cụ làm ruộng như: cày, mai, xẻng; cùng các biện pháp kĩ thuật liên hoàn (làm đất, làm mạ, gieo cấy, chăm sóc và thu hoạch) Đặc biệt là hệ thống thuỷ lợi “dẫn thuỷ nhập điền” mương, phai, lái, lịn và cọn nước Kết hợp với các nghi lễ tín ngưỡng liên quan

Trước đây, mặc dù không được bón phân nhiều nhưng cây lúa vẫn tốt bởi vì trồng một vụ Trong 6 tháng đồng ruộng bỏ không, từ gốc rạ, cây lúa mọc lên là nguồn thức ăn dồi dào cho trâu, bò Trong quá trình đó, việc di chuyển qua lại liên tục của trâu bò một phần làm cho ruộng ngấu ra, chất thải của chúng quện với rơm, rạ cũng tạo mùn cho đất Bên cạnh đó, cư dân còn biết làm phân bón bằng cách đào hố, chặt cây dã quỳ, cúc dại và các cây thân mềm khác trộn với phân trâu bò rồi ủ, đem bón cho ruộng; lấy nước có hàm lượng chất khoáng cao vào ruộng từ kinh nghiệm dân gian, với hệ thống mương, phai hoàn chỉnh, đảm bảo nước quanh năm Người Thái Đen ở mường Khăm thường lấy nước theo hai cách Cách thứ nhất: mặt ruộng bằng với mặt nước, hay nó thấp hơn thì người ta đắp đập cho nước dâng lên rồi đào mương dẫn vào

ruộng Đập đó người ta gọi là phai Cách thứ hai: mặt ruộng cao hơn mặt nước

thì người ta tạo ra hệ thống bánh xe nước (lũng cọn) Đường kính bánh xe tùy vào độ cao của mặt ruộng Chỗ nào mặt ruộng cao thì đường kínhbánh xe lớn, chỗ nào mặt ruộng thấp hơn thì đường kính vừa phải Tối đa có những bánh xe đường kính lên đến 5 - 6m Với hệ thống thủy lợi như vậy, có mương phai, có lũng cọn làm cho hệ thống tưới tiêu của người làm ruộng trở nên hoàn chỉnh Hầu như 100% diện tích ruộng của người Thái Đen được tưới nước chỉ bằng hai cách ấy

Trang 26

Người Thái Đen còn một biện pháp nữa để chăm sóc, tạo nhuyễn cho đất

Đó là biện pháp “thủy nậu” Đây là lối canh tác dùng tay, chân sục cho bùn, cỏ hòa nhuyễn rồi cấy luôn Điển hình cho lối canh tác này là dùng trâu quần ruộng Ruộng trâu quần tốt nhất là ruộng ngâm nước Nếu là ruộng chờ mưa, người ta phải ngâm một thời gian ngắn từ 4-5 ngày để cho đất mềm Bình thường, để quần một thửa ruộng người ta phải dùng 2 - 3 con trâu Người ta đưa trâu xuống ruộng, điều khiển chúng đi thành vòng tròn đồng tâm, giẫm đi, giẫm lại, hết vòng này đến vòng kia, cho đến khi đất ngấu Quần đến lần thứ 3, nếu đất chưa ngấu, người ta để khoảng 1 tuần sau rồi lại cho trâu quần tiếp.Trâu quần thường lành, tập tính bày đàn cao, nên chỉ cần 2 người chỉ huy là có thể cho đàn trâu quần ruộng Một người điều khiển con đầu đàn, một người đi xung quanh, khi thấy con trâu nào phá bĩnh, không đi đúng đường, người ta lại xua nó đi theo đúng hàng lối Sức người, sức trâu được sử dụng hợp lý, tối đa là vì thế

Nếu so với kỹ thuật hiện đại ngày nay như dùng máy cày, máy bừa thì việc dùng trâu quần chậm hơn, đất cũng không nhuyễn bằng.Nhưng không phải

vì thế mà họ bỏ đi kỹ thuật này Hiện ở những thửa ruộng hẹp, cày bừa khó, người ta vẫn sử dụng hình thức trâu quần Năng suất và chất lượng cũng không kém so với các mảnh ruộng được cày bừa bằng máy móc

Qua nhiều thế hệ, người Thái Đen đã đúc kết và tích lũy được nhiều kinh nghiệm trong sản xuất, đặc biệt là trong sản xuất nông nghiệp Hiện nay, người Thái Đen ở huyện Khăm, tỉnh Xiêng Khoảng đã chuyển sang làm hai vụ lúa

Vụ chiêm cấy tháng 2, thu hoạch tháng 5; vụ mùa cấy tháng 7 thu hoạch tháng 10.Đa số người Thái Đen đã vận dụng những kỹ thuật hiện đại vào công việc canh tác lúa nước Cụ thể:

Làm đất: Ruộng phải bằng phẳng, có hệ thống thoát nước tốt và không

đọng nước Sau khi chọn nơi bằng phẳng làm ruộng.Công việc đầu tiên mà người nông dân phải làm là dọn sạch cỏ, trục đánh bùn và san bằng mặt ruộng bằng máy cày bánh lồng.Người Thái Đen ở huyện Khăm cày đất bằng máy,

Trang 27

bừa và phơi ải trong thời gian 1 tháng Bừa, trục và san bằng mặt ruộng bằng máy kéo bánh lồng hay bánh sắt có công cụ trang phẳng mặt ruộng kèm theo

Gieo mạ và cấy: Gieo mạ bằng tay sau khi đánh rãnh và kéo bằng mặt

ruộng Chọn ruộng nơi khuất gió để làm mạ Quá trình làm mạ được diễn ra như sau: cày bừa kỹ; lên luống (mặt luống rộng hay hẹp tuỳ thuộc vào độ rộng của nilon che phủ) Sau khi đã san phẳng mặt luống, dùng nilon đã chọc thủng nhiều lỗ hoặc bao xác rắn rải lên mặt luống Tiếp đó, phủ một lớp bùn dày khoảng 2 - 2,5 cm Tiếp tục bón phân lên trên rồi xoa đều phân với lớp đất bùn Cuối cùng là gieo mạ Chia lượng thóc giống để gieo đi gieo lại nhiều lần cho thật đều Gieo mạnh tay cho mộng lún sâu (kín hạt) vào trong bùn Khi mạ được 15-18 ngày, ra nhiều rễ trắng, trời ấm thì lật từng mảng mạ đem cấy

Chăm sóc

Làm cỏ: Ruộng lúa cần được theo dõi, làm cỏ, khử lẫn thường xuyên Các thời điểm cần lưu ý là:10- 15 ngày sau khi sạ, cấy,theo dõi và nhổ cỏ sót trên ruộng để giảm nguy cơ cạnh tranh dinh dưỡng ngay từ đầu vụ 30- 35 ngày sau khi sạ, cấy là thời điểm trổ bông của 1 số loại cỏ (cỏ lồng vực, đuôi phụng…) hay lúa dại có kiểu hình khác với lúa nhà nên rất dễ dàng phát hiện

và loại trừ Khi lúa trỗ 30- 50%: Tiếp tục loại trừ cỏ dại và lúa dại để tránh chúng rụng hạt trên ruộng Trước khi thu hoạch, loại trừ cỏ dại và lúa dại để tránh sự lẫn tạp của chúng vào lúa sau khi thu hoạch

Bón phân: Dinh dưỡng cho lúa được bón bổ sung ở các thời điểm sau: Bón lót: Trước khi cấy Bón thúc lần 1: Bón vào 7-10 ngày sau cấy Bón thúc lần 2: Bón khi 50% chồi chính trên đồng có đòng 1mm Bón bổ sung: Có thể phun phân qua lá để bổ sung khi lúa trỗ đều khi cần thiết

Quản lý nước trên ruộng cấy

Giai đoạn cây con: Rút cạn nước trước khi sạ và giữ khô mặt ruộng trong vòng 3 ngày Ngày thứ 4, sau khi sạ xongcho nước láng mặt ruộng 1 ngày.Sau

đó tiếp tục rút cạn để đảm bảo đủ ẩm bề mặt ruộng Giai đoạn sinh trưởng sinh

Trang 28

dưỡng: Sau khi sạ 7-10 ngày, bắt đầu cho nước từ từ vào ruộng và giữ nước trên mặt ruộng ở mức 3-5 cm Trong giai đoạn này, thay nước trong ruộng lúa

từ 2- 3 lần Sau mỗi lần thay nước, cần giữ cạn trong 2-3 ngày Giai đoạn sinh trưởng sinh thực: Giữ nước trong ruộng ở mức 3-5 cm Giai đoạn chín: Giữ nước trong ruộng ở mức 5 - 10 cm cho đến giai đoạn chín vàng Trước khi thu hoạch7 - 10 ngàytháo cạn nước trong ruộng

Sơ đồ 2.1 Quản lý nước trên ruộng lúa cấy Thu hoạch: Vào lúc sau trỗ 28 - 32 ngày hoặc khi thấy 85-90% số hạt

trên bông đã chín vàng Nếu cắt sớm hay muộn đều làm tăng tỷ lệ hao hụt, giảm chất lượng khi xay xát Nên sử dụng máy gặt dải hàng hay gặt đập liên hợp để cắt lúa Sau khi cắt tiến hành tuốt ngay, không nên phơi mớ trên ruộng

Sử dụng máy đập lúa trục dọc (tuốt lúa, máy nhai) để tuốt lúa trong trường hợp

Trang 29

Bảng 2.1 Nông lịch của người Thái Đen huyện Khăm

Tháng 2-3 Phát nương sắn, nương ngô

Tháng 4 Tiếp tục phát nương, đốt nương; trồng sắn sớm và ngô

sớm, trồng bí

Tháng 5-6 Trồng lúa sớm, trồng các cây có củ; trồng sắn muộn, lạc Tháng 7 Trồng ngô muộn, sắn muộn, và phát nương lúa

Tháng 8 Làm cỏ lúa nước và thu hoạch ngô sớm

Tháng 9-10 Làm cỏ lúa nương muộn

Tháng 11 Thu hoạch xong toàn bộ lúa ngô

Tháng Chạp Nghỉ ngơi

Tháng Giêng Thu hoạch sắn muộn và ngô muộn

Công cụ truyền thống để làm nương rẫy của người Thái Đen chủ yếu là: dao, rìu, móc, khều, gậy chọc lỗ (bọc sắt hoặc không bọc sắt); nạo, cuốc để làm cỏ; nhíp, hẹp gặt lúa; gùi để thu hoạch và vận chuyển.Công cụ canh tác đóng một vai trò quan trọng đối với họ Người lao động sử dụng công cụ lao động tác động vào đối tượng lao động tạo ra của cải vật chất Những năm gần đây,

do kinh tế phát triển và tri thức được nâng cao, người Thái Đen đã sử dụng các công cụ và phương tiện hiện đại vào việc canh tác như:máy cày bánh lồng, máy kéo bánh lồng, máy phay và máy gặt… làm cho chất lượng sản xuất nông

nghiệp được nâng lên

2.1.3 Chăn nuôi

Cùng với trồng trọt, chăn nuôi là hoạt động kinh tế sản xuất truyền thống

có từ lâu đời Vật nuôi khá đa dạng, bao gồm: các gia súc lớn như: trâu, bò; các gia súc nhỏ như: lợn, dê, chó… và các loại gia cầm như: gà, vịt, chim, ngan…Chăn nuôi được sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau như: tự cấp tự túc, dùng làm sức kéo, dùng làm phương tiện đi lại, vận chuyển và dùng để trao

Trang 30

đổi hàng hóa Người Thái Đen rất có kinh nghiệm trong việc chọn giống chăn nuôi, nhất là chăn nuôi trâu bò Theo người Thái Đen, giống trâu bò tốt là phải

có chân to, dáng cao, cổ lớn nhưng ngắn Ngoài ra, họ còn xem sừng, khoáy, khấu đuôi của con vật để đánh giá giống xấu hay tốt Người Thái Đen thường thả rông trâu bò vào rừng kiếm ăn Khoảng một tháng sau mới đi tìm Buổi tối

họ thường buộc trâu bò dưới gầm sàn nhà

Lợn và dê là những loại gia súc nhỏ được nuôi phổ biến trong gia đình người Thái Đen Đây là vật nuôi quan trọng dùng vào nhiều dịp Người Thái Đen ở huyện Khăm cho rằng: lợn giống tốt là lợn có lưng thẳng, không võng, chân to, đuôi mập, lông thưa và ngắn Lợn cũng được thả ở xung quanh nhà và làng bản để nó tự tìm thức ăn Việc chăn nuôi là do phụ nữ và trẻ em đảm nhiệm

Trong việc chăn nuôi của người Thái Đen, không thể thiếu được chăn nuôi gia cầm, nhất là ngan, gà, vịt Ngan, gà, vịt được nuôi rất nhiều Nuôi để làm vật hiến sinh bắt buộc trong nhiều nghi lễ; dùng để làm lễ vía cho người

ốm đau, sinh nở; làm thịt khi nhà có khách quý đến Vịt và ngan ngoài mục đích lấy thịt còn nuôi để lấy trứng Trứng được sử dụng vào nghi lễ gọi hồn hay ném trứng chọn vùng đất để chôn người chết Cách thức chăn nuôi gia cầm của người Thái Đen huyện Khăm cũng giống như cách thức chăn nuôi các loài vật khác Đó là: nửa thả, nửa chăm sóc

Từ năm 2000 đến nay, chăn nuôi của dân tộc Thái Đen ở huyện Khăm

có bước khởi sắc trên cơ sở truyền thống có sẵn Chăn nuôi dần trở thành hoạt động kinh tế chiếm vị trí quan trọng Các gia súc gia cầm như: trâu, bò, lợn, gà vịt … được nuôi với số lượng nhiều hơn so với trước Thường trong mỗi hộ gia đình, trâu được nuôi từ 2- 3 con; bò hàng chục con; lợn 5- 8 con; gà vài chục con Phương thức chăn nuôi cũng có nhiều thay đổi Những bãi chăn nuôi trâu

bò tập thể nằm ở ngoài rừng nay không còn nữa do đồng cỏ hiếm dần Phương thức chăn nuôi thả rông khó tồn tại, đồng bào đã trồng cỏ chăn nuôi quanh nhà,

ở vườn và ở nương Vì vậy, trâu bò cũng được quan tâm chăm sóc: ban ngày người già và trẻ em chăn dắt, tối được xua về nhà nhốt vào chuồng trại được

Trang 31

xây cất gần nhà ở.Bên cạnh chăn nuôi các loại gia súc kể trên, một số hộ gia đình Thái Đen ở huyện Khăm đã đào ao thả cá Ao cá được đào ở gần nhà; ven sông, suối; nơi có nguồn nước lưu chuyển thường xuyên Có nhiều loại cá được nuôi như: cá chép, cá trôi, cá rô phi…

Tuy chăn nuôi của người Thái Đen ở huyện Khăm, tỉnh Xiêng Khoảng

có bước phát triển trong những năm gần đây Nhưng thực tế, chăn nuôi vẫn là nghề bổ trợ cho nông nghiệp lúc nước, nương rẫy mà chưa tách khỏi trồng trọt Việc chăn nuôi mới phát triển ở phạm vi gia đình và chủ yếu là nhằm tự cấp, tự túc là chính Phương thức chăn nuôi ở đây vẫn là: nửa thả rông, nửa chăm sóc Trong chăn nuôi, người Thái Đen cũng phân công lao động theo giới Các loại gia súc lớn chủ yếu là do nam giới và thanh niên đảm nhận Còn gia cầm chủ yếu là do phụ nữ chăm sóc Có thể nói, chất lượng chăn nuôi của người Thái Ðen chưa được chú trọng đúng mực.Nhưng dù sao chăn nuôi cũng đóng vai trò quan trọng đối với đời sống tự cấp tự túc của cộng đồng dân tộc này

2.1.4 Tổng thu nhập từ nông nghiệp

Sản phẩm từ nông nghiệp của người Tày Đăm đã góp phần làm cho hàng hóa trên thị trường ở huyện Khăm đa dạng và phong phú Một số sản phẩm đã trở thành đặc sản nổi tiếng của địa phương Dưới đây là bảng thống kê những sản phẩm nông nghiệp của một số làng bản Thái Đen ở huyện Khăm có thể sản xuất được:

Trang 32

Bảng 2.2 Sản lượng trồng trọt của người Thái Đen ở huyện Khăm năm 2015

Tên bản

DT, SL,

TN

Tên cây trồng

Bản Xiêng Kiều Bản Na Thoong Bản Muông Xay Bản Xam

Diện tích Sản lượng Diện tích Sản lượng Diện tích Sản lượng Diện tích Sản lượng

Trang 33

Bảng 2.3 Thống kê số lượng vật nuôi của người Thái Đen ở huyện Khăm năm 2015

Tên bản

Số

lượng

Vật nuôi

Bản Xiêng Kiều Bản Na Thoong Bản Muông Xay Bản Xam

Số lượng (con) Số lượng (con) Số lượng (con) Số lượng (con)

Trang 34

2.2 Khai thác nguồn lợi tự nhiên

Trước năm 1975, các dân tộc ở Lào nói chung và người Thái Đen nói riêng sống chủ yếu dựa vào trồng trọt và chăn nuôi Song do kém phát triển, nên việc săn bắt, hái lượm đóng vai trò rất quan trọng trong cuộc sống của họ

Có thể nói, giai đoạn trước 1975, toàn bộ nền kinh tế của nước Lào nói chung phụ thuộc vào nông nghiệp mang nặng tính chất tự nhiên, tự cấp, tự túc Từ năm 1986 đến nay, nhờ công cuộc đổi mới của Đảng và Nhà nước, nền kinh tế của nước Lào đã chuyển sang cơ chế thị trường mở cửa Vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số được quan tâm đúng mức Vì vậy, diện mạo ở vùng dân tộc thiểu số nói chung, người Thái Đen nói riêng đã có những chuyển biến và thay đổi rõ rệt Tuy nhiên, việc khái thác nguồn lợi tự nhiên đối với người Thái Đen vẫn là một công việc không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày của họ

Hái lượm

Việc hái lượm đáp ứng nhu cầu rau xanh, lương thực và nhu cầu thuốc chữa bệnh của người Thái Đen Măng là một trong những sản phẩm hái lượm đầu tiên, thường xuyên Bao gồm nhiều loại măng như: măng đắng, măng tre, măng nứa… Đến mùa măng, người Thái Đen thường rủ nhau thành nhiều nhóm cả nam và nữ vào rừng cách nhà khoảng 10-15 km, nơi có nhiều rừng tre, rừng luồng để hái lượm Dụng cụ hái lượm là dao Dao dùng để phát quanh bụi

và chặt măng Sau khi măng đẫy gùi họ tập trung về một chỗ để bóc vỏ và xếp vào gùi đưa về nhà Người Thái Đen có nhiều cách chế biến măng khác nhau như: canh măng, măng ngâm chua, măng luộc, măng khô

Nấm: Người Thái Đen gọi nấm là hết.Các loại nấm hái lượm được khá

phong phú như: mộc nhĩ (hết sá nùn), nấm tre (hết lày), nấm mối (hết puộc), nấm trắng (hết khao)…

Rau rừng: Người Thái Đen gọi rau là phắc Các loại rau rừng hái lượm

được gồm nhiều loại như: rau ngọt rừng (phắc van pà), rau khoai rừng, ruột cây chuối rừng, rau dớn (phắc cụt), rau mớp (phắc nám), rau bợ nước (phắc vèn), rau má (phắc noóc)

Trang 35

Các loại quả: Người Thái Đen gọi quả là mạc, các loại quả chủ yếu được

thu hái lúc vào rừng và lúc đi làm rẫy Có rất nhiều loại quả được thu hái như: nhãn rừng (gần giống nhãn bản nhưng quả nhỏ hơn), chuối rừng (cuội pà), hoa chuối rừng (mạc pi), quả nhót (mạc nọt), quả dẻ (mạc cò) …

Cây thuốc nam: Vùng rừng ở huyện Khăm có rất nhiều loại cây thuốc nam Mỗi khi có người đau bệnh gì, họ mới đi tìm hái về chứ không để lại dữ trữ Có nhiều loại được coi là dược liệu được người Thái Đen sử dụng thường xuyên như: rau mơ, lá bớp bớp, lá ổi chữa đau bụng Bên cạnh đó còn có nhiều loại thuốc quý khác được bà con thu lượm trong những trường hợp thực tế

Săn bắn:Trước đây, săn bắn nhằm mục đích để bảo vệ nương rẫy, bảo

vệ làng bản và bổ sung nguồn thực phẩm mà chăn nuôi chưa cung cấp đủ Hiện nay, săn bắn được xem là thói quen và tập quán của người Thái Đen ở vùng nông thôn của huyện Khăm, tỉnh Xiêng Khoảng Họ thường săn bắn theo hai hình thức: cá nhân và tập thể.Săn bắn cá nhân là hoạt động thường diễn ra của mỗi gia đình người Thái Đen.Thú săn được thường là sóc, nai, chim, chuột, lợn rừng Nếu săn bắn tập thể thì thịt phải chia bằng nhau cho người tham dự Ngày xưa, nếu săn bắn được nhiều thì họ thường đem ra chợ bán Nhưng hiện nay, Nhà nước đã quy định và ra luật cấm săn bắn thú rừng; người dân đã được tuyên truyền kiến thức về việc bảo vệ thú rừng dẫn đến việc săn bắn của người

Thái Đen ngày càng giảm

Đánh cá và săn bắt: Đánh cá và săn bắt là hoạt động thường diễn ra

quanh năm Tập trung nhiều là vào mùa mưa, khi mà các con suối, con sông đã đầy ắp nước và nước đục ngầu Người Thái Đen đánh cá bằng chài, lưới, câu, xúc Mỗi gia đình người Thái Đen thường có 1-2 cái xúc, chài và lưới.Phụ nữ Thái Đen thường dùng xúc, câu bắt cá Còn nam giới thường dùng chài và lưới

Họ thường đi bắt cá một mình theo nhóm từ 2-4 người Người Thái Đen ở huyện

Khăm đi bắt cá cả ban ngày và ban đêm Người Thái Đen gọi cá là pá Cá mà họ

Trang 36

bắt được có nhiều loại như: pá tong (cá còm), pá khỏ (cá tràu), pá cốt (cá bò), pá cặng (cá sộp), pá khếng (cá rô), pá sỏi (cá nhỏ), pá xiu (cá cơm), tôm, cua… Ngoài bắt cá bằng chài, lưới, xúc họ còn dùng tay để mò bắt trong trường hợp

mò ốc, mò cá nước cạn Các loại cá bắt được, nếu nhiều thì một phần chế biến ăn ngay, còn một phần đem ra chợ bán hoặc mổ rửa sạch trộn với một ít muối bỏ

vào ống luồng làm nước mắm (pá đẹc), một phần phơi nắng làm cá khô

Bên cạnh các loại thủy sản, đối tượng săn bắt của người Thái Đen còn gồm có các loại côn trùng như: châu chấu, dế mèn, trứng kiến (khay một sộm)… Số lượng bắt không nhiều nên có thể được chế biến ăn ngay chứ không

dự trữ

Có thể nói, việc khai thác nguồn lợi tự nhiên đã đem lại nguồn thu nhập quan trọng trong cuộc sống tự cấp, tự túc của người Thái Đen Hoạt động này tồn tại và phát triển mạnh khi dân số chưa tăng; điều kiện tự nhiên còn khá thuận lợi; rừng, sông, suối còn nguyên sinh Còn hiện nay, khi dân số gia tăng nhanh chóng; tài nguyên rừng, sông dần cạn kiệt thì hoạt động sắn bắt, hái lượm của người Thái Đen huyện Khăm, tỉnh Xiêng Khoảng không đem lại hiệu quả nữa, nhưng hoạt động này vẫn tồn tại ở vùng xa, vùng nông thôn

2.3 Nghề thủ công

Giống như các dân tộc khác ở huyện Khăm, người Thái Đen xuất hiện từ lâu và nghề thủ công cũng là hoạt động kinh chủ yếu Ở tỉnh Xiêng Khoảng nói chung và huyện Khăm nói riêng đã xuất hiện nhiều làng thủ công như: làng đan lát, làng dệt… Mỗi nghề thủ công của người Thái Đen ở huyện Khăm đã góp phần làm cho sản phầm, hàng hóa của huyện đa dạng và phong phú Đây cũng

là một nguồn thu nhập đáng kể cho các gia đình dân tộc Thái Đen ở huyện Khăm Sản phẩm từ nghề thủ công của người Thái Đen có thể đảm bảo cho những nhu cầu tối thiểu của đời sống tự cấp tự túc

Trang 37

Bảng 2.4 Thống kê hoạt động nghề thủ công của người Thái Đen trong

4 bản của huyện Khăm năm 2015

STT Tên bản Tổng số hộ gia đình Số hộ gia đình làm nghề

Do điều kiện tài nguyên tự nhiên rất phong phú, việc sử dụng các nguyên liệu tự nhiên dễ tạo ra tối đa các sản phẩm phục vụ sản xuất và sinh hoạt là nhu cầu tất yếu với lợi thế từ rừng Người Thái Đen ở đây đã tạo ra những sản phẩm đan lát hết sức phong phú như: đồ lưu niệm, đồ gia dụng, quà tặng Huyện Khăm, tỉnh Xiêng Khoảng là địa bàn rất giàu nguyên liệu cho đan lát Nhưng

để có nguồn nguyên liệu tốt, họ phải đi xa hàng chục cây số Họ có rất nhiều kinh nghiệm trong việc lựa chọn các nguyên liệu để tạo ra sản phẩm tốt

Loại tre và luồng nhỏ (tre non) thường có ruột rất đặc, lóng dài, đặc tính mềm và dai thích hợp cho đan các sản phẩm kỹ thuật cao như gùi, ép cơm, đồ đựng kim chỉ, hộp đựng trang sức, quạt tre, rổ, mâm mây…

Ép cơm: Là chiếc giỏ đựng cơm nếp trong bữa cơm ở nhà, khi vào rừng,

đi nương rẫy Ép cơm thường là hình trụ, có nhiều màu Một cái ép cơm bao

gồm 2 bộ phận: thân và nắp Đó là 2 hình trụ rỗng đan theo kiểu lóng đôi có thể

Trang 38

lồng khít vào nhau Phần thân được đan kép, mặt đáy và mặt nắp được đan rời tạo thành hình tròn rồi dùng mây, giang khâu liền với thân và nắp Phần trên

của thân được đan hoa văn Ép cơm nổi tiếng của huyện Khăm là ép ở bản Xam

và Muông Xay

Huột: Cùng với đan ép cơm, người Thái Đen ở huyện Khăm còn đan

huột (cái chõ đồ xôi hoặc cái hấp xôi) Nồi đồ xôi của người Thái Đen cũng

phải có ít nhất 2 tầng Tầng dưới, gọi là “mỏ nởng” Tầng này là tầng đựng nước, để khi nấu sôi thì hơi nước bốc lên trên làm cho chín gạo Tầng thứ 2 trở

lên gọi là huột, dùng để chứa gạo Đáy của tầng này luôn phải có lỗ rất nhỏ để

cho hơi nước bốc lên được Nguyên liệu chính mà người Thái Đen sử dụng để

đan huột là tre Gia đình người Thái Đen nào cũng đều có cái chõ đồ xôi Có

thể nói, cái chõ đồ xôi là sản phẩm từ đan lát chủ yếu mà bất kể gia đình nào cũng không thể thiếu được Đâycũng là một sản phẩm mang lại thu nhập đáng

kể cho họ Giá bán một cái chõ đồ xôi thấp nhất là 5.000, cao nhất cũng là 20.000 kíp (tương đương gần 15.000 - gần 60.000 đồng)

Mâm mây, ghế mây: Là một trong những sản phẩm đặc trưng của dân tộc Thái Đen ở huyện Khăm Sản phẩm này được nhiều dân tộc sử dụng Những loại sản phẩm nàyđược làm từ nguyên liệu chủ yếu là mây, tre, luồng

và hiện trở thành hàng hóa mang lại thu nhập đáng kể, được trưng bày nhiều tại các hội chợ trong và ngoài tỉnh

Mâm mây gồm 2 bộ phận chính: mặt mâm và thân mâm Mặt mâm thường là hình tròn Tùy vào mục đích sử dụng mà mặt mâm có đường kính to, nhỏ khác nhau Thông thường, mặt mâm to có đường kính khoảng từ 60- 70cm; mặt mâm nhỏ có đường kính từ 30- 40cm và được đan bằng tre Vách ngoài của mặt mâm được đan bằng sợi mây theo đường song song rộng khoảng 7-10

cm Thân mâm là một vòng tròn hình trụ có chiều cao từ 20-30 cm và thường làm bằng tre hoặc luồng theo hình mắt cáo, tạo hoa văn mềm mại Vành đáy thân mâm hình tròn làm bằng mây

Trang 39

Ghế mây cũng có kiểu dáng giống như mâm mây nhưng mặt ghế nhỏ hơn.Thân ghế cao khoảng từ 10- 15cm Mặt ghế được đan bằng sợi mây.Các sợi mây được căng trên chiếc cạp hình tròn bằng mây cứng Mặt ghế được nối với vành đáy chân ghế bằng những thanh tre cứng, khỏe và thanh gọn

Trong nghề đan lát của người Thái Đen cũng có sự phân công lao động rất rõ ràng Nếu may vá, bếp núc, nuôi con là việc của phụ nữ thì đan lát là công việc của người đàn ông Người đàn ông càng cao tuổi càng có kinh nghiệm trong công việc đan nên thanh niên chỉ tham gia vào chế biến nguyên liệu đan, còn việc đan do người cao tuổi thực hiện Tiêu biểu cho nghề đan lát này phải nói đến gia đình ông Bua Ny, người Thái Đen ở bản Muông Xay Gia đình ông vừa làm nông nghiệp vừa làm nghề thủ công Ông đan nhiều loại sản phẩm dùng trong gia đình như: huột, ép cơm, làn, xay (cái dùng để bắt cá), mâm cơm, chiếu…Còn vợ và con gái của ông làm nghề dệt vải Hàng tháng, gia đình ông có thu nhập từ 2-3 triệu kíp từ đan lát

Có thể nói: Đan lát là một nghề khá đặc trưng của người Thái Đen Người Thái Đen có câu: “Nếu dệt vải là tiêu chí để đánh giá người con gái, thì đan lát là tiêu chí để đánh giá người con trai” Đan lát đối với gia đình ngườiThái Đenlà một nghề thủ công truyền thống phổ biến, đặc trưng.Tuy nhiên việc dạy nghề, truyền nghề là hoàn toàn tự phát, chưa chuyên môn hóa, chưa tập trung mà chỉ nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt gia đình

Ngoài đan lát, người Thái Đen ở huyện Khăm còn làm một số nghề khác như: mộc, đúc rèn Những nghề này cũng là nghề truyền thống có từ lâu đời và được các cụ già giỏi nghề trong cộng đồng truyền lại

2.3.2.Nghề dệt

Trước đây, khi nền kinh tế hàng hóa chưa phát triển, các sản phẩm thổ cẩm làm ra chủ yếu để phục vụ nhu cầu trong gia đình, làm của hồi môn cho con gái khi về nhà chồng và một phần để trao đổi theo phương thức vật đổi vật góp phần phụ thêm cho kinh tế gia đình Trải qua thời gian đã cho thấy các sản

Trang 40

phẩm thổ cẩm là thứ không thể thiếu được trong đời sống vật chất và tinh thần của người Thái Đen Nó trở thành biểu tượng trong đời sống văn hóa của người Thái Đen Để tạo ra được những tấm thổ cẩm đẹp, người phụ nữ Thái Đen phải tiến hành nhiều công đoạn khác nhau Bắt đầu từ việc trồng bông, nuôi tằm, kéo sợi, dệt vải, nhuộm chàm cho đến việc cắt may, thêu thùa Nguyên liệu để làm ra những sản phẩm thổ cẩm chủ yếu là sợi bông và sợi tơ tằm Để có sợi cho việc dệt thổ cẩm, phụ nữ Thái Đen phải bắt đầu bằng việc trồng bông trên nương và trồng dâu nuôi tằm Để tạo thành sợi phải trải qua rất nhiều các công đoạn: Sau khi thu hoạch bông từ nương về phải tiến hành sơ chế qua các bước: cán bông, bật bông, quấn bông, se sợi, hồ sợi Tằm sau khi đã vào kén để kéo thành sợi tơ cũng phải tiến hành các bước như: rút sợi (sáo lọc), cuốn sợi tơ thành con, se sợi đơn thành sợi đôi, xử lý tơ cho mềm mới có thể dùng để dệt nên các trang phục hay đồ dùng sử dụng trong đời sống hàng ngày

Thổ cẩm được dệt hoàn toàn bằng tay nên độ chặt, lỏng, mềm, cứng của sản phẩm đều theo ý muốn và khả năng của người làm ra nó Họ có thể dệt nên những tấm thổ cẩm khác nhau để trang trí cho từng loại sản phẩm.Khung để dệt không có gì khác với khung dệt của người Thái Đen ở những vùng khác.Điều khác biệt đáng chú ý nhất chính là cách dệt và các dạng thức hoa văn trang trí trên thổ cẩm Người Thái Đen ở mỗi địa phương có cách trang trí hoa văn trên vải khác nhau như: dệt kết hoa văn trên khung; dệt dấu nhân; dệt hình quả trám Họ thêu cài hoa văn bằng các sợi màu đã được chuẩn bị qua các thao tác cài, đan trực tiếp trên khung dệt Các dạng thức hoa văn rất đa dạng, phong phú (gồm hình nhiều loại động vật, mặt trời, hoa lá, cây cỏ )được phối màu một cách hài hòa gồm các hoa văn chính và hoa văn phụ điểm xuyết làm nổi bật hoa văn chính nhờ sự sáng tạo của khối óc và sự khéo léo của đôi bàn tay người thợ Từ đó, người phụ nữ Thái Đen dệt nên những tấm thổ cẩm đẹp, làm nên những bộ váy áo có các họa tiết hoa văn đặc sắc

Ngày đăng: 27/06/2017, 14:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Lò Xuân Dừa (2016), Tang ma của người Thái: Quy trình Nghi Lễ để tạo cuộc sống mới cho người chết (Trường hợp người Thái Phù Yên, Sơn La),Luận án tiến sỹ, Viện Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tang ma của người Thái: Quy trình Nghi Lễ để tạo cuộc sống mới cho người chết (Trường hợp người Thái Phù Yên, Sơn La)
Tác giả: Lò Xuân Dừa
Năm: 2016
5. Nguyễn Đại Đồng (2007), Trang phục cổ truyện của phụ nữ dân tộc thái huyện Thường Xuân, tỉnh Thành Hóa, Luận văn thạc sĩ,Trường Đại học sư Phạm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trang phục cổ truyện của phụ nữ dân tộc thái huyện Thường Xuân, tỉnh Thành Hóa
Tác giả: Nguyễn Đại Đồng
Năm: 2007
7. Phạm Ngọc Hà (2015), Lịch và nông lịch của người Thái Đen ở Sơn La, Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch và nông lịch của người Thái Đen ở Sơn La
Tác giả: Phạm Ngọc Hà
Năm: 2015
8. Đài Thị Hằng (2009),Khôi phục bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá truyền thống trong lễ hội Xên Mường của người Thái Đen tại Sơn La, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học văn hóa Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khôi phục bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá truyền thống trong lễ hội Xên Mường của người Thái Đen tại Sơn La
Tác giả: Đài Thị Hằng
Năm: 2009
9. Hòang Thị Hường (2010), Phong tục tang ma của người Thái Đen huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, Khóa luận tốt nghiệp Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong tục tang ma của người Thái Đen huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La
Tác giả: Hòang Thị Hường
Năm: 2010
10. Lộ Thị Huyền (2015),Tìm hiểu tang ma của người Thái Đen ở xã Nghĩa Lợi, tỉnh Yên Bái, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học văn hóa Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: (2015),Tìm hiểu tang ma của người Thái Đen ở xã Nghĩa Lợi, tỉnh Yên Bái
Tác giả: Lộ Thị Huyền
Năm: 2015
12. Trần Vân Hạc (2014),”Cưới cổ của người Thái đen Tây Bắc Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: ”Cưới cổ của người Thái đen Tây Bắc Việt Nam
Tác giả: Trần Vân Hạc
Năm: 2014
13. Lo Thị Quỳnh Lan (2008), Luận văn thạc sĩ đề tài “Bản sắc văn hóa dân tộc Thái trong điều kiện đổi mới và phát triển kinh tế vùng Tây Bắc”Trường Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Bản sắc văn hóa dân tộc Thái trong điều kiện đổi mới và phát triển kinh tế vùng Tây Bắc”
Tác giả: Lo Thị Quỳnh Lan
Năm: 2008
15. Đoàn Thị Hương Lý (2009), Khóa luận tốt nghiệp “Người Thái Đen với sự phát triển du lịch Mường Lò tỉnh Yên Bái, Trường Đại học văn hoá Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khóa luận tốt nghiệp “Người Thái Đen với sự phát triển du lịch Mường Lò tỉnh Yên Bái
Tác giả: Đoàn Thị Hương Lý
Năm: 2009
16. Minh Lê (2016), “Tìm hiểu nghi thức “Hỏa táng” người Thái đen” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Tìm hiểu nghi thức “Hỏa táng” người Thái đen
Tác giả: Minh Lê
Năm: 2016
24. Nguyễn Thành Tuấn (2006), Tìm hiểu Văn hóa truyền thống của dân tộc Thái Đen ở huyện Như Thanh, tỉnh Thành Hóa,Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu Văn hóa truyền thống của dân tộc Thái Đen ở huyện Như Thanh, tỉnh Thành Hóa
Tác giả: Nguyễn Thành Tuấn
Năm: 2006
25. Ngô Thu Thản (2009),Bảo tồn và phát huy văn hóa ẩm thực của dân tộc Thái Đen thành phố Sơn La, Khóa luận tốt nghiệp trường Đại Học văn hóa Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn và phát huy văn hóa ẩm thực của dân tộc Thái Đen thành phố Sơn La
Tác giả: Ngô Thu Thản
Năm: 2009
26. Trần Ngọc Thêm (1996), Cơ sở văn hóa Việt Nam, trường Đại học tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở văn hóa Việt Nam
Tác giả: Trần Ngọc Thêm
Năm: 1996
28. Trần Quốc Vượng (1998), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo dục. Tài liệu tiếng Lào Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở văn hóa Việt Nam
Tác giả: Trần Quốc Vượng
Nhà XB: Nxb Giáo dục. Tài liệu tiếng Lào
Năm: 1998
2. Cây cột thiêng liêng trong nhà dân tộc Thái Đen (2015), Thư điện tử phương Nam Plus (http://phuongnamplus.vn/1-61-19997-Cay-cot-thieng-trong-nha-san-cua-nguoi-Thai-den.html) Link
3. Cuộc thiên di vĩ đại của người Thái Đen (2013), Thư điện tử Nông nghiệp Việt Nam (http://nongnghiep.vn/cuoc-thien-di-vi-dai-cua-nguoi-thai-den Link
6. Khái quát dân tộc Thái và ngành Thái Đen (2009), Thư điện tử văn hóa dân tộc (https://chungca.wordpress.com/2016/06/09/khai-quat-dan-toc-thai-va-nganh-thai-den/) Link
14. Lễ Xên Mường của người Thái đen(http://dacsandantoc.net/le-xen-muong-cua-nguoi-thai-den/) Link
18. Nhà sàn của người Thái đen (2013), (http://vovworld.vn/vi-vn/Sac-mau-cac-dan-toc-Viet-Nam/Nha-san-cua-nguoi-Thai-den/187808.vov) Link
21. Phong tục cưới hỏi của người Thái đen, (http://hocban.net/hoidap-ct- 140865-phong-tuc-cuoi-hoi-cua-nguoi-thai-den.htm) Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w