CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC CHO GIÁO VIÊN MẦM NON MỚI VÁO NGHỀ .... Đánh giá về quản lý bồi dưỡng năng lực tổ chức thực hiện các
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
Mã số: 60.14.01.14
Người hướng dẫn khoa học: TS Dương Thị Diệu Hoa
HÀ NỘI, NĂM 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của cá nhân, được thực hiện dưới
sự hướng dẫn khoa học của TS.Dương Thị Diệu Hoa Kết quả nghiên cứu và dữ liệu của đề tài được trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng công bố dưới bất
kỳ hình thức nào
Học viên
Tưởng Thị Duyên
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin được gửi lời cám ơn sâu sắc đến TS Dương Thị Diệu
Hoa người Thầy đã tận tình hướng dẫn trong suốt quá trình tôi thực hiện và hỗ trợ
tích cực để tôi có thể hoàn thành luận văn này
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Quý Thầy/Cô trong Khoa Giáo dục trường
… và quý Thầy Cô đã tham gia giảng dạy lớp Cao học
Tôi xin cảm ơn Quý Thầy/Cô và Anh/Chị đang công tác tại các đơn vị: Phòng GDMN; Phòng GD&ĐT Huyện Mỹ Đức; Ban giám hiệu (BGH), các giáo viên đang giảng dạy thuộc 8 trường mầm non trong cụm mầm non số 3 huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội đã nhiệt tình giúp đỡ và hỗ trợ các thông tin, dữ liệu để tôi
có thể hoàn thành đề tài nghiên cứu
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến Gia đình, những Thầy Cô và các anh chị đồng nghiệp thân thiết đã luôn bên cạnh, động viên để tôi có thể vượt qua được những khó khăn trong quá trình vừa làm việc vừa học tập
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong suốt quá trình thực hiện đề tài, song có thể còn có những mặt hạn chế, thiếu sót Tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp và sự chỉ dẫn của các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp
Kính chúc sức khỏe, thành công và hạnh phúc đến tất cả mọi người!
Học viên
Tưởng Thị Duyên
Trang 4DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Chữ đƣợc dịch CBQL Cán bộ quản lý
CNTT Công nghệ thông tin
CSVC Cơ sở vật chất
GD&CS Giáo dục và chăn sóc
GD&ĐT Giáo dục và đào tạo
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 2
3 KHÁCH THỂ VÀ ĐÔI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 2
4 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC 3
5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 3
6 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3
8 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN 4
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC CHO GIÁO VIÊN MẦM NON MỚI VÁO NGHỀ 5
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 5
1.2.Các hoạt động giáo dục trong trường mầm non 10
1.2.1 Hoạt động chơi 11
1.2.2 Các hoạt động học 13
1.2.3 Hoạt động lao động 14
1.2.4 Hoạt động ăn, ngủ, vệ sinh cá nhân 15
1.3 Năng lực tổ chức thực hiện thực hiện các hoạt động giáo dục của giáo viên mầm non 15
1.3.1 Giáo viên mầm non mới vào nghề 15
1.3.2 Đặc điểm của giáo viên mầm non mới vào nghề 16
1.3.3 Năng lực tổ chức thực hiện thực hiện các hoạt động giáo dục của giáo viên mầm non 20
1.4 Bồi dưỡng năng lực tổ chức thực hiện thực hiện các hoạt động giáo dục cho GVMN mới vào nghề 25
1.4.1 Bồi dưỡng năng lực tổ chức thực hiện thực hiện các hoạt động giáo dục Bồi dưỡng: 25
1.4.2 Các yếu tố của bồi dưỡng năng lực tổ chức thực hiện thực hiện các hoạt động giáo dục 26
Trang 61.5 Quản lý bồi dưỡng năng lực tổ chức thực hiện các HĐGD cho GVMN mới vào nghề 33
1.5.1 Khái niệm quản lý 33 1.5.2 Nội dung quản lý hoạt động bồi dưỡng phương pháp dạy học của Hiệu trưởng trường mầm non 34 1.5.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến dưỡng năng lực tổ chức thực hiện các HĐGD cho GVMN mới vào nghề 40
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC CHO GIÁO VIÊN MỚI VÀO NGHỀ HUYỆN MỸ ĐỨC, TP HÀ NỘI 43 2.1 Thực trạng đội ngũ giáo viên mầm non mới vào nghề và khái quát quá trình khảo sát 43
2.1.1 Thực trạng đội ngũ giáo viên mầm non mới vào nghề 43 2.1.2 Khái quát quá trình khảo sát 46
2.2 Đánh giá năng lực tổ chức các hoạt động giáo dục của giáo viên mới vào nghề huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội 47
2.1.1 Thực trạng kiến thức của giáo viên mới vào nghề về các hoạt động giáo dục 47 2.2.2 Thái độ của giáo viên mới vào nghề về các hoạt động giáo dục 51 2.2.3 Kỹ năng của giáo viên mới vào nghề về tổ chức hoạt động giáo dục 52
2.3 Thực trạng bồi dưỡng năng lực tổ chức hoạt động giáo dục cho giáo viêm mầm non mới vào nghề ở các trường mầm non huyện Mỹ Đức, Hà Nội 55
2.3.1 Thực trạng mục tiêu bồi dưỡng tổ chức các hoạt động giáo dục cho giáo viên mầm non mới vào nghề 55 2.3.2 Đánh giá về quy trình thực hiện bồi dưỡng cho giáo viên mầm non mới vào nghề 58 2.3.3 Thực trạng nội dung bồi dưỡng cho giáo viên mầm non mới vào nghề
từ năm 2013 đến 2016 61 2.3.4 Mức độ thực hiện các hình thức tổ chức bồi dưỡng năng lực tổ chức các hoạt động giáo dục cho giáo viên mầm non mới vào nghề 63
Trang 72.3.5 Thực trạng mức độ năng lực chủ thể bồi dưỡng năng lực tổ chức các hoạt động giáo dục cho giáo viên mầm non mới vào nghề 65 2.3.6 Yếu tố sau thúc đẩy giáo viên mầm mon mới vào nghề tham gia bồi dưỡng nâng cao năng lực tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ 67
2.4 Đánh giá về quản lý bồi dưỡng năng lực tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục cho giáo viên mầm non mới vào nghề huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội. 69
2.4.1 Thực trạng mức độ lập kế hoạch quản lý bồi dưỡng năng lực tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục cho giáo viên mầm non mới vào nghề 69 2.4.2 Mức độ tổ chức bồi dưỡng năng lực tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục cho giáo viên mầm non mới vào nghề các trường mầm non huyện
Mỹ Đức, Hà Nội 73 2.4.3 Thực trạng chỉ đạo bồi dưỡng nâng cao năng lực tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục cho giáo viên mầm non mới vào nghề các trường mầm non huyện Mỹ Đức, Hà Nội 75 2.4.4 Thực trạng quản lý việc đánh giá kết quả bồi dưỡng nâng cao năng lực tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục cho giáo viên mầm non mới vào 77 2.4.6 Thực trạng nguyên nhân ảnh hưởng đến quản lý bồi dưỡng năng lực tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục cho giáo viên mầm non mới vào nghề 79
2.5 Bài học rút ra từ việc quản lý bồi dưỡng năng lực tổ chưc thực hiện các hoạt dộng giáo dục cho giáo viên mới của Hiệu trưởng trường mầm non. 82
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 83 Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ BỒI DƯỠNG NĂNG TỔ
CHỨC THỰC HIỆN CÁC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC CHO GIÁO VIÊN MỚI VÀO NGHỀ HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 84 3.1 Các nguyên tắc đề xuất 84
3.1.1 Bám sát mục tiêu của giáo dục mầm non 84 3.1.2 Đảm bảo tính thực tiễn trong thực hiện chương trình giáo dục mầm non 84 3.1.3 Các biện pháp đề xuất đảm bảo tính trọng tâm, trọng điểm 85 3.1.4 Đảm bảo tính đồng bộ toàn diện của các hoạt động bồi dưỡng 86
Trang 83.2 Các giải pháp quản lý bồi dưỡng năng lực tổ chức thực hiện các hoạt động
giáo dục cho giáo viên mầm non mới vào nghề 86
3.2.1 Bồi dưỡng nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động bồi dưỡng năng lực tổ chúc thực hiện các hoạt động giáo dục cho giáo viên mới vào nghề 86
3.2.2 Lập riêng kế hoạch mới để quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực thực hiện các hoạt động giáo dục của giáo viên mới vào nghề theo cách viết ra những gì sẽ làm 91
3.2.3 Tổ chức thực hiện quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực tổ chức thực hiệ các hoạt động giáo dục cho giáo viên mới vào nghề theo đúng kế hoạch đã viết 95
3.2.4 Đổi mới nội dung hình thức, phương pháp bồi dưỡng giáo viên mầm non mới vào nghề 98
3.2.5 Tổ chức thi đua khen thưởng nhằm khuyến khích giáo viên học tập nâng cao năng lực tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục của bản thân 103
3.2.6 Thường xuyên kiểm tra đánh giá hoạt động bồi dưỡng năng lực tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục bằng nhiều hình thức 107
3.3 Mối quan hệ giữa các giải pháp đề xuất 112
3.4 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 114
3.4.1 Mục đích khảo nghiệm 114
3.4.2 Nội dung khảo nghiệm 114
3.4.3 Đối tượng khảo nghiệm 114
3.3.4 Phương pháp khảo nghiệm 114
3.4.5 Kết quả khảo nghiệm 115
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 119
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 120
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 124
PHỤ LỤC 128
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Thực trạng đội ngũ giáo viên mầm non mới vào nghềSố lượng 43
Bảng 2.2 Quy ước mức độ thang đo câu hỏi 47
Bảng 2.3 Thực trạng kiến thức của giáo viên về các hoạt động giáo dục 48
Bảng 2.4: Thái độ của giáo viên mới vào nghề về các hoạt động giáo dục 51
Bảng 2.5: Kỹ năng của giáo viên mới vào nghề về tổ chức hoạt động giáo dục 53
Bảng 2.6: Thực trạng mục tiêu bồi dưỡng năng lực tổ chức HĐGD cho giáo viên mầm non mới vào nghề 56
Bảng 2.7 Đánh giá về quy trình thực hiện bồi dưỡng cho giáo viên mầm non mới vào nghề 58
Bảng 2.8 Thực trạng nội dung bồi dưỡng phương pháp dạy học cho GV 61
Bảng 2.9 Mức độ thực hiện các hình thức tổ chức bồi dưỡng năng lực tổ chức các hoạt động giáo dục cho giáo viên mầm non mới vào nghề 63
Bảng 2.10: Thực trạng mức độ năng lực chủ thể bồi dưỡng năng lực tổ chức các hoạt động giáo dục cho giáo viên mầm non mới vào nghề 65
Bảng 2.11: Yếu tố sau thúc đẩy giáo viên mầm mon mới vào nghề tham gia bồi dưỡng nâng cao năng lực tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ 68
Bảng 2.12 Mức độ lập kế hoạch quản lý bồi dưỡng năng lực tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục cho giáo viên mầm non mới vào nghề 69
Bảng 2.13: Mức độ tổ chức bồi dưỡng năng lực tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục cho giáo viên mầm non mới vào nghề 73
Bảng 2.14: Thực trạng chỉ bồi dưỡng nâng cao năng lực tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục cho giáo viên mầm non mới vào nghề các trường mầm non huyện Mỹ Đức, Hà Nội 76
Bảng 2.16 Thực trạng quản lý việc đánh giá kết quả bồi dưỡng nâng cao năng lực tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục cho giáo viên mầm non mới vào nghề 78
Bảng 2.17 Thực trạng nguyên nhân ảnh hưởng đến quản lý bồi dưỡng năng lực tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục cho giáo viên mầm non mới vào nghề 80
Bảng 3.1 Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết của các biện pháp quản lý 115
Bảng 3.2 Kết quả khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp 117
Trang 10DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Tính cần thiết của các biện pháp 116 Biểu đồ 3.2 Khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp 118
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Mô hình quản lý [25] 34
Sơ đồ 3.1 Sơ đồ mối quan hệ giữa các biện pháp 113
Trang 11MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Cùng với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế - xã hội, ngành giáo dục - đào tạo nước nhà đã đạt được những thành quả đáng tự hào và có những bước tiến đáng kể trong thời gian gần đây Tuy nhiên, một số vấn đề còn tồn tại, những vấn đề mới nảy sinh, đòi hỏi chúng ta phải có các giải pháp cải tiến, đổi mới để thực hiện mục tiêu giáo dục Những vấn đề được đặt ra và quan tâm, để các nhà quản lý giáo dục có các giải pháp hữu hiệu trong giai đoạn gần đây như: chương trình dạy và học, trang thiết bị, công cụ hỗ trợ và ứng dụng công nghệ thông tin, phương pháp giảng dạy, chất lượng học tập, nghiên cứu khoa học, bồi dưỡng CM nghiệp vụ cho giáo viên … Để giải quyết các vấn đề đó, vai trò người lãnh đạo và quản lý nhà trường đóng vai trò quan trọng Tăng cường quản lý bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên là việc làm trọng tâm và hết sức cần thiết, đối với sự phát triển giáo dục nói chung và của các trường Mầm Non nói riêng trong gian đoạn
hiện nay
1.1 Hoạt động chuyên môn là hoạt động trung tâm của nhà trường, chất lượng chuyên môn trong nhà trường được chi phối bởi nhiều yếu tố khác nhau Mỗi yếu tố đều có vai trò vị trí riêng, nhưng các yếu tố đó luôn có mối quan hệ biện chứng với nhau, vừa hỗ trợ cho nhau, vừa chế ước lẫn nhau Trong hệ thống đó, nhân tố giữ vai trò bao trùm lên các nhân tố khác, liên kết các nhân tố lại, đó là các giải pháp quản lí công tác bồi dưỡng và nâng cao chất lượng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên trường Mầm Non trong giai đoạn hiện nay Như vậy, nâng cao chất lượng đào tạo - bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên vừa là mục tiêu vừa là giải pháp căn bản cho việc nâng cao chất lượng giáo dục nói chung và chất lượng giáo dục ở cấp học Mầm Non nói riêng
1.2 Nhân cách của người giáo viên được thể hiện ở hai mặt: Phẩm chất đạo đức
và năng lực sư phạm Chất lượng dạy học của một người giáo viên phần lớn phụ thuộc vào năng lực của giáo viên mà quan trọng nhất là năng lực chuyên môn Do đó, bồi dưỡng chuyên môn và quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên
là nhiệm vụ trọng tâm của các nhà trường Mầm Non trong giai đoạn hiện nay
Trang 121.3 Chất lượng giáo dục mầm non được phát triển thì trước hét phải có một đội ngũ giáo viên đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng, hay đội ngũ giáo viên phải có năng lực chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp để có thể thực hiện tốt công tác chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ để bước đầu hình thành nhân cách con người
ở trẻ Quan điểm của Đảng đối với đội ngũ giáo viên “Đổi mới giáodục mầm non là
yêu cầu cấp thiết của nước ta trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nhằm thực hiện mục tiêu chất lượng phát triển giáo dục mầm non ”
Ngành giáo dục và đào tạo đã, đang và tiếp tục áp dụng chương trình giáo dục
mầm non mới, trước yêu cầu “Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đầu tư cho
giáo dục là đầu tư cho phát triển ” của đất nước, thực hiện đổi mới chương trình,
phương pháp, hình thức tổ chức cho trẻ mầm non trong hoạt động học tập vui chơi nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ Cần phải tập trung quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên Mầm Non
1.4 Nghiên cứu về quản lý nhà trường nói chung và quản lý hoạt động chuyên môn nói riêng đã có nhiều tác giả trong và ngoài nước đề cập đến Các tác giả đã đề cập đến nhiều góc độ khác nhau từ những vấn đề lý luận chung, đến những vấn đề cụ thể của việc đào tạo bồi dưỡng giáo viên nâng cao chất lượng dạy học Tuy nhiên, nghiên cứu về công tác quản lý bồi dưỡng năng lực lập kế hoạch cho đội ngũ giáo viên Mầm Non ở huyện Mỹ Đức hiện chưa có tác giả nào đề cập
và tiến hành nghiên cứu
Với những lý do đã nêu trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Quản lý bồi
dưỡng năng lực tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục cho giáo viên mầm non mới vào nghề Huyện Mỹ Đức, TP Hà Nội.”
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Đề xuất một số giải pháp quản lý của Hiệu trưởng trong việc bồi dưỡng chuyên môn nhằm nâng cao năng lực tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục cho
dội ngũ giáo viên mầm non mới vào nghề Huyện Mỹ Đức, TP Hà Nội hiện nay
3 KHÁCH THỂ VÀ ĐÔI TƢỢNG NGHIÊN CỨU
3.1 Khách thể nghiên cứu:
Công tác quản lý bồi dưỡng năng lực tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục
Trang 133.2 Đối tượng nghiên cứu :
Một số giải pháp quản lý công tác bồi dưỡng năng lực tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục cho đội ngũ giáo viên mầm non mới vào nghề Huyện Mỹ Đức,
TP Hà Nội
4 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Hiệu quả công tác bồi dưỡng năng lực tổ chức các hoạt dộng giáo dục của đội ngũ giáo viên mầm non mới vào nghề Huyện Mỹ Đức, TP Hà Nội sẽ được nâng cao nếu xây dựng được các giải pháp quản lý công tác chuyên môn một cách khoa học và đồng bộ, phù hợp với tình hình thực tiễn của trường
5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
5.1 Tìm hiểu cơ sở lý luận của công tác bồi dưỡng chuyên môn ở các trường mầm non
5.2 Khảo sát, phân tích đánh giá thực trạng của công tác bồi dưỡng chuyên môn
và công tác quản lý của hiệu trưởng trong việc bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên 5.3 Đề xuất các giải pháp quản lý của hiệu trưởng nhằm nâng cao năng lực tổ chức các hoạt động giáo dục cho đội ngũ giáo viên mầm non mới vào nghề, Huyện
- Thời gian nghiên cứu:
7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện được đề tài này tôi thực hành các nhóm phương pháp sau:
7.1 Các phương pháp nghiên cứu lý luận
Trang 14Phân tích, tổng hợp, hệ thông hóa và khái quát hóa các tài liệu có liên quan
đến vấn đề nghiên cứu Nghiên cứu các văn kiện của Đảng, các quy phạm pháp luật
của nhà nước, các nhà báo đăng trên các tạp chí chuyên ngành
7.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: nhằm thu hút thông tin về thực trạng
công tác bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên
Phương pháp phỏng vấn đối với một số giáo viên
Phương pháp tổng kết kinh nghiệm của người quản lý trong việc quản lý bồi
dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên
7.3 Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng các công thức thống kê toàn học như số điểm trung bình, hệ số tương
quan thứ bậc để sử lý và đánh giá kết quả nghiên cứu và rút ra các nhận xét khoa học
8 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phần phụ lục, luận văn có
cấu trúc gồm 3 phần chính:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý bồi dưỡng năng lực tổ chức các hoạt
động giáo dục cho giáo viên mầm non mới vào nghề
Chương 2: Thực trạng quản lý bồi dưỡng năng lực tổ chức thực hiện các hoạt
động giáo dục cho giáo viên mầm non mới vào nghề Huyện Mỹ Đức, TP Hà Nội
Chương 3: Một số giải pháp quản lý bồi dưỡng năng lực tổ chức các hoạt dộng
giáo dục cho giáo viên mầm non mới vào nghề Huyện Mỹ Đức, TP Hà Nội
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC CHO GIÁO VIÊN MẦM NON
MỚI VÁO NGHỀ
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Bồi dưỡng giáo viên là một vấn đề phát triển cơ bản trong phát triển giáo dục được hầu hết các quốc gia trên thế giới quan tâm Việc tạo điều kiện thuận lợi cho người học có cơ hội được học tập suốt đời, học tập thường xuyên nhằm bổ xung kiến thức, đổi mới hình thức, phương pháp hoạt động phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội là phương châm hành động của các cấp quản lý giáo dục Có thể đưa ra một số nghiên cứu ở nước ngoài về vấn đề bồi dưỡng giáo viên mầm non và quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên như sau:
Ở Nhật Bản việc bồi dưỡng và đào tạo lại cho giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục là nhiệm vụ bắt buộc đối với người lao động sư phạm Tùy điều kiện thực
tế của từng đơn vị mà các cấp quản lý giáo dục đề ra các phương thức bồi dưỡng khác nhau trong một phạm vi yêu cầu nhất định Cụ thể mỗi trường có thể cử từ 3 đến 5 giáo viên được đào tạo lại một lần theo chuyên môn mới và tập trung vào đổi mới phương pháp dạy học [2]
Tại Thái Lan, từ 1998 việc bồi dưỡng giáo viên được tiến hành ở trung tâm học tập cộng đồng nhằm thực hiện giáo dục cơ bản, huấn luyện kỹ năng nghề nghiệp và thông tin tư vấn cho mọi người dân trong xã hội [2]
Ở Pakistan có chương trình bồi dưỡng về sư phạm do nhà nước quy định, trong thời gian 3 tháng gồm các nội dung phương pháp nghiên cứu, đánh giá học sinh, cơ sở tâm lý - giáo dục, nghiệp vụ dạy học đối với giáo viên mới vào nghề chưa quá 3 năm [2]
Trang 16Triều Tiên là một trong những nước có chính sách rất thiết thực về bồi dưỡng
và đào tạo lại đội ngũ giáo viên Tất cả đội ngũ giáo viên đều phải tham gia học tập đầy đủ các nội dung chương trình về nâng cao trình độ và chuyên môn nghiệp vụ theo quy định Nhà nước đã đưa ra hai chương trình lớn được thực thi hiệu quả đó là: “Chương trình bồi dưỡng giáo viên mới” để bồi dưỡng giáo viên thực hiện trong
10 năm và “Chương trình trao đổi” để đưa giáo viên đi tập huấn ở nước ngoài [2] Trong xây dựng và phát triển đội ngũ GV nhà GD học V.A Xukhômlinxki đã
từng yêu cầu: “Phải bồi dưỡng đội ngũ GV, phát huy được tính sáng tạo trong lao
động của họ và tạo ra khả năng ngày càng hoàn thiện tay nghề sư phạm, phải biết lựa chọn GV bằng nhiều nguồn khác nhau và bồi dưỡng họ trở thành những giáo viên tốt theo tiêu chuẩn nhất định, bằng các biện pháp khác nhau” V.A
Xukhomlinxki cho rằng phải bồi dưỡng cả về chuyên môn nghiệp vụ, lẫn phẩm chất đạo đức cho đội ngũ này Ông rất đề cao tầm quan trọng của việc tổ chức thực hiện hội thảo chuyên môn, qua đó GV có điều kiện trao đổi những kinh nghiệm về chuyên môn nghiệp vụ để nâng cao trình độ của mình Ông cũng đã tổng kết 26 năm kinh nghiệm thực tiễn làm công tác QL chuyên môn nghiệp vụ của một Hiệu trưởng, ông cho rằng sự phân công hợp lý, sự phối hợp chặt chẽ, sự thống nhất QL giữa hiệu trưởng và phó hiệu trưởng có ý nghĩa quan trọng nhằm đạt được mục tiêu
Để năng lực, phẩm chất đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp trong xã hội hiện đại, đội ngũ GV và CBQL phải tiến hành việc bồi dưỡng một cách nghiêm chỉnh, có hệ
Trang 17thống, phát huy cao độ ý thức làm chủ, trách nhiệm của mình đối với tương lai ngành GD để làm tốt công tác bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ
Vấn đề QL hoạt động bồi dưỡng GV được nhiều nhà khoa học quan tâm
nghiên cứu, tiêu biểu là Quản lý giáo dục và trường học (1997), Những vấn đề cơ
bản trong khoa học quản lý giáo dục (2008) của Trần Kiểm; Khoa học Quản lý nhà trường (1998) của Nguyễn Văn Lê; Giáo trình quản lý giáo dục và đào tạo (2003)
của Trường Cán bộ quản lý giáo dục; Lý luận về quản lý giáo dục (2010) của
Nguyễn Lộc
Tác giả Đinh Hồng Thái – Khoa giáo dục mầm non trường Đại học sư phạm
Hà Nội tại hội thảo khoa học cấp quốc gia bàn về “Phương hướng và giải pháp
phát triển đội ngũ giáo viên mầm non” – Hà Nội 2003, một trong những giải pháp
nâng cao chất lượng đội ngũ GVMN hiện nay là cần phải xây dựng đội ngũ giáo viên trong các trường đào tạo GVMN Để thực hiện được giải pháp này tiến sĩ đã đưa ra ý kiến như sau:
- Các vụ chức năng bộ cần rà soát lại tình hình vể giáo viên sư phạm mầm non trong cả nước Có thể cần một dự án khảo sát, đánh giá thực trạng giáo viên đào tạo GVMN
- Bộ cần đưa ra chuẩn mực về giáo viên, chú ý những giáo viên chuyên ngành, lấy đó làm căn cứ cho phép các cơ sở đào tạo GVMN ở các trình độ phù hợp
và điều này phải tiến hành hết sức chặt chẽ và cương quyết
- Bên cạnh những biện pháp kịp thời nhằm khắc phục tình trạng kể trên, bộ cần có những phương hướng thích hợp chỉ đạo việc xây dựng giáo viên sư phạm mầm non ổn định và có chất lượng , đáp ứng nhu cầu đào tạo ngày càng cao kể cả
số lượng và chất lượng bậc học mầm non cả nước
Nguyễn Công Duật (2000), “Thực trạng và giải pháp cơ bản phát triển đội
ngũ giáo viên trường trung học cơ sở tỉnh Bắc Ninh theo chuẩn nghề nghiệp” Luận
văn thạc sĩ khoa học giáo dục, Trường Đại học sư phạm Hà Nội Tác giả đã khái
quát cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ giáo viên trường trung học cơ sở theo chuẩn
Trang 18nghề nghiệp Trên cơ sở đó đánh giá thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên trường
trung học cơ sở tỉnh Bắc Ninh theo chuẩn nghề nghiệp Trên cơ sở lý luận và hạn chế thực trạng tác giả đã đề xuất 5 giải pháp nhằm phát triển đội ngũ giáo viên
trường trung học cơ sở tỉnh Bắc Ninh đáp ứng theo chuẩn nghề nghiệp
Tác giả Nguyễn Thu Hà (2010) nghiên cứu đề tài “Những biện pháp quản lý
công tác bồi dưỡng đội ngũ giáo viên tiểu học tỉnh Komtum trong giai đoạn hiện nay” Luận văn thạc sĩ tại Đại học Vinh Đề tài đã nghiên cứu cơ sở lý luận của
công tác quản lý bồi dưỡng đội ngũ giáo viên tiểu học, đưa ra thực trạng quản lý công tác bồi dưỡng đội ngũ giáo viên tiểu học tỉnh Kom Tum và đưa ra một số biện pháp quản lý bồi dưỡng giáo viên như nâng cao nhận thức cho các cấp, các ngành đồng thời xác định nội dung, phương pháp bồi dưỡng…
Luận Văn thạc sĩ Vũ Thị Minh Hà (2012) đi sâu nghiên cứu về “Các biện
pháp quản lý công tác bồi dưỡng giáo viên mầm non ở Hà Nội”, luận văn thạc sĩ
Đại học sư phạm Hà Nội Tác giả đã đề xuất và bước đầu thử nghiệm một số biện
pháp quản lý công tác bồi dưỡng GVMN Hà Nội có hiệu quả như sau:
- Xây dựng kế hoạch phát triển GVMN
- Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng GVMN
- Cải tiến công tác bồi dưỡng GVMN
- Đánh giá việc bồi dưỡng GVMN
Tác giả Lê Thị Diệu Thúy (2012) đã thực hiện đề tài “Biện pháp quản lý
công tác bồi dưỡng giáo viên các trường mầm non Thành phố Đà Nẵng đáp ứng
Trang 19biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý công tác bồi dưỡng giáo viên các trường mầm non Thành phố Đà Nẵng đáp ứng chuẩn nghề nghiệp như về nhận thức, tăng cường cơ sở vật chất, tăng cường đánh giá…
Có thể thấy, một trong những mục tiêu của giáo dục nước ta là làm sao cho trong một thời gian ngắn có thể giúp thế hệ trẻ có thể bắt lịp được những tiến bộ của
xã hội cong nghệ thông tin bùng nổ Để mục tiêu này thực hiện được chúng ta phải đầu tư nhiều cho giáo dục trên cơ sở vận dụng mọi biện pháp và nguồn lực của xã hội sẵn có Trước hết cần phải nâng cao chất lượng đội ngũ các thầy cô giáo, đội ngũ này cần phải được trang bị đầy đủ về kiến thức, phương pháp để có thể đáp ứng
được yêu cầu giảng dạy theo thời đại của mỗi nhà trường Nhiệm vụ đào tạo “người
thấy” được tiến hành theo hai giai đoạn: đào tạo ban đầu và đào tạo tiếp tục Như
vậy người đã đạt được bằng tốt nghiệp thuộc ngành nào đó mới chỉ coi là hoàn thành nhiệm vụ đào tạo ban đầu, việc đào tạo vẫn được tiếp tục trong quá trình công tác và làm việc của họ là bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ để học có thể có thể tòn tại và phát triển với nhu cầu của xã hội
Xuất phát từ yêu cầu thực tế chung ở các cơ sở giáo dục và đào tạo, yêu cầu của ngành học mầm non nói riêng cân phải có mục tiêu nhiệm vụ, bước đi cụ thể trong công tác bồi dưỡng lực lượng giáo viên có trình độ chuyên môn nghiệp vụ phù hợp với xu thế phát triển của đất nước Việc bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên tại các cơ sở giáo dục có nhiệm vụ củng cố đội ngũ giáo viên của cơ sở có đủ năng lực, am hiểu biết thực tế, học hỏi qua mọi hình thức để bổ xung kiến thức cho mình, năng động sáng tạo khi giảng dạy
Tại các cơ sở giáo dục của các trường mầm non, tôi thấy rõ vị trí và vai trò của giáo viên mầm non Giáo viên mầm non giữ vai trò chủ đạo trong việc tổ chức thực hiện các hoạt động chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục trẻ Giáo viên mầm non
là sự kết hợp hài hòa của một số các loại nghề: Giáo viên, nghệ sĩ, bác sĩ Vì vậy người quản lý cần phải xác định rõ nội dung cần bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên đáp ứng được yêu cầu của xã hội Việc tìm ra các biện pháp bồi dưỡng hoạt động nâng cao chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên với mục đích chung là mong
Trang 20muốn góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên trong nhà trường và chất lượng giáo dục của nhà trường
Hầu hết các công trình nghiên cứu đều khẳng định vai trò của của bồi dưỡng nâng cao năng lực cho đội ngũ GV có một ý nghĩa và vai trò rất quan trọng đối với hoạt động GD, là nhân tố trọng yếu nâng cao chất lượng dạy và học Lý luận bồi dưỡng và QL bồi dưỡng đội ngũ GV nói chung và GV nói riêng đã được các nhà
GD trong và ngoài nước nghiên cứu với nhiều góc độ khác nhau, tập trung vào vấn
đề cải tiến biện pháp QL hoạt động bồi dưỡng thường xuyên hoặc đổi mới chương trình đào tạo GV nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ Bên cạnh những công trình đánh giá tổng quan về thực trạng chất lượng đội ngũ nhà giáo của cả nước và đề xuất giải pháp thiết thực nâng cao chất lượng đội ngũ, cụ thể là công tác QL bồi dưỡng đội ngũ GV, còn có những công trình nghiên cứu đi vào tìm hiểu thực trạng
cụ thể của một số địa phương, những giải pháp gắn với thực tế của địa phương mình Các tác giả đã dựa vào thực trạng công tác QL bồi dưỡng đội ngũ GVMN của địa phương để đi sâu nghiên cứu, phân tích nguyên nhân những mặt mạnh và hạn chế, từ đó đề xuất các giải pháp hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả công tác này ở địa phương, đơn vị Nhìn chung, những công trình nghiên cứu trên góp phần quan trọng
gợi mở cho chúng tôi nghiên cứu đề tài Quản lý bồi dưỡng năng lực tổ chức thực
hiện thực hiện các hoạt động giáo dục cho giáo viên mầm non mới vào nghề Huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội” đảm bảo không trùng lặp, có ý nghĩa lý luận
và mặt thực tiễn
1.2 Các hoạt động giáo dục trong trường mầm non
Hoạt động là mối quan hệ tác động qua lại giữa con người (chủ thể) với thế giới (khách thể) để tạo ra sản phẩm cả về phía thế giới và cả về phía con người Trong mối quan hệ đó, có hai quá trình diễn ra:
+ Quá trình đối tượng hóa (còn gọi là quá trình xuất tâm): Là quá trình chuyển năng lực từ con người vào trong đối tượng, ghi dấu vết của con người vào sản phẩm lao động Đây là quá trình xuất tâm, tâm lý của con người (chủ thể) được bộc lộ,
Trang 21được khách quan hóa trong quá trình làm ra sản phẩm Nhờ vậy, chúng ta mới có thể tìm hiểu được tâm lý con người thông qua hoạt động của họ
+ Quá trình chủ thế hóa (còn gọi là quá trình nhập tâm): Là quá trình con người phản ánh những thuộc tính của đối tượng, của công cụ lao động, phương tiện lao động, trong quá trình sử dụng để tạo ra và làm phong phú tâm lý, ý thức của bản thân mình thông qua quá trình chiếm lĩnh thế giới Đây chính là quá trình chiếm lĩnh, lĩnh hội thế giới, là quá trình nhập tâm Vì thế, người ta có thể nói tâm lý là sự phản ánh thế giới khách quan, nội dung tâm lý do thế giới khách quan quy định Hoạt động là hình thức biểu hiện quan trọng nhất của mối quan hệ tích cực, chủ động của con người với tự nhiên, xã hội, với người khác, với chính mình Theo
Nguyễn Quang Uẩn: “Hoạt động là mối quan hệ tác động qua lại giữa con người
và thế giới để tạo ra sản phẩm cả về phía thế giới, cả về phía con người” [33]
Thông qua hoạt động con người nhận thức, cải tạo, sáng tạo thế giới đồng thời nhận thức, cải tạo và sáng tạo chính bản thân Hoạt động bao giờ cũng có chủ thể, đối tượng, mục đích Hoạt động luôn xuất phát từ động cơ do sự thôi thúc của nhu cầu, hứng thú, tình cảm, ý thức trách nhiệm Để đạt mục đích hoạt động, con người phải
sử dụng phương tiện, điều kiện
Hoạt động giáo dục trẻ trường MN bao gồm: Hoạt động học (Hoạt động học tập, chơi có chủ đích, hoạt động chung), hoạt động chơi (hoạt động vui chơi, hoạt động góc, hoạt động ngoài trời), hoạt động ngày hội, ngày lễ, hoạt động lao động
1.2.1 Hoạt động chơi
Trong trường mầm non hoạt động chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ em ở độ tuổi này Nhưng trong các hoạt động chơi đó nó cũng mang tính chất giáo dục và trẻ trong độ tuổi này được tham gia chơi các trò chơi cơ bản sau:
- Trò chơi đóng vai theo chủ đề
- Trò chơi ghép hình, lắp ghép, xây dựng
- Trò chơi đóng kịch
Trang 22- Trò chơi học tập
- Trò chơi vận động
- Trò chơi dân gian
- Trò chơi với các công nghệ hiện đại
Có thể thấy, vui chơi là hoạt động chủ đạo không chỉ vì trẻ mẫu giáo dành nhiều thời gian cho nó, mà chính là trò chơi mà tung tâm là trò chơi đóng vai theo chủ đề đã gây ra những biến đổi về chất trong tâm lý của trẻ Nó chi phối các dạng hoạt động khác làm cho chúng mang màu sắc độc đáo của tuổi mẫu giáo
Trong đó, hoạt động vui chơi là hoạt động chủ đạo Với hoạt động vui chơi đối với trẻ mẫu giáo có đặc thù riêng
Vui chơi là dạng hoạt động không mang tính bắt buộc, trẻ tham gia nhiệt tình
Đối với trẻ, trò chơi là một dạng hoạt động mang tính tự lập Trong khi chơi, trẻ mẫu giáo thể hiện rõ ý thức làm chủ, trẻ hoạt động hết mình, tích cực và độc lập
Trong trò chơi đóng vai theo chủ đề, đòi hỏi phải có sự phối hợp giữa các thành viên trong trò chơi với nhau Trò chơi đối với trẻ mẫu giáo thường phản ánh một mặt nào đó của xã hội người lớn xung quanh, mà hoạt động của người lớn thì bao giờ cũng mang tính chất xã hội Bởi vậy, để tiến hành một trò chơi nhằm mô phỏng lại đời sống xã hội thì nhất thiết phải có nhiều trẻ em tham gia Tính hợp tác
là một nét phát triển mới, một nét tiêu biểu trong vui chơi của trẻ mẫu giáo
Trang 23Trò chơi của tuổi mẫu giáo mang tính chất ký hiệu - tượng trưng Trong khi chơi, mỗi đứa trẻ đều tự nhận cho mình một vai nào đó và thực hiện hành động phù hợp với vai chơi, nhưng đấy chỉ là hành động giả vờ Trong khi chơi, trẻ còn lấy vật này thay thế vật kia và tự đặt tên cho vật thay thế, rồi sử dụng vật thay thế đó cho phù hợp với tên gọi của nó Tất cả những điều giả vờ trên lại mang một ý nghĩa rất thực, vì nó phản ánh một sự việc có thực đã xảy ra như vậy trong cuộc sống thực
Đó chính là sự ra đời của chức năng mới của ý thức: Chức năng ký hiệu - tượng trưng Trong đó, trò chơi đóng vai theo chủ đề có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển trí tưởng tượng của trẻ mẫu giáo Trong hoạt động vui chơi, đứa trẻ học thay thế đồ vật nài bằng các đồ vật khác, nhận đóng các vai khác nhau Đó là cơ sở để phát triển trí tưởng tượng Chính hoạt động vui chơi của trẻ đã làm nảy sinh hoàn cảnh chơi, tức làm nảy sinh trí tưởng tượng Bên cạnh đó, trò chơi đóng vai theo chủ đề có tác động rất mạnh đến sự phát triển đời sống tình cảm trẻ mẫu giáo Trẻ lao vào chơi với tất cả tinh thần say mê của nó Trong khi vui chơi trẻ tỏ ra vui sướng và nhiệt tình Khi phản ánh vào trò chơi những mối quan hệ giữa người và người và nhập vào những mối quan hệ đó thì những rung động mang tính người của trẻ được gợi lên Trong trò chơi trẻ đã thể hiện được tình người, như thái độ chu đáo, ân cần, sự đồng cảm, tinh thần tương trợ và một số phẩm chất đạo đức khác
Vì vậy, giáo viên cần tổ chức thực hiện cho trẻ những trò chơi phù hợp với
độ tuổi, chương trình lịch trình Chú ý cung cấp đầy đủ đồ chơi, tạo điều kiện cho trẻ được tìm hiểu, khám phá các hiện tượng thiên nhiên, các sự vật diễn ra ngoài môi trường thiên nhiên có xung quang trẻ Cần tạo cho trẻ tâm thế thoải mái, tránh
gò bó, áp đặt khiến cho trẻ khó tiếp thu Trong quá trình thực hiện tiết học giáo viên nên động viên kịp thời tính tích cực của trẻ Giờ học phải đảm bảo phương châm vừa học vừa học chơi, chú ý đến đặc điểm cá nhân của mỗi trẻ, tạo các tình huống
để trẻ giải quyết và đưa ra các câu trả lời khác nhau
1.2.2 Các hoạt động học
Các hoạt động học trong trường mầm non được hiểu là các hoạt động học được tổ chức thực hiện một cách có chủ ddịch theo kế hoạch dưới sự hướng dẫn
Trang 24trực tiếp của người giáo viên Hoạt động học ở mẫu giáo chủ yếu tổ chức thực hiện dưới hình thức: “Học mà chơi, chơi mà học”
ở trong các hoạt động học trong trường mầm non trẻ được trang bị rất nhiều điều bổ ích và phát triển một cách toàn diện của cơ thể: phát triển thể chất, phát triển về mặt nhận thức, phát triển về mặt ngôn ngữ, phát triển về tình cảm xã hội và phát triển cả mặt thẩm mỹ
Trong các hoạt động có chủ đích có kế hoạch của trẻ ở độ tuổi mầm non thì trẻ được tìm hiểu nhận biết về thế giới xung quanh mình qua các hoạt động khám phá khoa học Trẻ được phát triển thể chất qua các bài tập vận động giúp cơ thể của trẻ phát triển một cách đồng đều Trẻ được phát triển ngoon ngữ thông qua các từ ngữ các bài thơ câu hát, những truyện kể… Còn được thể hiện tình cảm thông qua các hạt động mà trẻ được trải nghiệm ngoài ra trẻ còn được bổ sung và khai thác về mặt thẩm mỹ của bản thân thông qua các hoạt đọng tạo hình, múa hát Các hoạt động được tổ chức thực hiện dưới dạng các hoạt động sau:
- Hoạt động phát triển thể chất
- Hoạt động khám phá khoa học
- Hoạt động Làm quen với toán
- Hoạt động làm quen với chữ cái
- Hoạt động làm quen với văn học
- Hoạt động phát triển thẩm mỹ
1.2.3 Hoạt động lao động
Hoạt động lao động đối với trẻ trong độ tuổi mầm non không nhằm tạo ra sản phẩm vật chất mà được sử dụng như một phương tiện giáo dục Hoạt động lao động đối với trẻ nhằm mục đích tạo cho trẻ biết bản thân mình làm được gì và chưa làm được cái gì và cần phải cố gắng phấn đấu tham gia vào các hoạt động chung của cả nhóm, cả lớp, biết giúp đỡ bạn bè và đoàn kết với nhau Đây cũng là điểm khởi đầu
Trang 25Hoạt động lao động của trẻ mẫu giáo bao gồm các hoạt động sau:
- Hoạt động lao động tự phục vụ
- Hoạt động lao động trực nhất
- Hoạt động lao động tập thể
1.2.4 Hoạt động ăn, ngủ, vệ sinh cá nhân
Các hoạt động ăn của trẻ, ngủ, vệ sinh cá nhân của trẻ ở trường mầm non là các hoạt động hằm hình thành một số nề nếp thói quen trong sinh hoạt hàng ngày, đáp ứng nhu cầu sinh lý của trẻ, tạo cho trẻ trạng thái vui vẻ
Ở các hoạt động ăn, ngủ, vệ sinh cá nhân được diễn ra nhằm giúp trẻ hình thành một số các nề nếp tốt trónginh hoạt giờ nào việc ấy Ngoià ra nó còn giúp cơ thể phát triển tốt cả về thể chất lẫn tinh thần: tạo sự điều hoa cơ thể khi tiết ra các
me tiêu hoát giupws cơ thể phát triển khỏa mạnh; tạo tâm lý cho trẻ được thoải mãi
và bước đầu hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ
1.3 Năng lực tổ chức thực hiện thực hiện các hoạt động giáo dục của giáo viên mầm non
1.3.1 Giáo viên mầm non mới vào nghề
Giáo viên mầm non mới vào nghề là: những giáo viên mới tốt nghiệp các trườn sư phạm mầm non và vừa xin được vào làm việc tại các trường sư phạm mầm non (thời gian làm việc được từ một ngày đến 5 năm), được Hiệu trưởng các trường mầm non đó phân công giữ trọng trách chăm sóc và giáo dục trẻ mầm non
Giáo viên mầm non mới vào nghề cũng là giáo viên, là người thầy đầu tiên đặt nền móng cho việc hình thành và phát triển nhân cách con người trong tương lai Nhân cách con người trong tương lai như thế nào phụ thuộc rất nhiều vào nền móng này Trong trường mầm non người giáo viên giữ vai trò chủ đạo trong việc tổ chức thực hiện các hoạt động chăm sóc và giáo dục trẻ Người giáo viên không chỉ
là người thầy mà họ còn là người mẹ, người bạn lớn tuổi đáng tin cậy và gần gữi nhất đối với trẻ Điều khác hơn của giáo viên mới vào nghề với giáo viên mầm non
Trang 26nói chung thì giáo viên mầm non mới vào nghề là những người mới học xong chương trình đào tạo chuyên môn của các trường trung cáp, cao đẳng, đại học và xin được vào làm tại các cơ sở giáo dục mầm non với thời gian rất ngắn hoặc chưa nhiều trong khoảng thời gian từ 1 ngày đến 5 năm
1.3.2 Đặc điểm của giáo viên mầm non mới vào nghề
a Điểm mạnh của giáo viên mầm non mới vào nghề
Hầu hết GVMN mới vào nghề được thỏa mãm ước mơ, khát vọng, họ có nhiệt huyết, yêu nghề, yêu trẻ cũng như mong muốn được trải nghiệm công việc, được ứng dụng kiến thức được học vào các hoạt động chăm sóc và giáo dục trẻ
b Điểm yếu của giáo viên mầm non mới vào nghề
Quá trình nghiên cứu về chủ đề Giáo viên mới vào nghề cho thấy đa số các bài nghiên cứu xuất phát từ Mỹ và các nước châu Âu Đây là chủ đề được các nhà nghiên cứu và giáo dục phương Tây chú ý từ nhiều thập kỉ trước và đến nay vẫn còn được khai thác Rất hiếm nghiên cứu ở châu Á về đề tài này Các nghiên cứu chỉ ra những bấp cập chủ yếu hay khó khăn của giáo viên nói chung và GV mầm non mới vào nghề là:
Những kì vọng phi thực tế: Về vai trò của người giáo viên trong mối quan
hệ với học sinh: Các nghiên cứu cho thấy giáo viên mới vào nghề thường cho rằng vai trò của họ là người đứng đầu và có quyền lực cao nhất trong lớp học Điều này thể hiện ở niềm tin rằng họ sẽ nhận được sự biết ơn, yêu mến, tôn trọng và vâng lời tuyệt đối từ tất cả học sinh
Về việc dạy học: phần lớn nghiên cứu đều có chung một kết quả là giáo viên chuẩn bị vào nghề quá tự tin về khả năng thành công trong dạy học của họ Đặc biệt, nhiều giáo viên còn tin rằng họ sẽ không gặp những rắc rối với những vấn đề
mà đồng nghiệp của họ thường gặp Đó là những vấn đề về ứng xử với học sinh, thành lập quy tắc và giữ quy tắc, đối diện với sự đa dạng thành phần học sinh, và
Trang 27giữ kỉ luật Các nhà nghiên cứu đều có chung nhận định là giáo viên chuẩn bị vào nghề quá lạc quan về khả năng đương đầu với tình huống khó trong sư phạm
Về môi trường làm việc: Các giáo viên mới đều kì vọng vào một môi trường làm việc lý tưởng, ở đó họ luôn được Ban giám hiệu và đồng nghiệp nhiệt tình giúp
đỡ Những giáo viên này bày tỏ sự hy vọng về một môi trường làm việc hợp tác, không xung đột và có tổ chức thực hiện; trong đó, những bên có liên quan như đồng nghiệp, phụ huynh, cộng đồng và xã hội sẽ thừa nhận, hỗ trợ, hợp tác, và trân trọng những cố gắng của giáo viên
Ứng xử sư phạm:
Giữ kỉ luật lớp học là khó khăn thường gặp của các giáo viên mới vào nghề GVMN Mới vào nghề khó lôi kéo sự tập trung của học sinh vào tiết học hơn so với giáo viên kinh nghiệm
Đối diện những vấn đề về kỉ luật lớp học, sử dụng hình phạt hay không cũng
là một quan tâm của giáo viên mới Mặc dù “trừng phạt” vẫn còn là một cụm từ gây tranh cãi trong giáo dục, có nhiều giáo viên vẫn tin trừng phạt là khó tránh khỏi và cần sử dụng nó như một hình thức giữ kỉ luật lớp học Thậm chí, họ còn tin đấy là một trong những nhiệm vụ của giáo viên Giáo viên mới bày tỏ sự bối rối, mơ hồ trong việc sử dụng hình phạt thích hợp để giữ kỉ cương, nề nếp lớp học
Bên cạnh kỉ luật lớp học, đối diện với sự đa dạng thành phần học sinh cũng
là một thách thức cho giáo viên mới vào nghề Sự chênh lệch về kiến thức nền của các nhóm học sinh trong lớp khiến giáo viên mới bối rối trong đặt câu hỏi, ra bài tập
và đánh giá Ngoài ra, sự khác nhau về hoàn cảnh gia đình, môi trường sống của các học sinh trong lớp, nhu cầu đặc biệt và mong muốn của từng cá nhân học sinh cũng
là những khó khăn mà giáo viên mới phải đương đầu
Kiến thức và phương pháp dạy học: GVMN mới chưa nắm được chương
trình tổ chức thực hiện các hoạt động GD&CS trẻ Họ không hiểu được toàn bộ bức tranh tổng thể và ý đồ về cách thức tổ trọng tâm trong chương trình Vì thế, họ
Trang 28thường chỉ chú ý bài học sẽ dạy tiếp theo và chuẩn bị các bài giảng một cách rời rạc
Giáo viên mới trong các nghiên cứu không gặp vấn đề lớn về kiến thức mà thay vào đó, phương pháp giảng dạy dường như đáng quan tâm hơn Các giáo viên mới gặp khó khăn trong lựa chọn phương pháp giảng dạy và tạo dựng môi trường học tập phù hợp, trong đó, vừa kích thích được sự sáng tạo của học sinh, vừa giữ được kỉ luật lớp học Cách tổ chức thực hiện một bài học cũng có vấn đề Một số giáo viên mới trong các nghiên cứu nói rằng họ không biết làm thế nào để dẫn dắt học sinh vào bài học một cách lý thú; hoặc làm sao để phát huy sự tập trung của học sinh, không nhàm chán và mất tập trung
Nghiên cứu thêm về giáo viên mới và phương pháp dạy học, các khảo sát và phỏng vấn gần đây đều cho thấy có sự mâu thuẫn giữa suy nghĩ và thực tế giảng dạy của những giáo viên này Theo đó, các giáo viên được nghiên cứu đều thể hiện niềm tin đối với hiệu quả của phương pháp dạy học tích cực, lấy học sinh làm trung tâm
Họ cũng khẳng định việc sử dụng các phương pháp này trong giảng dạy Tuy nhiên, bằng dự giờ và quan sát, kết quả cho thấy các tiết dạy vẫn thiên về phương pháp truyền thống với giáo viên là trung tâm Mặc dù vậy, nhiều nghiên cứu khác cũng khẳng định sự thiếu hụt về kĩ năng giảng dạy có thể được cải thiện đáng kể qua thực tập sư phạm và thời gian tập sự, khi mà các giáo viên này có cơ hội thực hành dạy học trên lớp
Cảm xúc: Sốc với thực tế (reality-shock) và bị vỡ mộng (dissillusionment)
là cảm xúc mà đa số giáo viên mô tả về cảm giác họ trải qua trong những năm đầu mới vào nghề Đó là “sự sụp đổ của những lý tưởng giáo điều được tạo nên từ các chương trình đào tạo giáo viên khi đối diện với sự lộn xộn và thô lỗ của thực tế lớp học” (Veenman, 1984, tr.143) Nhìn chung, đó là sự cách biệt giữa sự kì vọng của giáo viên với điều kiện thực tế dạy học Nguyên nhân của những cảm giác này liên quan đến những mong muốn phi thực tế về vai trò của giáo viên – học sinh, về việc dạy học và về môi trường làm việc; cũng như các vấn đề thực tế trong ứng xử sư
Trang 29Sự căng thẳng (stress) của giáo viên mới vào nghề là một đề tài được khai thác sâu rộng qua nhiều nghiên cứu của các nước phương Tây từ nhiều thập kỉ qua Qua đó, các yếu tố gây căng thẳng cũng đã được xác định, rằng có liên quan mật thiết đến các vấn đề mà giáo viên phải đương đầu trong những năm đầu họ bước vào nghề Các yếu tố này xuất phát từ những điều kiện về môi trường và hoàn cảnh
cụ thể Ví dụ: số trẻ em hiếu động, số trẻ em có vấn đề, số trẻ em mới đến lớp cũng như nhóm trẻ khác nhau…
Hậu quả của sự căng thẳng nói trên là, ở các nước được nghiên cứu, tỉ lệ các giáo viên, sau thời gian ngắn vào nghề, bỏ việc (burnout) rất lớn Rất nhiều nghiên cứu đã xác nhận mối liên hệ sâu sắc giữa sự căng thẳng và bỏ việc ở giáo viên mới vào nghề Tuy nhiên, không phải tất cả các giáo viên bị căng thẳng đều bỏ việc mà
có những giáo viên có thể vượt qua và đạt được thành công Đó là những giáo viên
có niềm tin mạnh mẽ về khả năng của bản thân trong việc vượt qua những cảm xúc tiêu cực và thích ứng với hoàn cảnh bằng sự năng động tìm tòi
Ngoài ra, giáo viên mới vào nghề còn là những người rất dễ bị tổn thương
Từ các nghiên cứu, những giáo viên này bày tỏ cảm giác thiếu tự tin của bản thân khi thất bại trong thực tế giảng dạy và đặc biệt khi bị người khác phê phán về điều
đó Cảm giác này thể hiện rõ khi các giáo viên mới thường xuyên bị giám sát và đánh giá bởi các đồng nghiệp, nhà quản lý, phụ huynh, và cả học sinh
Trái ngược với cảm giác thường xuyên bị giám sát, các giáo viên mới vào nghề cũng thường cảm thấy lẻ loi và bị cô lập Đó là khi thiếu vắng sự quan tâm và hướng dẫn từ phía nhà trường và các đồng nghiệp Đó là sự khó hoà nhập vào môi trường mới với những người mới khiến cho một số giáo viên mới vào nghề cảm thấy e ngại khi cần hỏi sự giúp đỡ từ các giáo viên khác
Nhu cầu: Các giáo viên mới vào nghề trong các nghiên cứu trên cũng phản
ánh nhu cầu của họ, cụ thể là những hỗ trợ thiết thực và hỗ trợ tinh thần Qua những nhu cầu được phản ánh cho thấy vai trò của nhà quản lí, người hướng dẫn và các đồng nghiệp rất quan trọng trong việc giúp các giáo viên vượt qua giai đoạn mới
Trang 30vào nghề một cách nhẹ nhàng Mối quan hệ tốt với đồng nghiệp sẽ giúp họ có thể thoải mái chia sẻ ý kiến và tìm câu trả lời về những vấn đề vướng mắc cụ thể như soạn giáo án, giữ kỉ luật lớp học, tổ chức thực hiện hoạt động ngoài giờ, lồng ghép các hoạt động giáo dục…
Thời gian đầu mới vào nghề cũng cần được xem như là thời gian học việc
Từ đó, việc đánh giá giáo viên mới với các kĩ năng của họ cũng cần theo tiêu chí của người đang học việc để giảm bớt căng thẳng Thay vào đó, sự giúp đỡ từ phía nhà trường và đồng nghiệp để giáo viên mới hình thành và hoàn thiện các kĩ năng cần thiết, cũng như chia sẻ về tinh thần, giúp họ hoà nhập vào môi trường mới là quan trọng
1.3.3 Năng lực tổ chức thực hiện thực hiện các hoạt động giáo dục của giáo viên mầm non
a Năng lực
Theo từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học thì năng lực được hiểu là:
“Phẩm chất, tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó với chất lượng cao” [2, tr.326]
Năng lực được định nghĩa là, theo Bernard Wynne “năng lực là một tập hợp
các kỹ năng, kiến thức, hành vi và thái độ được cá nhân tích luỹ và sử dụng để đạt được kết quả theo yêu cầu công việc ”1
Năng lực = Kỹ năng + kiến thức + Hành vi + Thái độ
Theo Raymond A.Noe, “năng lực muốn chỉ đến khả năng cá nhân giúp người
nhân viên thực hiện thành công công việc của họ bằng cách đạt được kết quả công việc mong muốn Năng lực có thể là hiểu biết, kỹ năng, thái độ hay giá trị của tính cách cá nhân”2
Trang 31
Có thể thấy, năng lực luôn gắn với một chủ thể nhất định Và chủ thể đó có thể là cá nhân hoặc tổ chức thực hiện Năng lực hình thành và bộc lộ trong hoạt động, chịu sự ảnh hưởng của bản sắc dân tộc, môi trường và hoạt động của bản thân
Có nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề này
Quan điểm thứ nhất cho rằng: “khả năng” là một nội dung của “năng lực” Năng lực là yếu tố tổng hợp sức mạnh của một cá nhân, bao gồm yếu tố thể hiện ra bên ngoài và yếu tố tiềm ẩn bên trong “Khả năng cá nhân” chính là yếu tố tiềm ẩn bên trong
Quan điểm thứ hai: “Khả năng” mới là yếu tố tổng hợp thế mạnh của một cá nhân, “năng lực” chính là thể hiện ra bên ngoài của “khả năng” “Năng lực” là yếu
tố có thể nhận biết, hoặc từng khía cạnh của nó có thể định lượng được
Quan điểm thứ ba: “Năng lực” cũng chính là “khả năng” hay “khả năng cá nhân”
Với mục đích đánh giá, định lượng được yếu tố “năng lực” hay “khả năng”, luận văn này cũng chỉ sẽ đề cập đến những yếu tố thể hiện của “năng lực” hay “khả
năng” Vì vậy hai khái niệm được thể hiện như nhau trong luận văn
Thứ hai, “năng lực” bao gồm các yếu tố “hiểu biết”, “kỹ năng”, “thái độ”
Hai khái niệm trên đều thống nhất về nội dung này Năng lực được thể hiện ở tầm tri thức, khả năng áp dụng tri thức vào công việc và cách ứng xử của cá nhân đó trong công việc
Theo Raymond A.Noe, năng lực còn bao hàm các yếu tố là “giá trị của tính cách cá nhân” Tính cách cá nhân là yếu tố ổn định, khó thay đổi Nó được coi là
Trang 32đặc trưng của từng cá nhân Thực tế, người ta chỉ phát huy hay hạn chế tính cách, hoặc thay đổi thói quen nhưng không thay đổi tính cách Vì vậy, luận văn này sẽ không đề cập đến yếu tố “tính cách cá nhân”
Thứ ba, “Năng lực” gắn liền với việc thực hiện công việc, được thể hiện bằng
kết quả công việc “Năng lực” mang đặc thù công việc và đặc trưng cá nhân
Tiếp theo, vấn đề năng lực có đồng nhất với trình độ và trình độ cá nhân hay
không?
Trình độ là: “Mức độ về sự hiểu biết, về kỹ năng được xác định hoặc đánh giá
theo tiêu chuẩn nhất định nào đó”
Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của một cá nhân: là toàn bộ những năng lực (kiến thức, kỹ năng, thái độ hành vi) về một lĩnh vực cụ thể mà một cá nhân nắm vững được Sự phối kết hợp những năng lực đó cho phép thực hiện một số công việc
hoặc hoạt động cụ thể trong một phạm vi nghề nghiệp nhất định [12]
Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của một vị trí làm việc hay của một công việc:
là một tổng thể những năng lực (kiến thức, kỹ năng, thái độ hành vi) cần thiết để làm chủ một cấp độ làm việc nào đó, đảm nhiệm một vị trí, một công việc hay một
nghề nghiệp cụ thể [12]
Theo khái niệm trên,
Trình độ = Năng lực = (Kiến thức + Kỹ năng + Thái độ) đạt ở mức nhất định
Như vậy, trình độ chính là năng lực đạt được ở mức độ nhất định nào đó
“Trình độ” gắn liền với quá trình đào tạo, được thể hiện bằng kết quả công việc “Trình độ” mang đặc thù công việc và đặc trưng cá nhân
Tóm lại, khái niệm năng lực được sử dụng trong luận văn này: Năng lực được
hiểu là tổng hợp kiến thức, kỹ năng, thái độ của cán bộ, nhằm thực hiện tốt công việc được giao [12, tr.34]
Trang 33b Năng lực tổ chức thực hiện thực hiện các hoạt động giáo dục của giáo viên mầm non
Lao động của giáo viên mầm non không chỉ khép trong trường mầm non, mà phải biết kết hợp chặt chẽ với việc chăm sóc giáo dục trong gia đình, cộng đồng, hòa nhập với chương trình phát triển văn hóa – xã hội ở địa phương
Giáo viên mầm non còn là người tuyên truyền phổ biến những kiến thức nuôi dạy trẻ cho các bậc cha mẹ, các thành viên trong cộng đồng, thực hiện tốt công tác
xã hội hóa giáo dục, xã hội hóa trẻ em Nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục trẻ, đồng thới phát huy mọi tiềm năng, của cải vật chất trong xã hội, trong cộng đồng trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ
Sản phẩm lao động của giáo viên mầm non; là giúp trẻ phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mĩ, ngôn ngữ, hình thành những yếu tố ban đầu của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ bước vào học lớp 1
Để đảm bảo chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ phát triển một cách toàn diện, đòi hỏi người giáo viên mầm non phải là người có trình độ khoa học nuôi dạy trẻ,
có năng lực sư phạm và có những phẩm chất nghề nghiệp cần thiết mới hoàn thành tốt nhiệm vụ xã hội giao phó
Vì vậy việc nâng cao năng lực tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục cho giáo viên mầm non là một việc làm rất cần thiết trong mỗi cơ sở giáo dục mầm non
Năng lực sư phạm nói chung: Năng lực sư phạm là tổ hợp những đặc điểm tâm
lý cá nhân của nhân cách đáp ứng yêu cầu của hoạt động sư phạm và quyết định sự thành công trong việc nắm vững và thực hiện hoạt động ấy” Năng lực tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục: là khả năng của người giáo viên có thể thực hiện những hoạt động giáo dục cho trẻ Giáo viên có năng lực sư phạm là người đã tích lũy được vốn tri thức, hiểu biết và kĩ năng nhất định để làm tốt hoạt động giáo dục trẻ
Mối quan hệ giữa năng lực và kĩ năng: Năng lực và kĩ năng có mối quan
hệ chặt chẽ, năng lực sư phạm là thuộc tính là đặc điểm của nhân cách, còn kĩ
Trang 34năng sư phạm là những thao tác riêng của hoạt động sư phạm trong các dạng hoạt động cụ thể
Năng lực tổ chức thực hiện thực hiện hoạt động giáo dục trẻ là khả năng kết hợp một cách linh hoạt, có tổ chức thực hiện hợp lý các kiến thức, kĩ năng với thái
độ nhằm đáp ứng những yêu cầu phức hợp của các HĐGD cho trẻ MN Năng lực này bao gồm số kĩ năng tương ứng như; kĩ năng lựa chọn và vận dụng nội dung giáo dục, các phương pháp và hình thức tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục;
kĩ năng soạn bài, tổ chức thực hiện các hoạt động học tập cũng như hoạt động độc lập của trẻ; kĩ năng kèm cặp và giúp đỡ học sinh kém, bồi dưỡng học sinh giỏi; kĩ năng sử dụng thành thạo các phương tiện dạy học; kĩ năng phân tích, đánh giá, rút kinh nghiệm các HĐGD, kiểm tra đánh giá tri thức, kĩ năng, kĩ xảo của trẻ nắm được thông qua các HĐGD
Như vậy, năng lực tổ chức thực hiện các HĐGD là thành tố quan trọng của năng lực sư phạm, bao gồm trong nó những kĩ năng chuyên biệt về giáo dục như; kĩ năng sử dụng các phương pháp, hình thức giáo dục trẻ; kĩ năng tổ chức thực hiện, phối hợp các lực lượng giáo dục; kĩ năng tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục nội, ngoại khóa; kỹ năng, phương pháp tổ chức thực hiện các hoạt động vận động;
kỹ năng tổ chức thực hiện các trò chơi theo chủ đề; kỹ năng lồng ghép các hoạt động giáo dục…
- Có nhiều nghiên cứu phân chia các năng lực sư phạm nói chung và năng lực tổ chức thực hiện các HĐGD thành 3 nhóm đó là:
+ Năng lực thuộc về nhân cách : Lòng yêu trẻ là phẩm chất cơ bản trong cấu trúc nhân cách sư phạm Năng lực tự kiềm chế và tự chủ là một phẩm chất quan trọng đối với giáo viên, đòi hỏi giáo viên trong mọi tình huống, mọi hoàn cảnh đều làm chủ được bản thân mình, điều khiển được tình cảm tâm trạng của mình; năng lực điều khiển được các trạng thái tâm lí, tâm trạng của mình để sao cho giáo viên luôn linh hoạt giải quyết mọi tình huống khi tổ chức thực hiện các HĐGD
Trang 35+ Năng lực dạy học: Bao gồm năng lực chuẩn bị, năng lực thực hiện, năng lực sử dụng ngôn ngữ của giáo viên, năng lực sử dụng các thiết bị và phương tiện dạy học, năng lực hoạt động trong và ngoài trường, năng lực kiểm tra đánh giá
+ Năng lực tổ chức thực hiện, giao tiếp: Năng lực tổ chức thực hiện thể hiện
ở hai mặt Tổ chức thực hiện tập thể học sinh và tổ chức thực hiện công việc của chính mình Năng lực này được thể hiện qua tính cẩn thận và chính xác khi lập kế hoạch hoạt động và kiểm tra hoạt động; năng lực giao tiếp là năng lực thiết lập các mối quan hệ qua lại đúng đắn giữa con người với con người, giữa cá nhân với tập thể, có tính đến đặc điểm cá nhân và lứa tuổi của trẻ
1.4 Bồi dƣỡng năng lực tổ chức thực hiện thực hiện các hoạt động giáo dục cho GVMN mới vào nghề
1.4.1 Bồi dưỡng năng lực tổ chức thực hiện thực hiện các hoạt động giáo dục
Bồi dƣỡng:
Theo Từ điển tiếng Việt: “Bồi duỡng là làm cho tăng thêm năng lực hoặc
phẩm chất”
Theo từ điển GD học: “Bồi dưỡng (nghĩa rộng) là quá trình giáo dục, đào tạo
nhằm hình thành nhân cách và những phẩm chất riêng biệt của nhân cách theo hướng mục đích đã chọn; Bồi dưỡng (nghĩa hẹp) là trang bị thêm kiến thức, kỹ năng nhằm mục đích nâng cao và hoàn thiện năng lực trong các lĩnh vực hoạt động
Trang 36Khái niệm bồi dưỡng mà đề tài tập trung nghiên cứu là trang bị thêm kiến
thức, kỹ năng nhằm nâng cao năng lực tổ chức thực hiện các HDGD cho GVMN mới vào nghề
Bồi dưỡng năng lực tổ chức thực hiện thực hiện các hoạt động giáo dục cho
GVMN mới vào nghề là quá trình diễn ra một loạt những hành động tác động vào
đối tượng GV giúp họ cập nhật cách thức tổ chức thực hiện HĐGD, nội dung các HĐGD, hình thức, phương pháp tổ chức thực hiện các HĐGD cho trẻ MN
1.4.2 Các yếu tố của bồi dưỡng năng lực tổ chức thực hiện thực hiện các hoạt động giáo dục
Mục tiêu bồi dƣỡng: Mục tiêu bồi dưỡng là kết quả dự kiến cần đạt của hoạt
động bồi dưỡng Qua quá trình bồi dưỡng, GV cần:
- Nắm rõ được hệ thống về các hoạt động GDMN hiện tại
- Kỹ năng sử dụng phối hợp các phương pháp, hình thức tổ chức thực hiện các HĐGD cho trẻ MN mọi lứa tuổi, nhóm lớp
- Ý thức tầm quan trọng đặc biệt của tổ chức thực hiện HĐGD trong trường
MN để không ngừng học tập, bồi dưỡng nâng cao năng lực tổ chức thực hiện các HĐGD cho trẻ MN; yêu nghề sư phạm
Từ mục tiêu bồi dưỡng chung, chủ thể thực hiện bồi dưỡng cần cụ thể hóa qua từng hoạt động bồi dưỡng cụ thể Mục tiêu bồi dưỡng cần được xác định cần rõ ràng, cụ thể, có khả năng lượng hóa, có tính khả thi
Nội dung bồi dƣỡng: Nội dung bồi dưỡng cần được chọn lọc kiến thức cơ
bản, khoa học, hiện đại, cập nhật cách thức tổ chức thực hiện các HĐGD cho trẻ
MN hiện nay Qua hệ thống nội dung bồi dưỡng, GV hình thành được năng lực tổ chức thực hiện các HĐGD: các HĐGD cho trẻ MN GV có tổ chức thực hiện cho trẻ được đóng vai theo chủ đề; chơi ghép hình, lắp ráp, xây dựng; tổ chức thực hiện trò chơi đóng kịch nhằm giúp trẻ phát triển tưởng tượng và cảm thụ tác phẩm văn học
Trang 37ngày; Ttổ chức thực hiện cho trẻ được chơi các trò chơi vận động, trò chơi dân gian
và các trò chơi hiện đại; Tổ chức thực hiện hoạt động có chủ đích hàng ngày cho trẻ nhằm giúp trẻ lĩnh hội những kiến thức mới, phù hợp với lứa tuổi; Rèn các kĩ năng
tự phục vụ qua hoạt động giáo dục; Phân công cho trẻ lao động trực nhật với những công việc phù hợp khả năng; Tạo cơ hội cho trẻ được lao động tập thể cùng nhau;
Tổ chức thực hiện giờ ăn, giờ ngủ, vệ sinh cá nhân nhằm hình thành nền nếp, thói quen sinh hoạt cho trẻ…
.Hình thức tổ chức thực hiện bồi dƣỡng: Để chuyển tải nội dung bồi dưỡng
đến GV hiệu quả, hình tổ chức thực hiện hoạt động bồi dưỡng phong phú, sinh động, hấp dẫn Thông thường, ở trường MN, GV được tham gia các lớp đào tạo, bồi dưỡng để chuẩn hóa hoặc nâng chuẩn; bồi dưỡng cập nhật về nghiệp vụ sư phạm qua hoạt động giảng dạy thực tiễn tại cơ sở; bồi dưỡng thường xuyên theo chu kỳ; bồi dưỡng chuyên đề dành cho GV; bồi dưỡng thay sách, tập huấn về đổi mới nội dung, phương pháp, chương trình – chủ điểm, bồi dưỡng về đổi mới kiểm tra, đánh giá vào dịp hè và tự bồi dưỡng Hình thức bồi dưỡng tập trung ngắn hạn gồm các nội dung do yêu cầu đổi mới GD Hình thức bồi dưỡng ngắn hạn định kỳ dành cho các lớp tập huấn thay sách, tổ chức thực hiện chuyên đề cho GV mạng lưới chuyên môn và bồi dưỡng thường xuyên Hình thức bồi dưỡng tập trung dài hạn, từ xa để đào tạo đạt chuẩn, vượt chuẩn bồi dưỡng tại chỗ là hoạt động tự bồi dưỡng của GV thông qua giảng dạy thực tế như dự giờ, chuyên đề, hội thảo bộ môn và tự học Những hình thức bồi dưỡng tiêu biểu sau sẽ có hiệu quả cao trong nâng cao năng lực tổ chức thực hiện các HĐGD cho GV:
Hội thảo: Hội thảo là cuộc thảo luận về một số vấn đề có tính khoa học về lý
luận và thực tiễn về tổ chức thực hiện HĐGD trong trường MN Hội thảo là diễn dàn huy động trí tuệ tập thể chia sẻ thấu hiểu toàn diện lý luận và thực tiễn, gợi mở nhiều ý tưởng sáng tạo cho nghiên cứu khoa học Ban tổ chức thực hiện cần được xác định rõ mục tiêu, nội dung, hình thức, phương tiện, thời gian, địa điểm, kinh thí…và thông báo để huy động đối tượng tham gia, đặc biệt là các nhà khoa học, chuyên gia về vấn đề hội thảo Cùng với việc huy động đông đảo người tham gia,
Trang 38ban tổ chức thực hiện cần đặt những bài tham luận đánh dấu mốc khoa học quan trọng cho hội thảo ở các chuyên gia có nhiều trải nghiệm thực tiễn, nghiên cứu khoa học qua đó GV được học hỏi nhiều nhất Hội thảo cần chú trọng báo cao tham luận, thảo thuận để được chia sẻ nhiều nhất về lý luận và kinh nghiệm thực tiễn tổ chức
thực hiện các HĐGD cho GV
Hội thi: Hội thi là cách thức tổ chức thực hiện thi đấu, tranh tài có tổ chức
thực hiện với sự tập hợp số đông GV nhằm đạt được mục tiêu bồi dưỡng năng lực
tổ chức thực hiện các HĐGD cho GV Tổ chức thực hiện hội thi thành công cần thực hiện công việc: chuẩn bị: xác định đối tượng, đặt tên, xác định mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức hội thi, giải thưởng, điều kiện, cơ sở vật chất, ban tổ chức thực hiện, ban giám khảo, dẫn chương trình Ban tổ chức thực hiện thiết kế chương trình, xây dựng kịch bản hội thi, triển khai, tổng kết, đánh giá hội thi khoa học, nghệ thuật Những hình thức thi đạt hiệu quả trong bồi dưỡng tổ chức thực hiện các HĐGD cho GV: Thi tìm hiểu về các phương pháp, kỹ thuật dạy học hiện đại, hội thi GV giỏi, thi viết sáng kiến kinh nghiệm về đổi mới tổ chức thực hiện các HĐGD cho GV…
Giao lưu: Giao lưu là hoạt động nhằm tạo ra các điều kiện cần thiết để GV
được tiếp xúc, trao đổi với những nhân vật có nhiều thành công trong đổi mới tổ chức thực hiện các HĐGD cho GV Qua đó, SV có nhận thức, tình cảm, thái độ phù hợp, có được những lời khuyên đúng đắn để vươn lên trongdạy học, rèn luyện nhằm hoàn thiện năng lực tổ chức thực hiện các HĐGD cho GV Đầu tiên, người tổ chức thực hiện xây dựng kế hoạch giao lưu: xác định mục tiêu, nội dung , những đối tượng, điều kiện, phương tiện, thời gian đặt tên cho buổi giao lưu Đặc biệt chú ý chọn đối tượng giao lưu là người có NL, có nhiều kinh nghiệm, thành công trong tổ chức thực hiện các HĐGD Thiết kế được bản kế hoạch rõ ràng, chi tiết sẽ giúp cho việc chuẩn bị và tổ chức thực hiện giao lưu thành công Những hình thức giao lưu đạt hiệu quả cao trong bồi dưỡng năng lực tổ chức thực hiện các HĐGD cho GV: kết hợp giao lưu trực tiếp và gián tiếp thông qua ghi âm, ghi hình phỏng vấn, nói
Trang 39chuyện…của những người nhiều kinh nghiệm tổ chức thực hiện các HĐGD Dẫn
chương trình cần có nghệ thuật dẫn dắt, gợi mở, đặt câu hỏi
Tập huấn: Tập huấn là một quá trình dạy và học nhằm giúp cho GV thực hiện
các phương pháp, hình thức tổ chức thực hiện các HĐGD mà trước đó họ chưa thực hiện được
Các bước thực hiện tập huấn nâng cao năng lực tổ chức thực hiện các HĐGD cho GV:
Trải qua kinh nghiệm là người học khám phá ra những thông tin mới nhờ tham gia vào một hoạt động Các hoạt động có thể là: Câu hỏi thảo luận nhóm, bài tập cho nhóm, thực hành một kỹ năng, sắm vai, trò chơi…
Phản ánh kinh nghiệm: Người học rút ra những kinh nghiệm dưới dạng suy nghĩ, cảm xúc… nói chung những điều quan trọng mà họ học được sau khi trải qua một hoạt động
Đút kết thành bài học: Trong bước này học viên suy ra những kết quả thảo luận trong bước 2 để xác định xem bài học nào được rút ra?
Áp dụng vào thực tiễn: GV cần áp dụng tổ chức thực hiện các HĐGD vào thực tiễn Hai cách thường dung là: GV thực hành kỹ năng; lập chương trình hành động
cụ thể
Sinh hoạt chuyên môn thường xuyên ở tổ bộ môn: Sinh hoạt tổ chuyên môn
là một hoạt động nhằm bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực sư phạm cho
GV, góp phần tháo gỡ những khó khăn trong quá trình giảng dạy và thực hiện nhiệm vụ Nội dung sinh hoạt tổ chuyên môn là những vấn đề về thực hiện nhiệm
vụ giảng dạy và GD HS, thực hiện các văn bản chỉ đạo, thực thi nhiệm vụ năm học
và các yêu cầu mang tính thức tiễn được mang ra thảo luận, phân tích dưới nhiều góc độ và rút ra những kết luận sư phạm, những biện pháp khả thi có thể vận dụng vào thực tiễn, từ đó nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của GV Sinh hoạt tổ chuyên môn nhằm góp phần bồi dưỡng GV theo Chuẩn nghề nghiệp GV
Trang 40Để việc sinh hoạt tổ chuyên môn trong nhà trường đạt được mục tiêu về bồi dưỡng năng lực tổ chức thực hiện các HĐGD cho GV, cần thực hiện có hiệu quả các biện pháp sau: Tổ chức thực hiện các chuyên đề chuyên môn về tổ chức thực hiện các HĐGD; Rèn luyện kỹ năng sư phạm của GV trong việc đổi mới PPDH; Tổ chức thực hiện các tiết dự giờ, thao giảng vận dụng các tổ chức thực hiện các HĐGD tích cực; Nâng cao vai trò tổ chức thực hiện của tổ trưởng chuyên môn; Tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện kế hoạch đổi mới tổ chức thực hiện các HĐGD của tổ chuyên môn
Tự học, tự nghiên cứu: Vấn đề tự học, tự nghiên cứu nhằm thực hiện phương
châm “học thường xuyên”,”học suốt đời” là chiến lược mang tính toàn cầu đang được Bộ GDĐT phát động Hoạt động tự học, tự nghiên cứu của GV diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau tương ứng với từng mức độ khác nhau, cụ thể:
Hình thức 1: Hoạt động tự học, tự nghiên cứu diễn ra trong quá trình tham gia
bồi dưỡng tổ chức thực hiện các HĐGD - có sự điều khiển trực tiếp của người dạy
Hình thức 2: Hoạt động tự học, tự nghiên cứu diễn ra ở tổ nhóm chuyên môn,
ở trường - tự GV chia sẻ kinh nghiệm về PPDH với nhau không có sự điều khiển trực tiếp của người dạy
Hình thức 3: Hoạt động tự học, tự nghiên cứu cũng có thể được diễn ra khi
chủ thể tự tìm kiếm tri thức để thỏa mãn những yêu cầu hiểu biết về chính trị, thông tin kinh tế - xã hội hay chuyên môn nghiệp vụ của mình bằng cách tự tìm tư liệu, tự tham gia hội thảo sinh hoạt chuyên đề về tổ chức thực hiện các HĐGD để tự rút ra kinh nghiệm về tư duy
Trải nghiệm thực tiễn: Trải nghiệm thực tiễn là một phạm trù bao hàm nhiều
phương pháp, trong đó khuyến khích GV tham gia trải nghiệm thực tế, sau đó phản ánh, tổng kết lại để tăng cường hiểu biết, phát triển kỹ năng, định hình các giá trị sống và phát triển tiềm năng bản thân, tiến tới đóng góp tích cực cho cộng đồng và
xã hội