Chương 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM TÂM LÝ CỦA HỌC SINH CÓ HÀNH VI BẠO LỰC HỌC ĐƯỜNG Ở MỘT SỐ TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ .... Tuy nhiên, trong thực tế một bộ phận không nhỏ
Trang 1GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SU PHẠM HÀ NỘI
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SU PHẠM HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS Vũ Thị Khánh Linh
Hà Nội, năm 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn này là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi Các số liệu và tài liệu được trích dẫn trong luận văn là trung thực Kết quả nghiên cứu này không trùng với bất cứ công trình nào đã được công bố trước đó
Tôi chịu trách nhiệm với lời cam đoan của mình
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Tâm
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng sau Đại học và Thư viện trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn ở trường
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo trong khoa Tâm lý – Giáo dục trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã nhiệt tình giảng dạy, hướng dẫn, quan tâm, giúp đỡ và cung cấp cho em những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học tập tại Khoa
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô hướng dẫn – TS Vũ Thị Khánh
Linh đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em trong
suốt quá trình tìm hiểu, nghiên cứu làm luận văn cho tới khi hội đồng khoa học nghiệm thu đề tài
Em xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo và các em HS trường THCS Hùng Tiến và trường THCS Như Hòa, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện và cung cấp cho em nhiều tư liệu quý giá giúp em hoàn thành luận văn của mình
Em xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân và bạn bè đã luôn ủng hộ, động viên và khích lệ em trong suốt thời gian thực hiện luận văn
Xin chân thành cảm ơn những ý kiến đóng góp quý báu để luận văn của em hoàn thiện hơn nữa
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Tâm
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 3
7 Các phương pháp nghiên cứu 4
8 Dự kiến cấu trúc luận văn 5
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẶC ĐIỂM TÂM LÝ CỦA HỌC SINH CÓ HÀNH VI BẠO LỰC HỌC ĐƯỜNG 6
1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài 6
1.1.2 Các nghiên cứu ở trong nước 9
1.2 Lý luận tâm lý học về bạo lực học đường và hành vi bạo lực học đường 11
1.2.1 Bạo lực học đường 11
1.2.2 Khái niệm hành vi bạo lực học đường 15
1.3 Nhận thức, thái độ của học sinh trung học cơ sở có hành vi bạo lực học đường 24
1.3.1 Nhận thức của học sinh trung học cơ sở có hành vi bạo lực học đường 24
1.3.2 Thái độ của học sinh trung học cơ sở có hành vi bạo lực học đường 26
1.3.3 Đặc điểm tâm lý của học sinh trung học cơ sở có hành vi bạo lực học đường 28
1.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến đặc điểm tâm lý của học sinh trung học cơ sở có hành vi bạo lực học đường 30
1.4.1 Bản thân học sinh 31
1.4.2 Từ phía nhà trường 32
1.4.3 Từ phía xã hội 36
1.4.4 Từ phía gia đình 37
Kết luận chương 1 40
Trang 6Chương 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM TÂM
LÝ CỦA HỌC SINH CÓ HÀNH VI BẠO LỰC HỌC ĐƯỜNG Ở MỘT SỐ
TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 41
2.1 Mục đích 41
2.2 Vài nét về địa bàn và khách thể nghiên cứu 41
2.2.1 Vài nét về địa bàn nghiên cứu 41
2.2.2 Vài nét về khách thể nghiên cứu 46
2.3 Nội dung và tổ chức nghiên cứu 47
2.3.1 Nội dung nghiên cứu 47
2.3.2 Tổ chức nghiên cứu 47
2.4 Thời gian điều tra nghiên cứu 47
2.5 Phương pháp nghiên cứu 48
2.5.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu, văn bản 48
2.5.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi 48
2.5.3 Phương pháp quan sát 48
2.5.4 Phương pháp phỏng vấn sâu 49
2.5.5 Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình 50
2.5.6 Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học 50
2.6 Đánh giá kết quả 50
2.6.1 Đánh giá mặt nhận thức 51
2.6.2 Đánh giá mặt thái độ 51
2.6.3 Đánh giá mặt hành vi 52
2.6.4 Cách tính điểm 52
Kết luận chương 2 53
Chương 3: THỰC TRẠNG ĐẶC ĐIỂM TÂM LÝ CỦA HỌC SINH CÓ HÀNH VI BẠO LỰC HỌC ĐƯỜNG Ở MỘT SỐ TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 54
3.1 Đặc điểm nhận thức của học sinh trung học cơ sở về bạo lực học đường 54
3.1.1 Nhận thức của học sinh trung học cơ sở về khái niệm bạo lực học đường 54
Trang 73.1.2 Nhận thức của học sinh trung học cơ sở về mức độ nghiêm trọng của các vụ
bạo lực học đường đang diễn ra hiện nay 58
3.1.3 Nhận thức của học sinh trung học cơ sở về địa điểm diễn ra bạo lực học đường 63
3.1.4 Nhận thức của học sinh trung học cơ sở về loại bạo lực thường xuyên diễn ra hiện nay 65
3.1.5 Nhận thức của học sinh trung học cơ sở về hậu quả bạo lực học đường gây ra 67
3.1.6 Nhận thức của học sinh trung học cơ sở về hình thức bạo lực học đường hiện nay 70
3.2 Đặc điểm thái độ của học sinh trung học cơ sở có hành vi bạo lực học đường 73
3.2.1 Thái độ của học sinh trung học cơ sở khi chứng kiến các vụ bạo lực học đường 73
3.2.2 Mối quan hệ giữa thái độ của học sinh có hành vi bạo lực học đường và kết quả học tập 76
3.2.3 Mối liên hệ giữa thái độ của học sinh có hành vi bạo lực học đường và điều kiện kinh tế gia đình 78
3.3 Đặc điểm hành vi của học sinh trung học cơ sở có hành vi bạo lực học đường 79
3.3.1 Hành vi của học sinh trung học cơ sở khi đứng trước một vụ bạo lực học đường 79
3.3.2 Đặc điểm hành vi của học sinh trung học cơ sở có hành vi bạo lực học đường 81
3.3.3 Mối liên hệ giữa hành vi với kết quả học tập của học sinh có hành vi bạo lực học đường 88
3.3.4 Mối liên hệ giữa hành vi với điều kiện kinh tế gia đình của học sinh có có hành vi bạo lực học đường 90
3.4 Nguyên nhân dẫn đến hành vi bạo lực học đường của học sinh trung học cơ sở có hành vi bạo lực học đường 91
3.5 Nghiên cứu chân dung điển hình học sinh có hành vi bạo lực học đường 97
3.6 Đề xuất một số biện pháp nhằm hạn chế và ngăn chặn hành vi bạo lực học đường 105
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 108
TÀI LIỆU THAM KHẢO 111 PHỤ LỤC
Trang 8BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ĐH QGHN Đại học Quốc gia Hà Nội
ĐH SPHN Đại học Sư phạm Hà Nội
BLHĐ Bạo lực học đường
̅ Điểm trung bình ĐLC Độ lệch chuẩn
THCS Trung học cơ sở THPT Trung học phổ thông
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Nhận thức của HS THCS về khái niệm BLHĐ 55
Bảng 3.2: Nhận thức của HS THCS có HV BLHĐ về khái niệm BLHĐ 56
Biểu đồ 3.2: Nhận thức của HS THCS có HV BLHĐ về khái niệm BLHĐ 57
Bảng 3.3: Nhận thức của HS THCS về mức độ nghiêm trọng của các vụ BLHĐ đang diễn ra hiện nay 58
Biểu đồ 3.3: Nhận thức của HS THCS về mức độ nghiêm trọng của các vụ BLHĐ đang diễn ra hiện nay 60
Bảng 3.4: Nhận thức của HS THCS có HV BLHĐ về mức độ nghiêm trọng của các vụ BLHĐ đang diễn ra hiện nay xét theo giới tính (N=20) 60
Bảng 3.5: Nhận thức của HS THCS có HV BLHĐ về mức độ nghiêm trọng của các vụ BLHĐ đang diễn ra hiện nay xét theo khối lớp (N=20) 61
Bảng 3.6: Nhận thức của HS THCS có HV BLHĐ về mức độ nghiêm trọng của các vụ BLHĐ đang diễn ra hiện nay xét theo trường (N=20) 62
Bảng 3.7: Nhận thức của HS THCS về địa điểm diễn ra BLHĐ 63
Bảng 3.8: Nhận thức của HS THCS về loại BL thường xuyên diễn ra hiện nay 65
Bảng 3.9: Nhận thức của HS THCS về hậu quả BLHĐ gây ra 67
Bảng 3.10: Nhận thức của HS THCS có HV BLHĐ về hậu quả BLHĐ gây ra 69
Bảng 3.11: Nhận thức của HS THCS về hình thức BLHĐ hiện nay 71
Biểu đồ 3.6: Nhận thức của HS THCS về hình thức BLHĐ hiện nay 72
Bảng 3.12: Thái độ của HS THCS khi chứng kiến các vụ BLHĐ 73
Bảng 3.13: Mối liên hệ giữa thái độ của HS có HV BLHĐ với kết quả học tập trong học kì vừa qua 76
Bảng 3.14: Mối liên hệ giữa thái độ của học sinh có hành vi bạo lực học đường và điều kiện kinh tế gia đình 78
Bảng 3.15: HV của HS THCS khi đứng trước một vụ BLHĐ 79
Bảng 3.16: Đặc điểm HV của HS THCS 82
Bảng 3.17: Đặc điểm HV của HS THCS có HV BLHĐ 84
Trang 10Bảng 3.18: Mối liên hệ giữa hành vi với kết quả học tập của học sinh có HV BLHĐ
89
Bảng 3.19: Mối liên hệ giữa hành vi với điều kiện kinh tế gia đình của học sinh có HV BLHĐ 90
Bảng 3.20: Nguyên nhân dẫn đến HV BLHĐ của HS THCS 91
Bảng 3.21: Nguyên nhân dẫn đến HV BLHĐ của HS THCS 95
có HV BLHĐ 95
Trang 11DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Nhận thức của HS THCS về khái niệm BLHĐ 56
Biểu đồ 3.4: Nhận thức của HS THCS về địa điểm diễn ra BLHĐ 65
Biểu đồ 3.5: Nhận thức của HS THCS về loại BL thường xuyên diễn ra hiện nay 67
Biểu đồ 3.7: Thái độ của HS THCS khi chứng kiến các vụ BLHĐ 75
Biểu đồ 3.8: Thái độ của HS THCS bình thường và có HV BLHĐ khi chứng kiến các vụ BLHĐ 75
Biểu đồ 3.9: HV của HS THCS khi đứng trước một vụ BLHĐ 80
Trang 121
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Từ xưa đến nay dân tộc ta vốn có truyền thống ham học hỏi, tới trường là một cách hữu hiệu và phổ biến nhất để con người ta học tập, mở mang trí thức và cả
tu dưỡng đạo đức Đã là học trò thì phải biết chăm chỉ học hành, kính trọng thầy cô, chan hòa với bạn bè Tuy nhiên, đi cùng với thời kì hội nhập của đất nước, cũng nảy sinh không ít những tiêu cực, một trong số đó là vấn nạn BLHĐ Chúng không chỉ đơn giản là những cuộc ẩu đả trong nội bộ mà dần dần càng trở nên nghiêm trọng, gây hậu quả lớn và đang có xu hướng gia tăng
Hiện nay HS không chỉ đánh nhau bằng vũ lực mà còn sử dụng các dụng cụ gây hậu quả nghiêm trọng, nhất là tình trạng nữ sinh đánh nhau được phản ánh gần đây, đánh nhau hội đồng, làm nhục bạn, quay phim rồi tung lên mạng mang lại nhiều thông tin phản hồi tiêu cực từ phía dư luận xã hội HV BL dẫn đến nhiều hậu quả cho chính bản thân các em gây HV BL, gia đình, nhà trường và toàn xã hội Các em bị BL cũng chịu rất nhiều hậu quả xấu, thân thể các em bị tổn thương, tâm
lý bất an, lâu ngày có thể dẫn đến sự hoảng loạn về tinh thần, ức chế tâm lý, sợ hãi, những bệnh tâm lý như trầm cảm,….gây ảnh hưởng xấu đối với sự phát triển nhân cách bản thân HS
Theo Trung tâm Thống kê Quốc gia về Giáo dục Mỹ, BLHĐ là một vấn đề nghiệm trọng, đã và đang diễn ra nóng bỏng ở tất cả các cấp học, lớp học khác nhau BLHĐ không chỉ diễn ra ở HS nam mà còn ở HS nữ, không chỉ giữa HS với
HS mà còn BL giữa HS với giáo viên,
Ở Việt Nam trong những năm gần đây BLHĐ đã và đang lan tỏa một cách nhanh chóng ở mức báo động BLHĐ không còn là hiện tượng cá biệt mà nó đã trở thành vấn nạn của toàn xã hội, xảy ra hầu hết các trường ở thành thị cũng như nông thôn, đồng bằng cũng như miền núi BLHĐ đều có xu hướng gia tăng cả về số lượng
và tính chất Theo số liệu thống kê từ đường dây nóng của Cục Bảo vệ và Chăm sóc trẻ em cho thấy từ năm 2005-2009 trong những vụ xâm hại, BL gia đình tăng gấp 3 lần, BL cộng đồng tăng 7 lần, BLHĐ tăng 13 lần so với những năm trước đó Theo
Trang 132
thống kê Bộ giáo dục – Đào tạo, trong năm học 2009-2010, cả nước có 1.548 vụ việc HS bị kỷ luật, khiển trách; 5.555 HS thì có một HS bị cảnh cáo; 11.111 HS thì có một HS bị thôi học có thời hạn vì đánh nhau Những con số trên phần nào cho ta thấy tình trạng BLHĐ tăng đột biến và cao hơn hẳn so với những trường hợp BL khác Có thể thấy rằng, BLHĐ đã trở thành mối quan tâm của rất nhiều gia đình, các nhà trường
và là nỗi trăn trở của toàn xã hội bởi hậu quả nghiêm trọng mà nó gây ra
Ngoài ra, còn một điểm đáng chú ý ở đây là: lứa tuổi HS THCS là lứa tuổi có nhiều biến đổi quan trọng về mặt tâm sinh lý Đây là giai đoạn trẻ chuyển từ trẻ em sang người lớn Cùng với sự phát triển mạnh mẽ về mặt cơ thể, đặc điểm tâm lý nổi bật của HS lứa tuổi này là sự phát triển mạnh mẽ của tự ý thức, nhu cầu khẳng định mình và mong muốn trở thành người lớn; bên cạnh đó, HS THCS còn khẳng định bản thân qua các hoạt động chủ đạo: Học tập, giao tiếp, hoạt động xã hội theo hướng tích cực Tuy nhiên, trong thực tế một bộ phận không nhỏ HS THCS không đạt được kết quả học tập như mong muốn mà bản thân đặt ra, vị thế của các em trong lớp học bị giảm sút cùng với đó là sự thiếu quan tâm đúng mức từ phía gia đình, nhà trường, xã hội,…những HS này có xu hướng khẳng định bản thân bằng những HV mang tính BL, gây nên những tổn thương về mặt thể chất, tinh thần và tâm lý cho bạn bè và những người xung quanh Điều đáng nói là HV BLHĐ của các
em nhận được sự ủng hộ, bảo kê hay thậm chí là có cả một lực lượng sẵn sàng tham chiến ở phía sau
Chính vì thế mà việc nhận biết sớm các biểu hiện của trẻ có xu hướng BL sẽ đem lại những thành tựu không nhỏ đối với quá trình giáo dục HS THCS nói chung
và một số em có HV BLHĐ nói riêng Giúp cho các em có cái nhìn đúng đắn về bản thân để từ đó giảm những HV BL, HV hung tính, đồng thời giúp cho HS lứa tuổi này hòa đồng hơn với bạn bè, góp phần xây dựng một môi trường học tập lành mạnh, sáng tạo và đoàn kết hơn
Từ những lí do trên, em lựa chọn đề tài: “Đặc điểm tâm lý của học sinh có
hành vi bạo lực học đường ở một số trường trung học cơ sở”
Trang 143
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng và tìm ra một số đặc điểm tâm lý điển hình của HS THCS có HV BLHĐ Các nguyên nhân ảnh hưởng đến thực trạng trên Từ đó đề xuất một số biện pháp tác động nhằm thay đổi các đặc điểm tâm lý tiêu cực của HS
có HV bạo BL đường góp phần làm giảm hiện tượng BLHĐ trong môi trường nhà trường THCS
3 Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Một số đặc điểm tâm lý điển hình của HS THCS có
HV BLHĐ (nóng nảy, thiếu kiềm chế cảm xúc, hung tính cao,…)
- Khách thể nghiên cứu: Tiến hành nghiên cứu 266 khách thể, trong đó có
246 HS bình thường và 20 HS có HV BLHĐ; lớp 6 là 65 em; lớp 7 là 66 em; lớp 8
là 67 em; lớp 9 là 68 em; HS nam là 103 em; HS nữ là 163 em; 126 em học trường
THCS Hùng Tiến và 140 em học trường THCS Như Hòa
4 Giả thuyết khoa học
Đề tài tập trung nghiên cứu một số đặc điểm về nhận thức, thái độ và HV của
HS THCS có HV BLHĐ; bên cạnh đó, so sánh nhận thức, thái độ và HV của HS bình thường và HS có HV BLHĐ về BLHĐ; từ đó rút ra một số đặc điểm tâm lý điển hình của HS THCS có HV BLHĐ
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài như: BL,
BLHĐ, HV BLHĐ, đặc điểm tâm lý HS THCS,
- Nghiên cứu thực trạng BLHĐ và tìm ra một số đặc điểm tâm lý điển hình của HS có HV BLHĐ nhằm phát hiện và sàng lọc những HS có nguy cơ có những
HV BLHĐ để từ đó làm giảm những HV này của HS
- Đề xuất và thử nghiệm một số biện pháp tác động nhằm hạn chế HV
BLHĐ của HS
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu một số đặc điểm về nhận thức, thái độ và HV của
HS THCS có HV BLHĐ
Trang 154
7 Các phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu, văn bản
- Mục đích: xây dựng cơ sở lý luận cho việc triển khai nghiên cứu về một số đặc điểm tâm lý của HS có HV BLHĐ ở trường THCS Hùng Tiến và THCS Như Hòa
- Cách thức tiến hành: thu thập thông tin qua các sách, báo, tài liệu, văn bản liên quan đến BLHĐ, HV BLHĐ và một số đặc điểm tâm lý của HS có HV BLHĐ
- Dự kiến kết quả: sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề một số đặc điểm tâm
lý của HS có HV BLHĐ ở trường THCS, lý luận tâm lý học về BLHĐ và HV BLHĐ
7.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
- Mục đích: nhằm thu thập những ý kiến chủ quan của HS THCS về HV BLHĐ Từ đó, đưa ra kết quả định lượng nhằm rút ra kết luận về thực trạng HV BLHĐ của hoc sinh THCS và một số đặc điểm tâm lý điển hình của HS có HV BLHĐ
- Cách thức tiến hành: xây dựng bảng hỏi dành cho HS THCS, sau đó xây dựng tiếp một bảng hỏi dành cho những HS có HV BLHĐ
- Dự kiến kết quả: thu thập được số lượng lớn thông tin từ HS về HV BLHĐ, để từ đó chỉ ra một số đặc điểm tâm lý điển hình của HS có HV BLHĐ
- Mục đích: nhằm tìm hiểu sâu hơn, chi tiết hơn thực trạng HV BLHĐ của
HS THCS Hùng Tiến và THCS Như Hòa, một số đặc điểm tâm lý điển hình của HS
Trang 167.5 Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình
- Mục đích: tìm ra những nét tâm lý điển hình của HS có HV BLHĐ thông qua nhiều kênh thông tin khác nhau
- Cách thức tiến hành: làm việc với một HS có HV BLHĐ, có thể kết hợp với ghi âm hoặc quay video để có thể phân tích biểu hiện, thái độ của HS này
- Dự kiến kết quả: chỉ ra những nét tâm lý điển hình của HS có HV BLHĐ
7.6 Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học
- Mục đích: xử lý những thông tin thu thập được từ các phương pháp nghiên cứu khác như: quan sát, điều tra bằng bảng hỏi, phỏng vấn,…cho ra các kết quả về nghiên cứu một số đặc điểm tâm lý của HS THCS có HV BLHĐ
- Cách thức tiến hành: sử dụng phần mềm SPSS 23.0
- Dự kiến kết quả: hệ thống một cách logic các kết quả thu nhận được
8 Dự kiến cấu trúc luận văn
Luận văn ngoài phần mở đầu, mục lục, tài liệu tham khảo, danh mục viết tắt thì cấu trúc luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về đặc điểm tâm lý của học sinh có hành vi bạo lực
học đường
Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu đặc điểm tâm lý của học
sinh có hành vi bạo lực học đường ở một số trường trung học cơ sở
Chương 3: Thực trạng đặc điểm tâm lý của học sinh có hành vi bạo lực học
đường ở một số trường trung học cơ sở
Trang 176
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẶC ĐIỂM TÂM LÝ CỦA HỌC SINH
CÓ HÀNH VI BẠO LỰC HỌC ĐƯỜNG 1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài
Hiện nay BLHĐ là hiện tượng phổ biến ở nhiều nhà trường trên thế giới, đang được coi là vấn nạn chung của toàn cầu BLHĐ không phải là câu chuyện mới, nhưng nó đang trở thành đề tài được nhiều người trên thế giới quan tâm khi hậu quả của nó để lại là rất nghiệm trọng
Ở Mỹ, BLHĐ đang là vấn đề mà hầu hết các trường ở Mỹ phải đối mặt, nó
đã trở thành một trong những vấn đề bức xúc nhất của nền giáo dục Mỹ Theo Trung tâm Thống Kê Giáo dục Quốc gia của Mỹ (năm 2007) cho thấy 5,9% HS trung học mang theo một vũ khí (ví dụ như sung, dao,…) đến trường Tỷ lệ này ở nam lớn gấp ba lần ở nữ Trong khoảng thời gian 12 tháng của cuộc khảo sát thì có 7,8 % HS trung học bị đe dọa hoặc bị thương bởi vũ khí tại trường học ít nhất một lần; 12,4% HS đã từng tham gia vào một vụ đánh nhau tại trường ít nhất một lần Ngoài ra, có khoảng 5,5% HS không cảm thấy an toàn khi đến trường và đã nghỉ học ít nhất một ngày Bên cạnh đó, theo Bộ Giáo dục Mỹ cho biết, cứ 3 HS từ lớp 6 đến lớp 12 tại nước này thì có một em báo cáo đã bị bắt nạt tại trường Theo Trung tâm Phòng ngừa và Kiểm soát Bệnh tật Mỹ (CDC) cho hay, mỗi ngày tại nước này
có 160.000 HS không dám đi học vì sợ bị bắt nạt tại trường học
Ở Pháp năm 2000, Bộ trưởng Giáo dục Pháp thừa nhận rằng có 39 trong số 75.000 vụ BLHĐ là “BL nghiệm trọng” và 300 là “có BL ở một số mức độ thấp hơn” Theo một cuộc điều tra của nhà xã hội học người Pháp Cecili Cara công bố năm 2009 (thực hiện trên 2000 HS từ 7-12 tuổi tại 31 trường học) thì có hơn 40% HS từng khẳng định là nạn nhân của BLHĐ ít nhất một lần trong năm học và 28% HS thừa nhận đã từng là “hung thủ” trong các vụ BLHĐ Vấn đề BLHĐ gây lo ngại khiến Bộ Giáo dục phải tổ chức gấp một hội nghị kéo dài 2 ngày để bàn về chủ đề này
Trang 18đó Theo số liệu thống kê của cảnh sát thông qua một yêu cầu Tự do Thông tin năm
2007, có hơn 7.300 trường hợp cảnh sát được gọi tới để giải quyết các vụ BL trường học tại Anh, nhưng trên thực tế trên toàn nước Anh có tới 10.000 trường hợp BLHĐ bởi có khoảng 1/3 nhân viên cảnh sát quên không nhập dữ liệu Nạn BLHĐ ở Anh trở nên nghiêm trọng tới mức số HS bị đuổi học vì liên quan đến các vụ BLHĐ tăng đáng kể, năm 2005 tăng 14% so với năm 2004 Có tới 1/5 HS cho biết thường xuyên nhận được tin nhắn có nội dung ác ý qua điện thoại di động Tháng 4/2009, Hiệp hội Giáo Viên và Giảng viên đưa ra một cuộc điều tra với hơn 1.000 tHVên của mình với kết quả gần ¼ trong số họ từng là đối tượng BL thể chất của một HS Tại Wales, 2/5 giáo viên thông báo đã từng bị tấn công trong lớp học, 49% từng bị
đe dọa tấn công
Tại Nam Phi, Cao Ủy Nhân quyền nam Phi đã thống kê được rằng 40% trẻ
em được phỏng vấn nói rằng chúng từng là nạn nhân của tội phạm tại trường học; chỉ có 23% HS cảm thấy an toàn khi đặt chân tới trường lớp; hơn 1/5 số vụ tấn công tình dục vào trẻ em ở Nam Phi được phát hiện diễn ra tại trường học Việc tiếp xúc với BL gia đình, các băng đảng và ma túy đã để lại dấu ấn lâu dài trong tính cách của HS cũng như có tác động đáng kể vào kết quả học tập của các em
Tại Úc, Bộ trưởng Bộ Giáo dục Tiểu bang Queensland cho biết rằng, trong tháng 7/2009, mức độ gia tăng của BLHĐ tại các trường học là “hoàn toàn không thể chấp nhận” và thừa nhận rằng đã không thực thi đầy đủ để chống lại HV BL này Trên thực tế có tới 55.000 HS đã bị đình chỉ học tại các trường của các bang trong năm 2008, gần 1/3 trong số đó có những HV không đúng đắn về mặt thể chất
Ở Nam Úc cũng trong năm 2008 đã có 175 cuộc tấn công BL đối với các HS và nhân viên trường học
Trang 198
Tại Nhật Bản, BLHĐ trong các trường học có xu hướng gia tăng bởi HS thường luôn phải chịu sức ép nặng nề từ những vụ bắt nạt học đường, gây những tổn thương tâm lý nghiêm trọng đối với một số em Do vậy, Chính phủ Nhật đã tiến hành nghiên cứu về tình trạng BL với bạn trong trường học Kết quả của nghiên cứu cho thấy, thực trạng BL với bạn ở trường học đã tăng hơn 5% trong năm 2003 so với các năm trước đó Theo Bộ Giáo dục Nhật Bản,trong năm 2007 con số những
vụ BLHĐ ở nước này là 124.898 vụ Trong cùng năm đó, con số HS tự tử ở Nhật Bản là 171 vụ Trong số này có 6 HS do bị bắt nạt mà tự tử Năm 2009, tại Nhật có 53.000 vụ BLHĐ Đặc biệt các vụ trong số đó có liên quan nhiều đến HS THCS
Hàn Quốc cũng được coi là một trong những quốc gia có nạn BLHĐ nhức nhối trên thế giới Theo thống kê của nước này cho thấy, gần 13,2% HS nam và 5,8% HS nữ từ lớp 4 đến lớp 12 bị các bạn cùng lớp đánh hoặc làm tổn thương Khoảng cuối tháng 2/2007, Bộ Giáo dục Hàn Quốc cho biết: nạn BLHĐ đã gia tăng
ở nước này, trong đó có 15,9% HS thú nhận từng bị BL ở trường học Theo kết quả của Quỹ phòng chống BL học thanh thiếu niên Hàn Quốc tháng 11 và 12/2009, trong số 4.073 HS tại 64 trường tiểu học và trung học, 20% thừa nhận đã từng bị bắt nạt ở trường, 63% nạn nhân phải “nếm đòn” BL ngay khi mới học tiểu học Con số này cao hơn 6-7% so với số liệu thống kê những năm trước đó như năm 2007 là 56,1% và năm 2008 là 56,8% Hiện tượng BL ở nước này xảy ra ở HS nữ nhiều hơn HS nam Điều đáng chú ý ở đây là nhiều HS đã không còn ý thức được HV BL của mình và khoảng 36% HS coi đó chỉ là việc bắt nạt như một trò đùa, 20% HS thừa nhận HV bắt nạt bạn là không có lý do đặc biệt.[8]
Từ những số liệu trên có thể thấy rằng, BLHĐ ở các nước trên thế giới đã và đang tăng một cách mạnh mẽ, không chỉ diễn ra ở các nước đang phát triển mà ngay
cả những nước phát triển, HS cũng không tránh khỏi việc bị BL Ngoài ra, những con số này chỉ nêu được thực trạng của vấn đề, có một số nước đã bắt đầu nghiên cứu nguyên nhân dẫn tới HV BLHĐ; tuy nhiên dường như chưa có quốc gia nào tập trung nghiên cứu đặc điểm tâm lý của HS có HV BLHĐ thể hiện qua các mặt: nhận thức, thái độ và HV của các em HS
Trang 209
1.1.2 Các nghiên cứu ở trong nước
Trong thời gian gần đây, BLHĐ đang trở thành vấn nạn của nền giáo dục Việt Nam khi những vụ BLHĐ ngày một gia tăng với số lượng lớn và hình thức cũng trở lên đã dạng, mức độ nặng hơn, gây ra hậu quả rất nghiêm trọng Trên các phương tiện thông tin đại chúng thường xuyên xuất hiện những bản tin về BLHĐ Chính vì thế việc ngăn chặn BLHĐ đang là mối quan tâm hàng đầu của các ngành chức năng, trong đó có ngành giáo dục, gia đình và toàn xã hội.Trước thực tiễn BLHĐ ở Việt Nam hiện này, các nhà nghiên cứu đã tập trung vào việc nghiên cứu vấn đề BLHĐ, chỉ ra thực trạng, nguyên nhân, hậu quả và giải pháp để góp phần giảm thiểu BLHĐ trong các trường học
Trong 10 năm trở lại đây, có rất nhiều nghiên cứu nhỏ lẻ, các bài báo khoa học có liên quan đến vấn đề BLHĐ, có thể kể đến như:
Báo cáo khoa học “Ảnh hưởng của nhóm bạn không chính thức đến HV phạm pháp của trẻ” của tác giả Mã Ngọc Thể đã đề cập đến mỗi quan hệ giữa vị thành niên với nhóm bạn, ảnh hưởng của nhóm không chính thức đến nhận thức của các lứa tuổi, khảo sát một số HV phạm pháp của trẻ dưới tác động của nhóm bạn Kết qua khảo sát cho thấy rằng các thành viên trong cùng một nhóm trẻ vị thành niên thường có cùng một sở thích, nhu cầu; Trẻ thường tồn tại trong nhóm có xu hướng thích nghi với chuẩn mực của nhóm dưới nhiều hình thức khác nhau ngay cả khi buộc các em chấp nhận những hậu quả mà mình gây ra, có 88% trẻ trả lời bị ảnh hưởng do các đặc điểm xấu của bạn khi chơi cùng nhóm, trong đó trẻ không dám phản hồi các chuẩn mực của nhóm vì sợ bị loại khỏi nhóm là 68%;
Một cuộc khảo sát do Khoa học Xã hội học, trường Đại học Khoa học Xã hội
và Nhân Văn – ĐH QGHN thực hiện vào năm 2008 tại hai trường THPT trên địa bàn quận Đống Đa (Hà Nội) về tình trạng BLHĐ ở nữ sinh đã cho thấy nhiều kết quả rất đáng lo ngại Có thể nói đến các con số sau: có đến 96,7% số HS trong mẫu được hỏi cho rằng ở trường các em có xảy ra hiện tượng nữ sinh đánh nhau, mức độ BLHĐ ở nữ sinh là 44,7% rất thường xuyên, 38% thường xuyên và 17,3% không thường xuyên Đặc biệt có tới 64% HS nữ được hỏi thừa nhận đã từng có HV đánh
Trang 2110
nhau với các bạn khác và có tới 45,3% HS cho rằng HV đó là bình thường, 30,7%
HS trả lời có thể chấp nhận được và chỉ có 24% HS không thể chấp nhận HV BL trong nữ sinh;
Sách Cách thức cha mẹ liên hệ với con và HV lệch chuẩn của trẻ (Lưu Song
Hà, 2008); Bài viết “Thực trạng BLHĐ ngày nay” của Phan Thị Mai Hương (2010)
đã bước đầu phác thảo bức tranh về tình trạng BLHĐ ở Việt Nam; Lê Cự Linh (2011) đã sử dụng số liệu thống kê của các cuộc điều tra quốc gia về vị thành niên
và thanh niên SAVY2 để tìm hiểu về BL ở thanh niên, bài viết chỉ ra rằng nam giới
là đối tượng chủ yếu gây ra các HV BL, cụ thể: có 4,3% nam thanh thiếu niên thành thị và 2% nam thanh thiếu niên nông thôn đã từng gây thương tích cho người khác,
trong khi đó tỷ lệ này ở nữ giới lần lượt là 0,6% và 0,2%; Nghiên cứu HV BL ở HS
thiếu niên với bạn cùng lứa (Nguyễn Thị Hương, 2011); Nghiên cứu một số đặc điểm tâm lý của HS THCS có HV BLHĐ huyện Sóc Sơn – Hà Nội (Mai Thị Dinh,
2012); Nhận thức và thái độ của HS THCS có HV BLHĐ (Ngô Thị Dung, 2012)…;
Theo báo cáo nghiên cứu được Bộ Giáo dục – Đào tạo kết hợp với Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc công bố sang ngày 20/12/2016 thì hiện tượng BLHĐ là một trong những vấn đề nóng nhất của trường học phổ thông hiện nay Theo số liệu của
Bộ Giáo dục – Đào tạo đưa ra, trong năm học 2012-2013 có khoảng 1600 vụ HS đánh nhau (khoảng 5 ngày/1 vụ) Cứ khoảng 5.200 HS thì có một vụ đánh nhau, cứ khoảng 11.000 HS thì có một em bị buộc thôi học vì đánh nhau, trung bình 9 trường thì có học HS đánh nhau Một kết quả nghiên cứu của Viện Y – Xã hội thực hiện năm 2014 trên 3.000 HS THCS và THPT tại Hà Nội thì thấy rằng một thực trạng đáng báo động hơn khi có tới 80% học cho biết từ trước đến nay đã bị BL giới trong trường học ít nhất một lần, 71% HS bị BLHĐ trong vòng 6 tháng trước đó Trong
đó 73% HS bị BL tinh thần (mắng chửi, đe dọa, bắt nạt, đặt điều, sỉ nhục,…), 41%
bị BL về thể chất và 19% bị BL tình dục Đặc biệt, BLHĐ có xu hướng gia tăng về
số lượng và mức độ trong HS Đa số những HS nữ có HV BL cho rằng BLHĐ là bình thường và chấp nhận được BLHĐ không chỉ xảy ra giữa HS với HS mà còn xảy ra giữa giáo viên với HS khi thầy cô vẫn được coi là người có quyền lực nhất
Trang 2211
trong lớp học, trong trường học; đôi khi còn có HV BL từ HS đối với thầy cô giáo của mình
Như vậy những nghiên cứu về BLHĐ rất đa dạng và phong phú Đó là điều
dễ hiểu bởi BLHĐ đang ngày càng có xu hướng gia tăng cả về số lượng, tính chất
và các hình thức BLHĐ ngày càng trở lên nghiêm trọng hơn, những hậu quả để lại
từ những vụ BLHĐ thật sự đã, đang và sẽ trở thành mối lo ngại đối với các bậc phụ huynh, giáo viên và toàn xã hội; đặc biệt là đối với chính những em HS đang ngồi trên ghế nhà trường Do vậy việc nghiên cứu BLHĐ theo hướng chỉ ra thực trạng, các biểu hiện của HV BLHĐ thể hiện qua ba mặt: nhận thức, thái độ và HV; nghiên cứu và chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng tới HV BLHĐ và đề xuất một số giải pháp nhằm phòng ngừa và ngăn chặn BLHĐ là việc làm rất cần thiết ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
1.2 Lý luận tâm lý học về bạo lực học đường và hành vi bạo lực học đường
1.2.1 Bạo lực học đường
1.2.1.1 Khái niệm bạo lực
BL là một hiện tượng xã hội diễn ra ở khắp mọi nơi, mọi nền văn hóa Do vậy,
BL là một chủ đề được rất nhiều các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu quan tâm từ rất sớm Chính vì thế có rất nhiều quan điểm khác nhau về BL, có thể kể đến như:
- Theo Đại từ điển Tiếng Việt của Nguyễn Như Ý (1998), BL được định nghĩa là: “BL là sức mạnh dung để trấn áp, chống lại lực lượng đối lập hay lật đổ chính quyền”
- Theo Từ điển Tiếng Việt (2003): “BL là sức mạnh để trấn áp, lật đổ”
- Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) thì “BL là việc đe dọa hay dung sức mạnh thể chất hay quyền lực đối với bản thân, người khác hoặc đối với một nhóm người hay cộng đồng người mà gây ra hay làm gia tăng khả năng gây ra tổn thương,
tử vong, tổn hại về tâm lý, ảnh hưởng đến sự phát triển hay gây ra sự mất mát”
- Theo Từ điển Xã hội học của G.Endruweit và G.Trommsdorff: BL là HV
có khuynh hướng hủy diệt như một phương tiện tối hậu để thực thi quyền lực trong
Trang 2312
khuôn khổ quan hệ trên – dưới một chiều dựa trên ưu thế bên ngoài, không có sự thừa nhận của người yếu thế
Từ những khái niệm trên về BL, chúng tôi thấy rằng: BL là tất cả những HV
sử dụng sức mạnh, quyền lực của bản thân hay tập thể để đe dọa, trấn áp, hành hung,…dẫn đến những tổn thương cho người khác cả về thể chất lẫn tinh thần
1.2.1.2 Khái niệm bạo lực học đường
Theo các hướng nghiên cứu cụ thể, các nhà khoa học đưa ra những khái niệm khác nhua về BLHĐ:
Theo tác giả Phan Thị Mai Hương (2009) chỉ ra rằng: “BLHĐ là thuật ngữ
để chỉ những HV BL trong môi trường học đường, hoặc những HV BL của lứa tuổi học đường Bao gồm trong thuật ngữ này là hàng loạt các HV BL với các mức độ khác nhau, từ không lời, đến có lời, từ hành động đơn giản đến những hành động thù địch, gây hấn, phá phách, gây tổn thương thậm chí tổn hại đến người khác”
Theo tác giả Nguyễn Văn Lượt thì cho rằng: “BLHĐ là một dạng HV lệch chuẩn của HS”
Trong giáo trình Giáo dục kỹ năng phòng chống BLHĐ và tệ nạn xã hội cho
HS THPT: “BLHĐ là hệ thống xâu chuỗi lời nói , HV mang tính miệt thị, đe dọa,
hoặc dùng sức mạnh thể chất để khủng bố người khác (thường xảy ra giữa trò với trò, giữa thầy với trò hoặc ngược lại), để lại thương tích trên cơ thể, thậm chí dẫn đến tử vong, đặc biệt là gây tổn thương đến tư tưởng, tình cảm, gây cú sốc về tâm
lý, sinh lý cho những đối tượng trực tiếp tham gia vào quá trình giáo dục ở nhà trường, cũng như đối với những ai quan tâm tới sự nghiệp giáo dục”
Như vậy không có sự thống nhất với nhau giữa các nhà nghiên cứu ở các lĩnh vực khác nhau về khái niệm BLHĐ Nhưng có thể thấy rằng, xét trên phương diện góc độ văn hóa thì BLHĐ là một hiện tượng phản văn hóa, coi thường luật pháp, bỏ qua nội quy trường học, đi ngược lại và làm hoen ố những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp trong xã hội, trong nhà trường Còn xét theo góc độ giáo dục thì BLHĐ là sự phản ánh kết quả giáo dục không được như mong muốn, là thước đo gián tiếp cho thấy hiệu quả và chất lượng ngược chiều với mục tiêu giáo dục toàn diện, nhất là giáo dục đạo đức, lối sống theo chuẩn mực văn hóa xã hội
Trang 2413
Khi xem xét khái niệm BLHĐ thì cần chú ý những vấn đề sau:
- BLHĐ là những HV xâm phạm có chủ ý, có ý đồ, thường gây hậu quả nghiêm trọng đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự cho những người bị hại;
- HV BLHĐ làm tổn thương về mặt thể chất cũng như tinh thần đều mang tính cố ý cao (có chủ đích) Gây hậu quả về mặt thể chất thường được bắt nguồn từ
sự học hỏi, bắt chước những HV BL,…; gây hậu quả về mặt tinh thần thường mang tính cố ý cao, nhưng cá nhân ý thức về HV này kém Sự tổn thương về mặt tinh thần không dễ nhìn thấy song bên cạnh đó, hậu quả để lại rất sâu sắc với người bị BL, đặc biệt là tổn thương về mặt tâm lý
Như vậy, theo các khái niệm ở trên, BLHĐ có phạm vi rất rộng, bao gồm cả trong và ngoài nhà trường, xảy ra giữa các HS với nhau, giữa giáo viên và HS, giữa các nhà quản lý với HS và ngược lại là giữa HS với giáo viên, giữa HS với các nhà quản lý giáo dục
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi chỉ nghiên cứu trong phạm vi
giữa HS với HS Do vậy có thể đưa ra khái niệm sau: BLHĐ là HV BL trong môi
trường học đường giữa HS với HS, những HV BL này có thể là HV bắt nạt, lạm dụng lời nói, ẩu đả,… làm tổn thương, gây hậu quả nghiêm trọng về mặt thể chất cũng như tinh thần của HS bị BLHĐ
1.2.1.3 Phân loại bạo lực học đường
Theo giáo trình BLHĐ ở Việt Nam hiện nay nhìn từ góc độ Tâm lý học thì có
ba cách phân loại BLHĐ
Phân loại theo hình thức của BL bao gồm:
- BL trực tiếp, thể hiện hay thân thể: Là hình thức BL dùng đến hành động
có ý nghĩa đối đầu với người khác nhằm mục đích là gây ra tổn hại (đẩy, đánh, đe dọa, sỉ nhục,…)
- BL gián tiếp hay mối quan hệ: Là hình thức BL nhằm làm tổn hại vai trò
và sự công nhận của nạn nhân trong nhóm mà họ thuộc về thông qua các hình thức như tung tin đồn, nói xấu, chối bỏ,…
- BL công nghệ: Là hình thức BL cố ý làm phiền, quấy nhiễu, gây tổn hại
đến uy tín hay hình ảnh của người khác bằng cách sử dụng những thiết bị công nghệ như điện thoại, internet, các trang mạng xã hội như facebook, zing, yahoo,…
Trang 2514
Phân loại theo chức năng của BL:
- BL phản ứng: là những HV phòng vệ trước một sự khiêu khích Loại BL
này có xu hướng liên quan tới tính xung động và vấn đề tự kiểm soát cũng như những vấn đề ứng phó với các mối quan hệ xã hội, dựa vào xu hướng gán ghép thù hằn về HV của người khác
- BL chủ động: là những HV thực hiện vì lợi ích nào đó Nó được tính toán
và kiểm soát bằng những củng cố từ bên ngoài
Phân loại BLHĐ theo quan điểm của các nhà tâm lý học (xét theo tính chất):
- BL thù địch: xuất phát từ sự giận dữ và được thực hiện để thỏa mãn cơn
giận dữ nhằm làm tổn thương người khác HV BL thù địch thường được thực hiện như một sự kết thúc hận thù của cá nhân nhằm giảm bớt tức giận
- BL công cụ: không bắt nguồn từ sự giận dữ, nó được thực hiện như một
công cụ nhằm hướng mục đích kết liễu đối phương
1.2.1.4 Địa điểm và hình thức bạo lực học đường
Địa điểm xảy ra BLHĐ thường rất rộng như: sân trường, trong lớp học, hành lang, gầm cầu thang, nhà vệ sinh, ngoài cổng trường,… thậm chí là những nơi vắng
vẻ ít người đến
Hình thức BLHĐ bao gồm:
- BL thể chất: thường biểu hiện ở những HV sử dụng sức mạnh cơ bắp (tay,
chân, cơ thể) và người khác mà không được sự cho phép; ngăn cản hoạt động bằng bất
cứ cách nào; ngăn không cho đi lại; giữ hoặc ôm chặt, bóp cổ, đấm, đá, tát, đánh,…
- BL tinh thần: thường được biểu hiện ở những hành động như chửi mắng,
nói xấu, lăng mạ, la hét, dọa nạt, dè bửu, chơi khăm, sỉ nhục, thọc mạch, tạo ra áp lực, cô lập đối phương; làm cho người khác cảm thấy không an toàn, cố ý hạ thấp không coi trọng giá trị của người khác, xúc phạm và hạ thấp người khác trước mặt mọi người, nhận xét về hình thức, trí tuệ, khả năng của người khác bằng những lời
lẽ gây tổn thương; phớt lờ, từ chối cũng như không thể hiện tình yêu thương; khủng
bố bằng cách gửi tin nhắn đe dọa liên tục, bịa đặt, vu khống trên mạng xã hội,…
Trang 2615
- BL tình dục: được biểu hiện ở những HV như đụng chạm vào bất cứ chỗ
nào trên cơ thể người khác; hay bình luận về tình dục hoặc đưa ra những nhận xét tiêu khêu gợi về cơ thể; cưỡng ép quan hệ tình dục; đối xử như một đối tượng tình dục; cưỡng ép xem sách báo khiêu dâm; đối xử thô lỗ và có HV săn lùng vì mục đích tình dục
- BL xã hội: được biểu hiện ở những HV như làm bẽ mặt hoặc phớt lờ ở
những nơi công cộng; không cho gặp gỡ bạn bè; cư xử không tốt với bạn bè; gây chuyện cãi lộn; xúc phạm nhân cách với những người khác
1.2.2 Khái niệm hành vi bạo lực học đường
1.2.2.1 Khái niệm hành vi
Có rất nhiều quan điểm về HV khác nhau
Các nhà sinh học xem xét HV với tư cách là cách sống và hoạt động sống trong một môi trường nhất định dựa trên sự cần thiết thích nghi tối thiểu của cơ thể với môi trường sống Quan điểm này về HV bó hẹp trong các hoạt động nhằm thích nghi với môi trường để đảm bảo sự tồn tại của cá thể với môi trường
Theo thuyết HV cổ điển của J Watson thì HV là tổ hợp các phản ứng cơ thể trả lời kích thích tác động vào cơ thể Quan niệm này có phần giống với quan niệm của các nhà sinh học nhưng khác ở chỗ đó không chỉ là những phản ứng với kích thích sinh học mà con người còn phản ứng với những kích thích khác
Những người theo chủ nghĩa HV mới còn cho rằng con người không chỉ thích ứng với những phản ứng tự nhiên mà còn thích ứng với môi trường xã hội vì vậy con người sẽ lựa chọn kích thích, chỉ trả lời những kích thích có lợi cho bản thân
Tâm lý học Macxit coi con người là một chủ thể tích cực chứ không phải là một cá thể thích nghi với môi trường sống một cách thụ động HV của con người bao giờ cũng có mục đích HV đó không chỉ đảm cho con người tồn tại mà còn đảm bảo cho con người phát triển
Như vậy HV bao gồm một chuỗi những hành động nối tiếp nhau một cách tương đối nhằm đạt được mục đích nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người
Trang 2716
1.2.2.2 Các lý thuyết nghiên cứu về bạo lực học đường
Qua phân tích khái niệm HV BLHĐ, ta thấy, đây là HV BL trong xã hội nói chung, HV này bao gồm hai đặc điểm cơ bản sau:
- HV BLHĐ là một dạng HV lệch chuẩn: HV BLHĐ được coi là HV lệch chuẩn bởi nó vi phạm các quy tắc, chuẩn mực đạo đức xã hội, nội quy của nhà trường mà ở đó các em là thành viên (Nguyễn Văn Lượt, 2009) HV BLHĐ còn được coi là những HV chống đối xã hội vì nó đe dọa, tấn công người khác hoặc phá hủy tài sản công (Carra Cecile, 2009)
- HV BLHĐ gây tổn thương về thể chất và hoặc tinh thần cho HS: HV BLHĐ gây tổn thương cả về thể chất và tinh thần cho cả HS có HV BL và HS là nạn nhân của HV BL HV BLHĐ còn tác động xấu đến những HS chứng kiến HV này Các em hoặc là vô cảm hoặc là trải nghiệm qua các cảm giác bất lực Một số
em khác lại cảm thấy day dứt vì mình không thể ngăn cản vấn đề xảy ra Một số khác có cảm giác thiếu an toàn, lo lắng hạn chế sự sáng tạo và khiến bầu không khí của HS trở nên căng thẳng (Trần Thị Minh Đức)
Để lí giải cho một loạt HV BL, HV sai phạm và HV chống đối xã hội diễn ra trong trường và ngoài trường học của HS thì có một số thuyết như sau:
Lý thuyết sinh thái
Lý thuyết sinh thái gắn liền với Urie Bromfenberenner (1979), mặc dù nó xuất phát từ lý thuyết của Kurt Lewin (1935) Theo lý thuyết này, cá nhân phát triển trong “môi trường sinh thái” Trong đó, môi trường mà cá nhân sống và nhận thức được luôn thuộc về môi trường lớn hơn Giữa các môi trường có sự ảnh hưởng lẫn nhau Môi trường bên ngoài ảnh hưởng đến môi trường bên trong, cho đến khi môi trường gần nhất: gia đình ảnh hưởng đến cá nhân Sự ảnh hưởng này cộng với sự chuyển đổi vai trò xã hội và các mối quan hệ liên nhân cách tạo nên sự thay đổi và phát triển ở cá nhân
Nghiên cứu HV BLHĐ trong và ngoài trường học theo lý thuyết sinh thái, các tác giả xem xét sự tương tác giữa các yếu tố bên ngoài cá nhân HS như hoàn gia đình, môi trường học đường, xã hội xung quanh trường học với các yếu tố bên trong
Trang 28HV BL còn gắn liền với môi trường gia đình, môi trường học đường và môi trường xung quanh
Lý thuyết căng thẳng
Lý thuyết gắn liền với Robert Agnew (1992), mặc dù nguồn gốc của nó xuất phát từ quan điểm của Robert Merton (1938) R Agnew cho rằng cá nhân đương đầu với ba loại căng thẳng trong cuộc sống: một là, những điều ngăn cản cá nhân đạt các mục tiêu có giá trị tích cực; hai là, những điều đe dọa cá nhân hoặc tước mất những gì giá trị của cá nhân; ba là, cá nhân chịu đựng hoặc bị kích thích bởi những tác động tiêu cực của môi trường Trạng thái căng thẳng sẽ làm gia tăng cảm xác tiêu cực, cơn tức giận ở cá nhân Một số cá nhân khác giải tỏa trạng thái căng thẳng thông qua các HV gây hấn, trả đũa hoặc dùng thuốc kích thích để vượt qua sự căng thẳng đang dồn nén trong lòng
Lý giải HV BL theo lý thuyết này cho thấy rằng HS có HV BLHĐ có liên quan đến áp lực học tập Tình trạng vị thành niên bị rối nhiễu tâm lý, HV ứng xử là hậu quả của chương trình đào tạo ở bậc phổ thông hiện nay quá nặng nề về lý thuyết, phương pháp giảng dạy mang tính nhồi nhét kiến thức, HS luôn nằm trong trạng thái thụ động trong học tập Việc thực hành và thực tập để vận dụng những tri thức đã học nhằm hình thành kĩ năng bị xem nhẹ, thậm chí có thể bỏ qua Chính vì thế đã tạo ra một bộ phận không nhỏ những HS thụ động, yếu ớt và vụng về, thiếu khả năng thích ứng xã hội (Nguyễn Hồi Loan, 2009)
Nguyên nhân dẫn đến HV BLHĐ là do bị ức chế tâm lý vì sức ép của kết quả học tập cao và phải tham gia khá nhiều các hoạt động ngoại khóa khác Các em
Trang 2918
không thể nào kiểm soát được cảm xúc của mình, dẫn đến những hành động bột phát làm giảm giá trị đạo đức và phải nhận những kỉ luật tương ứng với HV của bản thân – những HV sai lệch chuẩn mực xã hội (Hoàng Bá Thinh, 2009)
Lý thuyết kiểm soát
Lý thuyết kiểm soát quan niệm rằng HV chống đối xã hội, gây hấn, BL là thuộc tính tự nhiên, nó có thể được ngăn ngừa nhờ có hệ thống kiểm soát nghiêm ngặt của xã hội Nếu hệ thống kiểm soát này bị lơi lỏng hoặc không tồn tại HV chống đối xã hội, gây hấn có thể bùng phát Do vậy mà xã hội hạn chế tội phạm bằng cách xiết chặt hơn hệ thống kiểm soát
Tiếp cận HV BL theo lý thuyết kiểm soát, các nhà nghiên cứu đã tập trung làm sáng tỏ mối quan hệ giữa HV BL của HS và sự quan tâm, kiểm soát trẻ của cha
mẹ, sự gắn bó của HS với nhà trường, hoạt động học tập, sự tham gia của HS trong các hoạt động ngoại khóa trong và ngoài trường học, niềm tin của HS vào những giá trị xã hội
Lý giải HV BLHĐ của HS theo thuyết này thì các nhà nghiên cứu cho rằng
sự thiếu quan tâm của cha mẹ đến con cái, không thích tham gia các hoạt động tập thể là những yếu tố thúc đẩy HV BL ở HS
Lý thuyết học tập xã hội
Lý thuyết về học tập xã hội gắn liền với Albert Bandura (1977) và Ronald Akers (1983) Theo lý thuyết học tập xã hội nhiều HV của con người, trong đó có
cả những HV gây hấn và BL được học bằng cách quan sát, tập nhiễm từ sự quan sát
HV của người khác Lý giải HV BLHĐ theo lý thuyết học tập xã hội, các nhà nghiên cứu tập trung vào phân tích việc HS quan sát, chứng kiến và trải nghiệm qua các tình huống BL trong gia đình và cộng đồng từ đó dự báo HV BL của HS
Lý thuyết xử lý thông tin
Lý thuyết này gắn liền với các công trình nghiên cứu của Kenneth Đoge và các cộng sự của ông Lý thuyết xử lý thông tin cho rằng khi tham gia một hoạt động hoặc ở trong một tình huống nào đó nhận thức của cá nhân là một quá trình Đầu tiên, cá nhân mã hóa, giải thích tín hiệu mà cá nhân thu nhận được Sau đó, cá nhân
Trang 3019
liên tưởng đến các phản ứng HV được lưu trữ trong trí nhớ dài hạn; cá nhân đánh giá những hậu quả có thể có của các phản ứng Và cuối cùng, cá nhân lựa chọn và phản ứng lại với tình huống
Quá trình xử lý thông tin của trẻ có HV BL và trẻ không có HV BL là khác nhau Trẻ có HV BL có vấn đề trong việc mã hóa những điều thu nhận được Những trẻ này có thành kiến trong việc giải thích HV của những trẻ khác, khi những tín hiệu thu được không rõ ràng, chúng lý giải HV đó là sự thù địch và chúng phản ứng lại bằng những HV BL, gây hấn Những trẻ có HV BL, trong tình huống thông tin không rõ ràng, phương thức ứng xử BL đã được lưu giữ trong trí nhớ dài hạn dễ dàng được hoạt hóa trở lại và chi phối HV của trẻ, thúc đẩy trẻ có HV BL
Tuy nhiên, bên cạnh những nghiên cứu chỉ ra rằng quá trình xử lý thông tin giữa trẻ có HV BL và trẻ không có HV BL là khác nhau nhưng không có nghiên cứu nào khẳng định rằng quá trình xử lý thông tin có mối quan hệ nhân quả với sự
hình thành và phát triển HV BL ở trẻ
1.2.2.3 Khái niệm hành vi bạo lực học đường
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (1996), HV BL là HV “cố ý dùng sức mạnh thể chất hoặc uy quyền để đe dọa hoặc thực hiện HV chống đối lại bản thân, một hoặc một nhóm người khác hay cộng đồng, gây ra tổn thương về thể chất và tinh thần, nguy hại hơn có thể dẫn đến tử vong
Tác giả Nguyễn Thị Hồng Thắm, Tô Gia Kiên (2009) cho rằng: “HV BLHĐ
là những HV như kết băng nhóm hăm dọa bạn bè, ăn hiếp người nhỏ hoặc yếu thế,
có thể là HV trấn lột đồ - tiền của bạn khác hoặc thậm chí có thể do ghét nhau lâu năm dẫn đến xô xát đánh nhau hoặc đánh nhau có sử dụng hung khí”.[5]
Theo tác giả Trần Thị Tú Anh (2012), “HV BLHĐ là một phần của HV BL, xảy ra bên trong hoặc bên ngoài phạm vi không gian của nhà trường nhưng có liên quan đến thành viên của nhà trường HV BLHĐ có thể diễn ra giữa HS với HS hoặc giữa HS với giáo viên, tuy nhiên HV này diễn ra phổ biến giữa HS và HS.[5]
Từ những khái niệm trên, có thể thấy rằng HV BLHĐ có hai đặc điểm cơ bản sau:
Trang 3120
- HV BLHĐ là một dạng HV lệch chuẩn: HV BLHĐ được coi là những HV lệch chuẩn bởi nó phạm các quy tắc, chuẩn mực đạo đức xã hội, nội quy của nhà trường nơi các em là thành viên (Nguyễn Văn Lượt, 2009) HV BLHĐ còn được coi
là những HV chống đối xã hội vì nó đe dọa, tấn công người khác hoặc phá hủy tài sản công (Carra Cecile, 2009)
- HV BLHĐ gây tổn thương về thể chất và hoặc tinh thân cho HS: HV BLHĐ gây tổn thương cả về thể chất và tinh thần cho cả HS có HV BL và HS là nạn nhân của HV BL
Như vậy HV BLHĐ là HV xảy ra bên trong hoặc bên ngoài phạm vi không
gian của nhà trường nhưng có liên quan đến thành viên của nhà trường, là HV sử dụng sức mạnh lời nói hoặc hành động gây tổn thương cả về mặt thể chất và tinh thần của HS
1.2.2.4 Biểu hiện của hành vi bạo lực học đường
Những biểu hiện của HV BLHĐ ở HS:
- HV BL xảy ra ở cả HS nam và HS nữ; gần đây, tình trạng HS nữ đánh nhau càng càng phổ biến và phức tạp
- Hình thức đánh nhau từ đánh đơn lẻ thành đánh hội đồng, tham gia tập thể nhóm, có tổ chức, có chuẩn bị trước Hiện nay xuất hiện cả việc quay lại cảnh đánh nhau rồi tung lên mạng gây ảnh hưởng tới uy tín của cá nhân và nhà trường, gây xôn xao, bất bình trong dư luận
- Thành phần tham gia đánh nhau cũng ngày một đa dạng: từ HS cá biệt, HS lưu ban, những thanh thiếu niên không đi học cho đến những HS có học lực khá giỏi, cán bộ lớp, cán bộ đoàn
- Địa điểm xảy ra BLHĐ cũng rộng hơn, không chỉ xảy ra ở trong phạm vi trường học mà còn xảy ra ở bên ngoài phạm vi trường học
- Thời gian xảy ra BLHĐ: chủ yếu vào ban ngày
- Hành động BL thô bạo, nhẫn tâm, vô văn hóa
Từ những biểu hiện của HV BLHĐ có thể kết luận rằng nếu không ngăn chặn kịp thời thì sẽ vô cùng nguy hiểm đối với nhà trường và là mầm mống của BL
xã hội sau này
Trang 3221
1.2.2.5 Một số yếu tố ảnh hưởng đến hành vi bạo lực học đường
Có hai nhóm yếu tố ảnh hưởng đến HV BLHĐ, đó là nhóm yếu tố chủ quan
và nhóm yếu tố khách quan
Nhóm yếu tố chủ quan (thuộc về chính bản thân HS): cáu kỉnh là xu hướng phản ánh một cách bốc đồng và đột ngột ngay cả với khiêu khích nhỏ, gắn liền với
sự chịu đựng thất vọng; thiếu sự đồng cảm hay khả năng để đặt bản thân mình vào
vị trí của người khác và nhận biết, cảm nhận được những tình cảm của người khác; không thỏa mãn cuộc sống nói chung; mong muốn thống trị người khác;….Có thể hiểu cụ thể hơn về nhóm yếu tố chủ quan này thông quan một số điểm sau:
- Hiểu biết hạn chế của HS về luật pháp, về quy định của trường, lớp;
- Hiểu biết bạn chế của HS về hậu quả của BLHĐ;
- Tính cách của cá nhân;
- Lòng tự trọng, sự khẳng định cái tôi của cá nhân
Nhóm yếu tố khách quan (thuộc về gia đình, bạn bè, nhà trường và xã hội):
- Yếu tố gia đình: từ xưa đến nay tất cả các nhà nghiên cứu đều khẳng định rằng, gia đình là môi trường học tập đầu tiên của trẻ; chính vì thế mà yếu tố gia đình
có ảnh hưởng không nhỏ đến HV BLHĐ của HS Có thể kể đến như: cách giáo dục con cái trong gia đình; vấn đề về giao tiếp trong gia đình; thiếu sự gắn kết về cảm xúc; thiếu sự hỗ trợ từ bố mẹ; gia đình thường xuyên mâu thuẫn, xung đột; phong cách làm cha mẹ không quan tâm hoặc độc đoán;…
- Yếu tố trường học: trường học là môi trường gần gũi và gắn bó với mỗi
HS, là nơi các em dành nhiều thời gian trong ngày để học tập, vui chơi,… Do vậy, trường học cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến HV BLHĐ của HS: tính tổ chức kém của nhà trường; thiếu động lực và lòng nhiệt tình từ phía giáo viên; chấp nhận BL; môi trường tiêu cực trong lớp học; bạn bè với vấn đề HV; mối quan hệ HS – giáo viên tiêu cực; bị nhóm bạn chối bỏ;…
- Phương tiện truyền thông như báo chí, phim ảnh, truyền hình và các kênh như interner, trò chơi điện tử, các trang mạng xã hội đều là những yếu tố có ảnh hưởng đến HV BLHĐ của HS Có thể liệt kê như sau: nhân vật/diễn viên hấp dẫn
Trang 3322
thực hiện HV BL; các cảnh BL có lý do chính đáng; các phim ảnh BLHĐ được tán dương, tán thưởng; các nhân vật trong phim, trong trò chơi điện tử sử dụng vũ khí truyền thống; các cảnh BL trong phim, trong game không để lại những hậu quả tiêu cực sau này
1.2.2.6 Hậu quả của hành vi bạo lực học đường
HV BLHĐ để lại những hậu quả nhất đinh đối với các em HS, những em có
HV BL cũng như những em là nạn nhân của các vụ BLHĐ, hậu quả để lại không chỉ ở mặt thể chất mà còn ở cả mặt tinh thần của các em
Đối với các em có HV BLHĐ, những tổn thương về mặt thể chất có thể là bên ngoài hoặc bên trong, có thể từ việc xây xát mặt mũi, sưng mặt mày chân tay đến những tổn thương nặng nề hơn như gẫy tay, gẫy chân,…thậm chí có những trường hợp bị mất cả tính mạng Những tổn thương này ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe cũng như ảnh hưởng tới kết quả học tập của HS và gián tiếp ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách của các em
Đối với các em là nạn nhân của các vụ BL thì những tổn thương về BLHĐ cũng giống như các em có HV BL xây xát mặt mũi, sưng mặt mày chân tay đến những tổn thương nặng nề hơn như gẫy tay, gẫy chân,…thậm chí có những trường hợp bị mất cả tính mạng Bên cạnh đó BLHĐ để lại ảnh hưởng không nhỏ tới mặt tinh thần của những em HS này Những em HS là nạn nhân của các vụ BL thường
có tâm lý tự ti, thường có những triệu chứng của trầm cảm, căng thẳng lo âu, cảm giác cô đơn, có ý nghĩ tự tử và các vấn đề về sức khỏe khác
Trên thực tế có thể thấy rằng, dù có BL theo hình thức nào đi chăng nữa (thể chất hay tinh thần) thì một điều chắc chắn có thể khẳng định là, những tổn thương
về thể chất luôn luôn kéo theo những tổn thương về mặt tinh thần Hậu quả của HV BLHĐ là không nhỏ, không chỉ ảnh hưởng đến kết quả học tập của các em HS mà còn liên quan đến sự phát triển thể chất, phát triển nhân cách của các em
1.2.2.7 Nguyên nhân của hành vi bạo lực học đường
Có nhiều ý kiến khác nhau về nguyên nhân của HV BLHĐ: dưới góc độ tâm
lý, xã hội, pháp luật, đạo đức, văn hóa, giáo dục, kinh tế,…)
Trang 3423
Dưới góc độ kinh tế - văn hóa – xã hội: sự phát triển như vũ bão của nền kinh tế khiến cho đứa trẻ trong gia đình có những thói quen ỷ lại, sai khiến vào người khác, chỉ biết người khác phục vụ mình; Sự phát triển của công nghệ thông tin đã thu hẹp lại khoảng cách về không gian, thời gian và mang lại nhiều lợi ích cho con người Tuy nhiên, mặt trái của nó dẫn đến hậu quả khôn lường, đó là trò chơi điện tử, là những bộ phim BL là một trong những yếu tố ảnh hưởng xấu đến tính cách của một bộ phận không nhỏ thanh thiếu niên, và đây là mầm mống của
HV BLHĐ
Dưới góc độ giáo dục: sự quá tải kiến thức dẫn đến quá tải thời gian học tập; phương pháp giáo dục đạo đức, lối sống đã bộc lộ nhiều bất cấp, lạc hậu; Công tác quản lý trong nhà trường hiện nay dường như vẫn còn thiên về hành chính và nặng thành tích; hình thức xử lí HS vi phạm hiện nay chưa thực sự hiệu quả; mối quan hệ thầy – trò ngày nay dường như đang có những khoảng cách Đó là một trong những dẫn chứng cho thấy rằng, chính thực trạng giáo dục hiện nay đã dẫn đến một lượng nhỏ HS có HV BLHĐ
Từ góc độ tâm lý lứa tuổi: sự phát triên tâm – sinh lý ở thời kì tuổi thiếu niên
là giai đoạn cực kì quan trọng cuộc đời của mỗi con người Gắn với tuổi dậy thì – là giai đoạn có sự chuyển hóa hữu cơ trong cơ thể mạnh mẽ nhất, sức sống dồi dào, dẫn đến sự hiếu động Nhiều trường hợp ứng xử của các em HS mất đi sự điều độ, chính xác và thiếu đi sự làm chủ HV của mình Bên cạnh đó, trong giai đoạn này, nhu cầu thể hiện bản thân của HS được phát triển Chính vì thế mà việc BL để thể hiện bản thân được các em xem là chuyện bình thường, thậm chí là điều hiển nhiên
để thể hiện bản thân với người khác
Từ góc độ gia đình: có rất nhiều nguyên nhân, có thể kể đến như:
- Do thiếu kiến thức về văn hóa, xã hội, kinh tế, pháp luật, cha mẹ không định hướng đầy đủ chuẩn mực xã hội cho con cái;
- Cha mẹ hoặc người lớn trong gia đình thiếu gương mẫu, vi phạm pháp luật, thô bạo với các em;
- Cha mẹ không kiểm soát được việc xem sách báo, băng hình BL; đồi trụy;
Trang 3524
- BL gia đình;
- Cha mẹ mâu thuẫn, li di, li thân hoặc bị chết;
- Cha mẹ thiếu quan tâm đến việc học tập, đến mối quan hệ bạn bè của con cái để bạn xấu rủ rê, lôi kéo bỏ học, dẫn đến những HV vi phạm pháp luật;
- Gia đình giàu có, kiếm được nhiều tiền;
- Chỗ ở chật hẹp, thiếu nơi vui chơi, giải trí, thể thao,…
1.3 Nhận thức, thái độ của học sinh trung học cơ sở có hành vi bạo lực học đường
1.3.1 Nhận thức của học sinh trung học cơ sở có hành vi bạo lực học đường
1.3.1.1 Khái niệm nhận thức
Chỉ có con người mới có khả năng đi xa hơn khả năng tri giác những gì đang
có, để nghĩ xem trước đó là như thế nào, sau này ra sao, có thể sẽ như thế nào và đúng ra nên như thế nào Việc suy nghĩ tạo ra bối cảnh để tri giác thấy được mục đích học tập và ý nghĩa của những điều ghi nhớ Những ý nghĩ phát biểu trong thế giới nội tại của tâm trí chúng ta tạo ra nơi chúng ta có khả năng hình thành những
mô hình vận hành trừu tượng của thế giới vật chất và xã hội – nơi chúng ta đang sống Khi đó, ta sẽ sử dụng những cách hình dung trong tâm trí mỗi người về cái thực tại ở bên ngoài để tái tạo lại hình thái và đôi khi hoàn thiện thêm một số mặt của thế giới đó (Hunt, 1982) Đó chính là nhận thức
Nhận thức là một trong ba mặt hoạt động tâm lý cơ bản của cá nhân: nhận thức - thái độ - hành động Trong quá trình hoạt động, con người phải phản ánh được đối tượng và môi trường xung quanh, tức là phải nhận thức
Nhận thức là hoạt động tâm lý của cá nhân, tác động đến đối tượng, qua đó hình thành trong đầu óc chủ thể các cảm giác, hình ảnh, biểu tượng hay khái niệm
về đối tượng Nói ngắn gọn hơn, nhận thức là hoạt động giúp chủ thể nhận ra và sáng tỏ bản chất, quan hệ và quy luật vận động của đối tượng, để từ đó có thái độ và hành động đúng đắn
Trang 3625
Theo Từ điển Tâm lý học: “nhận thức là thuật ngữ chung cho tất cả những hình thức sự hiểu biết và ý thức như là tri giác, xử lý, suy luận, đánh giá, lập kế hoạch, ghi nhớ và tưởng tượng” Với quan niệm này, thì khái niệm nhận thức được hiểu là bao gồm tri giác, tư duy, trí nhớ, tưởng tượng
Nhận thức được coi là một quá trình phản ánh hiện thực khách quan
Trong Từ điển thuật ngữ Tâm lý học (2012), nhận thức được hiểu đơn giản là
“hiểu được một điều gì đó, tiếp thu được những kiến thức nào đó, hiểu biết những quy luật về hiện tượng, quá trình nào đó”
Nhận thức là cơ sở để định hướng và điều chỉnh HV con người Nếu nhận thức không đúng đắn thì sẽ dẫn đến những HV sai lệch, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển nhân cách của cá nhân
Tóm lại có thể hiểu nhận thức như sau: nhận thức là quá trình chủ thể sử
dụng các hành động, các giác quan, các thao tác trí óc để làm sáng tỏ đối tượng, tạo ra các cảm giác, hình ảnh, biểu tượng, khái niệm về đối tượng đó
1.3.1.2 Biểu hiện nhận thức của học sinh trung học cơ sở có hành vi bạo lực học đường
Nhận thức là cơ sở để định hướng và điều chỉnh HV của con người Chính vì thế mà nhận thức không đúng đắn sẽ dẫn đến những HV sai lệch Do vậy khi nghiên cứu HV BLHĐ cần phải nghiên cứu đến vấn đề nhận thức của HS
Nhận thức về HV BLHĐ của HS không chỉ quy định về mặt tâm sinh lý lứa tuổi, trình độ học vấn mà còn bị ảnh hưởng bởi môi trường gia đình, môi trường sống,…
Biểu hiện nhận thức của HS THCS có HV BLHĐ biểu hiện qua các mặt như sau:
- Nhận thức sơ sài, đơn giản và cảm tính về BLHĐ và HV BLHĐ Thực tế
có thể thấy rằng, các em HS có HV BLHĐ thường xem những hành động đánh nhau, chửi bởi, lăng mạ, đe dọa, dọa nạt người khác là những hành động bình thường, không có gì đáng ghê gớm cả Các em cũng không nhận thức được hậu quả của HV BLHĐ gây ra cho người khác, không chỉ về mặt thể chất và còn cả về mặt tinh thần Có đôi khi các em cũng nhận thức được một phần nào đó hậu quả mà
Trang 3726
mình gây ra nhưng vì muốn thể hiện bản thân, vì tính bồng bột mà HS không thể kiểm soát được HV của mình
- Nhận thức sai lầm và phiến diện về các hình thức BLHĐ và HV BLHĐ
HS hiện nay đa phần coi việc BL là gắn liền với vũ khí, với dao, mã tấu,…những vật dụng gây sát thương về mặt cơ thể mới là BL, còn hình thức chửi bới, dọa nạt là chuyện bình thường, không gây hậu quả gì đến người bị BLHĐ Chính nhận thức sai lầm này mà dẫn đến rất nhiều vụ tự tử, tự sát diễn ra trong trường học Như vậy
có thể thấy rằng các em HS có HV BLHĐ thường chỉ nhận thức được hình thức BLHĐ ở mặt thể chất chứ chưa nhận thức được hình thức BLHĐ ở mặt tinh thần
- Nhận thức sai lầm về tác hại, hậu quả của BLHĐ và HV BLHĐ Đa số HS
có HV BLHĐ xem HV BL của mình chỉ là trò đùa, không gây hậu quả gì Trên thực
tế hậu quả mà HV BL gây ra thực là nghiêm trọng Về mặt thể chất có thể là gãy tay, gãy chân, hay chỉ là tổn thương nhẹ về da, nặng thì có thể là tử vong; về mặt tinh thần nhẹ thì có thể là nghe lời, làm theo những gì mà HS có HV BLHĐ nói, nặng thì có thể dẫn đến trầm cảm, sợ sệt không dám đi học, nặng hơn thì có thể có những HV mang tính tự sát
1.3.2 Thái độ của học sinh trung học cơ sở có hành vi bạo lực học đường
1.3.2.1 Khái niệm thái độ
Khái niệm thái độ được sử dụng rất thường xuyên trong cuộc sống đời thường
và trong tâm lý học Tuy vậy, để hiểu một cách rõ ràng nhất về khái niệm này thì đó là điều không phải dễ dàng Hiểu theo nghĩa thông thường thì “thái độ là cách nhìn, cách hành động theo một hướng nào đó trước một vấn đề, một tình hình”
Tâm lý học xã hội quan niệm rằng: Thái độ là sự sẵn sàng ổn định của cá nhân để phản ứng với một tình huống hay một phức thể tình huống, thái độ vốn có
xu hướng rõ rệt hình thành quy luật nhất quán phương thức xử thế của mỗi cá nhân
Theo Từ điển thuật ngữ Tâm lý học (2012), “thái độ là trạng thái sẵn sàng về mặt tinh thần và thần kinh, được tổ chức thông qua kinh nghiệm, có tác dụng điều chỉnh hoặc có ảnh hưởng một cách linh hoạt đến phản ứng của cá nhân đến các nhóm khách thể
Trang 38Còn G.W Allport (1935) thì quan niệm: Thái độ là trạng thái sẵn sàng về mặt tinh thần và thần kinh được tổ chức thông qua kinh nghiệm, có khả năng điều chỉnh hoặc ảnh hưởng năng động đối với phản ứng của cá nhân hướng đến các khách thể
và tình huống mà nó quan hệ Như vậy, thái độ được coi như là một trạng thái tâm
lý, thần kinh cho hoạt động Allport nhấn mạnh đến sự điều chỉnh tích cực thái độ đến hành động, phản ứng của cá nhân
Thái độ xã hội được hiểu là phản ứng của chủ thể đối với các khách thể khác
về một vấn đề nào đó, chẳng hạn như thái độ của con người đối với vấn đề hệ thống tín chỉ, đối với HV chơi game của HS,…
Ngoài ra ở Việt Nam cũng có rất nhiều tác giả đề cấp đến khái niệm này, phải kể đến như:
Trong Từ điển Tiếng Việt – Hoàng Phê (chủ biên) cho rằng: Thái độ là tổng thể nói chung những biểu hiện ra ngoài (nét mặt, cử chỉ, lời nói, hành động) của ý nghĩ, tình cảm đối với ai hoặc sự kiện nào đó trước một vấn đề
Theo Từ điển Tâm lý học của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện thì trước một đối tượng nhất định, nhiều người thường có phản ứng tức thì, tiếp nhận dễ dàng hay khó khăn, đồng tình hay chống đối như đã có sẵn, tri giác về đối tượng cũng như tri thức
bị chi phối về vấn đề thì thái độ gắn liền với tâm thế
Trong Từ điển Tâm lý học do Vũ Dũng chủ biên thì: Thái độ là những phản ứng tức thì tiếp nhận dễ dàng hay khó khăn, đồng tình hay chống đối như đã có sẵn những cơ cấu tâm lý tạo ra định hướng cho việc ứng phó
Như vậy có rất nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm thái độ nhưng từ
những khái niệm trên có thể hiểu khái quát khái niệm thái độ như sau: Thái độ là sự
Trang 3928
thể hiện rung cảm, lựa chọn hay không lựa chọn, đề cao hay không đề cao của cá nhân trước một đối tượng hay sự vật, hiện tượng, đóng vai trò định hướng và thúc đẩy hành động của cá nhân
1.3.2.2 Thái độ của học sinh trung học cơ sở có hành vi bạo lực học đường
- Thích thú khi hành hạ người khác Đa phần những HS có HV BLHĐ thường cho rằng việc hành hạ người khác để thỏa mãn nhu cầu của bản thân, cảm thấy thích thú với HV này, xem những lời nói mang tính lăng mạ, xỉ nhục, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác làm cho người khác cảm thấy tội lỗi, thua kém, sợ hãi là thú vui, là sở thích của cá nhân HS có HV BLHĐ
- Sung sướng khi hành hạ người khác Việc HS có HV BLHĐ sử dụng tay chân hay vũ khí để đánh đập, đấm, đá,…làm cho người khác cảm thấy đau đớn, thương tích về mặt cơ thể; mang lại cảm giác sung sướng cho HS có HV BLHĐ
- Phấn chấn khi chứng tỏ mình mạnh hơn nhờ vào đánh đấm HS có HV BLHĐ thường bắt chước thần tượng của bản thân trong game, trong phim ảnh hay thậm chí trong chính gia đình của các em Các em có đôi khi là tự mình “xung trận” hoặc thậm chí là tụ tập thành từng nhóm giống như trong các phim truyền hình xã hội đen, nhằm chứng tỏ cho mọi người thấy mình mạnh hơn, mình là số một,…
- Tự hào khi bạn bè phục tùng, nghe lời Những em HS này thường cảm thấy tự hào khi người khác nghe lời mình nói, phục tùng những hành động mà mình sai bảo người khác, khiến người khác phải tuân theo, không dám trái ý lời nói của những em HS có HV BLHĐ
1.3.3 Đặc điểm tâm lý của học sinh trung học cơ sở có hành vi bạo lực học đường
Chúng tôi nghiên cứu về đặc điểm tâm lý của HS THCS có HV BLHĐ, do vậy công cụ nghiên cứu là đặc điểm tâm lý của HS có HV BLHĐ và được biểu hiện
ở ba mặt là: nhận thức, thái độ và hành vi
1.3.3.1 Đặc điểm nhận thức
Xét về bản chất thì HV BLHĐ là hành có ý thức, tuy nhiên những sai lệch nhận thức về cách ứng xử với thầy cô giáo, của cái tôi cá nhân chi phối HV BLHĐ
Trang 40xử với mọi người xung quanh Những sai lệch trong nhận thức này có thể được coi
là những sai lệch trong nhận thức một cách thụ động và có thể giáo dục, tác động giúp các em có nhận thức đúng đắn Việc điều chỉnh nhận thức sẽ giúp HS có những thay đổi trong HV theo hướng tích cực hơn
- Hai là, trường hợp một bộ phận HS THCS dù biết rõ những quy tắc, chuẩn mực đạo đức của nhà trường và xã hội nhưng vẫn cố ý vi phạm chúng và có những
HV BL đối với bạn bè, thầy cô giáo,…Những sai lệch trong nhận thức ở trường hợp này mang tính chủ động, do đó sự tác động từ phía nhà giáo dục là rất khó khăn, đòi hỏi sự kiên trì và kết hợp của nhiều lực lượng giáo dục trong nhà trường và các cấp cao hơn
1.3.3.2 Đặc điểm thái độ
Đặc điểm thái độ của HS có HV BLHĐ được biểu hiện ở ba mặt, bao gồm: nhận thức về HV BLHĐ, xúc cảm trước HV BLHĐ và HV thể hiện ra khi chứng kiến BLHĐ; cụ thể như sau:
- Nhận thức về HV BLHĐ: đó là việc chấp nhận hay không chấp nhận HV BLHĐ, HV đó là đúng hay sai, có phù hợp với chuẩn mực hay không phù hợp với chuẩn mực,…
- Xúc cảm đối với HV BLHĐ: là việc đồng tình hay không đồng tình, phản đối hay ủng hộ HV BLHĐ, thích hay không thích, hài lòng hay không hài lòng, thích thú hay thờ ơ,… với HV BLHĐ
- HV thể hiện khi chứng kiến BLHĐ: là ngăn chặn, né tránh, thờ ơ, thích thú, cổ vũ hay hưởng ứng HV BLHĐ
Nhìn chung, có thể thấy rằng, đặc điểm thái độ không chỉ biểu hiện riêng lẻ qua ba mặt ở trên mà trong thực tế có sự phối hợp chặt chẽ giữa ba mặt với nhau, từ
đó có thể đưa ra cái nhìn đúng đắn nhất về thái độ của HS đối với HV BLHĐ