1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Bài dịch CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ TẠI CÁC QUỐC GIA CHÂU ÂU MỚI NỔI THỰC HIỆN LẠM PHÁT MỤC TIÊU PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CHỌN LỰA RIÊNG

16 461 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 1,22 MB
File đính kèm CSTT quốc gia Châu Âu mới nổi.rar (1 MB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ TẠI CÁC QUỐC GIA CHÂU ÂU MỚI NỔI THỰC HIỆN LẠM PHÁT MỤC TIÊU PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CHỌN LỰA RIÊNG Monetary policy rule in inflation targeting emerging European countries: A discrete choice approachBài viết tìm hiểu 6 quốc gia mới nổi châu Âu thực hiện lạm phát mục tiêu, qua những phương pháp đã ghi nhận những hành vi của NHTW bao gồm cả chính sách và các hoạt động của họ. Về sau, những phát hiện của chúng tôi đề nghị những NHTW này phải thay đổi các chính sách tiền tệ theo những cách khác nhau khi độ lệch giữa LSTU và LSHH vượt quá một ngưỡng nhất định. Các ước tính của phương pháp Taylor bao gồm những biến số kinh tế trong đó có TGHĐ thực. Tuy nhiên, theo các bằng chứng tại Romania, Serbie và Albani thì TGHĐ là một mục tiêu cho chính nó, Czech Republic, Ba Lan, và Hungary nó là công cụ để đạt lạm phát mục tiêu, điều này có liên quan đến các đặc tính khác nhau của 2 mô hình kinh tế. Việc sử dụng phương pháp nghiên cứu chọn lựa riêng lẻ được sử dụng bởi vì các biến giải thích không dừng.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành Tài chính công



Môn Tài chính Tiền tệ

Bài dịch:

CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ TẠI CÁC QUỐC GIA CHÂU ÂU MỚI NỔI THỰC HIỆN LẠM PHÁT MỤC TIÊU - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

CHỌN LỰA RIÊNG Monetary policy rule in inflation targeting emerging European

countries: A discrete choice approach

GV giảng dạy: GS.TS Sử Đình Thành Học viên thực hiện:

Nguyễn Thành Lộc

Võ Kiều My Trần Thảo Nguyên

Vũ Phạm Thúy Vy Nguyễn Thị Bích Hằng

Lớp PF01 -

Tháng 11-2016

Trang 2

CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ TẠI CÁC QUỐC GIA CHÂU ÂU MỚI NỔI THỰC HIỆN LẠM PHÁT MỤC TIÊU - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CHỌN

LỰA RIÊNG

Tóm tắt

Bài viết tìm hiểu 6 quốc gia mới nổi châu Âu thực hiện lạm phát mục tiêu, qua những phương pháp đã ghi nhận những hành vi của NHTW bao gồm cả chính sách

và các hoạt động của họ Về sau, những phát hiện của chúng tôi đề nghị những NHTW này phải thay đổi các chính sách tiền tệ theo những cách khác nhau khi độ lệch giữa LSTU và LSHH vượt quá một ngưỡng nhất định Các ước tính của phương pháp Taylor bao gồm những biến số kinh tế trong đó có TGHĐ thực Tuy nhiên, theo các bằng chứng tại Romania, Serbie và Albani thì TGHĐ là một mục tiêu cho chính nó, Czech Republic, Ba Lan, và Hungary nó là công cụ để đạt lạm phát mục tiêu, điều này có liên quan đến các đặc tính khác nhau của 2 mô hình kinh tế Việc

sử dụng phương pháp nghiên cứu chọn lựa riêng lẻ được sử dụng bởi vì các biến giải thích không dừng

1 Giới thiệu

Bài nghiên cứu đánh giá thực tế việc các chính sách tiền tệ được áp dụng tại các quốc gia mới nổi châu Âu thực hiện lạm phát mục tiêu, kiểm tra kỹ lưỡng vai trò của tỷ giá hối đoái và xem xét hành động của NHTW trong việc thiết lập LS Đặc biệt, theo các ước tính của Taylor –hàm thay đổi lãi suất, thì các NHTW thay đổi LS theo những cách khác nhau Phương pháp nghiên cứu được sử dụng là phương pháp nghiên cứu sự lựa chọn riêng lẻ không dừng của Hu&Philips

Thực tế mà nói thì CSTT trong bối cảnh thực hiện lạm phát mục tiêu của các NHTW tại các nước phát triển có thể được mô tả bằng các công thức của Taylor (Clarida, Gali, 1998; Svensson, 2011) nhưng rất khó để thấy được điều đó tại các nền kinh tế mới nổi Do đó, một nghiên cứu gần đây (Frommel, Garabedian

&Chobert, 2011) đã tính toán CSTT tại 6 nền kinh tế mới nổi châu Âu bao gồm cả 2 giai đoạn của tỷ giá hối đoái và lạm phát mục tiêu Mẫu thử kết thúc vào tháng 8/2008 để tránh khả năng bị ảnh hưởng của cuộc Đại Suy thoái tiếp theo; Tuy nhiên

có một sự giảm mạnh trong chu kỳ lạm phát mục tiêu tại mỗi quốc gia Một tính toán khác của Taylor áp dụng cho các quốc gia mới nổi châu Âu lại cho thấy một chu kỳ lạm phát mục tiêu ngắn hơn tại các nước này

Về vai trò của tỷ giá hối đoái trong chính sách tiền tệ của các quốc gia mới nổi, có một số bằng chứng thực nghiệm cho thấy nó tự thiết lập cho mình một mục đích riêng và nằm ngoài sự ảnh hưởng của nó đến lạm phát (Aizenman, Hutchison & Noy, 2011) Do đó chúng tôi sẽ tìm hiểu cả hai phương diện trên tại các quốc gia mới nổi ở châu Âu thực hiện lạm phát mục tiêu

Bài nghiên cứu này cung cấp kiến thức theo một số cách Đầu tiên, xem xét chính sách tiền tệ tại tất cả các nước mới nổi châu Âu: CH Séc, Hungary, Ba Lan, Rumani và cả Albani và Serbi là các quốc gia chưa được phân tích Slovekia được

Trang 3

bỏ qua ngay cả trong kỳ lạm phát mục tiêu (1998-2008) nó vẫn tập trung vào sự biến động của tỷ giá hối đoái

Thứ hai, chúng tôi tìm hiểu một kỳ lạm phát mục tiêu dài hơn tại các quốc gia mới nổi châu Âu so với các nghiên cứu trước là trong suốt tháng 12/2013 Một mẫu lớn cho phép chúng tôi bỏ qua 18-24 tháng đầu của kỳ lạm phát mục tiêu của một quốc gia và coi đó như một giai đoạn chuyển tiếp

Thứ ba, vì mẫu quan sát bao gồm cả cuộc Đại Suy thoái nên cho phép chúng tôi dự đoán quy luật tiền tệ có thể mô tả chính sách tiền tệ của NHTW trong những điều kiện khắc nghiệt

Thứ tư, bài nghiên cứu này chọn những mẫu rời rạc để phản ánh thực tế các NHTW thay đổi tỷ suất mục tiêu, các cuộc họp diễn ra hàng tháng hoặc lâu hơn, và về độ lớn là bội số của 0,25 điểm phần trăm Trong khuôn khổ này, chúng ta có thể cùng ước tính việc điều hành chính sách tiền tệ và xác định được thời gian thay đổi trong chính sách lãi suất Đã có những nghiên cứu cho các nước phát triển theo cách tiếp cận này, tuy nhiên không có nghiên cứu nào cho các nước mới nổi Hơn nữa, mô hình lựa chọn rời rạc được dùng cho các biếnkhông dừng, như một vài biến số trong

cơ chế tác động ngược của lãi suất của Taylor

Các nhánh chính sách có rất nhiều trong phát hiện của chúng tôi Quá trình tìm hiểu diễn ra cho dù các biến số kinh tế cơ bản giống nhau: Lạm phát, lỗ hổng sản lượng

và có ảnh hưởng đến việc điều hành chính sách tiền tệ trong các nước mới nổi châu

Âu như những gì đã làm ở các nước phát triển chỉ ra rằng liệu có chỗ cho sự cải cách

và tương ứng là các chính sách đo lường trong các thiết lập của NHTW Hơn nữa khi kiểm tra lạm phát mục tiêu đang nổi lên khắp châu Âu, chúng ta sẽ nhận thấy một số sự nổi lên không đồng nhất, đáng chú ý là trong vai trò dẫn dắt bởi tỷ giá hối đoái, như sự không cân xứng trong hành động của NHTW khi cắt giảm và gia tăng lãi suất Sự khác biệt giữa các nước sẽ dẫn đến sự khác nhau trong việc đặt ra các chính sách để loại bỏ các rào cản trong việc thực hiện lạm phát mục tiêu Tương tự, việc tìm ra sự tác động của lạm phát mục tiêu có sự thay đổi như thế nào tại mỗi quốc gia trên thế giới dẫn đến yêu cầu về sự phù hợp của chính sách tại từng quốc gia

Phần 2 đưa ra mô hình chính sách tiền tệ áp dụng theo phương pháp Taylor

Phần 3 ước lượng thực nghiệm

Phần 4 giải thích tại sao mô hình ước lượng trên có thể dự đoán tại 6 nước? ở phần này, vai trò của tỷ giá hối đoái trong chính sách tiền tệ được ước lượng thực nghiệm

sẽ chỉ ra các hình thái khác nhau giữa 2 mô hình kinh tế

2 Các mô hình hoạt động của NHTW

2.1 Chính sách tiền tệ: Kế hoạch dự phòng của NHTW

Một quốc gia có thể lựa chọn chính sách TGHĐ cố định hoặc bộ ba bao gồm TGHĐ linh hoạt, LPMT và CSTT (Taylor, 2001a)

Trang 4

LPMT là một tỷ lệ mà theo đó mức LP thực tế thay đổi xung quanh nó Để đạt được điều này, NHTW sử dụng một công cụ để điều chỉnh - lãi suất Việc điều hành CSTT là một kế hoạch làm thế nào NHTW thiết lập các mức lãi suất để giữ lạm phát thực dao động quanh mức mục tiêu Hàm thay đổi LS là quy tắc điều hành CSTT mà chúng tôi muốn ước tính

Có một độ trễ thời gian khi LS thay đổi gây ra ảnh hướng tới LP Một cơ quan được thiết lập để xem xét và thảo luận về việc dự báo mức LP từ đó có sự điều chỉnh trong LS để đạt được mục tiêu LP

Những biến số cơ bản trong công thức Taylor về hàm thay đổi LS trong nền

kinh tế mở bao gồm: Tỷ lệ LP ( ), độ chênh sản lượng (z), TGHĐ (e) Cụ thể:

i* t = d1 t + d2zt + d3et + d4it-1 (1)

Vì e được sử dụng cho LPMT nhưng đồng thời cũng thực hiện những mục đích riêng của nó nên được đưa vào phương trình (1)

Độ trễ LS it-1 phản ánh việc NHTW điều hòa sự thay đổi trong LS bằng những điều chỉnh nhỏ trong khoảng 0.25pp theo cùng chiều với LS tối ưu i*

t

(Sở dĩ NHTW chỉ thực hiện việc điều chỉnh nhỏ trong khoảng 0.25pp vì điều này sẽ làm giảm rủi ro trong chính sách và uy tín của NHTW; đồng thời, một sự thay đổi lớn trong LS sẽ có nguy cơ tổn hại nền tài chính)

2.2 Mô hình thực nghiệm

Công thức (1) xác định lãi suất i* t theo các biến ảnh hưởng (các biến số kinh

tế có liên quan) Tuy nhiên, NHTWcó những hành động khác nhau khi điều chỉnh

LS it (được dự đoán là chỉ khi i* t vượt quá một ngưỡng nhất định) Và vì it có thể quan sát được (i* t không quan sát được) nên chúng tôi muốn nghiên cứu i* t như là một yếu tố cơ bản nhất trong CSTT

Theo Hu&Philips, mô hình biến độc lập được sử dụng để ước lượng vấn đề cơ bản trong CSTT Chúng ta có mô hình sau:

y*

t = ’Xt – εt Với t = 1,…,T

y*

t = i* t - it-1

Ta có : yt = -1 nếu -∞ < y*t < µ1

yt = 0 nếu µ1 < y*

t < µ2 µ 1, µ 2 là các tham số chưa biết

yt = 1 nếu y*

t > µ2

Trang 5

Khi y*t lớn hơn µ2 , NHTW sẽ tăng LS it

Khi y*t nằm trong khoảng µ1, µ2 NHTW sẽ không thay đổi LS

Khi y*

t nhỏ hơn µ1 , NHTW sẽ giảm LS it

Ba sự lựa chọn trên được áp dụng cho mô hình OPROBIT trong đó biến độc lập yt nhận các giá trị -1, 0, 1 tương ứng với việc NHTW cắt giảm, không đổi và tăng lãi suất OPROBIT được mở rộng thành GOPROBIT với 5 sự lựa chọn

Phương trình hệ số : y^*

t = ’Xt

Mà: y*t = i* t - it-1

i^* t = ’Xt + it-1

Kết hợp việc ước lượng hệ số và CSTT, những mô hình rời rạc đưa ra sự ước tính về các tham số µ1 và µ2 với ý nghĩa thống kê được giải thích cho sự thay đổi của LS theo những cách khác nhau của NHTW khi LS tối ưu vượt quá một ngưỡng nhất định Điều này cũng đưa ra quan điểm dùng LS tối ưu để ước tính CSTT thay vì dùng LS hiện hành

3 Ước lượng thực nghiệm

3.1 Điều hành chính sách tiền tệ:

Bởi vì các NHTW đưa ra quyết định hàng tháng, chúng tôi sử dụng dữ liệu hàng tháng có độ trễ 1 kỳ, ví dụ thông tin mới nhất có sẵn khi đưa ra quyết định Mẫu của các quốc gia sẽ được loại bỏ giai đoạn làm phát mục tiêu trong 18-24 tháng đầu tiên

(bảng 1), vì giai đoạn chuyển đổi có thể không đáng tin cậy

Trang 6

Lạm phát có ảnh hưởng đáng kể và tương quan dương với hàm thay đổi lãi suất Do

đó, việc tăng lạm phát trong một tháng trước khi cuộc họp của hội đồng NHTW làm tăng khả năng các mức lãi suất chính sách sẽ tăng Sự thay đổi GDP, như kỳ vọng,

có ảnh hưởng đang kể và ảnh hưởng cùng chiều lên lãi suất chính sách ở tất cả các

quốc gia

Tỷ giá hối đoái không phải là biến tiêu chuẩn cho hàm điều hành chính sách tiền tệ, Khoảng trống tỷ giá hối đoán thực dương hàm ý đồng nội tệ đang được định giá thấp

so với đồng Euro Vì thế khi đồng nội tệ giảm giá làm sự thay đổi tỷ giá tăng, chúng

ta có thể kỳ vọng NHTW tăng lãi suất chính sách để bù đắp việc giảm giá nội tệ và ảnh hưởng lên lạm phát thông qua kênh trung chuyển của tỷ giá và/ hoặc tăng cầu

các sản phẩm nội địa

Hệ số khoảng trống tỷ giá hối đoái thực có ý nghĩa thống kê và dương ở Cộng Hòa Séc, Ba Lan, Hungary, và Serbia Ở Romania và Albania, mức độ thay đổi của tỷ giá

hối đoái thực có ảnh hưởng đáng kể đến công thức điều hành chính sách tiền tệ

Cuối cùng, cả sáu NHTW “làm mềm” sự thay đổi lãi suất chính sách, ví dụ lãi suất ở

t – 1 có hệ số dương trong công thức ước lượng việc điều hành chính sách tiền tệ, công thức 4 Trong trường hợp của Cộng hòa Séc, Ba Lan, Hungary, và Romania, lãi suất ở t -1 đóng góp đáng kể vào công thức ước lượng tuyến tính hàm y*t, mặc dù

nó có giá trị âm (bảng 1) Tuy nhiên, khi chuyển từ y*t sáng công thức điều hành chính sách tiền tệ i*t, chúng ta cộng vào lãi suất chính sách t-1 vào công thức của

Trang 7

y*t (công thức 4) Vì thế, hệ số ước lượng lãi suất độ trễ, ví dụ Cộng Hòa Séc là (1 – 0,222) = 0.8 >, hệ số này dương hàm ý việc tăng lãi suất ở trong các giai đoạn trước

có thể dẫn đến việc tăng lãi suất trong giai đoạn hiện tại Trường hợp tương tự cho các ước lượng ở Ba Lan, Hungary, và Romania Serbia và Albania, lãi suất i(t-1) không có ảnh hưởng đáng kể đến hồi quy tuyến tính y*t và kết quả là trong công

thức 4, lãi suất t -1 có hệ số dương bằng 1

3.2 Hành vi điều hành của NHTW: ước lượng giá trị ngưỡng

Mô hình 5 sự lựa chọn để đánh giá giả định hành vi của các NHTW theo đuổi lạm

phát mục tiêu ở thị trường Châu Âu mới nổi

Vì thế, biên độc lập y bây giờ sẽ có 5 giá trị phụ thuộc vào độ lớn của sự thay đổi lãi

suất:

y= -2 nếu NHTW quyết định giảm lãi suất lớn, ví dụ, 0.5% hay nhiều hơn

y= -1 nếu NHTW quyết định giảm lãi suất, ví dụ, 0.25%

y= 0 nếu NHTW không thay đổi

y= 1 nếu NHTW quyết định tăng lãi suất nhỏ, ví dụ, 0.25%

y= -2 nếu NHTW quyết định tăng lãi suất lớn, ví dụ, 0.5% hay nhiều hơn

Một lần nữa, chúng tôi giả định rằng NHTW sẽ thay đổi lãi suất chính sách (i) chỉ

khi sự sai lệch so với mức lãi suất tối ưu, ví dụ: y*t = i*t – i(t-1) cụ thể là:

y= -2 nếu -∞ < y*t < μ1

y= -1 nếu μ1 ≤ y*t ≤ μ2

y= 0 nếu μ2 ≤ y*t ≤ μ3

y= 1 nếu μ3 ≤ y*t ≤ μ4

y= -2 nếu y*t > μ4

Mô hình cho thấy nếu lãi suất tối ưu i*t lớn hơn lãi suất điều hành i(t-1), sự khác biết giữa hai mức (y*t) lớn hơn giá trị ngưỡng μ4, NHTW sẽ có sự điều chỉnh lãi suất chính sách lớn, ví dụ 0.5% hoặc hơn., điều tương tự cho 4 trường hợp còn lại Kết

quả được trình bày trong bảng 2

Về hành vi điều hành của NHTW, chúng tôi tìm thấy mô hình 5 sự lựa chọn cho các giá trị ước lượng có ý nghĩa thống kê đáng kể cho tất cả các giá trị ngưỡng μ so với

mô hình 3 sự lựa chọn (bảng 1 và 2) Các NHTW thận trọng phân biệt thận trọng giữa sự thay đổi nhỏ và lớn của lãi suất chính sách ở tất cả các quốc gia (ngoại trừ

Trang 8

Cộng Hòa Séc và Albania), chúng tôi tìm thấy 4 giá trị ngưỡng có ý nghĩa thống kê

Ở Cộng Hòa Séc và Albania μ4 không tồn tại bởi vì không có sự thay đổi lớn nào trong lãi suất chính sách, vì sự thay đổi 0.5% hoặc hơn không xuất hiện trong mẫu

quan sát

Hệ số ước lượng giá trị ngưỡng ngụ ý tất cả các NHTW ngoài trừ Albania, hành động cân xứng khi quyết định tăng và giảm lãi suất Điều này có được là do kết quả của kiểm định Wald chỉ ra rằng giá tri tuyệt đối của các giá trị ngưỡng bằng nhau (μ1= μ4 và μ2= μ3, xem bảng 2) Vì vậy các NHTW không có sự khác biệt khi phải tăng hay giảm lãi suất chính sách Tuy nhiên trong trương hợp của Albania, kiểm định Wald cho kết quả, NHTW hành động không cân xứng, ví du: μ2 < μ3, đo đó việc điều chỉnh diễn ra dễ dàng hơn khi cắt giảm so với việc tăng lãi suất (1,03 <

2,66 trong bảng 2)

Độ lớn của giá trị ngưỡng khác nhau giữa các quốc gia, nhỏ nhất ở Serbia, và lớn nhất ở Romania (bảng 2), cho thấy NHTW Serbia được xem như ngân hàng thận trọng nhất, nhạy cảm nhất đối với sự khác nhau giữa lãi suất tối ưu và lãi suất chính sách thực Do đó ở Serbia, giá trị ngưỡng để cắt giảm mạnh lãi suất là -1,04, có nghĩa là NHTW sẽ cắt giảm 0.5% hoặc nhiều hơn khi lãi suất tối ưu nhỏ hơn lãi suất điều hành (t-1) 1.04%, ví dụ |i*t – i(t-1)| > 1.04% Tương tự, việc tăng 0,5% hoặc hơn diễn ra khi lãi suất tối ưu lớn hơn lãi suất thực 1.27% (bảng 2) Những ước lượng này cho thấy NHTW Serbia, mức thay đổi 0.5% của lãi suất chính sách chiếm gần một nữa sự chêch lệch giữa lãi suất tối ưu (i*) và lãi suất thực (i) Những kết quả này khá đáng tin cậy về hành vi quán tính của NHTW, ví dụ NHTW có khuynh

hướng thay đổi dần dần bằng một vài bước cùng chiều

Trang 9

Các kết quả tương tự ở Serbia trong trường hợp những thay đổi nhỏ, ví dụ 0.25% Giá trị ngưỡng cho việc cắt giảm và tăng lần lượt là: -0.81 và 0.72 (bảng 2), và do đó

sự khác biệt giữa hai mức lãi suất tối ưu (i*) và thực (i), giảm ngay bởi sự thay đổi

0.25% trong lãi suất chính sách

Cuối cùng, so sánh giá trị ngưỡng tuyệt đối cho việc tăng và giảm lãi suất: 1,04 với 1,27; 0,81 và 0.72 cho thấy chúng khá bằng nhau, điều này đã được chứng minh

bằng kiểm định Wald (bảng 2)

3.3 Có phải tất cả các biến ảnh hưởng đến việc giảm và tăng lãi suất?

Nới lỏng giả thiết của mô hình xác suất đơn vị (OPROBIT) được sử dụng trong các phần trước Hệ số β xác định với tất cả các sự chọn không phân biệt NHTW tăng hay giảm lãi suất Mô hình xác suất đơn vị mở rộng (GOPROBIT) không bắt buộc phải tuân thủ giả thiết trên (PLA), do đó cho phép NHTW kết hợp các biến khác nhau khi

quyết định tăng hoặc giảm lãi suất

Chúng tôi tiến hành sử dụng phương pháp tối thiểu hóa AIC để kiểm định giả thiết PLA có phù hợp hay không, nếu không thì nhân tố nào làm giả thiết PLA bị bác bỏ (Danis 2009), Vì thế ngoài mô hình OPROBIT (bảng 1) cho các quốc gia trên, chúng tôi ước lượng mô hình GOPROBIT- mở rộng và từng phần – và chọn lựa mô hình có giá trị AIC tối thiểu cho mỗi quốc gia Như trong bảng 3, tiêu chuẩn AIC nhỏ nhất cho thấy mô hình GOPROBIT một phần phù hợp với Cộng Hòa Séc, Ba

Lan, Hungary, mặc dù nó khác nhau giữa các quốc gia

Hơn nữa, các bằng chứng cho thấy NHTW Cộng Hòa Séc hành động khác nhau với biến lạm phát và khoảng trống sản lượng, phù thuộc vào NHTW đang suy tính tăng hoặc giảm lãi suất Đặc biệt là các hệ số ước lượng trong bảng 3 cho thấy NHTW lạm phát không có ảnh hưởng (không có ý nghĩa thống kê, bảng 3) khi quyết định cắt giảm lãi suất và tập trung vào khoảng trống sản lượng (có ý nghĩa, bảng 3) cũng như là hai biến còn lại (tỷ giá và i-1) Tuy nhiên khi quyết định tăng lãi suất NHTW Cộng Hòa Séc khoảng trống sản lượng (không có ý nghĩa thống kê, bảng 3) và tập

Trang 10

trung vào biến lạm phát (có ý nghĩa thống kê, bảng 3), và hai biến còn lại (tỷ giá và i-1) Hệ số của hai biến tỷ giá và lãi suất trong mô hình GOPROBIT từng phần cho kết quả giống nhau khi cắt giảm và tăng lãi suất, kết quả này giống kết quả của mô

hình OPROBIT trong bảng 1

Trong trường hợp của Ba Lan, mô hình GOPROBIT từng phần tối thiểu hóa AIC cho thấy tỷ giá không có tác động đến NHTW (không có ý nghĩa thống kê, bảng 3)

khi quyết định tăng lãi suất, cũng như là việc cân nhắc các biến khi cắt giảm lãi suất

Tương tự ở Hungary, NHTW tập trung vào tất cả các biến khi cắt giảm lãi suất, khi

tăng lãi suất biến lạm phát ít có ảnh hưởng (không có ý nghĩa thống kê, bảng 3)

4 Các mô hình dự báo tốt như thế nào?

Ở Bảng 4 và 5 là kết quả tổng hợp của 6 quốc gia khi đối chiếu mô hình dự báo với các quyết định thực tế Theo đó các mô hình dự báo rất tốt trong cả 3 quyết định: cắt giảm, giữ nguyên hoặc tăng LS (khoảng 70% các quyết định được dự báo chính xác) Hơn nữa, khi dự báo chính sách ở từng quốc gia thì hiệu suất của các mô hình có sự biến động lớn (từ 67% dự báo đúng ở Serbia cho tới 8% ở CH Sec) do sự khác nhau giữa các mẫu sử dụng Với trường hợp mẫu cân bằng có tỷ lệ thay đổi quyết định cao (như 61% ở Serbia) thì mô hình dự báo tốt; ngược lại, mô hình dự báo không tốt trong trường hợp mẫu không cân bằng, tỷ lệ thay đổi quyết định thấp (như 22% ở CH Sec)

Ngày đăng: 27/06/2017, 10:57

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  8  chia  thành  2  nhóm  chính  dựa  trên  mức  độ  euroized  (được  đo  lường  bằng các khoản tiền gửi và nợ nước ngoài) và những chỉ số tài chính khác - Bài dịch CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ TẠI CÁC QUỐC GIA CHÂU ÂU MỚI NỔI THỰC HIỆN LẠM PHÁT MỤC TIÊU  PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CHỌN LỰA RIÊNG
ng 8 chia thành 2 nhóm chính dựa trên mức độ euroized (được đo lường bằng các khoản tiền gửi và nợ nước ngoài) và những chỉ số tài chính khác (Trang 13)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w