Tác động của dự trữ dư thừa vượt mức phòng ngừa lên các kênh tín dụng ở Trung QuốcTóm tắt: Nghiên cứu này xem xét các kênh tín dụng ngân hàng và tác động của đặc điểm riêng biệt của ngân hàng lên cung ứng tín dụng trước những thay đổi chính sách tiền tệ đối với dự trữ vượt mức không tự nguyện tại Trung Quốc. Sử dụng 95 ngân hàng làm mẫu thử, nghiên cứu này cho thấy rằng sự tương tác giữa nguồn dự trữ vượt mức không tự nguyện với thanh khoản ngân hàng và với những ngân hàng có qui mô lớn sẽ dễ bị tổn thương hơn trước những cú sốc chính sách tiền tệ, trong khi vốn có tác động không đáng kể lên nguồn cung ứng tín dụng trước những thay đổi về chính sách tiền tệ. Kết quả của chúng tôi cho thấy dự trữ vượt mức không tự nguyện, qui mô của các ngân hàng và tính thanh khoản rất quan trọng trong việc đánh giá tác động của chính sách tiền tệ lên tăng trưởng tín dụng. Điều này ngụ ý về vấn đề người đại diện, chẳng hạn như lương thưởng dựa trên doanh số bán ra, là nguyên nhân thúc đẩy việc cho vay cũng như thực hiện các hành vi nhiều rủi ro của các ngân hàng ở Trung Quốc.
Trang 1Tác động của dự trữ dư thừa vượt mức phòng ngừa lên các kênh tín dụng ở Trung Quốc
Tóm tắt:
Nghiên cứu này xem xét các kênh tín dụng ngân hàng và tác động củađặc điểm riêng biệt của ngân hàng lên cung ứng tín dụng trước những thayđổi chính sách tiền tệ đối với dự trữ vượt mức không tự nguyện tại TrungQuốc Sử dụng 95 ngân hàng làm mẫu thử, nghiên cứu này cho thấy rằng sựtương tác giữa nguồn dự trữ vượt mức không tự nguyện với thanh khoảnngân hàng và với những ngân hàng có qui mô lớn sẽ dễ bị tổn thương hơntrước những cú sốc chính sách tiền tệ, trong khi vốn có tác động không đáng
kể lên nguồn cung ứng tín dụng trước những thay đổi về chính sách tiền tệ.Kết quả của chúng tôi cho thấy dự trữ vượt mức không tự nguyện, qui môcủa các ngân hàng và tính thanh khoản rất quan trọng trong việc đánh giá tácđộng của chính sách tiền tệ lên tăng trưởng tín dụng Điều này ngụ ý về vấn
đề người đại diện, chẳng hạn như lương thưởng dựa trên doanh số bán ra, lànguyên nhân thúc đẩy việc cho vay cũng như thực hiện các hành vi nhiều rủi
ro của các ngân hàng ở Trung Quốc
1 Giới thiệu
Trong khi phần lớn các tài liệu cho rằng ngân hàng có nguồn vốn, qui
mô lớn và có tính lỏng thì ít bị cú sốc chính sách tiền tệ hơn (Kashyap vàStein, 1995, 2000; Kishan và Opiela, 2000; Gambacrta, 2005), các cơ chế
mà thông qua đó các đặc điểm riêng biệt của ngân hàng ảnh hưởng đến việctruyền dẫn chính sách tiền tệ vẫn là chủ đề của cuộc tranh luận (Disyatat,2011) Vì vậy, phần lớn các tài liệu đã kiểm nghiệm về sự tồn tại của kênhtín dụng ngân hàng trong suốt thập kỉ vừa qua và cụ thể là các cơ chế sốnhân tiền Có lập luận cho rằng việc xác định chính xác vai trò của các ngânhàng trong việc truyền dẫn chính sách tiền tệ có thể là chìa khóa để giảithích cho những tác động của các chính sách trên đến nền kinh tế (Kishan vàOpiela, 2000) Các lý thuyết cơ chế số nhân tiền thừa nhận rằng cung ứng tíndụng bị hạn chế bởi sự thiếu hụt dự trữ và việc thắt chặt chính sách tiền tệlàm giảm vốn vay bằng cách làm hao hụt tiền gửi từ hệ thống ngân hàng(Bernanke and Blinder, 1988) Hiệu ứng này sẽ cắt giảm đáng kể khả năngcho vay của một ngân hàng nếu thiếu hụt tiền gửi không được bù đắp lạitoàn bộ bằng những nguồn nợ không dự trữ, đây là hậu quả của lực ma sátthị trường (Bernanke và Blinder, 1988) Thắt chặt chính sách tiền tệ làm tăngxác suất vỡ nợ vay và rủi ro tín dụng cho ngân hàng (Bernanke et al, 1999;Angeloni và Faia, 2009), do đó, các ngân hàng với các hành vi chấp nhận rủi
ro cao sẽ bị ảnh hưởng nhiều hơn bởi cú sốc chính sách tiền tệ Dưới cơ chế
Trang 2tỷ lệ sinh lời bắc buộc, chính sách thắt chặt tiền tệ làm suy yếu trị giá ròngcủa các ngân hàng, làm tăng chi phí tài chính từ bên ngoài và dẫn đến một sựsuy giảm trong lãi ròng của ngân hàng (Disyatat, 2011) Sự suy giảm lãiròng của ngân hàng làm giảm tính sinh lãi của việc cho vay, dẫn đến làmgiảm nguồn cung ứng tín dụng Bởi vì qui mô, vốn và thanh khoản cũngphản ánh một bảng cân đối kế toán của ngân hàng và chi phí tài chính bênngoài, các cơ chế mà qua đó các đặc điểm riêng biệt của ngân hàng ảnhhưởng đến hành vi cho vay của nó dường như là không thể phân biệt đượcvới Cơ chế số nhân tiền và cơ chế lợi suất bắt buộc (Disyatat, 2011) Kishan
và Opiela (2000) đồng tình và cho rằng, trong thực tế rất khó để xác địnhrằng liệu chính sách tiền tệ có trực tiếp ảnh hưởng đến nguồn cung cấpkhoản vay hoặc nhu cầu vay vốn hay không; do đó, rất khó chứng minh sựtồn tại của kênh tín dụng ngân hàng Điều quan trọng là phải làm rõ cơ chế
mà qua đó truyền tải chính sách tiền tệ xảy ra để các ngân hàng trung ương
có thể kiểm duyệt một cách có hiệu quả nguồn cung tín dụng Trong nghiêncứu này, chúng tôi cung cấp bằng chứng ủng hộ kênh tín dụng ngân hàngkhi dự trữ vượt mức không tự nguyện được phổ biến trong hệ thống ngânhàng Bindseil et al (2006) định nghĩa dự trữ vượt mức như các cổ phiếu, tàikhoản hiện tại của một ngân hàng với ngân hàng trung ương vượt mức dựtrữ mà luật pháp hoặc điều lệ yêu cầu (e.g dự trữ vượt mức dự trữ bắt buộc).Agenor et al (2004) tiếp tục phân dự trữ dư thừa thành hai loại, dự trữ vượt
mức phòng ngừa mà các ngân hàng giữ để phòng bất trắc và dự trữ vượt quá
mức phòng ngừa (còn được gọi bằng dự trữ vượt mức không tự nguyện).Trong nghiên cứu này chúng tôi áp dụng các định nghĩa của Agenor et al(2004) và xác định dự trữ vượt mức không tự nguyện là những dự trữ vượtquá mức phòng ngừa Do đó, chúng tôi đưa ra giả thuyết rằng các ngân hàngTrung Quốc với mức dự trữ dư thừa không tự nguyện sẽ phản ứng chậm hơnvới chính sách thắt chặt tiền tệ và cơ chế số nhân tiền giải thích cho việc chovay của Trung Quốc và hành vi chấp nhận rủi ro tốt hơn so với cơ chế lợisuất bắt buộc
Nghiên cứu của chúng tôi khác với những nghiên cứu trước đó vìnhững nghiên cứu đó tập trung chủ yếu vào các ngân hang ở các quốc giaphát triển có xu hướng dự trữ vượt mức thấp và hầu như không có dự trữvượt mức không tự nguyện trong hệ thống ngân hàng Điều này trái ngượchẳn với các ngân hàng trong nền kinh tế thị trường mới nổi, chẳng hạn nhưnhững ngân hàng ở Trung Quốc, có xu hướng để có dự trữ vượt mức "tựnguyện" lớn trong hệ thống ngân hàng; những dự trữ vượt mức không tựnguyện này có thể được dùng để phòng ngừa những tác động của các cúsốc chính sách tiền tệ Dự trữ vượt quá mức phòng ngừa có thể đóng một
Trang 3vai trò quan trọng trong hành vi cho vay của ngân hàng, trong cơ chếtruyền dẫn tiền tệ cũng như hiệu quả của chính sách tiền tệ Việc có mộtlượng lớn dự trữ vượt mức không tự nguyện cũng chỉ ra rằng hiếm khi xảy
ra việc thiếu hụt thanh khoản, từ đó có thể dẫn đến việc cho vay quá mứccủa các ngân hàng cũng như làm tăng thêm những hành động mang tínhnguy hiểm (Acharya và Naqvi, 2012) Dự trữ vượt mức trong nền kinh tế
năm 1990 xuống 2,3 % trong năm 2011, đã trở thành một mối quan tâmlớn đối với hiệu quả của chính sách tiền tệ của Trung Quốc Điều này là dothù lao về dự trữ vượt mức là thấp so với lợi nhuận trên vốn vay, do đó,các ngân hàng có xu hướng giảm dự trữ vượt mức bằng cách luôn mở rộngkhối lượng tín dụng để đạt được lợi nhuận cao hơn, từ đó giải thích choviệc thắt chặt các chính sách tiền tệ dùng để cắt giảm nguồn cung ứng tíndụng trở nên kém hiểu quả hơn (xem McKinnon năm 2007; Roubini,2007; Zhang, 2009) Ủng hộ quan điểm này, một số tác giả (như Anderson,2009; Conway et al, 2010; Ma et al, 2011) cũng nhận thấy rằng tỷ lệ dựtrữ dư thừa trong hệ thống ngân hàng Trung Quốc là cao hơn so với Mỹ vàcác nước trong Liên minh châu âu Tuy nhiên, các tài liệu trước hầu như
bỏ qua các tác động của dự trữ dư thừa không tự nguyện lên truyền tảichính sách tiền tệ Điều này đi ngược lại với bối cảnh mà các kênh cho vayngân hàng chiếm ưu thế và là một cơ chế truyền tải quan trọng, cấu thànhnên nguồn đóng góp và đầu tư chính ở Trung Quốc (Sun et al, 2010; Liu
và Zhang, 2010) Trong nghiên cứu này, chúng tôi đề cập đến các câu hỏisau: (i) Kênh tín dụng của ngân hàng ở Trung Quốc hoạt động dựa trên cơchế nào? Và (ii) Các đặc điêm riêng biệt của ngân hàng ảnh hưởng cungứng tín dụng như thế nào nhằm đáp ứng với những thay đổi chính sáchtiền tệ trong bối cảnh dự trữ dư thừa không tự nguyện ở Trung Quốc?
Sự đóng góp của nghiên cứu này gồm hai phần: Thứ nhất, chúng tôiđóng góp cho kênh tín dụng ngân hàng đối với các cơ chế truyền dẫn chínhsách tiền tệ mà bắc buộc hành vi cho vay của các ngân hàng Trung Quốc.Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng truyền dẫn chính sách tiền tệ ở Trung Quốcxảy ra thông qua cơ chế số nhân tiền, trong khi cơ chế mức sinh lời được yêucầu dường như là không có ý nghĩa Điều này ngụ ý rằng số lượng tiền gửi
tiền tệ ở Trung Quốc Thứ hai, chúng ta làm sáng tỏ những ảnh hưởng củađặc điểm riêng biệt của ngân hàng đến truyền dẫn của chính sách tiền tệtrong nền kinh tế mới nổi có mức dự trữ vượt mức không tự nguyện cao.Nghiên cứu cho thấy rằng khi mức dự trữ vượt mức không tự nguyện cao,
Trang 4ngân hang có thanh hoặc những ngân hang lớn sẽ dễ bị tổn thương hơn trướcnhững cú sốc chính sách tiền tệ, trong khi tác động của vốn và lợi nhuận lãiròng biên đối với kênh tín dụng ngân hàng là không đáng kể Kết quả củachúng tôi chỉ ra rằng dữ liệu bao gồm dự trữ vượt mức không tự nguyện, qui
mô của các ngân hàng và tính thanh khoản rất quan trọng trong việc đánh giátác động của chính sách tiền tệ vào tăng trưởng tín dụng Điều này ngụ ýrằng một vấn đề đại diện, chẳng hạn như lương thưởng dựa trên khối lượngcho vay, là điều dẫn tới việc ngân hàng cho vay cũng như các hành vi chấpnhận rủi ro ở Trung Quốc Điều này phù hợp với nghiên cứu của Acharya vàNaqvi (2012) chỉ ra rằng lương thưởng dựa trên khối lượng cho vay dẫn đếncác hành vi cho vay của người cho vay trước cuộc khủng hoảng tài chínhtoàn cầu trong giai đoạn 2007-2009
Phần còn lại của cuộc nghiên cứu được tổ chức như sau: Các tài liệuliên quan được xem xét tại Mục 2, Mục 3 nêu ra giả thuyết, Dữ liệu và ướctính các mô hình được trình bày trong phần 4 Mục 5 trình bày các kết quả
và cung cấp một cuộc thảo luận Những phân tích khác cũng như những bàikiểm tra tính chuẩn xác được trình bày trong Mục 6 Mục 7 tóm tắt nhữngkết luận của nghiên cứu
2 Trình bày tổng quan lý thuyết 2.1 Dự trữ vượt mức không tự nguyện:
Động lực cho ngân hàng nắm giữ dự trữ vượt mức đã được giải thích
từ quan điểm của cả cung và cầu (xem De Haan và Van den End, 2013).Theo quan điểm nguồn cung, dự trữ vượt mức có liên quan đến chính sáchtiền tệ mở rộng, trong đó các ngân hàng trung ương bơm tiền vào hệ thốngngân hàng khi nhu cầu vay vốn giảm Quan điểm này phần lớn bị chỉ trích vì
nó không xem xét đến trường hợp ngân hàng yêu cầu có dự trữ vượt mức đểbảo vệ thanh khoản (Friedman và Schwartz, 1963; Frost, 1971) Agenor et
al (2004) lập luận rằng một ngân hàng có thể tự nguyện giữ dự trữ dư thừatrên mức qui định mà không muốn cho vay ra với mục đích phòng ngừa; loạihành động này chỉ ra nhu cầu cần có dự trữ dư thừa Nếu một ngân hàng vôtình tích lũy dự trữ vượt mức đề phòng, nó sẽ sẵn sàng mở rộng tín dụnghơn Trong một trường hợp như vậy, dự trữ vượt mức không tự nguyện đượccoi là một nguồn cung quá mức dự trữ Quan điểm này kết hợp các yếu tốcung và cầu trong việc xác định nguyên nhân của dự trữ dư thừa, mà đãđược sử dụng và được đo lường bằng nhiều tác giả, bao gồm Agenor et al.(2004) và Aikaeli (2011) Đối với mức độ dự trữ dư thừa được nắm giữ tạiTrung Quốc, dự trữ dư thừa toàn bộ vượt quá yêu cầu theo luật định trong hệthống ngân hàng Trung Quốc đứng ở mức trung bình 10 % cơ sở tiền gửi
Trang 5trong những năm 1990 và đầu những năm 2000 (Anderson, 2009; Laurens
và Maino, 2009) Anderson (2009) lưu ý rằng Ngân hàng Nhân dân TrungQuốc (PBC) sử dụng nhu cầu dự trữ như là một công cụ tiền tệ chính đểgiảm dự trữ vượt mức trong hệ thống ngân hàng Trung Quốc Do đó, tỷ lệ dựtrữ vượt mức ổn định ở mức khoảng 4 % đến 5 % trong năm 2006-2007 vàgiảm xuống khoảng 2,5 % trong năm 2009, và giữ ở mức đó cho đến hết2011.1 Ở Mỹ và các nước khu vực Châu Âu, dự trữ vượt mức dao động ởkhoảng 1 %, so với mức này thì tỷ lệ dự trữ vượt mức của Trung Quốc ở vàomức tương đối cao (Conway et al., 2010)
2.2 Kênh tín dụng ngân hàng
Giả thuyết về kênh tín dụng ngân hàng được phát triển bởi Bernanke vàBlinder (1988) cho rằng truyền dẫn chính sách Tiền tệ có thể xảy ra thôngqua các bên cung cấp tín dụng ngân hàng vì tín dụng ngân hàng "đặc biệt"
và không bị thay thế bởi trái phiếu; Do đó, chính sách tiền tệ không chỉ ảnhhưởng đến quyết định đầu tư (nhu cầu tín dụng) mà còn đến quyết định chovay của ngân hang (cung cấp tín dụng) Trong một chế độ thu hẹp các ngânhàng trung ương rút quỹ dự trữ từ hệ thống ngân hàng, hạn chế thanh khoản
và giảm nguồn vốn cho vay của các ngân hang Do lực ma sát thị trường, cácngân hàng không thể thay thế các khoản tiền gửi bằng các nguồn vốn khác
mà không phải mất thêm chi phí và do đó nguồn cung cho vay giảm Romer
và Romer (1990) chỉ trích giả định này dựa trên cơ sở là các ngân hàng cóthể dễ dàng chuyển sang nợ phi dự trữ để bảo vệ danh mục cho vay của họkhỏi những cú sốc dự trữ Disyatat (2011) lập luận cho sự phân tích của cơchế số nhân tiền của các kênh cho vay ngân hàng bằng cách chỉ ra rằngnguồn cung cấp tín dụng không bị hạn chế bởi các khoản tiền gửi Disyatat(2011) lập luận rằng hệ thống ngân hàng nói chung không bao giờ thiếu vốn
để xuất vốn cho vay bởi vì một khi một khoản vay được cấp, ngân hàng khởiđầu khoản nợ mới và đó trở thành tiền gửi tại các ngân hàng khác khi mualại Nói cách khác, các khoản vay tạo ra các khoản tiền gửi chứ không phảingược lại Tuy nhiên, lập luận của Bernanke và Blinder (1988) về sự ma sátthị trường' vẫn còn hợp lí bởi vì chính sách thắt chặt tiền tệ làm suy yếubảng cân đối kế toán của các ngân hàng; Kết quả là, các ngân hàng phải đốimặt với chi phí tài chính từ bên ngoài cao hơn (Bernanke et al., 1996), và đó
là nguyên nhân lợi nhuận cho vay giảm (Disyatat, 2011) Điều này cho thấychính sách thắt chặt tiền tệ làm tăng chi phí dịch vụ nợ, làm giảm khả nănghuy động và cho vay tiền của các ngân hang và, do đó, làm giảm nguồn cungcấp tín dụng (Disyatat, 2011)
Nỗ lực ban đầu để kiểm tra tác động của việc thay đổi chính sách tiền
tệ lên nguồn cung cấp tín dụng được thực hiện bởi Bernanke và Blinder
Trang 6(1992) bằng cách sử dụng dữ liệu tổng hợp từ ngành ngân hàng Hoa Kỳ Tuynhiên, nghiên cứu của họ đã bị chỉ trích vì không phân biệt nguồn cung cấptín dụng và các nhu cầu tín dụng vì cú sốc chính sách ảnh hưởng đến nhucầu tín dụng và cung cấp theo cùng một hướng (Ehrmann et al., 2003) Bởi
vì các dữ liệu tổng hợp có thể không phân biệt tác động của nhu cầu tín dụng
và tác động của những nguồn cung cấp tín dụng; những nghiên cứu tiếptheo, chẳng hạn như những nghiên cứu của Kashyap và Stein (1995, 2000)
và Gambacorta (2005), đã sử dụng dữ liệu cấp độ ngân hàng để kiểm tra ảnhhưởng của đặc tính riêng biệt của ngân hàng và của việc thay đổi chính sáchtiền tệ đối với nguồn cung cấp tín dụng Đáng chú ý là các nghiên cứu về cácnước phát triển và các nước đang phát triển đã cho ra các kết quả khác nhau.Trong khi các ngân hàng với thanh khoản kém sẽ làm giảm nguồn cung cấptín dụng nhanh hơn khi tiền tệ bị thắt chặt (Kashyap và Stein, 2000;Altunbas et al, 2002; Ehrmann et al, 2003; Gambacorta, 2005; Cetorelli vàGoldberg, 2008 ; Altunbas et al, 2009, 2010; Carrera, 2010; Gambacorta vàMarques-Ibanez, 2011), các nghiên cứu khác cho thấy nguồn cung tín dụngcác ngân hàng có tính lỏng giảm nhanh hơn so với các ngân hàng không cótính lỏng hoặc là tác động của tính thanh khoản đối với nguồn cung ứng tíndụng khi có chính sách thắt chặt tiền tệ là không đáng kể (Hernando vàMartinez-Pages, 2001; Takeda et al, 2005; Jimborean, 2009; Matousek vàSARANTIS, 2009; Alper et al, 2012; Sichei và Njenga, 2012) Tương tựnhư vậy, các kết quả cũng khác nhau khi so sánh qui mô của ngân hàng vàvốn (Kashyap và Stein, 1995; Kishan và Opiela, 2000; Altunbas et al, 2002;.Alfaro và cộng sự, 2004; Brooks, 2007; Jimborean, 2009; Tabak et al ,2010; Abdul Karim et al, 2010; Gambacorta và Marques-Ibanez, 2011;Ahtik, 2012; Sichei và Njenga, 2012) Trong bối cảnh Trung Quốc, Gunji vàYuan (2010) cho thấy các ngân hàng có lợi nhuận thấp hơn có xu hướngnhạy cảm hơn với các cú sốc chính sách tiền tệ Tác động của chính sáchtiền tệ lớn hơn đối với các ngân hàng thương mại cổ phần nhỏ và các ngânhàng thương mại nhà nước lớn Các ngân hàng có thanh khoản nhiều hơn có
xu hướng nhạy cảm với chính sách tiền tệ trong khi ảnh hưởng của chínhsách tiền tệ đối với các ngân hàng có đủ vốn vẫn còn mơ hồ Điều quantrọng cần lưu ý là không nghiên cứu nào nói trên xem xét đến ảnh hưởng củamối tương tác giữa những đặc điểm riêng biệt của ngân hàng đối với dự trữ
tự nguyện không vượt mức hoặc xem xét hệ quả của những tương tác nàyđối với tính hiệu quả của chính sách tiền tệ
3 Phát triển giả thuyết.
3.1 Tỷ lệ dự trữ vượt mức và số nhân tiền:
Trang 7Lý thuyết số nhân tiền tệ trong khoản vay cho rằng chính sách thắtchặt tiền tệ làm giảm việc cung cấp tín dụng bằng cách kiềm chế khả nănghuy động tiền gửi của các ngân hàng qua việc nâng cao tỷ lệ dự trữ bắt buộc(Bernanke and Blinder, 1988) Theo quan điểm này ta thấy chính sách thắtchặt tiền tệ dẫn đến việc lãi suất tang, từ đó dẫn đến sự sụt giảm nguồn dựtrữ vượt mức và kéo theo đó là sự sụt giảm của nguồn cung ứng tín dụng là
vì việc cấp tín dụng trong điều khiện chính sách thắt chặt tiền tệ làm cho giá
trị tài sản ròng của người đi vay giảm xuống (Bernanke etal., 1999), dẫn đến
AngeloniandFaia, 2009) Rủi ro tín dụng cao hơn đẩy cao nguy cơ mất khảnăng thanh khoản (Morris và Shin, 2009; Liang etal, 2011) Trước nguy cơmất khả năng thanh khoản cao, các ngân hàng cần phải có nguồn dự trữ vượtmức phòng ngừa cao hơn (Baltensperger, 1972; Agenor et al, 2004) Do cácngân hàng chuyển dự trữ vượt mức sang quỹ dư trữ dự phòng, dự trữ vượtmức không tự nguyện giảm Sự sụt giảm này làm nhỏ lại các khoản tiền gửi,
từ đó làm cho các ngân hàng hạn chế cho vay vì họ phải đối mặt với nhữngrào cản thị trường (vấn đề người đại diện) thay thế vào đó ngân hàng hướngđến những tiền vay ngắn hạn với các khoản nợ không cần trích lập dự phòng(Bernanke và Blinder, 1988) Nếu chính sách thắt chặt tiền tệ không làm cạnkiệt hoàn toàn dự trữ vượt mức không tự nguyện, thì phần còn lại của quỹ dựtrữ vượt mức có thể được rút ra để duy trì nguồn cung cấp tín dụng Do đó,ngân hàng có quỹ dự trữ vượt mức lớn hơn có thể sẽ ít bị ảnh hưởng từchính sách thắt chặt tiền tệ Lập luận này dẫn đến giả thuyết đầu tiên
H1 Tăng trưởng tín dụng có mối quan hệ cùng chiều với sự tương táccủa dự trữ vượt mức không tự nguyện và sự thay đổi lãi suất thông quachính sách tiền tệ ở Trung Quốc
Những nghiên cứu trước đó đã chỉ ra rằng quỹ dự trữ vượt mức sẽ dẫnđến việc tăng khả năng thanh khoản, từ đó làm tăng các hành vi chấp nhập
này phù hợp với lý thuyết chấp nhận rủi ro, trong đó việc số dư thanh khoảntrong hệ thống ngân hang cao sẽ dẫn đến suy nghĩ rằng nguy cơ không thanhtoán được là thấp, và do đó khuyến khích các quản lí ngân hang chấp nhậnnhiều rủi ro đuôi hơn (Acharya and Naqvi, 2012) Tuy nhiên “ rủi ro đuôi”
có thể được dễ dàng che giấu, tỉ lệ gây ra các hậu quả nghiêm trọng là khôngcao, mà phần nhiều thời gian lại có thể sinh ra lãi lớn (Rajan, 2006) Vì lẽ đó
mà các nhà quản lý ngân hàng thường chấp nhận “ rủi ro đuôi”, hạ chuẩncho vay và hạ lại suất cho vay dưới mức lãi suất cơ bản nhằm tăng khốilượng cho vay, ngoài ra để tăng khối lượng cho vay ngân hàng còn tăng tiềnthưởng theo doanh số cho vay Quan điểm trên cũng chỉ ra rằng hành vi chấp
Trang 8nhận rủi ro được khuyến khích trong ngân hàng là một hệ quả của dư thừathanh khoản dưới áp lực của các cổ đông (Jensen và Meckling,1976) Theo
lý thuyết người đại diện, người ta lập luận rằng các nhà quản lý ngân hàngthường có động lực để đưa ra các khoản vay quá mức vì tiền thưởng của họ
tỷ lệ thuận với số tiền cho vay Các nghiên cứu của Acharya và Naqvi (2012)
đã chỉ ra rằng việc có nhiều thanh khoản càng làm trầm trọng thêm các rủi rođạo đức tại các ngân hàng, dẫn đến cho vay quá mức cũng như các hành vi
có rủi ro cao trong hệ thống ngân hàng
Trong bối cảnh của Trung Quốc, các cuộc cải cách ngân hàng đã bắtđầu vào năm 1994 đã thay đổi mức tiền thưởng của các nhà quản lí ngânhàng dựa trên lợi tức (Allen et al., 2011) Naughton (1998) cho thấy rằng cáccán bộ cho vay đã được trao hợp đồng lao động trong đó họ sẽ được thưởngnếu doanh thu tang và duy trì tỷ lệ nỡ thấp (điều rất khó đạt được) Nhữngcải cách của Trung Quốc năm 2002-2003 là trao thêm quyền quyết định chovay, và tăng trách nhiệm của cán bộ tín dụng, cho họ quyền để tự do thiết lậplãi suất tính trên các khoản vay (trong biên độ lãi suất đã quy định) và phảichịu trách nhiệm về xếp hạng rủi ro nội bộ (Qian et al., 2011) Trong khi đómục đích của những cải cách trong cách quản lý ngân hàng là khuyến khíchnhân viên cho vay thận trọng, điều quan trọng cần lưu ý là việc buộc thù laovào việc tăng doanh thu có thể làm cho các nhà quản lý ngân hàng chấpnhận nhiều rủi ro hơn trong các tình huống mà trong đó dư thừa thanh khoản
có sẵn để tăng thù lao của họ
Để xác định cơ chế số nhân tiền, các nghiên cứu trước đây xem xétcác tác động của đặc tính riêng biệt của từng ngân hàng, cụ thẻ là tính thanhkhoản, quy mô và tính vốn hóa, đối với hành vi cho vay và cho rằng cácngân hàng tính thanh khoản cao, các ngân hàng quy mô lớn và ngân hàngvốn lớn thì đối mặt với chi phí tài chính bên ngoài thấp hơn và ít chịu ảnhhưởng từ những cú sốc chính sách tiền tệ Ngân hàng thanh khoản cao thìnguy cơ không thanh toán được nợ ít hơn, và do đó có khả năng có “ nguy
cơ đuôi” lớn hơn (Acharya và Naqvi, 2012) Đối với quy mô ngân hàng,ngân hàng lớn thì ít bị ảnh hưởng hơn vì các ngân hàng lớn có thể duy trìhiệu quả hoạt động tốt hơn trước cú sốc vì các quỹ dự phòng của nó lớn hơncác ngân hàng nhỏ (Kashyap và Stein, 1995) Tương tự như vậy, các ngânhàng lớn cũng ít gặp phải các rủi ro đạo đức, vì thế ít gặp vấn đề nghiêmtrọng hơn các ngân hàng nhỏ (Kishan và Opiela, 2000; Van den Heuvel,2008) Kết quả là, các ngân hàng lớn và vốn lớn phải đối mặt với chi phí tàichính bên ngoài thấp hơn khi đối mặt với thiếu hụt thanh khoản do đó họ có
ít có nguy cơ mất thanh khoản Khi có dư thừa thanh khoản, các ngân hànglớn và vốn mạnh cũng có xu hướng mang “nguy cơ đuôi” lớn hơn giống như
Trang 9các ngân hàng thanh khoản cao Khi chính sách tiền tệ được thắt chặt, giá trịtài sản ròng của người đi vay giảm (Bernanke et al., 1999), và “rủi ro đuôi”
sẽ có nguy cơ trở nên lớn đối với các ngân hàng thanh khoản cao, các ngânhàng lớn và ngân hàng vốn mạnh Các khoản lỗ phát sinh từ rủi ro đuôi làmsuy yếu ròng trị giá của các ngân hàng (Boyd et al, 2006; Angeloni và Faia,2009) giá trị tài sản ròng của các ngân hàng bị suy giảm tỉ lệ thuận vớinhững rủi ro mà các ngân hàng này có, khiến cho chi phí tài chính bên ngoàităng lên và làm tăng tỷ lệ chiết khấu khi các ngân hang sử dụng thanh khoản(Brunnermeier và Pedersen, 2009) Theo cơ chế tiền nhân lên thì việc chi phítài chính bên ngoài tang lên sẽ cản trở khả năng huy động vốn vay của ngânhang, từ đó dẫn đến việc hạn chế cho vay (Bernanke và Blinder, 1988) Bởi
vì dự trữ vượt mức không tự nguyện cho thấy các ngân hàng lớn, các ngânhàng lỏng và các ngân hàng có vốn lớn phải chịu nhiều rủi ro hơn trongkhoảng thời gian trước khi có chính sách thắt chặt tiền tệ, người ta cho rằngcác ngân hàng này cắt giảm cho vay nhanh hơn để đối phó với chính sáchthắt chặt tiền tệ
Tổng quát hơn, chúng tôi cho rằng nguồn cung ứng tín dụng có mốiquan hệ nghịch với sự tương tác giữa thanh khoản, dự trữ dvượt mức không
tự nguyện và lãi suất gây ra bởi các cơ quan chính sách tiền tệ ở TrungQuốc Khi có dự trữ vượt mức không tự nguyện, các ngân hàng thanh khoản
có xu hướng chấp nhận nhiều rủi ro hơn và do đó, các ngân hàng này thường
bị ảnh hưởng nhiều bởi chính sách thắt chặt tiền tệ Do đó, khi có sự hiệndiện của dự trữ vượt mức không tự nguyện, thanh khoản củng cố các mốiquan hệ tiêu cực giữa lãi suất chính sách tiền tệ và việc cung cấp tín dụng.Giả thuyết tương tự cũng được thiết lập cho quy mô ngân hàng và vốn; cungcấp tín dụng có mối quan hệ tiêu cực với sự tương tác giữa kích thước ngânhàng, dự trữ vượt mức không tự nguyện và các lãi suất chính sách tiền tệ ởTrung Quốc; cung cấp tín dụng cũng có một mối quan hệ tiêu cực với sựtương tác của vốn, dự trữ vượt mức không tự nguyện và các lãi suất chínhsách tiền tệ ở Trung Quốc
H2 Tăng trưởng tín dụng có mối quan hệ ngược chiều đối với sựtương tác của thanh khoản, dự trữ vượt mức không tự nguyện và sự thay đổilãi suất chính sách tiền tệ ở Trung Quốc
H3 Tăng trưởng tín dụng có mối quan hệ ngược chiều đối với sựtương tác của quy mô, dự trữ vượt mức không tự nguyện và sự thay đổi lãisuất chính sách tiền tệ ở Trung Quốc
Trang 10H4 Tăng trưởng tín dụng có mối quan hệ ngược chiều đối với sựtương tác của vốn, dự trữ vượt mức không tự nguyện và sự thay đổi lãi suấtchính sách tiền tệ ở Trung Quốc
3.2 Dự trữ vượt mức và tỷ lệ bắt buộc của quy luật tối đa hóa lợi nhuận:
Mức yêu cầu của quy luật tối đa hóa lợi nhuận cho thấy rằng chínhsách thắt chặt tiền tệ sẽ hạn chế việc cung cấp tín dụng bằng cách tăng chiphí tài chính bên ngoài và sau đó giảm tỷ lệ lợi nhuận trên cho vay tín dụng(Disyatat, 2011) Thắt chặt chính sách tiền tệ làm giảm giá trị tài sản ròngcủa các ngân hàng làm tăng chi phí tài chính bên ngoài cho các ngân hàng(Bernanke et al, 1999; Disyatat, 2011) vì thế dẫn đến việc lợi nhuận lãi biên
Tỷ lệ lãi biên thấp làm giảm lợi nhuận cho vay và làm giảm hoạt động chovay, do đó, các ngân hàng với mức giảm lợi nhuận lãi biên ròng lớn hơn sẽthu nhỏ cung cấp tín dụng nhanh hơn để đáp ứng với chính sách thắt chặttiền tệ Theo cơ chế này, rủi ro tín dụng đóng một vai trò trung tâm trongviệc ảnh hưởng đến chi phí tài chính bên ngoài Bởi vì dự trữ dư thừa sẽ ảnhhưởng tích cực tới việc cho vay, chính sách thắt chặt tiền tệ cụ thể hóa rủi rotín dụng nhiều hơn và tỷ lệ lãi biên giảm mạnh hơn cho các ngân hàng có dựtrữ vượt mức không tự nguyện lớn Lập luận này dẫn đến giả thuyết chorằng việc cung cấp tín dụng có một mối quan hệ thuận với sự tương tác của
sự thay đổi tỷ lệ lãi biên, dự trữ vượt mức không tự nguyện và các lãi suấtchính sách tiền tệ ở Trung Quốc Nói cách khác, khi chính sách tiền tệ thắtchặt, dự trữ vượt mức không tự nguyện đồng nghĩa với rủi ro tín dụng lớnhơn, dẫn đến một mạng lưới co biên độ lãi suất lớn hơn (lớn hơn tiêu cực lãiròng thay đổi margin) Đổi lại, việc giảm tỷ lệ lãi biên lớn hơn tăng cườngcác mối quan hệ tiêu cực giữa việc cung cấp tín dụng và chính sách lãi suất.H5 Tăng trưởng tín dụng có mối quan hệ cùng chiều với sự tương tác của sựthay đổi tỷ lệ lãi biên và sự thay đổi lãi suất chính sách tiền tệ ở Trung Quốc.H6 Tăng trưởng tín dụng có mối quan hệ cùng chiều với sự tương tác của sựthay đổi tỷ lệ lãi biên, dự trữ vượt mức không tự nguyện và sự thay đổi lãisuất chính sách tiền tệ ở Trung Quốc
4 Mẫu và phương pháp luận 4.1 Dữ liệu
Chúng tôi sử dụng các số liệu tổng hợp của cơ sở dữ liệu của Ngânhàng quốc tế Fitch, Bankscope Các mẫu bao gồm các giai đoạn 2000-2011,
và chỉ bao gồm các ngân hàng có dữ liệu có sẵn trong ít nhất ba năm liên
Trang 11tiếp Chỉ các ngân hàng thương mại được lựa chọn (các ngân hàng thươngmại có vốn nhà nước, ngân hàng thương mại cổ phần, ngân hàng thương mạithành phố, các ngân hàng thương mại nông thôn và các ngân hàng nướcngoài); do đó, các ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các ngânhàng đầu tư không bao gồm trong mẫu của chúng tôi bởi vì họ có thể cónhững mục tiêu khác hơn so với lợi nhuận Mẫu bảng cuối cùng bao gồm 95ngân hàng và 552 quan sát hàng năm dữ liệu vĩ mô (bao gồm cả thực tổngsản phẩm nội địa quốc gia và cấp tỉnh () tốc độ tăng trưởng GDP và chínhsách tiền tệ của Trung Quốc) được thu thập từ thị trường Trung Quốc Chứngkhoán và cơ sở dữ liệu nghiên cứu kế toán (CSMAR), Trung Quốc Niêngiám thống kê được công bố của Cục Thống kê quốc gia của Trung Quốc, vàcác trang web của PBC.
4.2 Đo tỷ lệ dự trữ vướt mức không tự nguyện (IERR)
Sau Agenor et al (2004) và Aikaeli (2011), dự trữ vượt mức phòngngừa được ước lượng bằng mô hình sau đây; tỷ lệ dự trữ vượt mức không tựnguyện được đo như là sự khác biệt giữa dự trữ vượt mức thực tế và dự trữvượt mức phòng ngừa ước tính
(1)
độ trễ của đa thức và được tính như sau :
αj = 1 + α j1L + + αjp Lp, j≥2(2)
ER là dự trữ vượt mức, được đo bằng tỷ lệ giữa chênh lệch số dư tàikhoản hiện tại của ngân hàng đối với ngân hàng trung ương và tỷ lệ dữ trựbắt buộc trên tổng số tiền gửi của khách hàng LR là các khoản cho vayphản ánh rủi ro tín dụng mà từ đó có thể gây ra việc rút tiền gửi (Aikaeli,2011), và được xác địnhbằng cách lấy giá trị tuyệt đối của độ lệch giữa lãi từviệc cho vay đối với xu hướng của nó, được phát triển bởi Hodrick vàPrescott (1997) Thu nhập lãi vay được tính bằng cách lấy thu nhập tiền lãi
từ khoản vay chia cho tổng số tiền gửi của khách hàng Hodrick-Prescott(HP) là một phương pháp tiêu chuẩn trong các tài liệu chu kỳ kinh doanh đểloại bỏ phong trào xu hướng (Ravn và Uhlig, 2002) Trong các thử nghiệm
để kiểm tra độ tin cậy, bộ lọc được phát triển bởi Baxter và King (1999)(BK) đã được sử dụng như một phương pháp thay thế để đo lường các biếnđộng có thể xày ra Bởi vì biến động lãi thu nhập từ việc cho vay cho thấy
Trang 12một ngân hàng đang lời hoặc lỗ, việc những biến động này tăng lên hoặcgiảm xuống có thể gây ra những rủi ro tín dụng (Aikaeli, 2011); do đó, giátrị tuyệt đối của độ lệch được sử dụng Tiền là sự biến động của tỷ lệ tiềnmặt với tổng tiền gửi của khách hàng từ xu hướng của nó (HP và BK lọc);
nó bắt các mô hình có tính chu kỳ của sở thích gửi tiền cho nắm giữ tiền mặt
và tín hiệu nguy cơ thiếu tính thanh khoản cho các ngân hàng (Agenor et al,2004; Aikaeli, 2011) YR sự thay đổi trong nhu cầu về tiền mặt, được đobằng tỷ lệ của GDP thực trên xu hướng của nó (HP và BK lọc) (Agenor etal., 2004) RRR là tỷ lệ dự trữ bắt buộc bình quân do PBC đặt ra trong mộtnăm cụ thể R là mức phạt một ngân hàng phải đối mặt nếu mức dự trữ của
nó ít hơn quy định Bởi vì thị trường liên ngân hàng của Trung Quốc làkhông hiệu quả và các ngân hàng dựa trên PBC để hỗ trợ thanh khoản(Forssbæck và Oxelheim, 2007), mức tái cấp vốn của PBC – mức mà PBCyêu cầu khi cho vay hỗ trợ thanh khoản ngắn hạn đối với các tổ chức tàichính (20 ngày kể từ ngày cho vay) - được sử dụng để chỉ số chi phí củangân hàng của các quỹ trong trường hợp thiếu tính thanh khoản NĂM làmột biến thời gian
Bảng tóm tắt của các biến và kiểm tra nghiệm đơn vị được cung cấptrong Phụ lục 1 và 2 tương ứng Trong suốt thời kỳ thu thập mẫu, các ngânhàng Trung Quốc đã có dự trữ dư thừa ở các cấp độ khác nhau, từ -10 phầntrăm đến 40 phần trăm của các khoản tiền gửi với mức bình quân 5,4 phầntrăm Theo xét nghiệm của Dickey-Fuller và PhillipsPerron chỉ ra rằng tất cảcác biến số đều không thay đổi, trừ RRR và R Saxegaard (2006) lập luậnrằng các biến chính sách tiền tệ tưởng như có thay đổi nhưng thực ra làkhông Lập luận này được hỗ trợ bởi các bài kiểm tra KPSS, cho thấy rằng
cả hai RRR và R thì đứng yên ở mức 1 phần trăm có ý nghĩa Như vậy, theonhư Saxegaard (2006), RRR và R được xem như là hằng số
Bởi vì thời gian đánh giá ngắn, mô hình ước lượng xem xét chỉ có một
độ trễ cho các biến phụ thuộc và lên đến một độ trễ cho các biến giải thích
Số lượng thực tế của độ trễ cho các biến giải thích được chọn dựa trên cácthông tin Akaike Tiêu chí (AIC) Bởi vì các bình phương ước lượng ít nhấtcủa mô hình dữ liệu phẳng với biến phụ thuộc trễ bị chệch, các ước lượngGMM (GMM) được phát triển bởi Arellano và Bond (1991) được sử dụng.Bởi vì các mẫu dữ liệu không cân bằng và bao gồm nhưng tác động cụ thể,'System GMM' (được phát triển bởi Arellano và Bover, 1995; Blundell vàBond, 1998) được sử dụng chứ không phải là "sự khác biệt GMM '(thưởngkhông chính xác đối với những dữ liệu không cân bằng) (Roodman , 2006).'System GMM' không bình thường và theo hiệp phương sai trong dữ liệu(Arellano và Bover, 1995; Blundell và Bond, 1998).Biến thời gian “ Year”
Trang 13và tỷ lệ GDP (YR) đang được coi là biến ngoại sinh, RRR được coi là biếnnội sinh, và các biến khác đang được coi là xác định trước RRR được coi lànội sinh vì những nỗ lực PBC sử dụng dự trữ bắt buộc như một công cụ đểkiểm soát dự trữ dư thừa trong hệ thống ngân hàng (Conway et al, 2010; Ma
et al, 2011) Do kích thước mẫu tương đối nhỏ, ước tính một bước là làmviệc Số lượng tối ưu của các công cụ được lựa chọn dựa trên các tiêu chíđược đề xuất bởi Arellano và Bond (1991) và Roodman (2006, 2009) cholệnh 'xtabond2' trong phần kinh tế lượng STATA Những tiêu chí này được
mô tả trong Phụ lục 3 Các kết quả cho các ước tính với cả hai bộ lọc HP và
bộ lọc BK được cung cấp trong Phụ lục 4
Các kết quả cho các ước tính với bộ lọc chương trình HP cho thấyrằng rủi ro tín dụng làm tăng đáng kể nhu cầu dự trữ phòng ngừa của cácngân hàng Trung Quốc, xác nhận rõ hơn phát hiện của Aikaeli (2011 ).Tương tự như vậy, ước tính với bộ lọc BK cũng cho rủi ro tín dụng tỉ lệthuận với nhu cầu có dự trữ vượt mức phòng ngừa Tăng mức phạt cũng làmtăng đáng kể nhu cầu dự trữ vượt mức phòng ngừa Mặc dù các biến số khác
có những dấu hiệu dự kiến, họ không hiển thị hiệu ứng đáng kể nhu cầu về
dự trữ vượt mức phòng ngừa tại các ngân hàng Trung Quốc Tỉ lệ dự trữvượt mức phòng ngừa (IERR) sự khác biệt giữa dự trữ vượt mức thực tế và
dự trữ dư thừa phòng ngừa ước tính Việc còn lại là kiểm tra nghiệm đơn vị
và tương quan chuỗi Để kiểm tra các mô hình phù hợp với các mối quantâm của người chủ đơn vị có thể có trong RRR và R, Baffes (1997) lập luậnrằng nếu biến phụ thuộc là tĩnh nhưng các biến hồi quy không phải là, môhình chỉ là thích hợp nếu cả các số dư và các giá trị biến phụ thuộc dự báo làđứng yên Kiểm tra Augmented Dickey-Fuller và Phillips-Perron cho thấy cả
dư và dự đoán dự trữ dư thừa phòng ngừa là đứng yên, do đó, mô hình đượcmột cách thích hợp thử nghiệm (kết quả được cung cấp theo yêu cầu) Đểkiểm tra sự ổn định mô hình sau khi thay đổi trong chuẩn mực kế toán củaTrung Quốc trong năm 2008 (Liu, 2009), các bài kiểm tra Chow (xem Chow,1960) được tiến hành, và kết quả cho thấy không có sự khác biệt lớn trongtính toán mô hình giữa các giai đoạn trước và sau năm 2008 (kết quả đượccung cấp theo yêu cầu) Mặc dù các ngân hàng Trung Quốc sẽ được tính thùlao cho tổ chức dự trữ vượt mức, khoảng cách giữa lãi suất dự trữ và tỷ giáthị trường rất rộng, và các ngân hàng phải chịu chi phí cơ hội đáng kể; do
đó, việc trả thù lao cho dự trữ vượt mức là không hiệu quả trong việc ảnhhưởng hành vi cho vay (Laurens và Maino, 2009; Anderson, 2009) Hơnnữa, PBC hiếm điều chỉnh tỷ lệ lãi suất dự trữ để phản ánh chính sách tiền
tệ Trong thực tế, trong 10 năm qua, PBC đã thay đổi tỷ lệ lãi suất dự trữ chỉ
có hai lần, vào năm 2002 và 2008 (Zhang, 2010) Các bài kiểm tra độ mạnh
Trang 14rằng kiểm soát đối với tác động của lãi suất dự trữ cho thấy rằng tỷ lệ lãisuất dự trữ không có ảnh hưởng đáng kể đến nhu cầu dự trữ vượt mức phòngngừa tại Trung Quốc trong khi rủi ro tín dụng vẫn còn đáng kể (kết quả đượccung cấp theo yêu cầu)
4.3 Định nghĩa của các biến
Tỷ lệ dự trữ vượt mức không tự nguyện (IERR) là phần dư thu được
từ việc lập dự toán cho dự trữ vượt mức dự phòng Chúng tôi biểu thị IERR1
và IERR2 là tỷ lệ dự trữ vượt mức không tự nguyện thu được từ ước lượng
dự trữ vượt mức dự phòng bằng cách sử dụng tương ứng bộ lọc Prescott và với các bộ lọc Baxter-King Để lấy được các chỉ số dự trữ vượtmức không tự nguyện (IER), tỷ lệ dự trữ vượt mức không tự nguyện (IERR)được chuẩn hóa sử dụng cả hai giá trị trung bình của năm tương ứng và giátrị trung bình của mẫu Chúng tôi biểu thị IER1 và IER2 là dự trữ vượt mứckhông tự nguyện đã được chuẩn hóa từ ước lượng dự trữ vượt mức dư phòngIERR1 và IERR Những biến khác được định nghĩa một cách thống nhất vớicác nghiên cứu trước đó, chẳng hạn như Kashyap và Stein (2000),Gambacorta (2005) và Gunji và Yuan (2010) Tính thanh khoản (LIQ), kíchthước ngân hàng (SIZE) và vốn (CAP) được xác định phù hợp với cácnghiên cứu của Gambacorta (2005) như sau:
Hodrick-Trong đó N và T tương ứng là số quan sát và số năm Hơn nữa, L biểu thị tàisản lưu động theo quy định của BankScope, trong đó bao gồm tiền mặt, tráiphiếu chính phủ, tuyên bố ngắn hạn của ngân hàng (bao gồm chứng chỉ tiềngửi), và phù hợp với danh mục đầu tư C và A tương ứng là vốn cổ phần(vốn) và tổng tài sản
Tốc độ tăng trưởng GDP thực (Y) được sử dụng để nắm bắt được tácđộng cầu tín dụng, và điều khiển cho các tác động kênh bảng cân đối kế toánnơi mà sự giảm trong giá trị tài sản ròng của người vay dẫn đến sự sụt giảm