- Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước: là việc sử dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động của cơ quan nhà nước nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả trong h
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
_
TIỂU LUẬN
MÔN HỌC: PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH KT-XH
2011-2015 và định hướng đến năm 2020
Giáo viên HD: PGS.TS Phạm Văn Dũng Lớp: CH Quản lý kinh tế 2 - Khóa 19
Nhóm: 06
1 Nguyễn Trung Thành (1975)
2 Lê Hoàng Ánh Dương
3 Nguyễn Hữu Bảo
4 Hoàng Mạnh Hùng (1981)
5 Nguyễn Văn Thanh
6 Nguyễn Đức Phương
7 Nguyễn Thu Hiền
Hà Nội, tháng 12/2011
Trang 2I Sự cấn thiết
Dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, đặc biệt
là công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ
tự động hoá, công nghệ năng lượng v.v nền kinh tế thế giới đang biến đổi rất sâu sắc, mạnh mẽ về cơ cấu, về chức năng, về phương thức hoạt động Đây là một bước ngoặt lịch sử có ý nghĩa trọng đại: nền kinh tế thế giới đang chuyển từ kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế thông tin – kinh tế tri thức, nền văn minh loài người đang chuyển từ văn minh công nghiệp sang văn minh trí tuệ
Nhà nước ta đã chú trọng việc ứng dụng CNTT, đặc biệt là ứng dụng CNTT trong cơ quan hành chính nhà nước Nhiều văn bản quy phạm pháp luật, chính sách về ứng dụng CNTT đã được ban hành và tổ chức thực hiện
Thời gian qua, thành quả ứng dụng CNTT đem lại là rất lớn và nổi bật, qua đó góp phần cải cách thủ tục hành chính, hiệu quả chỉ đạo điều hành nâng lên rõ rệt,…
Tuy vậy, kết quả đạt được chưa tương xứng với tiềm lực và nhu cầu phát triển Chính sách về ứng dụng CNTT giai đoạn 2011-2015 và định hướng đến năm 2020 có nhiều nội dung cần quan tâm
II Cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề chính sách
1 Cơ sở lý luận:
1.1 Các khái niệm:
- Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và
công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số
- Môi trường mạng là môi trường trong đó thông tin được cung cấp, truyền
đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông qua cơ sở hạ tầng thông tin
- Cơ sở hạ tầng thông tin là hệ thống trang thiết bị phục vụ cho việc sản
xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số, bao gồm mạng viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính và cơ sở dữ liệu
- Hạ tầng kỹ thuật: là tập hợp thiết bị tính toán (máy chủ, máy trạm), thiết
bị ngoại vi, thiết bị kết nối mạng, thiết bị phụ trợ, mạng nội bộ, mạng diện rộng
Trang 3- Ứng dụng công nghệ thông tin là việc sử dụng công nghệ thông tin vào
các hoạt động thuộc lĩnh vực kinh tế - xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh và các hoạt động khác nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của các hoạt động này
- Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước: là
việc sử dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động của cơ quan nhà nước nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả trong hoạt động nội bộ của cơ quan nhà nước và
cá nhân; hỗ trợ đẩy mạnh cải cách hành chính và bảo đảm công khai, minh bạch
- Trang thông tin điện tử (Website) là trang thông tin hoặc một tập hợp
trang thông tin trên môi trường mạng phục vụ cho việc cung cấp, trao đổi thông tin
- Giao dịch điện tử là giao dịch được thực hiện bằng phương tiện điện tử
- Phương tiện điện tử là phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện,
điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ tương tự
- Dịch vụ hành chính công: là những dịch vụ liên quan đến hoạt động thực
thi pháp luật, không nhằm mục tiêu lợi nhuận, do cơ quan nhà nước (hoặc tổ chức, doanh nghiệp được ủy quyền) có thẩm quyền cấp cho tổ chức, cá nhân dưới hình thức các loại giấy tờ có giá trị pháp lý trong các lĩnh vực mà cơ quan nhà nước đó quản lý
- Chính phủ Điện tử (e-Government) là tên gọi của một chính phủ mà mọi
hoạt động của nhà nước được "điện tử hóa", "mạng hóa" Tuy nhiên, chính phủ điện tử không đơn thuần là máy tính, mạng Internet; mà là sự đổi mới toàn diện các quan hệ (đặc biệt là quan hệ giữa chính quyền và công dân), các nguồn lực, các quy trình, phương thức hoạt động và bản thân nội dung các hoạt động của chính quyền trung ương và địa phương, và ngay cả các quan niệm về các hoạt động đó
Chính phủ Điện tử là ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông (ICT)
để các cơ quan của Chính quyền từ trung ương và địa phương đổi mới, làm việc
có hiệu lực, hiệu quả và minh bạch hơn; cung cấp thông tin, dịch vụ tốt hơn cho
Trang 4người dân, doanh nghiệp và các tổ chức; và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người dân thực hiện quyền dân chủ và tham gia quản lý Nhà nước
Mặc dù còn có những quan niệm khác nhau, song có thể hiểu một cách đơn giản: CPĐT là sự ứng dụng công nghệ thông tin – truyền thông để các cơ quan chính phủ đổi mới, làm việc hiệu lực, hiệu quả và minh bạch hơn, cung cấp thông tin, dịch vụ tốt hơn cho người dân, doanh nghiệp và các tổ chức; đồng thời tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người dân thực hiện quyền dân chủ của mình trong việc tham gia quản lý nhà nước Nói cách ngắn gọn, CPĐT là chính phủ hoạt động hiệu lực, hiệu quả hơn, cung cấp dịch vụ tốt hơn trên cơ sở ứng dụng công nghệ thông tin – truyền thông
CPĐT với các đặc trưng:
Thứ nhất, CPĐT đã đưa chính phủ tới gần dân và đưa dân tới gần chính
phủ
Thứ hai, CPĐT làm minh bạch hóa hoạt động của chính phủ, chống tham
nhũng, quan liêu, độc quyền
Thứ ba, CPĐT giúp chính phủ hoạt động có hiệu quả trong quản lý và phục
vụ dân (cải cách hành chính và nâng cao chất lượng dịch vụ công)
2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến ứng dụng CNTT:
Ứng dụng thành công CNTT tại các đơn vị cũng cần hội tụ đủ các yếu tố cần thiết Nếu thiếu hoặc yếu một trong các yếu tố then chốt cơ bản sau đây sẽ dẫn đến việc ứng dụng không hiệu quả hoặc không thành công:
a) Yếu tố con người
- Kỹ năng người sử dụng
- Nhận thức về lợi ích
- Nhận thức và ý chí người lãnh đạo
- Đội ngũ chuyên trách CNTT
b) Hạ tầng kỹ thuật:
- Số lượng: Trang thiết bị, phần mềm, phần cứng
- Chất lượng: Thiết bị tốt, đồng bộ,
Trang 5c) Quy trình, thủ tục giải quyết công việc
d) Yếu tố tài chính
2.3 Lý do ban hành chính sách:
a) Ứng dụng CNTT đem lại những lợi ích lớn:
- Làm giảm chi phí hành chính ICT cho phép cắt giảm đáng kể chi phí xử
lý thông tin và chi phí thực thi Đặc biệt, ICT cho phép nhiều dữ liệu hơn (ví dụ, việc thay đổi địa chỉ) được chia sẻ giữa các hệ thống thông tin khác nhau, qua đó làm giảm lượng thời gian thu thập dữ liệu
- Phản ứng nhanh và chính xác hơn đối với những đòi hỏi hay thắc mắc, kể
cả ngoài giờ làm việc thông thường ICT có thể cho phép tiếp cận trực tiếp các giao dịch hoặc tài khoản của khách hàng được lưu giữ ở những bộ phận khác nhau của chính quyền, đặc biệt đối với những dịch vụ công ở cấp cơ sở
- Khả năng tiếp cận ở tất cả các bộ, ngành và các cấp chính quyền từ bất kỳ nơi nào ICT hỗ trợ cho sự phát triển những phương thức thuận tiện và linh hoạt hơn để giúp công dân có thể tiếp cận được các dịch vụ công Ví dụ, một số chính phủ đang phát triển những loại dịch vụ tiện ích trên mạng làm việc suốt ngày, phục vụ các giao dịch như các khiếu nại, đòi hỏi về phúc lợi, đánh giá thuế, thủ tục hồ sơ visa và gia hạn giấy phép Việc sử dụng “thẻ thông minh” cũng đang phát triển, cho phép tiếp cận ngày càng nhiều các dịch vụ của chính quyền- loại hình cửa hàng điện tử một cửa Những dịch vụ này có thể ngăn chặn tình trạng lừa đảo hoặc sử dụng sai các dịch vụ và lợi ích công, làm cho công chúng ngày càng tin tưởng vào các dịch vụ thuế và phúc lợi xã hội
- Khả năng quản lý nhà nước tốt hơn ICT làm cho chính quyền có khả năng thu được nhiều dữ liệu hơn từ các hệ thống đang hoạt động, do đó làm tăng chất lượng thông tin phản hồi tới các cấp ban hành chính sách và quản lý Chính phủ cũng có thể đảm bảo có nhiều thông tin hơn được cung cấp cho công chúng và
hỗ trợ những loại hình liên lạc trên mạng mới giữa các nhà hoạch định chính sách, các đại biểu dân cử, từng cá nhân công dân, hoặc các nhóm vận động hàng lang có tổ chức Thông qua những cách này, ICT có thể giúp nâng cao năng lực chỉ đạo trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước hiện đại Những khả năng này tồn tại ngay cả ở những nước đang phát triển có quy mô nhỏ, mặc dù chúng đòi hỏi phương pháp tiếp cận có tính thực tế, phù hợp với quy mô nhỏ và năng lực hành chính rất hạn chế
Trang 6- Hỗ trợ các khu vực kinh tế của quốc gia và địa phương nhờ khả năng tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao tiếp giữa chính phủ với doanh nghiệp Điều này
có thể mang lại các dịch vụ được cải thiện cho các vùng nông thôn xa xôi và tăng cường các dịch vụ hỗ trợ khẩn cấp
- Tạo thêm những phương tiện để thu thập ý kiến phản hồi của công chúng b) Xu hướng phát triển tất yếu: Dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, đặc biệt là công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ tự động hoá, công nghệ năng lượng v.v nền kinh tế thế giới đang biến đổi rất sâu sắc, mạnh mẽ về cơ cấu, về chức năng, về phương thức hoạt động Đây là một bước ngoặt lịch sử có ý nghĩa trọng đại: nền kinh tế thế giới đang chuyển từ kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế thông tin – kinh tế tri thức, nền văn minh loài người đang chuyển từ văn minh công nghiệp sang văn minh trí tuệ
2 Cơ sở thực tiễn:
a) Ở nước ngoài:
Chính phủ Hàn Quốc trong giai đoạn tin học hóa và xây dựng CPĐT lần thứ
tư (từ năm 2007 trở đi) đã tập trung thúc đẩy chính phủ ở "mọi nơi, mọi lúc", áp dụng nhiều công nghệ mới, cung cấp dịch vụ công chất lượng cao và tăng cường chính sách của chính phủ, tăng cường mối quan hệ dựa vào nhau giữa người dân với chính phủ Hoạt động tin học hóa quốc gia và xã hội được bắt đầu từ năm
2002 và tiếp tục được triển khai mạnh mẽ trên các lĩnh vực giáo dục trên môi trường điện tử, thương mại điện tử và tin học hóa trong các lĩnh vực công, bao gồm dịch vụ hành chính công trực tuyến, đổi mới các hoạt động công và nâng cấp CPĐT Trọng tâm phát triển CPĐT ở Hàn Quốc trong những năm gần đây đã
có sự chuyển dịch mục tiêu từ đảm bảo thực hiện chức năng quản lý, điều hành nhà nước trong các cơ quan nhà nước sang phục vụ xã hội Nghĩa là, cùng với nâng cao năng lực, quản lý điều hành của các cơ quan nhà nước phục vụ tác nghiệp, mục tiêu phục vụ cộng đồng xã hội gồm người dân, doanh nghiệp và sự liên kết giữa chính phủ và chính quyền địa phương cũng được ưu tiên đặt ra Trong giai đoạn 2003-2005 phát triển CPĐT ở Nhật Bản, chính phủ Nhật Bản đã đặt ra chiến lược thúc đẩy ứng dụng CNTT trong cung cấp dịch vụ y tế, thực phẩm, lối sống, tài chính cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, tri thức, lao động việc làm và các dịch vụ hành chính công Trước đó, vào năm 2002 Luật
“dùng cho các thủ tục hành chính trực tuyến” cũng đã được đề xuất và đến năm
Trang 72004 đã được ban hành Ngày 15/1/2004 E-Gov Nhật bản đã chính thức đi vào hoạt động với một số dịch vụ hành chính trực tuyến như dịch vụ công chứng, đăng ký đóng nộp thuế và dịch vụ làm hộ chiếu Thống kê của chính phủ Nhật Bản cho cho thấy hàng năm có khoảng 20 triệu bản đăng kí đóng thuế, nộp thuế, ngoài ra có khoảng 49 triệu bản thủ tục liên quan đến việc bảo hiểm xã hội, 5.8 triệu lượt người đăng kí xin làm hộ chiếu.Tháng 1/2006, Ban chỉ đạo Chiến lược CNTT xây dựng kế hoạch 05 năm “Chiến lược cải cách CNTT mới” nhằm mục đích cung cấp dịch vụ công tốt hơn cho người dân (1) Mục tiêu đến năm 2010 phấn đấu đạt 100% giao dịch về dịch vụ bảo hiểm y tế được thực hiện trực tuyến Chính phủ Nhật Bản nhận thức rõ ràng xây dựng CPĐT phải gắn với cải cách hành chính Tính hiệu quả và thành công của các dịch vụ công (đặc biệt là dịch
vụ hành chính công) trực tuyến phải gắn liền với quy trình cải cách thủ tục hành chính một cách đồng bộ
Ở Ai Cập, trong chương trình hành động xã hội thông tin từ năm 2003, chính phủ đặt mục tiêu đến năm 2008, Ai Cập có thể đưa vào sử dụng các dịch
vụ công có chất lượng cao cho cộng đồng Một trong những nguyên tắc cơ bản trong chương trình này đó là: dịch vụ cần phải lấy người dân làm trọng tâm với khẩu hiệu "government now delivers" và định hướng xây dựng các dịch vụ hành chính công thông qua cơ chế một cửa Văn hóa quản lý quan hệ khách hàng cho chính phủ được coi trọng, trong đó người dân được xem là khách hàng và các cơ quan chính phủ phải có nhiệm vụ thỏa mãn các yêu cầu của người dân Chính phủ Ai Cập nhận thức sự cần thiết phải xây dựng một cổng thông tin chính phủ tích hợp thông tin và dịch vụ công để có thể phục vụ người dân được tốt hơn trên
cơ sở các hệ thống một cửa Bắt đầu được xây dựng từ năm 2004, đến năm 2010 khoảng 1000 dịch vụ đã được tích hợp trên cổng thông tin chính phủ
Năm 2000, chính phủ Singapore đã đề ra kế hoạch hành động CPĐT lần 1, mục đích nhằm định hướng cho hoạt động và đầu tư về CNTT đối với các dịch
vụ công Mục tiêu của kế hoạch này là đưa toàn bộ dịch vụ công trở thành dịch
vụ công trực tuyến Kế hoạch này được đầu tư khoảng 01 tỷ USD, tập trung phục
vụ tương tác giữa chính phủ và doanh nghiệp (G2B), chính phủ với công dân (G2C) và chính phủ với người lao động (G2E) Kết quả là đến năm 2007, đã có khoảng 1.600 dịch vụ công trực tuyến được xây dựng Người dân Singapore có thể truy cập những dịch vụ này thông qua một cổng duy nhất, sử dụng một mật khẩu và một mã nhận dạng chung cho tất cả các dịch vụ Để đảm bảo người dân
có thể truy cập dịch vụ công trực tuyến của chính phủ, Singapore đã xây dựng một mạng lưới các ki-ốt cung cập truy cập Internet miễn phí cho người dân
Trang 8Đồng thời nhiều kế hoạch giúp đỡ những người dân có thu nhập thấp nâng cao trình độ cũng như nhận thức về ứng dụng CNTT Một số dịch vụ công trực tuyến
đã được triển khai như đăng ký giấy phép lái xe, khai thuế thu nhập, đặt chỗ, đăng ký thương hiệu Các dịch vụ này luôn sẵn sàng ở chế độ 24/7 tại các ki-ốt
và có sự trợ giúp của chuyên gia nếu cần Một số quỹ phục vụ nghiên cứu được thành lập, cung cấp kinh phí cho các cơ quan chính phủ thử nghiệm công nghệ mới, công bố thành công và chia sẻ kinh nghiệm với tất cả tổ chức khác Song song với đó, chính phủ Singapore cũng thực hiện chương trình các dịch vụ Web với mục đích xây dựng và triển khai các dịch vụ trên nền Web trong lĩnh vực hành chính công, khuyến khích các cơ quan chính phủ đưa thông tin và dịch vụ lên môi trường Internet Chương trình được đầu tư để cải cách cách thức cung cấp và thực hiện dịch vụ trong lĩnh vực quản lý nhà nước, nâng cao hiệu quả chia
sẻ thông tin và dịch vụ giữa các cơ quan trong chính phủ nhằm đem lại chất lượng dịch vụ tốt hơn Chương trình dịch vụ cung cấp giấy phép kinh doanh trực tuyến nhằm khuyến khích việc đầu tư vào Singapore thông qua cơ chế đăng ký một cửa thông thoáng, gọn nhẹ
Một trong những mục tiêu chính của chương trình tạo ra một chính phủ khác biệt ở Đan Mạch đó là cung cấp dịch vụ công có chất lượng cao, đẩy mạnh việc hợp tác mang tính liên ngành trong các cơ quan chính phủ Từ nửa cuối thập
kỷ 90 của thế kỷ trước, các cơ quan, tổ chức nhà nước đã phải đối mặt với yêu cầu phải tạo ra những trang thông tin điện tử riêng của mình để cung cấp thông tin cho người dân Vì vậy, trong chương trình này đến năm 2007, sẽ có khoảng 65% các dịch vụ công quan trọng nhất sẽ được đưa lên mạng Internet Các thông tin về người dân, doanh nghiệp, đất đai,… sẽ được tập trung lưu trữ và chia sẻ, tránh tình trạng người dân phải cung cấp cùng một thông tin nhiều lần Người dân và doanh nghiệp sẽ được cấp mã số nhận dạng điện tử duy nhất, được sử dụng trong giao dịch điện tử Chính phủ Đan Mạch cũng cho rằng mỗi người dân nên có một trang thông tin cá nhân trên mạng Internet dùng để lưu trữ thông tin
cá nhân cũng như quản lý các giao dịch giữa người dân và chính phủ Chính phủ
có thể tận dụng những trang thông tin này để nâng cao chất lượng dịch vụ công trực tuyến, rà soát nội dung để chính xác phản ánh nhu cầu kinh tế xã hội của cộng đồng
Năm 2000, Liên minh châu Âu bắt đầu đưa ra các sáng kiến về một châu
Âu điện tử với một số mục tiêu chính: đưa thông tin về người dân, trường học và doanh nghiệp cùng với dịch vụ hành chính công lên mạng; tạo ra một môi trường điện tử ở châu Âu và bảo đảm quá trình này phù hợp với đặc điểm văn hóa, dựa
Trang 9trên nền tảng tin cậy và hợp tác giữa các nền văn hóa trong Liên minh Đến năm
2005, tại Liên minh châu Âu, 20 dịch vụ công trực tuyến cơ bản, gồm 8 dịch vụ công đối với doanh nghiệp và 12 dịch vụ công, đã được triển khai rộng rãi trong
đó có các dịch vụ hành chính công, dịch vụ về y tế và dịch vụ về giáo dục
Tại Hoa Kỳ, Quốc hội và Tổng thống cùng thống nhất rằng chính phủ điện
tử chính là sự lựa chọn cho của tương lai Các luật gồm Luật đổi mới quản lý công nghệ thông tin năm 1996, luật tối giảm giấy tờ trong công tác chính phủ và Luật về sử dụng chữ ký điện tử trong thương mại quốc gia và toàn cầu đã được thông qua nhằm tháo gỡ khó khăn trong giao dịch điện tử Vài tháng 12 năm
1999, Tổng thống Mỹ đã ký văn bản ghi nhớ yêu cầu các cơ quan chính phủ liên bang phải cung cấp các mẫu biểu trước tháng 1/2001 và cung cất tất cả các dịch
vụ trước năm 2003 Quốc hội đã có ý kiến thành lập chức danh lãnh đạo thông tin liên bang bên trong Văn phòng về quản lý và ngân sách nhằm hỗ trợ việc quản lý và thúc đẩy các dịch vụ chính phủ điện tử và thiết lập các thủ tục trên nền Web để khuyến khích người dân truy cập vào dịch vụ và thông tin chính phủ b) Bài học kinh nghiệm:
- Ứng dụng CNTT phải có lộ trình hợp lý phù hợp với thực tiễn, nội bộ hoàn thiện trước, sau đó mở rộng ra bên ngoài
- Ứng dụng CNTT phải gắn liền với quy trình cải cách thủ tục hành chính một cách đồng bộ, đơn giản hóa
- Ưu tiên đầu tư các nguồn lực về CNTT, trong đó con người là quan trọng nhất
III Thực trạng chính sách
1 Hệ thống văn bản quan trọng:
- Nghị quyết 49/CP ngày 04/08/1993 của Chính phủ về phát triển CNTT
- Luật Giao dịch điện tử ngày 29 tháng 11 năm 2005;
- Luật Công nghệ thông tin ngày 29 tháng 6 năm 2006;
- Nghị định số 64/2007/NĐ-CP ngày 10 tháng 4 năm 2007 của Chính phủ về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước;
- Chương trình quốc gia về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước các giai đoạn 2001-2005; 2006-2010; 2011-2015
2 Nội dung chính sách:
Trang 10Chương trình quốc gia về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ
quan nhà nước các giai đoạn 2011-2015 và định hướng đến năm 2020 (đình kèm):
Một số nội dung cơ bản:
1 Mục tiêu tổng quát
2 Mục tiêu cụ thể
a) Xây dựng và hoàn thiện cơ sở hạ tầng thông tin, tạo nền tảng phát triển Chính phủ điện tử
b) Ứng dụng công nghệ thông tin trong nội bộ cơ quan nhà nước
- 60% các văn bản, tài liệu chính thức trao đổi giữa các cơ quan nhà nước được trao đổi hoàn toàn dưới dạng điện tử
- Hầu hết cán bộ, công chức thường xuyên sử dụng hệ thống thư điện tử trong công việc
- Bảo đảm các điều kiện về kỹ thuật cho 100% các cuộc họp của Thủ tướng Chính phủ với các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có thể được thực hiện trên môi trường mạng
- Bảo đảm các điều kiện về kỹ thuật để 100% hồ sơ quản lý cán bộ, công chức các cấp có thể được quản lý chung trên mạng với quy mô quốc gia
- Triển khai Hệ thống thông tin quản lý ngân sách và kho bạc tới 100% các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
- Bảo đảm dữ liệu điện tử phục vụ hầu hết các hoạt động trong cơ quan nhà nước
c) Ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ người dân và doanh nghiệp
- 100% các cơ quan nhà nước từ cấp quận, huyện, Sở, Ban, ngành hoặc tương đương trở lên có cổng thông tin điện tử hoặc trang thông tin điện tử cung cấp đầy đủ thông tin theo Điều 28 của Luật Công nghệ thông tin, cung cấp tất cả các dịch vụ công trực tuyến mức độ 2 và hầu hết các dịch vụ công cơ bản trực tuyến tối thiểu mức độ 3 tới người dân và doanh nghiệp
- 50% hồ sơ khai thuế của người dân và doanh nghiệp được nộp qua mạng
- 90% cơ quan hải quan các tỉnh, thành phố triển khai thủ tục hải quan điện