1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

ĐỀ TÀI :“Phân biệt vă bản và ngôn bản” NGỮ PHÁP VĂN BẢN

32 2,4K 13

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 51,35 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chúng tôi thấy có ít nhất năm nhóm quan niệm về diễn ngôn trong ngôn ngữ học. Nhóm thứ nhất sử dụng khái niệm diễn ngôn (discourse) và văn bản (text) đồng nghĩa với nhau, hoặc phân biệt hai khái niệm này bằng cách đính kèm chúng vào một trong hai dạng tồn tại của ngôn ngữ. Nhóm thứ hai cho rằng diễn ngôn thuộc đơn vị của ngữ nghĩa, còn văn bản thuộc đơn vị của ngữ pháp. Nhóm thứ ba quan niệm diễn ngôn chịu sự phán xét của dụng học, còn văn bản trở thành đối tượng của ngôn ngữ học văn bản. Nhóm thứ tư đề nghị nên sử dụng tên gọi diễn ngôn để chỉ quá trình giao tiếp, sự kiện giao tiếp có tính chỉnh thể và có mục đích; còn thuật ngữ văn bản dùng để chỉ sản phẩm của quá trình giao tiếp, sự kiện giao tiếp ấy. Nhóm thứ năm gồm chức năng luậnchủ trương đặt diễn ngôn vào ngữ cảnh văn hoá xã hội, và cấu trúc luận thiên về mô tả cấu trúc độc lập của diễn ngôn. Quan niệm về diễn ngôn cũng đã được giới thiệu trong khoa học văn học, song còn ở tình trạng tản mạn, hoặc chủ yếu ở dạng thực hành phân tích. Khái niệm diễn ngôn và văn bản, sự phân biệt giữa diễn ngôn và văn bản đến nay vẫn chưa được thống nhất và còn nhiều tranh cải chính vì thế tôi mạnh dạn đề xuất đề tài : “Phân biệt vă bản và ngôn bản” để có thể hệ thống lại khái niệm về văn bản và ngôn bản (diễn ngôn) và sự khác nhau giữa chúng để giúp người đọc có cái nhìn rõ ràng hơn về ngôn bản và văn bản. Trong đề tài này tôi tham khảo một số tài liệu sắp xếp chúng một cách có hệ thống và khoa học để chúng ta có cái nhìn logic hơn về văn bản và ngôn bản.

Trang 1

A PHẦN MỞ ĐẦU

I Lí do chọn đề tài

II Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Thuật ngữ văn bản trong các ngôn ngữ Ấn-Âu đều bắt nguồn từ chữ La-tinh

“textus” có nghĩa là “dây bện, vải” Trong ngôn ngữ học, văn bản đã được định

nghĩa theo những cách khác nhau Trên địa bàn tiếng Việt chẳng hạn, Đinh

Trọng Lạc quan niệm: “Văn bản … là một thể thống nhất toàn vẹn được xây dựng theo những quy tắc nhất định” Hữu Đạt thì cho rằng: “Văn bản là một tập hợp các câu (hay phát ngôn) được kết hợp với nhau theo một phương thức nhất định đảm bảo cho việc truyền đạt thông tin có hiệu quả và chính xác.”

Định nghĩa của Trần Ngọc Thêm có phần đơn giản hơn: Văn bản là chỉnh thểthống nhất và trọn vẹn về nội dung và hình thức Nhưng ông cũng khẳng định

thêm: “Văn bản là một hệ thống mà trong đó các câu mới chỉ là các phần tử Ngoài các câu–phần từ, trong hệ thống văn bản còn có cấu trúc Cấu trúc của văn bản chỉ ra vị trí của mỗi câu và những mối quan hệ, liên hệ của nó với những câu xung quanh nói riêng và với toàn văn bản nói chung Sự liên kết là mạng lưới của những quan hệ và liên hệ ấy.”.

Trong tiếng Việt, văn bản được quan niệm là đơn vị cao nhất của ngôn ngữ Đó

là một chỉnh thể gồm một hay nhiều đoạn văn được liên kết chặt chẽ với nhau

để thể hiện một nội dung hoàn chỉnh chung

Hiện nay, chưa có định nghĩa nào về văn bản được tất cả các nhà ngôn ngữ họcchấp nhận Chúng ta có thể tìm thấy nhiều quan niệm khác nhau vềì văn bảntrong các từ điển tiếng Việt, trong các sách giáo khoa phổ thông, trong các giáotrình tiếng Việt thực hành cũng như trong các sách ngôn ngữ học trong, ngoàinước

Quan niệm về diễn ngôn được giới thiệu ở ta sớm nhất trong lĩnh vực ngôn ngữ

học Có thể kể đến các công trình: Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt của Trần Ngọc Thêm (1985); Văn bản và liên kết trong tiếng Việt, Giao tiếp diễn ngôn

và cấu tạo văn bản của Diệp Quang Ban (1998, 2009), Đại cương ngôn ngữ học, tập 2 của Đỗ Hữu Châu (2001), Dụng học Việt ngữ của Nguyễn Thiện Giáp (2000), Phân tích diễn ngôn – một số vấn đề lí luận và phương pháp của Nguyễn Hoà (2003), Từ điển tu từ - phong cách – thi pháp học của Nguyễn

Thái Hoà (2005),

Trang 2

Bên cạnh những công trình biên khảo nói trên, cũng có một số công trìnhnghiên cứu về diễn ngôn của nước ngoài được dịch sang tiếng Việt, chẳng

hạn: Dụng học, một số dẫn luận nghiên cứu ngôn ngữ của George Yule (Hồng Nhâm, Trúc Thanh, Ái Nguyên dịch, 1997); Dẫn nhập phân tích diễn ngôn của David Nunan (Hồ Mỹ Huyền, Trúc Thanh dịch, 1998); Phân tích diễn ngôn của Gillian Brown, George Yule (Trần Thuần dịch, 2002), Dẫn luận ngữ pháp chức năng của Mak Halliday (Hoàng Văn Vân dịch, 2004)… các công trình này tập

trung vào mấy điểm sau: diễn ngôn là gì, đặc điểm và chức năng của diễn ngôn,các vấn đề về ngữ cảnh và ý nghĩa diễn ngôn, cấu trúc thông tin của diễn ngôn,bản chất quy chiếu trong diễn ngôn, các đường hướng phân tích diễn ngôn…

Cũng có thể kể đến các bài viết: “Phân tích diễn ngôn phê phán là gì?” (tạp chí Ngôn ngữ, 2 -2005), “Khía cạnh văn hoá của phân tích diễn ngôn” (tạp chí Ngôn ngữ, 12 -2005), “Thực hành phân tích diễn ngôn bài Lá rụng” (tạp chí Ngôn ngữ, 2 - 2009), “Một vài dạng cấu trúc nhân quả khó nhận biết trong diễn ngôn nghệ thuật ngôn từ” (tạp chí Ngôn ngữ số 4 - 2009),…

Chúng tôi thấy có ít nhất năm nhóm quan niệm về diễn ngôn trong ngôn ngữhọc Nhóm thứ nhất sử dụng khái niệm diễn ngôn (discourse) và văn bản (text)đồng nghĩa với nhau, hoặc phân biệt hai khái niệm này bằng cách đính kèmchúng vào một trong hai dạng tồn tại của ngôn ngữ Nhóm thứ hai cho rằngdiễn ngôn thuộc đơn vị của ngữ nghĩa, còn văn bản thuộc đơn vị của ngữ pháp.Nhóm thứ ba quan niệm diễn ngôn chịu sự phán xét của dụng học, còn văn bảntrở thành đối tượng của ngôn ngữ học văn bản Nhóm thứ tư đề nghị nên sửdụng tên gọi diễn ngôn để chỉ quá trình giao tiếp, sự kiện giao tiếp có tính chỉnhthể và có mục đích; còn thuật ngữ văn bản dùng để chỉ sản phẩm của quá trìnhgiao tiếp, sự kiện giao tiếp ấy Nhóm thứ năm gồm chức năng luậnchủ trươngđặt diễn ngôn vào ngữ cảnh văn hoá xã hội, và cấu trúc luận thiên về mô tả cấutrúc độc lập của diễn ngôn

Quan niệm về diễn ngôn cũng đã được giới thiệu trong khoa học văn học, songcòn ở tình trạng tản mạn, hoặc chủ yếu ở dạng thực hành phân tích

Khái niệm diễn ngôn và văn bản, sự phân biệt giữa diễn ngôn và văn bản đếnnay vẫn chưa được thống nhất và còn nhiều tranh cải chính vì thế tôi mạnh dạn

đề xuất đề tài : “Phân biệt vă bản và ngôn bản” để có thể hệ thống lại khái

niệm về văn bản và ngôn bản (diễn ngôn) và sự khác nhau giữa chúng để giúpngười đọc có cái nhìn rõ ràng hơn về ngôn bản và văn bản

Trang 3

Trong đề tài này tôi tham khảo một số tài liệu sắp xếp chúng một cách có hệthống và khoa học để chúng ta có cái nhìn logic hơn về văn bản và ngôn bản.

III Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đề tài này tôi đi sâu và nghiên cứu về văn bản và ngôn bản

Phạm vi nghiên cứu đề tài này đó là khái niệm văn bản ngôn bản, nhữngđặc điểm của chúng và đặc biệt là phân biệt ngôn bản và văn bản

IV Mục đích nghiên cứu

Hiện nay khái niệm về văn bản và ngôn bản vẫn chưa thực sự được thốngnhất và còn rất nhiều tranh cãi Tôi mạnh dạn làm đề tài này để một phầnnào đó hệ thống lại khái niệm về văn bản và ngôn bản đồng thời phânbiệt chúng và giúp cho bạn đọc có cái nhìn hệ thống hơn về hai phạm trùngôn bản và văn bản

V Phương pháp nghiên cứu

Ở đề tài này tôi sử dụng phương pháp chính là thống kê, phân loại và sosánh Ngoài ra tôi còn sử dụng phương pháp phân tích – tổng hợp

VI Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, đề tài gồm có hai chương: CHƯƠNG I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VĂN BẢN VÀ NGÔN BẢN 1.1 Khái quát chung về văn bản

1.1.1 Khái niệm văn bản và tên gọi

1.1.2 Đặc điểm của văn bản

1.1.3 Cấu tạo của văn bản

1.1.4 Các loại hình văn bản

1.2 Khái quát chung về ngôn bản

1.2.1 Khái niệm ngôn bản và tên gọi

1.2.2 Đặc điểm của ngôn bản

1.2.3 Phân loại ngôn bản

1.2.4 Cấu trúc của ngôn bản

CHƯƠNG II: PHÂN BIỆT NGÔN BẢN VÀ VĂN BẢN

2.1 Những quan niệm về phân biệt ngôn bản và văn bản

2.2 Các tiêu chí phân biệt ngôn bản và văn bản

2.2.1 Về chất liệu

2.2.2 Về hoàn cảnh sử dụng

2.2.3 Hệ thống ngôn ngữ

Trang 4

2.2.4 Cách phân biệt ngôn bản và văn bản theo quan niệm của A.N.Mrohovski

2.2.5 Mật độ từ vựng

2.2.6 Ẩn dụ ngữ pháp

2.2.7 Hình thức biểu hiện

2.2.8Sản phẩm của văn băn và ngôn bản

III Mối quan hệ giữa văn bản và ngôn bản

Trang 5

B PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VĂN BẢN VÀ NGÔN BẢN 1.1 Khát quát về văn bản

1.1.1 Khái niệm văn bản

Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn bản Số lượng các địnhnghĩa đã nhanh chóng lớn lên đến mức không thể kiểm soát được Đằng saunhững định nghĩa là những quan niệm, những cách hiểu khác nhau vềđốitượng ngôn ngữ học này

Theo L Hjelmslev “văn bản được xét như một lớp phân chia được thành các khúc đoạn”

Theo W.Koch, 1966 “Văn bản được hiểu ở bậc điển thê là phát ngôn bất kì có kết thúc và có liên kết, có tính chất độc lập và đúng về ngữ pháp.”

R.Harweg cho rằng: Văn bản “là chuỗi nối tiếp của các đợn vị ngôn ngữ được làm thành bởi một dây chuyền của các phương tiện thế có hai trắc diện.”(Trục dọc và trục ngang – D.Q.B)

Barthes, 1970 cho rằng:

“Chúng ta sẽ gọi cái khách thể của xuyên ngôn ngữ học (translinguistique) là điễn ngôn ( dicscours) – tương tự với văn bản do ngôn ngữ học nghiên cứu, và chúng ta sẽ định nghĩa nó như là một đoạn lời nói hữu tận bất kì, tạo thành một hệ thống nhất xét từ quan điểm nội dung, được truyền đạt cùng với những mục đích giao tiếp thứ cấp, và có một tổ chức nội tại phù hợp với những mục đích giao tiếp thứ cấp, có một tổ chức nội tại phù hợp với những mục đích này, vả lại đoạn lời này gắn bó với những nahan tố văn hóa khác nữa, ngoài những nhân tố có quan hệ đến bản thân ngôn ngữ”.

Halliday định nghĩa rằng: “Một văn bản là một đơn vị của ngôn ngữ trong sử dụng Nó không phải là một đơn vị ngữ pháp như một mệnh đề hay một câu; mà nó cũng không được xác định bang kích cỡ của nó […] Một văn bản không phải là một cái gì loại trừ một câu, chỉ có điều kiện là lớn hơn; mà nó là một cái khác với một câu về mặt chủng loại Tốt hơn nên xem xét một văn bản như là một đơn vị nghĩa: Một đơn vị không phải của hình

Trang 6

thức mà là của ý nghĩa” Và Halliday còn xem xét văn bản trên nhiều

phương diện khác nữa

L.M Loseva định nghĩa rằng: “Văn bản có thể định nghĩa là điều thông báo viết có đặc trưng là tính hoàn chỉnh về cấu trúc và thái độ nhất định của các tác giả đối với điều được thông báo […] Về phương diện cú pháp, văn bản là một hợp thể nhiều câu (ít khi là một câu) liên kết với nhau bởi ý và bằng các phương tiện từ vựng – ngữ pháp.”

“Nói một cách chung nhất thì văn bản là một hệ thống mà trong đó các câu nói chỉ là các phần tử Ngoài các câu – phần tử, trong hệ thống văn bản còn có cấu trúc Cấu trúc của văn banrchir ra vj trí của mỗi câu và những mối quan, liên hệ của nó với những câu xung quanh nói riêng và với toàn văn bản nói chung Sự liên kết là mạng lưới của những quan hệ và liên

Còn về tên gọi của văn bản: ở Anh gọi là text; ở Pháp gọi là texte, ởNga gọi là tekest Giai đoạn đầu tên gọi của văn bản dung để chỉ chungnhững sản phẩm ngôn ngữ viết và sản phẩm ngôn ngữ nói có mạch lạc vàliên kết Còn giai đoạn sau có su hướng dùng văn bản để chỉ sản phẩm ngônngữ viết

Như vậy có thể nói rằng, có rất nhiều quan niệm khác nhau về văn bảntuy nhiên hiện nay, chưa có định nghĩa nào về văn bản được tất cả các nhàngôn ngữ học chấp nhận Chúng ta có thể tìm thấy nhiều quan niệm khácnhau vềì văn bản trong các từ điển tiếng Việt, trong các sách giáo khoa phổthông, trong các giáo trình tiếng Việt thực hành cũng như trong các sáchngôn ngữ học trong, ngoài nước Tuy vậy, rất nhiều sách ngữ pháp văn bản

đã trích dẫn hoặc phát biểu quan niệm của mình xoay quanh định nghĩa sau

đây: Văn bản - đó là sản phẩm của quá trình sáng tạo lời, mang tính cách hoàn chỉnh, được khách quan hóa dưới dạng tài liệu viết, được trau chuốt văn chương theo loại hình tài liệu ấy, là tác phẩm gồm tên gọi (đầu đề) và

Trang 7

một loạt đơn vị riêng (những thể thống nhất trên câu), hợp nhất lại bằng những loại hình liên hệ khác nhau về từ vựng, ngữ pháp, logic, tu từ, có một hướng đích nhất định và một mục tiêu thực dụng.

1.1.2 Đặc điểm của văn bản

1.1.2.1 Văn bản là sản phẩm của hoạt động giao tiếp dưới dạng văn tự:

Hoạt động giao tiếp có thể được tiến hành bằng nhiều phương tiện khácnhau Nhưng chỉ sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ dưới dạng văn

tự (chữ viết tay, in ấn, chạm khắc ) mới được coi là văn bản Vì tồn tại dưới dạngvăn tự nên văn bản thường được trau chuốt văn chương theo đặc điểm của một thểloại nhất định Hầu hết các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học văn bản đều nhất trí vănbản là sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, nhưng nhiều người còn

cho rằng văn bản có thể tồn tại cả dưới dạng viết lẫn dạng nói (Xem các sách giáo khoa Tiếng Việt 9, 10, sách Tiếng Việt thực hành của Hữu Ðạt, Ngôn ngữ học - Khuynh hướng - Lĩnh vực - Khái niệm, tập 2, của nhiều tác giả) Nghĩa là văn bản

gồm văn bản nói và văn bản viết Bài giảng này gạt lời nói thông thường ra khỏiphạm trù văn bản vì lời nói gió bay, vì lời nói thường thiếu sự chuẩn bị trước, thiếu

sự trau chuốt văn chương, nhiều khi thiếu chuẩn mực Nhiều vị lãnh tụ có nhữngbài phát biểu rất hay, có nội dung chỉ đạo rất sâu sắc Nhưng những bài ấy và cảtruyện dân gian, thơ ca dân gian chỉ nên được coi là văn bản khi chúng được sưutầm, nhuận sắc và in viết ra với sự trau chuốt văn chương và có tính xác định vềhình thức

Văn bản là một thể thống nhất, được tạo lâp theo những nguyên tắcnhất định, tồn tại dưới hai dạng: nói và viết

1.1.2.2 Văn bản có tính hoàn chỉnh về hình thức

Về mặt hình thức: Tính hoàn chỉnh thể hiện ở chỗ văn bản có thể tồn tại độc

lập không cần phải thêm bất kì yếu tố ngôn ngữ nào vào trước và sau nó Trong nội

bộ, văn bản phải là một cấu trúc hoàn chỉnh các đơn vị và kết cấu văn bản Chúngđược hợp nhất lại bằng các phương tiện liên kết văn bản theo các quy tắc cấu tạovăn bản Các quy tắc này thể hiện ở thói quen sắp xếp các thành tố, các bộ phậncủa văn bản được cả xã hội chấp nhận

Trang 8

Thông thường văn bản có kết cấu gồm nhan đề, tên gọi (tựa đề, đầu đề) thânvăn bản và kết thúc (tên tác giả, chử kí…) Ðôi khi có thêm lời nói đầu và lời bạt ởmột số văn bản dài hơi.

Tên văn bản là bộ phận trong cấu trúc của văn bản nhằm mục đích dự báo các loại thông tin trong văn bản.

Lời nói đầu thường báo trước các loại thông tin hiển ngôn, hàm ngôn trong văn bản để người đọc có hướng lĩnh hội chúng Nó cũng là nơi để người viết

giới thiệu động cơ tạo lập văn bản và bày tỏ sự tri ân của mình với những người đãgiúp đỡ mình trong quá trình tạo lập văn bản

Thân văn bản là bộ phận có kết cấu nội bộ Khái niệm cấu trúc chung của văn bản có từ thời cổ đại Cấu trúc chung ấy có thể gồm hai phần, ba phần, bốn

phần, năm phần và thậm chí nhiều hơn nữa Bài thơ tứ tuyệt thường có cấu trúcsong song đồng tả ngụ ý hoặc cấu trúc hai phần nêu - báo hay thực - luận Bài vănngắn thường có cấu trúc ba phần: mở đầu - triển khai - kết luận Bài văn tế thường

có cấu trúc ba phần: lung khởi - thích thực - ai vãn Bài thơ thất ngôn bát cúthường có cấu trúc bốn phần: đề - thực - luận - kết Truyện và kịch thường có cấutrúc năm phần: mở đầu - khai đoan - phát triển - điểm đỉnh - kết thúc Trong số đó,kiểu kết cấu ba phần là phổ biến hơn cả Cấu trúc chung của văn bản còn được gọi

là bố cục Trong văn bản, bố cục vừa là hình thức, vừa là nội dung, nó phản ánhchiến lược hành ngôn của người tạo lập văn bản

Lời bạt, nếu có, thường ở cuối văn bản để người viết nói thêm một vài điều có tính chất nhấn mạnh giúp người đọc hiểu thấu đáo hơn về văn bản Lời bạt

cũng có thể do một nhân cách lớn hay một bạn tri âm, tri kỉ mà tác giả mời viết

Kết thúc của văn bản là tên tác giả, chữ kí thường để cho người đọc, ngườitiếp nhận văn bản biết được văn bản đó là của ai tạo lập nên.Dùng từ ngữ để báohiệu phần mở đầu và phần kết thúc

Về từ vựng: văn bản hoàn chỉnh về từ vựng, dùng lời nói để giới thiệu tiêu

đề, dùng câu, từ ngữ để giới thiệu tiêu đề

Về in ấn: Thường được tách rời, in đậm, in hoa to hơn để phân biệt với tiêu

đề Và kết thúc thường gạch ngang để hết một văn bản

1.1.2.3 Tính hoàn chỉnh về nội dung

Trang 9

Về mặt nội dung: Tính hoàn chỉnh của văn bản làm cho văn bản dễ có têngọi (tựa đề) nhất định Một văn bản hoàn chỉnh về nội dung thường là văn bản diễnđạt một thông tin trọn vẹn, đầy đủ thống nhất về chủ đề, cùng thể hiện một đốitượng trung tâm gồm thông tin hiển ngôn và thông tin hàm ngôn Tựa đề của vănbản thường là dự báo một trong hai thông tin ấy Thông tin hiển ngôn là thông tin

bề nổi, là ý nghĩa có thể thấy được trực tiếp từ câu chữ Ðó là sự kiện, quá trình đã,đang, sẽ diễn ra trong thực tế khách quan hoặc trong trí tưởng tượng của người viếtđược biểu hiện trên câu chữ Thông tin hàm ngôn là thông tin bề sâu, là cách hiểu,

là chủ ý của người viết khi thể hiện nội dung trong thông tin hiển ngôn và còn làcách hiểu của xã hội, của người đọc khi tiếp nhận văn bản Tùy loại hình văn bản

mà hiển ngôn và hàm ngôn có sự thể hiện khác nhau Trong văn bản khoa học,người ta cố gắng tối đa để loại trừ càng nhiều càng tốt thông tin hàm ngôn Trongvăn chương, nghệ thuật hai loại thông tin trên cùng tồn tại và đôi khi chính sự lunglinh trong thông tin hiển ngôn lại làm nên giá trị Trong văn bản ngoại giao, có khi

vì một mục tiêu cụ thể nào đấy, thông tin không xác định lại được chọn dùng

Chẳng hạn, H Kitxinhgiơ kể lại trong hồi kí: Những năm ở Nhà Trắng về cái gọi

là Thông cáo chung Thượng Hải do y và Chu Ân Lai soạn thảo: Nichxơn rất thích thú với lời văn của bản dự thảo vì thấy nó vừa chung chung vừa tối nghĩa Chu

Ân Lai cũng lấy làm khoái với kiểu văn kiện này, vì nó vừa thực vừa hư

Đặc biệt để biết tính hoàn chỉnh về nội dung thì văn bản đó phải tóm tắtđược bằng văn bản con (có liên quan đến tất cả các câu trong văn bản mẹ)

Tính hoàn chỉnh của văn bản là tương đối Nó được coi là hoàn chỉnh trongmột hoàn cảnh, một mục tiêu giao tiếp nhất định Khả năng tạo lập nội dung mộtvăn bản rất khác nhau đối với những người thuộc các trình độ hiểu biết khác nhau.Một bài làm văn được điểm cao hồi học cấp hai thường là một bài làm cùng đề tài

sơ sài ở cấp ba hoặc đại học Trong thực tế, người ta cũng có thể trích chọn mộtchương sách, một đoạn văn của một tác phẩm để làm thành một văn bản và đặt cho

nó một tựa đề mới Trong trường hợp này, chúng chỉ là văn bản so với tựa đề mớicủa nó mà thôi Các bài trích giảng tác phẩm văn chương trong các sách giáo khoavăn học chính là các văn bản như thế Ðôi khi, người ta cũng chọn trích một câucủa văn bản và đặt nó tồn tại như một văn bản

Nói tóm lại văn bản cần có đề tài, chủ đề thống nhất hoàn chỉnh, cùng thểhiện một đối tượng trung tâm Văn bản trọn vẹn thì nó mang tính khép kín

Trang 10

1.1.2.4 Văn bản bao giờ cũng có tính liên kết, mạch lạc

Là một yếu tố quyết định việc tạo thành văn bản, trong đó nổi rõ lên việc tạothành tính thống nhất đề tài – chủ đề là mạch lạc – đây là yếu tố giúp phân biệt vănbản với phi văn bản ở mặt tổ chức nội dung Mạch lạc có thể sử dụng các phươngtiện liên kết làm cái diễn đạt cho mình, tuy nhiên mạch lạc có thể không cần dùngđến phương thức liên kết mà trái lại có dùng phương tiện liên kết chưa chắc đã tạo

ra được mạch lạc cho văn bản

Tính liên kết để ràng buộc các thành phần ngôn ngữ với nhau Ràng buộcgiữa các thành phần, giữa các câu cấu thành các đoạn văn và các văn bản Ràngbuộc về hình thức và nội dung tạo thành thức và liên kết nội dung

Toàn bộ các mối liên hệ, quan hệ giữa văn bản với cuộc sống khách quan vàgiữa các thành tố của văn bản với nhau tạo nên tính liên kết của văn bản Cả haiphạm vi liên kết bên trong và bên ngoài ấy của văn bản đều quan trọng Một văn

bản, chẳng hạn như bài thơ “Kính gửi cụ Nguyễn Du” của Tố Hữu, sẽ khó, thậm

chí không thể hiểu được, nếu ta không liên hệ nó với cuộc sống bên ngoài là cuộcđời Nguyễn Du, cuộc đời Thúy Kiều, cuộc đời Tố Hữu cũng như hoàn cảnh rađời của bài thơ Trong mặt liên hệ nội tại, mối liên kết giữa các thành tố, trước hết

là mối liên hệ giữa các ý tưởng trong các câu, các đơn vị trên câu; chúng được thểhiện ra nhờ các các yếu tố ngôn từ được gọi là các phương tiện liên kết hình thức.Các mặt liên kết nội dung và hình thức ấy được thể hiện ở nhiều cấp độ: cấp độ cáccâu tiếp nối (liên kết liên câu), các câu gián cách và cấp độ các đơn vị trên câu nhưcụm câu, đoạn văn, tiết, mục, chương, phần trong quy mô toàn văn bản Ðiều nàylàm văn bản có tính hệ thống Người đọc văn bản chỉ có thể hiểu được từng câu,từng đoạn văn bản nếu đặt nó trong mối liên hệ với toàn bộ văn bản

Trang 11

Mọi văn bản được tạo ra đều nhằm một mục tiêu cụ thể Việc tạo văn bảnkhông những là một hành động viết mà còn là một hành động xã hội bằng ngônngữ Viết cái gì, viết cho ai, viết để làm gì? Ðó là những câu hỏi luôn được đặt ratrước mỗi bài viết Mục tiêu thực dụng ấy của văn bản quy định cách viết văn bản,quy định việc lựa chọn thể loại văn bản và các phương tiện ngôn từ quen dùng chothể loại ấy

Một số sách ngữ pháp văn bản còn đề cập tới một số đặc trưng khácnhư tính hệ thống và tính khả phân (có thể phân chia thành các đơn vị) của vănbản Quả là văn bản có những đặc trưng ấy Tuy nhiên, trong thực chất, hai đặctrưng này là hai mặt biểu hiện cụ thể của các đặc trưng hoàn chỉnh và liên kết Liênkết nhiều thành tố để trở thành văn bản hoàn chỉnh thì tất nhiên văn bản có tính hệthống Văn bản được liên kết từ nhiều thành tố bộ phận thì tất nhiên có thể đượcphân chia thành các bộ phận nhỏ hơn trên cơ sở liên kết chủ đề, liên kết logic vàliên kết hình thức

1.1.2.6 Yếu tố định biên

Văn bản có biên giới phía bên trái (đầu vào) và biên giới phía bên phải (đầura) và nhờ đó mà có tính kết thúc tương đối – yếu tố này giúp phân biệt những vănbản khác nhau khi nhiều văn bản được tập hợp lại như trong một tập bài nghiêncứu, một tờ báo, một số tạp chí, một tuyển tập văn hoặc thơ…

Tóm lại văn bản có những đặc trưng cụ thể là:

- Văn bản có tính mục đích hay chủ định của người nói.

- Văn bản là sản phẩm của hoạt động giao tiếp dưới dạng văn tự: Là một

thể thống nhất tồn tại dưới dạng nói và viết

- Văn bản có đề tài chủ đề xác định, thống nhất và hoàn chỉnh, được tạo

lập theo những nguyên tắc nhất định

- Văn bản hoàn chỉnh về mặt hình thức và nội dung

- Văn bản có tính mạch lạc và liên kết.

- Gồm nhiều câu phát ngôn nối tiếp.

- Văn bản có biên giới phái bên trái và bên phải (hay ở hai đầu).

Văn bản là một thể thống nhất, hoàn chỉnh về hình thức và nội dung, có tínhliên kết nhằm để thực hiện một hoặc một số mục đích nào đó

Trang 12

1.3 Cấu tạo của văn bản

Dựa vào hình thức và nội dung thì văn bản có bốn phần:

- Tiêu đề

- Kết luậnThường thì văn bản khoa học có đầy đủ bồn phần này, các loại văn bản ít sửdụng cấu tạo này, và thường linh hoạt thay đổi đó là văn bản báo chí và chính luận

Văn bản thất ngôn bát cú gồm có: Đề, thực, luận, kết Phần thực và luận haycòn gọi là phần khai Đây là phần quan trọng nhất

Một số văn bản có cấu tạo không đủ thành phần: Chỉ có một phần khai, một

số văn bản chỉ có hai phần mở, khai hoặc là khai, và kết

Đối với những văn bản có dung lượng lớn phần khai có thể mở rộng ra thànhnhiều phần nhỏ

Chức năng của từng phần:

Chức

năng

Nêu khái quát chủ đề của

văn bản Tuy nhiên có

một số văn băn không

nêu khái quát, mà nêu

chí tiết, đặc biệt là trong

Tuy nhiêntrong cácvăn bảnthường lược

bỏ phầnmở

Triển khai đềtài

Phân tích,trình bày luậnđiểm

Suy luận, lậpluận, luận cứ

Tổng hợpKết quảsuy nghĩtìm tòi củangười viết

Mở ranhữngphươngdiện nhữngđối tượngnhững cách

Trang 13

1.4 Phân loại văn bản

1.4.1 Phân loại dựa vào hình thức

Dựa vào hình thức có hai loại: văn bản nói (âm thanh) và văn bản viết (chữviết)

1.4.2 Phân loại dựa vào chức năng, phong cách, hoàn cảnh giao tiếp.

Ta đã biết, thói quen sử dụng các phương tiện ngôn ngữ trong các

hoàn cảnh giao tiếp điển hình tạo nên những phong cách ngôn ngữ nhất định Nhưthế văn bản được tạo ra sẽ thuộc một trong các phong cách sau đây: văn bản hànhchính, văn bản khoa học, văn bản chính luận, văn bản nghệ thuật Trong mỗi vănbản, bao giờ cũng có nội dung sự kiện duy lí và nội dung biểu cảm Tuy nhiên, khitạo lập văn bản, người ta cũng có thể chủ yếu biểu hiện nội dung duy lí hoặc biểucảm Dựa vào hai căn cứ trên, văn bản có thể được phân loại như sau:

nghiên cứuHướng dẫn kĩthuật, Thôngtin khoa học

Tin tức

Tổng thuật

Xã luậnPhóng sự

Truyện ngắnTiểu thuyếtKịch

Tường trình

Tài liệu phổbiến khoa họcVăn bản giáokhoa

Bài giảng

Bình luận

Tiểu phẩmBút chiếnHùng biện

KíThơ

Trang 14

Trong lĩnh vực báo chí: mẩu tin, bản tin tổng hợp, nhắn tin, thông báo, raovặt là các thể loại thiên về cấu trúc logic duy lí; ý kiến bạn đọc, trả lời bạn đọc,phỏng vấn, điều tra, tiểu phẩm là các thể loại thiên về cấu trúc biểu cảm Mỗi vănbản thuộc các phong cách thể loại trên có cách bố cục riêng, có cấu trúc hình thứcriêng, có cách tổ chức chất liệu ngôn ngữ riêng Cho nên, khi nghiên cứu văn bản,nhất thiết phải xem xét chúng trong phong cách, thể loại nhất định

Văn bản nào cũng mang tính cuộc sống và tính chủ quan

Văn bản nghệ thuật có người chấp nhận nhưng có người không chấp nhận vì vănbản nghệ thuật là tổng hợp tất cả các loại văn bản khác, nó có thể chứa đựng ngônngữ cá nhân, đời thường, ngôn ngữ snh hoạt…

Ngoài ra còn có văn bản sinh hoạt đời thường

1.4.3 Phân loại dựa vào cấu tạo

Có văn bản , bốn phần, ba phần, văn bản hai phần, văn bản một phần

Loại văn bản Văn bản bốn

phần

Văn bản ba phần

Văn bản hai phần

Văn bản một thành phần Thành phần Tiêu đề, mở ,

khai, kết

Tiêu đề, khai,kết

Mở,khai hoặckhai, kết

Khai

1.4.5 Các hệ thống phân loại khác.

Tiêu chí phân loại Các loại văn bản

Dựa vào quy mô,

văn bản

- Văn bản tối giản (văn bản một câu),

- Văn bản nhỏ (gồm một đoạn văn),

- Văn bản thông thường (gồm vài đoạn văn),

Trang 15

- Văn bản khoa học: nêu những định lí, quy tắc để ngườiđọc nhận thức đúng đắn bản chất của tự nhiên và xãhội.

Dựa vào đặc trưng

của nội dung và

Dựa vào đặc trưng

liên kết về nội dung

Về tên gọi: sản phẩm hoàn chỉnh của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ

hiện được gọi bằng nhiều tên khác nhau như văn bản, ngôn bản, ngôn từ, phátngôn, lời, diễn ngôn hay đixcua (discours) (Ở trường phổ thông, sách giáo khoa

Tiếng Việt không phân ban dùng khái niệm văn bản nhưng sách Tiếng Việt ban KHXH lại dùng khái niệm ngôn bản) Cách gọi không nhất quán này dễ gây tranh

cãi và dễ bị sa vào lỗi đánh tráo khái niệm Dùng khái niệm ngôn phẩm trong đó cóvăn bản và ngôn bản sẽ dễ tránh các lỗi trên

Về dạng tồn tại của văn bản: có người quan niệm văn bản chỉ tồn tại

dưới dạng viết (Galperin, Hồ Lê, Nguyễn Ðức Dân ), có người lại cho rằngvăn bản có thể tồn tại dưới cả hai dạng nói và viết (ở phổ thông, học sinh đượchọc theo quan niệm này) Tiếng Việt 11 của Hồng Dân, Nguyễn Nguyên Trứ, Cù

Trang 16

Ðình Tú, Nxb GD , 1991, trang 17 viết: “Văn bản là sản phẩm của hoạt động ngôn ngữ, tức là sản phẩm của việc nói hoặc viết.”

Về quy mô văn bản: có quan niệm cho rằng văn bản tối giản phải gồm một

thể thống nhất trên câu nhưng lại có quan niệm cho rằng văn bản tối giản có thể chỉgồm một câu

Về đơn vị ngữ pháp văn bản nhỏ nhất: có người cho rằng văn bản do các

câu kết hợp lại mà thành nhưng có người lại khẳng định: đơn vị văn bản nhỏ nhất

là thể thống nhất trên câu (hay chỉnh thể trên câu), lời (hay phát ngôn) hoặc đoạnvăn Ðiều này kéo theo những quan niệm rất khác nhau về hệ thống đơn vị ngữpháp văn bản

1.2 Khát quát chung về ngôn bản

1.2.1 Khái niệm ngôn bản

Ngôn bản hay còn được gọi là diễn ngôn

“Diễn ngôn là những chuỗi ngôn ngữ được nhận biết là trọn nghĩa, được hợp nhất lại có mục đích.” (Cook, 1989).

“Diễn ngôn là một chuỗi nối tiếp của ngôn ngữ (đặc biệt là ngôn ngữ nói) lớn hơn một câu thường cấu thành một chỉnh thể có tính mạch lạc, kiểu như một bài thuyết giáo, truyện vui hoặc truyện kể” (Crystal, 1992)

“Diễn ngôn là chuỗi liên tục những phát ngôn S1,…, Sn, trong đó việc giải quyết nghĩa của mỗi phát ngôn Si (với 2 ≤ I ≤ n) lệ thuộc vào sự giải thuyết những phát ngôn trong chuỗi S1,… Si – 1 Nói cách khác, sự giải thuyết thỏa đáng một phát ngôn tham gia diễn ngôn đòi hỏi phải biết ngữ cảnh đi trước” (I.Bellert,

1971)

“Trong phân tích diễn ngôn, dôi khi được đánh đồng với ngôn ngữ viết còn diễn ngôn thì được dành cho ngôn ngữ nói, hoặc diễn ngôn được dùng bao gồm cả văn bản” (Bách khoa toàn thư ngôn ngữ và ngôn ngữ học, Sđd, tập 10, phần chú

giải thuật ngữ, tr.5180)

“Diễn ngôn là sự kiện giao tiếp giữa người nói và người nghe (người quan sát ), trong quá trình hành động giao tiếp trong ngữ cảnh không gian thời gian nhất định – Teun A Van Dijk

“Tôi cho rằng, trong bất cứ xã hội nào, việc sản xuất ra diễn ngôn đều phải kinh qua kiểm soát, lựa chọn, tổ chức, và phải được cân nhắc qua trình tự nhiều lần nhằm trung lập hóa sự toàn trị của quyền lực và các mối nguy hiểm gắn liền

Ngày đăng: 27/06/2017, 08:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w