Ông đã tạo nên một mạch điện giữa niêm mạc miệng và dây chẳng nha chu, và với sự giúp đỡ của một Ohm kế, ông thấy rằng điện trở kháng của mạch này là giống nhau, ông biện luận rằng khi
Trang 1Máy định vị chóp (Electronic apex locators EAL):
Bs Nguyén van Ty
Hiện tại, việc sử dụng EAL được giới thiệu như là một phương pháp hiệu quả
dùng để đo chiều dài làm việc (Working Length-WL), còn được gọi là e¿óp điện
tu (Electronic apex EA)
Những dụng cụ này dựa trên nguyên tắc rằng có một điện trở (electrical
resistance) giữa một điện cực đặt trong ƠT và một trên niêm mạc miệng với
những trị số phù hợp Điều này đã được chứng minh trong những nghiên cứu của Suzuki năm 1942, nhưng vấn đề đã được Custer đề xuất vào 1918
Sunada đã là người đầu tiên đã vận dụng những nguyên tắc của phương pháp này
để đo chiều đài của ống tuỷ (OT) Ông đã tạo nên một mạch điện giữa niêm mạc
miệng và dây chẳng nha chu, và với sự giúp đỡ của một Ohm kế, ông thấy rằng
điện trở kháng của mạch này là giống nhau, ông biện luận rằng khi một dụng cụ
nội nha được đưa vào bên trong OT và khi Ohm kế ghi nhận một trị số 40mA, đầu
của dụng cụ đã chạm một cách chính xác với dây chẳng nha chu tại lỗ chóp của
OT
Sau đó, đã có một loạt máy EAL xuất hiện trên thị trường với mục đích đo lường các ống tủy bằng cách áp dụng những phát hiện của Suzuki và Sunada
Trang 2Cash đã báo cáo những kết quả thuận lợi với viéc str dung Endometer Inoue da
thu được những kết quả tương tự với Sono-Explorer Trước hết phải cô lập răng
với đê cao su, và cả các dụng cụ phải được hiệu chuẩn bằng cách đặt cây file đã
được kết nối vào rãnh nướu của răng BN Ở các máy thế hệ hai, không yêu cầu
phải hiệu chỉnh trước khi sử dụng
Nguyên tắc của PP này dựa trên cơ sở rằng trở kháng của màng Nha chu bao
quanh răng là một hằng số và do đó trị số này là giống nhau giữa rãnh nướu và lỗ
chóp
Những máy định vị chóp dựa trên nguyên tắc đo trở kháng thuộc (bé lệ £bứ „bất
va thir hai, ching nhạy cảm với các thành phần chứa trong ống tuỷ và các chất dùng để bơm rửa
Thế hệ máy thứ ba được thiết kế đựa trên một nguyên tắc được gọi là phương
pháp đo lường tỷ lệ @ứafio measurement method) Theo phuong phap nay, tro
kháng của ống tuỷ được đo bằng hai nguồn điện với hai tần số khác nhau, và tỷ số
đã được xác định bằng cách sử dụng các hiệu điện thế tỷ lệ với mỗi trở kháng Có nhiều nghiên cứu cho thấy các chất điện giải không có một tác động đáng kể nào đến tính chính xác của máy Một số EAL thế hệ thứ ba là Endex Pi¿s, hoặc Apit
(Osada, Los Angeles, CA), Root ZX (J Morita, Kyoto, Nhat Ban),va Neosono Ultima EZ (Satelec, Mount Laurel, NJ)
EAL thế hệ thứ tư đã được giới thiệu , chúng dựa trên một thuật toán gọi là đø
vị chấn đoán các phân tử (Elements Diagnostic Unit), Apex Locator
(SybronEndo), và Bingo 1020/Ray-X4 ( Rishon Lezion, Israel) Bingo chỉ sử dụng
một trong hai tần số của nó tại một thời điểm (8 Hz hoặc 400 Hz) Theo các nhà sản xuất, những đơn vị phần tử (Elements unit) (hoạt động ở tần số 0,5 và 4 kHz)
so sánh những thông tin về trở kháng (resistance) và điện dung (capacitance) vào
một cơ sở dữ liệu để xác định khoảng cách giữa các file và chóp Khi đầu file đến khu vực của lỗ chóp, máy sẽ phát ra một tín hiệu
Trang 3Uu diém:
Đây là những công cụ duy nhất có thê định vị lỗ chop mà không dùng phim tia X
vì thế hơn tất cả, nó hữu ích trong những tình huống mà x quang không thê hỗ trợ cho chúng ta như trường hợp chóp bị che khuất bởi những vật thể và cấu trúc giải
phẫu khác (vd Răng ngắm, chân răng lân cận, răng cối trên bị che khuất bởi cung 8ò má, nên xoang ) , phụ nữ có thai, Bn không hợp tác, BN bi Parkinson hay người khuyết tật nói chung, Bn có phản xạ khi đưa sensor hay phim vào miệng
và tất cả những tình huống không thê thực hiện được bởi phim tia X
Răng 13 ngâm, gây trở ngại cho việc xác định WL khi nội nha răng 12
Người chia sẽ: Bàn Chai Danh Rang
“Chúng ta không thể dạy bảo cho ai bất cứ điều gì, chúng ta chỉ có thể giúp
họ phát hiện ra những gì còn tiềm ẩn trong họ”
Trang 4
Theo Schilder, có khoảng 10% trường hợp lỗ ông tư? năm ở mặt ngoài hay trong chóp răng, trong những trường hợp này, EAL là biện pháp đáng tín cậy han dé xac dinh WL so voi phim tia X.
Trang 5EAL cũng hữu ích trong việc chẩn đoán thủng chân răng Khi các dụng cụ đã
được kết nối với EAL tiếp xúc với mô Nha chu tại lỗ thủng, nó sẽ cho chúng ta một trị số trở kháng như khi nó qua lỗ tủy Điều này đặc biệt hữu ích khi lỗ thủng nằm ở phía má hoặc lưỡi, trong những tình huống này thì không thể xác định bằng
phim tia X
Nó cũng có thể có ích trong trường hợp chân đoán trường hợp 2 ống tủy nhập làm
một và chỉ có một lỗ chóp Các cây Files được đặt vào bên một OT cho đến chóp
và EAL được nối với một cây File khác Sự tiếp xúc giữa 2 cây Files sẽ được phát hiện ở vị trí chóp và chân đoán chỗ hợp lưu sẽ trở nên dễ dàng
Điều cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng là việc định vị chóp sẽ giảm đáng kể việc tiếp xúc với tia X
Nhược điểm:
Cần nhớ là độ chính xác của các dụng cụ EAL chỉ khoảng từ 80-90%, vẫn còn % một tỷ lệ lỗi
Các phép đo đặc biệt không đáng tin cậy với những răng mà phần chóp còn non
(chưa hoàn thiện) với tủy sống hoặc bị hoại tử, hoặc răng có thấu quang quanh chóp, trong những trường hợp có nang lớn quanh chóp.
Trang 6Với những thế hệ máy cũ, (thế hệ 1 và 2), OT phải lấy sạch mô tủy, dịch tiết, mủ,
máu, chất diện giải và sodium hypochlorite Nói cách khác là không được còn lại
bất kỳ chất nào có khả năng dẫn điện trong OT
Nếu các qui tắc này không được tuân thủ, một kết quả đọc sai sẽ xảy ra, sẽ chỉ thu
được một kết quả không chính xác nếu cây File tiếp xúc với kim loại khác bao
gồm vàng, amalgam, cone bạc hay các dụng cụ còn sót lại trong OT
Từ tất cả những việc này, chúng ta có thể hiểu rằng để có thê được sử dụng một
cách thành công, nếu OT chưa khô và trống thì chúng vẫn chưa sẵn sàng đề tiếp
nhận cây File dùng để đo
Ngoại trừ những trường hợp đặc biệt, thiết bị này có thê hữu ích trong việc xác
nhận lại những dữ liệu nhận được từ phim tia X, nhưng chỉ sau khi OT đã được
mở rộng đến một kích thước nhất định, bơm rửa, được làm khô, những mảnh vụn
tủy đã hoàn toàn bị loại bỏ, không bị chảy máu và cũng không có sự hiện diện
của dịch rỉ tiết, sodium hypochloride phải được hút sạch và có thê được thay thế
bởi một dung dịch không có tính điện giải như hydrogen peroxide hoặc thậm chí
tốt hơn là các OT đã được làm khô nếu không thì các kết quả đo sẽ không chính
xác
EAL thé hé moi:
Các tính năng mới đã được ứng dụng khiến việc sử dụng EAL trở nên phát triển
vả trở thành một dụng cụ mang tính cách mạng trong hành nghề Nha khoa Việc
sử dụng chúng không bị ảnh hưởng bởi những chỗng chỉ định và những bắt lợi, những hạn chế đã được nói đến
Các máy mới (thế hệ thứ ba) đã có bán trên thị trường như Apix/ Endex (Osada)
và ZX Root (Morita) hầu như đã khắc phục hoàn toàn tất cả những nhược điểm
đã nói trước đó Gần đây đã có nhiều sản phẩm mới hơn thuộc thế hệ thứ tư từ nhiều hãng khác đã xuất hiện trên thị trường
Trang 7
Những máy này được chế tạo theo nhiều nguyên tắc khác nhau và không bị ảnh hưởng bởi những chất chứa trong lòng OT cho dù đó là
máu,mô tủy sống hay đã bị hoại tu’, mu, hay sodium hypochlorite Noi
cách khác, các thiết bị này có thể thực hiện công việc một cách chính xác ngay cả trong tình trạng ẩm ướt và có sự hiện diện của muối khoáng, hơn thế nữa chúng có thể được sử dụng với những cây File có
kích thước nhỏ ngập trong sodium hypochilorite hoặc khi nó tiếp xúc
với các chất lỏng có nguồn gốc hữu cơ.Nói như vậy, có thể đạt được
một kết quả đo WL chính xác ngay từ lần đo đầu tiên
Các kết quả đo không chính xác chỉ khi nào thân của cây File tiếp xúc với kim loại của mão răng hoặc những vật liéu tram bit truéc dé nam
trong OT cản trở sự tiếp xúc giữa cây File với ngà rắng bao quanh Kết quả cũng sẽ không chính xác nếu cây File được sử dụng có kích
thước quá nhỏ so với đường kính của lỗ chóp hay khi đo mà có những
chất lỏng dẫn điện tiếp xúc với những phục hình kim loại: trong tình
huống đầu tiên có thể đạt được một kết quả chính xác nếu sử dụng
một cây File có số thích hợp, trong khi ở tình huống sau thì chiều dài
của OT có thể đạt được sự chính xác với biện pháp đơn giản là loại bỏ
các chất điện phân bằng máy hút hoặc cone giấy
Người chia sẽ: Bàn Chai Danh Rang
“Chúng ta không thể dạy bảo cho ai bất cứ điều gì, chúng ta chỉ có thể giúp
họ phát hiện ra những gì còn tiềm ẩn trong họ”
Trang 8Những nguyên nhây gây ra sự do lưởng không chính xác của EAL:
1 Str dung dé cao su không đúng: không hoàn toàn cô lập va có nước bọt bị ô
nhiễm
2 Có sự hiện diện của Sodium hypochioride trong buông tủy (đặc biệt là ở răng
nhiều chân)
3 Có sự tiếp xúc giữa cây File và những phục hình bằng kim loại
4 Có sự tiếp xúc giữa sodium hypochlorite ở buông túy với những phục hình
bằng kim loại
5 Cây File có đường kính quá nhỏ so với đường kính của lỗ chóp (máy sẽ lưỡng
lự dao động giữa trị số O và trị số đã vượt quá lỗ chóp)
6 OT vẫn còn chứa những vật liệu trảm bít cũ
7 Cây File ẩi vào một Ống tủy phụ
8 Cây file đi vào một lỗ thủng.
Trang 9Các nguyên tắc vật lý mà các EAL thế hệ mới ứng dụng không dựa trên sự chênh
lệch giá trị trở kháng giữa mô nha chu và cây File dùng đề đo mà dựa trên sự khác biệt trong đáp ứng trở kháng (ùữnpedance response) cho 2 tần số khác nhau (1kHz
và Š kH”) của máy Apix (Osada, ở thị trường Mỹ máy có tên là Endex) gọi pp
này là những giả trị tương đối của PP đáp ứng tan so” (The relative values of
frequency response method va ty lé trong tro khang (ratio in the impedance) cho 2
tan sé khac nhau (400 kHz va 8 kHz) & loai may Reot ZX (ho goi la “PP ty) /é” Rafio method) tại nhiều điểm khác nhau trong OT
Tỷ lệ này cho một giá trị rất chính xác, cho rằng vị trí của điện cực bên trong OT
độc lập với chất điện phân chứa điện cực đó Trị số này giảm dần khi cây File tiến gần lỗ chóp cho đến khi nó bằng O khi đi đến lỗ chóp Nguyên tắc này do đó không bị ảnh hưởng bởi những chất chứa bên trong OT, giảm đến mức tối thiểu các lỗi gây ra bởi các tình trạng của bản thân OT và dụng cụ đo
Một nghiên cứu gần đây cho thấy thiết bị này đạt tỷ lệ chính xác 96,5% với một mặc định là giới hạn sai sót về mặt lâm sàng có thể chấp nhận được là dưới
Trang 100,5mm
Apit/ Endex không thể xác định chính xác khi bên trong OT khô, nó cũng không
đo được khi OT khô
Zoot ZX (Morita) duge dia trén PP có một chút khác biệt gọi là P? 0) lé (Ratio
method) và việc đo lường được thực hiện dễ dàng hơn:
Không cần hiệu chỉnh và reset
Đo chính xác ngay cả khi OT khô
Có thể giam sat WL déng thời với việc làm sạch và tạo hình một cách dé dàng
Nó có pin có thể hoạt động lâu dài, không cân phải sạc thường xuyên
Những nghiên cứu gần đây cho thấy Root ZX cho kết quả đo chính xác 100% với
sai số có thể chấp nhận về lâm sàng là + 0,5%, với khoảng cách trung bình từ đầu File đến lỗ chóp là 0,2mm Một số tác giả khác cũng đã nhắn mạnh trên thực tế rang Root ZX có thê được dùng đề xác lập vị trí của lỗ chóp chứ không phải là chỗ thắt của OT tại chóp như đã được gọi bởi các tác giả khác, và do đó nó sẽ là
một điều rõ ràng nếu chúng ta có tính đến các nguyên tắc vật lý mà máy Root ZX
dựa vào, là nó chẩn đoán vị trí của iổ chóp Vi thé, trái với những gì nhà SX nói , Root ZX không phải được sử dụng đề xác định một điểm thắt cách lỗ chóp
0,5mm, mà để xác định lỗ chóp thực sự, khi cây File đi đến chóp và khi máy hiện chữ Apex” chỉ khi đó nếu muốn người ta mới có thê xác định khoảng cách
0,5mm từ lỗ chóp
Để kết luận, ngày hôm nay người ta không thê tưởng tượng là trong thực hành nội nha ngày nay lại không có máy định vị chóp, và nếu xác định WL mà không có EAL thì giống như là một phi công lái máy bay mà không được hướng dẫn bởi Radar, tuy nhiên không có nghĩa là máy EAL dù là thế hệ mới nhất có thể thay thế
được X quang vì phim tia X cung cấp cho NS các thông tin mà EAL không thê có
được như: OT rộng hay hẹp, mức độ và hướng độ cong của OT, vị trí của lỗ chóp,
độ dày của ngà răng, mối quan hệ giữa các OT trong cùng một chân răng Hơn
nữa, các dụng cụ này không chỉ cung cấp thông tin cho NS về vị trí của lỗ, nó còn
có thê tiết lộ về sự mở của bất kỳ lỗ nào khác chẳng hạn như một ống tủy bên hoặc lỗ thủng
Trang 11Néu , một khi đã chụp X qu a sự khác nhau giữa các hình chụp cho thấy file bị
“ngắn” khi xác định điểm cuôi trên phim t tia X (radiographic terminus) nhưng khi
dùng EAL thì thây file đã đi đến chóp, kết quả đo bằng EAL phải được xem là
chính xác vì một khi lỗ chóp mở ra phía lưỡi hoặc má thì sẽ không thê nhận thấy trên oe X quang: Vike oa wi co đó sẽ đa trên kết sim So do Đời EAL
Răng l1 có chan đoán chết tuỷ, có chỉ định điều trị nội nha (trải), khi chụp X
quang thì thấy chưa tới chóp, nhưng EAL thì báo đã tới chóp (giữa), WL được xác định dựa trên EAL vì trường hợp này lỗ ống tuỷ nằm ở phía mặt ngoài hay trong cua chop rang (phải (Casteliucci)
Người chia sẽ: Bàn Chai Danh Rang
“Chúng ta không thể dạy bảo cho ai bất cứ điều gì, chúng ta chỉ có thể giúp
họ phát hiện ra những gì còn tiềm ẩn trong họ”