Để có thể cho vay theo dự án đầu tư vốn lớn, thời gian dài thì các NHTM cũng cần phải xem xét, đánh giá về dự án cũng như tình hình tài chính của doanh nghiệp có dự án đầu tư để chắc chắ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
LÊ THỊ KIM THU
CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ
TẠI NGÂN HÀNG TMCP QUÂN ĐỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Hà Nội – 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
LÊ THỊ KIM THU
CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ
TẠI NGÂN HÀNG TMCP QUÂN ĐỘI
Chuyên ngành: Tài chính ngân hàng
Mã số: 60 34 02 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS TRẦN THỊ THANH TÚ
XÁC NHẬN CỦA
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
XÁC NHẬN CỦA CHỦ TỊCH HĐ CHẤM LUẬN VĂN
PGS TS Trần Thị Thanh Tú PGS TS Phí Mạnh Hồng
Hà Nội - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, chưa được công bố trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào của người khác Việc sử dụng kết quả, trích dẫn tài liệu của người khác đảm bảo theo đúng các quy định Các nội dung trích dẫn và tham khảo các tài liệu, sách báo, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí và trang web theo danh mục tài liệu tham khảo của luận văn
Tác giả luận văn
Lê Thị Kim Thu
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên cho tôi được bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô giáo
đã giảng dạy tôi trong chương trình đào tạo Thạc sỹ khóa 23 -Trường Đại học Kinh tế- Đại học Quốc gia Hà Nội đã tận tình hướng dẫn và truyền cảm hứng nghiên cứu cho tôi cũng như các học viên cao học nói chung trong quá trình học tập tại trường
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS Trần Thị Thanh Tú –Trường Đại học Kinh tế- Đại học Quốc gia Hà Nội đã dành nhiều thời gian và tận tình hướng dẫn, góp ý cho tôi trong quá trình tôi nghiên cứu thực hiện và hoàn thành luận văn này
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các cá nhân, tập thể đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Mặc dù đã hết sức cố gắng, nhưng do kiến thức còn hạn chế, thời gian có hạn nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Tôi rất mong nhận được sự góp ý của các thầy, cô giáo và các bạn để luận văn của tôi được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 03 năm 2017
Tác giả luận văn
Lê Thị Kim Thu
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG i
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ ii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 4
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận văn 4
1.2 Vai trò của tín dụng và cho vay theo dự án đầu tư của NHTM 7
1.3 Thẩm định dự án đầu tư tại NHTM 11
1.3.1 Nội dung thẩm định dự án đầu tư tại NHTM 13
1.3.2 Thẩm định tài chính dự án đầu tư 23
1.4 Chỉ tiêu đánh giá chất lượng thẩm định dự án đầu tư 28
1.5 Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng thẩm định dự án đầu tư 31
1.5.1 Quy trình 31
1.5.2 Pháp lý 32
1.5.3 Cán bộ tín dụng 32
CHƯƠNG 2.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ THIẾT KẾ LUẬN VĂN 34
2.1 Phương pháp nghiên cứu 34
2.1.1 Phương pháp luận chung 34
2.1.2 Phương pháp thu thập số liệu, thông tin 34
2.1.3 Phương pháp xử lý số liệu, phân tích số liệu 34
2.1.4 Phương pháp nghiên cứu tình huống 36
2.2 Thiết kế luận văn 36
2.2.1 Quy trình nghiên cứu 36
2.2.2 Thiết kế luận văn 37
Trang 6CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ
TẠI NGÂN HÀNG TMCP QUÂN ĐỘI MB 38
3.1 Khái quát chung về Ngân hàng TMCP Quân Đội MB 38
3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 38
3.1.2 Cơ cấu bộ máy tổ chức của Ngân hàng TMCP Quân Đội MB 40
3.1.3 Tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Quân Đội MB 41
3.1.4 Phân tích chất lượng thẩm định dự án đầu tư qua các chỉ tiêu 42
3.2 Thực trạng chất lượng thẩm định dự án đầu tư tại Ngân hàng TMCP Quân Đội MB 45
3.2.1 Căn cứ thẩm định dự án đầu tư vay vốn: 45
3.2.2 Quy trình thẩm định dự án đầu tư vay vốn: 47
3.2.3 Ví dụ minh họa về công tác thẩm định dự án đầu tư vay vốn tại NHQĐ : “ Dự án xây dựng kho xăng dầu ngoại quan Vân Phong ” 48
3.2 Đánh giá chung về chất lượng thẩm định dự án đầu tư tại Ngân hàng TMCP Quân Đội MB 83
3.2.1 Những ưu điểm 83
3.2.2Những hạn chế và nguyên nhân 86
CHƯƠNG 4 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ TẠI NGÂN HÀNG TMCP QUÂN ĐỘI MB 95
4.1 Định hướng nâng cao chất lượng thẩm định dự án đầu tư tại Ngân hàng TMCP Quân Đội MB 95
4.2 Giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định dự án đầu tư tại Ngân hàng TMCP Quân Đội MB 97
4.2.1 Giải pháp trước mắt 97
4.2.2 Giải pháp đổi mới nội dung thẩm định 98
4.2.3 Giải pháp về nguồn nhân lực và công tác điều hành 98
4.2.4 Giải pháp khi thực hiện thẩm định dự án đầu tư 99
4.2.5 Giải pháp về thông tin 101
4.2.6 Giải pháp về hỗ trợ thẩm định 103
Trang 74.2.7 Một số giải pháp khác 104
4.2.7.1 Giải pháp nâng cao khả năng phòng ngừa rủi ro 104
4.2.7.2 Nên lập quỹ dùng cho công tác thẩm định 104
4.3 Một số kiến nghị 105
4.3.1 Kiến nghị với Chính Phủ 105
4.3.2 Kiến nghị với Ngân hàng Nhà Nước 107
KẾT LUẬN 109
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 111
Trang 8DANH MỤC BẢNG
2 Bảng 3.1 Kết quả kinh doanh MB giai đoạn 2011-2015 43
3 Bảng 3.2 Tỉ lệ nợ xấu cho vay theo dự án đầu tƣ giai đoạn
4 Bảng 3.3 Tỷ lệ các dạng năng lƣợng tiêu thụ trên thế giới 64
Trang 9DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Sơ đồ
1 Sơ đồ 1.1 Bộ máy tổ chức của Ngân hàng TMCP Quân đội 42
Biểu đồ
1 Biểu đồ 3.1 Bộ máy tổ chức của Ngân hàng TMCP Quân đội 45
2 Biểu đồ 3.2 Tỉ lệ nợ xấu của MB giai đoạn 2010- 2015 46
3 Biểu đồ 3.3 Dự kiến tiêu thụ dầu hàng năm ở Châu Á 65
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì cần phải tìm ra những ý tưởng mới và các dự án đầu tư mới Một dự án đầu tư mới có tính khả thi hay không cần phải được xem xét và đánh giá một cách chính xác và đầy đủ về dự
án đó Để từ đó doanh nghiệp mới có thể quyết định có nên đầu tư hay không Tuy nhiên, các dự án đầu tư thường đòi hỏi phải có một lượng vốn lớn mà không phải doanh nghiệp nào cũng có khả năng tài chính để thực hiện dự án đầu tư mà họ đưa
ra Lúc đó các doanh nghiệp cần phải tìm nguồn tài trợ cho dự án bằng cách đi vay vốn Mặt khác, NHTM là một trung gian tài chính lớn Chính vì vậy các doanh nghiệp (các nhà đầu tư) sẽ tìm đến các NHTM để vay vốn tài trợ cho các dự án đầu
tư của mình Để có thể cho vay theo dự án đầu tư (vốn lớn, thời gian dài) thì các NHTM cũng cần phải xem xét, đánh giá về dự án cũng như tình hình tài chính của doanh nghiệp có dự án đầu tư để chắc chắn NHTM có thể thu hồi lại được khoản cho vay Việc thẩm định tài chính dự án đầu tư là việc làm hết sức cần thiết đối với các doanh nghiệp, đặc biệt là đối với các NHTM
Trong những năm qua, tuy phải đương đầu với những khó khăn thách thức nhưng đất nước ta đã giành được những thành tựu quan trọng và khá toàn diện, giữ vững ổn định kinh tế chính trị - xã hội Hầu hết các chỉ tiêu kinh tế hàng đầu đều đạt
và vượt kế hoạch, trật tự an toàn xã hội, an ninh quốc phòng đất nước được giữ vững Tình hình hoạt động tiền tệ Ngân hàng có nhiều biến chuyển tích cực mặc dù phải chịu tác động ảnh hưởng của nhiều yếu tố bất lợi trong nước cũng như trên thế giới Cùng với xu thế này, trong những năm vừa qua , Ngân hàng TMCP Quân Đội đã được đánh giá là một trong những Ngân hàng đã có nhiều đóng góp trong sự nghiệp đổi mới của ngành, cơ cấu tổ chức Ngân hàng được hoàn thiện hơn Là một Ngân hàng thương mại, Ngân hàng TMCP Quân Đội MB thực hiện rất nhiều nghiệp vụ, trong đó nghiệp vụ duy trì sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng chủ yếu là huy động vốn trung dài hạn để cho vay dự án đầu tư phát triển, nhận vốn ngân sách để cho vay các dự án thuộc chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước, kinh doanh tiền tệ tín dụng Bên cạnh
Trang 11những thành công đã đạt được trong hoạt động cho vay tín dụng trung dài hạn các dự
án đầu tư, Ngân hàng còn gặp không ít khó khăn và nhiều rủi ro Chính vì vậy, để đảm bảo hiệu quả và an toàn cho vay đòi hỏi phải tích cực nâng cao chất lượng công tác thẩm định trước cho vay, đặc biệt là cho vay dự án đầu tư Hoạt động thẩm định
dự án đầu tư đang thực sự đóng vai trò quan trọng Mục tiêu đặt ra của Ngân hàng TMCP Quân Đội MB trong năm tới là tiếp tục mở rộng hình thức tín dụng này
Hiện nay, bên cạnh những kết quả đạt được hoạt động thẩm định dự án đầu
tư tại Ngân hàng TMCP Quân Đội MB đang gặp phải những vấn đề còn tồn taị Chính vì vậy trên cơ sở những lý luận chung đã học và thực tế tại Ngân hàng TMCP
Quân Đội , tôi chọn đề tài: “ Chất lượng thẩm định dự án tại Ngân hàng TMCP
Quân Đội MB ” làm luận văn tốt nghiệp
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Đề tài tập trung nghiên cứu chất lượng thẩm định dự án đầu tư tại Ngân hàng
TMCP Quân Đội để từ đó đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định
dự án cho Ngân hàng
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống hóa lý luận cơ bản về thẩm định dự án đầu tư tại ngân hàng thương mại, các phương pháp đánh giá và thẩm định tài chính dự án cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng thẩm định dự án đầu tư
Phân tích thực trạng chất lượng thẩm định dự án đầu tư tại Ngân hàng TMCP Quân Đội trong giai đoạn từ 2013-2015, trên cơ sở đó phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng thẩm định dự án đầu tư tại Ngân hàng TMCP Quân Đội hiện nay
Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định dự án đầu tư tại Ngân hàng TMCP Quân Đội nhằm góp phần cho ngân hàng phát triển an toàn, hiệu
quả và bền vững
3 Câu hỏi nghiên cứu
- Chất lượng thẩm định dự án đầu tư tại Ngân hàng TMCP Quân Đội trong giai đoạn 2013 – 2015 như thế nào?
Trang 12- Những nhân tố nào ảnh hưởng đến chất lượng thẩm định dự án đầu tư tại Ngân hàng TMCP Quân Đội hiện nay ra sao?
- Những giải pháp nào có thể thực hiện nhằm nâng cao chất lượng thẩm định
dự án đầu tư tại Ngân hàng TMCP Quân Đội ?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Chất lượng thẩm định dự án đầu tư tại Ngân hàng TMCP Quân Đội
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
Nội dung: Chất lượng thẩm định dự án đầu tư tại Ngân hàng TMCP Quân Đội qua các chỉ tiêu định tính và định lượng
Không gian: Ngân hàng TMCP Quân Đội
Thời gian: đề tài sẽ phân tích đánh giá thực trạng chất lượng thẩm định dự án đầu tư tại Ngân hàng TMCP Quân Đội trong khoảng thời gian từ 2013 đến 2015 và
đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định dự án đầu tư tại Ngân hàng TMCP Quân Đội giai đoạn tiếp theo
5 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 4 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về chất lượng thẩm định dự án đầu tư của NHTM
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu và thiết kế luận văn
Chương 3: Thực trạng chất lượng thẩm định dự án đầu tư tại Ngân hàng TMCP Quân Đội MB
Chương 4: Định hướng và giải pháp nâng cao chât lượng thẩm định dự án đầu
tư tại Ngân hàng TMCP Quân Đội MB
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN
ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận văn
Nhìn chung, vấn đề chất lượng thẩm định dự án đầu tư là đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà kinh tế trong và ngoài nước Các bài báo, luận án, luận văn và các công trình nghiên cứu đã được công bố tương đối nhiều Tôi đã đọc và tìm hiểu một số luận văn của các nhà khoa học trước đây và so sánh
- Đỗ Hoàng Dương, 2011, Nâng cao chất lượng thẩm định dự án đầu tư tại Ngân
hàng đầu tư và phát triển Ninh Bình , Luận văn Thạc sỹ
Luận văn đã đưa ra những vấn đề lý luận cơ bản về thẩm định dự án đầu tư tại ngân hàng thương mại theo Ngân hàng thế giới và tại Việt Nam, đi sâu vào nghiên cứu công tác thẩm định dự án cũng như chất lượng và những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thẩm định dự án đầu tư
Trên cơ sở những lí luận cơ bản, luận văn cũng nghiên cứu thực trạng hoạt động thẩm định tài chính dự án tại Ngân hàng Đầu tư và phát triển Ninh Bình trong giai đoạn 2007 – 2009 từ đó đánh giá những kết quả đạt được và những hạn chế của hoạt động thẩm định tài chính dự án đầu tư tại Ngân hàng Đầu tư và phát triển Ninh Bình Từ những hạn chế tác giả đã đề xuất những giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện hoạt động thẩm định tài chính dự án tại Ngân hàng Đầu tư và phát triển Ninh Bình giai đoạn 2010 – 2012
- Nguyễn Mạnh Hà, 2012, Hoạt động thẩm định tài chính dự án tại BIDV – Chi
nhánh Sơn Tây, Luận văn Thạc sỹ
Luận văn đã tổng hợp và hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về thẩm định tài chính dự án đầu tư tại ngân hàng thương mại, đi sâu vào nghiên cứu các nội dung, quy trình, chỉ tiêu đánh giá và các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động thẩm định tài chính dự án đầu tư Trong đó làm rõ các nhóm nhân tố thuộc về ngân hàng, khách hàng và nhân tố môi trường
Trang 14Thông qua đó, luận văn cũng nghiên cứu thực trạng hoạt động thẩm định tài chính dự án tại BIDV chi nhánh Sơn Tây gắn với đặc điểm kinh tế - xã hội trên địa bàn từ đó đánh giá những kết quả đạt được và những hạn chế của hoạt động thẩm định tài chính dự án đầu tư tại BIDV chi nhánh Sơn Tây Từ những hạn chế tác giả
đã đề xuất những giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện hoạt động thẩm định tài chính dự án tại BIDV chi nhánh Sơn Tây giai đoạn 2012 - 2015
- Vũ Thị Phương Thảo, 2012, Một số vấn đề về công tác thẩm định tài chính dự án
đầu tư tại Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ Thương, Luận văn Thạc sỹ
Luận văn thông qua việc đưa ra các cơ sở lý luận về công tác thẩm định dự án đầu tư tại các Ngân hàng thương mại và đánh giá thực trạng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ Thương, chỉ ra những bất cập cần giải quyết để đưa ra được các giải pháp nhằm tăng cường công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư tại Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ Thương
Luận văn đã đóng góp một cách nhìn, cách đánh giá cụ thể, toàn diện về sự phát triển, thành công của Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ Thương cũng như đưa ra các giải pháp nhằm tăng cường công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư tại Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ Thương nói chung và ngân hàng thương mại nói riêng
- Trịnh Thị Phương Loan, 2013, Công tác thẩm định dự án đầu tư tại NHTM CP
Đầu tư và phát triểnViệt Nam- Chi nhánh Hà Tây , Luận văn Thạc sỹ
Luận văn đã có những đóng góp mới cho công tác thẩm định dự án đầu tư Về mặt lý luận, luận văn đã hệ thống hóa lý luận về thẩm định dự án đầu tư, đồng thời
về mặt thực tiễn thì luận văn đã phân tích thực trạng công tác thẩm định dự án đầu
tư của BIDV Hà Tây trong những năm gần đây Trên cơ sở đó, luận văn đã rút ra những kết quả đạt được, những vấn đề còn tồn tại và chỉ ra nguyên nhân Đồng thời, luận văn cũng đã nghiên cứu đề xuất một số giải pháp khắc phục những vấn đề còn tồn tại, giải quyết vướng mắc, nhằm hoàn thiện công tác thẩm định dự án đầu tư tại BIDV Hà Tây trong thời gian tới
Trang 15- Trần Thị Thùy Linh, 2015, Thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay tại
Ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương – Chi nhánh Lưu Xá , Luận văn Thạc sỹ
Tác giả đã tìm hiểu và nghiên cứu thực trạng công tác thẩm định dự án đầu
tư và dự án cụ thể tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam chi nhánh Lưu Xá trên cơ sở hệ thống hóa về mặt lý luận và thực tiễn công tác thẩm định dự án đầu tư tại ngân hàng Từ đó, tác giả đã đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư đạt hiệu quả cao hơn
- Nguyễn Thị Minh Châu, 2015, Giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định tài chính
dự án đầu tư tại Ngân hàng TMCP Xăng dầu Petrolimex, Luận văn Thạc sỹ
Luận văn đã phân tích được những hạn chế và nguyên nhân trong thẩm định tài chính dự án đầu tư tại PG Bank, trên cơ sở đó luận văn đã đề xuất được nhóm giải pháp có ý nghĩa thực tiễn mang tính chất tham khảo cho PG Bank
* Kết luận chung
Các luận văn trên đã nghiên cứu lý luận chung về hoạt động thẩm định dự án đầu tư cũng như thẩm định tài chính dự án đầu tư của NHTM đồng thời nghiên cứu thực trạng hoạt động thẩm định tài chính dự án đầu tư tại một số ngân hàng như
Techcombank, BIDV, Vietinbank … Từ đó các luận văn đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện hoạt động thẩm định dự án đầu tư tại các ngân hàng đó Tuy nhiên các công trình trên, dù đã được tiếp cận dưới nhiều góc độ, các giải pháp để tăng cường, hoàn thiện và nâng cao chất lượng thẩm định dự án đầu tư trên chỉ được trình bày như là một phần nội dung trong công trình nghiên cứu về chất lượng thẩm định dự án đầu tư, nghiên cứu và giải quyết một vài khía cạnh của nội dung thẩm định dự án đầu tư chứ chưa trở thành nội dung duy nhất, một cách có hệ thống và cập nhật của một công trình riêng biệt Luận văn của tôi nghiên cứu “ Chất lượng
thẩm định dự án tại Ngân hàng TMCP Quân Đội MB” , chưa có luận văn cũng như
công trình nghiên cứu nào trùng lặp nội dung với luận văn này
Khoảng trống nghiên cứu mà các công trình trên chưa đề cập đến sẽ được luận văn tìm hiểu, đó là nghiên cứu các vấn đề lý luận về chất lượng thẩm định dự án đầu
tư đối với các ngân hàng thương mại; Nêu ra những hạn chế và nguyên nhân chất
Trang 16lượng thẩm định dự án đầu tư tại Ngân hàng TMCP Quân đội MB để từ đó có những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thẩm định dự án đầu tư tại ngân hàng, góp phần
nâng cao hiệu quả trong hoạt động cho vay theo dự án đầu tư của ngân hàng
1.2 Vai trò của tín dụng và cho vay theo dự án đầu tư của NHTM
Đối với mỗi doanh nghiệp, để có thể tiến hành sản xuất kinh doanh thì điều đầu tiên là cần đủ vốn Vốn để thuê công nhân, vốn để mua máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, xây dựng nhà xưởng Xét rộng ra cả nền kinh tế, các ngành sản xuất muốn họat động liên tục và phát triển thì cần được đáp ứng đầy đủ vốn, bao gồm cả vốn cố định và vốn lưu động
Xét theo quy mô vốn thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như: vật tư kĩ thuật, đất đai, lao động, tài nguyên trong đó vốn tiền tệ đầu tư được mở rộng, cơ cấu vốn cũng có sự thay đổi theo từng ngành kinh tế, từng khu vực, từng đối tượng đầu
tư Xét theo đối tượng đầu tư, nguồn vốn đầu tư cho nền kinh tế hàng năm bao gồm: vốn để hình thành nên tài sản cố định và vốn để hình thành nên tài sản lưu động ( gọi
là vốn lưu động) Bất cứ một quốc gia nào để đảm bảo sự tăng trưởng đều phải đầu tư
cơ bản theo chiều rộng thông qua các hình thức xây dựng mới Các nước phát triển chủ yếu đầu tư theo chiều sâu, hướng hiện đại hóa cơ sở hoạt động Còn đối với các nước đang phát triển đầu tư vừa theo chiều rộng, vừa theo chiều sâu Các nước đang phát triển do cơ sở vật chất kĩ thuật còn ở trình độ, chưa hoàn thiện nên hàng năm một bộ phận vốn khá lớn được sử dụng vào các mục đích đầu tư đổi mới các tài sản
cố định Là một nước đang phát triển, Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật đó,
bộ phận vốn mà Việt Nam cần để sử dụng cho đầu tư vào tài sản cố định là rất lớn và
là nhân tố vô cùng quan trọng cho sự phát triển kinh tế Việt Nam
Trong những năm qua, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nhằm xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật cho chủ nghĩa xã hội được Đảng và Nhà nước ta đặt lên nhiệm vụ hàng đầu Điều này càng có ý nghĩa với Việt Nam, một nước đi lên từ nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu với hơn 80% dân số sống bằng nghề nông, từ kinh nghiệm của những quốc gia đã tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là
Trang 17phải tạo ra những yếu tố thuận lợi cho quá trình này Vốn là điều kiện tiên quyết không thể thiếu được để tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Vốn cho phát triển kinh tế xã hội luôn là vấn đề quan trọng và cấp bách cho quá trình công nghiệp hóa với mọi quốc gia, đặc biệt là Việt Nam.Với chính sách
mở cửa kinh tế, vai trò của Ngân hàng rất quan trọng, nhất là tín dụng Ngân hàng
Để đem lại sự phát triển cho Việt Nam, chúng ta cần một lượng vốn lớn, đặc biệt là vốn trung dài hạn Các nguồn vốn như: Vốn ngân sách nhà nước, vốn đầu tư từ hệ thống tín dụng Ngân hàng, vốn liên doanh, liên kết từ các tổ chức doanh nghiệp, cá nhân trong và ngoài nước và vốn đầu tư từ các tổ chức quốc tế Mỗi nguồn vốn đều rất quan trọng, cần thiết và cấu thành nên một bộ phận của hệ thống tài chính quốc gia Tuy nhiên, nguồn vốn từ hệ thống tín dụng Ngân hàng đối với các doanh nghiệp đã trở nên phổ biến hơn và ngày càng chiếm tỉ trọng cao trong kết cấu tài sản – nguồn vốn của các doanh nghiệp Tín dụng ngân hàng đóng vai trò ngày càng quan trọng, với các hình thức tín dụng ngày càng phong phú và đa dạng đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng Tín dụng ngân hàng đã tập trung có chọn lọc các dự
án lớn, vào các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, có điều kiện tiếp cận thị trường, giúp các doanh nghiệp đổi mới máy móc thiết bị hiện đại, sản xuất ra nhiều loại hàng hóa đáp ứng nhu cầu của xã hội Tuy nhiên, tỷ trọng tín dụng trung và dài hạn trong cơ cấu tín dụng nói chung còn nhỏ bé so với nhu cầu của các doanh nghiệp
Tín dụng trung và dài hạn của các NHTM mang lại rất nhiều lợi ích:
* Đối với các doanh nghiệp: Tín dụng trung và dài hạn có tác động hiệu quả đến nhịp độ phát triển sôi động của các doanh nghiệp và thúc đẩy cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường
Kinh doanh trong nền kinh tế thị trường có nghĩa là cạnh tranh quyết liệt – cạnh tranh là môi trường và cũng là đặc trưng của nền kinh tế thị trường Doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường muốn tồn tại và phát triển được thì không còn cách nào khác là phải thắng lợi trong cạnh tranh
Để cạnh tranh và giành được thắng lợi, doanh nghiệp phải chuẩn bị cho minh một chiến lược kinh doanh hoàn hảo, bao gồm các kế hoạch xây dựng nhà
Trang 18xưởng,mua sắm các thiết bị máy móc đổi mới công nghệ để nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng năng lực sản xuất, tăng lợi nhuận Muốn vậy phải có đủ vốn Nếu chỉ trông chờ vào nguồn vốn tích lũy thì phải mất một thời gian doanh nghiệp mới đổi mới được tài sản cố định và sẽ lại tụt xa so với các doanh nghiệp trường vốn đã trang bị hiện đại và sản phẩm họ tung ra thị tường cũng trở nên lạc hậu Vì thế, các doanh nghiệp cần huy động vốn bằng cách phát hành cổ phiếu, trái phiếu trên thị trường chứng khoán hoặc vay vốn ngân hàng So với phát hành chứng khoán, vay vốn ngân hàng có ưu điểm như: Với các khoản vay từ ngân hàng, doanh nghiệp có thể giảm bớt các chi phí mà lẽ ra họ phải trả khi tổ chức phát hành chứng khoán, chi phí làm thủ tục gọi vốn, chi phí đăng kí, bảo hiểm Kì hạn của những khoản vay từ ngân hàng dễ điều chỉnh hơn so với việc phát hành chứng khoán Do vạy khi thu nhập của doanh nghiệp có biến động thì doanh nghiệp có thể thỏa thuận lại với ngân hàng về cách thức và thời gian trả nợ gốc, lãi sao cho có lợi cho doanh nghiệp Doanh nghiệp cũng có thể được hưởng một khoảng thời gian ân hạn, chưa phải trả
nợ gốc ngay mà chỉ phải trả lãi
Tuy nhiên, lãi suất tín dụng của NHTM là chi phí khá cao đối với doanh nghiệp Lãi suất cao buộc doanh nghiệp phải nghĩ đến hiệu quả đầu tư, không chỉ để trả vốn và lãi vay Ngân hàng mà phải đem lại lợi tức cho chính mình Do vậy lãi xuất tín dụng trung và dài hạn của Ngân hàng là đòn bẩy kinh tế thúc đẩy doanh nghiệp triệt để khai thác có hiệu quả đồng vốn, kinh doanh có lãi và thắng trong cạnh tranh
Thêm vào đó, đối với những doanh nghiệp vừa và nhỏ thì những vốn vay từ ngân hàng không những là quan trọn mà còn gần như là duy nhất để tài trợ cho nhu cầu đầu tư của doanh nghiệp Bởi vì thường những doanh nghiệp lớn,có uy tín mới
có thể huy động vốn trên thị trường chứng khoán bằng cách phát hành chứng khoán
Vì vậy, có thể thấy rằng, đa số doanh nghiệp vẫn rất ưa thích hình thích vay vốn trung và dài hạn từ phía Ngân hàng bên cạnh các nguồn vốn khác ở Việt Nam, nguồn vốn vay Ngân hàng lại càng có ý nghĩa đối với các doanh nghiệp vì thị trường chứng khoán của ta chưa hoàn chỉnh, còn đang giai đoạn sơ khai Tín dụng
Trang 19ngân hàng là nguồn vốn quan trọng nhất của doanh nghiệp Tuy vậy, vốn cố định của ngân hàng không rải đều cho mọi đơn vị mà tập trung chủ yếu vào các đơn vị kinh doanh có hiệu quả, có xu hướng phát triển với các điều kiện ưu đãi Còn đối với một số doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả, Ngân hàng sẽ thắt chặt điều kiện vay vốn, thậm chí từ chối cấp tín dụng Do vậy, để có vốn đầu tư phát triển, để vươn lên
và đứng vững trong cơ chế thị trường, bản thân doanh nghiệp phải đổi mới, tổ chức lại sản xuất kinh doanh sao có hiệu quả
* Đối với Ngân hàng:
Các khoản vay trung và dài hạn sẽ là tài sản sinh lợi có nhiều triển vọng khi
nó dược thực hiện và giám sát đúng đắn Nếu Ngân hàng có một nguồn vốn ổn định trong thời gian dài, dùng nguồn vốn đó để đầu tư dài hạn sẽ tạo ra lợi nhuận cao hơn nhiều so với việc dùng nguồn vốn này để cho vay ngắn hạn Bên cạnh khoản lợi nhuận hấp dẫn, tín dụng trung – dài hạn còn là vũ khí cạnh tranh rất lợi hại giữa các Ngân hàng với nhau Với sản phẩm này, Ngân hàng sẽ phục vụ tốt hơn cho các chủ doanh nghiệp và thu hút ngày càng nhiều khách hàng đến với Ngân hàng Khi xác định cho vay trung và dài hạn, các Ngân hàng không chỉ nhìn vào lợi ích trước mắt
mà còn mong đợi ở lợi ích lâu dài hơn, đó là mở rộng tín dụng trung , dài hạn để thúc đẩy mạnh cho vay ngắn hạn Bởi lẽ, các doanh nghiệp sau khi được Ngân hàng cho vay vốn, trang bị máy móc thiết bị mới hay xây dựng mở rộng, năng lực sản xuất sẽ tăng lên Khi đó, doanh nghiệp lại cần nhiều vốn lưu động hơn để đáp ứng cho sản xuất Người đầu tiên mà doanh nghiệp tìm đến chính là Ngân hàng đã đầu
tư cho họ, hỗ trợ những điều kiện cần thiết cho sự phát triển của họ Với những Ngân hàng này, doanh nghiệp dễ dàng tìm được sự thông cảm do đã hiểu nhau và các dịch vụ rẻ, tiện lợi hơn.Về phía các Ngân hàng, họ cũng muốn tạo mối quan hệ với các doanh nghiệp quen biết để tiện theo dõi tình hình tài chính và các khoản thu chi của doanh nghiệp
Trong hiện tại và tương lai, tín dụng trung và dài hạn của NHTM vẫn sẽ nắm vai trò quan trọng trong đầu tư xây dựng cơ bản và mua sắm máy móc thiết bị hiên đại
Trang 20* Đối với nền kinh tế:
Hoạt động tín dụng trung và dài hạn của Ngân hàng có hiệu quả sẽ tác động đến mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội.Nó góp phần giải quyết nạn thất nghiệp, tạo thêm công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động và do vậy cũng giảm bớt tệ nạn xã hội
Phát triển cho vay trung và dài hạn sẽ giảm bớt đáng kể gánh nặng cho Ngân sách nhà nước, giảm bớt các khoản bao cấp từ ngân sách nhà nước cho đầu tư xây dựng cơ bản, góp phần giảm bớt thâm hụt ngân sách So với hình thức cấp phát từ ngân sách, hình thức tín dụng ngân hàng rõ ràng có hiệu quả hơn Bởi lẽ đồng vốn lúc này gắn liền với quyền lợi của Ngân hàng cững như của doanh nghiệp Với Ngân hàng, để bảo toàn vốn, họ phải theo dõi sát sao đồng vốn của minhd và trong những trường hợp cần thiết, phải đưa ra lời tư vấn cho doanh nghiệp Còn đối với doanh nghiệp, lãi suất tín dụng trung và dài hạn là chi phí khá cao đối với doanh nghiệp Đặc biệt nếu không sử dụng có hiệu quả thì doanh nghiệp sẽ phải chịu lãi suất phạt, tức là lãi suất nợ quá hạn Do vậy, tín dụng trung và dài hạn là đòn bầy kinh tế thúc đầy doanh nghiệp khai thác triệt để hiệu quả của đồng vốn đồng thời nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp, đảm bảo kinh doanh có hiệu quả và chiến thắng trong cạnh tranh
Với tư cách là trung gian tài chính đi vay để cho vay, Ngân hàng huy động các khoản tiền nhỏ lẻ nằm rải rác trong các doanh nghiệp và dân cư, biến thành nguồn vốn lớn để đầu tư cho các dự án có tính khả thi cao Do vậy, tín dụng trung
và dài hạn góp phần đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung vốn của nền kinh tế
1.3 Thẩm định dự án đầu tư tại NHTM
Đầu tư theo nghĩa rộng, nói chung, là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về cho người đầu tư các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó Nguồn lực đó có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ Đầu tư là
sự bỏ vốn trong một thời gian dài vào một lĩnh vực nhất định ( như thăm dò, khai thác, sản xuất – kinh doanh, dịch vụ ) và đưa vốn vào hoạt động của DN tương lai
Trang 21trong nhiều chu kì kế tiếp nhằm thu hồi vốn và có lợi nhuận cho nhà đầu tư và lợi ích kinh tế - xã hội cho nước được đầu tư
Đối với doanh nghiệp, đầu tư là hoạt động chủ yếu, quyết định sự phát triển
và khả năng tăng trưởng của doanh nghiệp Trong hoạt động đầu tư, doanh nghiệp
bỏ vốn dài hạn nhằm hình thành và bổ sung những tài sản cần thiết để thực hiện những mục tiêu kinh doanh Hoạt động này được thể hiện tập trung thông qua việc thực hiện các dự án đầu tư
Thực tiễn đã chứng minh rằng, muốn tối đa hóa hiệu quả đầu tư thì trước khi
ra quyết định đầu tư thì nhất thiết phải có dự án đầu tư ( DADT) DADT là cơ sở vững chắc, là tiền đề cho việc thực hiện mọi công cuộc đầu tư đạt hiệu quả kinh tế
xã hội mong muốn
Dự án đầu tư là tổng thể các chính sách , hoạt động và chi phí liên quan với nhau được hoạch định nhằm đạt được những mục tiêu nào đó trong một thời gian nhất định Dự án đầu tư còn là một tập hợp những đề xuất về nhu cầu vốn, cách thức sử dụng vốn, kết quả tương ứng thu được trong một khoảng thời gian xác định đối với hoạt động cụ thể để sản xuất kinh doanh, dịch vụ, đầu tư phát triển hoặc phục vụ đời sống
Có nhiều cách để phân loại dự án đầu tư, thông dụng nhất các dự án đầu tư có thể được phân thành: dự án đầu tư mới và dự án đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh
Dự án đầu tư mới: là những dự án có mục tiêu tạo ra sản phẩm, dịch vụ mới
để đưa vào thị trường hay những dự án tạo ra các pháp nhân mới Các dự án thuộc loại này phải được đầu tư toàn bộ nhà xưởng, máy móc, thiết bị…
Dự án đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh: Những dự án có mục đích tăng cường năng lực sản xuất, tăng quy mô sản phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tiến dây truyền máy móc từ đó tăng doanh thu của doanh nghiệp Hay nói cách khác, dự án mở rộng sản xuất là dự án được thực hiện trên cơ sở một dự án cũ đang hoạt động
Quá trình hình thành và phát triển một dự án đầu tư trải qua 3 giai đoạn: Chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và vận hành các kết quả đầu tư
Trang 22Nội dung các bước công việc ở mỗi giai đoạn của các dự án không giống nhau, tuỳ thuộc vào lĩnh vực đầu tư, vào tĩnh chất sản xuất, đầu tư dài hạn hay ngắn hạn… Trong ba giai đoạn trên đây, giai doạn chuẩn bị đầu tư tạo tiền đề và quyết định sự thành công hay thất bại ở hai giai đoạn sau, đặc biệt là đối với giai đoạn vận hành kết quả đầu tư
Do đó, đối với giai đoạn chuẩn bị đầu tư, vấn đề chất lượng, vấn đề chính xác của các kết quả nghiên cứu, tính toán và dự đoán là quan trọng nhất Trong quá trình soạn thảo dự án phải dành đủ thời gian và chi phí theo đòi hỏi của các nghiên cứu
Về vấn đề nguồn tài trợ cho dự án: trong trường hợp khan hiếm nguồn tài trợ, chủ đầu tư thường quan tâm tới tín dụng ngân hàng Các khoản tín dụng cho dự
án đầu tư chủ yếu là các khoản tín dụng trung và dài hạn Việc cung cấp tín dụng cho các dự án với số vốn lớn mà thời gian cho vay lại tương đối dài, có những dự án kéo dài đến hàng chục năm.Chính vì vậy mà rủi ro không trả được nợ của khách hàng đối với ngân hàng là rất lớn Để giảm bớt được những rủi ro đó, trước khi cấp tín dụng cho dự án, Ngân hàng phải tiến hành kiểm tra tính khả thi của dự án, xem xét các đặc điểm của dự án, các yếu tố thuộc về môi trường có thể ảnh hưởng tới dự án,… công việc đó chính là công tác thẩm định dự án đầu tư
1.3.1 Nội dung thẩm định dự án đầu tư tại NHTM
Thẩm định dự án đầu tư là việc tổ chức, xem xét một cách khách quan và toàn diện những nội dung cơ bản liên quan đến dự án đầu tư có ảnh hưởng trực tiếp tới tính khả thi, tính hiệu quả và khả năng an toàn vốn đầu tư của dự án Thẩm định
dự án đầu tư là một khâu then chốt của tác nghiệp thẩm định tín dụng trong Quy trình nghiệp vụ tín dụng của Ngân hàng; nó có vai trò quan trọng trong việc xem xét, quyết định cho khách hàng vay vốn thực hiện được dự án đầu tư, hoặc ra quyết định đầu tư của Ngân hàng Cụ thể như sau:
- Đưa ra kết luật về tính khả thi và hiệu quả về mặt tài chính của dự án đầu tư; khả năng trả nợ và những rủi ro có thể xẩy ra để quyết định cho việc cho vay hoặc từ chối cho vay hay đầu tư
- Làm cơ sở cho việc tham gia góp ý, tư vấn cho chủ đầu tư, tạo tiền đề đảm bảo hiệu quả cho vay, thu được cả gốc và lãi đúng hạn, hạn chế và phòng ngừa rủi ro
Trang 23- Làm cơ sở cho việc xác định số tiền cho vay, thời gian cho vay, dự kiến tiến độ giải ngân, thu nợ hợp lý, các điều kiện cho vay; từ đó tạo tiền đề cho khách hàng vay vốn hoạt động có hiệu quả và đảm bảo mục tiêu đầu tư của Ngân hàng
Vì vậy, kết quả của thẩm định phải độc lập với tất cả những ý muốn chủ quan cho dù đến từ bất kỳ phía nào
Mục đích của thẩm định dự án là nhằm phát hiện ngăn chặn những dự án xấu, không bỏ sót các dự án tốt trong quy luật ngày càng khan hiếm các nguồn lực
Thông qua thẩm định dự án Ngân hàng có được cái nhìn tổng quát nhất về chủ đầu tư và về dự án Về chủ đầu tư Ngân hàng đánh giá được năng lực pháp lý, năng lực tài chính, trình độ, tình hình sản xuất kinh doanh hiện tại của chủ dự án Còn về dự án, Ngân hàng đánh giá một cách toàn diện một dự án về các mặt: năng lực pháp lý của chủ đầu tư dự án, yêu cầu kỹ thuật, tài chính dự án, rủi ro của dự án, khả năng trả nợ và tài sản đảm bảo của dự án
1.3.1.1 Thẩm định hồ sơ pháp lý của khách hàng
Thẩm định tư cách pháp lý của chủ đầu tư là yếu tố đầu tiên trong nội dung thẩm định dự án Trong quan hệ giữa người với người, các bên được gọi là chủ thể Trên nguyên tắc, mọi cá nhân đều có tư cách pháp lý, nhưng với tổ chức thì không phải Để được Nhà nước công nhận có tư cách pháp lý, chủ thể cần phải đáp ứng ít nhất một hoặc cả hai điều kiện sau: có khả năng hưởng quyền và gánh vác nghĩa vụ theo quy định của pháp luật (năng lực pháp luật) – và có khả năng thực tế (được pháp luật thừa nhận) để thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý (năng lực hành vi) Tư cách thể nhân là tư cách pháp lý được Nhà nước công nhận cho một cá nhân) Người này được gọi là thể nhân Mỗi cá nhân đang hiện hữu trong xã hội đều được Nhà nước công nhận tư cách thể nhân, bất kể họ đã trưởng thành hay chưa, có nhận thức được hoặc phát triển có bình thường hay không: “Mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự như nhau Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi người
đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết” Tư cách pháp nhân là tư cách pháp lý được Nhà nước công nhận cho một tổ chức (nhóm người) có khả tồn tại và hoạt
Trang 24động độc lập trước pháp luật Tổ chức này được gọi là pháp nhân (là con người trên phương diện pháp lý chứ không phải con người thực thể
Khách hàng có đủ tư cách thể nhân hoặc pháp nhân để xác lập mối quan hệ tín dụng với ngân hàng hay không? Trường hợp chưa đủ thì cần bổ sung những văn bản pháp lý khác Khách hàng xin cấp tín dụng phải có đủ năng lực pháp lý theo quy định của pháp luật, phải có đủ hồ sơ chứng minh năng lực pháp lý theo quy định của pháp luật hiện hành Đối với các khách hàng xin cấp tín dụng là pháp nhân phải kiểm tra tính pháp lý của "người đại diện pháp nhân" theo quy định của pháp luật Trong một số trường hợp, theo yêu cầu của loại hình cấp tín dụng, phải xem khách hàng có thoả mãn các điều kiện thuộc đối tượng cấp tín dụng hay không
Sau khi tiếp nhận hồ sơ pháp lý của doanh nghiệp, cán bộ thẩm định tiến hành kiểm tra, xem xét tài liệu, văn kiện trong hồ sơ để kiểm tra tính hợp pháp, mức
độ đầy đủ và trung thực của các văn bản này Cán bộ thẩm định so sánh đối chiếu với các văn bản có trong hồ sơ pháp lý doanh nghiệp do khách hàng cung cấp, với các căn cứ pháp lý như Quy trình nghiệp vụ tín dụng của Ngân hàng, Luật đầu tư, Luật doanh nghiệp,…để kiểm tra xem doanh nghiệp cần bổ sung những văn bản nào, các tài liệu mà doanh nghiệp cung cấp có đúng với quy định của Nhà nước không, có đúng với thực tế không Tất cả các sự kiện mang tính pháp lý của doanh nghiệp đều phải được văn bản hóa Đối với các doanh nghiệp hạch toán phụ thuộc, cán bộ thẩm định kiểm tra giấy ủy quyền bằng văn bản của công ty mẹ
1.3.1.2 Thẩm định hồ sơ tài chính của khách hàng
Đối với Ngân hàng thì thẩm định tài chính vẫn là mục tiêu quan tâm hàng đầu Bởi vì, trong khi tiến hành thẩm định dự án, Ngân hàng đặc biệt quan tâm tới hiệu quả tài chính của dự án, nhất là thời gian và các nguồn dùng để trả nợ cho Ngân hàng
Vì vậy, có thể hiểu hoạt động thẩm định tài chính dự án như sau: Thẩm định tài chính dự án là thẩm định các yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả tài chính của dự án Hay nói cách khác, thẩm định tài chính là thẩm định tính khả thi về mặt tài chính của dự án, nhu cầu vay vốn của dự án cũng như khả năng trả nợ và lãi vay của dự
Trang 25án Ngân hàng thu lợi chủ yếu nhờ hoạt động cho vay Chính vì vậy mỗi một khoản tín dụng được cấp ra nhất thiết phải mang lại hiệu quả, điều đó đồng nghĩa với việc đảm bảo cho hoạt động của ngân hàng được an toàn và hiệu quả Vì vậy, điều ngân hàng quan tâm nhất là khả năng hoàn trả khoản vay cả gốc lẫn lãi đúng thời hạn Do
đó, việc ngân hàng phải tiến hành thẩm định dự án trên mọi phương diện kỹ thuật, thị trường, tổ chức quản lý, tài chính…là rất quan trọng, trong đó thẩm định tài chính dự án có thể nói là quan trọng nhất
Một dự án đầu tư như đã đề cập thường đòi hỏi một lượng vốn rất lớn, trong một thời gian dài, phần lớn vượt quá khả năng tài chính, khả năng tự tài trợ của các doanh nghiệp Do vậy họ phải huy động nguồn tài trợ từ các NHTM Về phía NHTM, cho vay theo dự án đầu tư là một nghiệp vụ kinh doanh truyền thống, có khả năng sinh lời cao nhưng cũng chứa đựng nhiều rủi ro Và để giảm thiểu rủi ro
có thể xảy ra, các Ngân hàng thương mại không có cách nào khác là phải tiến hành thẩm định các dự án đầu tư mà công việc quan trọng nhất ở đây là thẩm định tài chính dự án Vai trò quan trọng của thẩm định tài chính dự án thể hiện ở chỗ nó chính là căn cứ chính yếu nhất để NHTM đưa ra quyết định tài trợ của mình
Có thể nói thẩm định tài chính dự án là nội dung quan trọng nhất và phức tạp nhất trong quá trình thẩm định dự án Bởi vì nó đòi hỏi sự tổng hợp của tất cả các biến
số tài chính, kỹ thuật, thị trường…đã được lượng hoá trong các nội dung thẩm định trước nhằm phân tích, tạo ra những bảng dự trù tài chính, những chỉ tiêu tài chính phù hợp có ý nghĩa Và những chỉ tiêu này, sẽ là những thước đo quan trọng hàng đầu giúp NHTM đưa ra quyết định cuối cùng: chấp thuận tài trợ hay không?
Về mặt nghiệp vụ, NHTM với phương châm hoạt động hiệu quả và an toàn, công tác thẩm định tài chính dự án của Ngân hàng giúp cho:
- Ngân hàng có cơ sở tương đối vững chắc để xác định được hiệu quả đầu tư vốn cũng như khả năng hoàn vốn của dự án, quan trọng hơn cả là xác định khả năng trả nợ của chủ đầu tư
- Ngân hàng có thể dự đoán được những rủi ro có thể xảy ra, ảnh hưởng tới quá trình triển khai thực hiện dự án Trên cơ sở này, phát hiện và bổ sung thêm các
Trang 26biện pháp khắc phục hoặc hạn chế rủi ro, đảm bảo tính khả thi của dự án đồng thời tham gia ý kiến với các cơ quan quản lý Nhà nước và chủ đầu tư để có quyết định đầu tư đúng đắn
- Ngân hàng có phương án hạn chế rủi ro tín dụng đến mức thấp nhất khi xác định giá trị khoản vay, thời hạn, lãi suất, mức thu nợ và hình thức thu nợ hợp lý, tạo điều kiện cho dự án hoạt động có hiệu quả
- Ngân hàng tạo ra các căn cứ để kiểm tra việc sử dụng vốn đúng mục đích, đúng đối tượng và tiết kiệm vốn đầu tư trong quá trình thực hiện đầu tư dự án
- Ngân hàng rút ra kinh nghiệm trong cho vay để thực hiện và phát triển có chất lượng hơn Xuất phát từ tính cần thiết, tính thực tế, tính hiệu quả của công tác thẩm định tài chính dự án bản thân nó đã và đang tiếp tục trở thành một bộ phận quan trọng mang tính quyết định trong hoạt động cho vay của mỗi ngân hàng
Cán bộ thẩm định đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp vay vốn dựa vào các báo cáo tài chính do doanh nghiệp cung cấp Nội dung hồ sơ tài chính của của doanh nghiệp được nêu trong mục căn cứ thẩm định Trong khâu này, cán bộ thẩm định kiểm tra tính đầy đủ của bộ hồ sơ và yêu cầu khách hàng bổ sung những tài liệu còn thiếu Cán bộ thẩm định sử dụng kiến thức chuyên môn của mình tính toán các chỉ tiêu phản ánh năng lực tài chính của doanh nghiệp, từ đó so sánh với các chỉ tiêu của doanh nghiệp khác cùng ngành và so sánh với chỉ tiêu bình quân ngành và của toàn nền kinh tế Các chỉ tiêu được sử dụng để phân tích tài chính doanh nghiệp bao gồm:
- Nhóm chỉ tiêu thanh khoản:
+ Khả năng thanh toán hiện hành
+ Khả năng thanh toán nhanh
+ Khả năng thanh toán tức thời
Trang 27+ Hiệu xuất sử dụng tài sản cố định
+ Lợi nhuận gộp/ Doanh thu thuần
+ Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh/ Doanh thu thuần
+ Lợi nhuận sau thuế/ Vốn CSH bình quân
+ Lợi nhuận sau thuế/ Tổng tài sản bình quân
- Vốn lưu động ròng:
Dựa vào số liệu trong báo cáo tài chính và các chỉ tiêu tài chính doanh nghiệp đã được tính toán, cán bộ thẩm định đưa ra nhận xét, đánh giá về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh và tình hình tài chính của doanh nghiệp Tình hình tài chính của doanh nghiệp được thể hiện qua các yếu tố sau:
- Quy mô tổng tài sản
- Cơ cấu tài sản
- Khả năng thanh toán
- Nhóm chỉ tiêu hoạt động
- Khả năng tự tài trợ
Như vậy, khi tiến hành thẩm định nội dung khách hàng vay vốn, cán bộ
thẩm định phải sử dụng phương pháp so sánh , đối chiếu Các chỉ tiêu được tính toán rồi so sánh với các chỉ tiêu của doanh nghiệp khác cùng ngành; so sánh với chỉ tiêu bình quân ngành và của toàn nền kinh tế
1.3.1.3 Thẩm định khía cạnh kinh tế của dự án
a) Đánh giá mục tiêu đầu tư và nội dung sơ bộ dự án
- Mục tiêu đầu tư dự án
- Quy mô đầu tư: công suất thiết kế, giải pháp công nghệ, cơ cấu sản phẩm dịch vụ đầu ra của dư án, phương án tiêu thụ sản phẩm
Trang 28- Quy mô vốn đầu tư: Tổng vốn đầu tư, cơ cầu vốn đầu tư theo các tiêu chí khác nhau ( xây lắp, thiết bị, chi phí khác, lãi vay trong thời gian thi công và dự phòng phí, vốn cố định và vốn lưu động) ; phương án nguồn vốn đề thực hiện dự án theo nguồn gốc sở hữu: vốn tự có, vốn được cấp, vốn vay, vốn liên doanh liên kết…
- Dự kiến tiến độ triển khai thực hiện dự án
b) Phân tích thị trường và khả năng tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ đầu ra của dự án
Thị trường tiêu thụ sản phẩm dịch vụ đầu ra của dự án đóng vai trò rất quan trọng, quyết định việc thành bại của dự án Vì vậy cán bộ thẩm định cần xem xét, đánh giá kỹ về phương diện này Nội dung chính cần xem xét:
Đánh giá tổng quan về nhu cầu sản phẩm dự án:
- Phân tích quan hệ cung cầu đối với sản phẩm dịch vụ đầu ra của dự án
+ Sự cần thiết phải đầu tư trong giai đoạn này
+ Sự hợp lý của quy mô đầu tư, cơ cấu sản phẩm
+ Sự hợp lý về việc triển khai thực hiện đầu tư( phân kỳ đầu tư, mức huy động công suất thiết kế)
1.3.1.4 Thẩm định khía cạnh kỹ thuật của dự án
a) Về địa điểm xây dựng:
Cán bộ thẩm định sự dụng hiểu biết và kinh nghiệm của mình đồng thời so sánh với những văn bản hướng dẫn đầu tư, giấy phép xây dựng… để thẩm định những nội dung sau:
Trang 29Địa điểm xây dựng có thuận lợi về mặt giao thông hay không, có gần các nguồn cung cấp nguyên nhiên vật liệu, điện, nước và thị trường tiêu thụ hay không,
có nằm trong quy hoạch không
Cơ sở vật chất hạ tầng hiện có của địa điểm đầu tư thế nào, đánh giá so sánh
về chi phí đầu tư so với dự án tương tự ở địa điểm khác
Địa điểm đầu tư có ảnh hưởng lớn đến vốn đầu tư của dự án cũng như ảnh hưởng đến giá thành, sức cạnh tranh nếu thị trường nguyên vật liệu, tiêu thụ
b) Thẩm định công nghệ và máy móc thiết bị dự án:
Khi thẩm định nội dung này, cán bộ thẩm định áp dụng phương pháp đối chiếu so sánh các thông tin về công nghệ, thiết bị máy móc của dự án với trình độ công nghệ chung của ngành, của các dự án khác và trình độ sử dụng công nghệ của lao động Việt Nam:
Quy trình công nghệ có tiên tiến và hiện đại không, ở mức độ nào của thế giới Trình độ có phù hợp với trình độ hiện tại của Việt Nam không, tại sao lại lựa chọn công nghệ này
Phương thức chuyển giao công nghệ hợp lý hay không, có đảm bảo cho chủ đầu tư nắm bắt vận hành được công nghệ hay không
Xem xét và đánh giá về số lượng, công suất, quy cách, chủng loại, danh mục thiết bị, tính đồng bộ của dây chuyền sản xuất Trình độ hiện đại của thiết bị, khi cần thiết phải thay đổi sản phẩm thì thiết bị này có đáp ứng được hay không.Giá cả của thiết bị và phương thức thanh toán có hợp lý và an toàn hay không? Việc giao hàng và lắp đặt thiết bị có phù hợp với tiến độ thực hiện dự án hay không Uy tín của các nhà cung cấp thiết bị và các nhà cung cấp thiết bị có chuyên về sản xuất thiết bị của dự án không
Như vậy, khi tiến hành thẩm định nội dung khía cạnh kỹ thuật của dự án, phương pháp thẩm định được sử dụng đó là: Cán bộ thẩm định sự dụng hiểu biết và kinh nghiệm của mình để thẩm định; cán bộ thẩm định áp dụng phương pháp đối chiếu so sánh các thông tin về công nghệ, thiết bị máy móc của dự án với trình độ
Trang 30công nghệ chung của ngành, của các dự án khác và trình độ sử dụng công nghệ của lao động Việt Nam
1.3.1.5 Thẩm định khả năng trả nợ của dự án
Khả năng trả nợ của dự án được đánh giá trên cơ sở nguồn thu và nợ (nợ gốc
và lãi) phải trả hàng năm của dự án.Việc xem xét này được thể hiện thông qua bảng cân đối thu chi và tỷ số khả năng trả nợ của dự án
Tỷ số khả năng trả nợ của dự án được so sánh với mức quy định chuẩn Mức này được xác định theo từng ngành nghề Dự án được đánh giá có khả năng trả nợ khi tỷ số khả năng trả nợ của dự án phải đạt được mức quy định chuẩn
Tỷ số khả năng trả nợ của dự án = Nguồn trả nợ hàng năm của dự án
Nợ phải trả hàng năm (gốc và lãi) Ngoài ra, khả năng trả nợ của dự án còn được đánh giá thông qua việc xem xét sản lượng và doanh thu tại điểm hoà vốn trả nợ
Khả năng trả nợ của dự án đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá độ an toàn về mặt tài chính của dự án đồng thời cũng là chỉ tiêu được Ngân hàng đặc biệt quan tâm và coi là một trong các tiêu chuẩn để chấp nhận cung cấp tín dụng cho dự
án hay không
1.3.1.6 Thẩm định khía cạnh rủi ro của dự án
Rủi ro về cơ chế chính sách:
Rủi ro này gồm tất cả những vấn đề bất ổn về chính sách của nơi xây dựng
dự án, bao gồm: các sắc thuế mới, hạn chế chuyển tiền, quốc hữu hóa, luật, nghị quyết, nghị định, các chế tài khác liên quan đến dòng tiền dự án
Rủi ro về thi công xây dựng:
Rủi ro thi công xây dựng công trình xảy ra khi hoàn tất dự án không đúng thời hạn hoặc không phù hợp với các thông số và tiêu chuẩn thực hiện
Rủi ro thị trường, thu nhập, thanh toán:
Rủi ro này bao gồm: Thị trường không chấp nhận hoặc không đủ cầu đối với sản phẩm, dịch vụ đầu ra của dự án, do sức ép cạnh tranh, giá bán sản phẩm không
đủ để bù lại các khoản chi của dự án
Trang 31 Rủi ro về cung cấp:
Dự án gặp rủi ro về cung cấp khi không có được nguồn nguyên nhiên vật liệu đầu vào với số lượng, giá cả và chất lượng như dự kiến để vận hành dự án, tạo dòng tiền ổn định và đảm bảo khả năng trả nợ của dự án
Rủi ro về kỹ thuật, vận hành, bảo trì:
Đây là rủi ro về việc dự án không thể vận hành và bảo trì ở mức độ phù hợp với các thông số thiết kế ban đầu
Rủi ro về môi trường và xã hội:
Rủi ro về môi trường và xã hội đối với dự án là những tác động tiêu cực của
dự án đối với môi trường và người dân sống xung quanh nơi dự án thực hiện
Rủi ro kinh tế vĩ mô:
Đây là những rủi ro phát sinh từ môi trường kinh tế vĩ mô, bao gồm tỷ giá hối đoái, lạm phát, lãi suất,…
Như vậy, khi tiến hành phân tích đánh giá rủi ro dự án, cán bộ thẩm định phải dựa vào kinh nghiệm và trình độ chuyên môn của mình, kết hợp với phương pháp dự báo khi phân tích thị trường tiềm năng
1.3.1.7 Thẩm định các biện pháp đảm bảo tiền vay của dự án
Từ thực tế trong hoạt động của ngân hàng hiện nay, vấn đề tài sản đảm bảo không chỉ là một chỉ tiêu thứ yếu mà đã trở thành một trong những vấn để quan trọng để bảo đảm tín dụng Cho vay theo dự án đầu tư là một hình thức cho vay trung và dài hạn tiềm ẩn nhiều rủi ro, vì vậy tài sản đảm bảo cho khoản vay là một yếu tố rất cần thiết.Ttài sản đảm bảo bao gồm nhiều loại khác nhau như: động sản, bất động sản, tiền, tài sản hình thành trong tương lai hay là hoa lợi, lợi tức, Cán bộ thẩm định phải tiến hành xem xét, kiểm tra tính pháp lý và các điều khoản liên quan đến các hình thức bảo đảm tiền vay, bao gồm tài sản hình thành từ nguồn vốn, các quyền và quyền phát sinh hợp pháp khác,…Vì vậy việc thẩm định đòi hỏi nhân viên thẩm định phải có kiến thức về các loại tài sản, đồng thời phải xem xét nhiều khía cạnh, lợi ích, giá trị, khả năng thanh khoản của tài sản đảm bảo nhằm mục đích phục vụ cho quyết định cấp tín dụng, đảm bảo cho nguồn vốn của ngân hàng được
Trang 32an toàn Mặc dù đã có những văn bản hướng dẫn về tài sản và việc thẩm định tài sản nhưng trên thực tế có rất nhiều trường hợp mà NHTM không thể xử lý tài sản đảm bảo Điều này còn phụ thuộc nhiều vào phẩm chất, đạo đức, trình độ của nhân viên thẩm định và của khách hàng Như vậy, để tránh được những rủi ro nhất định, NHTM cần phải áp dụng nhiều biện pháp đối với hình thức bảo đảm tín dụng này, trong đó đào tạo cán bộ thẩm định về chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp là một trong những nhân tố quan trọng
1.3.2 Thẩm định tài chính dự án đầu tư
Thẩm định tài chính nhằm đánh giá khả năng sinh lời để nhằm đáp ứng các nghĩa vụ tài chính của dự án, thông qua việc tổng hợp các biến số tài chính kĩ thuật
đã được tính toán trong phần thẩm định trước để đưa ra những số liệu đầu vào cho việc tính toán hiệu quả kinh tế xã hội
1.3.2.1 Thẩm định vốn đầu tư
Đây là nội dung quan trọng đầu tiên cần xem xét khi tiến hành phân tích tài chính dự án Việc thẩm định chính xác tổng mức vốn đầu tư có ý nghĩa rất quan trọng đối với tính khả thi của dự án Nếu mức vốn đầu tư dự tính quá thấp dự án sẽ không thực hiện được, ngược lại nếu dự tính quá cao sẽ không phản ánh chính xác hiệu quả tài chính của dự án
Tổng mức vốn đầu tư của dự án bao gồm toàn bộ số vốn cần thiết để thiết lập
và đưa dự án vào hoạt động Tổng mức vốn này được chia ra thành hai loại: Vốn đầu tư vào tài sản cố định và vốn lưu động ban đầu
Vốn đầu tư vào tài sản cố định bao gồm: đầu tư vào trang thiết bị, dây truyền sản xuất… tuy nhiên, cũng cần phải chú ý đến chi phí "chìm" - tức là chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra không liên quan đến việc dự án có khả thi hay không Điển hình
là các chi phí khảo sát địa điểm xây dựng dự án, chi phí tư vấn thiết kế dự án…
Vốn lưu động ban đầu bao gồm: vốn đầu tư vào tài sản lưu động ban đầu nhằm đảm bảo cho dự án có thể đi vào hoạt động bình thường theo các điều kiện kinh tế, kỹ thuật đã dự tính Nó bao gồm: nguyên vật liệu, điện nước, nhiên liệu, phụ tùng, tiền lương, hàng dự trữ,… và vốn dự phòng
Trang 33Trên cơ sở tổng vốn đầu tư cho dự án, ngân hàng tiến hành xem xét các nguồn tài trợ cho dự án, trong đó phải tìm hiểu về khả năng đảm bảo vốn từ mỗi nguồn về quy mô và tiến độ Các nguồn tài trợ cho dự án có thể do chính phủ tài trợ, ngân hàng cho vay, vốn tự có của chủ đầu tư, vốn huy động từ các nguồn khác
Để đảm bảo tiến độ thực hiện đầu tư của dự án, vừa để tránh ứ đọng vốn, nên các nguồn tài trợ được xem xét không chỉ về mặt số lượng mà phải theo dõi cả về thời điểm nhận được tài trợ
Tiếp đó phải so sánh nhu cầu về vốn với khả năng đảm bảo vốn cho dự án từ các nguồn về số lượng và tiến độ Khả năng lớn hơn hoặc bằng nhu cầu thì dự án được chấp nhận Sau khi xem xét các nguồn tài trợ cho dự án cần xem xét cơ cấu nguồn vốn của dự án Có nghĩa là xem xét tỷ lệ từng nguồn chiếm trong tổng mức vốn đầu tư dự kiến
Vậy qua nghiên cứu bước này ngân hàng có thể có được quyết định phù hợp nếu cho vay thì phải giải ngân như thế nào để đảm bảo dự án được tiến hành một cách thuận lợi
1.3.2.2 Thẩm định dòng tiền của dự án đầu tư
Sau khi thẩm định tổng nhu cầu vốn, cơ cấu nguồn vốn và tiến độ huy động vốn, bước tiếp theo là thẩm định các chỉ tiêu kinh tế tài chính của dự án, tức là ngân hàng xem xét tới các yếu tố thu, chi, từ đó xem xét được dòng tiền của dự án Việc thẩm định các chỉ tiêu này được thực hiện thông qua việc thẩm định các báo cáo tài chính dự tính cho từng năm hoặc từng giai đoạn của đời dự án
Tuy nhiên để đi vào thẩm định dòng tiền của dự án thì phải hiểu được khái niệm giá trị thời gian của tiền Tiền có giá trị về mặt thời gian do ảnh hưởng của các yếu tố: lạm phát, rủi ro, thuộc tính vận động và khả năng sinh lời của tiền
Thông thường ngân hàng thẩm định dòng tiền của dự án thì thẩm định các yếu tố sau:
* Thẩm định dòng tiền vào của dự án
Dòng tiền vào của dự án là dòng tiền sau thuế mà doanh nghiệp có thể thu hồi để tái đầu tư vào một dự án khác Dòng tiền vào thực ra chính là các khoản phải
Trang 34thu của dự án và vì vậy nó mang dấu dương Các khoản phải thu của dự án thường được tính theo năm và được dựa vào kế hoạch sản xuất, tiêu thụ hàng năm của dự
án để xác định Trong bước này, cán bộ thẩm định xác định công suất huy động dự tính của chủ dự án có chính xác hay không; khả năng tiêu thụ sản phẩm; giá cả của sản phẩm bán ra;… dựa vào định hướng phát triển của nghành nghề và dự báo ảnh hưởng của các yếu tố môi trường
* Thẩm định dòng tiền ra của dự án
Dòng tiền ra của dự án được thể hiện thông qua chi phí của dự án nên mang dấu âm Dòng tiền ra liên quan đến các chi phí đầu tư cho tài sản cố định , cho xây dựng và cho mua sắm Và các chỉ tiêu phản ánh chi phí cũng được tính theo từng năm trong suốt vòng đời của dự án Việc dự tính các chi phí sản xuất, dịch vụ được dựa trên kế hoạch sản xuất hàng năm, kế hoạch khấu hao, kế hoạch trả nợ của dự
án Cán bộ thẩm định xem xét tính đầy đủ của các loại chi phí, kế hoạch trích khấu hao có phù hợp hay không…
Khấu hao là một yếu tố của chi phí sản xuất Bởi vậy mức khấu hao có ảnh hưởng đến lợi nhuận, đến mức thuế thu nhập phải nộp hàng năm của doanh nghiệp Nếu khấu hao tăng, lợi nhuận giảm và do đó thuế thu nhập doanh nghiệp giảm và ngược lại Vì vậy, việc xác định chính xác mức khấu hao có ý nghĩa rất quan trọng trong phân tích tài chính dự án Mức khấu hao được xác định hàng năm lại phụ thụ thuộc vào phương pháp tính khấu hao
* Thẩm định dòng tiền của dự án
Trên cơ sở số liệu dự tính về dòng tiền vào và dòng tiền ra từng năm có thể
dự tính mức lãi lỗ hàng năm của dự án Đây là một chỉ tiêu rất quan trọng, nó phản ánh kết quả của hoạt động sản xuất, dịch vụ trong từng năm của vòng đời dự án Đối với NHTM nó là cơ sở về mặt tài chính để đánh giá dự án một cách chính xác
Trong thẩm định tài chính dự án, việc thẩm định dòng tiền của dự án có thể nói là việc khó nhất Thẩm định tài chính dự án quan tâm tới lượng tiền đi vào (dòng vào) và đi ra (dòng ra) của dự án Đảm bảo cân đối thu chi (cân đối dòng tiền vào và dòng tiền ra) là mục tiêu quan trọng của phân tích tài chính dự án
Trang 35Vậy dòng tiền của dự án là chênh lệch giữa số tiền nhận được và số tiền chi
ra Dòng tiền mặt không giống như lợi nhuận hay thu nhập Thu nhập vẫn có thể thay đổi trong khi không có sự thay đổi tương ứng trong dòng tiền mặt
Và dòng tiền của dự án được tính như sau
1.3.2.3 Thẩm định chi phí và lợi nhuận
Thu chi của dự án được xác định từ những thông tin trong các báo cáo thu nhập và chi phí của dự án, song vấn đề là cần phân biệt giữa khoản thu và doanh thu, giữa chi phí và khoản chi trước khi xây dựng bảng cân đối thu chi của dự án
- Thẩm định chi phí của dự án: cần phân biềt được giữa các chi phí và khoản chi Đối với chi phí, doanh nghiệp đã chấp nhận mua hàng hoá, dịch vụ nhưng có thể luồng tiền đi ra chưa xuất hiện; còn các khoản chi thì doanh nghiệp đã thực sự
bỏ tiền, tức là đã có luồng ra xuất hiện Chi phí mà chủ dự án phải bỏ ra đầu tiên phải kể đến là chi phí cho máy móc, nhà xưởng, trang thiết bị, ngoài ra cũng phải tính đến các chi phí đi kèm như chi phí lắp đặt, vận chuyển, bảo hiểm, chi phí cho việc đào tạo công nhân vận hành, chi phí chạy thử,…
Trong việc tính toán chi phí cũng cần phải tính đến yếu tố chi phí cơ hội, chi phí cơ hội được định nghĩa là cơ hội thu nhập bị bỏ qua do chấp nhận dự án này mà không chấp nhận dự án khác Khi tính toán các khoản chi cho máy móc và thiết bị, một dữ kiện dễ bị bỏ qua là vốn luân chuyển cần cho vận hành công trình đầu tư, cũng phải được đưa vào để tính toán chi phí đầu tư Nếu số vốn luân chuyển được thu hồi khi dự án ngưng hoạt động thì dự án có giá trị ròng tại thời điểm cuối và dữ kiện này cần phải được tính tới Các chi phí chìm sẽ không được tính đến trong phân tích, nó không nên coi là chi phí để đưa vào dòng tiền, bởi nó là chi phí mà chủ dự án bỏ ra cho dù dự án đó có được chấp nhận hay không Ngoài ra, chi phí khấu hao là một chi phí khá quan trọng, trong báo cáo thu nhập của kế toán, khấu
Trang 36hao được khấu trừ vào chi phí để xác định lợi nhuận trong kì, nhưng nó là chi phí không xuất quỹ, khấu hao được coi như là một nguồn thu nhập của dự án
Trong khi thẩm định chi phí cũng cần phải chú ý đến lãi vay, lãi vay vừa là khoản chi phí vừa là khoản chi tiêu bằng tiền thật sự nhưng lãi vay thì cũng không được đưa vào dòng tiền vì lãi vay tượng trưng cho giá trị thời gian của tiền và khoản này được tính bằng cách chiết khấu dòng tiền tương lai
- Thẩm định dòng thu nhập: Cần phân biệt được doanh thu và các khoản thu Doanh thu là giá trị của hàng hoá, dịch vụ đã được bán ra và người mua tuyên bố chấp nhận mua hàng hoá, dịch vụ Tuy nhiên, đối với các khoản được ghi nhận là doanh thu thì không xác định được người mua đã trả tiền hay chưa, còn đối với các khoản thu thì chắc chắn là doanh nghiệp đã thu được tiền Tức là doanh thu thì có thể chưa xuất hiện dòng tiền đi vào doanh nghiệp nhưng đối với khoản thu thì chắc chắn dòng vào đã xuất hiện
Trong các khoản thu của dự án cũng cấn phải tính tới giá trị còn lại của thiết
bị, máy móc khi dự án kết thúc Giá trị còn lại của một tài sản là giá trị tài sản có thể bán được tại thời điểm dự án kết thúc Đối với các khoản thu còn cần phải chú ý các khoản thu từ dự án phải loại bỏ thuế thu nhập để tính toán dòng tiền được chính xác Chính vì vậy, lợi nhuận được sử dụng để tính toán trong thẩm định dự án đầu
tư là lợi nhuận sau thuế
1.3.2.4 Thẩm định lãi suất chiết khấu
Lãi suất chiết khấu là một khái niệm rất quan trọng mà chúng ta thường gặp khi thẩm định tài chính một dự án
Lãi suất chiết khấu được hiểu là tỷ lệ mà nhờ đó các dòng tiền của dự án được quy về hiện tại để xác định giá trị hiện tại ròng của dự án Cơ sở để lựa chọn lãi suất chiết khấu là phân tích rủi ro và khả năng sinh lời của dự án Hơn nữa, cơ cấu vốn cũng là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến việc lựa chọn lãi suất chiết khấu
Lãi suất chiết khấu chính là tỷ lệ sinh lời cần thiết mà nhà đầu tư yêu cầu đối với một dự án, là cơ sở để chiết khấu các dòng tiền trong việc xác định giá trị hiện tại ròng của dự án Về bản chất lãi suất chiết khấu của một dự án chính là chi phí
Trang 37vốn của dự án đó Nếu thực hiện dự án, nhà đầu tư sẽ bỏ qua lợi tức kỳ vọng của các dự án khác hay các tài sản tài chính khác có cùng mức rủi ro Chính vì bỏ qua các hình thức đầu tư khác để tập trung theo đuổi một dự án, nhà đầu tư sẽ đòi hỏi một mức lãi suất chiết khấu - tỷ lệ sinh lời cần thiết đối với dự án đó (tỷ lệ sinh lời cần thiết là tcỷ lệ sinh lời mà nhà đầu tư có thể nhận được nếu đem đầu tư vốn vào một dự án khác có cùng mức rủi ro)
Chính vì vậy nên thẩm định lãi suất chiết khấu có tầm quan trọng rất lớn đối với NHTM – vì thông qua đó NHTM sẽ xác định được giá trị hiện tại ròng của dự
án cũng như chi phí sử dụng vốn của dự án và chi phí cơ hội của vốn để NHTM có căn cứ quyết định cho vay
Chất lượng thẩm định tài chính dự án được đánh giá thông qua việc tính toán
và xác định nhiều loại chỉ tiêu khác nhau Vì vậy, chất lượng thẩm định tài chính dự
án muốn có được sự phản ánh trung thực, chính xác thì phải nghiên cứu rõ nội dung, ý nghĩa, nguyên tắc sử dụng, ưu điểm, nhược điểm… của các chỉ tiêu
Chất lượng là một khái niệm trừu tượng, không dễ dàng để có thể định lượng một các chính xác Do đó, chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư cũng là một khái niệm trừu tượng, không thể định lượng, tuỳ từng đối tượng, và tuỳ từng giác độ khác nhau mà chất lượng thẩm định được đánh giá khác nhau
Thẩm định dự án được coi là có chất lượng khi qua quá trình xem xét đánh giá, cũng như phân tích các dữ liệu dựa trên hồ sơ của chủ dự án trình lên, Ngân hàng Thương mại có thể phát hiện ra được những điểm chưa phù hợp mà chủ đầu tư không phát hiện ra hay cố tình không phát hiện ra Từ đó, có thể thuyết phục chủ đầu tư có kế hoạch thay đổi dự án của mình cho phù hợp Cùng với việc đưa ra quyết định hợp lý, chính xác, ngân hàng sẽ chỉ tài trợ cho những dự án khả thi và có khả năng đảm bảo an toàn vốn tài trợ của ngân hàng
Chất lượng thẩm định dự án đầu tư là một trong những yếu tố có tính quyết định đối với chất lượng tín dụng
1.4 Chỉ tiêu đánh giá chất lượng thẩm định dự án đầu tư
1 4.1 Chỉ tiêu định tính
Trang 38- Thứ nhất về sự tuân thủ quy trình thẩm định: Việc xây dựng ra quy định về quy trình này để đảm bảo cho việc thực hiện công tác thẩm định dự án đạt chất lượng cao nhất nên nếu việc tuân thủ theo đúng quy định của nhà nước hay hội sở chính của mỗi ngân hàng thương mại thì cũng là đang đảm bảo cho chất lượng thẩm định
- Thứ hai về phương pháp thẩm định thì mỗi ngành nghề, khu vực, lĩnh vực đòi hỏi cần có một phương pháp riêng phù hợp với đặc trưng riền của từng ngành nghề, lĩnh vực, khu vực đó
- Thứ ba về nội dung đánh giá cần phải đảm bảo tính đầy đủ, cập nhật, đảm bảo xây dựng được hệ thống chỉ tiêu một cách khoa học, đầy đủ phản ánh rõ nét các đặc điểm cần phản ánh cho việc đánh giá hiệu quả của dự án đầu tư
- Thứ tư về mô hình tổ chức công tác quản lý cho việc thẩm định có thực sự tinh giản, gọn nhẹ tránh tình trạng chồng chéo công việc cũng như trách nhiệm
- Thứ năm về yếu tố thông tin: trước tiên phải đảm bảo thông tin có tính đầy
đủ, đa dạng, cập nhật, uy tín và chính xác Khi thực hiện thu thập thông tin cần đảm bảo rằng thông tin được thu thập có độ tin cậy cao và luôn cập nhật thông tin trong từng giai đoạn hay không, tránh tình trạng thông tin kém tính thời sự không đảm bảo cho việc đánh giá dự án Phải có biện pháp tổ chức lưu trữ khoa học, xử lý thông tin chính xác, toàn diện, cụ thể và khoa học sao cho có hiệu quả nhất
- Thứ sáu về nhận biết và dự đoán được rủi ro có thể xảy ra như những biến động của môi trường kinh tế nói chung, giá cả yếu tố đầu vào cùng với các yếu tố
có liên quan, giá nhân công…thị trường đầu ra để có biện pháp khắc phục kịp thời
1 4.2 Chỉ tiêu định lượng
- Tỷ lệ nợ xấu từ cho vay dự án đầu tư
Nợ xấu là những khoản nợ được phân loại từ nhóm 3 (dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (nghi ngờ) và nhóm 5 (khả năng mất vốn cao)
Cụ thể nhóm 3 trở lên, gồm các khoản nợ quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày, đồng thời quy định các NHTM căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng để hạch toán các khoản vay vào các nhóm thích hợp
Trang 39Như vậy nợ xấu hay nợ khó đòi là các khoản nợ dưới chuẩn, có thể quá hạn
và bị nghi ngờ về khả năng trả nợ lẫn khả năng thu hồi vốn của chủ nợ, điều này thường xảy ra khi các con nợ đã tuyên bố phá sản hoặc đã tẩu tán tài sản Nợ xấu gồm gồm các khoản nợ quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên thường quá ba tháng căn
cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng để hạch toán các khoản vay vào các nhóm thích hợp
Đối với một NHTM, giảm thiểu tỉ lệ nợ xấu trong cấp tín dụng là yêu cầu quan trọng hàng đầu Trong cho vay theo dự án đầu tư cũng vậy, các NHTM thường tính toán một chỉ tiêu được gọi là tỉ lệ nợ xấu trong cho vay theo dự án đầu tư Công thức tính như sau:
𝑇ổ𝑛𝑔 𝑛ợ 𝑥ấ𝑢 𝑐ℎ𝑜 𝑣𝑎𝑦 𝑡ℎ𝑒𝑚 𝑑ự á𝑛 đầ𝑢 𝑡ư𝑇ổ𝑛𝑔 𝑣ố𝑛 𝑣𝑎𝑦 𝑡ℎ𝑒𝑜 𝑑ự á𝑛 đầ𝑢 𝑡ư
- Tỷ lệ dự án triển khai thành công trên thực tê:
Tỷ lệ dự án triển khai thành công = SỐ dự án tri ển khai thành công
Tổng số dự án được phê duy ệt cho vay
Chỉ tiêu này cho phép ngân hàng có thể thấy được hiệu quả của mình tỏng công tác thẩm định tốt nhất, nó chỉ ra rằng trong số những dự án được phê duyệt thì
có bao nhiêu dự án triển khai thành công Tỷ số này càng coa chứng tỏ chất lượng thẩm định càng cao
Tỷ lệ số dự án phải điều chỉnh lại các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính, độ nhạy, tổng nguồn vốn, điều chỉnh kế hoạch trả nợ… so với những dự án ban đầu khi được phê duyệt Nếu các tỉ lệ này cao chứng tỏ chất lượng thẩm định là kém do chưa nhận ra được các chỉ tiêu không hợp lí để dự đoán chính xác cho dự án và thay đổi các chỉ tiêu này trước khi dự án được thực hiện
- Chỉ tiêu về dư nợ và cơ cấu dư nợ trung dài hạn:
Tỷ lệ dư nợ trung và dài hạn = Dư nợ trung dài hạn
Tổng dư nợ tín dụngChỉ tiêu này phản ánh quy mô của các khoản tín dụng trung dài hạn trong tổng dư nợ tín dụng của ngân hàng, chỉ tiêu này càng thấp chứng tỏ trong hoạt động
Trang 40cho vay trung và dài hạn còn kém phát triển hay số lượng dự án tốt mà ngân hàng tìm kiếm để có thể đầu tư là ít chứng tỏ chất lượng ở lĩnh vực này là chưa cao
1.5 Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng thẩm định dự án đầu tư
Chất lượng thẩm định bị chi phối bởi nhiều yếu tố, cơ bản có thể phân ra thành các nhân tố như quy trình thẩm định, nhân tố pháp lý, nhân tố con người – cán bộ tín dụng Nhân tố quy trình thẩm định và cán bộ tín dụng là những nhân tố thuộc về nội bộ mà Ngân hàng có thể chủ động kiểm soát, điều chỉnh được
…)hiệu quả tài chính khả năng tài trợ và rủi ro dự án Nội dung càng đầy đủ, chi tiết bao nhiêu càng đưa lại độ chính xác cao của các kết luận đánh giá
Phương pháp thẩm định tài chính dự án đầu tư bao gồm các hệ chỉ tiêu đánh giá, cách thức xử lí chế biến thông tin có trong hồ sơ dự án và những thông tin có liên quan để đem lại những thông tin cần thiết về tính khả thi tài chínhcủa dự án cũng như khả năng trả nợ Ngân hàng Phương pháp hiện đại, khoa học giúp các bộ thẩm định, phân tích tính toán hiệu quả tài chính dự án nhanh chóng, chính xác dự báo được rủi ro, làm cơ sở cho lãnh đạo ra quyết định tài trợ đúng đắn
Thực tế những năm vừa qua, các NHTM Việt Nam đã chuyển dần từ phương pháp thẩm định tài chính dự án đầu tư cũ sang phương pháp mới hiện đại hơn mà đã được áp dụng rất lâu từ các nước phát triển
Các nội dung thẩn định tài chính được sắp xếp theo một trình tự hợp lí, lôgic
sẽ thể hiện được mối liên hệ, hỗ trợ lẫn nhau giữa việc phân tích các klhía cạnh tài chính của dự án, báo cáo thẩm định sẽ chặt chẽ và có sức thuyết phục hơn