Do đó, để thực hiện thắng lợi mục tiêu chiến lược của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa chúng ta cần nhận thức một cách sâu sắc, đầy đủ những giá trị to lớn và có ý nghĩa quyết địn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
XÁC NHẬN CỦA
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
XÁC NHẬN CỦA CHỦ TỊCH HĐ CHẤM LUẬN VĂN
Hà Nội – 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu khoa học, độc lập của tôi dưới sự hướng dẫn của TS Lê Kim Sa Các nội dung nghiên cứu và kết quả thể hiện trong luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hạnh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình cao học và luận văn Thạc sĩ Quản lý kinh
tế với đề tài “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực công nghệ thông tin của Kho bạc Nhà nước Việt Nam” là kết quả của quá trình cố gắng không
ngừng của bản thân và được sự giúp đỡ, động viên khích lệ của các thầy, bạn
bè đồng nghiệp và người thân Qua trang viết này tác giả xin gửi lời cảm ơn tới những người đã giúp đỡ tôi trong thời gian học tập - nghiên cứu khoa học vừa qua
Tôi xin tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đối với TS Lê Kim Sa đã trực tiếp tận tình hướng dẫn và chỉ bảo tận tình cho tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn này
Các thầy cô giáo Khoa Kinh tế Chính trị - Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, các thầy cô giáo đã giảng dạy cho tác giả trong thời gian tham gia khóa học tại Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội
Lãnh đạo, đồng nghiệp tại Kho bạc Nhà nước đã giúp đỡ và cung cấp tài liệu cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Mặc dù tôi đã rất cố gắng hoàn thiện luận văn bằng tất cả sự nhiệt tình
và năng lực của mình, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót hoặc có những phần nghiên cứu chưa sâu Rất mong nhận được sự đóng góp, nhận xét
và phê bình của quý Thầy Cô và tất cả bạn đọc
Xin trân trọng cảm ơn!
TÁC GIẢ
Nguyễn Thị Hạnh
Trang 5MỤC LỤC
Danh mục các từ viết tắt i
Danh mục các hình vẽ ii
Danh mục các bảng iii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC CNTT 5
1.1.Tổng quan về tình hình nghiên cứu 5
1.2 Cơ sở lý luận nâng cao chất lượng nguồn nhân lực CNTT của các cơ quan quản lý Nhà nước 8
1.2.1 Nguồn nhân lực công nghệ thông tin 8
1.2.2 Chất lượng nguồn nhân lực CNTT và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực CNTT 13
1.2.3 Nội dung nâng cao chất lượng nguồn nhân lực CNTT 17
1.2.4 Tiêu chí đánh giá nâng cao chất lượng nguồn nhân lực CNTT 21
1.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến nâng cao chất lượng nguồn nhân lực CNTT 23
1.3 Những kinh nghiệm về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực CNTT của các đơn vị hành chính Nhà nước 25
1.3.1 Nguồn nhân lực CNTT của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 26
1.3.2 Nguồn nhân lực CNTT của Kiểm toán Nhà nước 27
CHƯƠNG 2:PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN 30
2.1 Phương pháp luận 30
2.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể 31
2.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết 31
2.2.2 Phương pháp thống kê 31
Trang 62.2.3 Phương pháp so sánh 32
2.2.4 Phương pháp phân tích tổng hợp 32
2.3 Tiến trình thực hiện nghiên cứu 34
CHƯƠNG 3:THỰC TRẠNG NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN CỦA KBNN VIỆT NAM 36
3.1 Khái quát về KBNN và ứng dụng CNTT của KBNN Việt Nam 36
3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển KBNN 36
3.1.2 Tổ chức bộ máy 39
3.1.3 Chức năng, nhiệm vụ của KBNN 42
3.1.4 Khái quát thực trạng ứng dụng CNTT của KBNN Việt Nam và yêu cầu đặt ra đối với nguồn nhân lực CNTT tại KBNN Việt Nam 43
3.2 Thực trạng chất lượng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực CNTT của KBNN Việt Nam 50
3.2.1.Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực CNTT của KBNN Việt Nam 50
3.2.2 Thực trạng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực CNTT của KBNN Việt Nam 58
3.3 Thực trạng hoạt động quản lý nâng cao chất lượng nguồn nhân lực CNTT của KBNN Việt Nam 73
3.4 Đánh giá thực trạng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực CNTT của KBNN Việt Nam 82
3.4.1 Những kết quả đạt được 82
3.4.2 Một số hạn chế 85
3.4.3 Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế 89
CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC CNTT CỦA KHO BẠC NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 92 4.1 Mục tiêu, định hướng phát triển nguồn nhân lực CNTT của Kho bạc
Trang 7Nhà nước Việt Nam 92
4.1.1 Những căn cứ đề xuất phương hướng 92
4.1.2 Mục tiêu phát triển KBNN điện tử đến năm 2020 97
4.2 Các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực công nghệ thông tin của Kho bạc Nhà nước Việt Nam 100
4.2.1 Thực hiện phân tích, thống kê, báo cáo về nhu cầu nguồn nhân lực CNTT của Kho bạc Nhà nước Việt Nam 100
4.2.2 Hoàn thiện công tác đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực CNTT của KBNN Việt Nam 101
4.2.3 Đổi mới công tác đánh giá thực hiện công việc 103
4.2.4 Vận dụng và thực hiện các chế độ chính sách thu hút nguồn nhân lực công nghệ thông tin của Kho bạc nhà nước 105
4.2.5 Tạo dựng môi trường làm việc thuận lợi 108
KẾT LUẬN 110
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 112
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
1 Hình 3.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức KBNN
41
2 Hình 3.2 Lộ trình phát triển các ứng dụng tại KBNN 45
3 Hình 3.3 Cơ cấu nhân lực CNTT toàn hệ thống KBNN 51
4 Hình 3.4 Trình độ tiếng Anh cán bộ cục CNTT - KBNN 56
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
2 Bảng 3.2 Cơ cấu nhân lực CNTT theo giới tính 53
3 Bảng 3.3 Trình độ cán bộ CNTT của KBNN Việt Nam năm
2015
54
4 Bảng 3.4 Phân loại sức khỏe cán bộ làm CNTT năm 2015 57
5 Bảng 3.5 Tình hình chăm sóc sức khỏe nguồn nhân lực
6 Bảng 3.6 Kết quả khám sức khỏe nguồn nhân lực CNTT
7 Bảng 3.7 Thống kê trình độ chuyên môn của nguồn nhân
8 Bảng 3.8 Số lƣợt đào tạo cho cán bộ CNTT của KBNN 65
9 Bảng 3.9 Kết quả đánh giá nguồn nhân lực CNTT năm
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nguồn nhân lực luôn là một yếu tố quyết định đối với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Do đó, để thực hiện thắng lợi mục tiêu chiến lược của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa chúng ta cần nhận thức một cách sâu sắc, đầy đủ những giá trị to lớn và có ý nghĩa quyết định của nhân tố con người, chủ thể của mọi sáng tạo, “nguồn tài nguyên” vô giá,
vô tận của đất nước; phải có cách nghĩ, cách nhìn mới về vai trò động lực và mục tiêu của con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, từ đó xây dựng các chương trình, kế hoạch, chiến lược để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phù hợp, phát huy tối đa nhân tố con người, tạo ra động lực mạnh mẽ cho sự phát triển bền vững, đẩy nhanh tiến độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thúc đẩy quá trình đổi mới toàn diện đất nước
Chất lượng nguồn nhân lực là một trong những nguồn lực cơ bản, có ý nghĩa quyết định tới chất lượng và hiệu quả hoạt động của đơn vị và các tổ chức Kho bạc nhà nước (KBNN) là một trong những cơ quan quản lý nhà nước có những nét đặc thù riêng và đang trên đà phát triển theo hướng hiện đại hóa, phù hợp với thông lệ quốc tế Trong các yếu tố vật chất cấu thành nên hoạt động của hệ thống KBNN như: Trụ sở làm việc, trang thiết bị, nhân lực
và môi trường thì nguồn nhân lực là yếu tố quyết định nhất Đặc biệt, đối với nguồn nhân lực Công nghệ thông tin (CNTT) của Kho bạc Nhà nước thì nguồn nhân lực có chất lượng cao lại càng có vai trò quan trọng, nhất là khi toàn hệ thống KBNN đang hướng tới mục tiêu xây dựng chiến lược phát triển thành Kho bạc điện tử Vì vậy, để nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống KBNN thì trước tiên cần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực công nghệ thông tin nói riêng ngày càng phát triển và trưởng thành, thường xuyên được bồi dưỡng, đào tạo nâng cao trình độ, phẩm chất
Trang 12đạo đức, rèn luyện tác phong hướng tới sự chuyên nghiệp và ngày càng đáp ứng tốt hơn yêu cầu phát triển và hội nhập
Trong thời gian qua, nguồn nhân lực CNTT của KBNN còn tồn tại một
số vấn đề như: số lượng cán bộ còn thiếu, chất lượng nguồn nhân lực còn hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của hệ thống KBNN Hơn nữa, xu thế, chiến lược phát triển của ngành KBNN đang đặt ra nhiều vấn đề mới về chất lượng nguồn nhân lực và KBNN đang hướng tới hiện đại hóa các quy trình nghiệp vụ theo hướng tập trung nên việc yêu cầu nguồn nhân lực công nghệ cao là vô cùng quan trọng Do vậy, việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực CNTT là một yêu cầu cấp thiết đối với hệ thống Kho bạc nhà nước nói chung, nhắm tới mục tiêu phát triển của ngành Xuất phát từ vấn đề nói
trên, tôi xin chọn đề tài “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực công nghệ thông tin của Kho bạc Nhà nước Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu của
mình
2 Câu hỏi nghiên cứu luận văn
Từ vai trò CNTT đối với hoạt động nghiệp vụ của KBNN và yêu cầu đặt ra đối với việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực CNTT để đáp ứng mục tiêu phát triển của ngành Kho bạc Quá trình nghiên cứu luận văn tập trung vào việc trả lời câu hỏi:
Kho bạc Nhà nước Việt Nam cần phải thực hiện những giải pháp nào
để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực công nghệ thông tin trong thời gian tới?
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu luận văn
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là trên cơ sở vận dụng cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực CNTT nói riêng, qua phân tích, đánh giá thực trạng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực CNTT của KBNN, luận văn đề xuất phương
Trang 13hướng và các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng nhân lực CNTT đáp ứng yêu cầu phát triển của KBNN trong thời gian tới
Để đạt được mục tiêu đó, luận văn xác định một số nhiệm vụ cụ thể sau đây trong quá trình nghiên cứu:
- Hệ thống hóa và làm sáng tỏ thêm những nội dung chủ yếu về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực CNTT nói riêng dưới góc độ nhà quản lý kinh tế
- Phân tích và đánh giá thực trạng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực CNTT của KBNN Việt Nam, từ đó rút ra nguyên nhân và đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực CNTT của KBNN phù hợp với mục tiêu phát triển ngành
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1) Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là chất lượng nguồn nhân lực công nghệ thông tin và các vấn đề liên quan đến nâng cao chất lượng nguồn nhân lực CNTT trong hệ thống KBNN Việt Nam
2) Phạm vi nghiên cứu:
- Về thời gian nghiên cứu: Phân tích, đánh giá thực trạng về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực CNTT của KBNN cho giai đoạn 2010 – 2015 và các giải pháp được đề xuất đến năm 2020
- Về không gian nghiên cứu: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực CNTT của KBNN Việt Nam (gồm Cục CNTT ở Kho Bạc Nhà nước trung ương và các phòng tin học cấp tỉnh, thành phố)
- Về phạm vi nghiên cứu: Đề tài tiếp cận nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực CNTT của Kho bạc Nhà nước dưới góc độ nhà quản lý Vấn đề nghiên cứu gắn với các công cụ, cơ chế, chính sách quản lý
Trang 145 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo luận văn được bố
cục gồm 4 chương, cụ thể như sau :
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận, thực tiễn về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực CNTT
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu luận văn
Chương 3: Thực trạng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực công nghệ thông tin của KBNN Việt Nam
Chương 4: Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực CNTT của KBNN Việt Nam
Trang 15CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC CNTT
1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu
Nhân lực là nhân tố quyết định nhất đối với sự phát triển, là một thước
đo chủ yếu sự phát triển của các quốc gia Vì vậy, các quốc gia trên thế giới đều rất coi trọng phát triển nguồn nhân lực Trong thế kỷ XX, đã có những quốc gia nghèo tài nguyên thiên nhiên, nhưng do phát huy tốt nguồn nhân lực nên đã đạt được thành tựu phát triển kinh tế – xã hội, hoàn thành công nghiệp hóa và hiện đại hóa chỉ trong vài ba thập kỷ Chính vì vậy trong những năm qua đã có rất nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến nguồn nhân lực và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu tiêu biểu sau:
Luận án Tiến sĩ kinh tế “Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” của Phan Thanh Tâm (2000), trường Đại học Kinh tế quốc dân Tác giả đi sâu phân tích thực trạng chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam và từ đó đưa ra đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ nhu cầu sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Luận văn thạc sĩ kinh tế “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại Kho bạc Nhà nước Thái Nguyên” của Nguyễn Ngọc Quang (2014) trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh Tác giả đi sâu nghiên cứu về thực trạng nguồn nhân lực tại đơn vị và đưa ra những giải pháp nghiên cứu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
Luận văn thạc sĩ kinh tế “Nâng cao chất lượng nhân lực Kho ba ̣c nhà nước Hà Nội” của Nguyễn Chí Vương (2013), Đại học Kinh tế Quốc dân Tác giả đi sâu nghiên cứu về thực trạng và đánh giá chung về chất lượng nhân lực
Trang 16tại KBNN Hà Nội; từ đó đề ra phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nhân lực KBNN Hà Nội
Luận văn thạc sĩ Quản trị kinh doanh “Nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực tại Kho bạc Nhà nước Hải Dương” của Phạm Thị Thu Hường (2015), Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Tác giả đi sâu phân tích thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực tại KBNN Hải Dương; từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực KBNN Hải Dương
Luận án tiến sĩ “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao để hình thành nền kinh tế tri thức ở Việt Nam” của Lê Hồng Điệp (2011), Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội Tác giả hệ thống hoá và phát triển một số lý thuyết
về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao (CLC) gắn với quá trình hình thành nền kinh tế tri thức (KTTT) Đưa ra nội dung, các tiêu chí đánh giá và các yếu tố tác động tới phát triển nguồn nhân lực CLC để hình thành nền KTTT Đánh giá quá trình phát triển nguồn nhân lực CLC để hình thành nền KTTT ở Việt Nam từ năm 2001 đến nay theo những nội dung và tiêu chí đã xác định Đề xuất một số quan điểm và giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực CLC để hình thành nền KTTT ở Việt Nam
Đề tài nghiên cứu khoa học “Phát triển nguồn nhân lực Kho bạc Nhà nước Việt nam theo mục tiêu: nhanh - ổn định - toàn diện” của Ths Nguyễn Thị Ngọc Anh (năm 2014), Kho bạc Nhà nước Đề tài đã phân tích được thực trạng nguồn nhân lực KBNN, những hạn chế, yếu kém, thiếu hụt về năng lực của đội ngũ nhân lực và những tồn tại trong việc phát triển nguồn nhân lực trong những năm qua Từ đó đưa ra được hướng khắc phục và một số giải pháp mang tính định hướng và cấp bách về phát triển nguồn nhân lực KBNN nhằm góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ công chức KBNN đủ về số lượng, tốt về chất lượng, có cơ cấu cân đối, hợp lý để đáp ứng tốt hơn nhiệm vụ công
Trang 17tác trong tình hình mới với mục tiêu phát triển nguồn nhân lực KBNN Việt Nam nhanh, ồn định và toàn diện
Trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ hiện đại, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong mọi lĩnh vực hoạt động, các tổ chức ngày càng chú ý đến phát triển nguồn nhân lực của mình, nhất là nguồn nhân lực CNTT có trình độ cao Số lƣợng nhân lực CNTT ngày càng nhiều tuy nhiên chất lƣợng nguồn lực vẫn còn đang thiếu hụt trầm trọng Công nghệ luôn thay đổi và ngày càng phát triển nên đòi hỏi chất lƣợng nguồn nhân lực luôn luôn phải nâng cao để đáp ứng đƣợc yêu cầu của công nghệ mới Những năm qua có rất nhiều công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực CNTT tiêu biểu nhƣ:
Luận văn thạc sĩ kinh tế “Đào tạo nguồn nhân lực công nghệ thông tin cho khu vực hành chính công tỉnh Bình Định” của Trần Quang Triết (2011), Đại học Đà Nẵng Tác giả đi sâu nghiên cứu những thực trạng và làm sáng tỏ một số nội dung cơ bản liên quan đến đào tạo nguồn nhân lực CNTT khu vực hành chính công, nội dung quản lý nguồn lực CNTT trong khu vực hành chính công Từ đó đề xuất hệ thống các giải pháp đồng bộ nhằm đào tạo nguồn nhân lực CNTT khu vực hành chính công
Luận văn thạc sĩ kinh tế chính trị “Phát triển nguồn nhân lực CNTT ở Hải Phòng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của Trần Văn Thắng (2015), Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội
Luận văn thạc sĩ kinh tế chính trị “Đào tạo nguồn nhân lực công nghệ thông tin ở Việt Nam” của Đỗ Thị Ngọc Ánh (2008), Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội Đề tài làm rõ cơ sở lý thuyết về nguồn nhân lực CNTT
và đào tạo nguồn nhân lực CNTT Phân tích thực trạng nhu cầu nhân lực và thực trạng đào tạo nguồn nhân lực CNTT ở Việt Nam thời gian qua, tập trung trong giai đoạn 1997 - 2007 và những vấn đề đặt ra đối với việc đào tạo
Trang 18tạo nhân lực CNTT từ nay đến năm 2020 và đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ nhân lực CNTT ở nước ta, đáp ứng tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Luận văn thạc sĩ kinh tế “Phát triển nguồn nhân lực CNTT khu vực hành chính công tỉnh Quảng Nam” của Phạm Thị Ngọc Quyên (2011), Đại học Đà Nẵng Tác giả phân tích, đánh giá thực trạng phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin trong các đơn vị hành chính công trên địa bàn tỉnh Quảng Nam Đề xuất các giải pháp đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin nhằm thực hiện mục tiêu ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý nhà nước, cải cách hành chính và thực hiện chính phủ điện
tử ở khu vực hành chính công
Cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào về chất lượng nguồn nhân lực CNTT của KBNN một cách toàn diện dưới góc độ của một người quản lý mà chỉ có các công trình, đề án nghiên cứu chung về nguồn nhân lực chung của toàn hệ thống Vì vậy đề tài Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực CNTT của KBNN Việt Nam giúp nhận thức rõ hơn được tầm quan trọng của chất lượng nguồn nhân lực CNTT đối với chiến lược phát triển KBNN trong tương lai
1.2 Cơ sở lý luận nâng cao chất lượng nguồn nhân lực CNTT của các cơ quan quản lý Nhà nước
1.2.1 Nguồn nhân lực công nghệ thông tin
1.2.1.1 Khái niệm nguồn nhân lực
“Nhân lực được hiểu là thể lực và trí lực của mỗi người được sử dụng
trong quá trình thực hiện công việc” Nhân lực có ảnh hưởng rất lớn đến trình
độ quản lý và trình độ sử dụng các yếu tố kinh doanh, nhân lực là yếu tố năng động, tích cực của mọi quá trình sản xuất kinh doanh
Nhân lực trở thành nguồn lực quan trọng nhất của mọi tổ chức, bên
Trang 19cạnh các nguồn lực khác: tài chính, công nghệ, máy móc, kỹ thuật Như vậy nhân lực có vai trò rất quan trọng nó là điều kiện tiên quyết của mọi quá trình lao động sản xuất trong xã hội
Nhân lực bao gồm tất cả các tiềm năng của con người trong một tổ chức hay xã hội tức là tất cả các thành viên trong tổ chức sử dụng kiến thức, khả năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức để thành lập, duy trì và phát triển
tổ chức
Nguồn nhân lực được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, nguồn
nhân lực (NNL) là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển Do đó, NNL bao gồm toàn bộ dân cư
có thể phát triển bình thường Theo nghĩa hẹp, NNL là khả năng lao động của
xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế xã hội, bao gồm các nhóm dân
cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động Bất cứ tổ chức nào cũng được tạo thành bởi các thành viên là con người hay NNL của nó Do đó, có thể nói NNL của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó (với quy mô, loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, khu vực, thế giới Cách hiểu này về nguồn nhân lực xuất phát từ quan niệm coi nguồn nhân lực với các yếu tố vật chất, tinh thần tạo nên năng lực, sức mạnh phục vụ cho sự nghiệp phát triển nói chung của các tổ chức còn
Việc xem xét yếu tố con người với tư cách là nguồn lực cơ bản cho sự phát triển kinh tế - xã hội đã hình thành khái niệm mới về NNL với nhiều cách đánh giá khác nhau, xét trên 2 góc độ:
- Trên phương diện tăng trưởng kinh tế, yếu tố con người được đề cập
Trang 20hàng hóa dịch vụ, được xem xét là lực lượng lao động cơ bản nhất của xã hội Việc cung cấp đầy đủ và kịp thời lực lượng lao động theo yêu cầu của nền kinh tế là vấn đề quan trọng nhất đảm bảo tốc độ tăng trưởng sản xuất và dịch
vụ
- Trên phương diện khía cạnh về vốn, con người được xem xét trước hết là một yếu tố của quá trình sản xuất, một phương tiện để phát triển kinh tế
- xã hội Lý luận về con người còn xem xét con người từ quan điểm nhu cầu
về các nguồn cho sự phát triển kinh tế
Liên hiệp quốc (UNO) cho rằng: Tất cả những kiến thức, kỹ năng, năng lực của con người có quan hệ tới sự phát triển của đất nước Đây là yếu tố quan trọng bậc nhất trong kết cấu hạ tầng xã hội - kinh tế
Từ những quan niệm nêu trên, rút ra: Nguồn nhân lực không chỉ đơn thuần là lực lượng lao động đã có và sẽ có mà đó là cả một tổng hợp đa phức gồm nhiều yếu tố như trí tuệ, sức lực, kỹ năng làm việc… gắn với sự tác động của môi trường đối với lực lượng lao động đó
1.2.1.2 Nguồn nhân lực công nghệ thông tin
CNTT là hệ thống các tri thức và phương pháp khoa học, các kỹ thuật, công cụ và phương tiện hiện đại, các giải pháp công nghệ, được sử dụng để thu thập, lưu trữ, xử lý, sản xuất, xuất bản, phát hành và truyền thông tin nhằm giúp con người nhận thức, tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả nhất nguồn tài nguyên thông tin vào mọi lĩnh vực hoạt động của con người
“Công nghệ thông tin” - gọi tắt là IT (Information Technology) trên thế giới bao gồm khoa ho ̣c máy tính và kỹ thuâ ̣t máy tính Ở Việt Nam, phạm vi của CNTT khá rộng, có thể chứa ngoài lĩnh vực máy tính Nhu cầu xã hội trong ngành này chủ yếu tập trung vào: lập trình viên, kỹ sư hệ thống mạng, kỹ sư phần cứng, kỹ thuật viên - chuyên viên thiết kế lập trình web, lập trình điện thoại di động, game, an ninh mạng
Trang 21Có nhiều khái niệm khác nhau về nguồn nhân lực CNTT Theo Hiệp hội CNTT Mỹ (ITAA - Information Technology Association of America), nhân lực CNTT là lực lượng lao động thực hiện công việc như nghiên cứu, thiết kế, phát triển, ứng dụng, hỗ trợ và quản lý hệ thống thông tin dựa trên máy tính đặc biệt là những ứng dụng phần mềm và phần cứng máy tính
Tại Quyết định số 05/2007/QĐ-BTTTT ngày 26/10/2007 của Bộ Thông tin và Truyền thông phê duyệt Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin Việt Nam đến năm 2020 xác định nguồn nhân lực công nghệ thông tin “bao gồm nhân lực làm việc trong các doanh nghiệp viễn thông, doanh nghiệp công nghiệp công nghệ thông tin; nhân lực cho ứng dụng công nghệ thông tin; nhân lực cho đào tạo công nghệ thông tin, điện tử, viễn thông
và người dân sử dụng các ứng dụng công nghệ thông tin” Đồng thời chia nguồn nhân lực CNTT làm 3 nhóm là nguồn nhân lực CNTT trong quản lý nhà nước, nguồn nhân lực CNTT trong công nghiệp CNTT và nguồn nhân lực phục vụ ứng dụng, đào tạo CNTT
Trong giới hạn nghiên cứu của đề tài, luận văn chủ yếu đi sâu nghiên cứu nguồn nhân lực CNTT trong cơ quan quản lý nhà nước Đó là nguồn nhân lực làm công tác quản trị và phát triển ứng dụng CNTT trong hoạt động nghiệp vụ của KBNN, bao gồm nhân lực CNTT tại Cục CNTT ở trung ương (TW) và các phòng tin học các Tỉnh, Thành phố
Với những đặc thù riêng của ngành CNTT, nguồn nhân lực CNTT nói chung thường có các đặc điểm chính sau:
Nguồn nhân lực trẻ: Do ngành CNTT là ngành mới so với các ngành
khác như chế tạo ô tô, cơ khí, dệt và đến thời điểm hiện tại, CNTT mới chỉ bắt đầu phát triển ở một số nước đang phát triển vì vậy mà ngành CNTT được xem là ngành công nghiệp còn non trẻ Bên cạnh đó, CNTT là ngành công nghệ cao, phát triển liên tục vì vậy nguồn nhân lực CNTT chủ yếu là nhân lực
Trang 22Nguồn nhân lực có trình độ cao: Khác với các ngành khác, ngành
Công nghệ thông tin (CNTT) cực kì rộng lớn, và là ngành công nghệ phát triển rất nhanh, nhanh đến mức mỗi ngày trôi qua là ta có khả năng lạc hậu so với hôm trước Công nghệ thường xuyên thay đổi và cải tiến do đó đội ngũ lao động trong ngành này đòi hỏi phải có trình độ cao và luôn luôn được đào tạo cập nhật theo kịp sự phát triển của ngành
Nguồn nhân lực năng động, sáng tạo và lòng say mê nghiên cứu:
CNTT là ngành có tính chất tích hợp cao, bản thân ngành CNTT đã thâm nhập vào hầu hết các ngành công nghiệp khác, vì vậy lao động CNTT cũng không có biên giới Các lao động CNTT hầu như có mặt ở hầu hết các lĩnh vực từ nông nghiệp, du lịch, văn hóa, dịch vụ, công nghiệp Bên cạnh đó, với
sự thay đổi liên tục của công nghệ, đòi hỏi các lao động tồn tại trong ngành CNTT phải có sự say mê với nghề nghiệp để nghiên cứu và sáng tạo không ngừng
Nhân lực có trình độ ngoại ngữ (Anh ngữ) cao: Do CNTT bắt nguồn
từ Mỹ và phát triển mạnh ở các nước phương Tây nên để có thể học tập, sử dụng và làm việc với CNTT đòi hỏi người lao động phải có trình độ ngoại ngữ cơ bản (mà ở đây là tiếng Anh) Mặc dù ngày nay CNTT phát triển mạnh
ở các nước chấu Á như: Nhật, Hàn Quốc, Ấn Độ,…nhưng hầu hết các công nghệ mới đều được hướng dẫn bằng tiếng Anh
Nhân lực có tư duy toán học tốt: Nền tảng của CNTT dựa trên tư duy
toán học, vì vậy, lao động trong ngành CNTT đòi hỏi phải có tư duy toán học giỏi Ở Việt Nam, nhiều cơ sở đào tạo CNTT hiện vẫn duy trì khoa toán tin hay bộ môn toán tin
Nhân lực có năng suất lao động cao: Lao động CNTT có năng suất
cao, tuy nhiên năng suất lao động lại rất khác nhau phụ thuộc vào trình độ lao động, lĩnh vực ứng dụng CNTT, mức độ quan trọng các ứng dụng CNTT và công nghệ đang áp dụng của đơn vị thuê nguồn nhân lực
Trang 23Nguồn nhân lực CNTT có mặt trong tất cả các lĩnh vực: CNTT
đang len lỏi tới mọi ngóc ngách của cuộc sống Nó đòi hỏi tất cả Bộ, Ban, Ngành, tất cả lĩnh vực cần phải ứng dụng CNTT nếu không muốn tụt hậu CNTT có mặt ở khắp mọi nơi, hiện diện trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Hơn thế, CNTT hiện là ngành được đầu tư và chú trọng phát triển ở mọi quốc gia từ những nước nghèo đến các nước công nghiệp phát triển, và tất nhiên trong đó có Việt Nam Môi trường làm việc trong ngành CNTT rất đa dạng với nhu cầu nhân lực rất lớn Ngoài những công ty chuyên về tin học, hiện nay hầu như mọi tổ chức, cơ quan đều sử dụng hệ thống máy vi tính và cần người có chuyên môn về CNTT
Nguồn nhân lực có tỉ lệ lao động nam giới cao: Nam giới không chỉ
chiếm tỉ lệ lớn lao động trong ngành mà còn đảm nhiệm các vị trí quan trọng như kỹ sư điện tử, lập trình viên, chuyên gia phân tích hệ thống máy tính,
chuyên gia quản trị hệ thống và bảo mật… Trong khi đó, nữ giới chỉ đảm
nhiệm các vị trí khiêm tốn như nhập liệu, điều khiển máy tính, trực tổng đài, kiểm thử… Theo các nhà khoa học, việc thiếu cơ hội học tập, phải đảm nhiệm
cả công việc gia đình nên khả năng nghiên cứu còn hạn chế, thiếu khả năng sáng tạo đã làm phụ nữ trở nên yếu thế trong ngành CNTT Do ngành CNTT thay đổi từng ngày đòi hỏi nguồn nhân lực phải luôn luôn nghiên cứu, nâng cao năng lực theo kịp với sự thay đổi của công nghệ
1.2.2 Chất lượng nguồn nhân lực CNTT và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực CNTT
1.2.2.1 Chất lượng nguồn nhân lực CNTT
Chất lượng là tổng thể những tính chất, thuộc tính cơ bản của sự vật (sự
việc)… làm cho sự vật (sự việc) này phân biệt với sự vật (sự việc) khác (Từ
điển tiếng Việt phổ thông, NXB Khoa học xã hội, 1987)
Chất lượng là cái làm nền phẩm chất, giá trị của sự vật hoặc là cái nền
Trang 24bản chất của sự vật, làm cho sự vật này khác với sự vật kia (Từ điển tiếng Việt
thông dụng, NXB Giáo dục, 1998)
“Chất lượng là mức hoàn thiện, là đặc trưng so sánh hay đặc trưng
tuyệt đối, dấu hiệu đặc thù, các dữ kiện, các thông số cơ bản” (theo Oxford
Từ các định nghĩa trên có thể hiểu chất lượng là sự thỏa mãn nhu cầu
nhất định về các thuộc tính bản chất của sự vật so với yêu cầu đặt ra Do
vậy, chất lượng không phải là đại lượng bất biến Khi tiêu chí và yêu cầu đặt
ra thay đổi thì dẫn đến mức độ phản ánh, đánh giá về chất lượng sẽ có sự thay đổi mặc dù mọi tính chất, thuộc tính của sự vật đó có thể không có gì biến đổi Với cách hiểu này, thì chất lượng là phạm trù luôn biến động, phát triển
với xu hướng ngày một cao hơn
Khi nói đến nguồn nhân lực, người ta bàn đến trình độ, cơ cấu, sự đáp ứng với yêu cầu của thị trường lao động Chất lượng nguồn nhân lực
theo GS.TS Bùi Văn Nhơn: “là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực
thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực Đó là các yếu tố phản ánh trình độ, kiến thức, kỹ năng và thái độ của người lao động trong quá trình làm việc.” (GS.TS Bùi Văn
Nhơn, Quản lý và phát triển nguồn nhân lực xã hội, 2006)
Chất lượng nguồn nhân lực CNTT cũng như chất lượng nguồn nhân lực khác, khi nói đến chất lượng nguồn nhân lực người ta thường quan tâm đến chất lượng nguồn nhân lực cá nhân và chất lượng nguồn nhân lực tổng thể:
Chất lượng nguồn nhân lực tổng thể: bao gồm chất lượng nguồn nhân lực cá nhân và cấu trúc (cơ cấu) của nó Thể hiện trên 3 phương diện: quy mô,
Trang 25chất lượng và cơ cấu đáp ứng yêu cầu đặt ra
Chất lượng nguồn nhân lực cá nhân thể hiện qua các chỉ tiêu như: trí lực (trình độ văn hoá, chuyên môn, kỹ thuật), thể lực (sức khoẻ, điều kiện
để chăm sóc sức khoẻ, ), tâm lực (phẩm chất đạo đức, tác phong làm việc, sinh hoạt của người lao động)
Nghiên cứu về nguồn nhân lực, người ta phải chú ý tới thành phần cấu thành nên nó là: số lượng nguồn nhân lực và chất lượng nguồn nhân lực Trong đó chất lượng nguồn nhân lực là thành phần vô cùng quan trọng của nguồn nhân lực, nó đóng vai trò quyết định trong việc tạo ra giá trị của nguồn lực quý báu đó
Chất lượng nguồn nhân lực CNTT được biểu hiê ̣n ở hiê ̣u quả của quá trình lao động do lực lượng lao động đó thực hiện Trong quá trình lao đô ̣ng , con người thực hiê ̣n hai chức năng chủ yếu:
Một là, thực hiê ̣n những hoa ̣t đô ̣ng bản nă ng nhờ những kỹ năng , kỹ
xảo đã tích lũy được hoặc đã học tập được qua đào tạo để nắm bắt được tri thức mới, công nghệ mới
Hai là, con người đồng thời thực hiê ̣n chức năng sáng ta ̣o ra các sản
phẩm mới, công nghê ̣ mới không theo khuôn mẫu đi ̣nh trước
Như vậy, Chất lượng nguồn nhân lực CNTT với tư cách là một cá thể bao hàm nhiều yếu tố và đều được đánh giá như các nguồn nhân lực khác trên các tiêu chí : thể lực, trí lực, tâm lực của người lao động Trong đó thể lực là nền tảng, là phương tiện để truyền tải tri thức, trí lực là yếu tố quyết định chất lượng nguồn nhân lực, tâm lực là yếu tố chi phối hoạt động chuyển hóa của thể lực và trí lực thành thực tiễn
1.2.2.2 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực CNTT
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực CNTT chính là sự biến đổi làm tăng giá trị của người lao động trên các mặt: thể lực, kỹ năng, kiến thức, khả
Trang 26của người lao động Thông qua các chính sách phát triển nguồn nhân lực giúp người lao động có những năng lực, phẩm chất mới, cao hơn để có thể hoàn thành tốt hơn mục tiêu của tổ chức và tạo viê ̣c làm ổn định, nâng cao địa vi ̣ kinh tế và xã hội của ho ̣
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực CNTT giúp tạo ra tiềm năng của con người thông qua đào tạo, bồi dưỡng, tự bồi dưỡng và đào tạo lại, chăm sóc sức khỏe về thể lực và tinh thần, khai thác tối đa tiềm năng đó trong các hoạt động lao động thông qua việc tuyển dụng, sử dụng, tạo điều kiện về môi trường làm việc (phương tiện lao động có hiệu quả và các chế độ chính sách hợp lý,…) môi trường văn hóa, xã hội kích thích động cơ, thái độ làm việc của người lao động, để họ mang hết sức mình hoàn thành các chức trách, nhiệm vụ được giao Việc quản lý và sử dụng đúng nguồn nhân lực sau khi đã được đào tạo phù hợp với năng lực của mỗi cá nhân phục vụ cho các công việc cụ thể là nhân tố quyết định đến thành công của tổ chức
Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế và sự bùng nổ của CNTT thì
sự khan hiếm nguồn nhân lực CNTT vẫn đang là bài toán đau đầu cho các nhà quản lý, nguồn nhân lực CNTT hiện nay vừa thiếu và yếu, đặc biệt là nhân lực
có trình độ cao, việc tổ chức nâng cao chất lượng nguồn nhân lực CNTT có ý nghĩa hết sức quan trọng Trong bối cảnh đó để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngoài việc các cá nhân người lao động phải tự giác chủ động, tích cực nâng cao năng lực, khả năng làm việc của mình để thích nghi với sự đổi mới của công nghệ và mục tiêu phát triển ứng dụng CNTT của các tổ chức Thì các tổ chức phải có các biện pháp hỗ trợ, tạo điều kiện cho người lao động học tập, nâng cao trình độ…
Với ý nghĩa đó nâng cao chất lượng nguồn nhân lực CNTT được hiểu
là tổng thể các hoạt động của tổ chức tác động lên nguồn nhân lực hiện có để làm biến đổi chất lượng nguồn nhân lực ở các mặt cụ thể như: thể lực, trí lực
và tâm lực nhằm đảm bảo nhân lực CNTT có đủ trình độ phục vụ nhu cầu
Trang 27phát triển và ứng dụng CNTT của tổ chức, phục vụ công cuộc xây dựng kinh
tế tri thức và xã hội thông tin, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế
1.2.3 Nội dung nâng cao chất lượng nguồn nhân lực CNTT
Ở tầm vĩ mô, nâng cao chấ t lượng nguồn nhân lực là các hoa ̣t động nhằm tạo ra nguồ n nhân lực có khả năng đáp ứng được nhu cầ u phát triển kinh tế – xã hô ̣i trong mỗi giai đoạn phát triển cả về quy mô, cơ cấu, số lượng
và chất lượng
Ở tầm vi mô (phạm vi nghiên cứu của đề tài này) thì nâng cao chấ t lượng nguồn nhân lực CNTT trong KBNN là tất cả các hoạt động của KBNN hướng vào việc nâng cao về thể lực, trí lực, tâm lực cụ thể thông qua các hoạt động sau:
Chất lượng nguồn nhân lực cá nhân thể hiện qua các chỉ tiêu như: trí lực (trình độ văn hoá, chuyên môn, kỹ thuật), thể lực (sức khoẻ, điều kiện để chăm sóc sức khoẻ, ), tâm lực (phẩm chất đạo đức, tác phong làm việc, sinh hoạt của người lao động)
- Thể lực con người chịu ảnh hưởng của mức sống vật chất, sự chăm sóc sức khỏe và rèn luyện của từng cá nhân cụ thể;
- Trí lực được xác định bởi trí thức chung về khoa học, trình độ kiến thức chuyên môn kỹ thuật, kỹ năng kinh nghiệm làm việc và khả năng tư duy xét đoán của mỗi con người;
- Tâm lực (phẩm chất, đạo đức) là những đặc điểm quan trọng trong yếu tố xã hội của NNL gồm những tình cảm, tập quán, phong cách, thói quen, quan niệm, truyền thống, tư tưởng, đạo đức
Thể lực nguồn nhân lực CNTT
Nâng cao thể lực chính là nâng cao sức khỏe, trạng thái thoải mái về thể chất cũng như tinh thần của nguồn nhân lực Sức khỏe không chỉ biểu
Trang 28hiện chất lượng nguồn nhân lực mà còn ảnh hưởng lớn đến chất lượng công việc, không có sức khỏe thì không hoàn thành được công việc Thể lực tốt thể hiện nhanh nhẹn tháo vát, bền bỉ trong công việc, thể lực khỏe còn là điều kiện quan trọng để phát triển trí lực Thể lực của nguồn nhân lực được hình thành, duy trì và phát triển bởi chế độ dinh dưỡng, chế độ chăm sóc sức khỏe
và đời sống tinh thần thoải mái
Theo định nghĩa về sức khỏe của Tổ chức sức khỏe thế giới – WHO: sức khỏe là một tình trạng hoàn toàn thoải mái cả về thể chất, tinh thần và xã hội, chứ không chỉ là không có bệnh hay thương tật Như vậy, sức khỏe gồm: sức khỏe cơ thể và sức khỏe tinh thần
Trong quá trình phát triển kinh tế xã hô ̣i với trình đô ̣ ngày càng cao, đòi hỏi càng lớn về thể lực bởi nếu không có thể lực và tinh thần tốt sẽ khó có thể chịu đựng được áp lực căng thẳng của công việc , của nhịp độ cuộc sống và cũng không thể tìm tòi, sáng tạo ra các tri thức mới để vận dụng nó thành sản phẩm có ích cho xã hô ̣i
Với đặc thù riêng của ngành kỹ thuật, nhân lực CNTT phải làm việc với cường độ cao hơn và bất cứ thời điểm nào khi cần thiết, vì vậy việc đảm bảo sức khỏe cho nguồn nhân lực CNTT là vô cùng quan trọng Việc nâng cao thể lực vừa là mục đích của phát triển, đồng thời nó cũng là điều kiện của sự phát triển Nâng cao thể lực là sự phát triển hài hoà của con người cả về vật chất và tinh thần, đó là sức khoẻ cơ thể và sức khoẻ tinh thần
Trang 29việc đào tạo lại trong công việc họ đang thực hiện thông qua các lớp tập huấn hay bồi dưỡng ngắn hạn về nghiệp vụ Bất kỳ một vị trí nào của tổ chức đều yêu cầu thực hiện công việc ứng với trình độ chuyên môn nhất định Do đó, nâng cao trình độ học vấn là việc trang bị kiến thức nâng cao có được thông qua nhiều nguồn khác nhau như: đào tạo, qua sự nhận thức các vấn đề trong cuộc sống xã hội mà nguồn nhân lực tiếp thu được
Trình độ chuyên môn nghiệp vụ là kiến thức tổng hợp, kiến thức chuyên môn nghiệp vụ kỹ thuật, kiến thức đặc thù cần thiết để đảm đương các chức vụ trong quản lý và các hoạt động khác, là phát triển, nâng cao kiến thức
về kỹ thuật, kinh tế, xã hội Công nghệ thông tin có đặc thù thay đổi liên tục, cùng với sự cải tiến không ngừng về cơ cấu tổ chức đòi hỏi trình độ chuyên môn nghiệp vụ của nguồn nhân lực CNTT cũng phải không ngừng được nâng cao, nhân lực CNTT trong ngành ngoài việc phải hiểu được các công nghệ, kỹ thuật đang sử dụng thì phải liên tục cập nhật các công nghệ mới trên thế giới Những điều này chỉ có thể có được, thông qua đào tạo Đào tạo, bồi dưỡng là yêu cầu tất yếu, một nhân tố quyết định sự phát triển nhân lực CNTT và nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức Mục tiêu của hoạt động này nhằm trang
bị kiến thức, kỹ năng, hành vi mới nhằm đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi phát triển của tổ chức Đào tạo, bồi dưỡng không chỉ nâng cao năng lực công tác cho cán bộ, công chức hiện tại mà chính là đáp ứng các yêu cầu về nhân lực trong tương lai của tổ chức
Kỹ năng nghề nghiệp là sự hiểu biết về trình độ chuyên môn kỹ thuật
và khả năng thích ứng trong việc thực hiện các công việc mới Khả năng này bộc lộ thông qua sự hiểu biết, nhận thức và rèn luyên để có kỹ năng giải quyết công việc Kỹ năng đó hình thành có sự trải nghiệm thực tế Vì thế để nâng cao kỹ năng nghề nguồn nhân lực cần phải được học hỏi, trải nghiệm nhiều hơn trong việc thực hiện thao tác trực tiếp trong công việc Nguồn nhân lực
Trang 30nhân lực CNTT trong ngành không chỉ giỏi về chuyên môn mà cần phải có nhiều kỹ năng mềm (kỹ năng về ngoại ngữ, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng giao tiếp, trình bày, tính độc lập và khả năng tổ chức công việc và một số kỹ năng khác) phù hợp với từng chức danh vị trí làm việc khác nhau trong tổ chức
Kinh nghiệm làm việc là thể hiện sự trải nghiệm trong công việc qua thời gian làm việc, kinh nghiệm xử lý, có thể gọi đó là thâm niên Người nhiều kinh nghiệm có thể giải quyết công việc nhanh chóng và thuần thục Kinh nghiệm làm việc kết hợp với trình độ, kỹ năng xử lý công việc và khả năng nghiên cứu công nghệ mới tạo thành sự lành nghề trong công việc mà không qua một lớp đào tạo cụ thể nào, nó là kiển thức tổng hợp của quá trình học tập và làm việc lâu dài của người lao động
Tâm lực nguồn nhân lực
Phẩm chất đạo đức, nhân cách, thái độ và tác phong làm việc cũng được coi là một tiêu chí không thể thiếu trong việc đánh giá chất lượng nguồn nhân lực CNTT Nguồn nhân lực chất lượng cao phải là lực lượng lao động có đạo đức nghề nghiệp được thể hiện như: yêu nghề, say mê với công việc, có tính kỷ luật và có trách nhiệm với công việc mà mình đảm nhiệm, sẵn sàng vượt qua khó khăn để khẳng định bản thân, đoàn kết, phấn đấu vì lợi ích chung của tập thể Cao hơn cả đạo đức nghề nghiệp còn thể hiện ở sự mong muốn đóng góp tài năng, trí tuệ, công sức của mình vào sự nghiệp phát triển chung của đất nước Nâng cao phẩm chất đạo đức cho các các bộ đó chính là nâng cao: tính kỷ luật, tính tự giác, tinh thần hợp tác, tác phong lao động, tinh thần trách nhiệm
Tâm lý làm việc là vấn đề nội tâm chủ quan của mỗi cá nhân, mỗi người trong tổ chức Tâm lý làm việc có thể chịu ảnh hưởng của các yếu tố khách quan và chủ quan Ảnh hưởng của các yếu tố khách quan dẫn đến nội tâm chủ quan có thể là: chế độ thù lao của tổ chức, đánh giá sự thực hiện công
Trang 31việc, bầu không khí làm việc tại nơi làm việc, thời gian làm việc, bản thân công việc, khả năng mắc bệnh nghề nghiệp Các yếu tố chủ quan chủ yếu phụ thuộc vào khí chất, tính cách của mỗi người Tuy nhiên, khuôn khổ và nội quy của tổ chức là hàng rào để họ thực hiện chức trách và nhiệm vụ theo lý trí
về cơ sở vật chất, các điều kiện bảo vệ và chế độ chăm sóc sức khỏe
Chỉ tiêu cơ bản về sức khỏe được kiểm tra ở 13 hạng mục để phân loại sức khỏe gồm: Thể lực chung (chiều cao, cân nặng), mắt, tai mũi họng, răng hàm mặt, tâm thần, tuần hoàn, hô hấp, tiêu hóa, tiết niệu, hệ vận động, da liễu, nôi tiết và u các loại Tình trạng sức khỏe căn cứ vào sự phân loại các chỉ số phân loại sức khỏe theo quy định của Bộ Y tế, kết quả được phân ra:
Loại I: Cả 13 chỉ số đều đạt loại I, xếp loại rất khỏe
Loại II: Chỉ cần có 1 chỉ số thấp nhất ở loại II, xếp loại khỏe
Loại III: Chỉ cần có 1 chỉ số thấp nhất ở loại III, xếp loại trung bình Loại IV: Chỉ cần có 1 chỉ số thấp nhất ở loại IV, xếp loại yếu
Loại V: Chỉ cần có 1 chỉ số thấp nhất ở loại V, xếp loại rất yếu
Tuy nhiên theo khái niệm nguồn nhân lực của chúng ta thì nhóm sức
Trang 32khỏe rất yếu và không có khả năng lao động không thuộc bộ phận của nguồn nhân lực nên sức khỏe của nguồn nhân lực được đánh giá theo 04 chỉ tiêu phân loại sức khỏe
Tiêu chí đánh giá về trí lực
Trình độ văn hoá là khả năng về tri thức và kỹ năng để có thể tiếp thu những kiến thức cơ bản, thực hiện những việc đơn giản để duy trì cuộc sống Trình độ văn hoá được cung cấp qua hệ thống giáo dục chính quy, không chính quy, qua quá trình học tập suốt đời của mỗi cá nhân
Trình độ chuyên môn là kiến thức và kỹ năng cần thiết để thực hành về chuyên môn nào đó Trình độ chuyên môn của người lao động thể hiện quá trình được đào tạo bởi hệ thống giáo dục đại học cao đẳng và trung học chuyên nghiệp trong và ngoài nước Trình độ chuyên môn là một chỉ tiêu rất quan trọng để đánh giá chất lượng nguồn nhân lực, tạo ra điều kiện, khả năng tiếp thu và vân dụng một cách nhanh chóng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn để tăng năng suất lao động;
Kỹ năng nghề nghiệp bao gồm rất nhiều kỹ năng mềm bổ trợ trong quá trình làm việc như: kỹ năng sống, giao tiếp, lãnh đạo, làm việc nhóm, kỹ năng quản lý thời gian, tin học, ngoại ngữ Những kỹ năng này không phải lúc nào cũng được học trong nhà trường, nó bổ trợ và hoàn thiện hơn năng lực làm việc của người lao động, là thước đo hiệu quả cao trong công việc
Ngoài ra, ta cũng cần phải nói tới kinh nghiệm làm việc, thâm niên công tác, đó là nhu cầu và thói quen vận dụng tổng hợp tri thức và kinh nghiệm của mình, của cộng đồng vào việc tìm tòi các giải pháp mới trong công việc như một sáng tạo văn hóa
Tiêu chí đánh giá về tâm lực
Chất lượng nguồn nhân lực còn được thể hiện qua những yếu tố vô hình không định lượng được bằng những con số cụ thể như: ý thức tổ chức kỷ luật, tự giác trong lao động, biết tiết kiệm, có tinh thần hợp tác, tác phong làm
Trang 33việc khẩn trương, chính xác, lương tâm nghề nghiệp Tất cả những phẩm chất đó nằm trong phạm trù đạo đức của con người Đây là những chỉ tiêu định tính chỉ dùng trong việc sử dụng, đánh giá sức mạnh bên trong con người
1.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến nâng cao chất lượng nguồn nhân lực CNTT
1.2.5.1 Yếu tố bên trong
Quan điểm, nhận thức tích cực của ban lãnh đạo về nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực
Ban lãnh đạo là người đề ra các chủ trương, chính sách, mục tiêu cho tổ chức Nếu Ban lãnh đạo coi nguồn nhân lực CNTT là yếu tố trọng tâm, then chốt để phát triển các ứng dụng CNTT trong tổ chức thì sẽ đưa ra quyết định phát triển nguồn nhân lực CNTT, tạo điều kiện nâng cao chất lượng nguồn nhân lực CNTT góp phần tạo nền tảng cơ sở vững chắc cho mục tiêu phát triển của tổ chức Từ đó, biết phân tích và đánh giá nhu cầu đào tạo và lập kế hoạch đào tạo, sắp xếp cơ cấu nguồn nhân lực hợp lý, giữ chân được nhân tài bên trong, thu hút được nguồn nhân lực chất lượng cao từ bên ngoài về làm việc cho tổ chức
Tốc độ phát triển ứng dụng công nghệ mới của tổ chức
Những tổ chức tăng trưởng nhanh hoặc có mục tiêu phát triển đều cần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Tổ chức áp dụng công nghệ mới đòi hỏi phải đào tạo nhân viên nắm bắt được các kỹ năng mới Tổ chức luôn đổi mới thực hiện nhiều biện pháp đổi mới trong quản lý và cần đào tạo nhân viên
Chính sách, chiến lược /kế hoạch phát triển nguồn nhân lực
Chính sách nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cần nêu rõ tại sao lại cần nâng cao chất lượng nguồn, nội dung của nâng cao chất lượng nguồn là
gì, quyền lợi, nghĩa vụ của người lao động, người chủ tổ chức trong nâng cao
Trang 34chất lượng nguồn Chính sách nâng cao chất lượng nguồn nhân lực rõ ràng sẽ khuyến khích người lao động học tập để làm việc tốt hơn, và nó cũng chỉ rõ cam kết cần thực hiện để nâng cao chất lượng nguồn nhân của người đứng đầu tổ chức
Tổ chức cần có chiến lược phát triển nguồn nhân lực gắn với chiến lược/kế hoạch phát triển của mình Các hoạt động đào tạo cần phản ánh tầm nhìn, chiến lược của tổ chức Tổ chức cần có khả năng phân tích quan hệ rõ ràng giữa nâng cao chất lượng nguồn nhân lực với kết quả công việc của đơn
vị, sự phát triển của tổ chức
Điều kiện làm việc
Môi trường làm việc không chỉ bao gồm cơ sở vật chất kĩ thuật, hạ tầng trang thiết bị phục vụ cho công việc mà còn bao gồm những mối quan hệ giữa đồng nghiệp, cấp trên – cấp dưới, không khí làm việc, phong cách, cách thức làm việc của tổ chức Một môi trường làm việc tốt sẽ tạo điều kiện, cơ hội để người lao động thể hiện năng lực, phát triển bản thân, cống hiến hết mình, gắn
bó lâu dài với tổ chức Vì vậy các tổ chức, luôn xác định rõ vai trò cùa điều kiện làm việc đối với chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực CNTT luôn đòi hỏi một cơ sở hạ tầng, điều kiện nghiên cứu đầy đủ để phát huy năng lực và tính sáng tạo trong nghiên cứu phát triển công nghệ mới
1.2.5.2 Yếu tố bên ngoài
Yếu tố giáo dục và đào tạo
Vai trò của hệ thống đào tạo xã hội như nhà trường, các khóa học ngắn hạn và dài hạn của các tổ chức, các tổ chức giáo dục…, đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Đây là quá trình liên tục
và đòi hỏi có sự đầu tư của các cơ quan trong việc đào tạo và phát triển công chức Khi xác định rõ chức năng của đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực sẽ có
cơ sở quản lý và phát triển đội ngũ công chức có hiệu quả Đồng thời đây cũng là cơ sở để hoàn thiện hệ thống quản lý nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng
Trang 35từ hệ thống giáo dục, đào tạo xã hội Đây là yếu tố giúp cho các tổ chức gia tăng chất lượng nguồn nhân lực
CNTT là một ngành công nghệ cao, là sự tích hợp của nhiều ngành khoa học và công nghệ hiện đại nên đòi hỏi nhân lực CNTT có những phẩm chất đặc biệt, năng lực cơ bản cao dựa trên tiêu chuẩn quốc tế Do đó, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực CNTT phải gắn kết chặt chẽ với quá trình đổi mới giáo dục và đào tạo, đặc biệt là đổi mới giáo dục đại học Trình độ phát triển của đào tạo CNTT ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của nguồn nhân lực ngành này
Xu thế phát triển của khoa học và công nghệ hiện đại
Hiện nay, cuộc cách mạng khoa học - công nghệ trong thời kỳ toàn cầu hoá đã và đang diễn ra mạnh mẽ, tác động đến mọi quốc gia, dân tộc Tốc độ phát minh khoa học ngày càng gia tăng Khoảng cách từ phát minh đến ứng dụng rút ngắn Sự cạnh tranh về công nghệ cao diễn ra quyết liệt Truyền thông về khoa học - công nghệ diễn ra sôi động Nhiều tri thức và công nghệ mới ra đời, đòi hỏi đối với nhân lực CNTT phải không ngừng học tập và trang
bị thường xuyên những kiến thức và kỹ năng mới để nâng cao trình độ, tiếp cận với những tri thức mới, tiên tiến, hiện đại để không bị tụt hậu trong xu thế phát triển như vũ bảo của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật
Cơ chế chính sách của Nhà nước
Việc xác định CNTT là một trong những ngành mũi nhọn nên các cơ chế, chính sách như hành lang pháp lý, chính sách giáo dục và đào tạo, chính sách tuyển dụng, chính sách tiền lương, chính sách ưu đãi, chính sách đầu tư đều có tác động quan trọng tới việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực CNTT
1.3 Những kinh nghiệm về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực CNTT của các đơn vị hành chính Nhà nước
Trang 361.3.1 Nguồn nhân lực CNTT của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Trong thời gian qua ngành ngân hàng đã có sự phát triển cả về quy mô
và các dịch vụ, tiện ích cung cấp cho nền kinh tế, CNTT là một trong những nhân tố quan trọng hỗ trợ cho việc phát triển chung của ngành ngân hàng Ứng dụng CNTT trong hoạt động ngày càng được các ngân hàng quan tâm và phát triển đồng bộ trong toàn ngành theo hướng hiện đại hóa, tự động hóa Công nghệ thông tin - truyền thông đã được ứng dụng vào hầu hết các hoạt động, nghiệp vụ của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) với các mức độ khác nhau, góp phần từng bước nâng cao năng lực quản lý nhà nước của NHNN trên lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng, thực thi hiệu quả các chính sách tiền tệ, tỷ giá, quản lý ngoại hối và thanh tra giám sát hoạt động ngân hàng từng bước xây dựng ngân hàng trung ương hiện đại, chủ động hội nhập với cộng đồng tài chính quốc tế Bằng việc áp dụng các giải pháp công nghệ tiên tiến, hệ thống CNTT của NHNN đã trở thành công cụ hỗ trợ đắc lực cho sự phát triển của ngành ngân hàng, đáp ứng nhu cầu xử lý thông tin ngày càng cao của hoạt động ngân hàng Hiện nay, 90% hoạt động nghiệp vụ của NHNN
đã ứng dụng CNTT ở các mức độ khác nhau, trong đó có nhiều hệ thống thông tin hiện đại, tập trung, trực tuyến Một trong bốn trụ cột cấu thành CNTT - truyền thông đó là nguồn nhân lực CNTT Để đáp ứng yêu cầu phát triển ngành ngân hàng, việc phát triển nhân lực CNTT ngành ngân hàng là yếu tố cốt lõi nhằm xây dựng được nguồn nhân lực đủ về số lượng, có trình
độ chuyên môn và kỹ năng tốt, có khả năng triển khai các mục tiêu chung, nâng cao và cải thiện dịch vụ ngân hàng đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế Chính vì lẽ đó, trong thời gian qua NHNN đã chú trọng quan tâm đến nâng cao chất lượng nguồn nhân lực CNTT thông qua các giải pháp như:
- Phân tích, dự báo tình hình ứng dụng CNTT của ngành để từ đó xây dựng chiến lược nâng cao chất lượng nguồn nhân lực CNTT, chủ động sắp
Trang 37xếp, sử dụng, tuyển dụng, bổ sung nhân lực đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của thực tiễn
- Đổi mới cơ chế, chính sách tuyển dụng nguồn nhân lực CNTT để phù hợp với các đặc thù của ngành CNTT
- Hoàn thiện chính sách và thu hút nhân tài, các chính sách đãi ngộ giữ chân người tài
- Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng: Để có được một đội ngũ nhân
sự có chất lượng thì đội ngũ nhân sự phải được phát triển liên tục theo các tiêu chuẩn về chức danh nghề nghiệp, đồng thời có kế hoạch sử dụng bố trí nhân sự sau đào tạo
- Cơ cấu và sử dụng nguồn nhân lực hợp lý, có hiệu quả
Như vậy, những năm qua nguồn nhân lực CNTT của NHNN không ngừng được bổ sung, nâng cao chất lượng đáp ứng yêu cầu phát triển và ứng dụng CNTT của Ngành[16]
1.3.2 Nguồn nhân lực CNTT của Kiểm toán Nhà nước
Kiểm toán Nhà nước (KTNN) đã có sự phát triển cả về quy mô và các dịch vụ, tiện ích phục vụ hoạt động của ngành Ứng dụng CNTT trong hoạt động kiểm toán ngày càng được quan tâm và phát triển đồng bộ trong toàn ngành theo hướng từng bước hiện đại hóa Để đáp ứng yêu cầu phát triển của KTNN, việc xây dựng các phần mềm ứng dụng vào hoạt động của KTNN và đầu tư hạ tầng CNTT phục vụ cho việc triển khai các phần mềm ứng dụng trong thời gian tới là rất cần thiết và cấp bách để tiến tới hiện đại hoá công tác kiểm toán, tiến tới mô hình Chính phủ điện tử trong KTNN, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm toán của KTNN Yêu cầu này đặt ra đòi hỏi đối với KTNN phải có những chính sách nâng cao chất lượng nhân lực CNTT cả
về trình độ kiến thức công nghệ cũng như nghiệp vụ kiểm toán CNTT Trong
Trang 38những năm qua, KTNN đã thực hiện một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực CNTT của mình như:
- Hoàn thiện cơ chế, chính sách tuyển dụng nguồn nhân lực: Số lượng cán bộ chuyên trách CNTT hiện tại còn quá ít, chất lượng công chức tuyển dụng còn nhiều hạn chế chưa đáp ứng được yêu cầu hoạt động của KTNN Để nâng cao chất lượng công tác tuyển dụng nhân lực CNTT, KTNN cần có cơ chế, chính sách tuyển dụng phù hợp với các đặc thù của ngành CNTT Cần xác định yêu cầu tuyển dụng, cần đổi mới nội dung và hình thức thi tuyển
theo hướng gắn với yêu cầu công việc thực tế và chất lượng đề thi đảm bảo
theo từng vị trí cần tuyển dụng
- Về chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức CNTT đã có những tiến
bộ đáng kể Công tác đào tạo hàng năm đã giúp nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ kỹ thuật của KTNN Hình thức đào tạo tương đối phong phú,
đa dạng và đã chú ý đến việc phân loại các đối tượng, chú trọng đến việc đào tạo chuyên gia trong lĩnh vực CNTT nhằm nâng cao kiến thức chuyên sâu đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi phát triển của thực tiễn Mở rộng quan hệ hợp tác, tranh thủ được sự hỗ trợ đào tạo từ bên ngoài thông qua các dự án đào tạo
- Chính sách đãi ngộ đối với nguồn nhân lực này cũng có những chuyển biến tích cực theo hướng ghi nhận, khen thưởng đối với sự đóng góp của một bộ phận nhân lực CNTT thực hiện những nhiệm vụ quan trọng, có độ phức tạp cao
- Thực hiện chuẩn hóa đội ngũ CBCC, xây dựng tiêu chuẩn cụ thể về năng lực, phẩm chất đạo đức và trình độ của hệ thống chức danh lãnh đạo KTNN, trong đó, không chỉ là năng lực chuyên môn mà cần chú trọng đến tiêu chuẩn năng lực lãnh đạo, quản lý; căn cứ vào quy hoạch các chức danh lãnh đạo, giới thiệu những nhân tố mới thực sự có đức, có tài, có triển vọng phát triển, nhất là cán bộ trẻ, cán bộ nữ để bảo đảm tính kế thừa, phát triển liên tục của đội ngũ lãnh đạo
Trang 39- Có chế độ quản lý chặt chẽ đội ngũ cán bộ, các cấp uỷ, thủ trưởng các đơn vị phải nắm chắc từng cán bộ, cả về đức, tài và tình trạng sức khỏe[17]
Trang 40CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN
2.1 Phương pháp luận
Phương pháp luận là hệ thống lý luận về phương pháp nghiên cứu, phương pháp nhận thức và cải tạo hiện thực; là hệ thống chặt chẽ các quan điểm, nguyên lý chỉ đạo việc tìm kiếm, xây dựng, lựa chọn và vận dụng các phương pháp Tất cả những nguyên lý nào có tác dụng gợi mở, định hướng, chỉ đạo đều là những lý luận và nguyên lý có ý nghĩa phương pháp luận Trong luận văn tác giả sử dụng phương pháp luận để chỉ ra những khái niệm
về nguồn nhân lực CNTT, chất lượng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực CNTT Qua hệ thống phương pháp luận tác giả đưa ra lý luận cho việc yêu cầu đặt ra đối với việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực CNTT; tiêu chí đánh giá nâng cao chất lượng nguồn nhân lực CNTT đáp ứng yêu cầu phát triển và ứng dụng CNTT trong tổ chức từ đó tìm ra giải pháp đề xuất
Với mục tiêu nghiên cứu được đặt ra ở phần mở đầu, đối tượng nghiên cứu luận văn này là chất lượng nguồn nhân lực CNTT, đây là đối tượng nghiên cứu hẹp, chính vì vậy phương pháp nghiên cứu được lựa chọn là Phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử để phân tích đánh giá thực trạng nguồn nhân lực của KBNN giai đoạn 2010 - 2015, từ đó
đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực CNTT của KBNN trong giai đoạn tiếp theo
- Phương pháp duy vật biện chứng: Phép biện chứng duy vật được xây dựng trên cơ sở một hệ thống những nguyên lý, những phạm trù cơ bản, những quy luật phổ biến phản ánh đúng đắn hiện thực
- Phương pháp duy vật lịch sử: Là phương pháp luận nghiên cứu duy vật về lịch sử phát triển của xã hội loài người Chính đời sống vật chất quyết định đời sống tinh thần của con người